Các nhà quản trị dù hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực nào đều phải xét đến các yếu tố môi trường xung quanh. Trong khi họ có thể thay đổi chút ít hoặc không thể thay đổi các yếu tố này, thì họ không có sự lựa chọn nào khác mà phải phản ứng, thích nghi với chúng. Họ phải xác định, ước lượng và phản ứng lại đối với các yếu tố bên ngoài tổ chức có thể ảnh hưởng đến sự hoạt động của nó. Môi trường quản trị là sự vận động tổng hợp, tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố và lực lượng bên ngoài hệ thống quản trị nhưng lại có ảnh hưởng trực tiếp, hoặc gián tiếp đến hoạt động quản trị của một tổ chức.Tùy theo các góc độ tiếp cận khác nhau, người ta có thể phân môi trường quản trị ra thành nhiều loại: môi trường vĩ mô: có tác động trên bình diện rộng và lâu dài. Đối với một doanh nghiệp: chẳng hạn, chúng tác động đến cả ngành sản xuất kinh doanh, và do đó cũng có tác động đến doanh nghiệp và chiến lược quản trị kinh doanh của doanh nghiệp. Môi trường vi mô bên ngoài tổ chức, tác động trên bình diện gần gủi và trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp và môi trường nội bộ, có ảnh hưởng trực tiếp, thường xuyên và rất quan trọng tới các hoạt động quản trị của chính ngay tổ chức đó. Các yếu tố này sẽ giúp cho một tổ chức xác định rõ ưu nhược điểm của mình, đưa ra các biện pháp nhằm giảm bớt nhược điểm và phát huy ưu điểm đạt được một cách tối đa. Các môi trường nói trên luôn tác động qua lại lẫn nhau, tạo ra môi trường quản trị của một tổ chức.Tuy nhiên, nhà quản trị có thể làm giảm sự lệ thuộc của tổ chức vào môi trường bằng những chiến lược thích hợp. Quản trị gia phải nhận thức đầy đủ, chính xác các yếu tố môi trường để soạn thảo chiến lược và sách lược quản trị cho đúng đắn, giúp tổ chức tồn tại và phát triển. Phân tích ảnh hưởng của môi trường quản trị là một vấn đề hết sức rộng lớn và phức tạp, ở đây tôi chỉ đề cập và phân tích ảnh hưởng chủ yếu của một số yếu tố của môi trường vĩ mô đến các hoạt động quản trị của các tổ chức, doanh nghiệp.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ CÔNG NGHIỆP LONG AN
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHUYÊN NGÀNH: Tài chính Ngân hàng
BÀI TIỂU LUẬN
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Các nhà quản trị dù hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực nào đều phải xét đếncác yếu tố môi trường xung quanh Trong khi họ có thể thay đổi chút ít hoặckhông thể thay đổi các yếu tố này, thì họ không có sự lựa chọn nào khác màphải phản ứng, thích nghi với chúng Họ phải xác định, ước lượng và phản ứnglại đối với các yếu tố bên ngoài tổ chức có thể ảnh hưởng đến sự hoạt động của
nó
Môi trường quản trị là sự vận động tổng hợp, tương tác lẫn nhau giữa cácyếu tố và lực lượng bên ngoài hệ thống quản trị nhưng lại có ảnh hưởng trựctiếp, hoặc gián tiếp đến hoạt động quản trị của một tổ chức.Tùy theo các góc độtiếp cận khác nhau, người ta có thể phân môi trường quản trị ra thành nhiềuloại: môi trường vĩ mô: có tác động trên bình diện rộng và lâu dài Đối với mộtdoanh nghiệp: chẳng hạn, chúng tác động đến cả ngành sản xuất kinh doanh, và
do đó cũng có tác động đến doanh nghiệp và chiến lược quản trị kinh doanh củadoanh nghiệp Môi trường vi mô bên ngoài tổ chức, tác động trên bình diện gầngủi và trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp và môi trường nội bộ, có ảnhhưởng trực tiếp, thường xuyên và rất quan trọng tới các hoạt động quản trị củachính ngay tổ chức đó Các yếu tố này sẽ giúp cho một tổ chức xác định rõ ưunhược điểm của mình, đưa ra các biện pháp nhằm giảm bớt nhược điểm và pháthuy ưu điểm đạt được một cách tối đa
