Khi vào bên trongcác tế bào, các acid béo có thể được sử dụng làm nhiênliệu hoặc lại tổng hợp thành các triglycerides, với glycerolmới được cung cấp bởi quá trình trao đổi chất của các t
Trang 1UNIT
CHƯƠNG 69
Chuyển hóa lipid
Một vài hợp chất hóa học trong thực phẩm và cơ thể được VẬN CHUYỂN LIPIDS TRONG DỊCH
phân loại vào lipid Lipid bao gồm: (1) chất béo trung tính CƠ THỂ
còn được gọi là triglycerides; (2) phospholipid; (3)
terol; (4) và m t vài ch t ít quan tr ng hơn B n ch t hóa
h c, ph n n a các lipid cơ b n c a triglycerid và phospho- BẠCH HUYẾT - THE CHYLOMICRONS
lipid là các acid béo, nó là m t chu i dài acid hydrocacbon
h u cơ M t acid béo đi n hình: acid palmitic công th c là CH3(CH2)14COOH.
M c dù cholesterol không ch a acid béo, nhưng h t béo trong chế độ ăn uống, ngoại trừ một số acid béo chuỗi
nhân sterol c a nó đư c t ng h p t các thành ph n c a ngắ, thì sẽ được hấp thu từ ruột vào hệ bạch huyết ruột.
phân t acid béo, do đó nó có nhi u tính ch t v t lý và hóa Trong quá trình tiêu hóa, nhất là các triglycerides sẽ được
Các triglycerid đư c s d ng trong cơ th ch y u đ qua tế bào biểu mô ruột các monoglycerides và acid béo
cung c p năng lư ng cho các quá trình trao đ i ch t khác được tái tổng hợp thành những phân từ triglycerides mới nhau, là ch c năng g n như g n b ng v i carbohydrates nhập vào hệ bạch huyết trong vài phút, những giọt phân Tuy nhiên, m t s ch t béo, đ c bi t là cholesterol, phos- tán được gọi là chylomicrons ( Hình 69-1 ),
pholipid và m t lư ng nh triglycerid, đư c s d ng đ có đường kính từ 0,08 tới 0,6 micron Một lượng nhỏ
c u t o màng c a t t c t bào trong cơ th và t o thành apoprotein B được hấp thụ vào bề mặt bên hấp thụ vào bề
nh ng c u trúc khác có ch c năng c a t bào mặt bên ngoài của các hạt chylomicron Phần còn lại của
do đó làm tăng sự ổn định của chylomicron trong dịch
TRIGLYCERIDES (CHẤT BÉO TRUNG TÍNH)
bạch huyết và ngăn sự bám dính của chúng vào thành Bởi vì hầu hết các chương đều đề cập đến việc sử dụng
triglycerides cung cấp năng lượng Vì cậy chúng ta cần
hiểu rõ cấu trúc hóa học sau đây của triglycerides.
mạch bạch huyết.
Hầu hết cholesterol và phospholipid được hấp thụ từ
hệ thống ruột vào trong chylomicron Vì thế dù chylomicron được cấu tạo chủ yếu từ triglycerides, chúng còn chứa khoảng 9% phospholipid, 3% cholesterol và 1%
apoprotein B Chylomicron sau đó được vận chuyển lên trên qua ống ngực và đổ vào chỗ hội lưu tĩnh mạch cảnh
và tĩnh mạch cánh tay đầu
SỰ BIẾN MẤT CỦA CÁC HẠT CHYLOMICRON TRONG MÁU.
Khoảng một giờ sau bữa ăn có chứa một lượng lớn chất béo, nồng độ chylomicron trong huyết tương có thể tăng lên 1-2% huyết tương toàn phần, và bởi vì kích thước các hạt chylomicron lớn làm cho huyết tương xuất hiện đục
và đôi khi có màu vàng Tuy nhiên, các hạt chylomicron
có thời gian tồn tại dưới 1 giờ, vì vậy huyết tương trở nên trong trở lại sau vài giờ Chất béo trong các hạt
chylomicron được phân giải theo các cách chủ yếu sau:
863
Tristearin Đây là cấu trúc gồm 3 phân tử acid béo chuỗi dài kết
nối với nhau bằng một phân tử glycerol Ba acid béo phổ biến hiện nay cấu tạo triglycerides trong cơ thể con người là: (1) acid strearic (ví dụ tristerin), nó là chuỗi gồm 18C
và bão hòa đủ các nguyên tử hydro; (2) acid oleic, cũng là chuỗi 18C nhưng có một liên kết đôi ở giữa chuỗi; và (3) acid palmitic có 16C và hoàn toàn bão hòa.
COO
COO
COO
Edi ith the trial version of Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 2Unit XIII Cơ chế chuyển hóa và nhiệt độ
được tiết ra bởi các tế bào gan cũng đóng vai trò quan trọng trong việc khởi phát loại trừ các lipoproteins huyết tương
Chylomicron Triglycerides được thủy phân bởi
Lipoprotein Lipase, và chất béo được dự trữ
trong mô mỡ.
Hầu hết các chylomicron được loại bỏ ra khỏi máu tuầnhoàn khi
đi qua mao mạch ở các mô khác nhau, nhất là
mô mỡ, cơ xương, và tim Mô mỡ tổng hợp các enzym
lipoprotein lipase, nó được vận chuyển tới bề mặt các tếbào biểu
mô mao mạch, nơi nó sẽ thủy phân cáctriglycerides của
chylomicron khi chúng tiếp xúc với
thành biểu mô, do đó làm giải phóng các acid béo vàglycerol
(xemHình 69-1).
Các acid béo giải phóng từ các chylomicronđược chorằng
có thể trộn với màng tế bào, khuếch tán vào trong
các tế bào mỡ của mô mỡ và tế bào cơ Khi vào bên trongcác tế
bào, các acid béo có thể được sử dụng làm nhiênliệu hoặc lại
tổng hợp thành các triglycerides, với glycerolmới được cung cấp
bởi quá trình trao đổi chất của các tếbào dự trữ như được thảo
luận sau trong chương này Cáclipase ngoài ra cũng có thể thủy
phân các phospholipids,làm giải phóng các acid béo được dự trữ
trong các tế bàotheo cùng một cách
Sau khi triglycerides được loại bỏ khỏi chylomicrons,lượng
cholesterol phong phú chylomicron còn lại sẽ được
làm sạch khỏi huyết tương Các chylomicron còn lại sẽ gắn với
các receptor trên các tế bào nội mô trong xoang gan Các hạt
864
H ình 691. Tóm tắt các con đường của quá trình chuyển hóa tổng hợp chylomicron ở ruột và tổng hợp VLDL ở gan (very low density lipoprotein) Apo B, apolipoprotein; Apo E, apolipoprotein E, FFA, acid béo tự do; IDL (intermediate density lipoprotein); LDL (low density lipoprotein); LPL (lipoprotein lipase)
FFA
Ch ất béo
trung tính và
cholesterol
Chylomicrons
acid m ật
LDL receptors Remnant
receptors
Chylomicron remnants LPL
LPL
FFA
FFA
Ru ột
Mô m ỡ
Mô ngo ại vi
Apo E mediated
Apo E mediated Apo B mediated
“Acid béo tự do" được vận chuyển trong máu
dưới dạng kết hợp với Albumin
Khi chất béo được dự trữ trong các mô mỡ được sửdụng ở các nơi khác trong cơ thể để cung cấp nănglượng, đầu tiên
nó phải được vận chuyển từ mô mỡtới các mô khác Nó được vận chuyển chủ yếu dưới hình thức các acid béo tự
do Sự vận chuyển nàyđược thực hiện bằng cách thủy phân các triglyceridestrở thành các acid béo và glycerol
trọng trong việc thúc đẩy quá trình thủy phânnày Đầu tiên, khi lượng glucose có trong các tế bào mỡ không đủ, thì một trong các sản phẩm phân hủycủa glucose là
α-glycerophosphatetồn tại với số lượng không đủ Bởi vì chất này là cần thiết để duy trì phầnglycerol của triglycerides, dẫn đến thủy phân triglycerides Thứ hai, một số lipase của các tế bào
Trang 3Chương 69 Chuyển hóa lipid
loại dựa trên tỷ trọng của chúng được do trong ly tâm: (1) lipoprotein tỷ trọng rất thấp (VLDL), nó chứa hàm lượng cao triglycerides và hàm lượng trung bình cả cholesterol và phospholipid; (2) lipoprotein tỷ trọng trung bình (IDL), nó
là VLDL đã loại đi một phần triglycerides, do đó nồng độ cholesterol và phospholipid tăng lên; (3) lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL), có nguồn gốc từ IDL bằng cách loại bỏ gần như hoàn toàn triglycerides để nồng độ cholesterol và phospholipid tương đối cao; và (4) lipoprotein tỷ trọng cao (HDL), nó chứa nồng độ cao protein (khoảng 50%) nhưng lại chứa nồng độ nhỏ hơn cholesterol và phospholipid
Sự hình thành và chức năng của các lipoprotein
Hầu hết các lipoprotein được hình thành ở gan, đó cũng là nơi mà hầu hết các cholesterol huyết tương, phospholipid
và triglycerides được tổng hợp Ngoài ra, lượng nhỏ HDL cũng được tổng hợp ở biểu mô ruột trong quá trình hấp thu acid béo từ ruột
thành phần lipid trong máu Các VLDL vận chuyển triglycerides được tổng hợp chủ yếu trong gan tới mô mỡ, trong khi các lipoprotein khác đặc biệt quan trọng trong vận chuyển các dạng khác của phospholipid và cholesterol từ gan tới các mô ngoại vi hoặc từ ngoại vi về gan Ở phần sau trong chương này, chúng ta sẽ thảo luận chi tiết hơn về sự vận chuyển cholesterol liên quan tới bệnh xơ vữa động mạch, bệnh gắn liền với sự phát triển của tổn thương do chất béo ở bên trong thành động mạch
Nơi tích trữ chất béo
Mô mỡ
Số lượng lớn chất béo được dự trữ trong hai mô chính của
cơ thể là mô mỡ và ở gan Mô mỡ thường được gọi là nơi tích trữ chất béo, hoặc chỉ đơn giản là mô chất béo
