1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÌM HIỂU VỀ LÀNG VĂN HÓA DU LỊCH CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ VĂN HÓA NHÀ MỒ TƯỢNG MỒ CỦA NGƯỜI GIA RAI TẠI ĐỒNG MÔ – SƠN TÂY – HÀ NỘI

20 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI ĐIỀU KIỆN MÔN: HỆ THỐNG BẢO TÀNG VIỆT NAM ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU VỀ LÀNG VĂN HÓA - DU LỊCH CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ VĂN HÓA NHÀ MỒ - TƯỢNG MỒ CỦA NGƯỜI GIA RAI TẠI ĐỒNG MÔ – SƠN TÂY – HÀ NỘ

Trang 1

BÀI ĐIỀU KIỆN

MÔN: HỆ THỐNG BẢO TÀNG VIỆT NAM

ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU VỀ LÀNG VĂN HÓA - DU LỊCH CÁC DÂN

TỘC VIỆT NAM VÀ VĂN HÓA NHÀ MỒ - TƯỢNG MỒ CỦA NGƯỜI GIA RAI TẠI ĐỒNG MÔ – SƠN TÂY – HÀ NỘI

BÀI ĐIỀU KIỆN MÔN HỆ THỐNG BẢO

TÀNG VIỆT NAM

Trang 2

TÌM HIỂU VỀ LÀNG VĂN HÓA – DU LỊCH CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM

VÀ VĂN HÓA NHÀ MỒ - TƯỢNG MỒ CỦA NGƯỜI GIA RAI

TẠI ĐỒNG MÔ- SƠN TÂY- HÀ NỘI

A/ Làng văn hóa- du lịch các dân tộc Việt Nam.

I/ Giới thiệu vài nét tổng quan về làng văn hóa- du lịch các dân tộc Việt Nam.

Làng văn hóa- du lịch các dân tộc Việt Nam là một dự án lớn mang tính quốc gia , đơn vị quản lí trực tiếp là ban quản lí làng văn hóa- du lịch các dân tộc Việt Nam và cơ quan chủ quản là Bộ văn hóa- thể thao và du lịch

Làng văn hóa-du lịch các dân tộc việt nam được xây dựng tại Đồng Mô- Sơn Tây- Hà Nội với tổng diện tích là 1544 ha, trong đó có 939 ha mặt nước hồ Đồng Mô và 605 ha mặt đất liền Phần đất liền được chia thành nhiều khu chức năng như: khu các làng dân tộc, khu trung tâm văn hóa, khu vui chơi giải trí, khu công viên bến thuyền, khu quản lí và điều hành văn phòng Trong đó tâm

Trang 3

điểm của ban quản lí làng văn hóa- du lịch các dân tộc việt nam chính là khu làng các dân tộc việt nam khu tái hiện lại 54 dân tộc việt nam, có tổng diện tích

là 198,61 ha cho xây dựng 54 khu làng dân tộc của việt nam

Mục tiêu của dự án này nhằm tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, cũng như thể hiện tình yêu thiên nhiên đất nước của dân tộc việt nam, thông qua những nét văn hóa truyền thống của 54 dân tộc Bên cạnh đó, dự

án này cũng là để giới thiệu quảng bá hình ảnh đất nước con người Việt nam đối với khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế biết đến con người Việt Nam với những nét văn hóa truyền thống riêng biệt của mỗi dân tộc

I/ Những nét chính về làng văn hóa-du lịch các dân tộc Việt Nam

1/ Quá trình thành lập

Làng văn hóa_du lịch các dân tộc Việt Nam là một trung tâm văn hóa thể thao, du lịch mang tính quốc gia Ngày 12-5-2008 Thủ tướng chnh phủ đã phê duyệt kế hoạch đầu tư và phát triển làng văn hóa-du lịch các dân tộc việt nam đến 2015 tại quyết định 540/QĐ-TT theo đó dự án được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 từ 2008-2010 hoàn thành xây dựng 34/54 làng dân tộc thuộc khu các làng dân tộc, hoàn thành xây dựng dự án hạ tầng kĩ thuật chung và khai trương làng văn hóa- du lịch các dân tộc việt nam vao 2010

Giai đoạn 2 từ 2011-2015 hoàn thành toàn bộ dự án.Thực hiện nghị quyết trên ngày 16-6-1999 Ban quản lí dự án làng văn hóa- du lịch các dân tộc việt nam thuộc bộ văn hóa thể thao và du lịch đã được thành lập và đến năm 2003 làng văn hóa- du lịch và các dân tộc việt nam đã chính thức được khởi công xây dựng tại Đồng Mô- Sơn Tây- Hà Nội

2/ Chức năng và nhiệm vụ của làng văn hóa- du lịch các dân tộc việt nam.

