Hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống chịu sự tác động củaqui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết địn
Trang 1A Giới thiệu đề tài
Xã hội loài người đã phát triển trải qua nhiều giai đoạn nối tiếp nhau từthấp đến cao, ứng với mỗi giai đoạn là một hình thái kinh tế - xã hội phùhợp với nó Hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống chịu sự tác động củaqui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng vàcác quy luật xã hội khác C.Mác đã viết :”sự phát triển của những hình tháikinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”
Trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, để phát triển nềnkinh tế Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa Công cuộc đổi mới từ nền kinh tế kế hoạchhoá tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường đã tác động đến mọi mặt đờisống xã hội Điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ tới tâm lý, suy nghĩ, lốisống của người dân Con người năng động nhiều hơn là ỷ lại, chủ độngnhiều hơn chờ đợi, trách nhiệm cá thể lớn hơn trách nhiệm làm chủ tập thể,thách thức, cạnh tranh, đòi hỏi hơn là yên phận, chờ đợi sự ban phát Từ đónảy sinh nhiều vấn đề, đó là con người kinh tế và con người đạo đức, lợiích cá nhân và lợi ích tập thể… Trong cơ chế thị trường con người cũng bịtha hóa, đây là nguy cơ, nguồn gốc sản sinh ra tụt hậu kinh tế, tệ nạn xãhội, diễn biến hoà bình …Bởi vậy, cần phải tìm ra nguyên nhân và biệnpháp để khắc phục các hiện tượng đó
Là một con người lớn lên khi đất nước đang xây dựng nền kinh tế thịtrường và hơn thế nữa còn là một sinh viên kinh tế, em rất quan tâm đếncác vấn đề kinh tế - xã hội hiện nay của đất nước ta Trong quá trình họctập và nghiên cứu em đã nhận thấy rằng con người là yếu tố quyết định tới
sự phát triển của nền kinh tế, do đó việc tìm hiểu về nhân cách con người làrất quan trọng Bởi vậy, em đã chọn đề tài:
“Vấn đề nhân cách con người trong cơ chế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa”.
Trang 22 Cơ sở thực tế
Để nghiên cứu về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và nhân cách con người, em đã tìm hiểu qua một số sách báo, tạp chí vàvăn kiện đại hội Đảng Bên cạnh đó, em còn tìm hiểu thông tin qua đài, tivi
và các trang web
II Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
1 Nền kinh tế Việt Nam trước đổi mới
Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, cả nước cùng quá độ lên chủnghĩa xã hội trong điều kiện cả trong và ngoài nước đang có những mặtdiễn biến không thuận lợi Ở nước ta bắt đầu xuất hiện cuộc khủng hoảngkinh tế - xã hội sâu sắc vào cuối những năm 70 đầu những năm 80 Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng Cộng sản Việt Nam đánh giá tìnhhình đất nước từ năm 1976 đến năm 1980 là thời kì nền kinh tế ở trạng tháitrì trệ Sản xuất phát triển chậm trong khi dân số tăng nhanh Một phần tiêudùng của xã hội phải dựa vào vay và viện trợ, nền kinh tế chưa tạo đượctích luỹ Chênh lệch giữa thu và chi, xuất khẩu và nhập khẩu ngày cànglớn Lực lượng sản xuất kém phát triển, cơ sở vật chất xã hội nghèo nàn,lạc hậu Lương thực, vải mặc, các hàng tiêu dùng thiết yếu đều thiếu và vẫn
Trang 3áp dụng phân phối kiểu tem phiếu Thị trường và vật giá không ổn định.Việc cung ứng vật tư, giao thông vận tải gặp rất nhiều khó khăn Nhiều xínghiệp phải sử dụng công suất ở mức thấp thậm chí không có khả năng duytrì hoạt động dẫn tới tình trạng công nhân thất nghiệp Đất nước khi đó cótới 90% làm nông nghiệp, 95% dân cư mù chữ và số người lao động chưađược sử dụng còn đông Những vấn đề đó đều ảnh hưởng rất lớn tới đờisống nhân dân, dẫn tới mức sống của người dân thấp, cuộc sống gặp nhiềukhó khăn.
