Nghề dệt thổ cẩm của người Ê ĐÊ Khi dệt họ ngồi trên nền đất, 2 chân duỗi thẳng đạp lên 1 thanh gỗ nằm ngang để căng mặt sợi trên khung dệt, tất cả các đầu sợi được gộp lại buộc vào cây
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA VĂN HÓA DU LỊCH
DÂN TỘC Ê ĐÊ
Sinh viên :Trần Sỹ Hưng Đinh Tiến Hoàng Đặng Thanh Hoa
Trang 2BỐ CỤC
I.ĐẶC ĐIỂM CHUNG
II.SINH HOẠT KINH TẾ
Phương tiện Vận chuyển
IV.VĂN HÓA TINH THẦN
Tín ngưỡng – tôn giáo
Trang 3I ĐẶC ĐIỂM CHUNG
khoảng 270 000 người
Sống chủ yếu ở Gia Lai ,Phú Yên, Khánh Hòa, Đăk Lăk
Có nhiều nhóm địa phương khác nhau
Người Ê ĐÊ thuộc nhóm ngôn ngữ
Malayô – Pôlinêxia (ngữ hệ Nam đảo).
có chữ viết theo bảng chữ cái La tinh khá sớm, khoảng 1920.
Trang 4Bản đồ phân bố dân tộc Ê
ĐÊ ở Tây Nguyên
Trang 5Sơ đồ phân bố dân tộc Ê Đê
Trang 6II.SINH HOẠT KINH TẾ
sản xuất trên nương rẫy là chủ yếu
nghề phụ nữa là chăn nuôi gia súc, gia cầm hay thu hái lượm âm thổ sản, săn bắt thú rừng, đánh bắt cá ở ven sông, suối…
tự tạo các dụng cụ sinh hoạt hằng ngày bằng
mây tre đan,gốm, gỗ kim loại…
Trang 71.TRỒNG TRỌT
Rẫy( HMA) chiếm vị trí trọng yếu
Ruộng nước chiếm môt tỷ lệ không lớn
Lúa là cây trồng chính, cà phê, hồ tiêu, cao su…
họ sử dụng chế độ luân khoảnh
Hình thức là đao canh hỏa chủng
Tại các ruộng nước họ dùng phương pháp đao canh thủy nậu
Cách thu hoạch đơn giản
Trang 8Nương rẫy
Trang 9Đốt rừng làm rẫy(đao canh hỏa chủng)
Trang 11Người Ê ĐÊ còn gắn mình với sản xuất cây công nghiệp như cà phê, cao su, hồ tiêu, ca cao…
Trang 12Công cụ làm rẫy
Rìu dùng để chặt cây, phát rẫy, làm nhà, làm dụng cụ gia đình.
Chà gạc (Kgă) là một lưỡi dao thép,dùng
trong sản xuất, chiến đấu, xây dựng nhà cửa và cũng là một công cụ của nhà bếp
Wăng briêng là một loại cuốc lưỡi sắt nhỏ,
hình trăng lưỡi lèm, tra vào cán gỗ cong, dùng để xới đất
Trang 13 Wăng wít là cái nạo cỏ rẫy, lưỡi sắt, được
bẻ gập va vạn vỏ đỗ, một đầu cắm vào
cán gỗ
Cào cỏ (hwar) là một thân tre nhỏ, dài
khoảng 1m50, một đầu trẻ làm 6 hay 8
nan, đan xoè hình giẻ quạt, khi cào thì
đứng
Ống đựng thóc tra lúa (đing nuh) là một
khúc lồ ô dài khoảng 0,80m.
Trang 162 Chăn nuôi
Trâu bò càng được nuôi nhiều vì là đặc
trưng của nhà giàu và là vật định giá mua bán chiêng ché.
