Con người là động vật cao cấp nhất, là tinh hoa của muôn loài Con người là sản phẩm của quá trình hết sức lâu dài của tự nhiên, trong xã hội thì conngười là yếu tố chủ chốt, là nhân tố q
Trang 1Quan điểm triết học duy vật biện chứng về con người và vấn đề xây dựng con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Việt Nam.
PHẦN MỞ ĐẦU
Lịch sử của khoa học nói chung, của triết học nói riêng là lịch sử nghiêncứu về con người
Con người là động vật cao cấp nhất, là tinh hoa của muôn loài Con người
là sản phẩm của quá trình hết sức lâu dài của tự nhiên, trong xã hội thì conngười là yếu tố chủ chốt, là nhân tố quan trọng không thể thay thế trong tiếntrình phát triển của lịch sử nhân loại của, lịch sử của loài người
Chủ nghĩa Mác-Lenin cho rằng, con người vừa là thực thể tự nhiên, là làthực thể xã hội, đồng thời là chủ thể cải tạo hoàn cảnh
Con người là một thực thể “song phùng” tự nhiên và xã hội, là sự kếthợp cái tự nhiên (sinh học) và cái xã hội Hai yếu tố này gắn kết với nhau, đanquyện vào nhau, trong cái tự nhiên chứa đựng tính xã hội và không có cái xãhội tách rời cái tự nhiên
Con người là sản phẩm tiến hóa, phát triển lâu dài của tự nhiên Thế giới
tự nhiên luôn luôn vận động và phát triển, từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiênđến hoàn thiện mà đỉnh cao là con người
Con nguời là thực thể sống, có quá trình chao đổi chất với môi trườngxung quanh, có tâm sinh lý, có những nhu cầu vật chất nhất định Trước đâyC.mác đã từng khẳng định, trước khi hoạt động chính trị, văn học, nghệ thuật,con người phải ăn, ở, đi lại Mỗi cơ thể con người đều tuân theo quy luật của tựnhiên như: sinh ra, tồn tại, phát triển, trưởng thành, già nua và chết đi Tuy
Trang 2nhiên những nhu cầu sinh học của con người đã mang tính xã hội, do vậy,C.Mác quan niệm con người là một thực thể tự nhiên đặc biệt, một thực thể tựnhiên đã nhân loại hóa.
Con người trong quá trình tồn tại không chỉ tác động vào tự nhiên, làmbiến đổi tự nhiên mà con người còn quan hệ với nhau tạo nên bản chất người Con người không thể tồn tại được khi tách rời xã hội Xã hội càng pháttriển, con nguời còn người càng hòa vào cộng đồng xã hội, mối quan hệ giữacon người ngày càng bền chặt hơn, con người được mở rộng mối quan hệ với
xã hội Một khi quan hệ con người được mở rộng thì con người lại nhận thức vềmình rõ hơn và sự hiểu biết tăng lên, vai trò của con người trong xã hội càngtăng lên
Như vậy con người có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong các tư tưởngtriết học, nó chiếm m ột phần không thể thiếu trong hệ thống triết học duy vậtbiện chứng Mác-Lenin Nghiên cứu về con người là một vấn đề vô cùng quantrọng và bức thiết
Nghiên cứu con người trong thời đại ngày nay có ý nghĩa hết sức to lớnnhất là trong thời kỳ đổi mới cụ thể là sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoácủa thế giới nói chung và nước ta nói riêng
Việt Nam là một nước đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH Nhiệm vụ
quan trọng nhất của nước ta trong thời kỳ này là phải xây dựng cơ sở vật chất
và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, trong đó công nghiệp và nông nghiệp hiện đại,
có văn hóa và khoa học tiên tiến Muốn thực hiện thành công nhiệm vụ quantrọng nói trên, nhất thiết phải tiến hành công nghiệp hóa, tức là chuyển nền kinhnông nghiệp lạc hậu thành nền kinh tế công nghiệp
Thế giới đã trải qua hai cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vĩ đại và đã
có rất nhiều nước đã trở thành những nước công nghiệp lớn, vì vậy chúng ta cầntìm hiểu, nghiên cứu về vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
Trang 3hiện đại hóa vì con người là nhân tố quyết định trong mọi hoạt động của xã hội,
là chủ thể của nền sản xuất, Nghiên cứu con người đó là phương thức duy nhất
để phát triển kinh tế
Việt Nam là một trong số các quốc gia nghèo nhất trên thế giới, nền kinh
tế vẫn còn ở tình trạng lạc hậu, làm ăn tản mạn, tùy tiện của sản xuất nhỏ, sảnsuất còn mang tính tự cung tự cấp, đời sông nhân dân còn nhiều khó khăn Tổngsản phẩm quốc dân tính theo đầu người thuộc loại thấp nhất thế giới, tốc độtăng bình quân chậm hơn nhiều nước trong khu vực Vì vậy muốn không bị tụthậu xa hơn nữa, muốn ổn định mọi mặt và phát triển thì tất yếu phải thực hiệncông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tại hội nghị lần thứ VI ban chấp hành