Tình hình trì trệ đó có nguyên nhân khách quan là nền kinh tế phảigánh chịu những hậu quả hết sức nặng nề của hai cuộc chiến tranh chốngPháp và chống Mỹ Trong thời kì chiến tranh, mọi nguồn lực của tổ quốcđều tập trung vào mục tiêu đánh thắng kẻ địch, kinh tế không được chútrọng phát triển đã trở nên nghèo nàn lạc hậu, chậm phát triển Đồng thời,chúng ta còn bị thiệt hại to lớn về con người, cơ sở vật chất – kĩ thuật vàqua trình khắc phục còn nhiều khó khăn Bên cạnh đó, tình hình thế giới đã
có nhiều biến đổi, nguồn viện trợ từ bên ngoài giảm so với thời kỳ chiếntranh
Nhưng nguyên nhân chủ yếu làm trầm trọng thêm tình hình khó khăn
về kinh tế - xã hội là cơ chế kinh tế không phù hợp qui luật kinh tế kháchquan Lực lượng sản xuất lạc hậu không đủ điều kiện tác động đến quan hệsản xuất lỗi thời để phá vỡ nó, hình thành quan hệ mới Cơ chế kế hoạchhóa tập trung quan liêu bao cấp xóa bỏ một cách khô cứng mọi sự tư hữu,kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Đó là do chúng ta đã nhậnthức chưa đúng quan điểm của Lênin, Hồ Chí Minh về nền kinh tế hànghóa,dẫn tới những sai lầm trong quá trình vận dụng ở nước ta
2 Nền kinh tế thị trường – Tất yếu khách quan
Kinh tế thị trường nói chung là một hình thức xã hội của các tổ chức và hoạt động kinh tế, trong đó các mối quan hệ giữa con người với con người được biểu hiện thông qua việc mua bán trao đổi bằng tiền, quá trình đó chủ yếu là do thị trường điều tiết
Trang 4Nói cách khác, kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh
tế hàng hoá, trong đó toàn bộ các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuấtđều thông qua thị trường Kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường không đồng nhất với nhau, chúng khác nhau về trình độ phát triển
b) Tình tất yếu khách quan
Từ việc phân tích thực trạng của nền kinh tế, Đảng ta đã đề ra chủtrương : “quá trình từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn ở nước ta là quá trìnhchuyển hoá nền kinh tế còn nhiều tính chất tự cấp, tự túc thành nền kinh
tế hàng hoá … Việc sử dụng đầy đủ và đúng đắn quan hệ hàng hoá - tiền
tệ trong kế hoạch kinh tế quốc dân là một yếu tố khách quan … Việc sửdụng quan hệ hàng hoá - tiền tệ đòi hỏi sản xuất phải gắn với thị trường”
Sự tồn tại và phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam là có cơ sở kháchquan
Thứ nhất, phân công lao động xã hội phát triển cả về chiều rộng vàchiều sâu Phân công lao động trong từng khu vực, từng địa phương cũngngày càng phát triển, điều đó được thể hiện ở tính phong phú, đa dạng vàchất lượng ngày càng cao của sản phẩm trao đổi trên thị trường
Thứ hai, trong nền kinh tế nước ta tồn tại nhiều hình thức sở hữu Đó
là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu hỗn hợp Trong
đó sở hữu tư nhân bao gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản
tư nhân Tương ứng với mỗi loại hình sở hữu là một thành phần kinh tế.Như vậy trong xã hội tồn tại nhiều chủ thể kinh tế độc lập với lợi íchriêng nên quan hệ kinh tế giữa họ chỉ có thể thực hiện bằng quan hệ hànghoá - tiền tệ
Thứ ba, thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể tuy cùng dựatrên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất nhưng các đơn vị kinh tế có sựkhác biệt nhất định, có lợi ích riêng Các đơn vị kinh tế còn có sự khácnhau về trình độ kĩ thuật – công nghệ, về trình độ tổ chức quản lý nên chiphí sản xuất và hiệu quả sản xuất cũng khác nhau
Thứ tư, quan hệ hàng hoá - tiền tệ còn cần thiết trong quan hệ kinh tếđối ngoại, đặc biệt trong điều kiện phân công lao động quốc tế đang pháttriển mạnh mẽ Mỗi quốc gia là người chủ sở hữu đối với các hàng hoáđưa ra trao đổi trên thị trường thế giới và sự trao đổi phải theo nguyên tắc
Trang 5ngang giá Bởi vậy, cần có một quan hệ kinh tế áp dụng chung cho tất cảcác nước, đó chính là quan hệ hàng hoá - tiền tệ.