Việc chăn nuôi gia súc gia cầm là để
có thực phẩm dùng trong ma chay,
cưới hỏi và cúng bái
Voi dùng để vận chuyển và làm sức kéo đồng thời cũng là vât định giá
trong mua bán trao đổi những tài sản lớn
Trang 17Chăn nuôi bò
Trang 20 Nghề rèn có thể làm lưỡi rìu, chà gạc , các loại lưỡi cuốc ,mũi lao dùng cho săn bắn, đồ trang sức.
một vài nơi còn có nghề làm nồi đất để nấu cơm làm âu đựng thức ăn
hiện nay một số nghề thủ công đang mai một dần,một số nhóm nghề khác ( rèn, đan lát,đồ gỗ,dệt) vẫn còn tồn tại
Trang 21Nghề dệt thổ cẩm của người Ê ĐÊ
Khi dệt họ ngồi trên nền đất, 2 chân duỗi thẳng đạp lên 1 thanh gỗ nằm ngang để căng mặt sợi trên khung dệt, tất cả các đầu sợi được gộp lại buộc vào cây cột nhà hay một gốc cây
Khi dệt người thợ dùng chân và lưng của mình làm căng dàn sợi, 1 tay giật co, 1 tay giật thoi
để tạo hoa văn người dệt sắp xếp trật tự màu sắc của sợi vải hợp thành thảm dọc ứng với
kiểu trang trí được lựa chọn
Trang 22 hoa văn liên quan đến động - thực vật : chim
dang cánh, bọ cạp ấp con, trứng thằn lằn, bầy ong bám cành cây, trứng chim đại bàng
hoa văn phản ánh sinh hoạt kinh tế: hoa ngô,
hột dưa, cần uống rượu, con chỉ, đuôi mũi tên
hoa văn liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng như dây treo chiêng, cột nhà mồ, mặt trăng
Phần lớn hoa văn trên nền vải là những đường hình học
Màu trang trí của hoa văn nổi bật nhất là màu
đỏ, màu trắng đục, nâu tươi, vàng óng, vàng úa, xanh rêu cau
Trang 23Dệt thủ công
Trang 25Điêu khắc
Nghệ thuật điêu khắc của người Ê
đê nay còn rất ít, chủ yếu là chạm khắc tượng nhà
mồ, cầu thang, cột
Trang 26 Họ dùng các công cụ rất thô sơ như rìu,
chà gạc…
Trang 27quá giang nhà
Trang 30III VĂN HÓA VẬT CHẤT:
Trang 31NHÀ CỦA NGƯỜI Ê ĐÊ Ở DAK LAK
Trang 33 Phên dựng ở hai đầu hồi thẳng đứng, còn phên ở dọc theo chiều dài nhà thì ngả ra hai bên
Nhà có hai cửa,cửa trước và sau Sát với hiên là sàn, sàn khách dài gấp đôi sàn
sau.
nhà chỉ có vì cột, gồm cột, dầm, quá
giang, không có vì kèo, do đó khung nhà
và mái nhà là hai bộ phận tách rời nhau ghép lại.
Trang 34đặt ở đầu cột.
Trang 36cây nhỏ (t’rung) song song
với các dầm ngang ở bên dưới
Trên lớp cây này lại được trải một lớp những thanh tre (hoặc lồ ô) nhỏ bản (nê)
cùng chiều với dầm dọc
Trên cùng là lớp dát sàn
(trịa) làm bằng lồ ô hay tre
rừng… bổ banh thành từng phá.
Trang 37 mái lợp tranh,cách lợp của người Ê đê khá
chắc chắn : gốc các
phên tranh được đặt
vào các đòn tay nhưng quay xuống dưới buộc
đè cây mè lên trên, rồi người ta mới bẻ quặt ngọn phên tranh xuống phía dưới, ngọn xuôi
xuống.
Trang 38Mái nhà
Trang 40Cầu thang trước và sau nhà.
