1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

SỰ NGHÈO ĐÓI TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM.

29 468 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 54,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ xưa đến nay, đói nghèo luôn là vấn đề mang tính toàn cầu đói với thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Tỉ lệ người nghèo đến nay tuy có xu hướng giảm, nhưng số lượng người nghèo vẫn còn đang ở mức cao. Nhằm hướng đến thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống và giúp tăng thu nhập cho người dân, giảm tỷ lệ đói nghèo xuống còn 10% 11% vào năm 2010. Để thực hiện được mục tiêu cao cả này, đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần phải ban hành một số chính sách nhằm xóa đói giảm nghèo nhằm nâng cao năng lực cho cộng đồng nghèo, hướng đến xây dựng một đất nước không có sự phân hóa giàu nghèo. Bên cạnh đó, công tác xã hội với người nghèo cũng

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giảiphóng cho người dân Vì vậy việc cải thiện tình trạng đói nghèo rất cần sự can thiệpcủa người nhân viên công tác xã hội, họ là cầu nối để đối tượng là người nghèo tiếpcận được với các chính sách giảm nghèo và thoát nghèo.

I. TỔNG QUAN VỀ SỰ NGHÈO ĐÓI TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM.

I.1. Nghèo đói trên thế giới

1.1.1 Quan niệm của thế giới về nghèo đói.

- Trước đây người ta thường đánh đồng nghèo đói với mức thu nhập thấp Coi thunhập là tiêu chí chủ yếu để đánh giá sự nghèo đói cả con người Quan niệm này có ưuđiểm là thuận lợi trong việc xác định số người nghèo dựa theo chuẩn nghèo, ngưỡngnghèo Nhưng thực tế đã chứng minh việc xác định đói nghèo theo thu nhập chỉ đođược một phần của cuộc sống Thu nhập thấp không phản ánh hết các khía cạnh củađói nghèo, nó không cho chúng ta biết được mức khốn khổ và cơ cực của những ngườinghèo Do đó quan niệm này còn rất nhiều hạn chế

- Hiện nay do sự phát triển của nền kinh tế thế giới, quan điểm đói nghèo đã được hiểurộng hơn, sâu hơn và cũng có thể được hiểu theo các cách tiếp cận khác nhau:

Trang 3

+ Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực châu á Thái Bình Dương do ESCEP tổchức tháng 9 năm 1993 tại Băng Cốc- Thái Lan đã đưa ra khái niệm về định nghĩa đóinghèo: Nghèo đói bao gồm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.

Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãnnhững nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhậntùy theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương

Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộngđồng

Theo khía cạnh kinh tế: Nghèo là do sự thiếu lựa chọn dẫn đến cùng cực và thiếu nănglực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, chủ yếu là trong lĩnh vực kinhtế

Theo khía cạnh khác: Nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội trongtừng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực, một vùng

- Năm 1998 UNĐP công bố một bản báo cáo chuyên đề khắc phục sự nghèo khổ củacon người đã đưa ra những định nghĩa về nghèo

+ Sự nghèo khổ của con người: thiếu những quyền cơ bản của con người như biết đọc,biết viết, được tham gia vào các quyết định cộng đồng và được nuôi dưỡng tạm đủ.+ Sự nghèo khổ tiền tệ: thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi tiêu tốithiểu

+ Sự nghèo khổ cực độ: nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả năng thỏa mãnnhững nhu cầu tối thiểu

+ Sự nghèo khổ chung: mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định như sựkhông có khả năng thỏa mãn những nhu cầu lương thực và phí lương thực chủ yếu,những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hoặc nước khác

Trang 4

1.1.2. Thực trạng nghèo đói

Thực trạng đói nghèo trên thế giới đang diễn ra theo chiều hướng rất đáng báo động.Theo một nghiên cứu của WB, nguy cơ đối với người nghèo đang tiếp tục gia tăng trênquy mô toàn cầu, và tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm trong năm 2009 đã đẩy thêm

53 triệu người nữa rơi vào tình trạng nghèo đói, thêm vào con số 130-155 triệu ngườicủa năm 2008, khi giá nhiên liệu và thực phẩm tăng cao

Suy thoái kinh tế dự kiến mỗi năm sẽ đe dọa thêm mạng sống của 200.000 đến400.000 trẻ em trong giai đoạn 2010-2015, theo đó 1,4 đến 2,8 triệu trẻ em có thể bị tửvong nếu khủng hoảng tiếp diễn

