1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

nghiên cứu thiên địch sâu cuốn lá đậu tương bọ chân chạy chlaenius bimaculatus (phần 1)

39 780 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 560,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đậu tương là cây trồng có nhiều sâu hại: sâu hại lá, sâu hại quả, sâu hại thân rễ. Trong các loài sâu hại đậu tương có loài sâu cuốn lá là biến động phức tạp, gây ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất của cây đậu tương nhiều nhất. Mặt khác, cây đậu tương có thể trồng cả 3 vụ (vụ đông, vụ xuân, vụ hè thu), nên trên đồng ruộng cây đậu tương là nguồn thức ăn cho sâu bệnh. Vì vậy, ở điều kiện khí hậu Việt Nam, đậu tương là loại cây trồng bị nhiều loài côn trùng gây hại như sâu cuốn lá, sâu xanh, sâu khoang, giòi đục thân, bọ xít xanh,… làm cho năng suất đậu tương không được ổn định, thấp, đôi khi thất thu. Để phòng trừ sâu hại có nhiều biện pháp phòng trừ: Hóa học, canh tác, sinh học…, mỗi biện pháp đều có những ưu nhược điểm, hiệu quả khác nhau. Hiện nay, biện pháp hóa học vẫn là biện pháp chủ đạo trên đồng ruộng không chỉ cho cây đậu tương mà còn cho mọi cây trồng khác, vì nó có hiệu quả nhanh chóng thuận tiện, rẻ tiền. Tuy nhiên, người trồng trọt nhiều lúc còn quá lạm dụng thuốc trừ sâu nên đã gây ra lãng phí thuốc, công lao động, gây ô nhiễm môi trường ngoài ra còn làm tăng tính kháng thuốc của sâu hại.

Trang 1

trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này.

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong bộ môn côn trùng, khoa Nông học đã giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành chương trình đại học cũng như khóa luận tốt nghiệp.

Cuối cùng tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè lớp BVTVA khóa 56 đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này.

Người thực hiện

Nguyễn Thị Thu Hương

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

DANH MỤC BẢNG

Trang 4

DANH MỤC HÌNH

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

C.bimaculatus : Chlaenius bimaculatus Chaudoir

H.indicata : Hedylepta indicata Fabr

Trang 6

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Cây đậu tương (Glycine max (L) Merril) là cây công nghiệp ngắn ngày

có tác dụng rất nhiều mặt, có giá trị kinh tế cao Sản phẩm của nó cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị Ngoài ra, đậu tương là cây trồng ngắn ngày rất thích hợp trong luân canh, xen canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác và là cây cải tạo đất tốt (Trần Văn Điền, 2007)

Thành phần dinh dưỡng trong hạt đậu tương rất cao, với hàm lượng protein từ 38 - 40%, lipit từ 18 - 20 %, hydrat các bon từ 15 - 16 % và nhiều loại nguyên tố và muối khoáng quan trọng cho sự sống Hạt đậu tương là loại sản phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả protein và lipit Protein của hạt đậu tương không những có hàm lượng cao mà còn có đầy đủ và cân đối các axit amin cần thiết Lipit của đậu tương chứa một tỷ lệ cao các axit béo chưa no (khoảng 60 - 70 %), có hệ số đồng hóa cao, mùi vị thơm như axit lionleic chiếm 52-65%, axit oleic chiếm 25-36%, axit lonolenoic chiếm 2-3% Ngoài ra, trong hạt đậu tương còn có nhiều loại vitamin PP, A, C,

E, D, K, đặc biệt là vitamin B1 và B2 Từ hạt đậu tương người ta đã chế biến ra được trên 600 sản phẩm khác nhau, hơn 300 loại thức ăn bằng phương pháp

cổ truyền, thủ công, hiện đại: sữa đậu nành, tào phớ, đậu phụ, bánh kẹo, pate… Ở nhiều nước phát triển đậu tương còn được sử dụng làm cao su nhân tạo, sơn mực in, xà phòng, chất dẻo,… (Phạm Văn Thiều, 2009).