Các môi trường nói trên luôn tác động qua lại lẫn nhau, tạo ra môi trườngquản trị của một tổ chức.Tuy nhiên, nhà quản trị có thể làm giảm sự lệ thuộccủa tổ chức vào môi trường bằng những chiến lược thích hợp
Quản trị gia phải nhận thức đầy đủ, chính xác các yếu tố môi trường đểsoạn thảo chiến lược và sách lược quản trị cho đúng đắn, giúp tổ chức tồn tại vàphát triển
Phân tích ảnh hưởng của môi trường quản trị là một vấn đề hết sức rộnglớn và phức tạp, ở đây tôi chỉ đề cập và phân tích ảnh hưởng chủ yếu của một
số yếu tố của môi trường vĩ mô đến các hoạt động quản trị của các tổ chức,doanh nghiệp
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
MỤC LỤC 2
I KHÁI NIỆM MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ 4
1.1 Môi trường vĩ mô là gì? 4
1.2 Các yếu tố của môi trường vĩ mô 4
1.3 Các kĩ thuật cần phân tích môi trường vĩ mô của tổ chức 4
1.3.1 Rà soát (Scanning) 4
1.3.2 Theo dõi (Monitoring) 4
1.3.3 Dự đoán (Forecasting) 5
1.3.4 Đánh giá (Asessing) 5
II PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ 6
2.1 Môi trường kinh tế 6
2.1.1 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 7
2.1.2 Yếu tố lạm phát 8
2.1.3 Tỷ giá hối đoái và lãi suất cho vay 8
2.1.4 Tiền lương và thu nhập 8
2.2 Môi trường chính trị pháp luật 9
2.3 Môi trường công nghệ 11
2.4 Môi trường văn hóa 12
2.5 Môi trường tự nhiên 13
2.5.1 Thiếu hụt nguyên liệu 14
2.5.2 Chi phí năng lượng tăng 15
2.5.3 Mức độ ô nhiễm tăng 15
III CÁC GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ BẤT TRẮC CỦA YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG 16
3.1 Dùng đệm 16
Trang 43.2 San bằng 16
3.3 Tiên đoán 16
3.4 Cấp hạn chế 16
3.5 Hợp đồng 17
3.6 Kết nạp 17
3.7 Liên kết 17
3.8 Qua trung gian 17
3.9 Quảng cáo 17
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 5I KHÁI NIỆM MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ 1.1 Môi trường vĩ mô là gì?
Là các yếu tố có ảnh hưởng rộng và không trực tiếp đến tổ chức bao gồmcác yếu tố: kinh tế,chính trị-pháp luật, văn hóa xã hội, công nghệ, tự nhiên, ảnhhưởng một cách khách quan lên mọi tổ chức
Hoặc là: Môi trường vĩ mô của Doanh nghiệp là nơi mà Doanh nghiệpphải bắt đầu tìm kiếm những cơ hội và những mối đe dọa có thể xuất hiện, nóbao gồm tất cả các nhân tố và lực lượng có ảnh hưởng đến hoạt động và kết quảthực hiện của Doanh nghiệp
1.2 Các yếu tố của môi trường vĩ mô
Bao gồm:
Môi trường kinh tế
Môi trường Chính trị - pháp luật
Môi trường văn hóa - xã hội
Môi trường công nghệ
Môi trường tự nhiên
1.3 Các kĩ thuật cần phân tích môi trường vĩ mô của tổ chức
Đòi hỏi nghiên cứu tổng quát tất cả các yếu tố của môi trường bên ngoài
Nhằm nhận ra dấu hiệu tiềm ẩn trong môi trường
Khó khăn đối với rà soát môi trường là sự mơ hồ, không đầy đủ các dữliệu và thông tin rời rạc
Hoạt động rà soát phải phù hợp với bối cảnh của tổ chức
1.3.2 Theo dõi (Monitoring)
Nhận ra các khuynh hướng quan trọng nảy sinh từ những dấu hiệu, từnhững rà soát môi trường
Cần phát hiện ý nghĩa của các sự kiện cũng như khuynh hướng thay đổikhác nhau
Muốn theo dõi hữu hiệu các doanh nghiệp cần phải nhận rõ các bên hữuquan trọng yếu
Rà soát và theo dõi đặc biệt quan trọng trong ngành đang có sự thay đổi
về công nghệ nhanh, khó dự kiến
Trang 6 Rà soát và theo dõi là công cụ nhận thức những điều mới, quan trọngđang diễn ra trên thị trường và cách thức thương mại hóa các công nghệ màdoanh nghiệp đang phát triển.
