Vì vậy tôi chọn đề tài:“XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ CHỦ ĐỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP PHẦN ANCOLETYLIC –POLIME HÓA HỌC HỮU CƠ 9”.2.Lịch sử vấn đề nghiên cứuNgay từ những năm 1970 DHTH đã được nhiều
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ THẢO
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ CHỦ ĐỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP PHẦNANCOL ETYLIC -POLIMEHÓA HỌC
HỮU CƠ 9 LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY
HỌCBỘ MÔN HÓA HỌC
Mã số:60.14.01.11 Người hướng dẫn khoa học: TS ĐÀO THỊ VIỆT ANH
HÀ NỘI –2016
Trang 2iiMỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN Error! Bookmark not defined.DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮTError! Bookmark not defined
DANH MỤC CÁC BẢNG Error! Bookmark not defined
DANH MỤC CÁC HÌNH Error! Bookmark not defined
MỞ ĐẦU 51.Lý do chọn đề tài5
2.Lịch sử vấn đề nghiên cứu6
3.Mục đích nghiên cứu7
4.Câu hỏinghiên cứu7
5.Giả thuyết khoa học7
6.Nhiệm vụ nghiên cứu7
7.Đối tượng, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu8
8.Phương pháp nghiên cứu8
9.Đóng góp mới của luận văn910.Cấu trúc của luận văn9
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH 101.1.Những vấn đề chung về dạy học tích hợp10
1.1.1.Khái niệm tích hợp và DHTH10
1.1.2.Lý do và tình hình vận dụng DHTH10
1.1.3.Mục tiêu của DHTH121.1.4.Các mức độ trong dạy học tích hợp12
1.2.Dạy học theo chủ đề tích hợp141.2.1.Khái niệm dạy học theo chủ đề tích hợp14
1.2.2.Ưu điểm của dạy học chủ đề so với dạy học theo cách tiếp cận truyền thống hiện nay15
1.2.3.Những nguyên tắc lựa chọn chủ đề tích hợp ở trường phổthông.15
Trang 31.2.4.Đề xuất quy trình tổ chức dạy học theo chủ đề tích hợp16
1.3.Vận dụng một sốPPDH tích cực trong DHTH17
1.3.1.Dạy học theo dựán18
1.3.2.Dạy học giải quyết vấn đề20
1.4.Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh cấp Trung học cơ sở221.4.1.Khái niệm năng lực22
1.4.2.Nănglựcgiaiquyêtvânđêvasangtao23
1.4.3.Các phương pháp đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo25
1.5.Thực trạng DHTH ở một số trường Trung học cơ sở của Bắc Ninh26
2.1.Phân tích chương trình hóa học cấp THCS để xây dựng một số chủ đề dạy học tích hợpError! Bookmark not defined
2.2.Xây dựng chủ đề dạy học tích hợp: Ancol etylic với vấn đề sức khỏe con ngườiError! Bookmark not defined
2.2.1.Cơ sở tích hợpError! Bookmark not defined
2.2.2.Nội dung chủ đềError! Bookmark not defined
2.2.3.Tổ chức dạy học chủ đềError! Bookmark not defined
2.3.Xây dựng chủ đề dạy học tích hợp: Polime –Tầm quan trọng và vấn đề môi trườngError! Bookmark not defined
2.3.1.Cơ sở tích hợpError! Bookmark not defined
2.3.2.Nội dung chủ đềError! Bookmark not defined
Trang 42.3.3.Tổ chức dạy học chủ đềError! Bookmark not defined.
2.4.Đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo thông qua dạy học theo chủ đề tích hợpError! Bookmark not defined
2.4.1.CâutruccuanănglưcgiaiquyêtvânđêvasangtaocuahọcsinhTHCSError!
Bookmark not defined
2.4.2.ThiếtkếbộcôngcụđánhgiánănglựcgiaiquyêtvânđêvasangtạoError! Bookmark not defined
CHƯƠNG 3:THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM Error! Bookmark not defined
3.1.Mục đích thực nghiệm sư phạmError! Bookmark not defined
3.2.Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạmError! Bookmark not defined
3.3.Địa bàn và đối tượng thực nghiệm sư phạmError! Bookmark not defined.3.4.Tiến trình thực nghiệm sư phạmError! Bookmark not defined
3.4.1.Đánh giá kiến thức liên môn có liên quan đến thực tiễn mà học sinh lĩnh hội đượcError! Bookmark not defined
3.4.2.Đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinhError!