Trang 7

Tuy nhiên, năng suất và phẩm chất cây đậu tương phần nào vẫn còn bị hạn chế và chưa ổn định Một trong các nguyên nhân là do sự tấn công gây hại của các loài sâu bệnh hại Đậu tương là cây trồng có nhiều sâu hại: sâu hại

lá, sâu hại quả, sâu hại thân rễ Trong các loài sâu hại đậu tương có loài sâu cuốn lá là biến động phức tạp, gây ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất của cây đậu tương nhiều nhất Mặt khác, cây đậu tương có thể trồng cả 3 vụ (vụ đông, vụ xuân, vụ hè thu), nên trên đồng ruộng cây đậu tương là nguồn thức ăn cho sâu bệnh Vì vậy, ở điều kiện khí hậu Việt Nam, đậu tương là loại cây trồng bị nhiều loài côn trùng gây hại như sâu cuốn lá, sâu xanh, sâu khoang, giòi đục thân, bọ xít xanh,… làm cho năng suất đậu tương không được ổn định, thấp, đôi khi thất thu.

Để phòng trừ sâu hại có nhiều biện pháp phòng trừ: Hóa học, canh tác, sinh học…, mỗi biện pháp đều có những ưu nhược điểm, hiệu quả khác nhau Hiện nay, biện pháp hóa học vẫn là biện pháp chủ đạo trên đồng ruộng không chỉ cho cây đậu tương mà còn cho mọi cây trồng khác, vì nó có hiệu quả nhanh chóng thuận tiện, rẻ tiền Tuy nhiên, người trồng trọt nhiều lúc còn quá lạm dụng thuốc trừ sâu nên đã gây ra lãng phí thuốc, công lao động, gây ô nhiễm môi trường ngoài ra còn làm tăng tính kháng thuốc của sâu hại

Biện pháp được xem là hiệu quả và khắc phục được những nhược điểm riêng lẻ là biện pháp phòng chống dịch hại tổng hợp IPM Trong đó biện pháp sinh học sử dụng kẻ thù tự nhiên có vai trò quan trọng Muốn thực hiện được phương pháp này trước hết phải nắm được thành phần thiên địch của sâu cuốn lá đậu tương để có thể điều hòa số lượng sâu hiệu quả nhất.

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

Trang 8

“Thành phần thiên địch của sâu cuốn lá đậu tương; đặc điểm sinh học, sinh thái loài bọ chân chạy Chlaenius bimaculatus Chaudoir (Coleoptera: Carabidae) vụ Hè thu 2014 tại Gia Lâm, Hà Nội.”

1.2 Mục đích và yêu cầu

1.2.1 Mục đích

Trên cơ sở điều tra xác định được thành phần thiên địch của sâu cuốn

lá đậu tương vụ Hè thu 2014 tại Gia Lâm, Hà Nội, đồng thời nghiên cứu nắm được đặc điểm sinh học và sinh thái loài bọ chân chạyChlaenius bimaculatus Chaudoir Từ đó có biện pháp bảo vệ, khích lệ và sử dụng chúng trong đấu tranh sinh học chống sâu cuốn lá đậu tương.

Trang 10

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Những nghiên cứu ngoài nước

2.1.1 Tình hình sản xuất đậu tương

Dự kiến sản lượng đậu tương thế giới năm 2014 - 2015 là 311,1 triệu tấn sẽ là một mức cao kỷ lục, tăng 28,0 triệu tấn (9,9%) so với năm 2013 -2014 (283,1 triệu tấn), trong niên vụ năm 2012-2013 là 267,8 triệu tấn, mức thấp gần đây nhất là niên vụ năm 2011-2012 là 239,7 triệu tấn (DanielO’Brien, 2014)

Sản xuất đậu tương được dự báo đạt được 201,1 triệu tấn trong năm

2014 - 2015, tăng 3,5% so với năm 2013-2014 (194,3 triệu tấn) và tăng 8,5%

so với năm 2012 – 2013(185,3 triệu tấn).Dự báo năm 2014 tỷ lệ thu hoạch để trồng diện tích cho tất cả đậu tương của Mỹ được dự báo là 98,7%, giảm so với năm 2013 (99,1%), nhưng lớn hơn năm 2011 (98,3%), bằng với năm

