Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường của Việt Nam từ hơn thập kỉ qua kéo theo sự thay đổi rõ rệt trong các doanh nghiệp và nhất là trong phương thức quản lý. Đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế tự do cạnh tranh, cùng với xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế và hợp tác quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng mang đến cho các doanh nghiệp trong nước những cơ hội, đồng thời cũng gặp không ít khó khăn và thử thách, đặc biệt phải chịu sự cạnh tranh gay gắt do nguồn vốn đầu tư ồ ạt từ nước ngoài vào. Đứng trước những thách thức đó, đòi hỏi các doanh nghiệp phải luônsáng tạo trong kinh doanh, biết nắm bắt cơ hội kịp thời, đồng thời doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tổ chức quản lý hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh và giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp. Muốn thực hiện điều đó thì tự bản thân doanh nghiệp phải nắm rõ được tình hình tài chính của mình để điều chỉnh quá trình kinh doanh sao cho phù hợp. Có thể nói rằng, tài chính đóng vai trò hết sức quan trọng và tác động mạnh mẽ đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, nó quyết định đến sự tồn tại, phát triển và cả sự suy vong của doanh nghiệp. Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp doanh nghiệp thấy rõ thực trạng tài chính hiện tại, xác định đầy đủ và đúng đắn nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính, từ đó có các giải pháp hữu hiệu để ổn định và tăng cường tình hình tài chính của doanh nghiệp cũng như dự đoán về tương lai. Đánh giá đúng nhu cầu về vốn, tìm được nguồn tài trợ, sử dụng chúng một cách hiệu qủa là vấn đề quan tâm hàng đầu của bất kỳ doanh nghiệp nào. Nhận thức được tầm quan trọng đó, kết hợp với lý luận thực tiễn cùng với sự giúp đỡ và hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo PGS.. Bùi Văn Vần và các anh chị trong phòng Kế toán của công ty, em đã quyết định chọn đề tài luận văn tốt nghiệp là , LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 2020, LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG, LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP ĐIỂM CAO
Trang 1LỚP: CQ54/11.03
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH THIÊN TÀI
CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
MÃ SỐ: 11
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS TS BÙI VẦN
HÀ NỘI – 2020
1
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực
tế của đơn vị thực tập.
HàNội, ngày 27 tháng 05 năm 2020
Tác giả luận văn
(Ký và ghi rõ họtên)
Đặng Thị Trà My
Trang 3MỤC LỤC
Trang 5BHYT Bảo hiểm y tế
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường của Việt Nam từ hơn thập
kỉ qua kéo theo sự thay đổi rõ rệt trong các doanh nghiệp và nhất là trongphương thức quản lý Đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhiềuthành phần kinh tế tự do cạnh tranh, cùng với xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh
tế và hợp tác quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng mang đến cho các doanh nghiệptrong nước những cơ hội, đồng thời cũng gặp không ít khó khăn và thử thách,
Trang 7đặc biệt phải chịu sự cạnh tranh gay gắt do nguồn vốn đầu tư ồ ạt từ nước ngoàivào Đứng trước những thách thức đó, đòi hỏi các doanh nghiệp phải luônsángtạo trong kinh doanh, biết nắm bắt cơ hội kịp thời, đồng thời doanh nghiệp phảinâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tổ chức quản lý hợp lý nhằm nâng cao hiệuquả kinh doanh và giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp.
Muốn thực hiện điều đó thì tự bản thân doanh nghiệp phải nắm rõ đượctình hình tài chính của mình để điều chỉnh quá trình kinh doanh sao cho phùhợp Có thể nói rằng, tài chính đóng vai trò hết sức quan trọng và tác động mạnh
mẽ đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, nó quyết định đến sự tồn tại,phát triển và cả sự suy vong của doanh nghiệp
Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp doanhnghiệp thấy rõ thực trạng tài chính hiện tại, xác định đầy đủ và đúng đắn nguyênnhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính, từ đó có cácgiải pháp hữu hiệu để ổn định và tăng cường tình hình tài chính của doanhnghiệp cũng như dự đoán về tương lai
Đánh giá đúng nhu cầu về vốn, tìm được nguồn tài trợ, sử dụng chúng mộtcách hiệu qủa là vấn đề quan tâm hàng đầu của bất kỳ doanh nghiệp nào Nhậnthức được tầm quan trọng đó, kết hợp với lý luận thực tiễn cùng với sự giúp đỡ
và hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo PGS Bùi Văn Vần và các anh chị trongphòng Kế toán của công ty, em đã quyết định chọn đề tài luận văn tốt nghiệp là
“Tình hình tài chính tại công ty TNHH Thiên Tài”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích và đánh giá tình hình tài chính của công ty trong năm
2018 và năm 2019, từ đó chỉ ra những mặt mạnh và yếu và nguyên nhân dẫn đếntình hình làm cơ sở để đề xuất ra những biện pháp quản trị tài chính đúng đắn vàcải thiện tình hình tài chính của công ty TNHH Thiên Tài
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình tài chính của công ty TNHHThiên Tài Cụ thể như sau:
Về mặt nội dung: Đề tài đi sâu vào nghiên cứu thực trạng tài chính và cácgiải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của công ty TNHH Thiên Tài
Về mặt không gian: Đề tài nghiên cứu thực hiện nghiên cứu tại chính công
ty TNHH Thiên Tài
Về mặt thời gian: Trong 2 năm 2018 và 2019
Trang 8Nguồn số liệu: Số liệu từ các sổ sách kế toán, báo cáo tài chính các năm
2018, 2019 và các sổ sách liên quan
4. Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập các dữ liệu và số liệu từ công ty
- Thu thập các tài liệu từ sách báo và website
- Sử dụng các phương pháp phân tích số liệu: Chủ yếu sử dụng phương pháp sosánh, ngoài ra cùng các phương pháp khác như phương pháp tổng hợp, thống kê
mô tả liên hệ đối chiếu với số liệu thực tế đã thu thập được tại công ty và minhhọa bằng bảng biểu, biểu đồ, số liệu qua từng năm cùng với phương pháp kếthừa những nghiên cứu đã có, tham khảo sách, các tài liệu liên quan đến tàichính của công ty, từ đó đưa ra nhận xét và kết luận
5. Kết cấu luận văn
Kết cấu luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận thì gồm có các thành phầnchính như sau:
Chương 1: Lý luận về tình hình tài chính của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng tình hình tài chính của công ty TNHH Thiên Tàitrong thời gian qua
Chương 3: Giải pháp cải thiện tình hình tài chính của công ty TNHH ThiênTài
Trong quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn, không tránh khỏi nhữngthiếu sót, lập luận chưa thấu đáo, kinh nghiệm thực tế chưa thông, còn mang tính
lý thuyết Vì vậy, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thànhcủa quý thầy cô và các anh chị trong công ty đểluận văn của em được hoàn thiệnhơn
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS Bùi Văn Vần và các anh chịtrong công ty TNHH Thiên Tài đã tận tình hướng dẫn và hỗ trợ giúp em hoànthành luận văn tốt nghiệp này
Trang 9CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA
DOANH NGHIỆP 1.1 Tài chính doanh nghiệp và quản trị tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Tài chính doanh nghiệp và các quyết định tài chính doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất vàcung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời.Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình kết hợp cácyếu tố đầu vào như nhà xưởng, thiết bị, nguyên vật liệu… và sức lao động để tạo
ra yếu tố đầu ra là hàng hóa và tiêu thụ hàng hóa đó để thu lợi nhuận
Trong nền kinh tế thị trường để có các yếu tố đầu vào đòi hỏi doanh nghiệpphải có một lượng vốn tiền tệ nhất định Tùy từng loại hình pháp lý tổ chức,
Trang 10doanh nghiệp có phương thức thích hợp tạo lập số vốn tiền tệ ban đầu, từ số vốntiền tệ đó doanh nghiệp sẽ mua những thứ cần thiết để phục vụ sản xuất kinhdoanh Sau khi sản xuất xong, doanh nghiệp sẽ thực hiện bán hàng hóa và thutiền bán hàng Số tiền thu từ bán hàng sẽ bù đắp các khoản chi phí vật chất đãtiêu hao, trả tiền công cho người lao động, các khoản chi phí khác, nộp thuế choNhà nước và phần còn lại là lợi nhuận sau thuế Từ phần lợi nhuận sau thuế,doanh nghiệp sẽ sử dụng cho mục đích tiêu dung hoặc tích lũy.
Vì vậy, quá trình hoạt động của doanh nghiệp cũng chính là quá trình tạolập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ hợp thành hoạt động tài chính của doanhnghiệp Trong quá trình đó đã làm phát sinh, tạo ra sự vận động của các dòngtiền bao gồm dòng tiền vào, dòng tiền ra gắn liền với hoạt động đầu tư và hoạtđộng kinh doanh thường xuyên hàng ngày của doanh nghiệp
Quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp cũng
là quá trình phát sinh các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị hợp thành cácquan hệ tài chính doanh nghiệp bao gồm :
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước.
Quan hệ này được thể hiện trong việc doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụtài chính với Nhà nước như nộp các khoản thuế, lệ phí vào ngân sách…
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác và các tổ chức xã hội.
Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác rất đadạng và phong phú được thể hiện trong việc thanh toán, thưởng phạt vật chất khidoanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho nhau(bao hàm cả các dịch vụ tài chính)
Ngoài quan hệ tài chính với các chủ thể kinh tế khác, doanh nghiệp có thể
có quan hệ tài chính với các tổ chức xã hội khác, như doanh nghiệp thực hiện tàitrợ cho các tổ chức xã hội…
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và người lao động trong doanh nghiệp.
Quan hệ này được thể hiện trong việc doanh nghiệp thanh toán trả tiềncông, thực hiện thưởng, phạt vật chất với người lao động trong quá trình thamgia vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 11- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp.
