1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Viện phí và bảo hiểm y tế

3 475 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 149,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN PHÍ 1.1 Khái niệm viện phí Viện phí hay còn gọi là phí khám chữa bệnh là hình thức chi trả trực tiếp các chi phí khám chữa bệnh tại thời điểm người bệnh sử dụng dịch vụ y tế hay nói

Trang 1

VIỆN PHÍ VÀ BẢO HIỂM Y TẾ

Mục tiêu: Sau khi học xong, sinh viên có thể:

1. Trình bày được khái niệm viện phí và bảo hiểm y tế (BHYT), mục đích của viện phí

và BHYT

2. Trình bày được các yếu tố cấu thành viện phí

3. Trình bày được mức hưởng BHYT, mức đóng và trách nhiệm đóng BHYT

4. Trình bày được một vấn đề khi thực hiện BHYT

1. VIỆN PHÍ

1.1 Khái niệm viện phí

Viện phí (hay còn gọi là phí khám chữa bệnh) là hình thức chi trả trực tiếp các chi phí khám chữa bệnh tại thời điểm người bệnh sử dụng dịch vụ y tế hay nói cách khác là

số tiền mà người bệnh phải trả trực tiếp từ tiền túi của mình khi sử dụng dịch vụ y tế

1.2 Mục đích của viện phí

1.2.1 Huy động các nguồn thu cho ngành y tế

1.2.2 Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế

Trong hệ thống y tế, việc sử dụng nguồn thu từ viện phí như thế nào cho phù hợp

và hiệu quả là rất quan trọng Có nhiều người cho rằng nguồn thu đó có thể sử dụng cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ và điều này góp phần thúc đẩy tăng thêm nguồn thu Nhiều nghiên cứu cho thấy bệnh nhân sẵn sàng chi trả nếu như họ biết chắc chắn là chất lượng dịch vụ tốt và thuốc được cung cấp đầy đủ (Shepart và cộng sự, 1987)

1.2.3 Thúc đẩy tính công bằng

Phí khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế nhà nước có thể giúp tăng cường công bằng bởi vì nhu cầu chăm sóc sức khỏe rất khác nhau giữa các nhóm thu nhập khác nhau Những người có mức thu nhập cao có khả năng và sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ y tế đắt tiền Như vậy tiền thu được từ phí khám chữa bệnh cho những người có nhu cầu và chấp nhận chi trả sẽ được sử dụng để hỗ trợ (hay là bù đắp chi phí do cung cấp dịch vụ) cho những người ít có khả năng chi trả hơn

1.3 Các yếu tố cấu thành viện phí

Các yếu tố cấu thành viện phí bao gồm:

1) Tiền lương, phụ cấp cho nhân viên y tế

2) Chi phí sửa chữa lớn tài sản

3) Chi phí khấu hao nhà cửa, trang thiết bị lớn

4) Chi phí đào tạo, nghiên cứu khoa học

5) Chi phí thuốc, vật tư sử dụng cho khám bệnh, ngày giường điều trị, dịch vụ kỹ thuật

6) Chi phí điện, nước, xử lý chất thải

7) Chi phí duy tu, bảo dưỡng, mua sắm thay thế các tài sản, công cụ, dụng cụ nhỏ theo định mức kinh tế kỹ thuật

Tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước, viện phí không được tính đủ chi phí (nghĩa là tính một phần viện phí), bao gồm các yếu tố:

Trang 2

1) Chi phí thuốc, vật tư sử dụng cho khám bệnh, ngày giường điều trị và dịch vụ kỹ thuật

2) Chi phí điện, nước, xử lý chất thải

3) Chi phí duy tu, bảo dưỡng, mua sắm thay thế các tài sản, công cụ, dụng cụ nhỏ định mức kinh tế kỹ thuật

Dự kiến đến năm 2016 sẽ tính thêm chi phí tiền lương, phụ cấp nên viện phí sẽ tăng

2. BẢO HIỂM Y TẾ

2.1 Khái niệm BHYT

“Bảo hiểm” là một từ được dùng rất rộng rãi, với khái niệm: Người sử dụng chi trả trước cho một dịch vụ nào đấy, mà người ta không dự đoán được khi nào sẽ sử dụng (có thể không bao giờ sử dụng) nhưng khi sử dụng thì chi phí rất lớn Bất kể một cá nhân hay tập thể nào đó cũng có thể mua bảo hiểm để giảm bớt hậu quả tài chính gặp phải khi tai nạn xảy ra Thông thường việc chi trả này không trực tiếp cho người cung ứng dịch vụ

mà thông qua một cơ quan bảo hiểm Khi người đóng bảo hiểm cần sử dụng loại dịch vụ

đó, cơ quan bảo hiểm sẽ thay mặt họ thanh toán cho người cung ứng dịch vụ

Tương tự như vậy, bệnh tật là một cái gì đó không mong muốn, có thể xảy ra với tất cả mọi người Nói cách khác, ai cũng có một xác suất mắc bệnh nào đó Khi mắc bệnh, ngoài việc phải chi trả phí để điều trị, người ta còn mất cả khả năng làm việc Và như vậy về tổng thể là khi mắc bệnh, có thể khỏi bệnh, tàn phế hay tử vong nhưng bao giờ cũng tổn thất lớn về tài chính Để giảm bớt tổn thất này, người ta mua BHYT