2012 (98,7%) Tỷ lệ diện tích trồng đậu tương trung bình của Mỹ trong những năm 2004-2013 đã được 98,7%, cao hơn so với năm 2011 (98,3%), thấp hơn

so với năm 2007-2013 (99,1%).(Daniel O’Brien, 2014)

Trung Quốc có mức sử dụng đậu tương trong nước đã tăng từ 76,2 triệu tấn trong niên vụ 2012-2013 đến 80,1 triệu tấn trong niên vụ năm 2013- 2014(chiếm 29,3% đậu tương sử dụng của thế giới) dự kiến niên vụ 2014-

2015 sẽ tăng lên 85,0 triệu tấn Tuy nhiên, sản xuất đậu tương trong nước chỉ 12,0-13,1 triệu tấn trong 3 năm trở lại đây, nhỏ hơn nhiều so với mức độ sử dụng trong nước Vì vậy, Trung Quốc đã buộc phải chi ra một khoản tiền lớn

để nhập khẩu đậu tương phục vụ nhu cầu trong nước.(Daniel O’Brien, 2014)

Trang 11

Các nước Brazil, Argentina và Paraguay trong năm 2012-2013 sản xuất được 139,5 triệu tấn đậu tương chiếm 52,0% sản lượng thế giới, năm 2013-

2014 đạt 148,9 triệu tấn chiếm 52,2% sản lượng thế giới, dự kiến sản xuất đậu tương tại các khu vực này tăng lên 157,5 triệu tấn, đạt 50,4% sản lượng thế giới trong năm 2014-2015 ( Daniel O’Brien, 2014)

Trang 12

2.1.2.Tình hình gây hại của sâu cuốn lá đậu tương

Trong năm 2010 và 2011 từ tháng 1 đến tháng 5 có 39 loài côn trùng gây hại đã được tìm thấy trên cây trồng đậu tương ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau trong khu vực Noakhali của Bangladesh Trong số các loài sâu hại được ghi nhận có 6 loài phổ biến là: sâu róm (Spilarctia obliqua Walker); sâu cuốn lá ( Lamprosema indicata F); sâu khoang (Spodoptera litura F.); sâu xanh đục quả cà chua (Helicoverpa armigera Hubner); giòi đục thân (Ophiomyia phaseoli Tryon) và bọ phấn trắng (Bemisia tabaci Genn.) chúng đều được coi là những loài gây hại ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng đậu tương Hầu hết các loài gây hại xuất hiện trong giai đoạn ra lá, ra hoa (30-50 ngày sau khi gieo) (Biswas, 2013)

Phòng thí nghiệm của Oilseed Research Centre (ORC) và trung tâm Bangladesh Agricultural Research Institute (BARI), Joydebpur, Gazipur cũng nghiên cứu về sự gây hại cùng biện pháp quản lý sâu cuốn lá đậu tương trong các mùa vụ của những năm 2007 -2008; 2008-2009 Sâu cuốn lá phá hoại đã được quan sát trong tuần thứ 3 của tháng 1 ở giai đoạn ra lá, ra hoa (45-60 ngày sau gieo) và tiếp tục đến trước ngày thu hoạch (125-135 ngày sau khi gieo) Mật độ quần thể sâu cuốn lá (0,9-1,00 con/cây trong năm 2008,2009)

và cuối tháng 2 khi cây hình thành quả (110 – 130 ngày sau gieo) gây hại năm

2008 đối với cây là 90%, năm 2009 là 95 %.( Biswas and Rabiul Islam, 2012).

