1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

nghiên cứu bọ chân chạy chlaenius bimaculatus phần 2

51 644 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với cây đậu tương bộ lá là quan trọng nhất nên các loài sâu hại lá có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cây, trong đó loài sâu cuốn lá có tác động lớn nhất. Để tìm hiểu rõ hơn về thành phần loài sâu cuốn lá chúng tôi tiến hành điều tra tại vùng sản xuất đậu tương và thu được kết quả thể hiện tại bảng 4.1Qua bảng 4.1 ta thấy rằng các loài sâu cuốn lá đậu tương thuộc bộ cánh cảy (Lepidoptera) có 2 loài thuộc 2 họ trong đó loài có mức độ phổ biến nhất là sâu cuốn lá đầu nâu Hedylepta indicata Fabr.Trong mỗi hệ sinh thái nông nghiệp có những loài thiên địch nhất định giữa vai trò quan trọng trong điều hòa số lượng sâu hại nhằm thiết lập cân bằng sinh thái. Nhờ hoạt động tích cực của các loài thiên địch mà mật độ quần thể sâu hại bị khống chế dưới ngưỡng gây hại kinh tế, những loài này là sinh vật có ích và là bạn của nhà nông nên cần tìm hiểu và nhận biết chúng để bảo vệ chúng trên đồng ruộng . Trong suốt quá trình điều tra trên ruộng đậu tương năm 2014 tại Gia Lâm, Hà Nội luôn tồn tại các loài thiên địch của sâu cuốn lá đậu tương. Kết quả thu được trình bày qua bảng sau:Qua bảng 4.2 ta thấy thành phần thiên địch của sâu cuốn lá đậu tương khá phong phú bao gồm 18 loài của 11 họ thuộc 5 bộ trong đó các loài chủ yếu thuộc bộ cánh cứng Coleoptera (10 loài) chiếm 55,56%; bộ nhện lớn Araneae (5 loài) chiếm 27,79%; bộ Odonata, bộ Hymenoptera và bộ Dermaptera đều có 1 loài chiếm 5,55%. Loài có mức độ bắt gặp ít nhất là loài ong vàng (Polistes olivaceus DeGeer) và loài bọ chân chạy đuôi cánh hình mũi tên (Chlaenius micansFabr). Loài có mức độ bắt gặp nhiều nhất là loài bọ chân chạy đuôi cánh 2 chấm vàng nhạt (Chlaenius bimaculatus Chaudoir) đây cũng loài mới, được phát hiện đầu tiên tại Gia Lâm, Hà Nội. Để tìm hiểu sâu về loài này chúng tôi tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái loài bọ chân chạy C.bimaculatus tại phòng bán tự nhiên, Bộ môn côn trùng Học Viện Nông nghiệp Việt Nam.

Trang 1

PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Thành phần sâu cuốn lá đậu tương thuộc bộ cánh vảy Lepidoptera trên

vụ đậu tương Hè thu năm 2014 tại Gia Lâm, Hà Nội

Đối với cây đậu tương bộ lá là quan trọng nhất nên các loài sâu hại lá có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cây, trong đó loài sâu cuốn lá có tác động lớn nhất Để tìm hiểu rõ hơn về thành phần loài sâu cuốn lá chúng tôi tiến hành điều tra tại vùng sản xuất đậu tương và thu được kết quả thể hiện tại bảng 4.1

Bảng 4.1 Thành phần sâu cuốn lá đậu tươngthuộc bộ cánh vảy trên đậu

tương vụ Hè thu 2014 tại Gia Lâm, Hà Nội

Trang 2

Hình 4.1: Triệu chứng sâu cuốn lá

đậu tương gây hại

Hình 4.2: Sâu non của sâu cuốn lá

đầu nâu Hedyleptera indicata Fabr

Nguồn: Nguyễn Thị Thu Hương_2014

4.2 Thành phần thiên địch của sâu cuốn láđậu tương trên vụ đậu tương

Hè thu năm 2014 tại Gia Lâm, Hà Nội

Trong mỗi hệ sinh thái nông nghiệp có những loài thiên địch nhất định giữa vai trò quan trọng trong điều hòa số lượng sâu hại nhằm thiết lập cân bằng sinh thái Nhờ hoạt động tích cực của các loài thiên địch mà mật độ quần thể sâu hại bị khống chế dưới ngưỡng gây hại kinh tế, những loài này là sinh vật có ích

và là bạn của nhà nông nên cần tìm hiểu và nhận biết chúng để bảo vệ chúng trên đồng ruộng Trong suốt quá trình điều tra trên ruộng đậu tương năm 2014 tại Gia Lâm, Hà Nội luôn tồn tại các loài thiên địch của sâu cuốn lá đậu tương Kết quả thu được trình bày qua bảng sau:

Trang 3

Bảng 4.2 Thành phần thiên địch của sâu cuốn lá đậu tươngtrên đậu tương

vụ Hè thu 2014 tại Gia Lâm, Hà Nội

5 Chân chạy đuôi

cánh hình mũi tên Chlaenius micans Fabr Carabidae -

6 Chân chạy đen nhỏ

4 chấm trắng Tachyura laetifica Bates Carabidae +

7 Chân chạy nâu nhỏ

5 chấm trắng

Stenolophus quiuquepustulatus Wid Carabidae ++

8 Bọ rùa 6 vằn Menochilus sexmaculatus

9 Bọ rùa đỏ Micraspis discolos Fabr Coccinellidae ++

10 Bọ cánh cộc Paederus fuscipes Curtis Staphylinidae ++

11 Chuồn chuồn kim

vàng Agriocnemis pymaea Coenagrionidae +

12 Bọ đuôi kìm đen Euborellia stali Dohrr Carcinophoridae ++

Trang 4

IV Bộ nhện lớn (Araneae)

13 Nhện linh miêu Oxyopes javanus Thorell Oxyopidae ++

14 Nhện sói Lycosa pseudoannulata B.et

- Rất ít phổ biến ( độ bắt gặp < 20%) Qua bảng 4.2 ta thấy thành phần thiên địch của sâu cuốn lá đậu tương khá phong phú bao gồm 18 loài của 11 họ thuộc 5 bộ trong đó các loài chủ yếu thuộc

bộ cánh cứng Coleoptera (10 loài) chiếm 55,56%; bộ nhện lớn Araneae (5 loài) chiếm 27,79%; bộ Odonata, bộ Hymenoptera và bộ Dermaptera đều có 1 loài chiếm 5,55% Loài có mức độ bắt gặp ít nhất là loài ong vàng

(Polistes olivaceus DeGeer) và loài bọ chân chạy đuôi cánh hình mũi tên (Chlaenius micansFabr) Loài có mức độ bắt gặp nhiều nhất là loài bọ chân chạy đuôi cánh 2 chấm vàng nhạt (Chlaenius bimaculatus Chaudoir) đây cũng loài

mới, được phát hiện đầu tiên tại Gia Lâm, Hà Nội Để tìm hiểu sâu về loài này chúng tôi tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái loài bọ chân chạy

C.bimaculatus tại phòng bán tự nhiên, Bộ môn côn trùng Học Viện Nông

nghiệp Việt Nam

Trang 5

(Euborellia stali Dohrr)

Hình 4.7: Bọ chân chạy Chlaenius

micans Fabr đang ăn sâu cuốn lá

(H.indicata Fabr)

Hình 4.8: Bọ chân chạy Chlaenius bioculatus Chaudoir đang ăn sâu cuốn lá (H.indicata Fabr) Nguồn: Nguyễn Thị Thu Hương_2014

Trang 6

4.3 Đặc điểm hình thái của bọ chân chạy C bimaculatus Chaudoir

Vì bọ chân chạy C.bimaculatus là loài mới xuất hiện tại Gia Lâm, Hà Nội

và là thiên địch của sâu cuốn lá đầu nâu (H.indicata) nên cần tìm hiểu và nhận

biết để bảo vệ chúng trên đồng ruộng Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi thấy

rằng bọ chân chạy C.bimaculatus có 4 pha phát dục như sau:

 Pha trứng: Trứng có màu trắng, mềm, hình trụ tròn hai đầu, được bao bọc bởi một lớp xốp mịn màu nâu nhạt do tuyến của bộ phận sinh dục con cái tiết ra Trứng được đẻ trên đất, gần nơi có con mồi, hoặc mặt sau của những lá sát mặt đất, lá bánh tẻ

+ Chiều dài trứng: 1mm – 2mm; trung bình là 1,51 ± 0,04 mm

+ Chiều rộng trứng: 0,2mm – 0,5mm; trung bình là 0,27 ± 0,02 mm

 Pha ấu trùng: Cơ thể thon dài có phân đốt, chia thành 3 phần rõ rệt: đầu, ngực, bụng và phân chia thành mặt bên, mặt bụng, mặt lưng Mặt lưng có màu đen bóng, mặt bụng thì nhạt hơn, phía hai bên thân có các gai mọc đối diện theo cụm Đầu màu vàng nâu đến nâu đỏ, hàm to khoẻ, rắn chắc Râu đầu ngắn có 3 đốt Ngực có 3 đốt, mỗi đốt mang một đôi chân màu đen Chân gồm 5 đốt: đốt chậu, đốt chuyển, đốt đùi, đốt ống và đốt bàn chân, cuối đốt bàn có dạng móc Bụng có 11 đốt, đốt cuối cùng kích thước nhỏ nhất hơi cụp xuống và có 2 lông đuôi tương tự như ở bọ đuôi kìm

