Sở dĩ nói như vậy là vìphạm vi sử dụng của chúng rất hạn chế; và mặt khác, chúng không đủ sức đểphản ánh những hoạt động và kết quả hoạt động tư tưởng phức tạp của conngười; còn như âm n
Trang 1CƠ SỞ NGÔN NGỮ HỌC VÀ TIẾNG VIỆT
CƠ SỞ NGÔN NGỮ HỌC VÀ TIẾNG VIỆT
(Tái bản lần thứ năm)
Tác giả: MAI NGỌC CHỪ
- VŨ ĐỨC NGHIỆU - HOÀNG TRỌNG PHIẾN
LỜI NÓI ĐẦU
Theo chương trình đào tạo năm năm, chia hai giai đoạn, giáo trình "Cơ
sở ngôn ngữ học và tiếng Việt được giảng cho sinh viên các ngành khoa học
xã hội và nhân vân năm thứ nhất và thứ hai của giai đoạn đầu
Giáo trình này nhằm giới thiệu một cách giản dị và có hệ thống nhữngkhái niệm cơ bản, mở đầu của ngôn ngữ học và tiếng Việt Trên cơ sở đó,sinh viên sẽ từ chỗ biết để rồi tiến tới hiểu những kiến thức sâu rộng hơn củakhoa học về ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng, được trình bày trongcác giáo trình nâng cao ở giai đoạn sau
Do vậy, giáo trình này không phải là giáo trình Dẫn luận ngôn ngữ họcnhư vẫn thường gặp; nhưng cững chưa phải là giáo trình mang tính cáchchuyên sâu của chuyên ngành hẹp Nó không đi vào những phân tích, lí giảihoặc tranh biện phức tạp, đa tuyến, mà chỉ cố gắng trình bày một hệ thống,một cách hiểu Mặt khác, có những vấn đề trong giáo trình chỉ nêu ra màkhông trình bày kĩ vì sinh viên có thể tự tìm hiểu trong các tài liệu khác theo
sự hướng dẫn của giáo viên
Tuy nhiên, người học có thể dùng giáo trình với tư cách một tài liệuchính thức để thi nhận chứng chỉ cho từng học phần
Nội dung của giáo trình gồm bốn phần, dự kiến trình bày trong 120 tiếthọc Các chương mục không nhất thiết cân đối về số lượng trang in, mà đượcphân phối theo nội dung của vấn đề, và đánh số từ I đến XXIII
Trang 2Sau mỗi phần của giáo trình, danh mục tài liệu tham khảo có ghi rõnhững tài liệu phổ biến, dễ dùng và sinh viên cần phải học thêm trong khi học.
Những người soạn thảo giáo trình được phản công như sau:
Phần thứ nhất: Tổng luận
Chương I, II: TS Vũ Đức Nghiêu và PGS Hoàng Trọng Phiến
Chương III, IV: TS Vũ Đức Nghiệu
Phần thứ hai: Cơ sở ngứ âm học và ngữ âm tiếng Việt: PGS Mai NgọcChừ
Phần thứ ba: Cơ sở từ vựng học và từ vựng tiếng Việt: TS Vũ ĐứcNghiêu
Phần thứ tư: Cơ sở ngữ pháp học và ngữ pháp tiếng Việt:
Chương XVIII, XIX, XX: PGS Mai Ngọc Chừ và PGS Hoàng TrọngPhiến Chương XXI, XXII, XXIII: PGS Hoàng Trọng Phiến
Trong khi soạn thảo giáo trình này, chúng tôi đã được các đồng nghiệptrong và ngoài trường giúp đỡ nhiều Riêng GS Diệp Quang Ban đã đónggóp rất tích cục cho ba chương cuối của phần thứ tư
Giáo trình này được tái bản là nhờ sự ủng hộ nhiệt tình của Nhà xuấtbản Giáo dục
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả
Vì cố gắng để kịp đáp ứng nhu cầu về tài liệu học tập của sinh viên nêngiáo trình này được soạn ra, chắc chắn còn nhiều thiếu sót Chúng tôi chânthành đề nghị người sử dụng góp ý, phê bình để giáo trình được tốt hơn
Hà Nội, tháng 6 năm 1997
NHÓM BIÊN SOẠN
QUY ƯỚC TRONG CÁCH TRÌNH BÀY
1 Các chú thích ở cuối trang ứng với những chữ số ghi ở phía trên, đặtgiữa hai ngoặc tròn, ví dụ (1)
Trang 32 Tài liệu dẫn trong sách được ghi bằng chữ số, đặt giữa hai ngoặcvuông, ví dụ [15]: Chữ số này ứng với số được ghi ở mục Tài liệu tham khảocuối mỗi phần, ví dụ ở phần II (Cơ sở ngữ âm học và ngữ âm tiếng Việt) số[15] là tài liệu: Đoàn Thiện Thuật Ngữ âm tiếng Việt, H., 1980.