Theo Viện nghiên cứu đậu tương ở Trung Quốc năm 2012 thì sâu cuốn

lá (Lamprosema indicata Fabricius) là một trong những loài côn trùng ăn lá lớn có ảnh hưởng đến cây trồng đậu tương ở miền Trung và miền Nam Trung Quốc.(Xing et al.,2012)

Trang 13

Tại Nam Kinh năm 1990-1994 đã thấy 49 loài côn trùng thuộc 5 bộ: bộ cánh cứng (Coleoptera), bộ cánh nửa (Hemiptera), Bộ cánh đều (Homoptera),

bộ cánh vảy (Lepidoptera), bộ cánh thẳng (Orthoptera) Trong đó, có một số loài tương đối quan trọng Plusia adnata Saudinger, Cifuna locuples Walker, Clanis bilineata Walker, Megacopta cribraria Fabricius, Paraluperodes suturalis nigrobilineatus Motschulsky,…có 3 loài quan trọng nhất làm ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất, chất lượng đậu tương là sâu cuốn lá đậu tương (Lamprosema indicata Fabricius), sâu đo (Ascotis selenaria), sâu khoang (Prodenia litura Fabricius) thông qua điều tra thực địa và đặt bẫy trong những năm 1983-1984; 1990-1994.(Cui Zhang Lin and Gai Junyi, 1997).

Mayura Soonveera (1994) nghiên cứu về cây đậu tương được trồng trên ô thí nghiệm ở Department of Pest Management Technology , Khoa Công nghệ Nông nghiệp, Viện King Mongkut của Công nghệ Ladkrabang Bangkok,

từ tháng 10 năm 1993 đến tháng 3 năm 1994, tìm thấy một số loài sâu hại chính là: Ophiomyia phaseoli (Tryon), trong giai đoạn cây con sâu cuốn lá đậu tương (Lamprosema indicata F.) và (Archips micaceana Walker), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr), Lampides boeticusL., Nezara viridula (L.), Riptortus linearisps Fab , sâu đục quả đậu (Maruca testulalis Geyer) trong giai đoạn ra hoa.

Dựa trên cuộc điều tra đậu tương vùng ngoại ô Phúc Châu, Mei xianget al.(2008) đã xác định được 60 loài sâu hại bao gồm: bộ cánh vảy (Lepidoptera), bộ cánh cứng (Coleoptera), bộ cánh thẳng (Orthoptera), bộ hai cánh (Diptera), bộ cánh đều (Homoptera) Các loài gây hại quan trọng thứ nhất là: Aphis glycines, Megacopta cribraria, Bemisia tabaci, Etiella zinckenella Các loài gây hại quan trọng thứ 2 là: Prodenia litura, Autographa nigrisigna, Riptortus pedestris, Porthesia scintillans, Lamprosema indicata.

Trang 14

Theo Ching-Chin Chien et al (1984) trong năm 1980 – 1981 nghiên cứu thấy rằng sâu cuốn lá Hedylepta indicata (Fabr.) (Lepidoptera: Pyralidae) rất phổ biến trong các khu vực trồng đậu tương trong Wanfeng, Taichung Mật độ quần thể sâu cuốn lá trong vụ hè ít hơn trong vụ xuân và thu.

2.1.3 Thành phần thiên địch của sâu cuốn lá đậu tương

Theo Mei-xiang et al.(2008) dựa trên cuộc điều tra toàn diện đã tìm được 83 loài thiên địch trên cây đậu tương, trong đó có 2 loài ký sinh quan trọng Encarsia sophia và Litomastix maculates, một số loài côn trùng bắt mồi chủ yếu là: Paederus fuscipes, Propylaea japonica, Erigonidium graminicolum, Grathonarium dentatum và Theridion octomaculatum.

Chen and Willson (1996) đã nghiên cứu thành phần bọ chân chạy trên cây đậu tương bằng cách đặt bẫy năm 1992-1993 và tìm thấy 45 loài trong

đó có 5 loài chiếm ưu thế Các loài Pterostichus chalcites Say, Anisodactylus sanctaecrucis F., Scarites substriatus Haldeman, và Agonum punctiforme (Say) xuất hiện nhiều ở đầu vụ, loài Pterostichus stygicus Say là phổ biến hơn

cả ở cuối vụ Điều kiện thời tiết, các mùa vụ trong năm là yếu tố chính ảnh hưởng đến hoạt động, thành phần loài, sự phong phú của bọ chân chạy từ năm này sang năm khác Mật độ quần thể bọ chân chạy cũng phụ thuộc vào mật độ của sâu cuốn lá đậu tương.