Mối quan hệ này thể hiện trong việc các chủ sở hữu thực hiện việc đầu tư,góp vốn vào, hay rút vốn ra khỏi doanh nghiệp và trong việc phân chia lợi nhuậnsau thuế của doanh nghiệp
- Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp.
Đây là mối quan hệ thanh toán giữa các bộ phận nội bộ doanh nghiệp tronghoạt động kinh doanh, trong việc hình thành và sử dụng các quỹ của doanhnghiệp, cũng như khi phân phối kết quả kinh doanh và thực hiện hạch toán nội
bộ doanh nghiệp
Như vậy xét về mặt bản chất, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tếdưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệcủa doanh nghiệp trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp
Xét về mặt hình thức, tài chính doanh nghiệp là các quỹ tiền tệ trong quátrình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanhnghiệp
Việc nhận thức đúng đắn quan niệm về tài chính doanh nghiệp và bản chấttài chính doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn Điều đótạo cơ sở cho việc vận dụng các quan hệ tài chính để đưa ra quyết định tài chínhđúng đắn nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp
1.1.1.2 Các quyết định tài chính doanh nghiệp
Mặc dù chưa hoàn toàn thống nhất trong khái niệm tài chính doanh nghiệp
về mặt ngôn từ; tuy nhiên, có sự đồng thuận khi các quan niệm khác nhau về tàichính doanh nghiệp đều cho rằng: Tài chính doanh nghiệp thực chất là quan tâmnghiên cứu ba quyết định chủ yếu đó là quyết định đầu tư, quyết định nguồn vốn
và quyết định phân phối lợi nhuận
* Quyết định đầu tư: Là những quyết định liên quan đến tổng giá trị tài sản và giá
trị từng bộ phận tài sản (tài sản cố định và tài sản lưu động) Quyết định đầu tưảnh hưởng đến bên trái (phần tài sản) của bảng cân đối kế toán Các quyết địnhđầu tư của doanh nghiệp chủ yếu bao gồm:
- Quyết định đầu tư tài sản lưu động: Quyết định tồn quỹ, quyết định tồn kho,quyết định chính sách bán hàng, quyết định đầu tư tài sản chính ngắn hạn…
- Quyết định đầu tư tài sản cố định: Quyết định mua sắm tài sản cố định, quyếtđịnh đầu tư dự án, quyết định đầu tư tài chính dài hạn…
Trang 12- Quyết định quan hệ cơ cấu giữa đầu tư tài sản lưu động và đầu tư tài sản cốđịnh: Quyết định sử dụng đòn bẩy kinh doanh, quyết định hòa vốn.
Có thể nói, quyết định đầu tư được xem là quyết định quan trọng nhất trongcác quyết định của tài chính doanh nghiệp bởi nó tạo ra giá trị cho doanh nghiệp.Một quyết định đầu tư đúng đắn sẽ góp phần làm tăng giá trị doanh nghiệp, qua
đó làm gia tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu, ngược lại một quyết định đầu tưsai sẽ làm tổn thất giá trị doanh nghiệp, dẫn đến thiệt hại tài sản cho chủ sở hữudoanh nghiệp
* Quyết định huy động vốn (Quyết định nguồn vốn): Là những quyết định lien
quan đến việc nên lựa chọn nguồn vốn nào để cung cấp cho các quyết định đầu
tư Quyết định nguồn vốn tác động đến bên phải (phần nguồn vốn) của bảng cânđối kế toán Các quyết định huy động vốn chủ yếu của doanh nghiệp bao gồm:
- Quyết định huy động vốn ngắn hạn: Quyết định vay ngắn hạn hay sử dụng tíndụng thương mại
- Quyết định huy động vốn dài hạn: Quyết định sử dụng nợ dài hạn thông quavay dài hạn ngân hàng hay phát hành trái phiếu công ty; quyết định phát hànhvốn cổ phần (cổ phần phổ thông hay cổ phần ưu đãi); quyết định quan hệ cơ cấugiữa nợ và vốn chủ sở hữu (đòn bẩy tài chính); quyết định vay để mua, hay thuêtài sản…
Các quyết định huy động vốn là một thách thức không hề nhỏ đối với cácnhà quản trị tài chính doanh nghiệp Để có các quyết định huy động vốn đúngđắn, các nhà quản trị tài chính phải có sự nắm vững những điểm lợi, bất lợi củaviệc sử dụng các công cụ huy động vốn; đánh giá chính xác tình hình hiện tại và
dự báo đúng đắn diễn biến thị trường - giá cả trong tương lai… trước khi đưa raquyết định huy động vốn
* Quyết định phân chia lợi nhuận: Gắn liền với quyết định về phân chia cổ tức
hay chính sách cổ tức của doanh nghiệp Các nhà quản trị tài chính sẽ phải lựachọn giữa việc sử dụng phần lớn lợi nhuận sau thuế để chia cổ tức, hay là giữ lại
để tái đầu tư Những quyết định này liên quan đến việc doanh nghiệp nên theođuổi một chính sách cổ tức như thế nào và liệu chính sách cổ tức có tác độngđến giá trị doanh nghiệp hay giá cổ phiếu của công ty trên thị trường hay không.Ngoài ba loại quyết định chủ yếu trong tài chính doanh nghiệpnhư trên thìcòn rất nhiều loại quyết định khác có liên quan đến hoạt động kinh doanh của
Trang 13doanh nghiệp như quyết định mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, quyết địnhphòng ngừa rủi ro tài chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh…
Căn cứ vào thời gian thực hiện có thể chia các quyết định tài chính củadoanh nghiệp ra làm 2 nhóm là quyết định tài chính dài hạn và quyết định tàichính ngắn hạn
* Quyết định tài chính dài hạn:
Đây là những quyết định có tính chất chiến lược, có tầm ảnh hưởng lâu dàiđến sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp Mỗi quyết định này đòi hỏi nhà quảntrị phải cân nhắc kỹ lưỡng, phân tích một cách bài bản và khoa học để đảm bảohạn chế thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra Thuộc quyết định tài chính dài hạnbao gồm:
- Quyết định đầu tư dài hạn
- Quyết định huy động vốn dài hạn
- Quyết định về chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp
* Quyết định tài chính ngắn hạn:
Đây là những quyết định có tính chất tác nghiệp, ảnh hưởng không lớn tới
sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp; vì vậy, người ta còn gọi là các quyết địnhtài chính chiến thuật Thuộc quyết định tài chính ngắn hạn bao gồm:
- Quyết định dự trữ vốn bằng tiền
- Quyết định về nợ phải thu
- Quyết định vềchiết khấu thanh toán
- Quyết định về dự trữ vốn tồn kho
- Các quyết định tài chính ngắn hạn khác
Tóm lại, nhà quản trị tài chính phải đưa ra các quyết định tài chính nhằm tối
đa hóa giá trị doanh nghiệp Với mỗi quyết định tài chính, nhà quản trị phải luônluôn đối mặt với sự mâu thuẫn giữa rủi ro và sinh lời Một quyết định tài chínhkhôn ngoan là quyết định có thể tối đa hóa được giá trị doanh nghiệp, muốn vậyquyết định tài chính phải đảm bảo tối thiểu hóa được rủi ro và tối đa hóa được tỷsuất sinh lời cho chủ sở hữu Đây là điều rất khó cho các nhà quản trị tài chínhtrong quá trình phân tích và ra quyết định lựa chọn các quyết định tài chính phùhợp
1.1.2 Quản trị tài chính doanh nghiệp
Trang 141.1.2.1 Khái niệm và vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp
Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn, đưa ra quyết định và tổchức thực hiện các quyết định tài chính nhằm đạt được các mục tiêu hoạt độngcủa doanh nghiệp Do các quyết định tài chính của doanh nghiệp đều gắn liềnvới việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt độngcủa doanh nghiệp; vì vậy, quản trị tài chính doanh nghiệp còn được nhìn nhận làquá trình hoạch định, tổ chức thực hiện, điều chỉnh và kiểm soát quá trình tạolập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ đáp ứng nhu cầu hoạt động của doanhnghiệp
Quản trị tài chính doanh nghiệp bao gồm các hoạt động của người quản lý(nhà quản trị) liên quan đến việc đầu tư, mua sắm, tài trợ và quản lý tài sản củadoanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Có thể thấy quản trị tài chínhdoanh nghiệp gắn liền với ba loại quyết định chính: Quyết định đầu tư, quyếtđịnh huy động vốn và quyết định phân phối lợi nhuận làm ra, sao cho có lợi nhấtcho các chủ sở hữu doanh nghiệp
Quản trị tài chính doanh nghiệp là một bộ phận, là nội dung quan trọnghàng đầu của quản trị doanh nghiệp, nó có quan hệ chặt chẽ và và ảnh hưởng tớitất cả các mặt hoạt động của doanh nghiệp hầu hết các quyết định quản trịdoanh nghiệp đều dựa trên cơ sở những kết quả rút ra từ việc đánh giá về mặt tàichính của hoạt động quản trị tài chính doanh nghiệp Điều này xuất phát từ vaitrò của công tác quản trị tài chính đối với doanh nghiệp
Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp đối với hoạt động của doanhnghiệp được thể hiện qua các mặt chủ yếu sau:
* Huy động vốn đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp diễn ra bình thường và liên tục.
Vốn tiền tệ là tiền đề cho các hoạt động của doanh nghiệp Trong quá trìnhhoạt động của doanh nghiệp thường xuyên nảy sinh các nhu cầu vốn ngắn hạn
và dài hạn cho các hoạt động kinh doanh thường xuyên, cũng như cho nhu cầuđầu tư phát triển của doanh nghiệp Nếu không huy động kịp thời và đủ vốn sẽkhiến cho các hoạt động của doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc không triển khaiđược Do vậy, việc đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp được tiến hànhbình thường, liên tục phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức huy động vốn của tàichính doanh nghiệp
Trang 15Nhà quản trị tài chính trên cơ sở xem xét tình hình thị trường tài chính, nhucầu vốn và điều kiện cụ thể của doanh nghiệp, từ đó đưa ra quyết định tối ưunhất trong việc tổ chức và huy động các nguồn vốn (bên trong, bên ngoài) đápứng nhu cầu cho các hoạt động của doanh nghiệp Một chính sách tài trợ đúngđắn không những giúp doanh nghiệp giảm thiểu được rủi ro tài chính, mà còntác động rất lớn đến việc thực hiện mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.
* Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm, hiệu quả, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Với việc lựa chọn các dự án đầu tư tối ưu trên cơ sở cân nhắc, so sánh giữa
tỷ suất sinh lời, chi phí huy động vốn và mức độ rủi ro của dự án đầu tư…nhàquản trị tài chính đã tạo tiền đề cho việc sử dụng vốn tiết kiệm và đạt hiệu quảcao
Việc tổ chức huy động vốn kịp thời, đầy đủ sẽ giúp cho doanh nghiệp chớpđược cơ hội kinh doanh, tăng doanh thu và lợi nhuận doanh nghiệp Việc lựachọn các hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp, đảm bảo cơ cấuvốn tối ưu có thể giúp doanh nghiệp giảm bớt được chi phí sử dụng vốn, gópphần tăng lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.Mặt khác, với việc huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động sản xuấtkinh doanh có thể giúp doanh nghiệp tránh được thiệt hại do ứ đọng vốn, tăngvòng quay tài sản, giảm được số vốn vay từ đó giảm được tiền trả lãi vay, gópphần tăng lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp
* Kiểm tra giám sát một cách toàn diện các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình vậnđộng, chuyển hóa hình thái của vốn tiền tệ Vì vậy, thông qua việc phân tíchđánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp và việc thực hiện các chỉ tiêu tàichính, các nhà quản trị tài chính có thể kiểm soát những tồn tại và những tiềmnăng chưa được khai thác để đưa ra các quyết định thích hợp, điều chỉnh cáchoạt động nhằm đạt được mục tiêu đề ra của doanh nghiệp
1.1.2.2 Nội dung của quản trị tài chính doanh nghiệp
Quản trị tài chính doanh nghiệp bao hàm các nội dung chủ yếu sau:
* Tham gia việc đánh giá, lựa chọn quyết định đầu tư.
Triển vọng của một doanh nghiệp trong tương lai phụ thuộc rất lớn vào cácquyết định đầu tư dài hạn với quy mô lớn như quyết định đầu tư đổi mới công
Trang 16nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, sản xuất sản phẩm mới… Để đi đến quyếtđịnh đầu tư đòi hỏi doanh nghiệp cần phải cân nhắc trên nhiều mặt về kinh tế kỹthuật và tài chính Trong đó xét về mặt tài chính phải xem xét các khoản chi tiêuvốn cho đầu tư và dự tính thu nhập do đầu tư đưa lại, nói cách khác là xem xétdòng tiền ra và dòng tiền vào liên quan đến khoản đầu tư để đánh giá cơ hội đầu
tư về mặt tài chính Đó là quá trình hoạch định dự toán vốn đầu tư và đánh giáhiệu quả tài chính của việc đầu tư
* Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời, đủ nhu cầu vốn cho các hoạt động của doanh nghiệp.
Tất cả các hoạt động của doanh nghiệp đều đòi hỏi phải có vốn Nhà quảntrị tài chính phải xác định các nhu cầu vốn cần thiết cho cáo các hoạt động củadoanh nghiệp ở trong kỳ (bao gồm vốn dài hạn và vốn ngắn hạn); tiếp theo,phải
tổ chức huy động các nguồn vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ và có lợi cho các hoạtđộng của doanh nghiệp Để đi đến quyết định về lựa chọn hình thức và phươngpháp huy động vốn thích hợp, cần xem xét cân nhắc trên nhiều mặt như: Kết cấunguồn vốn, những điểm lợi của từng hình thức huy động vốn, chi phí cho việc
sử dụng mỗi nguồn vốn…
* Sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Nhà quản trị tài chính phải tìm mọi biện pháp huy động tối đa số vốn hiện
có của doanh nghiệp vào hoạt động kinh doanh, giải phóng kịp thời số vốn ứđọng, theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thanh toán, thu hồi tiền bán hàng vàcác khoản thu khác, đồng thời quản lý chặt chẽ mọi khoản chi phí phát sinhtrong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, thường xuyên tìm biện pháp thiếtlập sự cân bằng giữu thu và chi vốn bằng tiền, đảm bảo cho doanh nghiệp luôn
có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn
* Thực hiện phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp
Thực hiện phân phối hợp lý lợi nhuận sau thuế, cũng như trích lập và sửdụng tốt các quỹ của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triểndoanh nghiệp, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động trongdoanh nghiệp, giải quyết sự hài hòa giữa lợi ích trước mắt của chủ sở hữu với lợiích lâu dài - sự phát triển của doanh nghiệp
* Kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp.
Trang 17Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hằng ngày, các báo cáo tài chính, tìnhhình thực hiện các chỉ tiêu tài chính cho phép kiểm soát được tình hình hoạtđộng của doanh nghiệp Mặt khác, thông qua việc định kỳ tiến hành phân tíchtình hình tài chính của doanh nghiệp để đánh giả được hiệu quả sử dụng vốn,những điểm mạnh và điểm yếu trong quản lý, dự báo trước tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp, từ đó giúp cho các nhà lãnh đạo kịp thời đưa ra các quyếtđịnh thích hợp để điều chỉnh hoạt động kinh doanh và tài chính của doanhnghiệp trong thời kỳ tới.
* Thực hiện kế hoạch hóa tài chính.
Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần được dự kiến trước thôngqua việc lập kế hoạch tài chính, có kế hoạch tài chính tốt thì doanh nghiệp mới
có thể đưa ra các quyết định tài chính thích hợp nhằm đạt tới các mục tiêu củadoanh nghiệp Quá trình thực hiện kế hoạch tài chính cũng là quá trình chủ độngđưa ra các giải pháp hữu hiệu khi thị trường có sự biến động
1.2 Tình hình tài chính của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm tình hình tài chính của doanh nghiệp
Với các lý thuyết trên ta có thể hiểu được thế nào là tài chính doanh nghiệp.Theo cách hiểu chung nhất thì tài chính doanh nghiệp chính là các quỹ tiền tệđược hình thành và sử dụng trong doanh nghiệp Vậy như thế nào là tình hình tàichính của doanh nghiệp Chưa có khái niệm nào thể hiện rõ được nội dung vềtình hình tài chính của doanh nghiệp Chúng ta có thể hiểu khái niệm này nhưsau:
Tình hình tài chính doanh nghiệp là tình hình tài chính của doanh nghiệpthông qua các hệ số như hệ số vốn, hệ số tài trợ, hệ số đầu tư, khả năng thanhtoán, khả năng sinh lời qua đó nhận biết được tình trạng doanh nghiệp đanggặp phải để đưa ra hướng giải quyết tốt nhất
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn được diễn ra liên tục
và được diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế với mức độ toàn cầu hóa ngày càngcao Điều này đồng nghĩa với việc nắm bắt thông tin một cách nhanh nhạy hay
dự đoán được tình hình tài chính của doanh nghiệp là một nhân tố quan trọng,
nó quyết định đến việc nắm bắt cơ hội đầu tư cũng như các chiến lược trong việchuy động, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp Do đó, đánhgiá thực trạng tài chính của doanh nghiệp trở nên quan trọng hơn bao giờ hết
Trang 18Đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp là tổng thể các phương phápcho phép đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, dự đoán tình hình tàichính trong tương lai của doanh nghiệp, giúp cho nhà quản lý đưa ra các quyếtđịnh quản lý hợp lý, phù hợp với mục tiêu mà họ quan tâm.