Làng văn hóa- du lịch các dân tộc việt nam là một thiết chế văn hóa góp phần bảo tồn phát huy giá trị và tôn vinh văn hóa các dân tộc việt nam đưa hình ảnh đất nước việt nam thu nhỏ một cách đầy đủ nhất góp phần giới thiệu với bạn

bè trong nước và quốc tế về vẻ đẹp truyền thống của 54 dân tộc Việt Nam

Trang 4

Làng văn hóa- du lịch các dân tộc Việt Nam được xây dựng bao gồm nhiều khu vực chức năng Tái hiện các làng dân tộc và cảnh quan thiên nhiên Làng cũng đã tái hiện được một cách ước lệ và khái quát đất nước việt nam qua các thời kì dựng nước, giữ nước của dân tộc Và đặc biệt làng cũng đã tái hiện được một di sản văn hóa thế giới nổi tiếng thuộc các thời đại và cảnh quan : trung tâm hoạt động văn hóa, thể thao du lịch, khu vui chơi giải trí, khu dịch vụ du lịch bao gồm các khách sạn nhà hàng, cơ sở du lịch khu hành chính và cảnh quan, các công trình văn hóa gắn với mặt nước và cảnh quan

Làng văn hóa- du lịch các dân tộc việt nam sẽ là một trung tâm văn hóa, thể thao, du lịch mang tính quốc gia là nơi tái hiện tập trung, giữ gìn phát huy và khai thác các di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc việt nam phục vụ nhu cầu tham quan, du lịch và nghiên cứu của nhân dân trong nước và quốc tế

Làng văn hóa- du lịch các dân tộc việt nam là nơi đồng bào các dân tộc cả nước gặp gỡ trao đổi, tăng cường tình đoàn kết, sự hiểu biết lẫn nhau, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc : giáo dục lòng tự hào dân tộc và tình yêu quê hương đất nước của công dân Việt Nam Làng là nơi giới thiệu đầy đủ, tập trung về con người, văn hóa thuộc mọi miền đất nước nhằm tăng cường tình hữu nghị hợp tác

và trao đổi văn hóa giữa các dân tộc trên thế giới Và đây cung là nơi đáp ứng nhu cầu nghỉ nghơi, giải trí thư giãn, hạt động văn hóa của nhân dân trong nước

và du khách quốc tê

3/ Hiện trạng khu làng dân tộc trong tổng thể làng văn hóa- du lịch các dân tộc việt nam

Đến với làng văn hóa- du lịch các dân tộc việt nam chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng những không gian văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc, đó chính là nhà Rông, một trong những biểu tượng văn hóa truyền thống đặc trưng

và đặc sắc của đồng bào dân tộc việt nam

Trong tổng thể làng văn hóa- du lịch các dân tộc việt nam, hiện nay đã xây dựng và mới hoàn thành 18 ngôi làng của các dân tộc ở Trường Sơn, Tây

Trang 5

Nguyên Dự án xây dựng vẫn đang được hoàn thiện, nâng cấp và hiện đại hơn,

cơ sở vật chất cũng ngày một nâng cao hơn được nhà nước đầu tư và quan tâm phát triển

Nói đến nét đặc trưng riêng của các dân tộc thiểu số miền núi thì không thê không nhắc đến mái nhà rông- không gian văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc

Nhà Rông là một ngôi nhà sàn cộng đồng của từng làng, tùy theo từng dân tộc mà nhà Rông có tên gọi cụ thể khác nhau Người Giẻ-Triêng và người

Ve gọi nhà Rông là Cơng, XơĐăng và Cadong gọi là Ưng Còn trong tiềm thức của người Kinh thì từ lâu đã gọi nhà này là nhà Rông