Trong một cuộc khảo sát tiến hành ở Meghalaya, Ấn Độ từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1983, đã tìm thấy 8 loài ký sinh và 1 loài côn trùng bắt mồi được ghi nhận là tấn công sâu hoặc nhộng của 2 loài Hedylepta indicata và Lamprosema diemenalis Khả năng ký sinh từ 18-21,5% với trung bình 19,7% ( Azad Thakur, 1985)

Trang 15

Ở Phúc Châu, Trung Quốc, sâu cuốn lá Lamprosema indicata Fabricius (Lepidoptera: Pyralidae) là một loại sâu hại quan trọng của đậu tương, chúng

có 4-5 thế hệ Sâu non phát triển vào mùa đông đến giữa hoặc cuối tháng 4 chúng thành nhộng Mật độ quần thể của sâu đạt đỉnh cao vào thế hệ thứ 1 và thứ 5 (cuối tháng 6, giữa hoặc cuối tháng 8, giữa hoặc cuối tháng 10) Mật độ quần thể trưởng thành đạt đỉnh cao vào thế hệ thứ 1, thứ 4 (giữa tháng 6, giữa tháng 7, đầu –cuối tháng 9, đầu tháng 10) Có 4 loài ký sinh chủ yếu: loài Dolichogenidea sp (họ Braconidae), loài Xanthopimpla punctata Fabriciu (họ Ichneumonidae), loài Brachymeria lasus Walker và loài Exorista sorbillans Wiedemann Riêng loài Dolichogenidea sp là một kẻ thù tự nhiêncủa sâu cuốn

lá L.indicata và khả năng ký sinh cao nhất khoảng 80% nó giữ một vai trò quan trọng trong việc kiểm soát mật độ quần thể L.indicata.(Mei-Xiang et al., 2011)

Các thí nghiệm được thực hiện trong các khu thí nghiệm đơn vị Tatas, Trung Kalimantan và Transmigration Đơn vị Belawang và Barambai, Nam Kalimantan, từ tháng 6 - tháng 9 năm 1994 Mục tiêu là để xác định loài sâu hại đậu tương và kẻ thù tự nhiên giữ vai trò kiểm soát mật độ sâu hại Các thí nghiệm cho thấy một số loài sâu hại phổ biến là: sâu khoang (Spodoptera litura F.), sâu cuốn lá đậu tương (Lamprosema indicata F.) và Plusia chalcites Esp Từ đó tìm được 7 loài côn trùng bắt mồi và 10 loài ký sinh với khả năng

ký sinh của Apanteles sp là 23,9-35,6%.(Wilis, 2000)

Theo Ching-Chin Chien et al (1984) nghiên cứu thấy rằng có 13 loài ký sinh sâu cuốn lá đậu tương được ghi nhận Loài Trichogramma chilonis Ishii

ký sinh trứng, 7 loài ký sinh ấu trùng (Apanteles inquisitor Wilk., Chelonus tabonus Sonan, Meteorus sp., Charops bicolor Szep., Temelucha sp., Elasmus philippinensis Ashm và Goniozus sp.) , 3 loài ký sinh cả ấu trùng và nhộng

Trang 16

(Brachymeria excarinata Gahan, B lasus và Carcelia sp.), và 2 ký sinh nhộng (Xanthopimpla punctata Fabr và Vulgichenumon diminutus Mats.) Trong số này, A inquisitor là chiếm ưu thế Các loài ký sinh thường ký sinh vào mùa xuân, mùa hè và mùa thu với tỉ lệ 30% và 35.2% Ngoài các loài ký sinh trên còn một số loài khác cũng giữ vai trò nhất định trong các loài như: Eocanthecona furcellata Wolff, Paederus fuscipes Curtis, Drypta lineola M'Leay, Geocoris sp., một số nhện bắt mồi cũng được tìm thấy sử dụng H indicata làm thức ăn.