1.3.3 Dự đoán (Forecasting)
Dự kiến về các sự kiện tiềm ẩn, cách thức và tốc độ xuất hiện của nó như
là kết quả logic của sự thay đổi và khuynh hướngđã được phát hiện qua rà soát
và theo dõi
1.3.4 Đánh giá (Asessing)
Xác định thời hạn và tầm quan trọng của các tác động mà những thay đổikhuynh hướng môi ngfcos thể tác động lên quản trị chiến lược của công ty
Đánh giá xác định các hàm ý theo cách hiểu của tổ chức
Không có đánh giá các doanh nghiệp có thể sẽ nằm trên đống dữ liệu cóthể là rất hữu ích nhưng không hiểu về những gì liên quan đến cạnh tranh
KHUNG TÓM TẮT KĨ THUẬT PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG VĨ
MÔ CỦA TỔ CHỨC
Trang 7II PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ
Mô hình kinh tế vĩ mô
2.1 Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế vĩ mô bao gồm các yếu tố nằm bên ngoài doanhnghiệp, chúng không chỉ định hướng và có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạtđộng quản trị của doanh nghiệp, mà còn ảnh hưởng cả tới môi trường vi mô bênngoài và môi trường nội bộ bên trong doanh nghiệp Các yếu tố này cũng lànhững nguyên nhân chính tạo ra cơ hội cũng như nguy cơ cho các hoạt độngcủa nó Nghiên cứu kỹ lưỡng các yếu tố môi trường kinh tế vĩ mô có vai trò kháquan trọng đối với các hoạt động quản trị cuả một doanh nghiệp
Trạng thái của môi trường kinh tế vĩ mô xác định sự lành mạnh, thịnhvượng của nền kinh tế, nó luôn gây ra những tác động đến các doanh nghiệp và
Trang 8các ngành Môi trường kinh tế chỉ bản chất và định hướng của nền kinh tế trong
đó môi trường hoạt động
Các ảnh hưởng của nền kinh tế đến một công ty có thể làm thay đổi khảnăng tạo ra giá trị và thu nhập củ nó
Các doanh nghiệp cần chú ý đến các yếu tố kinh tế cả trong ngắn hạn,dài hạn và sự can thiệp của chính phủ tới nền kinh tế
Thông thường các doanh nghiệp sẽ dựa trên yếu tố kinh tế để quyếtđịnh đầu tư vào các ngành các khu vực
Tình trạng của nền kinh tế: Bất cứ nền kinh tế nào cũng có chu kỳ,trong mỗi giai đoạn nhất định của chu kỳ nền kinh tế, doanh nghiệp sẽ cónhững quyết định phù hợp cho riêng mình
Các chính sách kinh tế của chính phủ: Luật tiền lương cơ bản, các chiếnlược phát triển kinh tế của chính phủ, các chính sách ưu đãi cho các ngành:Giảm thuế trợ cấp…
Triển vọng kinh tế trong tương lai: Tốc độ tăng trưởng, mức giatăng GDP, tỉ suất GDP trên vốn đầu tư…
Trong giai đoạn những năm đầu thập niên 90 thế kỷ trước, khi nền kinh
tế Anh đang ở trong tình trạng khủng hoảng và các Doanh nghiệp lại tạo ramột cuộc chiến về giá cả, họ cắt giảm chi phí từ lao động, tăng gấp đôi chi phíquảng cáo kích thích tiêu dùng Tuy nhiên họ đã mắc phải sai lầm vì đã tácđộng xấu đến tâm lý người tiêu dùng, trong khi nguồn thu nhập bị giảm sút,không ai sẽ đầu tư vào các ngành hàng hóa thứ cấp xa xỉ như an ninh
Các yếu tố tác động đến nền kinh tế: Lạm phát, lãi suất, tổng sản phẩmquốc nội (GDP), …