cho đến khi chúng cần sử dụng để cung cấp năng lượng ở nơi khác trong cơ thể Ngoài ra nó còn có chức năng là vật cách nhiệt cho cơ thể, như thảo luận trong Chương 72
C ác t ế bào mỡ dự trữ Triglycerides. Các tế bào mỡ của
mô mỡ là một dạng nguyên bào sợi, nơi dự trữ hầu hết triglycerides tinh khiết với số lượng lớn từ 80-95% tổng số
tế bào Triglycerides ở bên trong của tế bào mỡ ở dạng lỏng Khi các mô tiếp xúc với lạnh trong thời gian dài khoảng vài tuần, các chuỗi acid béo của các triglycerides tế bào trở thành dạng ngắn hơn hoặc dạng không bão hòa để làm giảm điểm nóng chảy của chúng, do đó luôn luôn cho phép chất béo có thể duy trì ở trạng thái lỏng Đặc điểm này đặc biệt quan trọng vì chỉ có chất béo ở thể lỏng mới có thể bị thủy phân và vận chuyển từ các tế bào đi
và triglycerid từ carbohydrates; chức năng này bổ sung cho tổng hợp chất béo ở gan, như thảo luận sau trong chương này
nhạy cảm hormone có thểđược kích hoạt bởi một số hormon từ các tuyến nội tiết và thúc đẩy nhanh quá trình thủy phân triglycerides Vấn đề này sẽ được thảo luận sau trong chương này
Sau khi ra khỏi các tế bào mỡ, acid béo ion hóa mạnh
trong huyết tương và phần ion kết hợp với phân tử albumin của protein huyết tương Acid béo kết hợp theo cách này được gọi là acid béo tự do hoặc acid béo chưa este hóa, để phân biệt với các acid béo khác trong huyết tương tồn tại dưới các hình thức: (1) este của glycerol, (2) cholesterol, hoặc (3) các chất khác
Nồng độ các acid béo trong huyết tương dưới trạng thái
nghỉ là khoảng 15 mg/dl, tức là chỉ có 0,45g acid béo trong toàn bộ hệ tuần hoàn Ngay cả khi nó nhỏ như vậy nhưng lại chiếm gần như toàn bộ dạng vận chuyển của acid béo từ một phần của cơ thể tới các phần khác vì những lý do sau đây:
1 Mặc dù thời gian tồn tại của acid béo trong máu tính theo phút, nhưng tốc độ đổi mới của nó đặc biệt nhanh: một nửa acid béo huyết tương được thay thế bởi acid béo mới trong 2-3 phút Người ta có thể tính toán được rằng với tốc độ này, gần như tất cả yêu cầu về năng lượng bình thường của cơ thể có thể được cung cấp bởi
sự oxi hóa các acid béo được vận chuyển dạng tự do, mà không cần sử dụng carbohydrates hay protein thêm
2 Điều kiện làm tăng tốc độ sử dụng chất béo cung cấp năng lượng cho tế bào cũng đồng thời làm tăng nồng độ acid béo tự do trong máu; trên thực thế, nồng độ này đôi khi tăng gấp 5 tới 8 lần Ví dụ: sự tăng mạnh có thể xảy
ra đặc biệt trong các trường hợp bị bỏ đói lâu ngày và trong bệnh đái tháo đường; trong cả 2 trường hợp này, đều xuất phát từ những người không có năng lượng được chuyển hóa từ carbohydrates
Trong điều kiện bình thường, chỉ khoảng 3 phân tử acid béo liên kết với một phân tử albumin, nhưng nhu cầu acid béo dạng vận chuyển lớn thì có khoảng 30 phân tử acid béo
có thể liên kết với một phân tử albumin Điều này cho thấy
tỷ lệ lipid dạng vận chuyển có thể thay đổi dưới các điều kiện sinh lý khác nhau
Lipoproteins— C ó ch ức năng đặc biệt trong vận chuyển Cholesterol v à Phospholipids
Trong trạng thái sau hấp thụ (postabsorptive), sau khi tất cả các chylomicron được loại ra khỏi máu, thì hơn 95% tổng
số lipid trong huyết tương ở dạng lipoprotein Dạng vận chuyển này nhỏ hơn các chylomicron, nhưng thành phần tương tự cũng chứa: triglycerides, cholesterol,
phospholipid, và protein Tổng nồng độ lipoproteins trong huyết tương trung bình khoảng 700 mg mỗi 100 ml huyết tương hay là 700 mg/dl và chứa nồng độ các chất như dưới:
mg/dl trong huyết tương
C ác loại Lipoprotein. Ngoài các chylomicron, còn có một lượng lớn lipoproteins, có 4 loại lipoprotein chính, phân
“Free Fatty Acids” Are Transported in the Blood
in Combination With Albumin
When fat that has been stored in the adipose tissue is to be
used elsewhere in the body to provide energy, it must first
be transported from the adipose tissue to the other tissue
It is transported mainly in the form of free fatty acids This
transport is achieved by hydrolysis of the triglycerides back
into fatty acids and glycerol
At least two classes of stimuli play important roles in
promoting this hydrolysis First, when the amount of
glucose available to the fat cell is inadequate, one of the
glucose breakdown products, α-glycerophosphate, is also
available in insufficient quantities Because this substance
is required to maintain the glycerol portion of triglycerides,
the result is hydrolysis of triglycerides Second, a
hormone-sensitive cellular lipase can be activated by several
hor-mones from the endocrine glands, and this also promotes
Trang 4Unit XIII C ơ ch ế chuy ể n hóa và nhi ệ t độ
Sử dụng triglycerides cung cấp năng lượng:
Sự tạo thành Adenosine Triphosphate
Với chế độ ăn uống chất béo khác nhau ở những người thuộc các nền văn hóa khác nhau, trung bình có ít nhất 10-15 % tổng lượng calo đối với người châu Á và đối với người phương Tây nhiều hơn là khoảng 35-50% lượng calo Đối với nhiều người, việc sử dụng chất béo cung cấp năng lượng quan trọng tương đương sử dụng carbohydates cung cấp năng lượng Ngoài ra, lượng lớn carbohydrates ăn vào trong mỗi bữa được chuyển đổi thành triglycerides dự trữ và sử dụng sau này dưới dạng các acid béo được giải phóng từ các triglycerides để cung cấp năng lượng
Thủy phân triglycerides tạo acid béo và glycerol
Giaiđoạn đầu tiên trong quá trình sử dụng triglycerides cung cấp năng lượng là thủy phân chúng tạo các acid béo
và glycerol Sau đó, cả acid béo và glycerol đều được vận chuyển trong máu tới các mô hoạt động, nơi chúng sẽ bị oxy hóa để cung cấp năng lượng Hầu như tất cả các tế bào, ngoại trừ một vài trường hợp ngoại lệ, thì ví dụ như mô não
và hồng cầu có thể sử dụng acid béo cung cấp năng lượng
chuyển đổi bởi enzyme nội bào thành glycerol-3-phosphat, sau đó đi vào con đường đường phân của glucose và từ đó cung cấp năng lượng Trước khi các acid béo có thể sử dụng
để cung cấp năng lượng, chúng phải được xử lý trong các ty thể
hóa và oxy hóa các acid béo chỉ xảy ra trong ty thể Trong
đó, bước đầu tiên trong việc sử dụng các acid béo là chúng phải được vận chuyển vào trong ty thể Quá trình này chất mang được sử dụng là carnitine giống như là chất vận chuyển Sau đó vào bên trong ty thể, các acid béo tách khỏi carnitine và được thoái hóa và oxy hóa
bằng cách beta oxy hóa. Phân tử acid béo bị thoái hóa trong ty thể thành các phân đoạn 2C ở dạngacetyl coenzyme
A (acetyl-CoA)
Quá trình nàyđược thể hiện như trongHình 69-2 ,được gọi
là quá trình beta-oxy hóađể thoái hóa các acid béo
Đểhiểuđược các bước quan trọng trong quá trình beta-oxy hóa, cần chú ý phương trình 1 trong Hình 68-2,
bước đầu tiên là sự kết hợp của phân tử acid béo với coenzyme A (CoA) để hình thành acyl-CoA Trong phương trình 2, 3 và 4, carbon beta (C thứ hai từ bên phải) của chất
Lipase trong mô mỡ cho phép chuyển đổi dạng chất béo giữa mô mỡ và máu. Như thảo luận trước đó,
lượng lớn lipase có mặt trong các mô mỡ Một số các
enzyme xúc tác cho sự lắng động của triglycerides trong tế
bào từ chylomicron và lipoproteins Một số khác được kích
hoạt bởi hormone, là nguyên nhân phân cắt các triglycerides
trong các tế bào mỡ để giải phóng các acid béo tự do Bởi
vì sự trao đổi nhanh chóng của các acic béo, mà triglycerides
trong các tế bào mỡ được đổi mới trong 2-3 tuần, nó có
nghĩa là chất béo được dự trữ trong mô mỡ
ngày hôm nay không giống với chất béo được dự trữ của
một tháng trước, do đó nó nhấn mạnh sự đổi mới của chất
béo dự trữ
Lipid ở Gan
Chức năng chính của gan trong chuyển hóa lipid là: (1)
giáng hóa các acid béo thành các hợp chất nhỏ hơn có thể
được sử dụng để tạo năng lượng; (2) tổng hợp triglycerid,
chủ yếu từ carbohydrates, và ít hơn từ các protein; và (3)
tổng hợp các dạng lipid khác từ acid béo, đặc biệt là
cholesterol và phospholipid
Lượng lớn triglycerides xuất hiện trong gan (1) trong
giai đoạn đầu của tình trạng đói lâu ngày, (2) trong bệnh
đái tháo đường, và (3) trong bất kỳ tình trạng nào khác khi