Chỉ số đói nghèo toàn cầu (GHI) được đánh giá trên 3 dấu hiệu cơ bản: tỉ lệ ngườithiếu ăn, mức độ phổ biến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi; tỉ lệ tửvong của trẻ em dưới 5 tuổi Nhìn chung, trong những năm từ 1990 đến 2009, GHItrung bình của thế giới đã giảm gần 1/5 Nhiều quốc gia đã giải quyết tốt vấn đề dinhdưỡng cho trẻ em Tuy nhiên, tỉ lệ tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi và tỉ lệ người thiếu

ăn vẫn còn khá cao

Đói nghèo giết chết hơn 30.000 trẻ dưới 5 tuổi trên khắp thế giới mỗi ngày, báo cáocủa Manos Unidas - một tổ chức phi chính phủ (NGO) Tây Ban Nha, Manos Unidas(United Hands) cho biết điều này có nghĩa là có khoảng 11 triệu trẻ em chết mỗi năm

vì nghèo đói, trong đó có 7 triệu trẻ dưới 5 tuổi; 130 triệu trẻ không được đi học và 82triệu trẻ bị mất tuổi thơ bởi phải kết hôn quá sớm

Báo cáo của Manos Unidas cũng cho hay hiện có 15 triệu trẻ em trên thế giới bị mồcôi vì AIDS, đa số rơi vào trẻ ở Nam Phi; 246 triệu trẻ phải đi làm khi chưa đủ tuổi laođộng, trong đó có 72 triệu trẻ dưới 10 tuổi Trong khi đó, theo ước tính của Liên HiệpQuốc, có khoảng 100 triệu trẻ em trên thế giới không có nhà cửa và đang sống trên cácđường phố Trước thực trạng này, Liên Hiệp Quốc (LHQ) kêu gọi các nước cải thiệnđiều kiện y tế và vệ sinh, giảm tỉ lệ tử vong của trẻ em, cải thiện tình trạng đói nghèo

và tạo điều kiện cho trẻ em phổ cập giáo dục tiểu học

Năm 2000, các nước trên thế giới đã thống nhất đề ra mục tiêu này, theo đó giảm mộtnửa số người nghèo đói vào năm 2015 Tuy nhiên, trong bối cảnh các cuộc khủnghoảng lương thực, tài chính diễn ra liên tiếp đẩy số người nghèo tăng cao như hiệnnay, đối với nhiều nước, mục tiêu này là bất khả thi

1.1.3. Nguyên nhân của nghèo.

- Do thiếu nguồn lương thực thực phẩm:

Trang 5

• Việc sản xuất ra các nguồn lương thực chính như lúa gạo, ngô, khoai, sắn…không đủ cung cấp cho con người.

- Sự đầu cơ trên giá của các sản phẩm nông nghiệp gạo, lúa mì và bắp

• Sáu tổ chức đa quốc gia kiểm soát 85% nông sản trên thế giới và họ đã kiểmsoát giá trị của nông sản Sự thống trị này rất là bất công và nguy hiểm Chính

vì vậy những người sản xuất ra lúa gạo hay bắp cũng không đủ ăn vì họ bịkiềm giá

• Những tổ chức quốc tế, Ngân hàng quốc tế, Qũy Tiền tệ không can thiệp vìnguyên tắc tự do thương mại

- Khủng hoảng kinh tế tài chính và khủng hoảng lương thực đi song song vì những nhàtài phiệt đầu cơ trên giá của lương thực, họ kiềm hãm hay cho tăng giá tùy thời điểm

và tùy theo quyền lợi của họ làm nhiều vùng trên địa cầu thiếu ăn

- Sự khác nhau về giáo dục đào tạo

- Thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, thường xuyên xảy ra nhiều thiên tai và bão lũ, pháhoại hàng loạt của cải của con người như lương thực thực phẩm, nhà cửa, các côngtrình kiến trúc,…

- Môi trường ngày càng bị ô nhiễm nặng nề : ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí,

ô nhiễm âm thanh và ánh sáng…

- Nạn dich HIV/AIDS đang ngày một gia tăng đó cũng là một trong những vấn nạnliên qan đến nghèo đói

- Trái đất ngày một nóng lên làm phát sinh nhiều loại dịch bệnh truyền nhiễm gâynguy hiểm đến tính mạng của con người

- Sự di dân, nhập cư trái phép của những người từ nơi khác đến gây nên sự mất ổnđịnh ở một số nước trên thế giới

- Sự phân hóa giàu nghèo: người giàu ngày càng giàu thêm, người nghèo thì vẫn hoànnghèo

Trang 6

- Tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm.

