Nội dung của tư tưởng chủ đạo này là:Cho học sinh thực hiện và tập luyện những hoạt động và hoạt động thành phần tương thích với nội dung và mục tiêu dạy học.Tư tưởng này có thể cụ thể hóa như sau. Phát hiện những hoạt động tương thích với nội dung Phân tách hoạt động thành những thành phần Lựa chọn hoạt động dựa vào mục tiêu Tập trung vào những hoạt động toán học
Trang 1Những thành tố cơ sở của phương
pháp dạy học
Môn: Phương pháp NCKH và LLDH
Nhóm 2 _ Lớp N04
Trang 2I • Hoạt động và hoạt động thành phần
Trang 3Phát hiện những hoạt động tương
thích với nội dung
-Nội dung của tư tưởng chủ đạo này là:Cho học sinh thực hiện và tập luyện những hoạt động
và hoạt động thành phần tương thích với nội dung và mục tiêu dạy học.Tư tưởng này có thể
cụ thể hóa như sau.
Trang 4Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ với những hoạt động nhất định.
Một hoạt động của người học được gọi là tương thích với một
nội dung dạy học nếu nó có tác động góp phần kiến tạo hoặc củng cố, ứng dụng những tri thức được bao hàm trong nội
dung đó hoặc rèn luyện những kĩ năng, hình thành những thái
Trang 5Ví dụ
• Khái niệm hàm số
• Đối với một khái niệm cần hình thành theo con đường quy nạp như khái niệm hàm số thì những hoạt động phân tích, so sánh những đối tượng riêng lẻ thích hợp, trừu tượng hóa tách ra các đặc điểm đặc trưng của một lớp đối tượng là tương thích với khái niệm đó vì chúng góp phần tác động để người học kiến tạo khái niệm này Tương thích với khái niệm hàm này còn có những hoạt động khác nữa như nhận dạng, thể hiện, xét mối liên hệ giữa khái niệm đó với những khái niệm khác,…bởi vì những hoạt động đó
góp phần củng cố và ứng dụng khái niệm hàm số
Trang 6là biết được cách tiến hành hoạt động toàn
bộ, nhờ đó có thể vừa quan tâm rèn luyện cho học sinh hoạt động toàn
bộ vừa chú ý cho họ tập luyện tách riêng những hoạt động thành phần khó hoặc quan trong khi cần thiết
Ví dụ:Cho một tứ diện
ABCD có ba măt chung đỉnh B đều vuông ,các cạnh AB=5cm,
BC=cm,BD=4cm.Tính
góc giữa hai mặt phẳng (ACD) và (BCD) Tình huống bài toán phù hợp với với giả thiết
của định lí
1.2.Phân tách hoạt động thành những thành phần
Trang 7Mỗi nội dung thường tiềm tàng nhiều hoạt
động
Cần sàng lọc những hoạt động đã phát hiện được để tập trung vào một số mục tiêu nhất
định
Việc tập trung vào những mục tiêu nào đó căn cứ vào tầm quan trọng của các mục tiêu này đối với việc thực hiện những mục tiêu
còn lại
Đối với khoa học,kĩ thuật và đời sống , căn cứ vào tiềm năng và vai trò của nội dung tương ứng đối với việc thực hiện những mục tiêu đó
1.3.Lựa chọn hoạt động dựa vào mục tiêu
Trang 8Trong khi lựa chọn hoạt động,để đảm bảo sự tương thích của hoạt động đối với mục tiêu dạy học ,ta cần nắm được chức năng phương tiện và chức năng mục tiêu của hoạt động và mối liên hệ giữa hai
chức năng này
Ta cần tập trung vào những hoạt động toán học ,tức là những hoạt
động nhận dạng và thể hiện những khái niệm , định lí và phương
pháp toán học ,những hoạt động toán học phức hợp như định nghĩa
chứng minh,…
1.4.Tập trung vào những hoạt động toán học
Trang 9II.Động cơ hoạt động
Trang 10Những cách gợi động cơ xuất phát từ nội dung môn Toán theo từng giai đoạn
Trang 112.1.Gợi động cơ mở đầu
Trang 12Gợi động cơ mở đầu xuất phát từ thực tế
Trang 13Gợi động cơ từ nội bộ toán học
- Gợi động cơ từ nội bộ toán học là nêu một vấn đề toán học xuất phát từ nhu cầu toán học, từ việc xây dựng khoa học toán học, từ những phương thức tư duy và hoạt động toán học.
