1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Tiểu luận Maketing và Tài chính

27 514 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 101,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nền sản xuất hàng hóa đã phát triển với trình độ cao nền kinh tế tri thức gắn quá trình quốc tế hóa, toàn cầu hóa đang trở thành hiện thực trong cuộc sống. Chính việc quốc tế hóa, toàn cầu hóa đã tạo xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới ngày càng cạnh tranh gay gắt về quy mô, cường độ, phạm vi rộng hơn và sâu hơn; xuất hiện liên tục những kỹ thuật mới và thị trường mới. Trong hoàn cảnh phát triển kinh tế như thế, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải tiến hành huy động mọi nguồn lực. Đồng thời, điều hành tổng hợp mọi yếu tố nhằm đạt được mục tiêu đã định trước. Thông qua chiến lược marketing, doanh nghiệp có thể phát huy nội lực hướng vào những cơ hội hấp dẫn trên thị trường và nâng cao hiệu quả kinh doanh; tăng cường khả năng cạnh tranh giữa những quốc gia và các nhà sản xuất hàng hoá; chi phối quan hệ cung cầu nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ trên thị trường có lợi nhất. Điều này buộc các doanh nghiệp thay đổi về tư duy chiến lược, về cách thức kinh doanh, hướng tới khách hàng… Và marketing chính là yếu tố cần thiết của chiến lược kinh doanh, là chất xúc tác mạnh mẽ, là chìa khóa vàng cho sự phát triển, thành công của một doanh nghiệp, một địa phương, một quốc gia. Hơn nữa, marketing hiện đại còn bao gồm các hoạt động tính toán, suy nghĩ, ý đồ từ trước khi sản phẩm ra đời đến hoạt động tiêu thụ, dịch vụ sau bán hàng... Nó trở thành giao điểm của nhiều quá trình kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, thể thao, quốc phòng... Nó có mặt và len lỏi trong tất cả ngõ ngách của cuộc sống xã hội. Do vậy, Marketing trở thành môn học không thể thiếu được đối với sinh viên ngành kinh tế và cả các doanh nghiệp kinh doanh.tiểu luận maketting,tiểu luận maketing 2017,tiểu luận ngân hàng adb.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Nền sản xuất hàng hóa đã phát triển với trình độ cao - nền kinh tế tri thức gắn quá trình quốc tế hóa, toàn cầu hóa đang trở thành hiện thực trong cuộc sống Chính việc quốc tế hóa, toàn cầu hóa đã tạo xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới ngày càng cạnh tranh gay gắt về quy mô, cường độ, phạm vi rộng hơn và sâu hơn; xuất hiện liên tục những kỹ thuật mới và thị trường mới

Trong hoàn cảnh phát triển kinh tế như thế, một doanh nghiệp muốn tồn tại

và phát triển phải tiến hành huy động mọi nguồn lực Đồng thời, điều hành tổng hợp mọi yếu tố nhằm đạt được mục tiêu đã định trước Thông qua chiến lược marketing, doanh nghiệp có thể phát huy nội lực hướng vào những cơ hội hấp dẫn trên thị trường và nâng cao hiệu quả kinh doanh; tăng cường khả năng cạnh tranh giữa những quốc gia và các nhà sản xuất hàng hoá; chi phối quan hệ cung cầu nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ trên thị trường có lợi nhất Điều này buộc các doanh nghiệp thay đổi về tư duy chiến lược, về cách thức kinh doanh, hướng tới khách hàng… Và marketing chính là yếu tố cần thiết của chiến lược kinh doanh, là chất xúc tác mạnh mẽ, là chìa khóa vàng cho sự phát triển, thành công của một doanh nghiệp, một địa phương, một quốc gia Hơn nữa, marketing hiện đại còn bao gồm các hoạt động tính toán, suy nghĩ, ý đồ từ trước khi sản phẩm ra đời đến hoạt động tiêu thụ, dịch vụ sau bán hàng Nó trở thành giao điểm của nhiều quá trình kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, thể thao, quốc phòng Nó có mặt và len lỏi trong tất cả ngõ ngách của cuộc sống xã hội Do vậy, Marketing trở thành môn học không thể thiếu được đối với sinh viên ngành kinh tế và cả các doanh nghiệp kinh doanh

Qua những gì đã học về marketing nhóm 2 quyết định chọn đề tài:

“……….”làm tiểu luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận tiểu luận của nhóm chia thành 4 phần chương:

Phần 1: Tổng quan về marketing

Trang 2

Qua những gì đã học về marketing nhóm 2 quyết định chọn đề tài:

“……….”làm tiểu luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận tiểu luận của nhóm chia thành 4 phần chương:

Phần 1: Tổng quan về marketing

Phần 2: Sản phẩm có nhu cầu thụ đông

Phần 3: Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định giá

Phần 4: Giải đáp tình huống

Trang 3

PHẦN I: TỔNG QUAN MARKETING

“Marketing là môn khoa học và nghệ thuật lựa chọn thị trường mục tiêu và xây dựng mối quan hệ sinh lợi với chúng Mục đích của chuyên gia marketing là tìm kiếm , thu hút giữ chân và phát triển các khách hang và mục tiêu bằng việc tạo dựng và mang lại cho khách hàng “

Philip Kotler

Sự ra đời và phát triển marketing

Ra đời trong nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa nhầm giải quyết mâu thuẩn giữa cung và cầu Xuất phát từ Mỹ , có nhu cầu truyền bá sang các nước khác

Là quá trình tổng kết thực tiễn sản xuất kinh doanh trong môi trường cạnh tranh

và được khái quát hóa , nâng lên thánh lí luận khoa học

Tư duy kinh doanh “ Bán cái mà khách hàng cần” , “ Bán cái mà mình có sẵn “

Phát hiện nhu cầu - sản xuất ra sản phẩm – bán - dịch vụ hậu mãi Triết lý sản xuất : người tiêu dung sẽ thích những sản phẩm có sẵn để dùng và được phân phối rộng rãi với giá thấp Quản trị marketing đẩy mạnh sản xuất và phân phối sản phẩm Triết lý sản phẩm người tiêu dung và thích những sản phẩm có chất lượng tốt , kiểu dáng độc đáo , quản trị marketing tốt cần có những sản phẩm cải tiến lien tục Triết lý bán hàng : người tiêu dung sẽ không mua hết các sản phẩm nếu doanh nghiệp các nổ lực bán hàng và khuyến mãi mạnh

Vậy theo các bạn marketing là gì ???

Marketing được chia làm nhiều nghĩa khác nhau

*Marketing theo nghĩa rộng

Marketing là các hoạt động được thiết kế để tạo ra và thúc đẩy bất kỳ sự trao đổi nào nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người

Khi ứng dụng của marketing mở rộng , vượt khỏi ranh giới truyền thông của nhũng tổ chức vì lợi nhuận , ta thấy có nhiều kiểu marketing phi truyền thống chủ yếu như sau:

Trang 4

• Marketing cho cá nhân ( person marketing )

• Marketing địa điểm ( place marketing )

• Marketing xã hội (cause marketing )

• Marketing sự kiện ( event marketing )

• Marketing cho tổ chức phi lợi nhuận ( non- profit organization marketing )

*Marketing theo nghĩa hẹp

Marketing theo nghĩa rộng ở phần trên đề cập đến vai trò của marketing trong một hệ thống - một xã hội rộng lớn Tổ chức này có thể là một công ty hoặc một

tổ chức phi lợi nhuận Như vậy chúng ta cần định nghĩa marketing theo nghĩa hẹp hơn Sau đây là một số khái niệm tiêu biểu :

Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ

“ Marketing là tiến trình mang tính quản trị và xã hội, qua đó các cá nhân và tổ chức có thể đạt đc như cầu và ước muốn thông qua việc tạo dựng và trao đổi sản phẩm và giá trị với cá nhân/tổ chức khác”

“Marketing là quy trình mà qua đó , công ty tạo ra giá trị cho khách hàng và xây dựng mối quan hệ với họ để giành lấy giá trị từ khách hàng”

“ Marketing là quản trị mối quan hệ sinh lợi với khách hang”

Philip Kotler ( cha đẻ của marketing hiện đại )Marketing là một hoạt động diễn ra hằng ngày xung quanh chúng ta , nhiều khi những việc chúng ta thực hiện cũng là đang hoạt động marketing Vì thế có thể hiệu đơn giản và dễ hiểu hơn : marketing là cầu nối đưa khách hàng đến với chúng

ta , muốn giữ chân được khách hàng thì chung ta phải làm ra chiếc cầu thật đẹp

và chắc chắn không chỉ là giữ chân được khách hàng mà còn thu hút được những khách hàng mới