 Ấu trùng tuổi 1: lúc mới nở cơ thể màu trắng, sau vài giờ mặt lưng chuyển dần sang màu đen bóng, mặt bụng màu trắng đục Cơ thể thon dài, thuôn dần về cuối bụng, các đốt ngực phình to hơn các đốt bụng Đầu màu vàng nâu, đôi râu đầu phát triển, nửa phần gốc râu màu vàng, phần ngọn màu đen, đôi hàm trên to khỏe màu nâu vàng, mắt kép màu đen Cuối bụng có đôi long đuôi dài và phân đốt, trên có nhiều lông nhỏ

+ Chiều dài: 5mm – 7mm, trung bình là 6,07 ± 0,14 mm

+ Chiều rộng: 0,9mm – 1,3mm, trung bình là 1,15 ± 0,02 mm

Trang 7

 Ấu trùng tuổi 2: Lúc mới lột xác cơ thể ấu trùng có màu trắng, sau chuyển dần sang màu đen, mặt lưng có màu đen bóng, mặt bụng màu trắng đục, đầu màu nâu vàng, đôi râu đầu màu nâu, mắt kép màu đen Chân và đôi lông đuôi đều có màu đen

+ Chiều dài: 6mm – 10mm; trung bình là 7,8 ± 0,17mm

+ Chiều rộng: 1,3mm – 1,6mm; trung bình là 1,42 ± 0,02mm

Hình 4.9: Ấu trùng của bọ chân chạy

C.bimaculatus tuổi 1 đang lột xác

Hình 4.10: Ấu trùng của bọ chân

chạy C.bimaculatus tuổi 2 vừa lột xác Nguồn: Nguyễn Thị Thu Hương_2014

 Ấu trùng tuổi 3: Mới lột xác ấu trùng tuổi 3 có màu trắng sau chuyển dần sang màu xám, màu đen Khi ổn định mặt lưng có màu đen bóng, mặt bụng màu trắng đục, giữa các đốt ở mặt bụng đều có các đốm hình vuông màu nâu nhạt Đầu màu nâu đỏ, râu đầu ngắn màu nâu đậm, mắt kép màu đen, đôi hàm trên to khỏe màu nâu đen 3 đôi chân ngực rất phát triển dạng chân bò màu đen Cuối tuổi 3 cơ thể căng phồng, giữa các đốt bụng ở mặt bên nhìn rõ có màu trắng đục, các đốt cơ thể ngắn dần lại để chuẩn bị hóa nhộng Ấu trùng tuổi 3 có kích thước lớn hơn so với tuổi 1 và tuổi 2

+ Chiều dài: 11mm – 15mm, trung bình là 12,9 ± 0,15mm

+ Chiều rộng: 1,5mm – 2mm, trung bình là 1,64 ± 0,03 mm

Trang 8

Kích thước của pha ấu trùng có sự thay đổi rõ rệt theo từng pha và sức

ăn của ấu trùng, ấu trùng tuổi 1 có kích thước nhỏ nhất và sức ăn cũng kém nhất,

ấu trùng tuổi 3 do tốc độ ăn mạnh nên kích thước lớn nhất

 Pha nhộng: Nhộng của bọ chân chạy C.bimaculatus thuộc kiểu nhộng

trần, toàn cơ thể màu trắng tinh trước khi vũ hóa trưởng thành có màu hơi thâm, mắt kép lồi lúc mới hóa nhộng màu vàng nhạt sau chuyển dần sang màu đen, mầm râu đầu và mầm chân nằm ôm về phía mặt bụng, phía lưng có mầm cánh Các đốt bụng 6, 7, 8 ở 2 bên sườn mỗi đốt có một đôi gai mềm rõ rệt, đốt bụng cuối cùng có đôi gai thịt ngắn