Trang 41 thang được đặt trước
ta còn khắc hình
trăng non, (ênhan
pladang)
Trang 42 Trên sàn khách ở những nhà có thế lực, nuôi voi còn để hai ghế sàn thẳng
từ hai cột sàn nhô lên
(kpan adring) cao hơn
mặt sàn 0,50 m
Trang 43SV:Nguyễn Thị Dạ Thảo
BK: bếp khách; GC :giường chủ (phản); CC: cột Kmer kpăng; CR:ché rượu; PC: phòng chủ; PU: phòng con gái út; PG1: phòng con gái cả; BC:bếp chính;T: thang
Trang 45 cột kmeh kpăng phía
Đông có khắc hình, là cột chủ, bên cạnh kê một phản độc mộc để người đứng đầu gia đình ngồi khi có hội họp;
Trang 47 cột phía Tây là cột trống
(kmeh hgơr), nơi đặt
trống cái trên ghế kpan,
ghế của nhạc công ngồi đánh chiêng, đánh trống
Ghế Kpan làm nguyên từ
1 thân cây cổ thụ lớn cao 0.50m, dài 10 - 20m, rộng 0,6-0,8 m, một đầu cong lên như hình mũi
Trang 48 Nơi hội họp trong gia đình
Đối với những nhà
chủ buôn nơi này còn
là nơi hội họp và bàn các vấn đề của buôn
Trang 49 Nhà mồ Ê đê có 2 lớp mái, lợp cỏ tranh, có
hàng rào bao quanh 4 phía tạo thành khuôn
viên hình chữ nhật
Nếu không làm nhà mồ,
họ dựng trên giữa mộ 4 câu cột có tạc hình hoa chuối, đều chụm chân và choãi đầu để đỡ và ôm gọn một “ nhà cơm” nhỏ (ngôi nhà minh khí) có dáng một nóc nhà 2 mái trên một con thuyên
Trang 50 phía sau mộ dựng cột klao,có thể cao 4-5 m, trên đầu cột tạc hình
quả bầu, hoặc hình con voi, hay con khỉ,hình
người phụ nữ trong tư thế nào đó
Trang 51 Bốn góc hàng
rào dựng 4 cột
thấp, đầu cột đều tạc hình chiếc
nồi đồng, phía
dưới hình cối giã gạo
Trang 53 Đối với ngôi mộ không có nhà mồ thì trên đỉnh cây cột ở giữa mộ
được gắn một
hình một nóc nhà trên thuyền gọi là
nhà cơm (sang
êsoi)
Trang 54 2.1 Trang phục nam giới:
Xưa đàn ông Ê đê để tóc dài rồi búi tó sau gáy, nay cắt tóc ngắn.
Tay phải thường đeo
vòng đồng, vừa làm đẹp vừa mang ý nghĩa nghi
lễ
Nam giới ra khỏi nhà
thường đeo gùi, ngậm
tẩu, đó cũng là một cách trang sức thêm cho bộ trang phục cổ truyền
Trang 55+ Áo: may chui đầu, tay dài hoặc ngắn, gấu áo phủ quá mông,thân sau dài hơn thân trước, giữa ngực mở ra một đoạn.
+ khuy cài bằng chỉ đỏ, các đường trang trí
thường ở rìa 2 nách áo, gấu áo, vai, cổ tay áo
+Loại áo Ao bal :không trang trí cánh đại bàng,
viền chỉ màu, hạt cườm, tua chỉ
+ Áo Kok mặc thường ngày
+Về mùa đông khoác tầm mềm Abăn dệt bằng
sợi bông, nhuộm chàm, trên đó trang trí những đường hoa văn
Trang 57Khố Kpin:Nền khố có màu sẫm, trang trí
hoa văn dọc dìa khố, hai đầu vạt khố
+ Có 2 loại khố:
Khố Kteh và Đrai: là loại khố sang và đẹp,
dùng trong ngày hội
Khố Bơng và Mlang: là loại khố dùng
thường ngày trong nhà và đi nương Loại
khố này ít hoa văn trang trí, không có tua
màu
Trang 59 2.2 Trang phục nữ:
Phụ nữ Ê đê chải tóc rồi búi thành độn ở sau
gáy, dùng trâm bằng đồng hoặc ngà voi để cài cho chắc, cho đẹp
Đội khăn màu chàm đậm quấn ra ngoài tóc theo