Vai trò cơ bản của đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp là cung cấpthông tin hữu ích cho tất cả các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính củadoanh nghiệp trên những khía cạnh khác nhau, giúp cho họ có cơ sở vũng chắc
để đưa ra các quyết định phù hợp với mục đích của mình
Mục tiêu đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp:
- Cung cấp đầy đủ những thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, các chủ nợ vànhững người sử dụng khác để họ có thể ra các quyết định về đầu tư, tín dụng vàcác quyết định tương tự
- Cung cấp thông tin quan trọng nhất cho chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư, cácchủ nợ và những người sử dụng khác đánh giá số lượng, thời gian và rủi ro củanhững khoản thu bằng tiền từ cổ tức hoặc tiền lãi
- Cung cấp tin về các nguồn lực kinh tế, vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quảcủa các quá trình, các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợcủa doanh nghiệp
1.2.2 Nội dung và chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp
1.2.2.1 Tình hình quy mô và cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp
Tình hình nguồn vốn của doanh nghiệp thể hiện qua quy mô, cơ cấu và sựbiến động của nguồn vốn Phân tích tình hình nguồn vốn cỉa doanh nghiệp đểthấy được doanh nghiệp đã huy động vốn từ những nguồn nào? Quy mô nguồnvốn huy động được đã tang hay giảm? Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp tựchủ hay phụ thuộc, thay đổi theo chiều hướng nào? Xác định các trọng điểm cầnchú ý trong chính sách huy động vốn của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêuchủ yếu trong chính sách huy động vốn ở mỗi thời kỳ
Để đánh giá thực trạng nguồn vốn của doanh nghiệp cần sử dụng 2 nhómchỉ tiêu:
- Các chỉ tiêu phản ánh quy mô nguồn vốn gồm: Giá trị tổng nguồn vốn và từngchỉ tiêu nguồn vốn trên Bảng cân đối kế toán (B0-DN)
- Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp như hệ số nợ, hệ sốvốn chủ sở hữu thông qua các công thức:
Hệ số nợ (H d ) =
Trang 19Hệ số được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối với cácchủ nợ trong việc góp vốn Thông thường các chủ nợ thích tỷ lệ vay nợ vừa phải
vì tỷ lệ này càng thấp thì khoản nợ càng được bảo đảm trong trường hợp doanhnghiệp bị phá sản Trong khi đó, các chủ sở hữu doanh nghiệp lại ưa thích tỷ lệ
nợ cao vì họ nắm trong tay một lượng tài sản lớn mà chỉ đầu tư một lượng vốnnhỏ và các nhà tài chính sử dụng nó như một chính sách tài chính để gia tăng lợinhuận
Hệ số vốn chủ sở hữu (H e ) = Hoặc: Hệ số vốn chủ sở hữu (H e ) = 1 – Hệ số nợ (H d )
Hệ số này đo lường sự góp vốn của chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn jieenjnay của doanh nghiệp Hệ số vốn chủ sở hữu càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp cónhiều vốn chủ sở hữu, tính độc lập cao với các khoản nợ, do đó không bị rangbuộc hoặc bị sức ép của các khoản nợ vay Thông thường các chủ nợ thích hệ sốnày càng cao càng tốt vì họ thấy một sử đảm bảo cho các món nợ vay được hoàntrả đúng hạn
⮚ Mô hình tài trợ của công ty:
Mục đích phân tích: Hoạt động tài trợ phản ánh mối quan hệ giữa tài sảnvới nguồn vốn hình thành tài sản đó trên cả ba phương diện: thời gian, giá trị vàhiệu quả Tiến hành đánh giá hoạt động tài trợ của doanh nghiệp để xem xét việc
sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp đã hiệu quả hay chưa, có phù hợp với cơcấu nguồn vốn mục tiêu của doanh nghiệp hay không
Chỉ tiêu phân tích: Hoạt động tài trợ của doanh nghiệp được đánh giá thôngqua các chỉ tiêu như nguồn vốn lưu dộng thường xuyên, nguồn vốn lưu độngtạm thời, nhu cầu vốn lưu động
Nguồn vốn lưu động thường xuyên (NWC – Net working capital): là nguồnvốn ổn định có tính chất dài hạn để hình thành hay tài trợ cho tài sản lưu động(TSLĐ) thường xuyên cần thiết trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Nguồn vốn lưu động thường xuyên = Nguồn vốn dài sạn – Tài sản dài hạn
Trang 20phản ánh khả năng thanh toán để đánh giá mức độ rủi ro hay an toàn tài chínhtrong hoạt động doanh nghiệp
Một số trường hợp thường xảy ra như sau:
Mô hình tài trợ thứ nhất: Toàn bộ TSCĐ và TSLĐ thường xuyên được
đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, toàn bộ TSLĐ tạm thời được bảo đảmbằng nguồn vốn tạm thời Mô hình này được coi như trạng thái cân bằng giữanguồn vốn cũng như tài sản của doanh nghiệp
Mô hình tài trợ thứ hai: Toàn bộ TSCĐ, TSLĐ thường xuyên và một
phần TSLĐ tạm thời được bảo đảm bằng nguồn vốn thường xuyên và một phầnTSLĐ tạm thời còn lại được bảo đảm bằng nguồn vốn tạm thời Đây là mô hìnhđược coi là an toàn nhất cho các doanh nghiệp, chính vì vậy mà lợi nhuận khitheo đuổi mô hình này thường không cao, doanh nghiệp thiếu sự linh hoạt trongviệc chuyển đổi mô hình
Mô hình tài trợ thứ ba: Toàn bộ TSCĐ và một phần TSLĐ thường xuyên
được bảo đảm bằng nguồn vốn thường xuyên, còn một phần TSLĐ thườngxuyên và toàn bộ TSLĐ tạm thời được bảo đảm bằng nguồn vốn tạm thời Ưuđiểm của mô hình này đó là chi phí sử dụng vốn thấp, có thể điều chỉnh cơ cấunguồn vốn linh hoạt, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Tuy nhiên, công ty sẽ đốimặt với nhiều rủi ro hơn so với các mô hình khác
1.2.2.2 Tình hình quy mô và cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của tài sản Vốn kinh doanh củadoanh nghiệp bao gồm 2 loại: Vốn cố định và vốn lưu động Vốn nhiều hay ít,tăng hay giảm, phân bổ cho từng khâu, từng giai đoạn hợp lý hay không sẽ ảnhhưởng lớn đến kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp Phântích tình hình tài sản là để đánh giá quy mô tài sản của doanh nghiệp, mức độđầu tư của doanh nghiệp cho hoạt động kinh doanh nói chung cũng như từnglĩnh vực hoạt động, từng loại tài sản nói riêng Thông qua quy mô và sự biếnđộng quy mô của tổng tài sản cũng như từng loại tài sản ta sẽ thấy sự biến động
về mức độ đầu tư, quy mô kinh doanh, năng lực kinh doanh, khả năng tài chínhcủa doanh nghiệp, cũng như việc sử dụng vốn của doanh nghiệp như thế nào.Thông qua cơ cấu tài sản của doanh nghiệp ta thấy được chính sách đầu tư đã vàđang thực hiện của doanh nghiệp, sự biến động về cơ cấu tài sản cho thays sựthay đổi trong chính sách đầu tư của doanh nghiệp
Trang 21Tình hình tài sản của doanh nghiệp được thể hiện thông qua 2 nhóm chỉtiêu:
- Các chỉ tiêu quy mô tài sản trên Bảng cân đối kế toán
- Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài sản của doanh nghiệp như tỷ lệ đầu tư vàoTSNH, tỷ lệ đầu tư vào TSDH thông qua các công thức:
Tỷ lệ đầu tư vào TSNH =
Tỷ lệ đầu tư vào TSDH =
1.2.2.3 Tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Tình hình kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động kinhdoanh trong kỳ của doanh nghiệp và chỉ ra rằng các hoạt động có đem lại lợinhuận cho doanh nghiệp hay không, tình hình sử dụng vốn như thế nào, hiệusuất và hiệu quả ra sao Qua đó, các nhà quản trị có biện pháp nhằm gia tăng lợinhuận, tiết kiệm chi phí cho các kỳ tiếp theo
* Cơ cấu lợi nhuận
Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả hoạt động của từng hoạt động trong kỳ vàcho biết hoạt động nào chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp, bao gồm:
Lợi nhuận từ HĐKD = DTT – CPBH – CPQLDN Lợi nhuận từ HĐTC = DTTC – CPTC
Lợi nhuận từ HĐ khác = Thu nhập khác – Chi phí khác
1.2.2.4 Tình hình dòng tiền của doanh nghiệp
Dòng tiền phản ánh sự vận động của tiền đi vào và đi ra phát sinh trong mộtthời kỳ nhất định từ các hoạt động của một doanh nghiệp Trên góc độ tài chínhdoanh nghiệp, lợi nhuận kế toán và dòng tiền là 2 khái niệm hoàn toàn khácnhau Lợi nhuận phản ánh khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí thực tếphát sinh trong một thời kỳ nhất định từ các hoạt động của một doanh nghiệp
Để giúp cho công tác quản trị dòng tiền một cách hiệu quả, chúng ta cần phải
Trang 22phân biệt rõ hai khái niệm này Lợi nhuận kế toán mang đầy đủ đặc điểm củaphương pháp kế toán dồn tích Dòng tiền và lợi nhuận kế toán đều là những chỉtiêu để đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp Tuy nhiên, mỗi chỉtiêu lại cho phép nhà quản trị sử dụng với một mục đích khác nhau trong côngtác quản trị tài chính của doanh nghiệp Thông thường, dòng tiền để đánh giákhả năng tạo tiền của doanh nghiệp và do vậy, nó xem xét khả năng thanh toáncác khoản nợ đến hạn trong khi lợi nhuận kế toán được dùng để đánh giá khảnăng sinh lời Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp có lợi nhuận kế toán cao nhưnglại không đảm bảo được khả năng thanh toán do thiếu tiền mặt và ngược lại cónhững doanh nghiệp có khả năng chi trả các khoản nợ nhưng lại có kết quả lợinhuận kế toán không cao, thậm chí là âm.