TW Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa VII đã xác định nước ta “…Chuyển dầnsang một thời kỳ phát triển mới, đẩy tới một bước công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước, nhằm tạo thêm nhiều công ăn việc làm, đẩy nhanh tốc độ tăngtrưởng kinh tế, cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.Đây là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới.”Chủ trương này có tiếp tục được hoàn thiện và có bước phát triển mới ở các Đạihội VII, VIII,IX và trong nhiều nghị quyết quan trọng của TW
Theo Mác thì con người có vai trò vô cùng quan trọng trong sản xuất và
tổ chức xã hội, không có gì thay thế được con người trong tiến trình phát triểncủa lịch sử nhân loại, của xã hội loài người Bản thân sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa mà chúng ta đang từng bước thực hiện với những thành côngbước đầu của nó cũng ngày càng đòi hỏi mỗi chúng ta phải nhận thức sâu sắc
“Những giá trị lớn lao, và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người” phải thấy
rõ vai trò của con người trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội
Trang 4CHƯƠNG I: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN VỀ
VẤN ĐỂ CON NGƯỜI
1 Quan niệm của triết học Mác – Lênin về bản chất con người.
1.2 Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã
ăn, nước uống, hang động để ở Đó là quá trình con người đấu tranh với tựnhiên, thú dữ để sinh tồn Trải qua hàng chục vạn năm con người đã thay đổitừu vượn thành người, điều đó đã được chứng minh trong các công trình nghiêncứu của Đácuyn Các gia đọan mang tính sinh học mà con người trải qua từ sinhthành, phát triên đến mất đi quy định bản chất sinh học trong đời sống conngười Như vậy con người trước hết là một tồn tại sinh vật, biểu hiện trongnhững cá nhân con người sống, là tổ chức cơ thể của con người và mối quan hệcủa nó đối với tự nhiên Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trìnhtâm sinh lý các giai đoạn phát triển giống nhau nói lên bản chất sinh học của cánhân con người Tuy nhiên, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quyđịnh bản chất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với
Trang 5thế giới loài vật là mặt xã hội Trong kịch sử đã có hững quan niệm khác nhauphân biệt con người với loài vật, như con người là động vật sử dụng công cụ laođộng, là “một động vật có tính xã hội”, hoặc con người là động vật có tư duy … Những quan niệm trên đều phiến diện chỉ vì nhấn mạnh một khía cạnhnào đó trong bản chất xã hội của con người mà chưa nêu lên được nguồn gốccủa bản chất xã hội ấy
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác đã nhận thức vấn đềcon người một cách toàn diện, cụ thể trong toàn bộ tính hiện thực của nó, màtrước hết là vấn đề lao động sản xuất ra của cải vật chất
Thông qua hoạt động sản xuất vật chất con người đã làm thay đổi, cảibiến tự nhiên: “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sảnxuất toàn bộ giới tự nhiên” Tính xã hội của con người biểu hiện trong sản xuấtvật chất; hoạt động vật chất tự biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của conngười Thông qua hoạt động lao động sản xuẩt, con người sản xuất ra của cảivật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành phát triển ngônngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết địnhhình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cánhân trong cộng đồng xã hội
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và pháttriển của con người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau,nhưng thống nhất với nhau Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sựphù hợp cơ thể với môi trường, quy luật về sự chao đổi chất, về di chuền, biến
dị tiến hóa …quy định phương diện sinh học của con người Hệ thống các quyluật tâm lý ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học của con ngườinhư hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí Hệ thống các quy luật xãhội quy định quan hệ giữa người với người
Trang 6Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoànchỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội Mốiquan hệ sinh học và xã hội trong đời sống con nggười như nhu cầu ăn, mặc, ở ;nhu cầu tái sản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm mỹ và hưởng thụcác giá trị tinh thần
Như vậy với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằngquan hệ giữa mặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu
xã hội trong mỗi con ngườI là thống nhất với nhau, hòa quyện vào nhau để tạothành con người viết hoa, con người tự nhiên xã hội
1.2 Bản chất con người là sự tổng hòa những quan hệ xã hội
C.Mác đã nêu lên luận đề nổi tiếng Luân cương về Phoiơbắc: “bản chất
con người không phải là một cái trìu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt.Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ
xã hội.”