Bookmark not defined
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined
TÀI LIỆUTHAM KHẢO 27
PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined
PHỤ LỤC1.CÁC PHIẾU HỎI GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINHError! Bookmark not defined
PHỤ LỤC 2.ĐÁP ÁN VÀ THANG ĐIỂM ĐỀ KIỂM TRA CỦA HAI CHỦ ĐỀ DẠY HỌC TÍCH HỢPError! Bookmark not defined.P
HỤLỤC3.SÔTHEODOIDƯAN1 –LỚP9A Trường THCS Nguyễn Gia Thiều–BắcNinhError! Bookmark not defined
ivPHỤ LỤC 4 MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH THAM GIA CHỦ ĐỀ DẠY HỌC TÍCH HỢPError! Bookmark not defined
Trang 5MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đềtài
Để thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và tiếp cận nhanh chóng với nền công nghệ cao, trong những năm gần đây đổi mới giáo dục được đặt lên như một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu ở nước ta, trong đó đòi hỏi sự đổi mới đồng bộ
cả mục đích, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học Luật giáo dục năm
2005 điều 28.2 có ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo củaHS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡngphương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS" Nhằm đưa giáo dục Việt Nam tiếp cận với sựphát triển của giáo dục các nước trong khu vực, gần với sựphát triển giáo dục của các nước tiên tiến trên thếgiới, Hội nghịlần thứ8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
đã nhất trí thông qua nghịquyết số29 NQ/TWvới nội dung: “Đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa –hiện đại hóa trong điều kiện kinhtếthịtrường định hướng xã hội chủnghĩa và hội nhập quốc tế Phát triển phẩm chất, năng lực người học, đảm bảo hài hòa giữa “dạy chữ”, “dạy người” và định hướng nghềnghiệp Đổi mới giáo dục từtiếp cập nội dung sang tiếp cận năng lực”[16] Trong định hướng giáo dục sau năm 2015, Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo các cơ sở giáo dục khuyến khích GV dạy học theo hướng “tích hợp, liên môn” Đối vớiHS,
họccácchủđềDHTHgiúpHStăngcườngvậndụngkiếnthứctổnghợpvàogiảiquyếtcáctìnhhuốngthựctiễn,ítphảighinhớkiếnthứcmộtcáchmáymóc,cóưuthếtrongviệctạorađộngcơ,hứngthúhọctậpchoHS.ĐốivớiGV,dạy học theo các chủ đề tích hợp có tác dụng
Trang 6bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và kĩ năng sư phạm choGV, góp phần phát triển đội ngũ GV bộ môn hiện nay thành đội ngũ GV có đủ năng lực dạy học kiến thức liên môn, trở thành người GV của tương lai.Ngày nay các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống đặt ra nhiều khi không chỉ giải quyết bằng kiến thức của một môn học,
mà cần cung cấp cho HS những kiến thức hệ thống, toàn vẹn, tổng thể.Quá trình dạy học phải làm sao liên kết, tổng hợp hóa các tri thức đồng thời thay thế “tư duy
cơ giới cổ điển” bằng “tư duy hệ thống” Như Xavier Rogiers đã nói: “Nếu nhà trường chỉ quan tâm dạy cho HS cáckhái niệm một cách rời rạc thì nguy cơ sẽ hìnhthành ở HS các suy luận khép kín, sẽ hình thành những con người “mù chức năng”,nghĩa là những người đã lĩnh hội kiến thức nhưng không có khả năng sử dụng các kiến thức đó hàng ngày”.Qua dạy môn Hóa học ở trường phổ thông tôi nhận thấy
có thể kết hợp kiến thức của một số môn khoa học tựnhiên như Vật lí, Hóa học, Sinh học, Công nghệ, Địa lí vào xây dựng một số chủ đề DHTH phần hóa học hữu cơ 9 như một số chủ đề sau: “Metan –Bioga –Nhiên liệu xanh”, “Ancol
etylicvới vấn đề sức khỏe con người”, “Polime –Tầm quan trọng và vấn đề môi trường” Những chủ đề trên