Ở nước ta từ năm 1990 đến nay do sự tăng lên của GDP đã tác độngmạnh mẽ đến cơ cấu tiêu dùng và mở ra nhiều cơ hội cho các nhà quản trị.Nhiều doanh nghiệp đã thành công nhờ đưa ra các hàng hóa dịch vụ phù hợpnhu cầu, thẩm mỹ, thị hiếu đang gia tăng của người tiêu dùng Tuy nhiên một sốdoanh nghiệp không nhanh nhạy thích ứng với sự thay đổi này đã dẫn tới thua
Trang 9lỗ, phá sản Nguy cơ và rủi ro cho một số doanh nghiệp không chỉ bắt nguồn từ
sự thay đổi quá nhanh và mạnh mẽ mà còn cả từ sự không năng động và linhhoạt của các nhà quản trị trong việc không biết cách đáp ứng nhu cầu đã tănglên và thay đổi nhanh chóng về các loại sản phẩm hàng hóa dịch vụ trong thời
kỳ này
2.1.2 Yếu tố lạm phát
Yếu tố lạm phát tiền tệ cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc hoạch định chiếnlược và sách lược kinh doanh Nếu lạm phát gia tăng sẽ làm tăng giá cả yếu tốđầu vào kết quả dẫn tới sẽ là tăng giá thành và tăng giá bán Nhưng tăng giá bánlại khó cạnh tranh Mặt khác, khi có yếu tố lạm phát tăng cao, thì thu nhập thực
tế của người dân lại giảm đáng kể và điều này lại dẫn tới làm giảm sức mua vànhu cầu thực tế của người tiêu dùng Nói cách khác khi có yếu tố lạm phát tăngcao thì thường khó bán được hàng hóa dẫn tới thiếu hụt tài chính cho sản xuấtkinh doanh, việc tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh khó thực thi được Vìvậy việc dự đoán chính xác yếu tố lạm phát là rất quan trọng trong điều kiệnnước ta hiện nay, cũng như trong chiến lược sản xuất kinh doanh
Ảnh hưởng tới tâm lý và tiêu dùng của người dân
2.1.3 Tỷ giá hối đoái và lãi suất cho vay
Cả hai yếu tố này cũng đều có tác động đến giá thành sản phẩm - dịch vụcủa doanh nghiệp Thường thì doanh nghiệp nào cũng có mối quan hệ trênthương trường quốc tế, nếu không là đầu tư với nước ngoài thì cũng phải muanguyên vật liệu, hàng hóa hoặc máy móc từ nước ngoài Tỷ giá hối đoái chiếm
vị trí trung tâm trong những tác động lên các hoạt động này và nhất là nó ảnhhưởng trực tiếp đến giá thành và giá bán sản phẩm của doanh nghiệp Vì thế,việc dự báo tỷ giá hối đoái là rất quan trọng trong việc hoạch định và tổ chứcthực hiện các hoạt động quản trị kinh doanh nói chung và các chiến lược cùngsách lược quản trị kinh doanh nói riêng Đồng thời tỷ giá hối đối cũng ảnhhưởng tới các hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp
Lãi suất sẽ ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp và việctiêu dùng của người dân
Yếu tố lãi suất cho vay của ngân hàng cũng có ảnh hưởng đáng kể đến cáchoạt động quản trị ở mỗi doanh nghiệp Trên thực tế các doanh nghiệp thường đivay thêm vốn ở ngân hàng để mở rộng sản xuất hoặc sử dụng trong việc mua bán, do đó lãi suất cho vay cao hay thấp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các yếu tố đầu vào, đầu ra ở mỗi doanh nghiệp Điều này cũng có nghĩa là ảnh hưởng của lãi suất cho vay đến giá thành, giá bán và tác động đến sức mua thực tế về hàng hóa cùng dịch vụ của doanh nghiệp, có tác động rất lớn đến việc hoạch định và thực thi các chiến lược và chính sách quản trị kinh doanh Chính vì vậy mà khi
Trang 10vạch ra một chiến lược quản trị kinh doanh, đặc biệt là chiến lược quản trị tài chính, doanh nghiệp thường lưu ý đến yếu tố này.