Như vậy, kinh tế thị trường ở nước ta tồn tại tất yếu, khách quan và không thể lấy ý chí chủ quan để xoá bỏ nó được
3 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
a) Quá trình chuyển đổi
Sự chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường ở nước ta là một quá trình lâu dài
Trước tình hình khó khăn của nền kinh tế, Đảng, Nhà nước ta đãđưa ra chỉ thị 100 và quyết định 25/CP Khi đó, kế hoạch hoá theo kiểutập trung bị suy yếu, cơ chế bao cấp bắt đầu chuyển đổi Đến Nghị quyếtHội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương khoá V và Nghị quyết
Bộ chính trị khoá V về các quan điểm kinh tế, cốt lõi của mô hình kinh tếmới đã cơ bản hình thành
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng là bước ngoặt trong
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đại hội quyết địnhđường lối đổi mới, đổi mới toàn diện, đổi mới kinh tế là chủ yếu Đại hộilần thứ VII của Đảng thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.“Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần…
là hoàn toàn cần thiết để giải phóng và phát huy được các tiềm năng sảnxuất trong xã hội” Đại hội VIII mở đầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước Đến đại hội IX của Đảng, chúng ta đã đưa ra
mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta, đó là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
đó hình thành cơ chế tự điều tiết của nền kinh tế Nền kinh tế thị trường
Trang 6hiện đại có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước thông qua pháp luật kinh tế,
kế hoạch hoá và các chính sách kinh tế
Ngoài những tính chất chung của nền kinh tế thị trường, kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam còn có những đặc trưngbản chất được xác định trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X Đó là:
- Nhằm mục tiêu thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh”, giải phóng mạnh mẽ và không ngừng pháttriển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân
- Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phầnkinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nướccùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nềnkinh tế quốc dân
- Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước vàtừng chính sách phát triển, hình thành cấu trúc kinh tế - xã hội phát triển
ổn định, bền vững, thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả laođộng, hiệu quả kinh tế đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồnlực khác và thông qua phúc lợi xã hội
- Phát huy vai trò làm chủ của người dân, bảo đảm vai trò quản lýđiều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sựlãnh đạo của Đảng
4 Vai trò của nền kinh tế thị trường
Sản xuất hàng hoá phát triển phá vỡ dần kinh tế tự nhiên và chuyểnthành nền kinh tế hàng hoá, thúc đẩy xã hội hoá sản xuất và đem lạinhững tác dụng to lớn
Thứ nhất kinh tế hàng hoá tạo ra động lực thúc đẩy lực lượng sảnxuất phát triển Trên thị trường, các nhà sản xuất cạnh tranh với nhau, từ
đó buộc mỗi chủ thể phải cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vàosản xuất để giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm Quá trình đóthúc đẩy cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật phát triển, đồng thời buộcngười lao động phải được nâng cao về trình độ, tay nghề Do đó, lựclượng sản xuất phát triển mạnh, năng suất lao động xã hội không ngừngđược nâng cao
Trang 7Thứ hai, kinh tế hàng hoá kích thích tính năng động, sáng tạo củachủ thể kinh tế Trong nền kinh tế hàng hoá, người sản xuất phải căn cứvào nhu cầu của người tiêu dùng, của thị trường để quyết định sản xuấtsản phẩm gì, với khối lượng, chất lượng như thế nào Xã hội càng pháttriển, nhu cầu của con người và thị trường cũng ngày càng tăng lên Dovậy, các nhà sản xuất muốn tồn tại và phát triển bắt buộc phải nắm bắtđược nhu cầu đó một cách nhạy bén và có những sáng tạo trong việcnâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã cũng như tăng khối lượng hànghoá, dịch vụ.