66đều có nhiều kiến thức liên quan đến các môn học khác nhau đồng thời cũng là những chủ đề gần gũi, thiết thực với các emHS Đã có nhiều tài liệu nghiêncứu về quan điểm DHTH và nhiều chủ đề DHTH được đưa ra.Nhưng xây dựng một số chủ đề DHTH cho phần hóa hữu cơ lớp 9 như chủ đề: Ancol etylicvới vấn đề sức khỏe con người, Polime –Tầm quan trọng và vấn đề môi trường thì chưa được nghiên cứu một cách có hệthống Vì vậy tôi chọn đề tài:“XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ CHỦ ĐỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP PHẦN ANCOLETYLIC –POLIME HÓA HỌC HỮU CƠ 9”.2.Lịch sử vấn đề nghiên cứuNgay từ những năm
1970 DHTH đã được nhiều nhà nghiên cứu lí luận dạy học quan tâm.Những kết quả nghiên cứu đã được triển khai trong việc xây dựng chuẩn giáo dục, chương trình, SGK của nhiều nước.Những nghiên cứu gần đây cũng khẳng định việc DHTH có tác dụng kích thích hứng thú người học, đảm bảo chất lượng kiến thức môn học, phát triển NL chung của ngườihọc và giúp quá trình học tập gắn liền với thực tiễn hơn Với những ưu điểm nổi trội như vậy, việc tổ chức dạy học các chủ
đề tích hợp trong các môn khoa học tự nhiên đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới như Mĩ, Đức, Úc, Pháp Việc tổ chức đào tạo giáo viên dạy học các môn tích hợp tại các trường sư phạm trên thế giới cũng được quan tâm nghiên cứu.Ở Việt Nam DHTH đã được vận dụng khá rộng rãi trong dạy học các môn khoa học tự nhiên từ cấp tiểu học đến các cấp học cao hơn, tuy nhiên việc tổ chức DHTHmới dừng lại chủ yếu ở cấp độ lồng ghép thông qua các ứng dụng của kiến thức môn học Trong chương trình đổi mới giáo dục dự kiến thực hiện năm
Trang 72018 DHTH sẽ được áp dụng cho cả cấp THCS và THPT.Vì vậy đã có một số nghiên cứu gần đây của các tác giả đã bước đầu nghiên cứu tổ chức dạy học các chủ đề có nội dung tích hợp như:1.Bùi Gia Thịnh (8 –1993), Về môn khoa học tíchhợp ở trường trung học, Tạp chí nghiên cứu giáo dục.2.Bộ giáo dục và Đào tạo, Tài liệu về môn khoa học Tự nhiên cấp trung học cơ sở,Biên soạn năm
1998.3.Trần Thị Tú Anh (2009), Tích hợp các vấn đề kinh tế xã hội và môi trường trong dạy học môn hóa học lớp 12 trung học phổ thông,Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.4.Đinh Xuân Giang (2009), Vận dụng
tư tưởng sư phạm tích hợp trong dạy học một số kiến thức về:“chất khí” và “cơ sở của nhiệt động lực học” (Vật lí 10 –cơ bản) nhằm pháttriển
77hứng thú và năng lực vận dụng kiến thức của học sinh,Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên.5.Phạm Hồng Vân (2009), Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những kiến thức khó –Sinh học 11.6.Nguyễn Thị Thu
Hương (2010), Vận dụng quan điểm tích hợp trong giảng dạy một số nội dung chương Nhiệt học –Vật lí 8, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội.7.PGS.TS Nguyễn Phúc Chỉnh (2012), Tích hợp trong dạy học sinh học, Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên.8.Nguyễn Thị Hường (2012), Vận dụng biện pháp tích hợp vào dạy học loại bài thực hành kĩ năng sử dụng tiếng Việt lớp 10, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Giáo dục –Đại học Quốc gia Hà Nội.9.Huznh Thị Mỹ Duyên (2013), Nghiên cứu thiết kế một số chuyên đề môn Hóa học lớp 12 theo phương pháp tích hợp, Luận văn Tốt nghiệp Đại học –Khoa Sư phạm –Đại học Cần Thơ.Tuy nhiên vẫn chưa có luận văn nào nghiên cứu thiết kế các chủ đề