chất béo được sử dụng cung cấp năng lượng thay vì là
carbohydrates Trong những tình trạng này, số lượng lớn
các triglycerides được huy động từ các mô mỡ, các acid béo
tự do được vận chuyển trong máu và chuyển tới gan, nơi
chúng được được thoái hóa đầu tiên Do đó, trong điều kiện
sinh lý bình thường, tổng lượng triglycerides trong gan
được xác định bằng cách tính tốc độ sử dụng chất béo tạo
năng lượng Gan cũng có thể lưu trữ một lượng lớn chất
béo trong tình trạng loạn dưỡng mỡ, một tình trạng đặc
trưng bởi suy dinh dưỡng hoặc khiếm khuyết di truyền của
các tế bào mỡ
Các tế bào gan ngoài chứa triglycerides, còn chứa lượng
lớn phospholipid và cholesterol, chúng liên tục được tổng
hợp ở gan Ngoài ra, các tế bào gan còn khử bão hòa các
acid béo nhiều hơn ở các mô khác, do đó triglycerides gan
bình thường ở dạng không bão hòa nhiều hơn triglyceides ở
mô mỡ Khả năng khử bão hòa của gan có chức năng quan
trọng đối với tất cả các mô của cơ thể bởi
vì nhiều yếu tố cấu trúc của tất cả các tế bào có chứa các
chất béo không bão hòa, và chúng có nguồn gốc từ gan Quá
trình khử bão hòa này thực hiện nhờ một enzyme
dehydrogenase trong các tế bào gan
(1) RCH2CH2CH2COOH + CoA + ATP
(Fatty acid)
Thiokinase
Acyl dehydrogenase
Enoyl hydrase
(2) RCH2CH2CH2COCoA + FAD
RCH2CHOHCH2COCoA RCH2CH=CHCOCoA + FADH2 RCH2CH2CH2COCoA + AMP + Pyrophosphate
(Fatty acyl-CoA)
(Fatty acyl-CoA)
-Hydroxyacyl
(4) RCH2CHOHCH2COCoA + NAD + RCH2COCH2COCoA + NADH + H +
dehydrogenase Thiolase
(5) RCH2COCH2COCoA + CoA RCH2COCoA + CH3COCoA
(Fatty acyl-CoA) (Acetyl-CoA)
H ình 692. Beta-oxidation acid béo để tạo acetyl-CoA.
(3) RCH2CH=CHCOCoA + H2O
Trang 5Chapter 69 Lipid Metabolism
được
tạo thành trong quá trình oxy hóa hoàn toàn một phân tử
acid stearic Tuy nhiên, hai liên kết giàu năng lượng đã được tiêu thụ trong quá trình kết hợp CoA với các phân tử acid stearic, nên tóm lại chỉ lợi ra 146 ATP
Sự tạo thành acid Acetoacetic trong gan và sự vận chuyển nó trong máu
Một phần lớn sự thoái hóa các acid béo xảy ra trong gan, đặc biệt khi một lượng lớn lipid được sử dụng để tạo năng lượng Tuy nhiên, gan chỉ sử dụng một tỷ lệ nhỏ các acid béo cho quá trình trao đổi chất của nó Thay vào đó, khi các chuỗi acid béo đã được chia thành các acetyl-CoA, hai phân
tử acetyl-CoA liên kết với nhau tạo thành một phân tử acid acetoacetic, nó sai đó sẽ được vận chuyển trong máu tới các
tế bào khác trong suốt cơ thể, nơi chúng được sử dụng tạo năng lượng Quá trình hóa học này được mô tả sau đây:
các tb gan
2CH3COCoA+H2 O< - ->
các tb khác
Acetyl-CoA
Một phần acid acetoacetic được chuyển thành acid β-hydroxybutyric, và số lượng nhỏ được chuyển đổi thành acetone, nó được mô tả theo phản ứng sau:
khuếch tán tự do qua màng tế bào gan và được vận chuyển trong máu tới các mô ngoại vi Ở đây, chúng lại được khuếch tán vào trong tế bào, nơi lặp ngược lại các phản ứng xảy ra và phân tử acetyl-CoA được tạo thành Các phân tử
đó lần lượt tham gia vào chu trình citric và bị oxy hóa tạo năng lượng, như đã giải thích
Thông thường, các acid acetoacetic và acid β-hydroxybutyric sau khi đi vào máu được vận chuyển rất nhanh đến các mô, làm cho nồng độ của chúng trong huyết tương ít khi tăng trên 3 mg/dl Tuy nhiên, dù với nồng độ nhỏ trong máu, thực sự vẫn có một số lượng lớn được vận chuyển, cũng giống như vận chuyển các acid béo tự do Tốc
béo acyl-CoA gắn với một phân tử oxy, đó được gọi là carbon beta bị oxy hóa
Sauđó trong phương trình 5, đoạn bên phải của phân tử
tính từ hai carbon bị cắt ra và giải phóng acetyl-CoA vào dịch tế bào Đồng thời, một phân tử CoA khác gắn vào đầu của phần còn lại của phân tử acid béo, và do đó một phân
tử chất béo acyl-CoA mới được hình thành; tuy nhiên phân
tử này ngắn hơn phân tử ban đầu do đã mất một acetyl-CoA từ đầu của nó
Tiếp theo, chuỗi acyl-CoA ngắn hơn này tiếp tục đi vào phương trình 2 và qua các phương trình 3,4 và 5 để giải phóng các phân tử acetyl-CoA khác Ngoài các phân tử acetyl-CoA được giải phóng thì 4 nguyên tử hydro cũng được giải phóng từ các phân tử acid béo cùng lúc đó, chúng hoàn toàn tách biệt với các acetyl-CoA
Quá trình oxy hóa Acetyl-CoA. Phân tử acetyl-CoA
được tạo thành từ quá trình beta oxy hóa các acid béo trong
ty thể ngay lập tức sẽ đi vào chu trình acid citric (xem Chương 68), chúng kết hợp với acid oxaloacetic hình thành acid citric, sau đó thoái hóa thành carbon dioxide và nguyên tử hydro Các nguyên từ hydro sau đó bị oxy hóa bởi hệ thống oxy hóa thẩm thấu của ty thể như được giải thích trong Chương 68 Các phản ứng liên tiếp trong chu trình acid citric đối với mỗi phân tử acetyl-CoA được mô tả sau đây:
CH3COCoA+Oxaloacetic acid+3H2O+ADP
-→ 2CO2+8H+HCoA+ATP+Oxaloacetic acid Như vậy, sau khi thoái hóa các acid béo thành
CoA, chúng tiếp tục đi vào chu trình citric như các acetyl-Coa được hình thành từ acid pyruvic trong quá trình chuyển hóa glucose Các nguyên tử hydro tạo ra cũng bị oxy hóa bởi hệ thống oxy hóa thẩm thaais của ty thể, được sử dụng trong quá trình oxy hóa carbohydrates, giải phóng một lượng lớnadenosine triphosphate (ATP)
oxy hóa chất béo TrongHình 69-2 ,chú ý rằng có 4 nguyên tử hydro được giải phóng mỗi lần một phân tử acetyl-CoA được tách ra từ các chuỗi acid béo được giải phóng dưới các dạng:flavin adenine dinucleotide (FADH2), nicotinamide adenine dinucleotide (NADH), và H + Dođó, đối với mỗi phân tử acid béo stearic được phân cắt tạo 9 phân tử acetyl-CoA, 32 nguyên tử hydro cũng được tạo ra
Ngoài ra, đối với mỗi phân tử trong 9 phân tử acetyl-CoA được tạo ra sẽ đi vào chu trình citric, và hơn 8 nguyên tử hydro nữa sẽ được giải phóng, tổng 72 nguyên tử hydro
Như vậy tổng cộng 104 nguyên tử hydro được giải phóng trong quá trình thoái hóa mỗi phân tử acid stearic Trong
đó, 34 nguyên tử được giải phóng từ quá trình thoái hóa acid béo dưới dạng kết hợp với flavoprotein và 70 nguyên
tử được giải phóng dưới dạng kết hợp với nicotinamide adenine dinucleotide (NAD+) như là NADH và H+
Hai nhóm nguyên tử hydro bị oxy hóa trong ty thể, như
đã thảo luận trong Chương 68, nhưng chúng đi vào hệ thống oxy hóa tại các điểm khác nhau Do đó, một phân tử ATPđược tổng hợp bằng mỗi phân tử flavoprotein hydro trong số 34 phân tử; và 1,5 phân tử ATP được tổng hợp từ mỗi phẩn tử trong tổng số 70 NADH và H+ Từ đây 34 cộng
105 bằng 139 phân tử ATP được tạo thành bởi quá trình oxy hóa hydro bắt nguồn từ mỗi phân tử acid stearic Ngoài
ra 9 phân tử ATP khác được tạo thành trong chu trình acid citric (khác so với ATP được giải phóng bởi quá trình oxi hóa hydro), mỗi phân tử tương ứng với mỗi phân tử
acetyl-reasonable quantities of unsaturated fats, and their princi-pal source is the liver This desaturation is accomplished by
a dehydrogenase in the liver cells
Use of Triglycerides for Energy: Formation of Adenosine Triphosphate
The dietary intake of fat varies considerably in persons of different cultures, averaging as little as 10 to 15 percent of caloric intake in some Asian populations to as much as 35
to 50 percent of the calories in many Western populations
For many persons the use of fats for energy is therefore as important as the use of carbohydrates In addition, many
of the carbohydrates ingested with each meal are converted into triglycerides, stored, and used later in the form of fatty
acids released from the triglycerides for energy
Hydrolysis of Triglycerides Into Fatty Acids and Glycerol The first stage in using triglycerides for energy is their hydrolysis into fatty acids and glycerol Then, both the fatty acids and the glycerol are transported in the blood to the active tissues, where they will be oxidized to give energy Almost all cells—with some exceptions, such as brain tissue and red blood cells—can use fatty acids for
energy
Glycerol, upon entering the active tissue, is
immedi-ately changed by intracellular enzymes into glycerol-3-phosphate, which enters the glycolytic pathway for glucose