Nhà Rông là ngôi nhà của cộng đồng của bản làng, nên có chức năng giống như là đình làng của người Kinh Nó là một bộ mặt của làng, là niềm tự hào của tất cả dân làng Xét về mặt xây dưng thì đây là công trình kiến trúc và nghệ thuật tập thể của cộng đồng dân làng Nhà Rông không chỉ là nơi đồng bào dân tộc tụ tập để tiến hành một số tín ngưỡng, vui chơi ăn uống mà theo truyền thống văn hóa lâu đời nhà Rông còn là một không gian văn hóa tinh thần, là một

cư điểm vật chất có sức mạnh tình cảm to lớn gắn kết mọi quan hệ của cư dân trong làng Nói cách khác nhà Rông còn là một trung tâm giao cảm, cộng cảm,

là nơi để hội đồng già làng và mọi thành viên cùng nhau giải quyết những công

Trang 6

việc lien quan đến mọi thành viên trong buôn làng Đây cũng là nơi thắt chặt them mối quan hệ giữa các cá nhân và tập thể, là không gian để ngưỡng vọng thần linh và thể hiện bao ước mơ của những đời người Chính vì thế, dù đời sống có biến chuyển đổi thay nhưng trước sau vẫn có thể khẳng định: nhà Rông

là một không gian văn hóa tinh thần của cộng đồng dân tộc

Kiến trúc nhà Rông của mỗi dân tộc khác nhau thể hiện những nét đặc trưng riêng của dân tộc mình, thể hiện nét văn hóa sinh hoạt riêng bản sắc riêng của đồng bào dân tộc đó Nhưng phần lớn kiến trúc nhà Rông thường dài

khoảng 10m rộng hơn 4m và cao 15-16m nhưng cũng có những ngôi nhà cao khoảng 7-8m Một trong những tính đa dạng trong kiến trúc nhà Rông chính là ở kết cấu của ngôi nhà, nhà Rông không dung sắt thép hay gạch đá mà được xây dựng chủ yếu bằng tre, gỗ, cỏ tranh, mây, lạt

Nhà Rông được làm bằng những thứ gỗ tốt, nhất là cột chân chon lâu năm dưới đất không bị ải mục như: gỗ trắc, gụ, mật, dẻ

Cầu thang lên nhà Rông thường được đẽo 7 đến 9 bậc, trên đầu cầu thang của các dân tộc thường khác nhau như người Giẻ-Triêng là hình núm chiêng hay mũi thuyền, người BaNa là hình ngọn cây rau Dớn, người Êđê là hình đôi ngực phụ nữ và hình trăng non Trong nhà Rông thường có những bếp lửa để dân làng cùng ngồi xung quanh bàn bạc công việc và gắn chặt tình đoàn kết giữa các dân tộc

Nhà Rông là một thiết chế văn hóa tiêu biểu độc đáo có ý nghĩa quan trọng trong văn hóa tinh thần, trong đời sống xã hội và trong tín ngưỡng tâm linh của đồng bào các dân tộc,nó là một di sản quý cho hôm nay và mai sau Giữ được nhà Rông là giữ được “trái tim” của làng, nơi cất giữ những huyền thoại trong lịch sử thi cổ, nơi nhen nhóm lửa sáng tạo “ huyền thoại mới”, đồng bào dân tộc sẽ giữ cho mình đới sống tinh thần phong phú và đa dạng, bắt rễ xâu vào truyền thống nhưng cũng vươn tới giá trị mới, phù hợp với xu thế phát triển đi lên của xã hội Làng văn hóa- du lịch các dân tộc Việt Nam đã tái hiện được những mái nhà Rông nét đặc trưng của đồng bào dân tộc miền núi

Trang 7

Tại làng văn hóa các dân tộc không chỉ xây dựng được nhà Rông mà còn xây dựng nhà ở nơi sinh hoạt cư trú của người dân, khu văn hóa nhà mồ- tượng

mồ mảng đặc sắc văn hóa cổ truyền độc đáo nhất của đồng bào dân tộc nơi đây Tuy nhiên làng vẫn đang trong quá trình tiếp tục hoàn thiện xây dựng them các khu làng khác của 54 dân tộc Việt Nam để du khách trong nước và quốc tế được chiêm ngưỡng và hiểu biết thêm về những nét văn hóa của các vùng miền Việt Nam

4/ Những nhận thức và cảm nhận chung về làng văn hóa- du lịch các dân tộc Việt Nam.