DHTH như đề tài đã đề cập Đồng thời việc nghiên cứu lựa chọn các chủ đề DHTHnhư đề tài nghiên cứu là cần thiết cho HS THCS trong quá trình đổi mới giáo dục ởViệt Nam.3.Mục đích nghiên cứuNghiên cứu vận dụng quan điểm DHTH vàoxây dựng và sử dụng một số chủ đề DHTH trong phần hóa học hữu cơ lớp 9 nhằm pháttriển năng lực GQVĐ và ST choHS.4.Câu hỏi nghiên cứuGV lựa chọn, xây dựng các chủ đề DHTH và sử dụng các chủ đề đó như thế nào để phát triểnNL GQVĐ
và STchoHS?5.Giả thuyết khoa họcNếu GV xây dựng các chủ đề DHTH gắn với thực tiễn và nghiên cứu sử dụng chúng trong dạy học một cách hợp lí thì sẽ phát triển được NL GQVĐ và ST choHS.6.Nhiệm vụ nghiên cứuNghiên cứu cơ sở lí luận vềDHTH.Nghiên cứu cơ sở lí luận về năng lực, các biểu hiện, tiêu chí đánh giá, bộ công cụ đánh giáNL GQVĐ và ST.Nghiên cứu nội dung cấu trúc chương trình, cấu trúc SGK các bộmôn vật lí, hóa học, sinh học, công nghệ, địa lí, giáo dụccông dân hiện hành để tìm các nội dung liên quan đến chủ đề: “Ancoletylicvới vấn
đề sức khỏe con người”, “Polime –Tầm quan trọng và vấn đề môi trường”
Trang 888Xây dựng chủ đềDHTH: “Ancoletylicvới vấn đề sức khỏe con người”, “Polime –Tầm quan trọng và vấn đề môi trường” trong phần hóa học hữu cơ lớp 9.Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả của việc dạyhọc một số chủ đề tích hợp
đã dược đề xuất.7.Đối tượng, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu7.1 Khách thể nghiên cứu:Quá trình dạy học môn hóa họclớp 9 ở trường THCS.7.2 Đối tượng nghiên cứu:Các chủ đề dạy học tích hợp Các năng lực cần phát triển cho học sinh THCS7.3 Phạm vi nghiên cứuPhạm vi nội dung: Xây dựng hai chủ
đề DHTH là:“Ancoletylicvới vấn đề sức khỏe con người”, “Polime –Tầm quan trọng và vấn đề môi trường” và dạy thực nghiệm hai chủ đề đó.Phạm vi đối tượng:+Hoạt động tư duy của HS trong quá trình học tập các kiến thức liên quan đến những kiến thức trong phần hóa học hữu cơ lớp 9.+ Hệ thống những năng lực nhậnthức và phẩm chất của HS được rèn luyện, bồi dưỡng thông qua việc DHTH một
số chủ đề phần hóa học hữu cơ lớp 9.Phạm vi thời gian và không gian thực hiện nghiên cứu: Trong quá trình giảng dạy cho HS lớp 9năm học 2015-2016 tại 2 trường là: Trường THCS Vũ Kiệt –Thuận Thành –Bắc Ninh và trường THCS Nguyễn Gia Thiều –Thuận Thành –Bắc Ninh (tại mỗi trường chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm ở 2 lớp 9A và 9B).8.Phương pháp nghiên cứuSử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:Phương pháp nghiên cứu lí luận:+ Nghiên cứu cơ sở lí luận về quan điểmDHTH.+ Nghiên cứu cơ sở lí luận về hoạt động nhận thức của HS trong quá trình dạy học và sự phát triển các NL choHS.+ Nghiêncứu mối quan hệ nội dung kiến thức trong chủ đề ở các môn khoa học tự nhiên có liên quan.+ Nghiên cứu các hình thức, phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực.+ Nghiên cứu và phân tích nội dung chương trình SGK hiện hành các bộ môn:vật lí, hóa học, sinh học, công nghệ, giáo dục công dâncấp THCS.Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:+ Phương pháp chuyên gia: trao đổi, tiếp thu ý kiến đóng góp của các GV
99giàu kinh nghiệm để hoàn thành tốt nhiệm vụ đề tài đã đặt ra.+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm: để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng quan điểm DHTH thông qua DHTH một số chủ đềphần hóa học hữu cơ ở lớp 9 nhằm giúp các em học tập tích cực, sôi nổi, chủ động hơnđể phát triển NLcho HS THCS.+ Phương pháp toán học: phương pháp áp dụng toán thống kê để xử lí số liệu thu thập được trong thực nghiệm sư phạm.9.Đóng góp mới của luận vănXây dựng và dạy thực nghiệm hai chủ đề DHTH là:“Ancoletylicvới vấn đề sức khỏe con người”, “Polime–Tầm quan trọng và vấn đề môi trường”.Thiết kế tiêu chí đánh giá và công cụ đánhgiáNL GQVĐ và ST cho HS.10.Cấu trúc của luận vănNgoài phần mở đầu, kết luận