breakdown and is thus used for energy Before the fatty acids can be used for energy, they must be processed
further in the mitochondria
Entry of Fatty Acids Into Mitochondria Degradation and oxidation of fatty acids occur only in the mitochondria
Therefore, the first step for the use of fatty acids is their transport into the mitochondria This carrier-mediated
process uses carnitine as the carrier substance Once inside
the mitochondria, fatty acids split away from carnitine and are degraded and oxidized
Degradation of Fatty Acids to Acetyl Coenzyme A by BetaOxidation The fatty acid molecule is degraded in the mitochondria by progressive release of two-carbon
seg-ments in the form of acetyl coenzyme A (acetyl-CoA) This
process, which is shown in Figure 69-2, is called the
beta-oxidation process for degradation of fatty acids.
To understand the essential steps in the beta-oxidation
process, note that in Equation 1 in Figure 68-2, the
first step is combination of the fatty acid molecule with
supplements the synthesis of fat in the liver, as discussed
later in the chapter
Tissue Lipases Permit Exchange of Fat Between
Adipose Tissue and the Blood As discussed earlier, large
quantities of lipases are present in adipose tissue Some of
these enzymes catalyze the deposition of cell triglycerides
from the chylomicrons and lipoproteins Others, when
activated by hormones, cause splitting of the triglycerides
of the fat cells to release free fatty acids Because of the
rapid exchange of fatty acids, the triglycerides in fat cells
are renewed about once every 2 to 3 weeks, which means
that the fat stored in the tissues today is not the same fat
that was stored last month, thus emphasizing the dynamic
state of storage fat
Liver Lipids
The principal functions of the liver in lipid metabolism are
to (1) degrade fatty acids into small compounds that can
be used for energy; (2) synthesize triglycerides, mainly
from carbohydrates, but to a lesser extent from proteins as
well; and (3) synthesize other lipids from fatty acids,
espe-cially cholesterol and phospholipids
Large quantities of triglycerides appear in the liver (1)
during the early stages of starvation, (2) in diabetes
melli-tus, and (3) in any other condition in which fat instead of
carbohydrates is being used for energy In these conditions,
large quantities of triglycerides are mobilized from the
adipose tissue, transported as free fatty acids in the blood,
and redeposited as triglycerides in the liver, where the
initial stages of much of fat degradation begin Thus, under
normal physiological conditions, the total amount of
tri-glycerides in the liver is determined to a great extent by the
overall rate at which lipids are being used for energy
The liver may also store large amounts of lipids in
lipo-dystrophy, a condition characterized by atrophy or genetic
deficiency of adipocytes
The liver cells, in addition to containing triglycerides,
contain large quantities of phospholipids and cholesterol,
which are continually synthesized by the liver Also, the
liver cells are much more capable of desaturating fatty acids
than are other tissues, and thus liver triglycerides normally
are much more unsaturated than the triglycerides of
adipose tissue This capability of the liver to desaturate
fatty acids is functionally important to all tissues of the
body because many structural elements of all cells contain
O
O
Acetoacetic acid
Acetone
OH
O
+ 2H
O
-Hydroxybutyric acid
Trang 6Unit XIII Metabolism and Temperature Regulation
độvận chuyển nhanh các chất này do chúng cóđộtan cao
với màng của các tế bào dích, vì thế cho phép chúng có khả
năng khuếch tán nhanh chóng vào trong các tế bào
Ketosis trong đói lâu ngày, bệnh tiểu đường, và
cácbệnh khác. Nồng độ acid acetoacetic, acid
β-hydroxybutyric, và aceton đôi khi tăng lên gấp nhiều lần
bình thường ở trong máu và dịch kẽ; tình trạng này được
gọi là ketosis bởi vì acid acetoacetic là một acid keto
Ba hợp chất này được gọi là thể ketone Ketosis xảy ra đặc
biệt là sau khi đói lâu ngày, ở những người bị đái tháo
đường, và đôi khi ngay cả khi chế độ ăn uống của một
người gồm hầu hết là chất béo Trong tất cả các trường hợp
này, cơ bản không có chuyển hóa carbohydrates trong đói
lâu ngày và với một chế độ ăn giàu chất béo bởi vì không
có carbohydrates, và trong đái tháo đường bởi vì không có
insulin để vận chuyển glucose vào trong tế bào
Khi carbohydrates khôngđược sử dụng để cung cấp năng lượng, thì hầu hết tất cả năng lượng của cơ thể phải
được cung cấp từ quá trình trao đổi chất béo Chúng ta sẽ
thấy nó ở phần sau trong chương này, đó là khi không có
sẵn carbohydrates nên tự động làm tăng tốc độ phân giải
các acid béo từ mô mỡ Ngoài ra, một vài yếu tố nội tiết
như là: vỏ tuyến thượng thận tăng tiết glucocorticoids, tụy
tăng tiết glucagon, và tụy giảm tiết insulin, do đó làm giải
phân giải các acid béo ở các mô mỡ Kết quả là số lượng
lớn acid béo xuất hiện (1) để các tế bào ngoại vi sử dụng để
tạo năng lượng và (2) tới các tế bào gan, nơi mà nhiều acid
béo được chuyển đổi thành thể ketone
Thể ketone đi ra khỏi gan được mang tới các tế bào Vì
nhiều lý do, các tế bào được giới hạn số lượng thể ketone
có thể bị oxy hóa Trong đó lý do quan trọng nhất là một
trong những sản phẩm của quá trình chuyển hóa
carbohydrat là oxaloacetate liên kết với acetyl-CoA trước
khi nó có thể được đi vào chu trình citric Vì thế, sự thiếu
hụt oxaloacetate có nguồn gốc từ carbohydrates sẽ hạn chế
sự đi vào của acetyl-CoA vào trong chu trình citric, và khi
giải phóng ra cùng một lúc lượng lớn acid acetoacetic và
các thể ketone khác từ gan xảy ra, nồng độ acid acetoacetic
và acid β-hydroxybutyric đôi khi tăng lên gấp 20 lần bình
thường, do đó dẫn tới toan mạnh, như đã nói đến trong
Chương 31
Acetoneđược hình thành trong ketosis là một chất dễ
bay hơi, một số lượng nhỏ được đẩy ra ngoài không khí qua
phổi, do đó hơi thở có mùi acetone thường được dùng làm
một tiêu chuẩn để chẩn đoán ketosis
Thích ứng với chế độ ăn giàu chất béo. Khi thay
đổi chậm từ một chế độ ăn carbohydrates chuyển thành chế
độ ăn gần như hoàn toàn là chất béo, cơ thể một người sẽ
thích ứng với việc sử dụng nhiều acid acetoacetic nhiều hơn
bình thường, và trong trường hợp này, ketosis bình thường
không xảy ra Ví dụ, ở Inuit (Eskimos), đôi khi họ ăn chế độ
ăn nhiều chất béo, nhưng không xảy ra ketosis Chắc
chắn, một số yếu tố, nhưng không rõ ràng, đã nâng cao tỷ lệ
chuyển hóa acid acetoacetic trong các tế bào Sau đó một
vài tuần, thậm chí các tế bào não thường lấy năng lượng hầu
như hoàn toàn từ glucose, cũng có thể sử dụng 50-70%
năng
lượng.từ chất béo
COOH (Acetyl-CoA carboxylase)
C
H ình 693. Tổng hợp các acid béo
B ước 1:
B ước 2:
Malonyl-CoA
Tổng hợp các Triglycerides từ Carbohydrates
Bất cứ khi nào một số lượng lớn carbohydrates đi vào cơ thể nhiều hơn lượng cần thiết để tạo năng lượng ngay lúc
đó hoặc có thể dự trữ dưới dạng cấu trúc glycogen, lượng
dư thừa này sẽ nhanh chóng được chuyển đổi thành triglycerides và dự trữ dưỡi dạng này trong mô mỡ
Ở người, hầu hết việc tổng hợp triglycerides xảy ra ở gan, nhưng một lượng nhỏ cũng được tổng hợp ở mô mỡ Triglycerides được tổng hợp ở gan sẽ được vận chuyển chủ yếu dưới dạng VLDLs tới mô mỡ, nơi chúng được dự trữ
đầu tiên trong quá trình tổng hợp triglycerides là chuyển hóa carbohydrates thành acetyl-CoA Như đã giải thích trong Chương 68, sự chuyển đổi này xảy ra trong sự thoái hóa bình thường của glucose trong quá trình đường phân Bởi vì các acid béo là các polime lớn của acid acetic, nên rất dễ hiểu cách acetyl-CoA có thể chuyển hóa thành các acid béo Tuy nhiên, tổng hợp các acid béo từ acetyl-CoA không đơn giản chỉ là ngược lại của quá trình oxy hóa Thay vào đó, nó xảy ra qua hai bước như đã diễn tả trong
Hình 69-3 , sử dụng malonyl-CoA và nicotinamide adenin