3 Dấu ngoặc kép: được dùng để phiên âm các từ hoặc biểu thị các âmbằng chữ cái thông thường, ví dụ "a", "cam"; dấu ngoặc vuông […] dùng ghicác âm tố, ví dụ [sistra] và dấu vạch chéo dùng ghi các âm vị, ví dụ /tan/ Kíhiệu đặt trong hai ngoặc vuông và trong hai vạch chéo là kí hiệu phiên âmquốc tế
Phần 1 TỔNG LUẬN
* Bản chất xã hội của ngôn ngữ
* Hệ thống tín hiệu ngôn ngữ
* Nguồn gốc và diễn tiến của ngôn ngữ
* Phân loại các ngôn ngữ
Chương 1 BẢN CHẤT XÃ HỘI CỦA NGÔN NGỮ
Về mặt thời gian lịch sử, chắc hẳn ngôn ngữ của loài người phải cổ xưahơn rất nhiều lần so với ngay cả những huyền thoại xưa cũ nhất Nó gắn bóvới sự sống của con người như đồ ăn thức uống, như sự thở ra, hít vào…;đến nỗi dường như không mấy khi mỗi người chúng ta nghĩ tới nó, nghĩ rằng
có một cái gọi là ngôn ngữ tồn tại với mình
Nhưng rồi có lúc chúng ta tự hỏi: Ngôn ngữ là gì?
Lời giải đáp cho câu hỏi đó không phải chỉ có một và không thể chỉ cómột, bởi vì bản thân ngôn ngữ vốn là một đối tượng hết sức phức tạp và đadiện
I TRƯỚC HẾT, NGÔN NGỮ LÀ MỘT HIỆN TƯỢNG XÃ HỘI
Trang 41 Nói rằng ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội là bởi vì một sự thật hiểnnhiên: nó không phải là hiện tượng tự nhiên (vốn là những hiện tượng tồn tạimột cách khách quan, không lệ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người)như sao băng, thủy triều, động đất…
Ngôn ngữ chỉ sinh ra và phát triển trong xã hội loài ngưòi, do ý muốn vànhu cầu: người ta phải giao tiếp với nhau trong quá trình sống và tồn tại, pháttriển Bên ngoài xã hội loài người, ngôn ngữ không thể phát sinh Điều nàyđược chứng minh qua hai câu chuyện sau đây:
- Chuyện thứ nhất: Theo nhà sử học Hêđồrôt, hoàng đế Zêlan UtđinAcba đã cho tiến hành một thí nghiệm để xem một đứa trẻ không cần ai dạybảo, có thể biết được đạo của mình hay không, có biết nói tiếng nói của tổtiên mình và gọi tên vị thần của dòng đạo mình hay không… Ông ta đã chobắt cóc một số trẻ sơ sinh thuộc nhiều dân tộc, nhiều tôn giáo, dòng đạo khácnhau, đem nuôi cách li hoàn toàn với xã hội trong một tháp kín; không ai đượcđến gần; cho ăn uống qua một đường dây… Mười hai năm sau, cửa thápđược mở Những đứa trẻ vẫn lớn lên; nhưng chúng có nhiều biểu hiện củathú hơn là người; và không hề có biểu hiện nào về tiếng nói hoặc tín ngưỡng,tôn giáo cả
- Chuyện thứ hai: Năm 1920, ở Ấn Độ, người ta phát hiện ra hai em bégái được chó sói nuôi sống trong một cái hang Một em khoảng hai tuổi, một
em khoảng bảy, tám tuổi Sau khi được cứu trở vễ, em nhỏ bị chết; em lớnsống được, nhưng chỉ có những tập tính của chó sói: không có ngôn ngữ, chỉbiết gầm gừ, bò bàng cả tứ chi dựa trên hai bàn tay, hai bàn chân; thỉnhthoảng cất tiếng sủa như sói về ban đêm…