Dòng tiền của doanh nghiệp bao gồm: dòng tiền vào, dòng tiền ra và dòngtiền thuần
- Dòng tiền vào: Là dòng tiền phát sinh đi vào doanh nghiệp trong quá trình hoạtđộng Dòng tiền vào là các khoản tiền thu được từ bán sản phẩm, hàng hóa, cungcấp dịch vụ, đi vay vốn, phát hành cổ phiếu, thanh lý tài sản, rút vốn đầu tư…
- Dòng tiền ra: Là dòng tiền phát sinh đi ra khỏi doanh nghiệp trong quá trìnhhoạt động Dòng tiền ra là các khoản chi tiêu tiền của doanh nghiệp để đầu tưmua sắm tài sản, để thanh toán các khoản tiền mua nguyên vật liệu, trả lương,nộp thuế, nộp bảo hiểm, mua dịch vụ bên ngoài cung cấp, trả nợ vay, chi trả lãivay, chia cổ tức cho chủ sở hữu…
- Dòng tiền thuần: Là chênh lệch giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra của doanhnghiệp phát sinh trong một kỳ hoạt động của doanh nghiệp
Quản trị dòng tiền một cách hiệu quả là yêu cầu cực kì bức thiết, quyết địnhtrực tiếp đến sự sống còn của cả một doanh nghiệp, vậy nên việc phân tích dòngtiền trong doanh nghiệp cũng là điều vô cùng cần thiết
Để đánh giá tình hình dòng tiền của doanh nghiệp, ta đánh giá các nhóm chỉtiêu sau:
* Chỉ tiêu thời gian chuyển hóa thành tiền
Là khoảng thời gian kể từ lúc tiền mặt vận động chuyển hóa qua các chu kỳhoạt động sản xuất kinh doanh và trở về thành tiền mặt
- Kỳ thu tiền trung bình (ADR – Average days in receivables): Là số ngày đượctính bình quân từ lúc cho khách hàng nợ đến khi thu hồi số nợ phải thu từ kháchhàng
Trang 23Kỳ thu tiền trung bình =
- Kỳ trả tiền trung bình (ADP – Average days in payables): Là số ngày được tínhbình quân từ lúc mua nguyên vật liệu, hàng hóa cho đến khi doanh nghiệp phảithanh toán tiền cho nhà cung cấp
Kỳ trả tiền trung bình =
- Kỳ luân chuyển hàng tồn kho bình quân (ADI – Average days in inventory): Là
số ngày bình quân từ lúc nguyên vật liệu, hàng hóa được nhập kho cho đến lúcxuất kho và bán cho khách hàng
Kỳ luân chuyển HTK bình quân =
- Thời gian bình quân chuyển hóa thành tiền = ADR + ADI – ADP
Như vậy, số ngày tồn kho càng lớn, số ngày cho khách hàng chịu càng dàihoặc số ngày trả nợ bình quân càng nhỏ thì thời gian chuyển hóa của tiền cũngcàng lớn và ngược lại
* Chỉ tiêu đánh giá tình hình dòng tiền của doanh nghiệp
- Hệ số doanh thu bằng tiền so với doanh thu bán hàng
Hệ số doanh thu bằng tiền so với doanh thu =
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ thu tiền từ doanh thu bán hàng trong kỳ Quađây đánh giá khả năng thu hòi tiền từ doanh thu
- Hệ số đảm bảo thanh toán lãi vay từ dòng tiền thuần hoạt động
Hệ số đảm bảo thanh toán lãi vay từ
dòng tiền thuần hoạt động
=
Hệ số này sử dụng để đánh giá được khả năng tạo tiền từ hoạt động sảnxuất kinh doanh có đáp ứng được yêu cầu thanh toán lãi vay hay không
- Hệ số đánh giá khả năng chi trả nợ của dòng tiền thuần hoạt động
Hệ số đảm bảo thanh toán nợ từ
dòng tiền thuần hoạt động
=
Trang 24Chỉ tiêu này sử dụng để xem xét khả năng chi trả các khoản nợ ngắn hạncủa doanh nghiệp thông qua dòng tiền thuần hoạt động Thông qua đó, đánh giákhả năng tạo tiền từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có đủ chi trả nợ haykhông.
1.2.2.5 Tình hình công nợ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp
* Tình hình công nợ của doanh nghiệp
Phân tích tình hình công nợ sẽ đánh giá được vốn của doanh nghiệp bịchiếm dụng như thế nào? Doanh nghiệp đã đi chiếm dụng vốn ra sao? Trongkinh doanh, việc bị chiếm dụng và đi chiếm dụng vốn là điều bình thường doluôn phát sinh các quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các đối tượng như Nhànước, khách hàng, nhà cung cấp điều làm các nhà quản trị doanh nghiệp longạilà các khoản nợ dây dưa, khó đòi, các khoản phải thu không có khả năng thuhồi và các khoản phải trả không có khả năng thanh toán Để nhận biết được điều
đó thì cần phải phân thích tình hình công nợ để có biện pháp điều chỉnh kịp thời.Trên thực tế, nếu các khoản công nợ phải thu lớn hơn các khoản công nợphải trả thì doanh nghiệp đó đã bị chiếm dụng vốn nhiều hơn là tăng nhu cầu tàitrợ Ngược lại, nếu các khoản công nợ phải thu nhỏ hơn các khoản công nợ phảitrả thì doanh nghiệp đó đã đi chiếm dụng vốn làm giảm nhu cầu tài trợ
Có 2 nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình công nợ:
- Các chỉ tiêu phản ánh về quy mô nợ bao gồm các chỉ tiêu phản ánh nợ phải thu
và nợ phải trả trên bảng cân đối kế toán
- Các nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ cấu nợ, trình độ quản trị nợ như:
+ Hệ số các khoản phải thu
Hệ số các khoản phải thu =
Chỉ tiêu này thể hiện mức độ bị chiếm dụng vốn của doanh nghiệp Chỉ tiêunày cho biết trong tổng tài sản của doanh nghiệp có bao nhiêu phần vốn bịchiếm dụng
+ Hệ số các khoản phải trả
Hệ số các khoản phải trả =
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đi chiếm dụng vốn của doanh nghiệp và chobiết trong tổng tài sản của doanh nghiệp có bao nhiêu phần vốn được tài trợbằng nguồn vốn đi chiếm dụng
+ Hệ số các khoản phải thu so với các khoản phải trả
Hệ số các KPThu so với các KPTrả =
Trang 25Chỉ tiêu này phản ánh các khoản doanh nghiệp bị chiếm dụng so với cáckhoản đi chiếm dụng Nếu tỷ lệ này lớn hơn 1 chứng tỏ số vốn của doanh nghiệp
bị chiếm dụng lớn hơn số vốn mà doanh nghiệp đi chiếm dụng Ngược lại, nếuchỉ tiêu này nhỏ hơn 1chứng tỏ số vốn doanh nghiệp bị chiếm dụng nhỏ hơn sốvốn đi chiếm dụng
+ Hệ số thu hồi nợ (Số vòng thu hồi nợ)
Hệ số thu hồi nợ =
Hệ số này cho biết trong kỳcác khoản phải thu ngắn hạn của doanh nghiệpquay được bao nhiêu vòng Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lý của số dư cáckhoản phải thu ngắn hạn và hiệu quả của việc thu hồi nợ ngắn hạn Nếu số vòngquay của các khoản phải thu ngắn hạn lớn, chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi tiềnhàng kịp thời, ít bị chiếm dụng vốn Tuy nhiên, số vòng quay các khoản phải thungắn hạn nếu quá cao sẽ không tốt vì có thể ảnh hưởng đến khối lượng hàng tiêuthụ do phương thức thanh toán quá chặt chẽ (chủ yếu là thanh toán ngay trongthời gian ngắn)
+ Kỳ thu hồi nợ bình quân
Kỳ thu hồi nợ bình quân (trong 1 năm) =
Kỳ thu nợ cho biết trung bình sau bao nhiêu ngày thì doanh nghiệp thuđược nơ
+ Hệ số hoàn trả nợ
Hệ số hoàn trả nợ =
Chỉ tiêu này cho biết bình quân trong kỳ doanh nghiệp hoàn trả được baonhiêu lần vốn đi chiếm dụng trong khâu thanh toán cho các bên có liên quan.Nếu số vòng quay của các khoản phải trả lớn chứng tỏ doanh nghiệp thanh toántiền hàng kịp thời, ít đi chiếm dụng vốn nên tạo ra uy tín cao đối với người cungcấp Tuy nhiên, số vòng quay các khoản phải trả nếu quá cao có thể ảnh hưởngđến kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp, bởi vì khi đó mức độ chiếmdụng vốn của doanh nghiệp ít, nên doanh nghiệp phải ứng thêm vốn cho hoạtđộng kinh doanh hoặc doanh nghiệp phải huy động mọi nguồn vốn để trả nợ (kể
cả vay, bán rẻ hàng hoá, dịch vụ )
+ Kỳ trả nợ bình quân
Kỳ trả nợ bình quân (Trong 1 năm) =
Chỉ tiêu phản ánh thời gian bình quân kỳ trả nợ chiếm dụng trong thanhtoán của doanh nghiệp là bao nhiêu ngày Thời gian thanh toán tiền càng ngắn,
Trang 26chứng tỏ tốc độ thanh toán tiền càng nhanh, doanh nghiệp ít đi chiếm dụng vốn.Ngược lại, thời gian thanh toán tiền càng dài, tốc độ thanh toán tiền càng chậm,
số vốn doanh nghiệp đi chiếm dụng nhiều
* Khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Khả năng thanh toán là khả năng sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp
để ứng phó đối với các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp theo thời hạn phùhợp Thông qua phân tích khả năng thanh toán có thể đánh giá thực trạng khảnăng thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp, từ đó có thể đánh giá tình hìnhtài chính của doanh nghiệp, thấy được các tiềm năng cũng như nguy cơ tronghoạt động huy động và hoàn trả nợ của doanh nghiệp để có biện pháp quản lýkịp thời
Khi phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp, sử dụng các chỉ tiêusau:
- Hệ số khả năng thanh toán hiện thời
Hệ số này là mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn.Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp có thể thanh toán được bao nhiêu lần nợngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn hiện có
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời =
Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thể hiện khả năng thanh toán nợ ngắn hạn củadoanh nghiệp là yếu và cũng là dấu hiệu cho thấy những dấu hiệu mạo hiểm vềtài chính vì mất cân bằng tài chính, công ty đã dùng 1 phần nguồn vốn nợ ngắnhạn để đầu tư dài hạn
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Trong doanh nghiệp, hàng tồn kho thường chiếm một tỷ lệ khá lớn trongtổng tài sản và thường khó bán nên doanh nghiệp sẽ mất một thời gian để biếnchúng thành tiền trả nợ khi các chủ nợ yêu cầu thanh toán Do đó, khi phân tíchcần xem xét đến hệ số khả năng thanh toán
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Đây là 1 chỉ tiêu đánh giá chặt chẽ hơn khả năng thanh toán của doanhnghiệp Hệ số này cho biết khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
mà không cần phải thực hiện thanh lý khẩn cấp hang tồn kho Nhìn chung, hệ sốngy mà cao thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp là tốt, đảm bảo cho doanhnghiệp có thể vay vốn dễ dàng trong tương lai Nhưng nếu tỷ trọng các khoản
Trang 27phải thu lớn là lớn trong tổng tài sản ngắn hạn thì doanh nghiệp cũng cần xemxét tới khả năng thu hồi nợ để đảm bảo tính chủ động về tài chính của doanhnghiệp.
- Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp có khả năng thanh toán ngay bao nhiêulần nợ ngắn hạn bằng các khoản tiền và tương đương tiền hiện có, đồng thời chỉtiêu này thể hiện việc chấp hành kỷ luật thanh toán của doanh nghiệp với chủnợ
Hệ số thanh toán tức thời =
Hệ số này đặc biệt hữu ích để đánh giá khả năng thanh toán của một doanhnghiệp trong giai đoạn nền kinh tế gặp khủng hoảng khi hàng tồn kho không tiêuthụ được và điều khoản nợ phải thu gặp khó khăn khó thu hồi Nhìn chung, hệ
số này quá nhỏ thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán công nợ.Tuy nhiên, cũng như hệ số phản ánh khả năng thanh toán nợ ngắn , độ lớn của
hệ số này cũng phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và kỳ hạn thanh toán củamón nợ phải trả trong kỳ
- Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
Lãi tiền vay là khoản chi phí sử dụng vốn vay mà doanh nghiệp có nghĩa vụphải trả đúng hạn cho các chủ nợ Nguồn để trả lãi vay là lợi nhuận gộp sau khi
đã trừ đi chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay =
Hệ số này đo lường mức độ lợi nhuận có được do sử dụng vốn để đảm bảotrả lãi vay cho chủ nợ Nói cách khác, hệ số thanh toán lãi vay cho chúng ta biếtđược số vốn đi vay đã được sử dụng tốt tới mức nào và đem lại khoản lợi nhuận
là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi vay phải trả hay không Nếu chỉ tiêu này càng lớmthì chứng tỏ hoạt động kinh doanh có khả năng sinh lời cao và đó là cơ sở đảmbảo cho tình hình thanh toán của doanh nghiệp lành mạnh
1.2.2.6 Tình hình hiệu suất và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
* Hệ số hiệu suất hoạt động
- Hiệu suất sử dụng toàn bộ vốn: Là chỉ tiêu này phản ánh tổng quát hiệu suất sửdụng tài sản hay toàn bộ số vốn hiện có của doanh nghiệp
Vòng quay tài sản =
Nếu chỉ tiêu này cao cho thấy doanh nghiệp đang phát huy công suất hiệuquả và có khả năng cần phải đầu tư mới nếu muốn mở rộng công suất Nếu chỉ
Trang 28tiêu này thấp cho thấy vốn được sử dụng chưa hiệu quả dẫn đến doanh nghiệp cónhững tài sản bị ứ đọng hoặc hiệu suất hoạt động thấp.
- Hiệu suất sử dụng vốn lưu động
Vốn lưu động trong doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp hoạt động trongcác lĩnh vực xây dựng là một phần không thể thiếu Vốn lưu động bao gồm vốnbằng tiền, các khoản phải thu, hang tồn kho…Quản trị vốn lưu động trong doanhnghiệp không phải là một vấn đề dễ dàng đối với các nhà quản trị, nhưng nếuquản trị tốt vốn lưu động sẽ là nền tảng giúp công ty có thể quản trị tốt đượcdòng tiền của mình Để có được những quyết định mang tính phù hợp, kịp thời
và khả thi thì trước hết, các nhà quản trị cần phân tích một số chỉ tiêu sau:
+ Số vòng quay vốn lưu động: Là chỉ tiêu này phản ánh số vòng quay vốn lưuđộng trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm
Số vòng quay vốn lưu động =
Chỉ tiêu này được sử dụng nhằm đo lường hiệu quả sử dụng vốn lưu độngcủa doanh nghiệp Vòng quay vốn lưu động càng lớn thể hiện hiệu suất sử dụngvốn lưu động càng cao vì hàng hóa tiêu thụ nhanh, vật tư tồn kho thấp…do đótiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận Ngược lại, nếu hệ số này thấp thì có thể tiềnmặt tồn quỹ nhiều, số lượng các khoản phải thu lớn
+ Kỳ luân chuyển vốn lưu động: Là chỉ tiêu phản ánh để thực hiện một vòng quayvốn lưu động cần bao nhiêu ngày
Kỳ luân chuyển vốn lưu dộng =
Kỳ luân chuyển càng ngắn thì vốn lưu động luân chuyển càng nhanh, doanhnghiệp không bị ứ đọng vốn lưu động và ngược lại
- Hiệu suất sử dụng hàng tồn kho
+ Số vòng quay hàng tồn kho: Phản ánh một đồng vốn tồn kho quay được baonhiêu vòng trong một kỳ
Số vòng quay hàng tồn kho =
Số vòng quay hàng tồn kho cao hay thấp phụ thuộc vào đặc điểm ngànhkinh doanh và chính sách hàng tồn kho của doanh nghiệp Số vòng quay hàngtồn kho càng cao so với các doanh nghiệp trong ngành thì tình hình kinh doanhcủa doanh nghiệp đó được đánh giá càng tốt Nếu số vòng quay hàng tồn khothấp, thường gợi lên doanh nghiệp có thể dự trữ vật tư quá mức dẫn đến tìnhtrạng bị ứ đọng hoặc sản phẩm bị tiêu thụ chậm Từ đó, có thể dẫn đến dòng tiền
Trang 29vào doanh nghiệp bị giảm đi và có thể đặt doanh nghiệp vào tình thế khó khăn
về tài chính trong tương lai
+ Số ngày một vòng quay hàng tồn kho: Cho biết số ngày cần thiết để thực hiệnmột vòng quay HTK
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho =
Chỉ tiêu này có quan hệ tỷ lệ nghịch với số vòng quay HTK, nghĩa là trong
kỳ HTK càng quay nhanh thì kỳ luân chuyển hàng tồn kho càng ngắn, doanhnghiệp chỉ phản ứng ra số tiền nhỏ để tài trợ cho HTK, giúp tiết kiệm vốn vànâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp
- Hiệu suất quản lý nợ phải thu
+ Số vòng quay nợ phải thu: Là chỉ tiêu phản ánh trong một kỳ, nợ phải thu luânchuyển được bao nhiêu vòng Nó phản ánh mức độ thu hồi công nợ của doanhnghiệp như thế nào
Số vòng quay nợ phải thu =
+ Kỳ thu tiền trung bình: Phản ánh trung bình độ dài thời gian thu tiền bán hàngcủa doanh nghiệp kể từ lúc xuất giao hàng hóa cho đến khi thu tiền bán hàng
Kỳ thu tiền trung bình =
Kỳ thu tiền trung bình của doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào chính sáchbán chịu và việc tổ chức thanh toán của doanh nghiệp Do vậy, khi xem xét kỳthu tiền bình quân, cần xem xét trong mối liên hệ với sự tăng trưởng doanh thucủa doanh nghiệp Khi kỳ thu tiền bình quân quá dài so với các doanh nghiệptrong ngành thì dễ dẫn đến tình trạng nợ khó đòi
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định và vốn dài hạn khác
Đây là chỉ tiêu cho phép đánh giá mức độ khai thác sử dụng vốn cố địnhcủa một doanh nghiệp trong kỳ
Hiệu suất sử dụng VCĐ và vốn dài
hạn khác
=
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đồng vốn cố định bình quân tham gia vào sảnxuất kinh doanh có thể làm ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần Chỉ tiêu nàycàng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng vốn cố định càng cao
- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
* Hệ số hiệu quả hoạt động
Trang 30Là thước đo đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp, là kết quả tổnghợp của hàng loạt biện pháp và quyết định quản lý của doanh nghiệp.
- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu (ROS – Return on sales)
Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế và doanh thuthuần trong kỳ của doanh nghiệp Nó thể hiện, khi thực hiện một đồng doanh thutrong kỳ, doanh nghiệp có thể thu được bao nhiêu lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên
doanh thu (ROS)
=
Chỉ tiêu này là một trong các chỉ tiêu phản ánh khả năng quản lý, tiết kiệmchi phí của một doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp quản lý tốt chi phí thì sẽ nângcao được tỷ suất này Bên cạnh đó, tỷ suất này còn phụ thuộc lớn vào đặc điểmkinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh và chiến lược cạnh tranh của doanhnghiệp Ví dụ các doanh nghiệp cạnh tranh bằng sự khác biệt thường có hệ sốnày cao, trong khi các doanh nghiệp cạnh tranh bằng việc dẫn đầu về chi phíthấp thường có hệ số này thấp Đối với một doanh nghiệp kinh doanh đa ngành,việc thay đổi ROS còn có thể do doanh nghiệp điều chỉnh thay đổi cơ cấu sảnphẩm tiêu thụ
- Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (BEP – Basic earning point)
Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản còn được gọi là tỷ suất lợi nhuận trướclãi vay và thuế trên vốn kinh doanh (BEP) Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinhlời tài sản hay vốn kinh doanh không tính đến ảnh hưởng nguồn gốc của vốnkinh doanh và thuế thu nhập doanh nghiệp
Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài
sản (BEP)
=
Chỉ tiêu này có tác dụng rất lớn trong việc xem xét mối quan hệ với lãi suấtvay vốn để đánh giá việc sử dụng vốn vay có tác động tích cực hay tiêu cực đốivới khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu
- Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này thể hiện mỗi đồng vốn kinh doanh trong kỳ có khả năng sinhlời ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trang trải lãi tiền vay Chỉ tiêu nàyđánh giá trình độ quản trị vốn của doanh nghiệp
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên
vốn kinh doanh
=
- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh (ROA – Return on assets)
Trang 31Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng vốn sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêuđồng lợi nhuận sau thuế.