và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương.Chương 1: Cơ sở lí luận về DHTH nhằm phát triển năng
Trang 9lực cho HSChương 2: Xây dựng một số chủ đề dạy học tích hợp phần hóa học hữu
cơ 9Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 10CHƯƠNG 1CƠ SỞLÝLUẬN VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢPNHẰMPHÁT
TRIỂNNĂNG LỰC CỦAHỌC SINHNhững vấn đề chungvề dạy học tích hợpKháiniệm tích hợp và DHTHKhái niệm tích hợpTích hợp (theo tiếng Anh:
Integration)có nguồn gốc từ tiếng Latinh: Integration với nghĩa: xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ.Theo từ điển tiếng Anh –Anh từ Integration có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một tổng thể.Những phần, những bộ phận có thể khác nhau nhưng tích hợp với nhau.Nội hàm khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhấthay nhất thể hóa các bộ phận khác nhau để đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy1.Như vậy tích hợp có hai tính chất cơ bản liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau, đó là tính liên kết và tính toàn vẹn.Dạy học tích hợpDHTH là hành động liên kết một cách hữu cơ, có hệ thống các đối tượng nghiên cứu, học tập của một vài lĩnh vực môn học khác nhau thành nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó nhằm hình thành ở HS các NL cần thiết1.Trong DHTH,
HS dưới sự chỉ đạo của GV thực hiện việc chuyển đổi liên tiếp các thông tin từ ngôn ngữ của môn học này sang ngôn ngữ của môn học khác, HS học cách sử dụng phối hợp những kiến thức, những kĩ năng và những thao tác để giải quyết một tình huống phức hợp –thường là gắn với thực tiễn Chính nhờ quá trình đó,
HS nắm vững kiến thức, hình thành khái niệm, phát triển NL và các phẩm chất cá nhân.Như vậy, DHTH là mộtquan điểm sư phạm, ở đó người học cần huy động mọinguồn lực để giải quyết một tình huống phức hợp –có vấn đề nhằm phát triển các NL phẩm chất cá nhân [4].Lý do và tình hình vận dụng DHTHa)L{ do: Trong những năm 90 của thế kỉ trước, Internet xuất hiện và làm thay đổi mọi
1111quan niệm truyền thống về giáo dục, như nhà trường, lớp học, về dạy và học.Những thay đổi to lớn đã nói lên một điều kỷ nguyên cũ đã qua và một kỷ nguyên mới đang đếnlàm biến đổi nền giáo dục của cả nhân loại.Để đáp ứng với những thay đổi to lớn và nhanh chóng trong kỉ nguyên quá độ lên nền kinh tế tri
Trang 11thức, kỷ nguyên thông tin, triết lí giáo dục trong thế kỉ 21 cũng có những thay đổi mạnh mẽ, hướng tới “một xã hội học tập”, “học thường xuyên, học suốt đời” dựa trên bốn trụ cột “học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để làm người”.Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học, kĩ thuật và công nghệ, tri thức của loài người đang gia tăng nhanh chóng.Ước tính chỉ sau 7 năm khối lượng tri thức đã tăng gấp đôi, nghĩa là đến năm 2007 sẽ gấp 2 lần năm 2000 Không những thông tin ngày càng nhiều mà, với sự phát triển của các phương tiện công nghệ thông tin, ngày càng có nhiều cơ hội để mỗi người dễ dàng tiếp cận các thông tin mới nhất.Tình hình nói trên buộc phải xem lại chức năng truyền thống của người GV là truyền đạt kiến thức, đặc biệt là những kiến thức của từng môn khoa học riêng rẽ.GV phải biết dạy tích hợp các khoa học, dạy cho học sinh HS cách thu thập, chọn lọc, xử lí các thông tin, biết vận dụng các kiến thức học được vào các tình huống của đời sống thực tế Giáo dục không còn chủ yếu đào tạo tri thức và kĩ năng mà chủ yếu rèn luyện NL cho người học.Xu thế phát triển của khoa học ngày nay là tiếp tục phân hoá sâu song song với tích hợp liên môn, liên ngành ngày càng rộng.Việc giảng dạytrong nhà trường phải phản ánh sự phát triển hiện đại của khoa học, bởi vậy không thể cứ tiếp tục giảng dạy các khoa học như