dinucleotide phosphate (NADPH) như là chất trung gian chủ yếu trong quá trình polyme hóa
Sự kết hợp các acid béo với αGlycerophosphate
để tạo thành Triglycerides
Khi tổng hợp chuỗi acid béo đã có 14-18 nguyên tử carbon, chúng liên kết với glycerol để tạo thành triglycerides Enzyme xúc tác cho sự kết hợp này là chất đặc hiệu cao với các acid béo, với chuỗi dài 14 nguyên tử carbon hoặc dài hơn, một yếu tố điều hòa tính chất vật lý của triglycerides
dự trữ trong cơ thể Như thể hiện trong Hình 69-4 , phần glycerol của
triglycerides được lấy từ α-glycerophosphate, nó là một sản phẩm khác có nguồn gốc từ quá trình đường phân thoái hóa của glucose Quá trình trao đổi chất này đã được thảo luận trong Chương 68
béo. Trong quá trình tổng hợp triglycerides, chỉ có khoảng 15% năng lượng ban đầu trong đường bị mất đi dưới dạng tạo nhiệt, còn lại 85% được chuyển sang dạng dự trữ triglycerides
Trang 7Chapter 69 Lipid Metabolism
dự trữ và một lượng nhỏ là các acid béo tự do Chúng được giữ ở trạng thái ổn định như vậy Khi một lượng lớn α-glycerophosphate có mặt (xảy ra khi tồn tại một lượng lớn carbohydrates dư thừa), α-glycerophosphate dư thừa liên kết với các acid béo tự do để tạo thành cấu trúc dự trữ triglycerides Kết quả là tạo ra trạng thái cân bằng ổn định giữa acid béo tự do và triglycerides thoái hóa thông qua triglycerides dự trữ; do đó, chỉ một lượng nhỏ acid béo có sẵn được dùng để tạo năng lượng Vì α-glycerophosphate là một sản phẩm quan trọng của quá trình chuyển hóa glucose, nên khi có sẵn một lượng lớn glucose thì sẽ ức chế sự sử dụng acid béo để tạo năng lượng
thừa, acid béo sẽ được tổng hợp nhanh hơn lượng chúng bị thoái hóa Tác động này được gây ra một phần là do một lượng lớn acetyl-CoA được tạo thành từ carbohydrates và bởi nồng độ thấp của các acid béo tự do trong mô mỡ, do
đó tạo điều kiện thích hợp cho việc chuyển đổi acetyl-CoA thành acid béo
Một yếu tố thậm chí quan trọng hơn nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi carbohydrates thành chất béo là: Bước đầu tiên là bước giới hạn tốc độ, quá trình tổng hợp acid béo bằng việc carboxyl hóa acetyl-CoA tạo thành malonylCoA Tốc độ của phản ứng này được kiểm soát chủ yếu bởi enzyme acetyl-CoA carboxylase, nó hoạt động làm tăng tốc
độ xuất hiện các chất trung gian của chu trình citric Khi carbohydrates dư thừa đang được sử dụng, các chất trung gian tăng lên sẽ tự động làm tăng tổng hợp acid béo
phần ăn không chỉ đóng vai trò như một chất béo tích trữ
mà còn làm tăng dự trữ chất béo Thực tế,tất cả carbohydrat
dư thừa không được sử dụng để tạo năng lượng hoặc dự trữ dưới dạng glycogen của cơ thể được chuyển đổi sang dạng chất béo để dự trữ
Hiệu suất sử dụng chất béo tạo năng lượng trong khi thiếu vắng Carbohydrates. Tất cả lượng chất béo tích trữ được chuyển hóa từ carbohydrates sẽ bị mất và đảo ngược lại quá trình khi không đủ carbohydrates Các cân bằng sẽ chuyển theo hướng ngược lại, và chất béo được huy động từ các tế bào mỡ và sử dụng tạo năng lượng
tại chỗ của các carbohydrates Một số yếu tố nội tiết cũng đóng vai trò quan trọng, chúng thúc đẩy huy động nhanh các acid béo từ các mô mỡ Trong số đó, tác động quan trọng nhất của các yếu tố nội tiết là làm thay đổi giảm đáng kể sự tiết insulin của tuyến tụy do sự thiếu vắng carbohydrates
Nó không chỉ làm giảm sử dụng glucose ở mô mà còn làm giảm dự trữ chất béo, nó tiếp tục làm thay đổi các trạng thái cân bằng có lợi trong quá trình chuyển hóa chất béo ở vị trí của carbohyrates
Tầm quan trọng của việc tổng hợp và dự trữ chất béo.Tổng hợp chất béo từcarbohydrates làđặc biệt quan trọng vì hai lý do:
1 Khả năng của các tế bào khác nhau trong cơ thể trong lưu trữ carbohydrates dưới dạng glycogen là rất nhỏ, tối đa chỉ khoảng vài trăm grams glycogen có thể được dự trữ trong gan, cơ xương và các mô khác của
cơ thể Ngược lại, chất béo lại được dữ trữ nhiều kilo gram trong các mô mỡ Vì thế, sự tổng hợp chất béo
có ý nghĩa rất quan trọng do năng lượng của thức ăn carbohydrates dư thừa (và protein) có thể được dự trữ để dùng sau này Thật vậy, ở người trung bình lượng chất béo dự trữ gấp khoảng 150 lần lượng carbohydrates được dự trữ
2 Mỗi gram chất béo có thể cung cấp gấp hai lần lượng calo năng lượng cung cấp bởi mỗi gram glycogen Vì thế, khi tăng một cân nặng nhất định, một người có thể dự trữ năng lượng dưới dạng chất béo gấp vài lần năng lượng dưới dạng của carbohydrate, điều đó cực
kỳ quan trọng khi một con vật cần hoạt động nhiều
để tồn tại
Không tổng hợp được chất béo từ Carbohydrates
trong điều kiện vắng mặt Insulin. Sự thiếu nghiêm trọng insulin xảy ra ở những người có bệnh đái tháo đường nghiêm trọng, chất béo sẽ được tổng hợp kém, do tất cả các nguyên nhân sau: Thứ nhất, khi thiếu insulin, glucose không thể đi vào các tế bào mỡ và các tế bào gan một cách dễ dàng, vì vậy có rất ít acetyl-CoA và NADPH cần cho tổng hợp chất béo có nguồn gốc từ glucose Thứ hai, thiếu glucose trong các tế bào mỡ làm giảm đáng kể số lượng α-glycerophosphate, nó cũng gây khó tổng hợp các mô từ triglycerides
Tổng hợp Triglycerides từ Proteins
Nhiều acid amin có thể được chuyển đổi thành acetyl-CoA, như đã thảo luận trong chương 70 Acetyl-CoA sau đó có thể tổng hợp thành triglycerides Vì thế, khi một người có khẩu phần ăn chứa quá nhiều proteins so với lượng protein các mô của họ có thể sử dụng, thì một phần lớn lượng dư thừa sẽ được dự trữ dưới dạng mỡ
Cơ chế tạo năng lượng giải phóng từ Triglycerides
Carbohydrates được ưu tiên để tạo năng lượng hơn chất béo khi có sẵn một lượng lớn carbohydrates. Khi
có sẵn một lượng lớn carbohydrates trong cơ thể, carbohydrates sẽ được ưu tiên sử dụng hơn triglycerides để tạo năng lượng Một số lý do tồn tại do lượng chất béo tích trữ này được tạo từ carbohydrates Đầu tiên, chất béo trong các tế bào mô mỡ tồn tại dưới hai hình thức: triglycerides
transported, as is also true for free fatty acid transport
The rapid transport of both these substances results
from their high solubility in the membranes of the target
cells, which allows almost instantaneous diffusion into
the cells
Ketosis in Starvation, Diabetes, and Other Diseases
The concentrations of acetoacetic acid, β-hydroxybutyric
acid, and acetone occasionally rise to levels many times
normal in the blood and interstitial fluids; this condition is
called ketosis because acetoacetic acid is a keto acid The
three compounds are called ketone bodies Ketosis occurs
especially as a consequence of starvation, in persons with
diabetes mellitus, and sometimes even when a person’s diet
is composed almost entirely of fat In all these states,
essen-tially no carbohydrates are metabolized—in starvation and
with a high-fat diet because carbohydrates are not
avail-able, and in diabetes because insulin is not available to
cause glucose transport into the cells
When carbohydrates are not used for energy, almost all
the energy of the body must come from metabolism of fats
We shall see later in the chapter that the unavailability of
carbohydrates automatically increases the rate of removal
of fatty acids from adipose tissues In addition, several
hor-monal factors—such as increased secretion of
glucocorti-coids by the adrenal cortex, increased secretion of glucagon
by the pancreas, and decreased secretion of insulin by the
pancreas—further enhance the removal of fatty acids from
the fat tissues As a result, large quantities of fatty acids
become available (1) to the peripheral tissue cells to be used
for energy and (2) to the liver cells, where much of the fatty
acid is converted to ketone bodies
The ketone bodies pour out of the liver to be carried to
the cells For several reasons, the cells are limited in the
amount of ketone bodies that can be oxidized The most
important reason for this limitation is that one of the
prod-ucts of carbohydrate metabolism is the oxaloacetate that is