2 cách: quấn hình chữ “nhân” trước trán rồi buộc thành mối ra sau gáy ,hoặc bịt khăn kín cả trán
và đầu, mối vòng ra sau gáy phủ lên độn tóc
Trang 60 Ao đếch :áo chui đầu
của phụ nữ khoét cổ cao, mở rộng cổ ở phía vai, đơm thêm vài hàng khuy
Tay áo hẹp, gấu áo chấm thắt lưng
Ao băl là áo mặc
thường ngày không
có trang trí hoa văn
Trang 61 + Váy Đếch và Đrai :nhiều hoa văn trang trí trên
thân váy, phần cạp váy, gấu và giữa thân váy
Loại váy này mặc trong dịp hội hè, cưới xin, nhất
là những gia đình khá giả
+ Váy Kdruêch piêck: là loại váy sang nhưng
không đẹp bằng 2 loại váy trên
+ Váy Bơng:may bằng vải thô, không trang trí,
mặc khi đi làm
Trang 62Trang sức nữ giới
Phụ nữ Ê đê còn trang sức bằng những loại vòng tay, vòng chân, nhẫn, dây chuyền bàng đồng hay hạt cườm
Trang 63 Phụ nữ Ê đê còn đội thứ nón đan, có quai giữ ở cằm, gọi là
duôn bai.
Trang 65 3 Ẩm thực:
Cơm tẻ là nguồn lương thực chủ yếu, cơm nếp dùng trong lễ tết và những khi có khách
Trước đây người Ê đê ăn bốc, nhưng hiện nay
đã phổ biến đũa, thìa, bát Thức ăn có rau quả,
cá và thịt gia súc hay thịt thú rừng
Ăn trầu và hút thuốc lá bằng điếu khan là khá phổ biến Mỗi người trong gia đình đều có bầu nước uống riêng, xưa kia là nước suối nay là nước lã đun sôi để nguội
Trang 66Trong những ngày tết, rượu cần là thức uống không thể thiếu của
dân tộc Ê đê
Rượu cần là loại
rượu ủ men, không
qua chưng cất, ủ trong
vỏ sành và hút bằng cần trúc
Trang 67
Hàng cột rượu để sử dụng trong những ngày lễ tết
Trang 68 4 Phương tiện vận chuyển:
Chủ yếu là gùi
Vận chuyển trên bộ thì có voi nhưng
không phổ biến lắm
Trang 69 IV VĂN HÓA TINH THẦN:
Trang 70 2 Tôn giáo – tín ngưỡng:
2.1 Tín ngưỡng:
Theo quan niệm của người Ê đê cổ truyền thì đất và
nước đều do các thần Aê Điê, Aê Đu sáng tạo
2.2 Tôn giáo:
Phần lớn người Ê Đê theo đạo Tin Lành và đạo Thiên chúa Một số ít theo Phật giáo tại các vùng đô thị.
Trang 71Một số các nghi lễ trong việc khai thác đất đai:
- Lễ cúng thần đất (yang lăng):
- Lễ cúng thần gió (kăm angin):
- Lễ Kăm hwar:
- Lễ Kăm buh.
- Lễ cúng giống lúa (trốc mđiê)
- Lễ tưới gốc lúa( tuk phum điê)
- Lễ ăn cơm mới (hma ngắt)
- Lễ tết Mnăm thun
Trang 723 Văn học dân gian :
- Người Ê Đê có kho tàng văn học
truyền miệng phong phú
- Văn kể chuyện là Khan Khan được kể trong các dịp cầu cúng, lễ hội
- Dân ca Ê đê có 2 làn điệu chủ yếu:
mmuinh và kưt kdjâ
Trang 74 5 Lễ hội:
5.1 Lễ hội cúng cơm mới
Tổ chức vào dịp cuối năm âm lịch.Địa
điểm tại nhà chủ bến nước…
Là lễ tạ ơn thần lúa, chuẩn bị đón năm
Trang 75làng đi sửa đường vào bến nước
+ Ngày thứ hai, tất cả các nhà trong buôn đều cúng
+ Ngày thứ ba thì cả buôn cúng
Trang 774.3 Lễ Kpan:
Lễ cúng thần để chặt cây vè làm ghế Kpan:
Chủ nhà dẫn đầu đoàn người chặt cây gồm 7 người,
mang theo rìu và dùi sắt, tiếp đó là thầy cúng và người giúp việc quản lý (là anh em trai bên vợ), cuối cùng là dân làng và người nhà đi theo.