là những lĩnh vực tri thức riêng rẽ.Mặt khác, như đã nói ở trên, khối lượng tri thứckhoa học đang gia tăng nhanh chóng mà thời gian học tập trong nhà trường lại có hạn, do đó phải chuyển từ dạy các môn học riêng rẽ sang dạy các môn học tích hợp.b)Việc vận dụng dạy họctích hợp * Trên thế giới:DHTH hiện nay là một xu hướng của lý luận dạy học đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm thực hiện như ởLiên Xô,Đức, Pháp *Ở Việt Nam:DHTH cũng đã được nghiên cứu và vậndụng từ những năm 60 nhưng đến nay vẫnchưa trởthànhphổ biến.Trong thực tếđổi mới PPDH ở nhiều môn học như: Ngữvăn, Sinh học, Hóa học, Giáo dục công dân DHTH cũng đã được nghiên cứu vận dụng cụ thể: Tác giảNguyễn Văn Đường (2002)[10]:Tích hợp trong dạy học ngữ văn bậcTHCS Tác giảNguyễn Trọng Hoàn (2002) [12]: Tích hợp và liênhội hướng tới kết nối trong dạy học Ngữvăn Tác giả Nguyễn Minh Phương -Cao Thị Thặng (2002) [17]: Xu thếtích hợp môn học trong nhà trường
1212Tuy nhiên việc vận dụng đầy đủDHTH vào thực tế dạy học gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là khi dạy các môn học ở bậc học THCS và THPT.Lý do là các môn học theochương trìnhvà SGK hiện nay đã được phân hóa sâu sắc, khối lượng kiếnthức ở mỗi môn học lại khá lớn Mục tiêu của DHTHQuan điểm DHTH được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và quá trình dạy học vì vậy quá trình DHTH nhằm:Làm chocác quá trình học tập không bị cô lập với cuộc sống hằng ngày, các kiến thức gắn liền với kinh nghiệm sống của HS và
Trang 12được liên hệ với các tình huống cụ thể.DHTHgiúp thiết lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học trong cùng một môn học và giữa các môn học với nhau Tránh các những kiến thức, kĩ năng, nội dung trùng lặp khi nghiên cứu từng môn học, nhưng lại có những nội dung, kĩ năng mà theo môn riêng rẽ không có được.DHTH giúp phát triển những NL GQVĐ phức tạp và làm cho việc học tập trở lên có { nghĩahơn đối với HSso với việc học các môn học, các mặt giáo dục được thực hiện riêng rẽ.Như vậy DHTH là một trong những quan điểm giáo dục nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và
NL để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại.Dạy học theo hướng tích hợp phát huy được tính tích cực của HS, góp phần đổi mới nội dung và PPDH [4] Các mức độ trong dạy học tích hợpQuan điểm tích hợp đối với các môn họcQuan điểm tích hợp đối với các môn học nêu lên quan niệm vềvai tròcủa môn học và những tương tác của các môn học.Theo D’Hainaut (1977, 1988), có 4 quan điểm khác nhau đối với việctích hợp các môn học:Trong nội bộ môn học: Ưu tiên các nội dung của môn học, quanđiểm này nhằm duy trì các môn học riêng rẽ Khi đó, có thể cấu trúc lại cácnội dung kiến thức môn học xung quanh tình huống thực tiễn nào đó.Đa môn học trong đó đề xuất những tình huống, những “đề tài” có thểđược nghiên cứu theo các quan điểm khác nhau (của những môn học khácnhau) Theo quan điểm này, các môn học vẫn tiếp cận riêng rẽ và chỉ gặp nhau ở một số thời điểm trong quá trình nghiên cứu các đềtài (không thực sựtích hợp).Liên môn học, trong đó đề xuất những tình huống chỉ có thể đượctiếp cận một cách hợp lí qua sự soi sáng của nhiều môn học Ở đây có sự liênkết các môn học để giải quyết một tình huống cho trước.Xuyên môn học chủ yếu quan tâm những kĩ năng và NL mà