Thứ ba, kinh tế hàng hoá thúc đẩy sự phân công lao động xã hội vàchuyên môn hoá sản xuất Trong kinh tế tự nhiên, một người có thể tạo
ra nhiều sản phẩm để phục vụ cho nhu cầu của bản thân Nhưng trongkinh tế hàng hoá, nhiều người cùng tham gia vào quá trình sản xuất ramột sản phẩm, mỗi người chỉ tập trung vào một khâu trong quá trình đó
và sản phẩm ấy được tung ra thị trường phục vụ cho xã hội Như vậy,trình độ phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất phảităng lên Nhờ đó, tiềm năng, lợi thế của từng vùng cũng như của cảnước được tận dụng và phát huy tối đa
Thứ tư, sự phát triển của kinh tế thị trường thúc đẩy quá trình tích
tụ và tập trung sản xuất Kinh tế thị trường tạo điều kiện ra đời của sảnxuất lớn có tính xã hội hoá cao, chọn lọc được những người sản xuấtkinh doanh giỏi đồng thời hình thành được đội ngũ cán bộ quản lý cótrình độ và lao động lành nghề
Thực tiễn những năm đổi mới đã cho thấy việc chuyển đổi từ nềnkinh tế quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường là hoàn toàn đúng đắn.Chúng ta đã khai thác được tiềm năng trong nước và thu hút được vốn,
kỹ thuật, công nghệ nước ngoài, giải phóng năng lực sản xuất Nhờ đó,kinh tế nước ta đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm qua.Như vậy, kinh tế thị trường là thành tựu chung của văn minh nhânloại Nó là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất, quá trình phâncông lao động xã hội và đa dạng hoá các hình thức sở hữu Kinh tế thịtrường là động lực mạnh mẽ thúc đẩy toàn xã hội phát triển
Trang 8III Nhân cách con người
1 Bản chất con người
a) Quan điểm trước Mác
Từ thời kỳ cổ đại, các trường phái triết học phương Đông đã tìmcách lý giải vấn đề bản chất con người, quan hệ giữa con người với thếgiới Các trường phái triết học tôn giáo phương Đông nhận thức conngười trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí hoặc nhị nguyên luận.Trong triết học Phật giáo con người là sự kết hợp giữa danh và sắc (vậtchất và tinh thần), đời sống con người trên trần thế là ảo giác hư vô Cuộcđời con người khi còn sống là sống gửi tạm bợ, là bể khổ Con người phảihướng tới cuộc sống vĩnh cửu ở cõi Niết bàn, nơi tinh thần con ngườiđược giải thoát để trở thành bất diệt
Tư tưởng Nho giáo, Lão giáo trong triết học Trung Hoa đã quanniệm về bản chất con người rất phong phú Khổng Tử cho rằng “thiênmệnh” quyết định nhân sự, đức “nhân” là giá trị cao nhất của con người.Mạnh Tử qui tính thiện của con người vào năng lực bẩm sinh, do ảnhhưởng của phong tục, tập quán xấu mà con người bị nhiễm cái xấu Cảhai ông đều cho rằng con người có thể tu dưỡng, rèn luyện để hướng tớicác gía trị đạo đức tốt đẹp Trái lại, Tuân Tử quan niệm bản chất conngười khi sinh ra là ác, phải chống lại cái ác ấy con người mới tốt được
Đó là một tư tưởng thuộc chủ nghĩa duy vật thô sơ Đổng Trọng Thư lạicho rằng trời và con người có thể hoà hợp với nhau, thông hiểu lẫn nhau,gọi là thuyết “thiên nhân cảm ứng” Đây là tư tưởng kế thừa Nho giáotheo khuynh hướng duy tâm cực đoan, qui yếu tố quyết định đối với cuộcđời con người là “thiên mệnh” Lão Tử, người sáng lập ra trường pháiĐạo gia, cho rằng con người sinh ra từ “Đạo”, bản tính nhân loai có haikhuynh hướng “hữu vi” và “vô vi” Theo ông, con người cần phải sống
“vô vi”, theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không giả tạo, gò ép Đây là một tưtưởng duy tâm chủ quan
Cũng giống như triết học phương Đông, các trường phái triết học tôngiáo phương Tây nhận thức vấn đề con người trên cơ sở thế giới quan duytâm, thần bí Kitô giáo cho rằng thể xác mất đi nhưng linh hồn thì tồn tại
Trang 9vĩnh cửu Linh hồn là giá trị cao nhất mà mỗi con người phải thườngxuyên chăm sóc để hướng tới thiên đường vĩnh cửu.