required to bind with acetyl-CoA before it can be
pro-cessed in the citric acid cycle Therefore, deficiency of
oxa-loacetate derived from carbohydrates limits the entry of
acetyl-CoA into the citric acid cycle, and when a
simultane-ous outpouring of large quantities of acetoacetic acid and
other ketone bodies from the liver occurs, the blood
con-centrations of acetoacetic acid and β-hydroxybutyric acid
sometimes rise to as high as 20 times normal, thus leading
to extreme acidosis, as explained in Chapter 31
The acetone that is formed during ketosis is a volatile
substance, some of which is blown off in small quantities
in the expired air of the lungs, thus giving the breath an
acetone smell that is frequently used as a diagnostic
crite-rion of ketosis
Adaptation to a HighFat Diet When changing slowly
from a carbohydrate diet to a diet almost completely
con-sisting of fat, a person’s body adapts to use far more
aceto-acetic acid than usual, and in this instance, ketosis normally
does not occur For instance, in the Inuit (Eskimos),
who sometimes live mainly on a fat diet, ketosis does not
develop Undoubtedly, several factors, none of which is
clear, enhance the rate of acetoacetic acid metabolism by
the cells After a few weeks, even the brain cells, which
normally derive almost all their energy from glucose, can
derive 50 to 75 percent of their energy from fats
H ình 694. Sơ đồ tổng thể tổng hợp Triglycerides từ Glucose
Glucose
Fatty acids
Triglycerides
Glycolytic pathway
Pentose phosphate pathway
Synthesis of Triglycerides From Carbohydrates
Whenever a greater quantity of carbohydrates enters the body than can be used immediately for energy or can
be stored in the form of glycogen, the excess is rapidly converted into triglycerides and stored in this form in
the adipose tissue
In humans, most triglyceride synthesis occurs in the liver, but minute quantities are also synthesized in the adipose tissue The triglycerides formed in the liver are transported mainly in VLDLs to the adipose tissue, where
they are stored
Conversion of AcetylCoA Into Fatty Acids The first step in the synthesis of triglycerides is conversion of
car-bohydrates into acetyl-CoA As explained in Chapter 68, this conversion occurs during the normal degradation of glucose by the glycolytic system Because fatty acids are actually large polymers of acetic acid, it is easy to
under-stand how acetyl-CoA can be converted into fatty acids
However, the synthesis of fatty acids from acetyl-CoA is not achieved by simply reversing the oxidative degradation described earlier Instead, this occurs by the two-step
process shown in Figure 69-3, using malonyl-CoA and
reduced nicotinamide adenine dinucleotide phosphate (NADPH) as the principal intermediates in the
polymeriza-tion process
Combination of Fatty Acids With αGlycerophosphate to Form Triglycerides
Once the synthesized fatty acid chains have grown to contain 14 to 18 carbon atoms, they bind with glycerol to form triglycerides The enzymes that cause this conversion are highly specific for fatty acids, with chain lengths of 14 carbon atoms or greater, a factor that controls the physical
quality of the triglycerides stored in the body
As shown in Figure 69-4, the glycerol portion of
tri-glycerides is furnished by α-glycerophosphate, which is another product derived from the glycolytic scheme of glucose degradation This mechanism is discussed in
Chapter 68
Efficiency of Carbohydrate Conversion Into Fat Dur-ing triglyceride synthesis, only about 15 percent of the original energy in the glucose is lost in the form of heat;
the remaining 85 percent is transferred to the stored triglycerides
Trang 8Unit XIII Metabolism and Temperature Regulation
870
được dự trữ có thể là nguyên nhân gây ra béo phì di truyền
ở người Tuy nhiên, đơn gien (monogenic) nguyên nhân gây bệnh béo phí ở người rất hiếm xảy ra, nó sẽ được thảo luận kĩ hơn trong Chương 72
Phospholipids v à Cholesterol Phospholipids
Các loại phospholipid chính trong cơ thể con người là lecithins, cephalins, và sphingomyelin; công thức hóa học điển hình của chúng được thể hiện như trong Hình 69-5
Phospholipid luôn luôn chứa một hay nhiều phân tử acud béo và một gốc acid phosphoric, và chúng thường có chứa một nitrogenous base Mặc dù cấu trúc hóa học của phospholipids rất đa dạng, nhưng tính chất vật lý của chúng
là tương tự nhau bởi vì tất cả chúng đều là lipid hòa tan, được vận chuyển bởi lipoproteins, và được sử dụng khắp cơ thể để cấu tạo nhiều cấu trúc, như là màng tế bào và màng nội bào
Cơ chế nội tiết điều hòa sử dụng chất béo. Có ít nhất
bảy trong số các hormone tiết ra bởi các tuyến nội tiết có
tác dụng đến việc sử dụng chất béo Một hormone quan
trọng tác động tới chuyển hóa chất béo là do thiếu insulin,
như đã thảo luận trong đoạn trước Có lẽ sự tăng đáng kể
nhất việc sử dụng chất béo là khi hoạt động nặng Kết quả
của việc tăng này đa phần là do sự giải phóng của
epinephrine và norrpinephrine bởi tuyến tủy thượng thận
trong quá trình hoạt động, giống như kết quả của sự kích
thích giao cảm Hai hormone này hoạt hóa trực tiếp enzyme
triglyceride lipase nhạy cảm với hormone, enzyme này có
mặt nhiều trong các tế bào mỡ, và sự kích hoạt này làm
phân cắt nhanh các triglycerides và huy động nhanh các
acid béo Đôi khi nồng độ các acid béo tự do trong máu của
một người lao động có thể tăng gấp 8 lần, và việc sử dụng
các acid béo đó bởi cơ để cung cấp năng lượng tương ứng
cũng tăng lên Các loại stress khác cũng làm kích hoạt hệ
thần kinh giao cảm có thể cũng làm tăng huy động acid béo
và tác động tương tự như trên
Stress cũng làm một lượng lớn corticotropin được giải
phóng bởi thùy trước tuyến yên, nó làm cho vỏ thượng thận
tiết ra thêm một lượng glucocorticoids
Cả corticotropin và glucocorticoids đều kích hoạt enzym
triglyceride lipase nhạy nhạy cảm hormone bằng một trong
hai chất là epinephrine và norepinephrine hoặc một lipase
tương tự Khi corticotropin và glucocorticoids được tiết ra
với số lượng lớn trong thời gian dài, như xảy ra trong hội
chứng nội tiết được gọi là hội chứng Cushing, chất béo
thường xuyên được huy động với một số lượng lớn dẫn tới
kết quả là ketosis Corticotropin và glucocorticoids trong
hội chứng đó được nói đến như một tác động dẫn tới
ketosis Hormone tăng trưởng GH cũng có tác động tương
tự nhưng yếu hơn so với corticotropin và glucocorticoids
trong tác động tới các lipase nhạy cảm hormone Do đó,
hormone tăng trưởng có thể cũng là một tác nhân nhỏ dẫn
tới ketosis nhẹ
Hormone Thyroid làm tăng huy động chất béo, người ta
tin rằng nó là kết quả gián tiếp từ việc tăng tổng thể quá
trình chuyển hóa năng lượng ở tất cả các tế bào của cơ thể
dưới tác dụng của hormone này Kết quả làm giảm lượng
acetyl-CoA và một số chất trung gian khác của cả hai quá
trình chuyển hóa chất béo và carbohydrates trong các tế bào
dẫn tới kích thích huy động chất béo
Sự tác động của các hormone khác nhau trong quá trình
chuyển hóa sẽ được thảo luận rõ hơn trong các chương nói
về từng hormone đó
B éo phì - S ự lắng đọng chất béo dư thừa
Béo phì (Obesity) được thảo luận trong Chương 72 liên
quan tới chế độ ăn uống không cân đối trong một thời gian
dài, nó gây ra bởi việc ăn vào một lượng thức ăn lớn hơn
lượng cơ thể cần để tạo năng lượng Lượng thức ăn dư
thừa, cho dù là chất béo, carbohydrates hay protein sau đó
hầu hết đều được dự trữ dưới dạng chất béo trong mô mỡ,
và sẽ được sử dụng tạo năng lượng sau
Một số chủng động vật gắm nhấm đã tìm ra có sự di
truyền béo phì xảy ra Trong số đó có ít nhất một chủng,
ngyên nhân gây tăng cường tích trữ dự trữ chất béo dẫn tới
kết quả là béo phì nặng Nhiều yếu tố di truyền ảnh hưởng
tới trung tâm não điều hòa năng lượng hay những con
đường mà kiểm soát năng lượng sử dụng hoặc năng lượng
H ình 695. Các loại phospholipids.