2.2 Mục đích của BHYT

Bản chất của BHYT là chia sẻ, phân tán nguy cơ và huy động nguồn tài chính cho

y tế Do vậy, chính sách này có tác động hết sức tích cực đến xã hội BHYT giúp tăng nguồn tài chính cho y tế rất lớn, góp phần tăng qui mô và chất lượng của các dịch vụ y tế phục vụ nhân dân, đồng thời giảm ngân sách đầu tư cho y tế để đầu tư cho các ngành quan trọng khác của đất nước Với BHYT, người nghèo không phải lo lắng là không được chăm sóc sức khoẻ khi bị đau yếu vì lý do không có tiền Nói cách khác BHYT đã làm tăng tính tiếp cận các dịch vụ y tế của người dân, đặc biệt là trong nhóm nghèo và cận nghèo Đây chính là biểu hiện của việc tăng tính công bằng trong chăm sóc sức khoẻ khi người giàu cũng như người nghèo đều có thể sử dụng các dịch vụ y tế lúc đau yếu Ngoài ra, việc chia sẻ nguy cơ tài chính giữa người khoẻ và người ốm; giữa người giàu

và người nghèo, thể hiện một tính nhân văn sâu sắc; vì thế xã hội ngày càng phát triển, người ta càng tiến tới BHYT toàn dân

2.3 Mức hưởng BHYT, mức đóng và trách nhiệm đóng BHYT

Nhấp chuột trái 2 lần (Double click) vào biểu tượng để mở 4 file đính kèm dưới đây

LUAT bhyt sua doi

2014.docx

Nghi dinh 105.docx

Thong tu lien tich 41.docx

Thong tu 37.docx

Trang 3

2.4 Một số vấn đề gặp phải khi thực hiện BHYT

- Thứ nhất là mọi người không nhận ra lợi ích mà BHYT mang lại nên họ không muốn tham gia hoặc sau một thời gian thì không tiếp tục tham gia nữa

- Thứ hai là tâm lý lạm dụng của thầy thuốc và của bệnh nhân tham gia BHYT

+ Sự lạm dụng của thầy thuốc xảy ra khi không có hợp đồng thỏa thuận chi tiết giữa cơ quan BHYT và bệnh viện cũng như không có sự giám sát chặt chẽ của cơ quan BHYT Vì lợi ích của mình, cơ sở y tế có thể cho bệnh nhân làm những xét nghiệm, dùng những thuốc hay dịch vụ không cần thiết, thậm chí thanh toán khống với cơ quan BHYT

Ví dụ: Vụ nhân bản xét nghiệm ở BV Hoài Đức năm 2012, BV đã thanh toán khống với

cơ quan BHYT 17 triệu đồng tiền BHYT

+ Tâm lý lạm dụng của bệnh nhân tham gia BHYT sẽ đi khám và sử dụng các dịch

vụ y tế quá nhiều và thậm chí là không cần thiết vì họ nghĩ BHYT sẽ thanh toán hết cho

họ Để hạn chế vấn đề này chính sách “đồng chi trả” đã ra đời và được áp dụng, nghĩa là

cả bệnh nhân và cơ quan BHYT cùng chi trả cho phí khám chữa bệnh của bệnh nhân Ví

dụ như ở Việt Nam trước ngày 01/7/2005, bệnh nhân trả 20% còn cơ quan BHYT trả 80% Khi phải chi trả dù là một khoản không lớn, người ta sẽ phải suy nghĩ xem có thật

sự cần phải chi khoản đó không? Điều đó làm giảm đáng kể sử dụng dịch vụ y tế, nhất là khi chưa thật cần thiết

- Thứ ba là “Sự lựa chọn ngược”: Chỉ những người yếu, biết mình sắp phải sử dụng dịch

vụ y tế tự nguyện tham gia BHYT Ví dụ, một người sắp phải vào viện để mổ thì trước đó anh ta sẽ đi mua BHYT Do các công ty BHYT tính phí BHYT dựa trên nguy cơ trung bình, những người có nguy cơ thấp có thể không tham gia BHYT và chỉ còn lại những người có nguy cơ cao hơn mức trung bình tham gia BHYT Khi đó hệ thống BHYT có thể sẽ không đủ khả năng chi trả Điều này cho thấy cần phải có những cơ chế bắt buộc chia sẻ nguy cơ, ví dụ như thông qua hệ thống pháp luật

- Thứ tư là hiện tượng “Hớt váng kem”: Cơ quan BHYT chỉ bán bảo hiểm cho những người khỏe Như vậy có khả năng là số tiền thu được sẽ không chi trả hết cho những người mua bảo hiểm và cơ quan bảo hiểm được hưởng

Ngày đăng: 06/05/2017, 20:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w