Trong triết học Hi Lạp cổ đại, con người được xem là điểm khởiđầu của tư duy triết học và có nhiều quan điểm khác nhau Theo Hêraclit,linh hồn con người chỉ là một biểu hiện của lửa, là sự thống nhất của haimặt đối lập: cái ẩm ướt và lửa Đêmôcrit lại cho rằng linh hồn được tạonên từ các nguyên tử hình cầu nhưng lại lệ thuộc vào thể xác con ngườinên sẽ mất đi cùng thể xác Đối lập với Đêmôcrit, Platôn quan niệm linhhồn được sinh ra từ thế giới ý niệm, hiểu biết được cái ý niệm, nó cư trú ởmột ngôi sao rồi bay đến trái đất nhập với thân xác tạo ra một con người
Do đó, linh hồn tồn tại vĩnh viễn Còn theo Arixtôt, chỉ có linh hồn tưduy, trí nhớ, ý chí, năng khiếu nghệ thuật làm cho con người nổi bật lên,con người là “một động vật chính trị”
Dưới thời kì trung cổ, tôn giáo bao trùm lên mọi lĩnh vực của đờisống xã hội Con người được xem là sản phẩm của Thượng đế sáng tạo
ra, số phận, niềm vui, nỗi buồn đều do Thượng đế sắp đặt Con ngườiphải chấp nhận cuộc sống tạm bợ trên trần thế vì hạnh phúc vĩnh cửu chỉchờ đợi họ ở thế giới bên kia Trái lại, triết học thời kì phục hưng - cậnđại đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lí tính của con người Con người đượcnhấn mạnh về mặt cá thể nhưng chưa được nhận thức đầy đủ về mặt sinhhọc và về mặt xã hội
Trong triết học cổ điển Đức, quan niệm về con người được pháttriển theo khuynh hướng của chủ nghĩa duy tâm Theo Cantơ, nhận thứccon người chỉ biết được hiện tượng bên ngoài mà không xâm nhập đượcvào bản chất đích thực, nhận thức cần hạn chế phạm vi của lí tính để dànhcho đức tin Hêghen, một nhà duy tâm khách quan, cho rằng con người làhiện thân của “ý niệm tuyệt đối” Ông cũng khẳng định con người là chủthể đồng thời là kết quả của sự phát triển lịch sử
Vượt qua những hạn chế trong triết học của Hêghen, nhà duy vậtPhoiơbăc phê phán tính chất siêu tự nhiên, phi vật chất, phi thể xác về bảnchất con người Ông khẳng định con người do sự vận động của thế giớivật chất tạo nên, là kết quả của sự phát triển của thế giới tự nhiên.Phoiơbắc đề cao vai trò trí tuệ của con người với tính cách là những cá
Trang 10thể người đa dạng, phong phú, không ai giống ai Tuy nhiên, ông đãkhông thấy được bản chất xã hội của con người, tách con người khỏi môitrường sống của họ, biến con người trở thành phi lịch sử, phi giai cấp,trừu tượng.