Sau gần bốn năm em bé này mới học được 6 từ, và qua 7 năm đượcgần 50 từ Đến 16 tuổi, em mới nói như một đứa trẻ 4 tuổi và không sốngđược nữa
2 Ngôn ngữ cũng không phải là hiện tượng của cá nhân tôi, cá nhânanh; mà nó là của chúng ta Chính vì nó là cái chung của xã hội, của chúngta; cho nên anh nói tôi mới hiểu, và chúng ta hiểu nhau Về mặt này, đối với
Trang 5mỗi cá nhân, ngôn ngữ như một thiết chế xã hội chặt chẽ, được giữ gìn vàphát triển trong kinh nghiệm, trong truyền thống chung của cả cộng đồng.Thiết chế đó chính là một tập hợp của những thói quen nói, nghe và hiểu,được tiếp thu một cách dễ dàng và liên tục ngay từ thời thơ ấu của mỗi chúng
ta Vì thế, những thói quen này về sau rất khó thay đổi Nó như là một cái gìđấy bắt buộc đối với mỗi người trong mọi người
Dầu sao thì tiếng Việt cũng vẫn gọi con mèo, cái nhà, người mẹ… bằngcác từ mèo, nhà, mẹ… Còn tiếng Anh thì gọi bằng các từ cat, house,mother… chứ không thể dễ dàng thay thế bằng từ khác hoặc đánh đổi chonhau
Mặt khác, sự phân biệt giữa ngôn ngữ chuẩn, ngôn ngữ văn hóa chungcủa mỗi cộng đồng dân tộc với các biến dạng khác của nó trong các cộngđồng người nhỏ hơn, phân chia theo phạm vi lãnh thổ hoặc tầng lớp xã hội(gọi là những tiếng địa phương, phương ngữ xã hội)… cũng chính là nhữngbiểu hiện sinh động, đa dạng về tính xã hội của ngôn ngữ Ví dụ, từ lời lẽ củatiếng Việt chuẩn mực được phát âm thành nhài nhẽ, đó là cách phát âm củaphương ngữ Bắc bộ Việt Nam Trong khi đó, nếu phát âm thành nài nẽ thì đâylại là hiện tượng nói ngọng và bị coi là lỗi
3 Ngôn ngữ cũng không phải là hiện tượng sinh vật vì nó không mangtính di truyền Người ta có được ngôn ngữ là nhờ quá trình học tập, tiếp thu
từ những người cùng sống ở xung quanh
Mặt khác, so với tiếng kêu của các loài động vật, ngôn ngữ loài ngườicũng khác hẳn về chất Tiếng kêu đó, loài động vật có thể dùng để "trao đổithông tin” như: kêu gọi bạn tình trong các mùa hôn phối, hay là báo tin cóthức ăn, có sự nguy hiểm… nhưng tất cả đều vô tình xuất hiện dưới ảnhhưởng của những "cảm xúc" khác nhau Chúng - những tiếng kêu đó - là bẩmsinh; sự trao đổi thông tin" là vô ý thức Đó là những kết quả của quá trình ditruyền chứ không giống nhau như kết quả của trẻ em học nói
Còn hiện tượng một số con vật học ndi được tiếng người thì rõ ràng lại
là kết quả của quá trình rèn luyện phản xạ có điều kiện Những con vật "biết
Trang 6nói" đó dù thông minh đến mấy cũng không thể nào tự lĩnh hội được hoặcphát âm được những âm thanh để biểu thị khái niệm khi nó ở ngoài một hoàncảnh cụ thể với một kích thích cụ thể.