Sau chuyến tham quan làng văn hóa- du lịch các dân tộc Việt Nam, được

sự hướng dẫn tận tình của đội ngũ hướng dẫn viên tại nơi đây, tôi cảm thấy công trình này vô cùng ý nghĩa đối với đời sồng tinh thần của các dân tộc Nó góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa đặc sắc của 54 dân tộc Việt Nam là nơi gìn giữ hội tụ bản sắc văn hóa, cuộc sống sinh hoạt, nét đẹp tinh thần của 54 dân tộc anh

em Là nơi mà các đồng bào dân tộc trong cả nước cùng gặp gỡ nhau trao đổi những kinh nghiệm trong cuộc sống Hơn thế nữa nơi đây còn là nơi tăng cường tình đoàn kết hữu nghị hợp tác giữa các dân tộc anh em trong cả nước

Đến với làng văn hóa tôi không những được tiếp thu nhiều kiến thức quý báu mà còn học hỏi được thêm nhiều kinh nghiệm cho công việc hướng dẫn của tôi trong tương lai Đây còn là nơi có nhiều tiềm năng phát triển về du lịch với các điểm tham quan thú vị, bổ ích, nơi diễn ra các hoạt động văn hóa vui chơi giải trí vô cùng hấp dẫn như: múa rối, đánh đu, múa hát giao lưu văn hóa văn nghệ giữa các dân tộc, giữa người dân và khách tham quan trong và ngoài nước giúp họ hiểu hơn về bản sắc dân tộc mình, quan trọng hơn là khiến cho du khách nước ngoài thấy được sự đa dạng về nét đẹp văn hóa Việt

Tuy nhiên nhà nước cần đầu tư nhiều hơn để xây dựng và phát triển cơ sở

hạ tầng và bảo vệ cảnh quan thiên nhiên vẻ đẹp vốn có của nơi đây Mở rộng quy mô của các làng, mời thêm người dân của các dân tộc trong cả nước đến tham gia xây dựng nét đặc trưng riêng của dân tộc mình Xây dựng them các

Trang 8

dịch vụ, khu vui chơi giải trí để thu hút thêm du khách đến nơi đây Đây là một chuyến tham quan vô cùng bổ ích và đầy lí thú Sau này, tôi mong có thể được làm việc tại nơi đây để góp một chút công sức giúp hình ảnh của nến văn hóa Việt được quảng bá ra khắp thế giới!

III/ Những nét đặc trưng về đới sống sinh hoạt, tinh thần của một số dân tộc có trong làng văn hóa- du lịch các dân tộc Việt Nam.

Đến tham quan làng văn hóa- du lịch các dân tộc Việt Nam đoàn chúng tôi đã được chị hướng dẫn viên đưa tới thăm 4 ngôi làng trong tổng số 18 ngôi làng đã được hoàn thành Chúng tôi được chiêm ngưỡng vẻ đẹp kiến trúc của nhà Rông, nhà Mồ, nhà ở các dụng cụ sinh hoạt phục vụ cho đời sống của bà con Đặc biệt còn được tìm hiểu về các phong tục truyền thống của các dân tộc như: tục ma chay, cưới xin và quan hệ xã hội, hay trang phục truyền thống của

họ Chúng tôi được tận mắt tham quan cuộc sống của người dân làng dân tộc Giẻ-Triêng; Êđê; BaNa và Gia Rai

1/ Dân tộc Giẻ Triêng.

Người Giẻ Triêng là người dân một dân tộc nhỏ, với số dân khoảng

30.000 người, sinh sống chủ yếu tại tỉnh Kon Tum, vùng miền núi tỉnh Quảng Nam(trên 99,2%) Người Giẻ Triêng có 4 nhóm: Nhóm Giẻ, nhóm Triêng, nhóm

Ve và nhóm Bnoong Người Giẻ Triêng nói bằng ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer

1.1/ Nhà ở

Trang 9

Người Giẻ Triêng ở nhà sàn dài, nhiều nơi làm mái đầu hồi uốn khum hình mu rùa và hai trái nhà ở hai đầu hồi được làm theo hình bán nguyệt.Thường thì các nhà trong làng được xếp thành hình tròn xung quanh nhà rông Khác với nhà rông của một số dân tộc khác, nhà sàn Giẻ Triêng được hành lang chạy dọc chia đôi: một nửa dành cho nam giới, nửa kia dành cho phụ nữ.Hiện nay, người Giẻ Triêng ở Kon Tum làm nhà sàn ngắn và vài hộ gia đình cùng chung sống với nhau Những nhà này cũng có những đặc trưng đáng quan tâm: nhà sàn mái hình mai rùa, hai đầu đốc được trang trí bằng hai sừng trâu

1.2/ Trang phục.