- Bên cạnh đó còn có một số nguyên nhân khác như: tình trạng tham ô tham nhũng,lạm phát kéo dài,thiế đầu tư vào sản xuất nông nghiệp…

1.1.4 Ảnh hưởng của nghèo.

Theo nhận định của ông Kuroda (Chủ tịch Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB),khoảng 620 triệu người ở châu Á sống dưới mức 1USD/ngày Ít nhất một nửa và trong số này lần lượt sống ở Ấn Độ và Trung Quốc - 2 nước có nền kinh tế đang pháttriển mạnh

Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, châu Phi là châu lục có tỉ lệ thanh niên thất nghiệpcao nhất thế giới (25,6% ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi) Thất nghiệp là một trongnhững vấn đề chủ chốt gây ra nạn đói nghèo của lục địa Đen và ảnh hưởng tiêu cựcđến các chương trình và các kế hoạch phát triển, với tỉ lệ tăng 10% mỗi năm 32 trong

số 38 nước nghèo nhất thế giới là thuộc châu Phi

Từ vài thập kỷ nay, tỉ lệ mù chữ tại châu Phi gia tăng, chiếm khoảng 40% số dân châuPhi ở độ tuổi 15 và chiếm hơn 50% số phụ nữ ở độ tuổi 25 Từ nhiều năm nay, châuPhi đã phải gánh chịu một vấn đề kinh niên là vấn đề người tị nạn Theo các con sốchính thức, tại châu Phi có hơn 7 triệu người tị nạn và hơn 20 triệu người không cónhà cửa do hàng loạt các cuộc xung đột và nội chiến gây ra và đã để lại một hậu quảnặng nề về nạn đói, nạn suy dinh dưỡng và kinh tế bị đình trệ

Châu Phi đang phải đối mặt với nạn hạn hán kinh niên và bị thiếu nước sạch thườngxuyên, điều này đã và đang cản trở sự phát triển của châu lục này Tình trạng khôngđược sử dụng nước sạch và mất vệ sinh đã gây ra những hậu quả tai hại và là nguồngây ra các bệnh dịch trên toàn châu Phi Mặc dù trong những năm qua, các nước châuPhi đã đạt được những tiến bộ về việc cung cấp nước sạch và điều kiện vệ sinh, songnhững mục tiêu phát triển thiên niên kỷ vẫn chưa đạt được

Đói nghèo đã trở thành thách thức lớn, đe dọa đến sự sống còn, ổn định và phát triểncủa thế giới và nhân loại Sở dĩ như vậy bởi vì thế giới là một chỉnh thể thống nhất, vàmỗi quốc gia là một chủ thể trong chính thể thống nhất ấy Toàn cầu hóa đã trở thànhcầu nối liên kết các quốc gia lại với nhau, các quốc gia có mối quan hệ tác động qua lại

Trang 7

lẫn nhau, sự ổn định và phát triển của một quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắcđến sự ổn định và phát triển của các quốc gia khác.

Nghèo đói đe dọa đến sự sống của loài người bởi "đói nghèo đã trở thành một vấn đềtoàn cầu có ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng, nó là nhân tố có khả năng gây bùng

nổ những bất ổn chính trị, xã hội và nếu trầm trọng hơn có thể dẫn tới bạo động vàchiến tranh" không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà là cả thế giới Bởi, những bấtcông và nghèo đói thực sự đã trở thành những mâu thuẫn gay gắt trong quan hệ quốctế; và nếu những mâu thuẫn này không được giải quyết một cách thỏa đáng bằng conđường hòa bình thì tất yếu sẽ nổ ra chiến tranh