PHẦN II: SẢN PHẨM CÓ NHU CẦU THỤ

ĐỘNG

Trang 5

Marketing là toàn bộ các hoạt động.nhằm thỏa mãn nhu cầu, mong muốn.của khách hàng thông qua trao đổi Sản phẩm, dịch vụ là những.thứ gì có thể đưa hoạt động hay lợi.vào thị trường để ích được cung ứng.thu hút sự chú ý, nhằm thỏa mãn một.mua sắm, sử dụng nhu cầu, mong.nhằm thỏa mãn một nhóm nào đó Tuỳ theo nội dung từng môn học mà sản phẩm được nghiên cứu từ nhiều góc

độ khác nhau Theo Mác: " Sản phẩm là kết quả của quá trình lao động dùng để phục vụ cho việc làm thoả mãn nhu cầu của con người trong nền kinh tế thị trường" Theo quan niệm của môn học Marketing: "Sản phẩm là bất cứ thứ gì có thể mang ra thị trường nhằm tạo ra sự chú ý mua sắm và tiêu dùng"

Nhà kinh doanh phải biến lợi ích cốt lõi thành sản phẩm chung, chính là dạng

cơ bản của sản phẩm đó Vì thế một khách sạn phải là một tòa nhà có các phòng

để cho thuê Tương tự như vậy, ta có thể nhận ra những sản phẩm khác như một chiếc ôtô, một lần khám bệnh, một buổi hòa nhạc,

Tiếp theo, nhà kinh doanh phải chuẩn bị một sản phẩm mong đợi, tức là tập hợp những thuộc tính và điều kiện mà người mua thường mong đợi và chấp thuận khi họ mua sản phẩm đó Ví dụ, khách đến khách sạn mong có được một cái giường sach sẽ, xà phòng và khăn tắm, điện thoại, tủ để quần áo và một mức độ yên tĩnh tương đối Vì đa số các khách sạn đều có thể đáp ứng được mong muốn tối thiểu này, nên khách du lịch không thiên vị đối với khách sạn nào mà sẽ vào bất

kỳ khách sạn nào thuận tiện nhất

Trang 6

Mức độ thứ tư, nhà kinh doanh chuẩn bị một sản phẩm hoàn thiện thêm, tức

là một sản phẩm bao gồm cả những dịch vụ và lợi ích phụ thêm làm cho sản phẩm của doanh nghiệp khác với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh Ví dụ khách sạn có thể hoàn thiện thêm sản phẩm của mình bằng cách trang bị máy thu hình, bổ sung dầu gội đầu và hoa tươi, dịch vụ đăng ký và trả phòng nhanh chóng,

Ở các nước phát triển ngày nay cạnh tranh chủ yếu diễn ra ở mức độ hoàn thiện sản phẩm Theo Levitt, cuộc cạnh tranh mới không phải là giữa những gì các công

ty sản xuất ra, mà là giữa những thứ họ bổ sung cho sản phẩm của mình dưới hình thức bao bì, dịch vụ, quảng cáo, tư vấn cho khách hàng, tài trợ, thỏa thuận giao hàng, lưu kho và những thứ khác mà mọi người coi trọng

Tuy nhiên, việc hoàn thiện sản phẩm kéo theo việc tiêu tốn thêm chi phí của nhà kinh doanh Cho nên nhà kinh doanh cần phải cân nhắc liệu khách hàng có chấp nhận trả thêm tiền để nhận đượüc sản phẩm hoàn thiện và doanh nghiệp trang trãi được chi phí phụ thêm không Hơn nữa, những lợi ích hoàn thiện thêm sẽ nhanh chóng trở thành lợi ích mong đợi Các khách nghỉ tại khách sạn đều mong đợi có máy thu hình, dầu gội đầu và các tiện nghi khác Vì thế, doanh nghiệp phải tìm kiếm thêm những tính chất và lợi ích mới để bổ sung cho sản phẩm của mình Ngoài ra, trong khi các công ty nâng giá sản phẩm đã hoàn thiện của mình thì các đối thủ cạnh tranh có thể trở lại bán sản phẩm ở mức cơ bản

Ở mức độ thứ năm là sản phẩm tiềm ẩn, tức là những sự hoàn thiện và biến đổi mà sản phẩm đó có thể có được trong tương lai Trong khi sản phẩm hoàn thiện thể hiện những gì đã được đưa vào sản phẩm hiện nay, thì sản phẩm tiềm

ẩn chỉ nêu ra hướng phát triển có thể của nó Vì thế các doanh nghiệp tích cực tìm kiếm những cách thức mới để thỏa mãn khách hàng và tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm của mình