Như vậy quan niệm về con người ở phương Đông hay phương Tây
dù dựa trên nền tảng thế giới quan duy tâm, nhị nguyên hay duy vật siêuhình thì đều chưa được phản ánh đúng đắn Các quan niệm đó tuyệt đốihoá một mặt nào đó, xem xét con người một cách trừu tượng nên đềuchưa tìm ra bản chất con người
b) Quan niệm của triết học Mác – Lênin
Theo triết học Mác – Lênin, con người là một thực thể thống nhấtgiữa mặt sinh vật với mặt xã hội Con người là động vật cao cấp nhất, làkết quả của sự tiến hoá lâu dài của thế giới tự nhiên Các giai đoạn mangtính sinh học mà con người trải qua từ sinh thành, phát triển đến mất điqui định bản tính sinh học của con người Cái sinh học trong con ngườiqui định sự hình thành những hiện tượng và quá trình tâm lí, là điều kiệnqui định sự tồn tại của con người Không chỉ là sản phẩm của tự nhiên,con người là sản phẩm của xã hội, mang tính xã hội Con người chỉ có thểtồn tại được khi họ lao động sản xuất ra của cải vật chất thoả mãn nhu cầusinh học của mình Thông qua hoạt động sản xuất, tính xã hội của conngười được thể hiện Trong lao động, con người tạo ra nền văn hoá vậtchất và tinh thần, phát triển ngôn ngữ và tư duy, hình thành và phát triểncác quan hệ xã hội Do đó, lao động là yếu tố quyết định hình thành bảnchất xã hội của con người Mối quan hệ sinh học và xã hội là cơ sở hìnhthành hệ thống các nhu cầu sinh hoạt và nhu cầu xã hội trong đời sốngcon người Với phương pháp luận duy vật biện chứng chúng ta thấy quan
hệ giữa mặt sinh học và mặt xã hội là thống nhất Hai mặt đó hoà quyệnvào nhau để tạo thành con người tự nhiên – xã hội
C.Mác đã viết:”Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người làtổng hoà những quan hệ xã hội” Luận đề khẳng định không có con ngườitrừu tượng, thoát li mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội Con ngườiluôn luôn cụ thể, xác định, sống trong điều kiện nhất định, thời đại nhấtđịnh Con người sáng tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần cho xã hội
Trang 11mà mình sống, qua đó con người bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình.Như vậy, không thể hiểu bản chất con người bên ngoài mối quan hệ giữa
cá nhân và xã hội, đó chính là sự phân biệt giữa con người và thế giớiđộng vật
Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử Nếu không có thếgiới tự nhiên thì cũng không có lịch sử xã hội, không có sự tồn tại của conngười Không có con người trừu tượng mà chỉ có con người cụ thể gắnvới xã hội nhất định Trong điều kiện lịch sử xã hội luôn vận động biếnđổi, con người cũng phải thay đổi cho phù hợp Như vậy, con người làsản phẩm của lịch sử Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động thực tiễn, conngười tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên Con người sáng tạo racác giá trị vật chất tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao,phù hợp với mục tiêu, nhu cầu do con người đặt ra Không có con ngườithì không thể có lịch sử xã hội loài người Do đó, con người là chủ thểsáng tạo ra lịch sử
2 Sự hình thành nhân cách con người
Nhân cách là khái niệm chỉ bản sắc độc đáo, riêng biệt của của mỗi
cá nhân, là nội dung và tính chất bên trong của mỗi cá nhân Nhân cáchbiểu hiện thế giới cái tôi của mỗi cá nhân, là sự tổng hợp của các yếu tốsinh học, tâm lí, xã hội, tạo nên đặc trưng riêng về di truyền, về sinh líthần kinh, về hoàn cảnh sống của cá nhân theo cách riêng của mình Nhâncách là thế giới quan bên trong của mỗi cá nhân Nói tóm lại, nhân cách làtoàn bộ những năng lực và phẩm chất xã hội – sinh lí – tâm lí của cá nhântạo thành chỉnh thể đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự đánh giá, tự khẳngđịnh và tự điều chỉnh mọi hoạt động của mình
Như đã nói ở phần trước, con người là sản phẩm của tự nhiên và xãhội Do đó, quá trình hình thành và phát triển nhân cách phụ thuộc vàonhiều yếu tố Thứ nhất, con người là động vật cao cấp nhất nên nhân cáchphải dựa trên tiền đề sinh học và tư chất di truyền học Thứ hai, môitrường xã hội là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách.Môi trường gia đình, nhà trường và xã hội có thể tác động trực tiếp hoặcgián tiếp tới mỗi người Thứ ba, hạt nhân của nhân cách là thế giới quan
cá nhân, bao gồm các quan điểm, lí luận, niềm tin, định hướng giá trị…