Luận đề khẳng định rằng, không có con người trìu tượng, thoát ly mọiđiều kiện, hoàn cảnh kịch sử xã hội Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sốngtrong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định Trong điềukiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giátrị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ Chỉtrong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó (như quan hệ giai cấp, dân tộc, thờiđại; quan hệ chính trị, kinh tế ; quan hệ cá nhân, gia đình xã hội …) con ngườimới bộc lộ bản chất của mình
1.2 Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử.
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại conngười Bởi vậy con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài củathế giới hữu sinh Song điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là chủthể của lịch sử - xã hội
Trang 7Con người có hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên,cải biến tựnhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội Thế giớiloài vật dựa vào những điều kiện có sẵn của tự nhiên Con người thì trái lại,thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phú thêm thế giới tựnhiên, tái tạo lai một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình.
Trong quá trình cải biến tự nhiên con người cũng làm ra lịch sử củamình Con người là sản phẩm của tự nhiên, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch
sử của chính bản thân con người Hoat động lao động sản xuất vừa là vừa làđiều kiện cho sự tồn tại con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống
và bộ mặt xã hội Trên cơ sở nắm bắt quy luật của kịch sử xã hội, con ngườithông qua hoạt động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đếncao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người dặt ra Không có hoạt độngcủa con người thì cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó, không có sự tồntại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người
* Vấn đề con người luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ cổđại đến hiện đại Triết học Mác – Lênin đã giải quyết những nội dung liên quanđến con người.Con người có vị trí và vai trò rất quan trọng đối với thế giới, vàtrong thực tế hiện nay thì con người là một lực lượng chủ đạo trong nền sảnxuất xã hội Trong công cuộc đổi mới xã hội chỉ có con người – yếu tố quantrọng nhất trong lực lượng sản xuất của xã hội mớI là nhân tố chính, là nguồnlực mang tính quyết định sự thành công hay thất bại Nhưng con người cũng làmục tiêu, là cái đích của sự phát triển, đổi mới này
Với thực trạng nước ta hiện nay là nền kinh tế còn nghèo nàn lạc hậu thìbiện pháp duy nhât để thoat khỏi tình trạng đó kà nhất thiết phải tiến hành côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nó vì lợi ích của con người và có thành cônghay không là phụ thuộc vào con người