Như vậy, sản phẩm bao gồm nhiều thuộc tính cung ứng sự thỏa mãn nhu cầu khác nhau của khách hàng Hay nói cách khác, khi mua một sản phẩm người mua mong muốn thỏa mãn cho cả một chuỗi nhu cầu, và các nhu cầu đó có quan hệ tác động qua lại chặt chẽ với nhau trong quá trình quyết định mua của khách hàng

Trang 7

Phân loại sản phẩm theo hình thức tồn tại

• Dịch vụ là loại sản phẩm vô hình mang lại cho người dùng một ích lợi vật chất, lợi ích tinh thần nào đó Con người không thể cảm nhận dịch vụ thông qua các giác quan như nghe, nhìn, nếm, ngửi, tiếp xúc Điều này làm cho việc bán dịch vụ khó khăn hơn

• Hàng hóa là loại sản phẩm hữu hình mà con người có thể tiếp xúc thông qua các giác quan để cảm nhận những yếu tố vật chất của nó

** Sản phẩm có nhu cầu thụ động

_ Là các loại mà người dùng không hay nghĩ đến, hoặc không biết

_ Là những sản phẩm/dịch vụ có nhu cầu rất thấp Người tiêu dùng không mong muốn sử dụng hoặc chỉ sử dụng khi thật sự có nhu cầu Sản phẩm này thường chỉ được quảng cáo qua báo chí hoặc chào hàng cá nhân

_ Hầu hết các sản phẩm cải tiền mới mẻ đều không được tìm đến cho đền khi người tiêu dung ý thức được về chúng thông qua quảng cáo Sản phẩm không thiết yếu còn gọi là sản phẩm không được tìm đến

Ví dụ như bảo hiểm tính mạng, từ điển Bách Khoa…v…v Bán loại hàng hoá này đòi hỏi nỗ lực Marketing lớn, đặc biệt là nỗ lực bán hàng cá nhân

_Các loại hàng hoá khác nhau thì quá trình mua của khách hàng khác nhau Người bán cần nắm được quá trình mua của khách hàng để biết cách thuyết phục khách hàng

Vậy tại sao khách hàng lại ít cần đến những sản phẩm này??

Có thể người tiêu dùng trải qua một quá trình để dẫn đến việc họ quyết định mua những sản phẩm nào , và vì sao họ muốn có chúng Và công việc marketing của chúng ta là giáo dục cho khách hàng biết được lý do họ cần sản phẩm của mình, công dụng của sản phẩm, và vì sao sản phẩm của ta có giá trị đối với họ Nếu chúng ta không trả lời được những câu hỏi về marketing này, chúng ta cũng sẽ

Trang 8

mất đi những khách hàng tiềm năng của mình Là người tiêu dùng, chúng ta không chỉ bị thuyết phục bởi giá cả của sản phẩm, mà còn bởi những lợi ích mà sản phẩm

đó có thể đem lại cho mình Nếu bạn nhận ra là việc bán hàng của mình đang gặp khó khăn, có lẽ bạn sẽ muốn cân nhắc những lý do mà tôi sắp nêu ra sau đây, giải thích tại sao mà người tiêu dùng không mua, và làm cách nào để công việc marketing của bạn tốt hơn, theo cách mà sẽ biến những người tiêu dùng đó trở thành khách hàng của bạn

Những lý do làm cho sản phẩm của bạn có nhu cầu thụ động

 Họ không nhận biết được sản phẩm của bạn

 Họ không hiểu những lợi ích của sản phẩm

 Họ không cảm thấy sản phẩm của bạn có giá trị

 Họ cảm thấy sản phẩm không đáp ứng dược nhu cầu của mình

Vợ của khách hàng chia sẻ: “Khi tham gia bảo hiểm nhân thọ gia đình tôi chỉ nghĩ rằng đó sẽ là một khoản tích lũy cho chúng tôi an tâm lúc tuổi già Chồng tôi