HS có thể sử dụng trong nhiều môn học, trong các tình huống Những kĩnăng và
NL đó gọi là kĩ năng và NL “xuyên môn” Có thể có đượcnhững kĩ
1313năng và NL này trong từng môn học hoặc trong những tìnhhuống có những hoạt động chung cho nhiều môn học.Các mức độ trong dạy học tích hợpDHTH được bắt đầu với việc xác định một chủ đề cần huy động kiến thức, kĩ năng,
phương pháp của nhiều môn học đểGQVĐ.Lựa chọn được một chủ đề mang tính thách thức và kích thích người học tham gia vào các hoạt động là điều cần thiết trong DHTH.Có thể đưa ra 3 mức độ trong DHTH như sau: Lồng ghép/ liên hệỞmức độ này, các môn học vẫn dạy riêng rẽ, nhưng những nộidunggắn với thực tiễn,gắn với xã hội,gắn với môn học khác được đưa vào nội dungbàihọc của một môn học.GV có thể thấy mối quan hệ giữa kiến thức của môn học mình đảm nhận với nội dung của các môn học khác và thực hiện nồng ghép các kiến thức đó ở thờiđiểm thích hợp.Có thể lấy VD như lồng ghép nội dung vềbảo vệ môi trường; ứng phó với biến đổikhí hậu; sức khỏe sinh sản, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng
Trang 13lượng, Vận dụng kiến thức liên mônỞ mức độ này, hoạt động học diễn ra xungquanh các chủ đề, ởđóngười học cần vận dụng các kiến thức của nhiều môn học đểGQVĐ đặt ra.Các chủ đề khi đó được gọi là các chủ đề hội tụ.Nội dung các môn học vẫn được phát triển riêng rẽ để đảm bảo tính hệthống, mặt khác vẫn thực hiện được sự liên kết giữa các môn học khácnhau qua việc vận dụng các kiến thức liên môn trong các chủ đề hội tụ.Việc thực hiện mức độ tích hợp này có thể theo 2 cách:Cách 1: Các môn học vẫn được dạy riêng rẽ nhưng đến cuối năm học hoặc cuối cấp học có một phần, một chương về những vấn đềchung (của các môn
KHTN hoặc các môn KHXH) và các thành tựu thực tiễn nhằm giúp HS xác lập mối liên hệ giữa các kiến thức đã được lĩnh hội.Cách 2: Những ứng dụng chung cho các môn học khác nhau thực hiện ở những thời điểm đều đặn trong năm học Một số nội dung tích hợp liên môn vào thời điểm thích hợp nhằm làm cho HS quendần với việc sử dụng kiến thức của nhữngmôn học gần gũi với nhau Hòa
trộnĐây là mức cao nhất trong DHTH.Ở mức độ này, nội dungchủ đề không thuộc riêng về một môn học mà thuộc về nhiều môn khác nhau, do đó các nội dung thuộcchủ đề sẽ không cần dạy ở các môn học riêng rẽ Mức độ tích hợp này dẫn đến sự hợp nhất kiến thức của hai hay nhiều môn học.Ở mức hòa trộn, GV phối hợp quá trình học tập những mônhọc khác nhau bằng các tình huống thích hợp, xoay quanh những mụctiêu chung cho nhóm môn, tạo thành các chủ đề thích hợp
1414Trong quá trình thiết kế, sẽ có những chủ đề, trong đó, các NL cần hình thành được thể hiện xuyên suốt qua toànbộ các nội dungcủa chủ đề mà không phải chỉ là một nội dung nào đó của chủ đề CácNL này chính là các NL được hình thành xuyên môn học.Để thực hiện ở mức độ hòa trộn, cần sự hợp tác của các GV đến từ các môn học khác nhau.Để lựa chọn và xây dựng nội dung học,GVphải có hiểu biết sâu sắc về chương trình và đặt chương trìnhcác môn học cạnh nhau để so sánh, tôn trọng những đặc trưng nhằmdẫn HS đạt mục tiêu dạy học xác định, hướng tới việc phát triển NL.Việc phân tích mối quan hệ giữa các môn học khác nhautrong chủ đề cũng như sự phát triển các kiến thức trong cùng môn họcphải đảm bảo nguyên tắc tích hợp và hợp tác[21].Theo Dự thảo đề án đổi mới CTGD phổ thông tổng thể sau 2015 của Bộ GD&ĐT dạy học theo chủ đề tích hợp đang được xem là giải pháp tối ưu trong việc không chỉ xây dựng chương trình học mà còn cả trong việc tiếp cận kiến thức học,PPDH Dạy học theo chủ đềchính là bước chuẩn bị tương đối phù hợp đối với GV bộ mônhiện nay cho đổi mới chương trình