Trang phục người Giẻ Triêng

Nam giới để tóc ngắn hoặc đội khăn chàm theo lối chữ nhất trên đầu

Thân ở trần hoặc mặc tấm áo, khoác ngoài chéo qua vai, màu chàm có các sọc

trang trí Họ mang khố khổ hẹp, dài không có tua, thân và các mép khố được viền và trang trí hoa văn ở hai đầu trên nền chàm Nam cũng đeo vòng cổ, vòng ngoài khố mang chuỗi hạt vòng Trong các dịp tết lễ, họ mang thêm tấm choàng rộng màu chàm, có các sắc mầu trang trí phủ kín thân

Phụ nữ Giẻ Triêng để tóc dài, quấn sau gáy Họ không mặc áo mà mang loại váy dài, cao sát nách Đây là loại váy ống tương đối dài rộng Đầu váy, giữa thân và gấu váy được trang trí các sọc hoa văn màu đỏ trên nền chàm Lối mặc

có tính chất vừa váy, vừa áo này là một đặc điểm rất khác biệt của phụ nữ Gié

Trang 10

Triêng Đây cũng là một lý do trang phục Giẻ Triêng được chọn vào "Làng văn hóa các dân tộc" Lối mặc váy, đặc biệt là quấn mép ra trước giữa thân, đầu váy còn thừa (váy loại này thường dài - cao gấp rưỡi váy bình thường), lộn ngược ra phía trước hoặc quấn thành nhiều nếp gấp ra xung quanh trông như một chiếc áo ngắn Phụ nữ còn mang vòng tay vòng cổ.Trang phục Giẻ Triêng là đặc điểm riêng, cùng với một số dân tộc khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên có giá trị quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử trang phục ở Việt Nam

1.3/Tục hôn nhân.

Theo tục lệ cũ, con trai khoảng 10 tuổi bắt đầu ngủ đêm tại nhà rông, khoảng 13-15 tuổi thì cà răng và sau đó vài ba năm sẽ lấy vợ Con gái chủ động trong việc hôn nhân của mình và sự lựa chọn của con cái được cha mẹ tôn trọng Trước khi lập gia đình, con trai phải biết đan lát, biết tấu chiêng cồng, các cô gái phải thạo đan chiếu, dệt vải (ở những vùng có nghề dệt) Cô gái phải chuẩn bị đủ

100 bó củi đẹp để nộp cho nhà trai trong lễ cưới Sau đám cưới, đôi vợ chồng trẻ phải sống và luân phiên chuyển nhà từ nhà cha mẹ vợ sang nhà cha mẹ chồng,

và ngược lại cứ ba đến bốn năm một lần, cho đến khi cha mẹ một bên qua đời mới định cư một chỗ

1.4/ Ma chay.

Trang 11

Người Giẻ Triêng khi chết được chôn trong quan tài độc mộc, có đẽo tượng đầu trâu, huyệt đào rất nông, đưa đám tang chỉ có vài người nhà và sau một thời gian thì làm lễ bỏ mả để đoạn tang

2/ Dân tộc Êđê.

Cư trú: Tập trung ở tỉnh Đắc Lắc, phía nam tỉnh Gia Lai và miền tây hai tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên

Văn hóa: Người Êđê có kho tàng văn học truyền miệng phong phú: thần thoại, cổ tích, ca dao, tục ngữ, đặc biệt là các Khan (trường ca, sử thi) nổi tiếng với Khan Đam San, Khan Đam Kteh Mlan Đồng bào yêu ca hát và thích tấu nhạc Nhạc cụ có chiêng, cồng, trống, sáo, khèn, đàn

2.1/ Nhà ở.

Nhà cửa: nhà người Ê Đê thuộc loại hình nhà sàn dài, bộ khung kết cấu đơn giản Cái được coi là đặc trưng của nhà Ê Đê là hình thức của thang, cột sàn

và cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt chia thành hai phần Nửa đằng cửa chính (Gah) là nơi tiếp khách, sinh hoạt chung của cả nhà dài, bếp chủ, ghế khách, ghế chủ, ghế dài (tới 20cm), chiêng ché Nửa còn lại (Ôk) là bếp đặt chỗ nấu ăn chung và là chỗ ở của các đôi vợ chồng, chia đôi theo chiều dọc, phần về bên trái được coi là "trên" chia thành nhiều gian nhỏ; phần về bên phải là hành lang

để đi lại, về phía cuối là nơi đặt bếp trong nhà là có bếp lửa và một số các dụng

Ngày đăng: 27/05/2021, 09:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w