+ Chiều dài: 8mm – 10mm, trung bình là 9,3 ± 0,14mm

Trang 9

đầu cho đến cánh Chân chuyển dần sang màu nâu vàng và giữa mãi ở màu này,

cánh chuyển dần từ màu trắng sang nâu nhạt, nâu vàng và nâu sẫm ở ngày thứ

nhất Sang ngày thứ 2 cơ thể trưởng thành vẫn còn yếu mềm nhưng đã chuyển

sang màu đen và lúc này hai chấm vàng nhạt ở đuôi cánh xuất hiện rõ hoàn toàn

Đầu có màu đen sau chuyển sang màu xanh óng ánh, đôi hàm trên to

khỏe, thích nghi với kiểu bắt mồi Mắt kép to lồi màu đen bóng Râu đầu dài

hình sợi chỉ 11 đốt, đốt chân râu phình to hơn các đốt khác, đốt thứ hai ngắn

nhất, 3 đốt đầu tiên có màu nâu vàng, các đốt còn lại màu đen

Ngực có 3 đốt, tấm lưng ngực trước hình mai rùa, màu đen ánh kim, hai

mép hơi hướng lên trên, chính giữa có một rãnh dọc

Chân thuộc kiểu chân chạy, các đốt gốc chân trước và chân giữa hình bán

cầu Hai đốt gốc của đôi chân sau kéo dài, đốt chuyển chân sau phồng to dài

bằng 1/3 đốt đùi sau Các đốt đùi phồng to, các đốt ống đều có gai nhọn đốt đùi

rất phát triển, các ống chân đều có gai nhọn, mép trong gần cuối của đốt ống

chân trước có một hốc lõm sâu, bàn chân có 5 đốt, đốt 1 dài nhất, các đốt sau

ngắn Cấu tạo đốt bàn của 3 đôi chân theo công thức 5.5.5 Chân là đặc điểm

quan trọng để phân biệt đực cái

Cánh trước có màu đen và được kitin hóa cứng Trên mỗi cánh cứng có 8

hàng chấm lõm chạy dọc cơ thể, khoảng 2/3 từ gốc cánh ra mép ngoài mỗi cánh

có 1 đốm to màu trắng Đôi cánh trước thường che kín các đốt bụng Đôi cánh

sau rộng dạng màng Bụng có màu đen được kitin hóa cứng, thường quan sát

thấy 6 đốt Trưởng thành cái và trưởng thành đực có sự phân biệt rõ ràng Các

đặc điểm trên cũng trùng với kết quả của Trịnh Thị Hiền (2007) khi nghiên cứu

đối tượng này trên cây lạc và cây ngô tại Nghi Lộc, Nghệ An

-Trưởng thành cái: Cơ thể có kích thước lớn hơn con đực, chân có 5 đốt bàn

thon đều

+ Chiều dài: 13mm – 15mm, trung bình là 13,4 ± 0,11mm

Trang 10

-Trưởng thành đực : Cơ thể có kích thước nhỏ hơn con cái, chân có 3 đốt

bàn chân trước phình to

+ Chiều dài: 11mm – 13mm, trung bình là 12,37± 0,11mm + Chiều rộng: 4,2mm – 4,6mm, trung bình là 4,35 ± 0,02mm

Bảng 4.3 Kích thước các pha của bọ chân chạy C.bimaculatus

Pha phát dục Chỉ tiêu theo

dõi

Kích thước (mm) Ngắn nhất Dài nhất Trung bình

Trang 11

Hình 4.13: Trứng của bọ chân chạy

C.bimaculatus

Hình 4.14: Ấu trùng tuổi 1 của bọ

chân chạy C.bimaculatus

Hình 4.15: Ấu trùng tuổi 2 của bọ

C.bimaculatus

Hình 4.19: Trưởng thành cái của bọ chân chạy

C.bimaculatus Nguồn: Nguyễn Thị Thu Hương_2014

Trang 12

4.4 Tập tính sống của bọ chân chạy C.bimaculatus

Trưởng thành có 3 đôi chân di chuyển linh hoạt theo dấu vết con mồi,cả

ấu trùng và trưởng thành đều có cách bắt mồi giống nhau Tuy nhiên, ấu trùng thường xuyên ở trên cây hơn, đặc biệt là những nơi có mật độ sâu non cao Chúng tấn công con mồi khi con mồi trên cây hoặc chui vào tổ sâu, trứng để ăn chúng, dùng đôi hàm chắc khỏe tóm và nhai nghiền con mồi, khi ăn chúng thường chỉ để lại mảnh đầu của con mồi Khả năng nhận biết nhanh nhạy, bản thân có thể tiết ra mùi hôi khó chịu xua đuổi kẻ thù do đó tạo điều kiện cho chúng lẩn chốn thoát khỏi nguy hiểm

Sau vũ hóa 3 – 4 ngày trưởng thành mới bắt đầu ăn, sau 3 – 5 ngày giao phối và sau giao phối 6 – 7 ngày thì đẻ trứng Chúng thường giao phối vào buổi sáng và chiều tối và đẻ trứng vào ban đêm hoặc buổi sáng sớm Mỗi lần giao phối kéo dài 50 - 60 phút, đôi khi dài hơn, chúng tiến hành giao phối làm nhiều lần trong mỗi đợt đẻ trứng

Con cái có sự lựa chọn con đực để đảm bảo cho giống nòi sau này có khả năng thích ứng với điều kiện tự nhiên Chúng để cho con đực rượt đuổi theo mình thông thường sẽ có 2 đến 3 con đực đuổi theo con cái, con cái thường chạy vào những nơi nhiều lá cây hoặc thậm chí có thể trèo lên cây Nếu con đực nào khỏe mạnh vượt lên trước đuổi kịp con cái thì quá trình giao phối bắt đầu, con đực dùng đôi chân trước và chân giữa ôm chặt lấy con cái, đồng thời đưa gai giao phối vào bộ phận sinh dục của con cái Khi giao phối con cái cõng con đực trên lưng tìm nơi kín đáo ẩn nấp