4 Chẳng những ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội như đã phân tíchbên trên; mà hơn thế nữa, nó là một hiện tượng xã hội đặc biệt Tính chất đặcbiệt này thể hiện ở chỗ nó không thuộc về kiến trúc thượng tầng của riêngmột xã hội nào; cho nên khi một cơ sở hạ tầng nào đó bị phá vỡ, kéo theo sựsụp đổ của kiến trúc thượng tầng tương ứng, thì nó (ngôn ngữ) vẫn là nó Mặtkhác ngôn ngữ không mang tính giai cấp Nó ứng xử bình đẳng đối với tất cảmọi người trong xã hội Tuy vậy, mỗi người, mỗi nhóm người… không vô canvới nó mà họ sử dụng cho no mục đích của mình, theo cách của mình saocho có hiệu quả nhất
Chính vì tính chất đặc biệt này mà người ta không thể hi vọng tác độnglàm biến đổi ngôn ngữ bằng một cuộc cách mạng chính trị xã hội
II NGÔN NGỮ LÀ PHƯƠNG TIỆN GIAO TIẾP QUAN TRỌNG NHẤT CỦA CON NGƯỜI
1 Có thể hiểu một cách giản dị rằng: giao tiếp là sự truyền đạt thông tin
từ người này đến người khác với một mục đích nhất định nào đó
Sự giao tiếp được thực hiện nhờ hoạt động giao tiếp giữa hai hoặc hơnhai người với nhau trong một bối cảnh nhất định và bằng một phương tiệngiao tiếp chung
Các kết quả nghiên cứu về sinh lí học và tâm lí học cho thấy rằng ở conngười, nhu cầu giao tiếp dường như mang tính bẩm sinh Ngay cả bây giờ,nếu thiếu ngôn ngữ hoặc giao tiếp bằng ngôn ngữ bị hạn chế do nhữngnguyên nhân nào đó thỉ người ta dùng "ngôn ngữ cử chi" cho đến khi khôngcòn có thể trao đổi bằng "ngôn ngữ" này nữa mới thôi
Khi giao tiếp, người ta trao đổi tư tưởng, tình cảm, trí tuệ, sự hiểubiết… với nhau; và tác động đến nhau Chính nhờ thế mà con người mới tậphợp với nhau thành cộng đồng xã hội, có tổ chức và hoạt động của xã hội;
Trang 7những tư tưởng và trí tuệ của người này, thế hệ này mới truyền tới ngườikhác, thế hệ khác được.
Những hoạt động được gọi là giao tiếp đó, đã được thực hiện nhờ mộtcông cụ tốt nhất là ngôn ngữ Nhờ nó mà con người có khả năng hiểu biết lẫnnhau Nó là một trong những động lực bảo đảm sự tồn tại và phát triển của xãhội loài người Chức năng trung tâm của ngôn ngữ là chức năng giao tiếp
2 Ngôn ngữ là công cụ để giao tiếp giữa người với người; nhưngkhông phải mọi yếu tố, mọi đơn vị của nó đều tham gia như nhau vào quátrình này Nói khác đi, các đơn vị của nó tham gia thực hiện chức năng xã hộivốn có của nó một cách khác nhau
Trực tiếp tham gia vào quá trình mang thông tin và truyền đạt thông tin
là các đơn vị định danh như từ, cụm từ; và các đơn vị thông báo như câu, vănbản Chẳng hạn, các từ: người, máy, nhà, cây, đi, cười, một, hai, giỏi… Cáccụm từ: đá tai mèo, nhà cao tầng, bê tông đúc sẵn, mẹ tròn con vuông… Cáccâu: Người với người là bạn; Trên trái đất có chừng một triệu giống động vật;Máu người không phải nước lã… đều là những đơn vị trực tiếp mang thôngtin hoặc truyền tải thông tin
Ngược lại, các đơn vị như: âm vị, hình vị lại chỉ gián tiếp tham gia vàoquá trình giao tiếp; bởi vì chúng chỉ là chất liệu cấu tạo nên những đơn vị vừanêu trên mà thôi
3 Trong xã hội loài người, phần lớn nhất và trọng yếu nhất của thôngtin (gồm các kiểu dạng, các nguồn gốc khác nhau) được tàng trữ và lưu hànhnhờ ngôn ngữ Nói như V.Lênin: Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quantrọng nhất của con người Sở dĩ nó quan trọng nhất là vì trên góc độ lịch sử
và toàn diện mà xét, không một phương tiện giao tiếp nào có thể sánh đượcvới nó
Cho dù ngôn ngữ bằng lời của con ngưòi có bị những hạn chế vềkhông gian và thời gian; cho dù ngoài ngôn ngữ ra, con người còn dùngnhững phương tiện giao tiếp khác nữa như: các điệu bộ, cử chỉ; các loại kí