Trang 9

bị bệnh, qua đời rất bất ngờ, là sự mất mát lớn của gia đình Được sự hỗ trợ tích cực và sự quan tâm thăm hỏi và phục vụ chu đáo của Công ty Bảo Việt Nhân thọ Long An, chúng tôi nhanh chóng nhận được quyền lợi bảo hiểm với giá trị lớn, chúng tôi rất cám ơn.” Vợ của ông N.V.D cũng bày tỏ sự tin tưởng vào uy tín của công ty Bảo Việt Nhân thọ và cho biết sẽ ký thêm các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ khác để tiếp tục có kế hoạch tài chính đảm bảo cho tương lai của các con cháu Đại diện Bảo Việt Nhân thọ chia sẻ: “Chúng tôi hiểu rằng không có gì bù đắp được sự mất mát của gia đình, nhưng chúng tôi mong muốn gia đình sẽ sớm vượt qua nỗi đau, ổn định cuộc sống, tiếp tục sống và thực hiện những mong ước, ước nguyện của người đã khuất với giá trị quyền lợi bảo hiểm nhận được, cũng là món quà của người thân để lại.”

Khác với các dịch vụ tài chính khác hiện nay, nhiều sản phẩm bảo hiểm nhân thọ vừa có tính bảo vệ, phòng ngừa rủi ro, vừa có tính tiết kiệm Nếu rủi ro xảy ra, người tham gia bảo hiểm sẽ được nhận số tiền quyền lợi bảo hiểm giá trị Nếu may mắn không có rủi ro xảy ra thì hợp đồng bảo hiểm khi đáo hạn chính là khoản tiền tiết kiệm của người tham gia Yếu tố bảo vệ chính là điểm khác biệt cơ bản nhất và đem lại nhiều lợi ít thiết thực nhất cho người tham gia bảo hiểm khi cân nhắc lợi ích giữa mua bảo hiểm nhân thọ và các hình thức tích lũy khác

Được biết, trong 9 tháng đầu năm 2016, Bảo Việt Nhân thọ Long An đã chi trả 11

tỷ đồng quyền lợi đáo hạn hợp đồng cho 412 khách hàng, chi bồi thường 2,1 tỷ cho 48 khách hàng Trong 20 năm qua (1996-2016), Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ với 65 công ty thành viên trên khắp 63 tỉnh thành đã hoạch định và bảo vệ cho hơn 5 triệu khách hàng, chi trả quyền lợi bảo hiểm và đáo hạn cho khách hàng với tổng giá trị gần 30.000 tỷ đồng Năm 2016, Bảo Việt Nhân thọ cũng được đánh giá

là công ty bảo hiểm nhân thọ uy tín nhất Việt Nam (do Vietnam Report thực hiện khảo sát) Năm 2015, Bảo Việt Nhân thọ cũng được ghi nhận là công ty bảo hiểm nhân thọ tốt nhất Việt Nam Bảo Việt Nhân thọ cũng đồng thời là doanh nghiệp tiên phong trên thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam, là doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đầu tiên trên thị trường từ năm 1996

GIẢI THÍCH

Trang 10

Ví dụ trên sử dụng hình thức marketing gián tiếp cho sản phẩm bảo hiểm nhân thọ

vì công nghệ thong tin ngày càng phát triển , đọc báo điện tử phổ biến và rộng rãi hơn nên các công ty bảo hiểm sử dụng marketing online để quảng cáo sản phẩm của mình

PHẦN III: YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT

ĐỊNH GIÁ

Giá là một trong 4 biến số quan trọng của marketing mix Giá đóng vai trò quyết định trong việc mua hàng này hay hàng khác đối với người tiêu thụ Đối với công

ty giá có vị trí quyết định cạnh tranh trên thị trường

Định giá bán sản phẩm có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp vì nó tác động tới mức doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp:giá bán cao tạo ra mức lợi nhuận lớn, giá bán thấp thì có thể gây thiệt hại cho doanh nghiệp Giá bán sản phẩm còn thể hiện trình độ tổ chức và quản lý các yếu tố sản xuất của các nhà quản trị Mặt khác, giá bán là thước đo thể hiện giá trị của sản phẩm do vậy nó ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu của chính doanh nghiệp trên thương trường

Chính vì vây, các quyết định về giá bán sản phẩm thường là những quyết định chiến lược sống còn của doanh nghiệp và nó chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố

Trang 11

khác nhau như nhân tố bên trong, bên ngoài, nhân tố tích cực, tiêu cực, nhân tố định tính và định lượng….