Mặt khác, đói nghèo còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nhân loại Thay vìcon người có thể tập trung toàn bộ nguồn lực cho phát triển, thì một phần lớn nguồnlực đó phải dành ra để giải quyết vấn đề đói nghèo và các vấn đề toàn cầu khác do đóinghèo mang lại Nghèo đói, bất công là nguyên nhân của tội phạm quốc tế (khủng bố,nạn buôn bán ma túy và rửa tiền); nghèo đói cộng với thiếu hiểu biết kéo theo đó là giatăng dân số, cạn kiệt nguồn nước, khan hiếm nguồn năng lượng (do sự gia tăng nhanhchóng những hoạt động kinh tế của con người); lương thực, thực phẩm ngày càngthiếu hụt; bệnh tật (nhất là đại dịch HIV/AIDS) ngày càng lan tràn, khó kiếm soát; môitrường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng và vấn đề di dân tự do đang ngày càng trở nênphức tạp

Đói nghèo là một trong những nguyên nhân đang trực tiếp đe dọa đến sự tồn vong vàphát triển của loài người Tác động của nó trong quan hệ quốc tế là rất lớn và vì vậyvấn đề này không phải của một quốc gia riêng lẻ nào mà là của toàn nhân loại, đòi hỏithế giới phải chung tay để giải quyết một cách triệt để và toàn diện Ngăn chặn tìnhtrạng đói nghèo sẽ không chỉ giúp nâng cao cuộc sống tại các nước đang phát triển màcòn mang lại sự bảo đảm về an ninh cho các nước giàu

1.1.5. Giải pháp khắc phục đói nghèo.

- Để thế giới có thể xóa đói giảm nghèo thực sự, các nước không chỉ cần tập trung vàomục tiêu tăng trưởng mà còn phải chú trọng chính sách phân phối thu nhập hợp lý chongười nghèo, bao gồm cả việc nâng cao tốc độ tăng trưởng thu nhập dành cho các đốitượng thuộc 40% dân số nghèo nhất

Trang 8

- Các quốc gia thành lập các quỹ giúp đỡ người nghèo: BNUD ( quỹ cho người nghèovay vốn của Banglades), Finn Care ( tổ chức từ thiện của Anh), UNDB (chương trìnhphát triển của Liên Hợp Quốc)…

- Nổi bật lên nhất là GCAP

+ GCAP là một liên minh gồm các tổ chức, mạng lưới và các chiến dịch quốc gia trêntoàn thế giới nhằm mục tiêu loại bỏ hoàn toàn nghèo đói

+ Mục tiêu lớn nhất đã làm được đó là: giúp đỡ nhwngx ngwowif sống trong nhữngđiều kiện khó khăn nhất của thế giới

- Lấy Việt Nam là một trong những điển hình giải quyết vấn đề đói nghèo trên toàn thếgiới

- Thế giới cần hướng đến giải quyết sự phân hóa giàu nghèo, nhằm đảm bảo cho ngườinghèo được hưởng các lợi ích từ các chính sách về chăm sóc sức khỏe, giáo dục, cơ sở

hạ tầng

- Cần có chính sách đầu tư phát triển nhằm tăng cường vốn cho các địa phương trongđiều kiện khó khăn

- Đẩy nhanh phát triển thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế

1.2. Tình hình nghèo đói ở Việt Nam.

1.2.1 Quan điểm của Việt Nam về nghèo đói.

Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm nghèo đói,song ý kiến chung nhất cho rằng: ở Việt Nam thì tách riêng đói và nghèo thành 2 kháiniệm riêng biệt

- Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần nhữngnhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bìnhcủa cộng đồng xét trên mọi phương tiện

Trang 9

- Đói: là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thunhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống Đó là một bộ phậndân cư hằng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thường vay mượn cộng đồng vàthiếu khả năng chi trả Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể, nhà ở dột nát, con thấthọc bình quân thu nhập dưới 13kg gạo/người/tháng.

- Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện về cuộc sốngnhư ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, quyền được tham gia vào các quyết định cảcộng đồng

Qua các cách tiếp cận trên đã giúp chúng ta nâng cao sự hiểu biết về các nguyên nhângây ra nghèo đói nhằm có những phương hướng, cách thức hành động đúng đắn để tấncông đẩy lùi đói nghèo, làm cho chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng tốtđẹp hơn

1.2.2 Thực trạng nghèo đói ở Việt Nam.

Nghèo đói ở Việt Nam luôn là vấn đề nhức nhối hiện nay, số lượng người nghèo lênđến con số đáng báo động Đảng và nhà nước luôn tăng cường một số chính sách xóađói giảm nghèo nhằm hạn chế số hộ gia đình nghèo

Theo Báo cáo Phát triển Việt Nam 2008, số liệu điều tra hộ gia đình năm 2006 khẳngđịnh xu hướng giảm nghèo ở Việt Nam đang tiếp tục diễn ra, với tỷ lệ hộ gia đình sốngdưới ngưỡng nghèo chỉ còn 16%, so với 28,9% năm 2002, và 58,1% năm 1993 Dựavào thước đo theo chi phí cho một rổ hàng hóa như đã đề cập ở trên, theo ước tính,trong hơn một thập kỷ qua, Việt Nam đã giảm nghèo cho hơn 42% dân số, tươngđương với 35 triệu người

Tuy nhiên, tiến bộ đạt được trong xóa đói, giảm nghèo là không đồng đều Tỷ lệnghèo ở các nhóm dân tộc ít người vẫn cao hơn nhiều so với mức nghèo của các nhómngười Kinh và Hoa Số liệu cho thấy, hầu hết những người nghèo đều sống ở các vùngnông thôn, với tỷ lệ nghèo đang tiếp tục giảm Điều này trái ngược với mức nghèo hầunhư vẫn giữ nguyên ở thành thị Về tỷ lệ người nghèo thành thị không giảm, có nhiềunguyên nhân có thể giải thích hiện tượng này Đó là do giá cả ngày càng tăng cao ởkhu vực thành thị Sự bùng nổ giá bất động sản làm tăng chi phí bán lẻ và các dịch vụ

Trang 10

khác trong thành phố Giá cả leo thang ở khu vực thành thị có thể dẫn đến mức sốngthấp hơn cho những người mà thu nhập của họ không tăng theo một cách tương ứng.

Ngoài ra, giá cả tăng có thể khiến cho những người cận nghèo bị tái nghèo.

Sự kết hợp giữa tốc độ giảm nghèo nhanh ở những vùng nghèo hơn của ViệtNam và giảm nghèo chậm hơn ở các tỉnh giầu hơn đã giúp thu hẹp khoảng cách giữacác vùng Số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ nghèo đã giảm nhanh chóng ở những vùng

mà tỷ lệ ban đầu là cao nhất Bức tranh nghèo giữa các tỉnh cũng tương tự như giữacác vùng Vẫn còn những khoảng cách lớn những tỉnh giàu nhất và tỉnh nghèo nhất.Tuy nhiên, ngay cả ở những vùng cao nguyên nghèo nhất, một số tỉnh cũng đang giảmnghèo tốt hơn và bắt đầu theo kịp các tỉnh giàu hơn ở vùng đồng bằng Điều đó là do

đối với các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Chính phủ đã có nhữngchính sách ưu tiên như Chương trình 135, ổn định dân di cư tự do, chính sách trợ giá,trợ cước, Chương trình 173, Chương trình 186 Những chính sách đó đã giúp ngườinghèo, người dân tộc xóa đói, giảm nghèo, lĩnh hội được các thành quả của quá trìnhphát triển kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng Tuy chưa theo kịp tốc

độ của vùng đồng bằng, vùng đô thị, song đời sống của người dân nơi đây đã có nhữngthay đổi tích cực, kết cấu hạ tầng phát triển, thị trường hàng hóa đã bắt đầu hình thành,dần dần thay thế nền kinh tế tự cung, tự cấp trước đây

1.2.3 Nguyên nhân đói nghèo.

- Về điều kiện tự nhiên: khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt, hạn hán, sâu bệnh, đấtđai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn đã và đang kìm hãm sản xuất, gây

ra tình trạng đói nghèo cho cả một vùng, khu vực

- Nguyên nhân chủ quan của người nghèo: thiếu kiến thức làm ăn, thiếu vốn, đôngcon, thiếu lao động, không có việc làm, mắc các tệ nạn xã hội, lười lao động, ốm đau,rủi ro

- Về cơ chế chính sách: Thiếu hoặc không đồng bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ

sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng,hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông,lâm, ngư,chính sách trong giáo dục đào tạo, ytế,giải quyết đất đai, định canh định cư, kinh tế mới và nguồn lực đầu tư còn hạn chế

Trang 11

1.2.4 Ảnh hưởng của nghèo đói.