- Các cách thông thường gợi động cơ từ nội bộ toán học:
(i) Đáp ứng nhu cầu xóa bỏ một sự hạn chế.
ii) Hướng tới sự tiện lợi , hợp lí hóa công việc
Trang 14Ví dụ
• Trong SGK Vật lí lớp 10 , định nghĩa vận tốc tức thời được phát
biểu như sau : vận tốc tức thời hay vận tốc tại một điểm đã cho
trên quỹ đạo là đại lượng đo bằng thương giữa quãng đường đi rất nhỏ tính từ điểm đã cho và khoảng thời gian rất nhỏ để vật đi hết quãng đường đó ,Kí hiệu là: vt ; vt = Định nghĩa trên có chỗ
chưa rõ: “quãng đường đi rất nhỏ”, “khoảng thời gian rất nhỏ” là
nhỏ đến mức nào ? Ở lớp 10 chưa đủ công cụ để làm rõ chỗ đó Tuy nhiên ở lớp 12 ta có đủ điều kiện để làm việc này
Ví dụ
• Về trường hợp bằng nhau của tam giác ,thực nghiệm dẫn đến nhận xét là hai tam giác có hai yếu tố bằng nhau từng đôi một thì không chắc là bằng nhau.Từ đó đi đến lần lượt nhận xét một cách đầy đủ
và hệ thống tất cả các trường hợp hai tam giác có ba yếu tố bằng nhau từng đôi một ,từ (c.c.c) đến (g.g.g)
(iii) Chính xác hóa một khái niệm
• (iv)Hướng tới sự hoàn chỉnh và hệ thống
t
s
∆
∆
Trang 15Ví dụ
• Trong chính đại số và giải tích lớp 11,HS đã được học định lí
:Nếu lim un =a và lim vn= thì lim =0.Giáo viên lật ngược vấn đề,hỏi nếu có lim =0, có thể suy ra lim un =a và lim vn= hay không ?
Trang 16(vii)Khái quát hóa
(viii)Tìm sự liên hệ và phụ thuộc
0
= +
+GB GC GA
Trang 17Ví dụ
• Tìm cách giải phương trình bậc hai ax2+bx+c=0 (a 0),sau khi đưa
nó về dạng x2+ x+ =0,người ta tiếp tục biến đổi thành x2+2 + - + =0.Nhờ gợi động cơ bằng hướng đích ,người HS sẽ hiểu rằng việc đem số hạng thứ hai nhân với 2 rồi lại chia cho 2,việc cộng
thêm vào rồi lại bớt đi cùng một biểu thức là nhằm mục tiêu làm xuất hiện bình phương của một nhị thức ,đưa phương trình về dạng x2=k là dạng mà ta có thể giải được một cách dễ dàng
2.2.Gợi động cơ trung gian
-Là gợi động cơ cho những bước trung gian hoặc cho những hoạt
động tiến hành trong những bước đó để đạt được mục tiêu
-Các cách thường dùng
• Hướng đích cho HS là hướng vào những mục tiêu đặt ra vào
hiệu quả dự kiến của những hoạt động của họ nhằm đạt được
những mục tiêu đó
(i)Hướng đích
2
) 2
(
a b
a
c
≠
Trang 18Ví dụ
• Khi HS giải bài toán tổng quát đối với trọng tâm G của một hệ n
điểm A1,A2,…An trong mặt phẳng ,có thể đặt vấn đề để họ khái quát hóa cách làm trong trường hợp tam giác ,tứ giác ,phân tích
theo n cách như sau:
(iv)Khái quát hóa
OGG
A OA
G A OA
G A OA
Trang 19• Để tìm quỹ tích tổng bình phương trong không gian ,tương tự
như ở bài toán tìm quỹ tích tổng bình phương trong mặt phẳng ,trước hết ta biến đổi MA2+MB2= +MO (O là trung điểm
Trang 20Ví dụ
• Giải phương trình 3x+4x=5x.Trước hết HS dễ dàng thử thấy 2
là nghiệm của phương trình trên.Vấn đề đặt ra là ngoài nghiệm này ,phương trình còn nghiệm nào khác nữa không ? Muốn
vậy ta xét biêu thức ( )x,( )x, ( )x+( )x xem các số trị của chúng thay đổi phụ thuộc vào các giá trị của x như thế nào
.Việc xem xét này được gợi động cơ nhờ kinh nghiệm của học sinh cho thấy rằng những mối liên hệ và phụ thuộc nhiều khi dẫn tới những hiểu biết mới góp phần giải quyết nhiều vấn đề mới được đặt ra
(v)Xét sự biến thiên và phụ thuộc
Trang 21Ngay từ đầu hoặc trong khi giải quyết vấn đề, ta chưa thể làm
rõ tại sao lại học nội dung này, tại sao lại thực hiện hoạt động kia Những câu hỏi này phải đợi mãi về sau mới được giải đáp hoặc giải đáp trọn vẹn Như vậy là người ta đã gợi động cơ kết thúc, nhấn mạnh hiệu quả của nội dung hoặc hoạt động đó với việc giải quyết vấn đề đặt ra
Gợi động cơ kết thúc có tác dụng nâng cao tính tự giác trong hoạt động học tập như các cách gợi động cơ khác
Nhiều khi việc gợi động cơ kết thúc ở trường hợp này lại là sự chuẩn bị gợi động cơ mở đầu cho những trường hợp tương tự
Ví dụ : Sau khi giải xong phương trình , thầy giáo
nhấn mạnh rằng việc khảo sát hàm số,cách thức tư duy hàm đã giúp ta giải được phương trình trong trường hợp này
2.3.Gợi động cơ kết thúc
x x
x 4 5
Trang 22III.Tri thức trong hoạt động
Nội dung tư tưởng chủ đạo này là :Dẫn dắt học sinh kiến tạo tri thức ,đặc biệt là tri thức phương
pháp ,như phương tiện và kết quả của hoạt động.