Một số nhân tố bên trong ảnh hưởng đến giá như:

*Mục tiêu của doanh nghiệp: đây không phải là nhân tố tác động trực tiếp song là nhân tố tác động gián tiếp tới việc hình thành giá bán khác nhau Các mục tiêu của doanh nghiệp thường thể hiện trong từng giai đoạn khác nhau, có thể mục tiêu trước mắt là lợi nhuận hay cạnh tranh với đối thủ hay có thể mục tiêu cuối cùng là phi lợi nhuận hay lợi nhuận hoặc doanh nghiệp được hỗ trợ ngân sách hoạt động hay tự chủ kinh phí Tất cả những mục tiêu đó đều ảnh hưởng đến giá bán sản phẩm của doanh nghiệp

*Chính sách marketing trong doanh nghiệp: đây là yếu tố quan trọng đến quyết định định giá sản phẩm Thông thường giá bán sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào chính sách bán hàng của doanh nghiệp Chính sách bán hàng được thực hiện thông qua một chuỗi các công việc từ khi quảng cáo thâm nhập thị trường, xây dựng hệ thống phân phối bán hàng, bảo hành sau khi bán

*Phí tổn (Chi phí sản xuất ra sản phẩm): Phí tổn tạo nền cho việc định giá sản phẩm Công ty muốn đề ra một mức giá có thể trang trải cho mọi phí tổn về sản xuất, phân phối bán sản phẩm gồm cả một tỉ lệ lời hợp lý cho những nỗ lực và rủi

ro của mình.Công ty phải xem xét các loại phí tổn nếu chi phí của công ty cao hơn chi phí của các nhà cạnh tranh khi sản xuất và bán một sản phẩm tương đương, công ty phải đề ra một mức giá cao hơn các đối thủ cạnh tranh hoặc kiếm lời ít hơn và phải ở vào một thế bất lợi về cạnh tranh Phí tổn công ty gồm 2 loại:

Định phí là những chi phí không thay đổi theo khối lượng sản xuất hay doanh thu Các chi phí như tiền thuê mặt bằng, chi phí quản lý, khấu hao tài sản cố định là những chi phí cố định Khi khối lượng sản xuất hay khối lượng bán tăng lên định phí tính cho một đơn vị sản phẩm giảm xuống

Biến phí là những chi phí thay đổi trực tiếp theo khối lượng sản xuất khi khối lượng sản xuất tăng tổng biến phí sẽ tăng theo biến phí tính cho một đơn vị sản phẩm thì không thay đổi

Trang 12

Tổng phí tổn: Bao gồm cả định phí lẫn biến phí cấp điều hành muốn đề ra một mức giá ít nhất sẽ trang trải được cho tổng chi phí ở một mức độ sản xuất nhất định nào đó khi kinh nghiẹm được tích lũy công việc được tổ chức tốt hơn, thiết

bị được cải tiến và tìm được những quy trình sản xuất tốt hơn Với khối lượng càng lớn, công ty càng trở nên hiệu quả hơn thực hiện được lợi thế quy mô kết quả là chi phải bình quan giảm xuống

*Khả năng tài chính của doanh nghiệp: Khả năng tài chính của doanh nghiệp cũng góp phần ảnh hưởng đến giá sản phẩm của doanh nghiệp đó Một doa

Trang 13

nh nghiệp có khả năng tài chính dồi dào sẽ có khả năng chấp nhận chịu lỗ để hạ mức giá thành sản phẩm nhằm thâm nhập thị trường hoặc loại bỏ sản phẩm đối thủ khỏi thị trường Ngược lại, những doanh nghiệp có khả năng tài chính yếu kém dù trong trường hợp đó sẽ vẫn giữ mức giá cơ bản và tìm cách thức khác để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm.

Những nhân tố trên ảnh hưởng đến quyết định về giá là do khi tạo ra một sản phẩm nào đó thì các nhà kinh doanh luôn muốn đươc các khách hàng mình hưởng ứng nhiệt tình và định giá là một trong những điều rất quan trọng khi sản xuất ra một sản phẩm Nếu chúng ta định giá mà không quan tâm đến những nhân tố trên thì sẽ dễ xảy ra sai sót và gặp nhiều rủi ro Nhưng khi chúng ta định giá dựa trên chi phí, thị trường mục tiêu và chiến lượcbđịnh vị một cách cẩn thận thì chiến lược

tổ hợp marketing bao gồm giá cả sẽ tương đối đơn giản

Thí dụ:

Gizmo Guidance Systems đã đạt được một hợp đồng cung cấp các thiết bị lái máy bay tiên tiến cho Không lực Hoàng gia Theo các điều khoản của hợp đồng, giá của mỗi bộ lái được xác định như sau:

Ngày đăng: 16/04/2017, 14:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w