và SGK trong thời gian tới.Dạy học theochủ đề tích hợpKhái niệm dạy học theo chủ đềtích hợpDạy học theo CĐTH (Themes based learning) là hình thức tìm tòi những khái niệm, tư tưởng, đơn vị kiến thức, nội dung bài học, chủ đề, có sự giao thoa, tương đồng lẫn nhau, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực
Trang 14tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợpphần của môn học đó (tức là con đường tích hợp những nội dung từ một số đơn vị, bài học, môn học có liên hệ với nhau) làm thành nội dung họctrong một chủ đề có ý nghĩa hơn, thực tế hơn, nhờđó HScó thể tự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiến thức và vận dụng vào thực tiễn[12] Dạy học theo CĐTH là sự kết hợp giữa mô hình dạy học truyền thống và hiện đại, ở đó GV không dạy học chỉ bằng cách truyền thụ (xây dựng) kiến thức
mà chủ yếu là hướng dẫn HS tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức vào giải quyếtcác nhiệm vụ có ý nghĩa thực tiễn Dạy học theo chủ đề là một mô hình mới cho hoạt động lớp học thay thế cho lớp học truyền thống (với đặc trưng là những bài học ngắn, cô lập, những hoạt độngdiễn ra tronglớp học mà GV giữ vai trò trungtâm) bằng việc chú trọng những nội dung học tập, tính tổng quát liên quan đến nhiều lĩnh vực, với trung tâm tập trung vào HS và nội dung tích hợp với những vấn
đề, những thực hành gắn liền với thực tiễn Theo mô hình này, HS có nhiều cơ hội làm việc theo nhóm để giải quyết những vấn đề xác thực, có hệ thống và liên quan đến nhiều kiến thức khác nhau Các em thu thập thông tin từ nhiều nguồn kiến thức Việc học của HSthực sự có giá trị vì nó kết nối với những gì thực tế và rèn luyện được nhiều kĩ năng hoạt động và kĩ năngsống.Thông qua cách tiếp cận chương trình này, vai trò của GV là hướng dẫn và chỉ bảo hơn là quản lý trực tiếp
HS làm việc[11, tr 7]
1515Dạy học theo CĐTH là một PPDH trong đó có sự tích hợp liên môn làm cho nội dung học có ý nghĩa hơn, thực tếhơn và HScó thể tự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiến thức và vận dụng vào thực tiễn.Ưu điểmcủa dạy học theochủđềso với dạy học theo cách tiếp cận truyền thống hiện nayMỗi một mô hình hayphương pháp đều có những ưu điểmhoặc những hạn chế riêng.Tuy nhiên, trước những vấn
đề mới đặt ra cho nền giáo dụcgiáo dục hiện naythì dạy học theo chủ đề khi so sánh với dạy học theo cách tiếp cận truyền thống hiện nay, sẽ có một sốưu điểm sau:Từ các nhiệm vụ học tập được giao, HS quyết định chiến lược học tập với sự chủ động hỗ trợ, hợp tác của GV lấy HS là trungtâm Với mô hình này, HS có nhiều cơhội làm việc theo nhóm để giải quyết những vấn đề xác thực, có hệ thống
và liên quan đến nhiều kiến thức khác nhau Các em thu thập thông tin từ nhiều nguồnkiến thức Việc học của HSthực sự có giá trị vì nó kết nối với thực tế và rèn luyện được nhiều kĩ năng hoạt động và kĩ năng sống HScũng được tạo điều kiện minh họa kiến thức mình vừa nhận được và đánh giá mình học được bao nhiêu và giao tiếp tốt như thế nào Với cách tiếp cận này, vai trò của GVchỉ là người hướng dẫn, chỉ bảo thay vì quản l{ trực tiếp HSlàm việc.Hướng tới các mục tiêu: chiếm lĩnh nội dung kiến thức khoa học, hiểu biết tiến trình khoa học và rèn luyện các kĩ năng tiến trình khoa học như: quan sát, thu thập thông tin, dữ liệu; xử l{ (so sánh,