2.1.4 Những nghiên cứu về bọ chân chạy

Bọ chân chạy là một nhóm vô cùng đa dạng của bộ cánh cứng (Coleoptera) với hơn 40.000 loài trên toàn thế giới, 2.000 trong số đó sống ở Bắc Mỹ Trưởng thành có kích thước từ 2mm đến hơn 35mm Chúng sống và hoạt động mạnh về đêm và sáng sớm, trong những bụi cỏ, lá cây rậm rạp là nơi trú ẩn tuyệt vời giúp chúng có thể tránh được nguy hiểm và ánh sáng mặt trời Trên cơ thể bọ chân chạy thường có màu sắc sặc sỡ, hoa văn óng ánh, chúng có đôi chân dài cho phép di chuyển nhanh để bắt được con mồi và tránh những kẻ săn đuổi khác Bọ chân chạy sống ở nhiều môi trường hệ sinh thái khác nhau, những đồng cỏ, rừng cây, khu vực dân cư sinh sống, cánh đồng (Cory Carvalho and Mary Barbercheck, 2010)

Từ năm 1997 đến năm 1999, có 124 loài tìm thấy tại trang trại trồng nho ở Quebec, Canada Trong đó xuất hiện một số loài phổ biến chiếm ưu thế Chlaenius sericeus (Forster), Clivina fossor (L.), Amara latior (Kirby),

và Harpalus herbivagus Hai loài mới định loại ở Châu Âu cũng xuất hiện phổ biến tại Canada giữa những năm 1997 và 1999: loài Harpalus rufipes (Duftschmid) vàPterostichus vernalis (Panzer) ( Henri Goulet et al.,

Trang 17

Theo nghiên cứu của Kuwayama and Oshima (1964) thì bọ chân chạy Calosoma maderae chinense Kby là loài côn trùng bắt mồi quan trọng trong việc kìm hãm mật độ Bộ cánh vảy (Lepidoptera) trên khắp nước Nhật và đặc biệt phong phú ở Hokkaido Họ đã quan sát chúng tấn công ấu trùng của Agrotis ypsilon (Hfn.), A.informis Leech, A segetum (Schiff.), ( fucosa Btlr.), Radinogoes ( Athetis ) lugens(Stgr.) và Mamestra brassicae (L.) tuổi 5-6 Các loại khác nhau của con mồi, trong đó có 42 loài thuộc bộ Lepidoptera, 3 loài thuộc bộColeoptera và 5 loài của bộ Orthoptera Trong số

16 loài bọ chân chạy được tìm thấy có 5 loài chiếm vị trí quan trong: Chlaenius posticalis Motsch.,

C pallipesGebl., Carabus tuberculosus Dej.Boisd., C Granulatus yezoensis Bates và Calathus halensis (Schall.)

Trong thời gian 3 năm (1994-1996) Melnychuk et al (2003) đã sử dụng bẫy để thu thập các loài bọ chân chạy ở các trang trại phía Tây Canada và bắt được 51 loài trong đó có một số loài phổ biến như: Bembidion quadrimaculatum Leconte, Bembidion obscurellum Motschulsky, Agonum placidum Say, Amara littoralis Mannerheim, Bembidion nitidum Kirby.

Chlaenius là một chi lớn và đa dạng chúng có nguồn gốc ở Palearctic (cả Châu Âu), phía đông và bắc của châu Phi, khu vực Afrotropical và Nearctic Trên thế giới, có khoảng 1.000 loài được công nhận phần lớn chúng

ở khu vực Afrotropical và Nearctic, ở Bắc Mỹ gồm 52 loài.

Theo King (1919) một trong những điều bất ngờ khi nghiên cứu về bọ chân chạy thì chi Chlaenius đẻ trứng bọc trong đất sét hoặc bùn và đẻ ở một nơi cao trên các lá cây và cây bụi.

Trang 18

Suenaga and Hamamura (1998) chỉ ra rằng loài Chlaenius micans và Chlaenius posticalis (đặc biệt là ấu trùng của các loài) có thể là côn trùng bắt mồi quan trọng đối với ấu trùng sâu tơ (Plutella xylostella L.), chúng có tỷ lệ tiêu thụ vật mồi cao và khả năng di chuyển trên các cây cả ở giai đoạn ấu trùng lẫn trưởng thành.