Nhờ ba đốt bàn chân trước của con đực to rộng nên khả năng ôm con cái rất chặt, nếu như có tác động bên ngoài hoặc bị xua đuổi chúng cũng không bỏ

ra mà chỉ dịch chuyển nhẹ và tìm nơi khác ẩn nấp Chuẩn bị đẻ trứng con cái thường chạy quanh vài vòng, sau đó nằm yên một chỗ

Lúc đẻ con cái thường đứng trụ bằng hai chân trước, cuối bụng hơi chổng lên, đôi chân sau đạp liên tục từ trước ra sau, từ trên xuống dưới nhưng chân sau

Trang 13

không hề đặt xuống đất Đẻ xong một quả trứng chúng lại dịch chuyển nhẹ, đẻ tiếp quả thứ hai và cứ như vậy đến hết đợt đẻ

Trong khi đẻ tuyến sinh dục của con cái tiết ra một chất bột mịn xốp màu nâu bao bọc lấy trứng và dính vào lá đậu tương Quan sát ngoài đồng ruộng cho thấy trên một lá đậu tương thường có 1 – 2 quả trứng, đôi khi thấy 3 quả Khi nuôi trong phòng, số lượng trứng được đẻ trên một lá nhiều hơn, khoảng 6 – 7 quả, đôi khi tới 15 – 20 quả

Khi nở vỏ trứng nứt một đường ngang, ấu trùng tự chui ra ngoài Trứng thường nở vào ban đêm và buổi sáng sớm, ít khi thấy nở vào buổi trưa Những quả trứng có vỏ bọc thì tỷ lệ nở rất cao, trứng không có vỏ bọc thì không nở được vì không đủ ẩm độ và thường bị thối đen

Ấu trùng của bọ chân chạy C.bimaculatus có 3 tuổi và trải qua 2 lần lột

xác Khi lột xác, ấu trùng rách một đường dài từ đuôi đến đầu ở chính giữa phần lưng Chúng bắt đầu rách lột bỏ vỏ kitin từ các tấm ngực, sau đó kéo dài về hai phía bụng đuôi, sau cùng là đầu Sau khi lột xác 2-3 giờ ấu trùng có màu trắng, sau đó chuyển thành màu đen đặc trưng của ấu trùng Khi gần hoá nhộng chúng

ít hoặc không di chuyển, phần lớn chui xuống đất đào một khoảng trống to hơn

cơ thể để hoá nhộng Đây là một sự lẩn trốn tuyệt vời khi mà giai đoạn tiền nhộng và giai đoạn nhộng không hoạt động, nhộng lại có màu trắng, rất dễ bị các loài vật mồi khác tấn công, do đó chúng giảm thiểu đi rất nhiều sự thiệt hại

về số lượng Ấu trùng rất linh hoạt và phàm ăn nên khả năng ăn mồi của chúng rất lớn Khi đẫy sức cơ thể ấu trùng căng phồng, các đốt giãn ra nhìn rất rõ các vệt trắng ở hai bên sườn

Trang 14

Hình 4.20: Trưởng thành bọ chân

chạy C.bimaculatus đang giao phối

Hình 4.21: Ấu trùng bọ chân chạy

C.bimaculatus đang ăn sâu

Hình 4.22: Trứngcủa bọ chân chạy

C.bimaculatus

Hình 4.23: Nhộng của bọ chân

chạyC.bimaculatus đang lột xác Nguồn: Nguyễn Thị Thu Hương_2014

4.5 Thời gian phát dục và vòng đời của bọ chân chạy C.bimaculatus

Thời gian phát dục của một loài dài hay ngắn có ảnh hưởng rất lớn đến sự tăng trưởng số lượng và số lứa trong năm Vòng đời của một loài thiên địch chịu tác động của điều kiện thời tiết và thức ăn Thí nghiệm tiến hành trong điều kiện nuôi bán tự nhiên, kết quả trình bày ở bảng 4.4

Trang 15

Bảng 4.4 Thời gian phát dục và vòng đời của bọ chân chạy C.bimaculatus

Ẩm độ TB(%)

Ngắn nhất Dài nhất Trung bình

Trang 16

Số liệu bảng 4.4 cho thấy, trong điều kiện nhiệt độ trung bình 27,850C và

ẩm độ trung bình là 85,46%, tất cả các pha phát dục đều có khoảng thời gian phát dục ngắn hơn khi nuôi trong điều kiện nhiệt độ trung bình 21,750C, ẩm độ 86,22% Như vậy, nhiệt độ có ảnh hưởng đến vòng đời của bọ chân chạy

C.bimaculatus khi nhệt độ càng thấp thì thời gian phát dục càng kéo dài

 Pha trứng: trung bình 4,50 ± 0,08ngày (27,850C – 85,46%); trung bình 6,02 ± 0,12 ngày (21,750C – 86,22%)

 Tiền đẻ trứng: Sau khi vũ hóa, trưởng thành bọ chân chạy C.bimaculatus

chưa giao phối và đẻ trứng ngay, mà phải sau trung bình 36,70 ± 0,45 ngày (27,850C – 85,46%); trung bình 55,30 ± 0,68 ngày (21,750C – 86,22%)