C O
O
P
O
OH
C O
O
HC
C O
O
P
O
OH
C O
O
HC
P
O
CH CH
OH
HC H
C NH
O
C
CH
HO
A lecithin
A cephalin
Sphingomyelin
Trang 9Chapter 69 Lipid Metabolism
871
các nhân sterol có thểsửađổi bởi các chuỗi bên khác nhau
để tạo thành (1) cholesterol; (2) acid cholic, là cơ sở của acid mật hình thành ở gan; và (3) nhiều hormone steroid quan trong tiết ra bởi tuyến vỏ thượng thận, buồng trứng,
và tinh hoàn ( các hormone này sẽ được thảo luận kĩ trong các chương sau)
Những yếu tố ảnh hưởng tới nồng độ Cholesterol huyết tương - Cơ chế điều hòa ngược Cholesterol cơ thể. Các yếu tố quan trọng trong số các yếu tố ảnh hưởng tới nồng độ cholesterol huyết tương được nêu dưới đây:
1 Sự tăng lượng cholesterol ăn vào mỗi ngày có thể làm tăng nhẹ nồng độ trong huyết tương Tuy nhiên, khi cholesterol ăn vào, sự tăng nồng độ cholesterol
ức chế hầu hết các enzyme cần thiết cho sự tổng hợp cholesterol nội sinh, 3-hydroxy-3-methylglutaryl CoA reductase, do đó tạo ra một hệ thống điều hòa ngược nội tại để ngăn chặn sự gia tăng quá mức nồng
độ cholesterol huyết tương Kết quả là, nồng độ cholesterol huyết tương thường không tăng quá hoặc giảm quá ± 15% bởi tác động của lượng cholesterol
ăn vào, mặc dù phản ứng của các cá thể là khác nhau
2 Một chế độ ăn nhiều chất béo bão hòa cũng làm tăng nồng độ cholesterol máu lên 15-25%, đặc biệt khi chế độ ăn này có liên quan tới việc tăng cân quá mức
và bệnh béo phì Sự tăng nồng độ cholesterol trong máu này là kết quả của sự tăng lắng đọng mỡ trong gan, sau đó nó cung cấp số lượng lớn acetyl-CoA trong các tế bào gan sản xuất cholesterol Vì thế, muốn giảm nồng độ cholesterol máu cần duy trì chế
độ ăn ít chất béo bão hòa và duy trì cân nặng bình thường thậm chí còn quan trọng hơn một chế độ ăn ít cholesterol
3 Ăn chất béo chứa nhiều các acid béo không bão hòa thường gây ức chế làm giảm nhẹ nồng độ cholesterol máu giữ ở mức vừa phải Cơ chế tác động này chưa được hiểu rõ, mặc dù vậy trong thực tế nó vẫn là cơ
sở cơ bản của nhiều chế độ ăn uống
4 Thiếu insulin hoặc hormone thyroid làm tăng nồng
độ cholesterol máu, trong khi thừa hormone thyroid làm giảm nồng độ Tác động này được cho là gây chủ yếu bởi sự thay đổi mức độ kích hoạt các enzyme đặc hiệu chịu trách nhiệm trong quá trình chuyển hóa các chất lipid
5 Rối loạn di truyền cơ chế chuyển hóa cholesterol có làm tăng đáng kể mức cholesterol huyết tương.Ví dụ, các đột biến của gen thụ thể LDL ngăn cản gan thu nhận các LDL giàu cholesterol từ huyết tương Cũng như sẽ thảo luận sau trong chương này, hiện tượng này làm cho gan sản xuất quá mức lượng cholesterol Các đột biến gen mã hóa apolipoprotein B, một phần của LDL liên kết với các thụ thể, cũng gây tăng sản xuất cholesterol quá mức bởi gan
Sự h ình thành phospholipids Phospholipidsđược tổng hợp trong tất cả các tế bào của cơ thể, mặc dù có một
số tế bào có khả năng đặc biệt tổng hợp một lượng lớn chúng Có lẽ khoảng 90% chúng được tạo thành trong các
tế bào gan; một số được hình thành ở các tế bào biểu mô ruột trong quá trình hấp thụ lipid từ hệ thống ruột
Tốc độ hình thành phospholipid được chi phối bởi một
số yếu tố thông thường điều hòa kiểm soát tổng thể quá trình chuyển hóa chất béo
Sử dụng phospholipids.Phospholipids có một số chức
năng, bao gồm:
1 Phospholipids là một thành phần quan trọng của lipoproteins trong máu và rất cần thiết cho sự tạo thành và chức năng của hầu hết các lipoproteins; khi thiếu các phospholipids, sẽ xảy ra các bất thường nghiêm trọng đối với sự vận chuyển cholesterol và một số lipid khác
2 Thromboplastin, rất cần thiết để khởi đầu quá trình đông máu, và là thành phần chủ yếu của một trong các cephalins
3 Một lượng lớn sphingomyelin có mặt trong hệ thần kinh; chất này đóng vai trò như một chất cách điện trong các bao myelin quanh các sợi thần kinh
4 Phospholipids là nguồn cung cấp các gốc phosphate khi các phản ứng hóa học khác nhau trong các mô cần các gốc này
5 Có lẽ quan trọng nhất trong tất cả các chức năng của phospholipids là nó tham gia vào việc cấu tạo các cấu trúc hình thành lên màng tế bào trong các tế bào
ở khắp cơ thể, như thảo luận trong phần tiếp theo của chương này; kết hợp với chức năng tương tự như chức năng của cholesterol
Cholesterol
Cholesterol có công thức được thể hiện trong Hình 69-6 ,
nó cóở trong khẩu phần ăn bình thường và nó có thể được
hấp thu chậm từ hệ thống ruột vào các bạch huyết ruột Nó tan tốt trong lipid nhưng lại ít tan trong nước Nó đặc biệt
có khả năng tạo este với acid béo Thật vậy, khoảng 70%
lượng cholesterol trong lipoproteins của huyết tương ở dạng cholesterol este
Sự tạo thành Cholesterol.Bên cạnh lượng cholesterol được hấp thu mỗi ngày từ hệ tiêu hóa, đó được gọi là cholesterol ngoại sinh, thì một lượng lớn được tạo thành trong các tế bào của cơ thể, được gọi là cholesterol nội sinh
Về cơ bản tất cả cholesterol nội sinh lưu thông trong các lipoproteins của huyết tương được tạo thành nhờ gan, nhưng tất cả các tế bào khác của cơ thể cũng tạo thành một lượng nhỏ cholesterol, nó phù hợp với thực tế là nhiều cấu trúc màng tế bào của tất cả các tế bào đều được cấu tạo từ chất này
Cấu trúc cơ bản của cholesterol là một nhân sterol, nó được tổng hợp hoàn toàn từ các phân tử acetyl-CoA Đổi lại,
causes progressive enhancement of the fat stores, resulting
in severe obesity Multiple genetic factors that influence brain feeding centers or pathways that control energy expenditure or that alter energy storage can also cause hereditary obesity in humans However, monogenic (single gene) causes of human obesity are rare, as discussed in
Chapter 72
Phospholipids and Cholesterol Phospholipids
The major types of body phospholipids are lecithins, cepha-lins, and sphingomyelin; their typical chemical formulas
are shown in Figure 69-5 Phospholipids always contain
one or more fatty acid molecules and one phosphoric acid radical, and they usually contain a nitrogenous base
Although the chemical structures of phospholipids are somewhat variant, their physical properties are similar because they are all lipid soluble, transported in
lipopro-teins, and used throughout the body for various structural purposes, such as in cell membranes and intracellular
membranes
shifts the equilibrium in favor of fat metabolism in place of
carbohydrates
Hormonal Regulation of Fat Utilization At least
seven of the hormones secreted by the endocrine glands
have significant effects on fat utilization Some important
hormonal effects on fat metabolism—in addition to lack
of insulin, discussed in the previous paragraph—are
noted here
Probably the most dramatic increase that occurs in fat
utilization is that observed during heavy exercise This
increase results almost entirely from release of epinephrine
and norepinephrine by the adrenal medullae during
exer-cise, as a result of sympathetic stimulation These two
hormones directly activate hormone-sensitive triglyceride
lipase, which is present in abundance in the fat cells, and
this activation causes rapid breakdown of triglycerides and
mobilization of fatty acids Sometimes the free fatty acid
concentration in the blood of an exercising person rises as
much as eightfold, and the use of these fatty acids by the
muscles for energy is correspondingly increased Other
types of stress that activate the sympathetic nervous system
can also increase fatty acid mobilization and utilization in
a similar manner
Stress also causes large quantities of corticotropin to be
released by the anterior pituitary gland, which causes the
adrenal cortex to secrete extra quantities of glucocorticoids
Both corticotropin and glucocorticoids activate either the