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn
kinh doanh (ROA)
=
Hệ số này phản ánh số lợi nhuận còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ trả
nợ cũng như nghĩa vụ đối với Nhà nước được sinh ra trên một đồng vốn kinhdoanh bỏ vào tiến hành sản xuất kinh doanh
- Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE – Return on equity)
Đây là một chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất quan tâm Hệ số này đo lườngmức lợi nhuận sau thuế thu được trên mỗi đồng vớn của vốn chủ sở hữu trongkỳ
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở
hữu (ROE)
=
Chỉ tiêu này phản ánh tổng hợp các khía cạnh về trình độ quản trị tài chínhgồm trình độ quản trị doanh thu và chi phí, trình độ quản trị tài sản, trình độquản trị nguồn vốn của doanh nghiệp
- Thu nhập một cổ phần thường (EPS – Earning per share)
Đây là chỉ tiêu rất quan trọng, nó phản ánh mỗi cổ phần thường (hay cổphần phổ thông) trong năm thu được bao nhiêu lợi nhuận sau thuế
Thu nhập một cổ phần thường (EPS)
=
* Phân tích khả năng sinh lời qua phương trình Dupont
Mức sinh lời của vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp là kết quả tổng hợp củahàng loạt các biện pháp và quyết định quản lý của doanh nghiệp Để thấy được
sự tác động của mối quan hệ giữa trình độ quản trị chi phí, quản trị vốn, quản trịnguồn vốn tới mức sinh lời của chủ sở hữu doanh nghiệp, người ta đã xây dựng
hệ thống chỉ tiêu để xem xét ảnh hưởng của các nhân tố tới tỷ suất lợi nhuận trênvốn chủ Sau đây là các phương trình xem xét nhân tố ảnh hưởng thông qua các
hệ số tài chính
- Nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh (ROA)
ROA =
= x
Trang 32Như vậy:
ROA = ROS x Vòng quay toàn bộ vốn (1)
Xem xét mối quan hệ này, có thể thấy được tác động của yếu tố tỷ suất lợinhuận sau thế trên doanh thu và vòng quay toàn bộ vốn ảnh hưởng như thế nàođến tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh Trên cơ sở đó, người quản lýdoanh nghiệp đề ra các biện pháp thích hợp để tăng tỷ suất lợi nhuận sau thuếtrên vốn kinh doanh
- Nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE = ROS x Vòng quay toàn bộ vốn x
Qua công thức trên, cho thấy có 3 yếu tố chủ yếu tác động đến tỷ suất lợinhuận vốn chủ sở hữu trong kỳ đó là:
+ ROS: Phản ánh trình độ quản trị doanh thu và chi phí của doanh nghiệp
+ Vòng quay toàn bộ vốn: Phản ánh trình độ khai thác và sử dụng tài sản củadoanh nghiêp
+ Hệ số nợ bình quân: Phản ánh trình độ huy động vốn của doanh nghiệp
1.2.2.7 Tình hình phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp
Khi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có lãi, kết thúc mỗi thời kỳ nhấtđịnh chủ sở hữu quyết định phân chia kết quả kinh doanh đảm bảo tuân thủ quychế quản lý tài chính nội bộ của doanh nghiệp và phù hợp với đặc thù về quản lýtài chính đối với mỗi loại hình doanh nghiệp Các nhà quản trị doanh nghiệp cầnnắm vững chính sách quản lý tài chính của Nhà nước cũng như quy chế quản lýtài chính nội bộ để đề xuất phương án phân phối lợi nhuận vừ đảm bảo được lợi
Trang 33ích trước mắt, lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp Đồng thời giải quyết được mộtcách hài hòa lợi ích của Nhà nước, chủ doanh nghiệp, người lao động và các bên
có liên quan, tránh xảy ra tình trạng xung đột về lợi ích
Để đảm bảo cho việc phân chia lợi nhuận có thể hài hòa lợi ích giữa 2 bên,cũng như sự phát triển lâu dài, đòi hỏi nhà quản trị tài chính phải tuân thủ một sốnguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc lợi nhuân đã thực hiện: Lợi nhuận thực hiện phân phối cần phải dựatheo phần lợi nhuận đã làm ra, không dựa vào phần lợi nhuận dự tính
+ Nguyên tắc lợi nhuận ròng: Công ty chỉ được phân chia lợi nhuận cho chủ sởhữu sau khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế đối với nhà nước
+ Nguyên tắc đảm bảo khả năng thanh toán: Phân chia lợi nhuận nhưng phải đảmbảo khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, cũng như phải đảm bảo khảnăng thanh toán cho chủ sở hữu, cổ đông
+ Phân phối lợi nhuận phải đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các chủ thể như: chủ nợ,chủ sở hữu, Nhà nước, người lao động
Đối với doanh nghiệp Nhà nước: Lợi nhuận của doanh nghiệp sau khi bùđắp lỗ năm trước theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, trích Quỹphát triển khoa học và cộng nghệ theo quy định của pháp luật, nộp thuế thu nhậpdoanh nghiệp theo luật định, phần lợi nhuận còn lại được phân phối theotừng mục riêng
Đối với các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty tưnhân: Lợi nhuận phân phối được chia làm hai phần:
- Một phần giữ lại để thực hiện tái đầu tư thông qua việc trích lập các quỹ
- Một phần chia cho các cổ đông dưới hình thức trả cổ tức hay chia cho các chủ
sở hữu
* Chỉ tiêu phân tích tình hình phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp
- Các chỉ tiêu tuyết đối: Tổng lợi nhuận sau thuế, lợi nhuận giữ lại, lợi nhuận chitrả cho các chủ sở hữu…trong đó: Tổng lợi nhuận sau thuế là chỉ tiêu phản ánhkết quả hoạt động của doanh nghiệp trong mỗi kỳ cho biết quy mô phân phối kếtquả hoạt động của doanh nghiệp
- Các chỉ tiêu tương đối: Hệ số lợi nhuận giữ lại, hệ số lợi nhuận phân phối vàocác quỹ, tỷ lệ chi trả cổ tức… cho biết cơ cấu phân phối kết quả kinh doanh
* Một số hệ số phản ánh tình hình phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp
- Cổ tức một cổ phần thường (DPS)
Trang 34Chỉ tiêu này phản ánh mỗi cổ phần thường nhận được bao nhiêu đồng cổtức mỗi năm.
Cổ tức của một cổ phần thường (DPS)
- Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành kinh doanh
Hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp thường được thực hiện trongmột hoặc một số ngành nghề kinh doanh nhất định Mỗi ngành nghề kinh doanhkhác nhau sẽ có những đặc điểm riêng ảnh hưởng không nhỏ tới việc tổ chức tàichính của doanh nghiệp
Những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ thì vốnlưu động chiếm tỷ trọng cao hơn, tốc độ chu chuyển của vốn lưu động cũngnhanh hơn so với các ngành nông nghiệp, công nghiệp, đặc biệt là ngành côngnghiệp nặng Ở các ngành này, vốn cố định thường chiếm tỷ lệ cao hơn vốn lưuđộng, thời gian thu hồi vốn cũng chậm hơn
Những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sản phẩm có chu kỳ sản xuấtngắn thì nhu cầu vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm thường không có biếnđộng lớn, doanh nghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng, nhờ đó cóthể dễ dàng bảo đảm cân đối giữ thu và chi bằng tiền, cũng như đảm bảo nguồnvốn cho nhu cầu kinh doanh Ngược lại, những doanh nghiệp sản xuất ra nhữngloại sản phẩm có chu kỳ sản xuất dài, phải ứng ra lượng vốn lưu động lớn hơn.Những doanh nghiệp hoạt động trong những ngành sản xuất có tính thời vụthìnhu cầu về vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm chênh lệch nhau rất lớn,
Trang 35giữa thu và chi bằng tiền thường có sự không ăn khớp nhau về thời gian Đó làđiều phải tính đến trong việc tổ chức tài chính, nhằm bảo đảm vốn kịp thời, đầy
đủ cho hoạt động của doanh nghiệp cũng như bảo đảm cân đối giữa thu và chibằng tiền
- Yếu tố chính trị và pháp luật
Các yếu tố thuộc môi trường chính trị và luật pháp tác động mạnh đến việchình thành và khai thác cơ hội kinh doanh và thực iện mục tieue của doanhnghiệp Ổn định chính trị là tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh, thayđổi về chính trị có thể gây ảnh hưởng có lợi cho nhóm doanh nghiệp này hoặckìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp khác Hệ thống pháp luật hoàn thiện và
sự nghiêm minh trong thực thi pháp luật sẽ tạo môi trường cạnh tranh lành mạnhcho các doanh nghiệp, tránh tình trạng gian lận, buôn lậu…
Mức độ ổn định về chính trị và luật pháp của một quốc gia cho phép doanhnghiệp có thể đánh giá được mức độ rủi ro, của môi trường kinh doanh và ảnhhưởng của của nó đến doanh nghiệp như thế nào Vì vậy, nghiên cứu các yếu tốchính trị và luật pháp là yêu cầu không thể thiếu được khi doanh nghiệp thamgia vào thị trường
- Môi trường kinh doanh
Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế: Nếu cơ sở hạ tầng phát triển (hệ thống giaothông thông tin liên lạc, điện, nước…) thì sẽ giám bớt được nhu cầu vốn đầu tưcủa doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiết kiệm được chiphí trong kinh doanh
Tình trạng của nền kinh tế: Một nền kinh tế trong quá trình tăng trưởng thì
có nhiều cơ hội cho doanh nghiệp đầu tư phát triển, từ đó đòi hỏi doanh nghiệpphải tích cực áp dụng các biện pháp huy động vốn để đáp ứng yêu cầu đầutư.Ngược lại, nền kinh tế đang trong tình trạng suy thoái thì doanh nghiệp khó
có thể tìm được cơ hội tốt để đầu tư