1.2.4.1 Sức khỏe và y tế:

- Vì lo cho cuộc sống mưu sinh, những người nghèo thường không quan tâm đến sứckhỏe của mình, họ phó mặc cho trời, đến một lúc nào đó họ mới phát hiện thì bệnh đãquá nặng

- Thiếu ăn dấn đến tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em, ảnh hưởng đến sự phát triểncủa hệ thần kinh và trí não

- Đặc biệt, sức khỏe phụ nữ và trẻ em gắn liền với sự thiếu thông tin và hiểu biết, thiếunguồn lực và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế hữu hiệu

- Nghèo đói dẫn đến tỷ lệ tử vong cao nhất đối với phụ nữ sinh nở, trẻ sơ sinh và nhiđồng

- Giá dịch vụ y tế và thuốc chữa bệnh ngày càng tăng, sức khỏe người nghèo ngàycàng suy sụp và chất lượng giảm sút

- Trẻ em nghèo suy dinh dưỡng dẫn đến sức khỏe bị đe dọa, tỷ lệ tử vong cao

- Điều kiện giao tiếp, chăm sóc sức khỏe cũng như học hành đều hạn chế

Trang 12

- Ít được giáo dục trong môi trường lành mạnh.

- Nam thường có sức khỏe tốt hơn nữ Lao động chân tay nặng nhọc, tiếp xúc trực tiếpvới môi trường Bệnh ở nam: lao, sức khỏe suy kiệt…; ở nữ: phụ khoa, thiếu máu,thiếu dinh dưỡng, bướu cổ…

- Đối với người già: mất sức lao động, cái ăn, chăm sóc và bồi dưỡng thiếu thốn

- Ở người già thì nam có tuổi thọ thấp hơn nữ Một số phụ nữ có sức khỏe yếu hơn sovới nam là do sinh con đông

- Người già nghèo vẫn làm việc dù hiệu quả không cao

- Bệnh thường gặp ở người già: lao, tiểu đường, ung thư ở nam, bệnh phụ khoa, đaulưng thấp khớp ở nữ

1.2.4.4 Nguy cơ dễ bị tổn thương

- Người nghèo phải đối mặt với rất nhiều rủi ro như bị ngược đãi, đánh đập, thiên tai,

bị thôi việc, phải nghỉ học,… chính vì vậy họ luôn mặc cảm, tự ti sống khép kín

- Những người nghèo do tài sản ít, thu nhập thấp, họ chỉ có thể trang trải hạn chế, tốithiểu các nhu cầu thiết yếu nhất của cuộc sống Vì vậy khi rủi ro xảy ra họ rất dễ bị tổnthương, rất khó vượt qua các cú sốc có hại

- Do thu nhập thấp, người nghèo có rất ít khả năng tiếp cận với các cơ hội tăng trưởngkinh tế, vì thế họ thường bỏ thêm các chi phí không đáng có hoặc giảm thu nhập

- Ở các hộ nghèo, khi có rủi ro xảy ra như mất cắp hay có người bị ốm đau thì họ dễrơi vào tình trạng khủng hoảng, làm đảo lộn cuộc sống cả gia đình

- Nguy cơ dễ bị tổn thương đã tạo nên một tâm lý chung của người nghèo là sợ đối mặtvới rủi ro, vì vậy họ lôn né tránh với những vấn đề mang tính rủi ro cao, kể cả khiđiều đó có thể đem lại nhiều lợi ích cho họ nếu thành công

1.2.4.5 Không có tiếng nói và quyền lực

- Những người nghèo thường bị đối xử không công bằng, bị gạt ra ngoài lề xã hội dovậy họ thường không có tiếng nói quyết định trong các công việc chung của cộng đồngcũng như các công việc liên quan đến chính bản thân họ

Trang 13

- Họ bị tước đi những quyền mà đáng lẽ ra họ được hưởng như bao người khác.