Chặt cây xong, chủ nhà và thầy cúng đi lên thân cây 7 lần để đuổi tà ma
Rước Kpan đến đầu buôn, thầy cúng phủ vải lên rồi mới đưa về
Trang 78 Chiếc Kpan được chạm khắc đường nét hoa văn mag tính biểu tượng truyền
thống.
Làm xong ghế, chủ nhà cầm lấy khiên, kiếm đi lại trên Kơ Pan 7 lần để xua thần xấu và đặt tên các Kơ Pan như một sự thông báo chính thức rằng, mình là chủ của Kơ Pan
Thầy cúng cũng bước ra và làm lễ khấn báo thần linh rằng, Kơ Pan đã có chủ.
Trang 79 Kơ Pan được khênh vào gian khách, đặt dọc vách phía Tây nhà
lễ cầu Giàng mới chính thức bắt đầu Lễ cứng gồm 1 trâu và 7 ché rượu được buộc vào 7
chiếc cột, thân cột bôi huyết trâu thành 7 khúc
Thầy cúng ngồi ở đầu Kơ Pan, cầm chiếc que dài nhúng vào bát đồng đựng tiết lợn pha rượu
và bôi dọc theo Kơ Pan để yểm giữ tài sản cho chủ nhà
hôm sau, mọi người cùng dự lễ Vật phẩm làm
lễ gồm cơm nếp, cơm tẻ, thịt trâu
Trang 805.Nghệ thuật múa:
5.1 Múa chim Grứ:
Múa Chim Grứ là điệu múa để cầu khấn các thần linh
mà người Êđê coi là thần hộ mệnh cho con người
Múa chim Grứ có hai hình thức thể hiện:
Dùng tay biểu diễn, sử dụng sự uyển chuyển của cổ tay, đưa đẩy, chuyển động cả cánh tay tùy tình huống, ý
nghĩa của việc lễ hội
Tay giơ cao quá đầu,chân nhón lên bước nhẹ nhàng
lướt qua trước ghế Kpan và sau ché rượu
Trang 825.2 Múa Khiêl:
Người múa mặc áo hở ngực, đóng khố kơtel, đầu quấn khăn đỏ, thả hai đuôi
khăn về phía trước trán, tay trái cầm
Khiêl, tay phải cầm gươm
Múa khiêl thường múa thành từng cặp, từng nhóm
Trang 86một đầu vào trái bầu khô
Trên lưng mỗi ống nứa được khoét một lỗ ở
những vị trí khác nhau để tạo thành nhạc
Trang 87 Đing Tak Tar:
Nhạc cụ này gồm một ống nứa ba lỗ,
được cắm
một đầu vào trái bầu khô.