same hormone-sensitive triglyceride lipase as that
acti-vated by epinephrine and norepinephrine or a similar
lipase When corticotropin and glucocorticoids are secreted
in excessive amounts for long periods, as occurs in the
endocrine condition called Cushing’s syndrome, fats are
frequently mobilized to such a great extent that ketosis
results Corticotropin and glucocorticoids are then said to
have a ketogenic effect Growth hormone has an effect
similar to but weaker than that of corticotropin and
gluco-corticoids in activating hormone-sensitive lipase Therefore,
growth hormone can also have a mild ketogenic effect
Thyroid hormone causes rapid mobilization of fat, which
is believed to result indirectly from an increased overall
rate of energy metabolism in all cells of the body under the
influence of this hormone The resulting reduction in
acetyl-CoA and other intermediates of both fat and
carbo-hydrate metabolism in the cells is a stimulus to fat
mobilization
The effects of the different hormones on metabolism are
discussed further in the chapters dealing with each
hormone
Obesity—Excess Deposition of Fat
Obesity is discussed in Chapter 72 in relation to dietary
balances, but briefly, it is caused by the ingestion of greater
amounts of food than can be used by the body for energy
The excess food, whether fats, carbohydrates, or proteins,
is then stored almost entirely as fat in the adipose tissue, to
be used later for energy
Several strains of rodents have been found in which
hereditary obesity occurs In at least one of these strains,
the obesity is caused by ineffective mobilization of fat from
the adipose tissue by tissue lipase, while synthesis and
storage of fat continue normally Such a one-way process
H ình 696. Cholesterol
CH
HO
CH
Trang 10Unit XIII Metabolism and Temperature Regulation
Một bất thường có thể được xác định rất sớm trong mạch máu, mà sau đó nó có thể trở thành xơ vữa động mạch là do tổn thương của lớp nội mạc mạch máu Tổn thương này lại tácđộng làm tăng sự bám dính của các phân tử nội mô và giảm khả năng giải phóng nitric oxide của chúng - chất giúp ngăn cản sự bám dính của các đại thực bào, tiểu cầu và các bạch cầu đơn nhân vào lớp nội mô Sau khi gây tổn thương cho các tế bào nội mô mạch máu, các bạch cầu đơn nhan và các lipids ( chủ yếu là các LDLs) bắt đầu tự tập tại nơi bị tổn thương(Hình 69-7A) Các bạch cầu đơn nhân vượt qua lớp nội mô, đi vào lớp sâu trong thành mạch máu,
và trở thành các đại thực bào, sau đó chúng ăn và oxy hóa các lipoprotein bị tích ở đó, làm cho các đại thực bào trông giống như một bọt nước (foamlike) Các tế bào đại thực bào foam sau đó tập trung ở trong mạch máu và tạo thành một cấu trúc có thể nhìn thấy được là vệt chất béo
thành một khối, các sợi xung quanh và mô cơ trơn phát triển tạo thành một cấu trúc lớn và một mảng lớn( xem
Hình69-7B).
Ngoài ra, cácđại thực bào còn giải phóng các chất gây phản ứng viêm và tác động mạnh tới các cơ trơn và các mô sợi trên bề mặt của thành động mạch Các lipid đọng lại cộng với sự tăng sinh của các tế bào có thể trở thành một khối quá lớn chèn ép vào lòng động mạch và làm giảm lưu lượng dòng chảy, đôi khi nó còn làm tắc hoàn toàn mạch Mặc dù không tắc, các sợi của mảng bám tăng sinh và tạo thành một mô liên kết dày đặc; xơ cứng và trở lên lớn dần làm các động mạch trở nên xơ cứng Tuy nhiên sau đó, các muối canxi thường kết tủa với cholesterol và các lipid khác của mảng xơ vữa, tạo thành xơ cứng canxi có thể làm cho động mạch trở thành các ống cứng Cả hai giai đoạn sau đó của bệnh này đều được gọi là " xơ cứng động mạch.”
và bởi vì những vùng thoái hóa trên thành của chúng, chúng trở nên dễ bị vỡ Ngoài ra, nơi các mảng xơ vữa bám vào còn ảnh hưởng tới dòng máu chảy, bề mặt thô ráp của chúng làm cho các cục máu đông phát triển tại đó, tạo thành huyết khối tại chỗ (thrombus) hoặc cục máu đông có khả năng di chuyển theo dòng máu (embolus) (xem Chương 37), dẫn tới tắc nghẽn đột ngột dòng máu trong động mạch
bệnh mạch máu Khoảng 2/3 trong số các trường hợp tử vong là do huyết khối tại một hay nhiều động mạch vành Một phần ba còn lại là do huyết khối hoặc xuất huyết mạch
ở các cơ quan khác của cơ thể, đặc biệt là não (gây đột quỵ), nhưng cũng có thể tại thận, gan, hệ tiêu hóa, chi, và
Vai tr ò c ủa Cholesterol và Lipoprotein trong xơ vữa động mạch
Tăng LowDensity Lipoproteins. Một yếu tố quan trọng gây xơ vữa động mạch là nồng độ cholesterol trong máu cao dưới dạng LDLs Nồng độ các LDLs cholesterol trong huyết tương cao, tăng lên do nhiều yếu tố, đặc biệt là do ăn nhiều chất béo bão hòa
Sử dụng đặc hiệu cholesterol trong cơ thể Chođến nay, hầu hết các cholesterol không cấu tạo màng tế bào đều
tạo thành acid cholic trong gan Nhiều hơn 80% cholesterol
được chuyển đổi thành acid cholic Như thảo luận trong
Chương 71, acid cholic được liên hợp với các chất khác để
tạo nên muối mật, có tác dụng thúc đẩy quá trình tiêu hóa
và hấp thụ chất béo
Một lượng nhỏ cholesterol được sử dụng bởi tuyến
thượng thận để tạo hormone vỏ thượng thận, (2) buồng
trứng sử dụng để tạo progesterone và estrogen, và (3) tinh
hoàn sử dụng tạo thành testosteron Các tuyến này có thể
tổng hợp các sterol cho chính nó và sau đó tạo thành
hormone, như thảo luận trong các chương về nội tiết Một
lượng lớn cholesterol bị kết tủa trong lớp sừng của da
Cholesterol này, cùng với các lipid khác, làm cho da có khả
năng không hấp thu các chất hòa tan trong nước và các tác
động của nhiều tác nhân hóa học bởi vì cholesterol và các
lipid khác của da rất trơ với acid và nhiều loại dung môi,
nếu không có chúng thì các tác nhân dễ dàng xâm nhập vào
cơ thể chúng ta Ngoài ra, các chất lipid đó giúp ngăn sự
bốc hơi nước từ da; nếu không có sự bảo vệ này , lượng
nước bốc hơi có thể lên đến 5-10 lít mỗi ngày ( xảy ra ở
những bệnh nhân bị bỏng, những người bị mất da), thay vì
thông thường chỉ khoảng 300-400 ml
Chức năng cấu trúc tế bào của Phospholipid và
Cholesterol - Đặc biệt đối với màng tế bào
Chúng tađã đề cập ở trên việc sử dụng phospholipid và
cholesterol góp phần hình thành các cấu trúc đặc biệt, chủ
yếu là màng tế bào, trong tất cả các tế bào của cơ thể Qua
Chương 2, đã chỉ ra rằng có một số lượng lớn phospholipid
và cholesterol xuất hiện ở cả màng tế bào và màng của các
bào quan trong tất cả các tế bào Nó cũng cho biết tỷ lệ
cholesterol trên phospholipid màng đặc biệt quan trọng
trong việc xác định độ linh động của màng tế bào
Đối với màng tế bào được tạo thành từ các chất không
tan trong nước có sẵn Nói chung, những chất trong cơ thể
không tan trong nước ( ngoài các chất vô cơ của xương) là
các lipid và một số protein Như vậy, gần như toàn bộ tế
bào ở khắp mọi nơi trong cơ thể chủ yếu cấu tạo từ
phospholipids, cholesterol và một số protein không hào
tan Những sự giảm phospholipids cũng làm giảm sức căng
bề mặt giữa màng tế bào và các dịch xung quanh
Một thực tế chỉ ra tầm quan trọng của phospholipids và
cholesterol trong sự hình thành các yếu tố cấu trúc các tế
bào là tốc độ đổi mới chậm của các chất trong hầu hết các
mô ngoài mô gan được tính theo tháng hoặc theo năm Ví
dụ, chức năng của chúng trong các tế bào não có tác dụng
trong quá trình ghi nhớ có liên quan chủ yếu đến tính chất
vật lý bền vững của chúng
Xơ vữa động mạch (Atherosclerosis)
Xơ vữa động mạch là một bệnh của các động mạch cỡ lớn
và cỡ trung bình, trong đó chúng bị tổn thương do chất béo
được gọi là mảng xơ vữa phát triển trên bề mặt bên trong
của thành động mạch Xơ cứng động mạch-Arteriosclerosis
, ngược lại, là một thuật ngữ dùng chung để chỉ sự dày lên
và xơ cứng của các mạch máu ở tất cả các đường kính