Lãi suất thị trường: Lãi suất thị trường là yếu tố tác động rất lớn đến hoạtđộng tài chính của doanh nghiệp Lãi suất thị trường ảnh hưởng đến cơ hội đầu
tư, đến chi phí sử dụng vốn và cơ hội huy động vốn của doanh nghiệp Mặtkhác, lãi suất thị trường còn ảnh hưởng gián tiếp đến tình hình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Khi lãi suất thị trường tăng cao, thì người ta có xuhướng tiết kiệm nhiều hơn tiêu dung, điều đó hạn chế đến việc tiêu thụ sản phẩmcủa doanh nghiệp
Trang 36Lạm phát: Khi nền kinh tế có lạm phát ở mức độ cao thì việc tiêu thụ sảnphẩm của doanh nghiệp gặp khó khăn khiến cho tình trạng tài chính của doanhnghiệp căng thẳng Nếu doanh nghiệp không áp dụng các biện pháp tích cực thì
có thể còn bị thất thoát vốn kinh doanh Lạm phát cũng làm cho nhu cầu vốnkinh doanh tăng lên và tình hình tài chính doanh nghiệp không ổn định
Chính sách kinh tế và tài chính của Nhà nước đối với doanh nghiệp: Nhưcác chính sách khuyến khích đầu tư; chính sách thuế; chính sách xuất khẩu, nhậpkhẩu, chế độ khấu hao tài sản cố định…đây là yếu tố tác động lớn đến các vấn
đề về tài chính của doanh nghiệp
Mức độ cạnh tranh: Nếu doanh nghiệp hoạt động trong những ngành nghề,lĩnh vực có mức độ cạnh tranh cao đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư nhiều hơncho việc đổi mới thiết bị, công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm, choquảng cáo, tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm…
Thị trường tài chính và hệ thống các trung gian tài chính: Hoạt động củadoanh nghiệp gắn liền với thị trường tài chính, nơi mà doanh nghiệp có thể huyđộng gia tăng vốn, đồng thời có thể đầu tư các khoản tài chính tạm thời nhàn rỗi
để tăng them mức sinh lời của vốn hoặc có thể dễ dàng hơn thực hiện đầu tư dàihạn gián tiếp Sự phát triển của thị trường làm đa dạng hóa các công cụ và cáchình thức huy động vốn cho doanh nghiệp, chẳng hạn như sự xuất hiện và pháttriển các hình thức thuê tài chính, sự hình thành và phát triển của thị trườngchứng khoán…
- Sự phát triển của khoa học kỹ thuật - công nghệ
Sự phát triển của kỹ thuật - công nghệ tác động hai mặt tới doanh nghiệp.Một mặt thúc đẩy nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành, tăng lợi nhuận.Mặt khác, nó tác động tới các doanh nghiệp khi khi đưa ra các quyết định về đầu
tư, lựa chọn phương pháp và thời gian khấu hao TSCĐ Sự phát triển của côngnghệ thông tin cho phép các doanh nghiệp nắm bắt kịp thời các thông tin thịtrường; mặt khác cũng đòi hỏi chi phí cho việc ứng dụngcác tiến bộ kỹ thuậtcông nghệ và quản lý SXKD tăng lên
1.2.3.2 Các nhân tố chủ quan
- Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp đều tồn tại dưới những hình thức pháp lý nhất định về tổchức doanh nghiệp Ở Việt Nam, theo Luật Doanh nghiệp 2005, có 4 hình thức
Trang 37pháp lý cơ bản của doanh nghiệp bao gồm: Doanh nghiệp tư nhân, công ty hợpdanh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần
Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ chứctài chính doanh nghiệp như: Phương thức hình thành và huy động vốn, việc tổchức quản lý sử dụng vốn, việc chuyển nhượng vốn, phân phối lợi nhuận vàtrách nhiệm của chử sở hữu đối với khoản nợ của doanh nghiệp…
Khi phân tích đánh giá và lựa chọn các quyết định tài chính thù nhà quản trịtài chính không thể bỏ qua hình thức pháp lý của doanh nghiệp, bởi với mỗihình thức pháp lý doanh nghiệp sẽ có những đặc điểm khác nhau trong việc lựachọn các quyết định tài chính, chẳng hạn như quyết định về huy động vốn hayquyết định về phân phối lợi nhuận
- Trình độ tổ chức quản lý
Một trong những yếu tố bên trong doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định đếntình hình tài chính của doanh nghiệp là trình độ tổ chức quản lý của các nhàquản trị trong doanh nghiệp Trong nền kinh tế hang hóa nhiều thành phần vậnhành theo cơ chế thị trường, bất kỳ một doanh nghiệp hay tổ chức kinh doanhnào cũng đều phải lựa chọn cho doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh của mình một
cơ cấu tổ chức quản lý riêng Có sự hợp lý và khoa học trong cơ cấu tổ chức vàquản lý thì doanh nghiệp mới có năng lực tài chính tốt, sử dụng tốt nguồn lực,giúp cho việc ra quyết định đúng đắn và tổ chức thực hiện có hiệu quả các quyếtđịnh đó, điều hòa phối hợp các hoạt động nhằm đạt được mục đích chung đề ra
- Mức độ coi trọng công tác tài chính của lãnh đạo doanh nghiệp
Nếu lãnh đạo doanh nghiệp quan tâm và coi trọng công tác quản lý tàichính trong doanh nghiệp sẽ gắn liền với việc tổ chức bộ phận quản lý tài chínhtrong doanh nghiệp môt cách hợp lý, nhằm phát huy được vai trò của quản trị tàichính đối với hoạt động của doanh nghiệp Trong thực tế hiện nay, ở nhiềudoanh nghiệp do không tổ chức bộ phận tài chính riêng biệt nên thiếu một lựclượng chuyên trách làm nhiệm vụ thu xếp vốn, kiểm soát tình hình hoạt độngcủa doanh nghiệp, chủ động dự báo và ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động donhững biến động bất thường do môi trường kinh doanh tạo ra Vì vậy, hoạt độngtài chính dễ rơi vào trạng thái mất kiểm soát, thụ động gây khó khan cho hoạtđộng kinh doanh…
- Yếu tố về công nghệ sản xuất
Trang 38Việc nghiên cứu chính sách đầu tư của doanh nghiệp vào công cụ sản xuấtcũng là điều cần thiết trong việc phân tích chiến lược, nhằm mục đích nghiêncứu và phát triển những chi tiết cho việc đầu tư và máy móc thiết bị và các tàisản hữu hình là hoàn toàn cần thiết Vậy, khi doanh nghiệp thấy có sự giảm sút
về các khoản khấu hao, cũng có nghĩa là tăng về kết quả kinh doanh, thì cầnphải biết nguyên nhân vì sao, có phải do máy móc thiết bị đã lỗi thời, hoặc dodoanh nghiệp không có dự án khả thi, dẫn đến nguy cơ suy giảm về sản xuất,giảm sút về năng lực cạnh tranh Do vậy, yếu tố công nghệ là một trong nhữngyếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất cũng như tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp
- Yếu tố về chiến lược kinh doanh
Chiến lược kinh doanh được nói đến ở đây là cách phân chia những giớikhách hàng khác nhau trong tổng doanh thu của nó Trên thực tế, một doanhnghiệp phải luôn phụ thuộc vào khách hàng và nhà cung cấp Vì vậy, điều quantrọng với một doanh nghiệp là không nên tập trung quá vào một nhóm đối tượngkhách hàng Mở rộng nhiều nhóm khách hàng tốt hơn là tập trung vào mộtkhách hàng lớn
Trang 39CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY
TNHH THIÊN TÀI TRONG THỜI GIAN QUA
2.1. Tổng quan về công ty TNHH Thiên Tài
2.1.1.1. Sơ lược về công ty
a) Tên công ty:
Công ty TNHH Thiên Tài
b) Đại diện pháp lý của công ty:
Giám đốc: Hồ Xuân Thoại
d) Công ty TNHH Thiên Tài được thành lập theo giấy phép đăng ký kinh doanh số
2901057238 do sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Nghệ An cấp ngày 02/04/2009
e) Tổng số vốn điều lệ: 20.000.000.000 đồng
f) Loại hình doanh nghiệp:
Công ty TNHH một thành viên
Được thành lập năm 2009 với tên gọi công ty TNHH Thiên Tài có trụ sởđặt tại số 96 - đường Nguyễn Viết Xuân - thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An Vớicác nghành nghề kinh doanh: Hoạt động dịch vụ hỗ trợ trực tiếp cho vận tảibiển, trục vớt cứu hộ sông và biển, lai dắt, kéo phương tiện thủy, cung ứng tàubiển, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, phao rùa…
Năm 2013 thành lập chi nhánh công ty TNHH Thiên Tài tại Hà Tĩnh có trụ
sở đặt tại khối 11 - thị trấn Xuân An - huyện Nghi Xuân - tỉnh Hà Tĩnh với diệntích 15.000m2 dùng làm bến neo đậu tàu thuyền và cơ sở sửa chữa và đóng mớitàu thuyền
Qua quá trình hình thành và phát triển từ năm 2009 cho đến nay, công tyTNHH Thiên Tài đã liên tục mở rộng và phát triển Công ty chúng tôi đã cungcấp rất nhiều phương tiện, thiết bị vận tải biển cho khách hàng, đã thi công trụcvớt, cứu hộ nhiều phương tiện chìm đắm lớn, nhỏ, thi công đúc, thả nhiều bộ
Trang 40Giám đốc công tyPhó giám đốc công ty
Công ty chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ hỗ trợ trực tiếpcho vận tải đường thủy như: Trục vớt cứu hộ sông và biển; Lai dắt, kéo phươngtiện thủy; Cung ứng tàu biển; Đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, phao rùa…
Bên cạnh đó, công ty còn kinh doanh các vật tư ngành vận tải biển như bánbuôn nhiên liệu rắn, lỏng, khí và các sản phẩm liên quan và một số ngành khác
toán của công ty
* Tổ chức bộ máy quản lý công ty
- Mỗi loại hình doanh nghiệp đều có một có một cơ cấu quản lý thích hợp vớiđiều kiện và đặc điểm của mình Vì vậy để phù hợp với tính chất, quy mô hoạtđộng, công ty TNHH Thiên Tài đã tổ chức bộ máy quản lý gồm các phòng bansau:
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy công ty
- Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của các bộ phận:
+ Giám đốc:
Thợlặn