Trang 8hiệu, tín hiệu giao thông; các biểu trưng quân hàm, quân hiệu; các tác phẩmnghệ thuật tạo hình, âm nhạc… nhưng ở vị trí trên hết và trước hết, vẫn phải
là ngôn ngữ
So với ngôn ngữ, các loại phương tiện giao tiếp khác chỉ có thể đóngvai trò là phương tiện bổ sung cho nó (giao tiếp ở đây được hiểu là giao tiếptrong đời sống rộng rãi thuộc phạm vi toàn xã nội) Sở dĩ nói như vậy là vìphạm vi sử dụng của chúng rất hạn chế; và mặt khác, chúng không đủ sức đểphản ánh những hoạt động và kết quả hoạt động tư tưởng phức tạp của conngười; còn như âm nhạc hay các tác phẩm nghệ thuật tạo hình thì chỉ có thểnhắc gợi, hướng người ta đến với một tư tưởng, tình cảm nào đó mà thôi.Trong khi các phương tiện giao tiếp bổ sung khác có thể được "biểu diễn lại",
"diễn dịch lại bằng ngôn ngữ, thì việc làm ngược lại, dường như là không thể;hoặc nếu có thể, thì kết quả chỉ là phần rất nhỏ và không đẩy đủ
III NGÔN NGỮ LÀ HIỆN THỰC TRỰC TIẾP CỦA TƯ TƯỞNG
1 Khi nói ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, chúng tamuốn nhấn mạnh đến chức năng hàng đầu của nó: chức năng giao tiếp
Bên cạnh đó ngôn ngữ còn có một chức năng nữa là chức năng phảnánh Tư duy của con người - sự phản ánh thế giới khách quan xung quanh -chủ yếu được tiến hành, được thực hiện dưới hình thức ngôn ngữ
Từ cội nguồn của mình, ngôn ngữ loài người ra đời và phát triển là dongười ta thấy cần phải nói với nhau một cái gì đó Ở đây, mệnh đề này baohàm hai vấn đề:
a) Con người đã có một cái gì đấy (những kết quả, quá trình hoạt độngthuộc lĩnh vực tinh thần, tư tưởng…) cần phải được truyền đạt, trao đổi vớingười khác
b) Phương tiện để truyền đạt những thông tin đó
Nói rõ hơn, các kết quả của sự phản ánh thế giới khách quan (cũng tức
là tư duy) của con người cần được thông báo với những người khác trong
Trang 9cộng đồng; và chính con người đã chọn phương tiện để thông báo là ngônngữ Từ đây, nảy sinh vấn đề quan hệ giữa ngôn ngữ với tư duy.
2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ với tư duy vốn hết sức phức tạp cho nên
có thể tiếp cận nghiên cứu từ nhiều phương diện, nhiều xuất phát điểm khácnhau Nếu chỉ xét từ góc độ chức năng phản ánh của ngôn ngữ không thôi,thì trước hết cần phải thấy: Hiện thực trực tiếp của tư tưởng là ngôn ngữ.(K.Mac)
Tuv nhiên, nói vậy không có nghĩa rằng ngôn ngữ chỉ là cái vỏ vật chấttrống rỗng; mà nó là một thể chất hai mặt: vật chất - tinh thần
Kết luận mà Mác nêu như vừa dẫn, hết sức quan trọng Ông còn cómột nhận xét khác: Ngôn ngữ củng cố xưa như ý thức vậy (…) là ý thức thựctại, thực tiễn; và tương tự như ý thức, ngôn ngữ sinh ra chỉ do nhu cầu, do sụcần thiết phải giao tiếp với người khác
Ở đây, cần phân biệt các tên gọi tư duy và ý thức Bản thân tên gọi tưduy cũng đã có những cách hiểu không hoàn toàn đồng nhất trong các khoahọc khác nhau như triết học, tâm lí học, sinh lí học thần kinh cao cấp… Ngaytrong một khoa học, người ta cũng có thể hiểu tư duy là sự phản ánh thực tạikhách quan được tiến hành bởi con người; hoặc cũng có thể hiểu tư duy làsản phẩm của các hoạt động trí tuệ đó
Vậy ý thức cần phải được hiểu là nó rộng hơn tư duy Nó là một tậphợp hoàn chỉnh gồm những yếu tố nhận thức về cảm xúc, có liên quan chặtchẽ với nhau, trong đó tư duy chỉ là một trong những quá trình nhận thức màthôi
Trong mối tương quan tư duy - ý thức thì tư duy là bộ phận cơ bản cấuthành ý thức; bởi vì trong ý thức, cùng với các quá trình nhận thức như cảmgiác, tri giác, kí ức, biểu tượng, tư duy, còn có các quá trình cảm xúc gắn liềnvới sự đánh giá và trạng thái ý chí của con người