=>Vòng đời trung bình của bọ chân chạy C.bimaculatus là 36,70 ± 0,45

ngày (27,850C – 85,46%); trung bình 55,30 ± 0,68 ngày (21,750C – 86,22%).Như vậy trong điều kiện nuôi bán tự nhiên nhiệt độ cũng ảnh hưởng

đến thời gian phát dục của bọ chân chạy C.bimaculatus và nghiên cứu của Trịnh

Thị Hiền (2007) cũng cho rằng nhiệt độ thấp thì thời gian phát dục ở mỗi giai đoạn tăng lên, do đó tổng thời gian phát dục ở mỗi giai đoạn cũng tăng lên

Trang 17

Pha trứng Pha ấu trùng

Hình 4.24: Vòng đời của bọ chân chạy C.bimaculatus

Nguồn: Nguyễn thị Thu Hương_2014 4.6 Sức đẻ trứng của trưởng thành bọ chân chạy C.bimaculatus

Một trong những yếu tố có tính chất quyết định đến số lượng cá thể của từng loài trong quần thể sinh vật trên đồng ruộng là khả năng đẻ trứng của

chúng Trưởng thành bọ chân chạy C.bimaculatus sau khi vũ hóa tiến hành giao

phối và sau giao phối 6 – 7 ngày thì bắt đầu đẻ trứng Kết quả theo dõi khả

năngđẻ trứng của trưởng thành bọ chân chạy C.bimaculatus được trình bày ở

bảng 4.5

Trang 18

Bảng 4.5 Sức đẻ trứng của trưởng thành bọ chân chạy C.bimaculatus

Số trứng

TB 1 con cái đẻ (quả)

Số trứng

TB 1 con cái đẻ/ngày (quả)

14/09-21/09) 303 30,30±0,26 4,02 ± 0,81 28,31 88,50 Trung bình 49,55±4,42 5,70 ± 0,95 28,17±0,24 87,95 Tổng số

trứng/con cái 99,10±0,38

F2

Đợt 1

(17/10-27/10) 643 64,30±0,37 6,50 ± 1,32 25,12 86,94 Đợt 2

(31/10-8/11) 251 25,10±0,28 2,95 ± 0,59 23,93 87,15 Trung bình 44,70±4,50 4,81 ± 0,84 24,76±0,42 87,10 Tổng số

trứng/con cái 89,40±0,40

*Ghi chú: Theo dõi 10 cặp trưởng thành

Qua bảng trên ta thấy nhiệt độ cũng có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản

của bọ chân chạy C.bimaculatus, nhiệt độ càng thấp thì tổng lượng trứng trưởng

thành cái đẻ được sẽ giảm đi Đối với nhiệt độ 28,170C, độ ẩm 87,95% thì tổng

số trứng con cái đẻ trung bình có 99,10 ± 0,38 quả khi nhiệt độ giảm còn 24,760C, độ ẩm 87,10% thì trung bình có 89,40 ± 0,4quả Nhìn chung sức đẻ

trứng của bọ chân chạy C.bimaculatus cao

Trang 19

Nhìn vào bảng số liệu ta thấy rằng trong cùng một thế hệ theo dõi (THTD) trưởng thành cái sau khi giao phối đẻ trứng thành 2 đợt, mỗi đợt kéo dài từ 8 – 10 ngày, đợt 1 luôn có số lượng trứng và thời gian đẻ nhiều hơn đợt 2 Thật vậy, thế hệ F1: đợt 1 tổng số trứng thu được là 688 quả lớn hơn 303 quả (đợt 2) Thế hệ F2: đợt 1 tổng số trứng thu được 643 quả cũng lớn hơn 251 quả (đợt 2)

Đợt 1: Trung bình một con cái đẻ được 68,80 ± 0,20 quả (28,170C - 87,95%), trung bình 64,30 ± 0,37 quả (24,760C – 87,10%) Số trứng mà con cái

đẻ trong một ngày trung bình là 7,04 ± 1,49 quả (28,170C - 87,95%), trung bình 6,50 ± 1,32 quả (24,760C – 87,10%)

Đợt 2: Trung bình một con cái đẻ được 30,30 ± 0,26 quả (28,170C - 87,95%), trung bình 25,10 ± 0,28 quả (24,760C – 87,01%) Số trứng mà con cái

đẻ trong một ngày trung bình là 4,02 ± 1,49 quả (28,170C - 87,95%), trung bình 2,95 ± 0,59 quả (24,760C – 87,10%)

4.7 Nhịp điệu sinh sản của bọ chân chạy C.bimaculatus

Trong quá trình sinh sản thì số lượng trứng của trưởng thành cái trong từng ngày có sự biến động theo một nhịp điệu nhất định Quá trình đó được chúng tôi ghi nhận theo kết quả sau:

Trang 20

Bảng 4.6: Nhịp điệu sinh sản của bọ chân chạy C.bimaculatus

Ngày đẻ trứng Số trứng con cái đẻ/ngày (quả)

Trang 21

Hình 4.25: Nhịp điệu sinh sản của bọ chân chạy C.bimaculatus

Qua hình 4.25 và bảng 4.6 ta thấy trong khoảng nhiệt độ 28,17±0,24 (0C),

độ ẩm 87,95 ± 0,56 (%) trưởng thành cái đẻ làm 2 đợt, đợt 1 được đẻ liên tiếp trong 10 ngày, số lượng trứng trung bình tăng từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 5 sau

đó giảm xuống đến ngày thứ 10, ngày có lượng trứng trung bình lớn nhất là ngày thứ 5 với 14,40 ± 0,78 quả trong đó số trứng nhiều nhất là 19 quả, thấp nhất là 11 quả Ngày có lượng trứng trung bình thấp nhất là ngày thứ 10 với 2,33

± 0,33 quả, số trứng nhiều nhất trong ngày là 3 quả và thấp nhất là 2 quả

Khoảng thời gian ngừng đẻ giữa 2 lứa là 3 ngày từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 13 sau đó trưởng thành cái đẻ tiếp lứa thứ 2 Lứa sau đẻ liên tiếp trong 8 ngày, số lượng trứng trung bình cũng tăng từ ngày thứ 14 đến ngày thứ 22 thì kết thúc đợt đẻ, ngày có số trứng trung bình nhiều nhất là ngày thứ 17 với 8,00

± 0,67 quả, trong ngày này số trứng nhiều nhất là 12 quả, ít nhất là 5 quả Ngày con trưởng thành cái đẻ ít trứng nhất là ngày thứ 20 với 1,60 ± 0,22 quả trong ngày này số trứng nhiều nhất là 3 quả, ít nhất là 1 quả

4.8 Sức ăn của bọ chân chạy C.bimaculatus

Mỗi một loài thiên địch đều có những vai trò riêng của mình trong điều hòa quần thể sinh vật Sức ăn là một trong những chỉ tiêu để đánh giá vai trò

Trang 22

quan trọng này Để hiểu thêm về vai trò của bọ chân chạy C.bimaculatus chúng

tôi làm thí nghiệm thử sức ăn của chúng ở các pha và thu được kết quả sau:

Bảng 4.7 Sức ăn của bọ chân chạy C.bimaculatus

Pha phát dục

Số sâu cuốn lá bị ăn (con/ngày) Nhiệt độ

(0C)

Độ ẩm (%)

Nhìn vào kết quả thực nghiệm sức ăn của bọ chân chạy C.bimaculatus ta

thấy việc cả pha ấu trùng và trưởng thành đều ăn sâu cuốn lá là một ưu điểm của việc sử dụng bọ chân chạy làm thiên địch kiểm soát mật độ sâu hại

Qua bảng 4.7 ta thấy rằng ấu trùng tuổi 1 có sức ăn thấp nhất với số sâu bị

ăn trung bình là 1,47 ± 0,19 con/ngày Pha có sức ăn mạnh nhất đó là pha trưởng thành trong đó trưởng thành cái có số sâu bị ăn trung bình 6,63 ± 0,25 con/ngày lớn hơn so với trưởng thành đực 5,13±0,23 con/ngày ở nhiệt độ 23,320C và ẩm

độ 84,74% Điều này khẳng định bọ chân chạy C.bimaculatus nói riêng và các

loài bọ chân chạy nói chung là những thiên địch rất quan trọng trong hệ sinh thái nông nghiệp Nếu chúng có mặt tại sinh quần ở mật độ ngưỡng hữu hiệu thì chính chúng là một trong những quần thể thiên địch quan trọng trong việc điều hòa số lượng loài có hại mà không cần đến biện pháp diệt trừ khác Chính các loài sâu hại ở dưới ngưỡng gây hại có mặt trong sinh quần là nguồn thức ăn nuôi sống những tập đoàn thiên địch có ích này bởi các mối quan hệ dinh dưỡng ràng buộc chặt chẽ thông qua chuỗi và lưới thức ăn Chính vì vậy, việc hạn chế sử dụng thuốc hóa học sẽ tạo điều kiện tốt cho các loài thiên địch phát huy được tác dụng của nó trong quy luật hoạt động tự nhiên

Trang 23

4.9 Khả năng nhịn đói của trưởng thành bọ chân chạy C.bimaculatus

Nhịn đói là một trong những điều tuyệt vời của côn trùng nhất là đối với những loài sống trong những điều kiện khó khăn, nguồn thức ăn khan hiếm, khả năng cạnh tranh giữa các loài cao khi đó loài nào có khả năng chống chịu tốt

nhất sẽ trụ vững duy trì nòi giống Chính vì thế mà bọ chân chạy C.bimaculatus

trong tự nhiên cũng hình thành khả năng này nhằm đáp ứng nhu cầu ổn định quần thể khi thức ăn thiếu thốn Khả năng đó được tôi ghi lại qua bảng 4.8 sau:

Bảng 4.8 Khả năng nhịn đói của trưởng thành bọ chân chạy C.bimaculatus

Pha theo dõi

Thời gian nhịn đói (ngày)

Nhiệt độ TB (0C)

Ẩm độ TB (%) Ngắn

nhất

Dài nhất Trung bình Trưởng thành

cái 10 12 10,70 ± 0,21 23,50 ± 0,84 87,87±1,31 Trưởng thành

đực

8 11 9,20 ± 0,25

Từ những số liệu trên ta thấy, khả năng nhịn đói của trưởng thành bọ chân chạy là cao trong đó trưởng thành cái dài hơn của trưởng thành đực Với điều kiện nhiệt độ 23,50C ẩm độ 87,87% thì con cái trung bình nhịn đói trong 10,70 ± 0,48 ngày, thời gian dài nhất là 12 ngày, ngắn nhất là 10 ngày trong khi đó con đực nhịn đói trung bình là 9,20 ± 0,56 ngày, thời gian dài nhất 11 ngày, ngắn nhất là 8 ngày

4.10 Tỷ lệ sống sót qua các pha phát dục của bọ chân chạy C.bimaculatus

Khả năng sống sót qua các giai đoạn phát triển của các loài nói chung và của côn trùng nói riêng là rất quan trọng, vấn đề này ảnh hưởng trức tiếp đến mật độ quần thể, khả năng sinh tồn, thích nghi của loài đó với môi trường sống Đối với thiên địch ngoài việc đảm bảo số lượng giống nòi sau này thì chung còn

Trang 24

liên quan đến việc tham gia vào chuỗi thức ăn kiểm soát số lượng sâu hại Chính

vì vậy chúng tôi tiến hành thí nghiệm và thu được kết quả tại bảng 4.9:

Bảng 4.9 Tỷ lệ sống sót các pha phát dục của bọ chânchạyC.bimaculatus

Tỉ lệ sống sót (%)

Nhiệt độ (0C)

Độ ẩm (%)

Trang 25

Kết quả nghiên cứu ở bảng 4.9 cho thấy, tỷ lệ nở trứng của loài bọ chân

chạy C.bimaculatus ở con số cao (70,17% - 77,19%) cho dù ở 2 khoảng nhiệt độ

khác nhau từ 23,470C đến 28,070C đặc điểm này đã duy trì, bổ sung rất nhiều cho chính số lượng loài đó Tuy nhiên, ta có thể nhận thấy nhiệt độ giảm xuống thì tỷ lệ nở trứng cũng có xu hướng giảm theo từ 77,19% xuống 70,17% Khả năng sống của ấu trùng chân chạy cũng rất cao tại nhiệt độ 28,070C thì tỷ lệ sống sót đạt cao nhất là 86,67%, ở 23,470C thì tỷ lệ sống sót cao nhất là 82,61%, điều này cho thấy ấu trùng có sức sống rất mạnh, khả năng cạnh tranh cao, lẩn tránh tốt giúp cho chúng bảo tồn được nhiều nhất số lượng cá thể trong quần thể Đó

là lý do tại sao ta có thể tìm thấy mật độ ấu trùng loài bọ chân chạy

C.bimaculatus nhiều trong quần thể cây đậu tương hơn so với loài khác

Khi nhiệt độ trung bình đạt 28,070C độ ẩm 86,79% thì tỷ lệ hóa nhộng và

vũ hóa trưởng thành là 65,38% - 88,23% và đạt 63,16% - 83,33% (23,470C – 86,77%) Khả năng hóa nhộng và vũ hóa trưởng thành cũng đạt tỷ lệ khá cao, trong khi giai đoạn tiền nhộng và giai đoạn nhộng không hoạt động, rất dễ bị kẻ thù tấn công Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của Trịnh Thị Hiền (2007)

về bọ chân chạy C.bimaculatus trên đối tượng cây lạc và cây ngô từ tỉ lệ trứng

nở đến khả năng hóa nhộng cũng như vũ hóa trưởng thành đều đạt tỉ lệ sống sót cao đảm bảo duy trì số lượng quần thể sau này

4.11 Diễn biến mật độ của trưởng thành bọ chân chạy C.bimaculatus trên

đậu tương tại Kim Sơn, Gia Lâm, Hà Nội vụ Hè thu 2014

Chúng tôi tiến hành điều tra diễn biến về mật độ của trưởng thành bọ chân

chạy C.bimaculatus có trên ruộng trồng đậu tương (DT96) tại Kim Sơn, Gia

Lâm, Hà Nội trong thời gian từ 21/07 đến 11/10/2014 Kết quả được thể hiện trong bảng 4.10 và hình 4.26

Ngày đăng: 07/05/2017, 19:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w