Trang 8CHƯƠNG II
CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI
HÓA Ở VIỆT NAM
2.1 Thế nào là công nghiệp hóa, hiện đại hóa
2.1.1 Khái niệm công nhiệp hóa.
Khái niệm đơn giản: Là đưa tính công nghiệp cho một hoạt động, trang
bị cho (một vùng, một nước), các nhà máy, các loại công ngiệp …Khái niệmnày được hình thành trên cơ sở khái quát quá trình hình thành lịch sử côngnghiệp hóa ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ
Theo các nhà kinh tế Liên Xô thì công nghiệp hóa là phát triển đại côngnghiệp, trước hết là công nghiệp nặng, sự phát triển ấy cần thiết cho việc cải tạotoàn bộ nền kinh tế quốc dân trên cơ sở kỹ thuật tiên tiến
Năm 1963, tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc đã đưa rađịnh nghĩa: Công nghiệp hóa là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trìnhnày, một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên
để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều nghành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại
2.1.2 Khái niệm công nghiệp hóa hiện, đại hóa
Công nghiệp hóa hiện đại hóa là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tếgắn liền với đổi mới công nghệ xây dựng cơ cấu vật chất - kỹ thuật, là quá trìnhchuyển nền sản xuất xã hội từ trình độ công nghệ thấp sang trình độ công nghệcao hơn, nhờ đó mà tạo ra sự tăng trưởng bền vững và có hiệu quả của toàn bộnền kinh tế quốc dân
Khái niệm này rất phù hợp với điều kiện nước ta hiện nay Nước ta là một nước nông nghiệp, nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp.Nền
Trang 9công nghiệp của nước ta còn yếu kém và lạc hậu, vì vậy thực hiện
công nghiệp hóa hiện đại hóa là một bước đi vô cùng đúng đắn
2.2 Nhân tố con người là nhân tố quyết định trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2.2.1 Tầm quan trọng của con người
Để thực hiện được công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì cần có môi trường
ổn định, phải có các nguồn lực cần thiết như: nguồn lực con người, vốn tàinguên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, vị trí địa lý …Trong đó thì conngười là nhân tố quyết định
Các nước lạc hậu đi sau như (nước ta hiện nay) không thể phát triểnnhanh chóng nếu không tiếp thu khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại củacác nước phát triển Nhưng không phải chuyển giao công nghệ bằng mọi cách
mà không cần đến yếu tố con người Công nghệ đó được phát huy tác dụng, hay
bị phá hoại điều đó phụ thuộc vào con người Con người là yếu tố chủ lực bởivì:
Thứ nhất, các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa
lý nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng Chung chỉ phát huy tác dụng khi có sự tácđộng của con người, con người là nguồn lực duy nhất có trí tuệ, có ý trí, và biếtgắn kết các nguồn lực khác lại với nhau, tạo thành một sức mạnh tổng hợp,cùng tác động vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước
Thứ hai, các nguồn lực khác là hữu hạn, trong khi đó nguồn lực con
người là vô hạn Nó không chỉ tái sinh và tự sản sinh về mặt sinh học mà con tựđổi mới không ngừng
Thứ ba, trí tuệ con người có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó được
vật thể hóa, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.Thực tế đã chứng minh trí tuệcon người chúng ta hiện nay đã đạt tới mức siêu đẳng, đã xản xuất ra người
Trang 10máy “bắt trước” hay “phỏng theo’’ những đặc tính trí tuệ của con người Nhưvậy bằng những công nghệ kỹ thuật hiện đại do chính bàn tay khối óc conngười làm ra, mà ngày nay nhân loại đang chứng kiến những biến đổi thần kỳtrong lịch sử phát triển của mình
Thứ tư, sự thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa phụ thuộc chủ
yếu vào hoạch định đường lối, chính sách cũng như tổ chức thực hiện, nghĩa làphụ thuộc vào năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Khithực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì mặt chất lượng, cơ cấu và cơ chế sửdụng nguồn nhân lực rất quan trọng
Tóm lại, nguồn nhân lực con người là nguồn lực có vai trò quyết định sựthành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Do vậy muốn có côngnghiệp hóa hiện đại hóa thành công thì phải đầu tư vào con người, đây là nhiệm
vụ quan trọng nhất và khó khăn nhất trong công cuộc đổi mới hiện nay, vớinước ta thì đây là một nhiệm vụ nặng nề và cấp bách trong công cuộc thực hiệncông nghiệp hóa, hiện đại hóa
2.2.2 Con người Việt nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
Chúng ta đã thấy rõ vai trò của con người rất quan trọng trong sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước Với Việt Nam thì công nghiệp hóa,hiện đại hóa có thành công hay không sẽ phụ thuộc phần lớn vào yếu tố conngười, nhưng người Việt Nam liệu có làm được điều đó không? Ta cần nghiêncứu những thế mạnh và những hạn chế của nhân tố con người từ đó xem nhữngđiểm nào cần phát huy và những điểm nào cần khắc phục
Trước hết con người Việt Nam có những thế mạnh:
Thứ nhất, theo thống kê năm 2001 cả nước ta có 39.489 nghìn người từ
15 tuổi trở lên đang có việc làm ổn định,khu vực thành thị có 9.182 nghìn