Hiroshi Suenaga and Tetsuzo Hamamura (2000) khi nghiên cứu các loài bọ chân chạy hoạt động theo mùa vụ trên cây bắp cải trong năm 1994-

1995, thấy rằng trưởng thành loài Chlaenius micans F hoạt động vào tháng 5

- tháng 7 và tháng 9 tuy nhiên ấu trùng chỉ tìm thấy trong tháng 5 - tháng 7 Thời gian hoạt động mạnh của loài Chlaenius micans F trùng với mật độ cao của ấu trùng sâu hại Như vậy, loài bọ chân chạy Chlaenius micans F có thể kiểm soát khả năng gây hại của một số loài sâu hại bắp cải.

Theo Katiyar et al (1976) khi nghiên cứu về thức ăn của chân chạy Chlaenius bioculatus Chaudoir thấy rằng chúng thích ăn nhất loài Polytella gloriosae F.

Zetto Brandmayr et al (2004) đã nghiên cứu hình vi hung hăng và ăn thịt đồng loại của ấu trùng các loài bọ cánh cứng thuộc chi Chlaenius, đặc biệt

là loài Chlaenius velutinus và Chlaenius spoliatus việc ăn thịt lẫn nhau có thể lên đến 20-50 %, hành vi này chịu sự chi phối của các yếu tố sinh thái (mật độ quần thể, thức ăn, tần số các cuộc gặp gỡ).

Loài Chlaenius velutinus Duftschmid xuất hiện nhiều ở phía nam của bán đảo Iberia Chúng được nghiên cứu về sinh học trong các phòng thí nghiệm, kết quả điều tra ở khu vực Arenosillo thu được Chlaenius velutinus thường xuất hiện nhiều vào mùa xuân, trong khoảng tháng 4 đến tháng 5, khả

Trang 19

năng sinh sản cao, một con cái có thể đẻ khoảng 10,05 quả, vòng đời khoảng 1 tháng khi nuôi trong điều kiện nhân tạo.( Cárdenas et al.,1999)

2.2 Những nghiên cứu trong nước

2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương

Điều kiện thời tiết không thuận lợi đã khiến sản lượng đậu tương nước

ta năm 2013 giảm 3% so với năm 2012, xuống còn 168 nghìn tấn Quy mô sản xuất nhỏ lẻ so với các loại cây trồng khác chính là nguyên nhân khiến ngành đậu tương vẫn không đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong nước Tổ chức USDA (Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ) dự báo nếu điều kiện thời tiết thuận lợi, diện tích gieo trồng đậu tương năm 2013 và 2014 lần lượt đạt 120 nghìn và 130 nghìn héc-ta, với mức sản lượng tăng nhẹ khoảng 176 và 192 nghìn tấn Khu vực trồng đậu tương chính tập trung ở vùng Đồng bằng sông Hồng, miền Bắc nước ta Theo USDA, sản lượng đậu tương trong những năm tới sẽ tăng và đạt được mục tiêu mà Chính phủ đã đề ra trong Quy hoạch Tổng thể cho ngành hạt có dầu là 350 nghìn héc-ta diện tích trồng trọt và 700 nghìn tấn sản lượng vào năm 2020 Tuy nhiên, năng suất nhìn chung vẫn còn thấp và việc mở rộng diện tích trồng trọt của ngành chưa cao, trong đó nguyên nhân chính là khả năng cạnh tranh của cây đậu tương.(Cục xúc tiến thương mại, 2014)

Năm 2012, sản lượng đậu nành nước ta giảm 34,3% so với cùng kỳ năm trước, xuống còn 175,2 nghìn tấn do thời tiết lạnh khác nghiệt vào cuối năm 2011 và đầu năm 2012 khiến cho năng suất và diện tích gieo trồng giảm mạnh Quy mô sản xuất vẫn còn tương đối nhỏ và tiếp tục không đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong nước USDA dự báo diện tích trồng đậu nành năm 2013 nước ta tăng khoảng 180 nghìn ha so với năm 2011 và sản lượng

Ngày đăng: 07/05/2017, 18:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w