Trang 233.1.Dạy học tường minh tri thức phương pháp được phát biểu một cách tổng quát
Trang 243.2.Thông báo tri thức phương pháp trong quá trình hoạt động
Đối với một số tri thức phương pháp chưa được quy định trong chương trình,ta vẫn có thể suy nghĩ khả năng thông báo chúng trong quá trình học sinh hoạt động nếu những tiêu chuẩn sau đây được thỏa mãn :
Trang 253.3.Tập luyện những hoạt động ăn khớp với những tri thức phương pháp
Trang 26IV.Phân bậc hoạt động
Nội dung tư tưởng chủ đạo này là :Phân bậc hoạt động
làm một cho căn cứ việc điều khiển quá trình dạy học
Trang 27Ví dụ
• Công thức tính cosa + cosb
• Khi cho học sinh luyện tập về công thức này, có thể phân bậc hoạt động dựa vào sự phức tạp của biểu thức biểu thị đối số
của hàm cosin Chẳng hạn tính
• là hoạt động ở bậc cao hơn so với tính cosx + cosy
4.1Những căn cứ phân bậc hoạt động
Việc phân bậc hoạt động có thể dựa vào những căn cứ sau:
(i) Sự phức tạp của đối tượng hoạt động
Đối tượng hoạt động càng phức tạp thì hoạt động đó càng khó thực
hiện Vì vậy có thể dựa vào sự phức tạp của đối tượng để phân bậc hoạt động
3 cos x y y x
Trang 28(ii)Sự trừu tượng ,khái quát hóa của đối tượng
Đối tượng hoạt động càng trừu tượng ,khái quát có nghĩa là yêu cầu thực hiện hoạt động càng cao.
Trang 29iii) Nội dung của hoạt động.
• Nội dung của hoạt động chủ yếu là những tri thúc liên quan tới hoạt động và những điều kiện khác của hoạt động
• Nội dung hoạt động càng gia tăng thì hoạt động càng khó thực hiện,
cho nên nội dung cũng là một căn cứ phân bậc hoạt động.
Trang 30(iv) Sự phức hợp của hoạt động
(v)Chất lượng của hoạt động
Trang 31(vi) Phối hợp nhiều phương diện làm căn cứ phân bậc hoạt động
Ví dụ : Phân bậc hoạt động một bài toán quỹ tích
Ta có thể thực hiện sự phân bậc hoạt động như sau:
Bậc 1Các điểm có tính chất α
thuộc hình nào?
(HS giải có sự gợi ý của GV)
Bậc 2Tính quỹ tích các điểm
có tính chất α
(HS giải có sự gợi ý
của GV)
Bậc 2Các điểm có tính chất
α thuộc hình nào ?
(HS giải độc lập)
Bậc 3Tính quỹ tích các điểm
có tính chất α
(HS giải độc lập)
Trang 324.2Điều khiển quá trình học tập dựa vào sự phân bậc hoạt động
Người thầy giáo cần biết lợi dụng sự phân bậc hoạt động để điều khiển quá trình học tập, chủ yếu là theo những hướng sau:
(i) Chính xác hóa mục tiêu
Trang 33(ii)Tuần tự nâng cao yêu cầu
Trang 34Ví dụ
• Cho tứ diện ABCD có AB vuông góc với DB.Chứng minh AD
vuông góc với BC.Khi học sinh không làm được bài toán ,giao viên
hạ thấp yêu cầu Hướng dẫn học sinh nghĩ theo hướng
= O từ đó suy ra điều phải chứng minh
(iii)tạm thời hạ thấp yêu cầu khi cần thiết
BC AD DB
AC CD
Trang 35(iv)Dạy học phân hóa