- Không có tiếng nói và quyền lực còn thể hiện ở chỗ những người phụ nữ bị đối xửbất bình đẳng ngay trong chính gia đình của họ Người phụ nữ không có quyền quyếtđịnh việc gì mà phải phụ thuộc hoàn toàn vào người chồng của họ

1.2.5 Giải pháp xóa đói giảm nghèo.

- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trong việc khuyến

khích làm giàu, đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, hạn chế phân hoá giàu nghèo Tậptrung triển khai đồng bộ các chương trình xoá đói, giảm nghèo nhất là ở vùng sâu,vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; bảo đảm tính bền vững kể cả trước mắt và lâu dàitrong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

- Phát huy tối đa nội lực, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong xoá đói, giảmnghèo và hạn chế phân hoá giàu nghèo Do đó, nguồn lực để chi cho việc xoá đói,giảm nghèo sẽ chủ yếu phụ thuộc vào nội lực, từ sức mạnh của nhân dân, sức mạnhcủa đất nước Việc phát huy nội lực, tranh thủ, phát huy tối đa các nguồn lực của từng

cá nhân và của cộng đồng là vô cùng quan trọng cần được quan tâm nhằm nâng caochất lượng hiệu quả công tác xoá đói, giảm nghèo, hạn chế phân hoá giàu nghèo trongđiều kiện mới

- Có chủ trương, biện pháp tích cực, đúng đắn, công khai, minh bạch để giải quyết vấn

đề đói nghèo, hạn chế phân hoá giàu nghèo với những nội dung, hình thức mới Đòihỏi phải tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểmthất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡmọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, vượt qua khókhăn hoặc các rủi ro trong đời sống

Để xoá đói, giảm nghèo bền vững, hạn chế phân hoá giàu nghèo, ngoài sự quan tâmlãnh đạo của Đảng, Nhà nước còn phải có sự tham gia của cả cộng đồng, trong đó có

sự chia xẻ, đóng góp của người giàu và sự vươn lên của chính người nghèo, hộ giađình nghèo Trong điều kiện hiện nay, làm tốt công tác xoá đói, giảm nghèo, hạn chếphân hoá giàu nghèo là góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xãhội dân chủ, công bằng, văn minh

Trang 14

- Tiếp tục phân cấp triệt để cho địa phương trong thực hiện các chương trình xóa đói,giảm nghèo, bảo đảm sự hài hòa giữa trách nhiệm đi đôi với quyền hạn; các bộ,ngành tập trung vào xây dựng cơ chế, chính sách, xây dựng tiêu chí, tạo nguồn lực,đào tạo cán bộ, hướng dẫn và giám sát đánh giá; việc huy động nguồn lực tại chỗ và

tổ chức thực hiện là trách nhiệm của xã, huyện và tỉnh Phát huy sáng kiến, năngđộng của địa phương, vai trò của các đoàn thể và người dân trong quá trình thựchiện

- Cần phát huy được vai trò của người dân địa phương tham gia vào quá trình thựchiện dự án xóa đói giảm nghèo, tạo nên sự liên kết vững chắc giữa chính quyền địaphương, các tổ chức đoàn thể và người dân Đây là cơ sở quan trọng để giảm thiểutình trạng tái nghèo đang diễn ra tại nhiều địa phương

- Cải tiến cơ chế huy động, phân bổ và quản lý nguồn lực theo hướng đa nguồn, coitrọng tại chỗ của từng địa phương; có chính sách phù hợp để thu hút các doanhnghiệp đầu tư vào miền núi, nhất là ưu đãi về đất, thuế; kêu gọi sự hỗ trợ của cácnước và các tổ chức quốc tế, tạo lực mạnh về tài chính cho các vùng nghèo

- Làm rõ quyền và trách nhiệm của người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo, khắc phục tư

tưởng ỷ lại Xây dựng cơ chế khuyến khích hộ, xã tự lực vươn lên thoát nghèo và huyđộng, sử dụng vốn có hiệu quả Để xoá đói, giảm nghèo có hiệu quả, cần khuyếnkhích làm giàu, tạo điều kiện cho mọi người có khả năng đều hăng hái đầu tư, sảnxuất, kinh doanh, làm giàu một cách chính đáng

- Tăng cường tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức của người dân; Coi trọngcông tác cán bộ trong xoá đói, giảm nghèo

- Kiên quyết chống bệnh hình thức và bệnh thành tích trong xoá đói, giảm nghèo Xoáđói, giảm nghèo phải đi liền với tiết kiệm, chống lãng phí

1.2.6 Tiêu chí đánh giá chuẩn nghèo ở Việt Nam

1.2.6.1 Chuẩn nghèo 1993-1995 :

Ngày đăng: 10/05/2017, 22:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w