Trang 88 Đinh Buôt Kliă:
là cây sáo dọc, làm bằng ống
nứa, có 4 lỗ bấm
và mỗi lỗ là 1
nốt
Ngoài ra còn có các loại đinh như
: Đing buốt
chốc , Đing ring , Đing téc
Trang 89 5.3 Ki Pah:
Là chiếc tù bằng sừng trâu (ki là sừng, pah là vỗ)
Ở phía giữa
sừng trâu, người
ta khoét một lỗ nhỏ và gắn chiếc lưỡi gà bằng tre vào để thổi
Trang 91 Các nhạc cụ bằng dây, như:
Trên cần đàn có
năm phím bấm
Trang 92 6.3 Cồng chiêng
Cồng ( Knah ), chiêng ( Ching ) là nhạc cụ phổ
biến của người Ê đê
6) Hluê khơk diêt
Chiêng gồm 3 chiếc to nhỏ khác nhau, đứng
đầu là ana, thứ đến là mdu, sau nữa là mong
Hluê khơk diêt
Trang 94 .Chiêng tre
Chiêng tre làm từ ống tre, ống nứa
Mỗi cặp chiêng (ống tre và thanh tre) phải
có một loại âm thanh, giai điệu tương ứng với một lá chiêng
đồng
Trang 95 Chiêng ống (ching
Kôk) : gồm 7 ống
lồ ô to bằng cổ tay,
1 đầu bịt bằng các mắt ống, 1 đầu
Trang 96 Tiếng chiêng Ê Đê có
âm thanh chắc, khỏe, dồn dập, ngân và
vang xa
Người Ê Đê chỉ dùng dùi đánh vào phía
trong các chiêng bằng
và vào phía ngoài đối với những chiêng có núm
Trang 98V.Tổ chức xã hội
1.Buôn
1.1.tổ chức, cơ cấu
Toàn bộ xã hội ÊĐê được phân thành những
đơn vị cơ sở gọi là buôn
Dưới buôn có khi có những đơn vị nhỏ hơn gọi
là ahi(như xóm) nhưng về mặt kinh tế-xã hội và
văn hóa thì nó chỉ là những bộ phận hữu cơ của buôn Nó có thể trở thành buôn khi số dân phát triển và có mâu thuẫn với làng gốc.Hợp thành buôn là những gia đình lớn(thường là gia đnh lơn mẫu hệ)
Trang 99 Các thành viên trong buôn đều là thân thuộc của nhau hoặc cùng huyết thống, hoặc do quan hệ hôn nhân Do đó quan hệ cộng đồng buôn được duy trì khá bền vững.
Xưa kia trong các làng Ê Đê, những gia đình có cùng họ thường cư trú bên nhau với người
trưởng họ(khoa djuê) đứng đầu, có lai lịch về
dòng họ và những tập tục sinh hoạt riêng, song
về sau mối quan hệ cư trú đó đã bị phá vỡ
Trang 100PÔPINEA chủ bến nước
Trang 101 Giúp việc về quân sự cho Pô pinea có K’eng, về tòa án có pôphátkeli, về cúng bai có
pôriuyang(người tế tự) và miâo(thày cúng)
Về sau, vai trò người đầu làng truyền thống có giảm đi do sự xuất hiện các khoa buôn thuộc hệ thống chính địa phương
Trang 102 Đứng đầu buôn làng là Pôpinea, người “đầu bến
nước
Thực tế thì người này ngoài việc trông nom bến nước, còn điều hành quản lý mọi công việc của buôn về các mặt dân chính quân sự, an ninh,
thần quyền và quan hệ với bên ngoài
Trang 104 Mặt khác nhân dân các buôn vẫn có thể sử dụng đất đai ngoại vi của các buôn khác nếu được
buôn sở tại đồng ý
Các gia đình không chỉ chiếm hữu những đất
đai đang canh tác mà cả những đất đai hữu
canh
Mảnh đất mới được khai thác thuộc phạm vi
của người canh tác nó nếu ai xâm phạm phạm
vi đó sẽ bị coi là hành vi “đạp lên đầu” có thể bị phạt
Trang 105Luật tục Êđê
Tuân thủ cách sắp xếp nội dung của L Sabatier trước đó, cụ thể là chia 236 điều (song ngữ Êđê – Việt) ra thành 11 chương bao gồm các luật về bảo vệ rừng ,luật hôn nhân , luật sở hữu tài
sản Đặc biệt coi trọng luật bảo vệ rừng
Các hình phạt khắt khe được đặt ra cho những kẻ
vi phạm quy định
Trang 106Luật bảo vệ rừng
Luật tục Ê Đê quy định rất rõ về các tội
đốt, phá rừng Được quy định rõ trong
điều 80 của bộ luật
Đây được coi là một trong những luật
quan trọng nhất của bộ luật, đối với kẻ vi phạm sẽ phải chịu một hình phạt khắt khe