2.1.4 Tiền lương và thu nhập
Chi phí về tiền lương là một khoản chi phí rất lớn ở hầu hết mọi doanhnghiệp, nó ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, chi phí kinh doanh của các đơn vịnày Chi phí tiền lương càng cao thì giá thành sẽ càng tăng, dẫn đến những bấtlợi cho doanh nghiệp trong vấn đề cạnh tranh Mức lương quá thấp lại khôngkhuyến khích người lao động nhiệt tình làm việc Một chính sách về tiền lươngđúng đắn có ảnh hưởng rất lớn đến thái độ, động cơ, tinh thần làm việc củangười lao động Các hoạt động về quản trị trong mỗi tổ chức chỉ thực sự có hiệulực và hiệu quả khi quyền lợi vật chất của những người tham gia vào quá trìnhnày được bảo đảm Điều này cũng giải thích vì sao Đảng và Nhà nước ta rấtchăm lo giải quyết vấn đề chính sách lương bổng nhằm vừa bảo đảm mức sống
sự công bằng và đảm bảo khuyến khích các hoạt động sản xuất kinh doanh pháttriển
So với mức lương của người lao động ở các nước phát triển thì mứclương ở nước ta và các nước chưa phát triển khác là khá thấp Các nhà đầu tưnước ngoài thường đầu tư ở các nước mới phát triển, trong đó có nước ta, do giánhân công ở các nước này rẻ, làm giảm chi phí sản xuất, dẫn đến giá thànhgiảm, nâng cao khả năng tăng lợi nhuận của họ Các hoạt động về đầu tư đếnlượt nó lại tạo ra một môi trường kinh doanh cũng như quản trị kinh doanhthuận lợi và mở ra nhiều cơ cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước
2.2 Môi trường chính trị pháp luật
- Chính phủ: Cơ quan giám sát, duy trì và bảo vệ pháp luật, bảo vệ lợi ích
quốc gia Vai trò điều tiết nền kinh tế vĩ mô thông qua các chính sách tài chính,tiền tệ, thuế và các chương trình chi tiêu
Trang 11- Pháp luật: Đưa ra những quy định cho phép hay ko cho phép, hoặc
những ràng buộc, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tuân theo
Thập kỷ 80-90 có nhiều sự biến động cả về chính trị lẫn kinh tế trên thếgiới Một quy luật được thấy rất rõ trong thời kỳ này là: sự định hướng đúngđắn và sự ổn định về chính trị là những điều kiện cần thiết khách quan để pháttriển toàn bộ nền kinh tế ở mỗi nước và ở mỗi doanh nghiệp Chúng ta đã từngthấy các chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước về khoán 10, về phát triểnkinh tế thị trường có định hướng XHCN, về phát triển kinh tế tư bản, tư nhânv.v là những đòn bẩy tạo đà cho sự phát triển rất mạnh mẽ của các doanhnghiệp ngày nay Nói một cách khác, các chủ trương chính sách của Đảng vàNhà nước trong từng thời kỳ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội cónhững ảnh hưởng gián tiếp hoặc trực tiếp rất lớn đến toàn bộ tiến trình kinhdoanh và quản trị kinh doanh ở mọi doanh nghiệp
Đối với các hoạt động về quản trị kinh doanh ở các doanh nghiệp,Chính phủ đóng vai trò khá quan trọng: vừa có thể thúc đẩy vừa có thể hạn chếviệc kinh doanh Chính phủ có thể thúc đẩy bằng cách khuyến khích việc mởrộng và phát triển hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua việc trợcấp cho các ngành công nghiệp được lựa chọn, ưu tiên về thuế trong nhữnghoàn cảnh nhất định, bảo vệ một vài ngành kinh doanh thông qua những biểuthuế suất đặc biệt, hay bằng cách trợ giúp việc nghiên cứu và triển khai
Nhà nước cũng có thể hạn chế và điều chỉnh việc kinh doanh thông quacác bộ luật, nghị định, thông tư và các quyết định như bộ Luật Lao Động, LuậtThương Mại, Luật Doanh Nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thuế xuất nhập khẩu,Luật Bảo Vệ Môi Trường v.v Các chính sách về lương bổng, tài chính, tiền tệ(chính sách quản lý tiền mặt, chế độ thu chi và sử dụng ngân sách, cán cânthanh toán, nguồn cung cấp tiền, việc kiểm soát về khả năng tín dụng thông quachính sách tài chính) đều có những ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động về kinhdoanh nói chung và quản trị kinh doanh nói riêng ở tất cả mọi doanh nghiệp
Trong những ảnh hưởng từ chính sách của nhà nước, thì các chính sách
về thuế có ảnh hưởng trực tiếp nhiều nhất đến việc cân đối thu chi, lời lỗ vàchính sách kinh doanh ở mỗi doanh nghiệp Mọi hoạt động về quản trị nóichung và quản trị tài chính nói riêng ở mỗi doanh nghiệp đầu bị chi phối khôngtrực tiếp thì gián tiếp từ các chính sách về thuế của nhà nước Thí dụ như nếucác khoản thuế về lợi nhuận kinh doanh quá cao, thì sự khuyến khích đi vàokinh doanh hoặc tiếp tục kinh doanh sẽ có xu thế giảm xuống, và những nhàđầu tư sẽ tìm kiếm chỗ khác để họ đầu tư Nếu các khoản thuế được đánh vàoviệc bán hàng, thì giá cả sẽ tăng lên và dân chúng sẽ có xu hướng mua ít đi,điều này cũng có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Như vậy công việc quản trị kinh doanh ở các doanh nghiệp cần phảichấp hành đầy đủ các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước và nghiêmchỉnh tuân thủ những quy định hiện hành của pháp luật là một đòi hỏi mangtính tất yếu khách quan