Do dó khi nói về chức năng của ngôn ngữ trong quan hệ ngôn ngữ - tưduy như thế nào, thì cũng có thể nói về quan hệ ngôn ngữ - ý thức như vậy
Trang 103 Ngôn ngữ là hình thức tồn tại, là phương tiện vật chất để thể hiện tưduy Về phương diện này, tư duy là cái được biểu hiện còn ngôn ngữ là cái
để biểu hiện tư duy Các kết quả hoạt động của tư duy (thuộc lĩnh vực tinhthần) bao giờ cũng được khoác một cái vỏ vật chất âm thanh (ngôn ngữ) đểthể hiện ra ngoài dưới dạng vật chất nhằm làm cho những người khác "thấyđược" Mối quan hệ ngôn ngữ - tư duy ở đây có thể hình dung như hai mặtcủa một tờ giấy vậy: đã có mặt này là phải có mặt kia Chính ở trong ngônngữ và nhờ có ngôn ngữ mà ý thức tiềm tại trở nên được hiện thực hóa, thựctại hóa Mặt khác chính trong quan hệ với tư duy, với ý thức mà ngôn ngữkhông phải là cái xác không hồn, không phải là hiện tượng thuần túy vật chất
Nó trở thành hiện tượng vật chất - tinh thần
Bởi thế, ta không thể nói một tiếng hắt hơi hay nói một tiếng ho (vì đó lànhững tiếng, những âm thanh phát ra vô ý thức do hoạt động, phản ứngthuần túy sinh lí của cơ thể con người) Tuy nhiên, ta có các từ ho, hắt hơi đểnói trong những câu, chẳng hạn:
- Liên ho suốt ngày vì bị cảm lạnh
- Ông ấy ngồi và hắt hơi liên tục
Tiếng ho hoặc tiếng hắt hơi của ai đó mà ta nghe thấy được, khôngphải là ngôn ngữ
4 Chẳng những là phương tiện vật chất để biểu đạt tư duy, ngôn ngữcòn là công cụ của hoạt động tư duy Nó trực tiếp tham gia vào quá trình hìnhthành và phát triển tư duy của con người
Để tiến hành các hoạt động tư duy, trí tuệ, con người cần phải có mộtcái vốn tri thức, hiểu biết nhất định (có thể là nhiều hoặc ít, tùy theo) Vốn trithức đó con người có được nhờ những hoạt động thực tiễn, tìm hiểu và khámphá thế giới khách quan quanh mình Nó được tàng trữ, được bảo toàn chủyếu nhờ ngôn ngữ; rồi chính nhờ ngôn ngữ mà người ta có thể truyền thụnhững tri thức, những hiểu biết từ người này sang người khác, từ thế hệ nàyđến thế hệ khác, từ nơi này đến nơi khác…
Trang 11Về mặt sinh lí học thần kinh cao cấp, sự truyền đạt tri thức bằng ngônngữ, nhờ ngôn ngữ như vậy, chính là hiện tượng ngôn ngữ tham gia vào việctạo nên các liên hệ tạm thời Nhờ các liên hệ tạm thời này mà con người kháchẳn động vật: Người ta không nhất thiết phải làm quen trực tiếp với sự vậtnày hay sự vật kia, nhưng vẫn có thể biết được ít nhiều nó là gì, nó như thếnào… nếu như có một người nào đó đã biết và nói lại cho biết, hoặc người tabiết được những sự vật khác có quan hệ đến chúng… (Tôi chưa thấy saoHỏa bao giờ, nhưng tôi cũng biết được Phô bốt của nó là gì, nó như thếnào… nhờ các nhà thiên văn học nói cho biết).
Việc truyền kiến thức như thế đã rút ngắn được thời gian cần thiết cho
sự tìm hiểu thế giới xung quanh con người Cứ như vậy, truyền đạt, tích lũy,phát triển thêm… tư duy con người càng ngày càng trở nên phong phú hơn
và sâu xa hơn
5 Để làm rõ hơn bản chất của ngôn ngữ cùng với chức năng giao tiếp,chức năng phản ánh của nó, cần làm sáng tỏ hơn mối quan hệ tay ba giữa ýthức (tư duy) với ngôn ngữ và thực tại khách quan
Ta biết rằng cội nguồn của ý thức chính là thực tại khách quan, vì ýthức chính là hình ảnh chủ quan của thực tại khách quan, là tồn tại đượcphản ánh Ý thức được biểu hiện bằng ngôn ngữ Vậy ngôn ngữ quan hệ giántiếp với thực tại khách quan thông qua ý thức Quan hệ ngôn ngữ - ý thức -thực tại khách quan như vừa nêu, thường được biểu diễn qua một quan hệ
bộ ba quen thuộc khác là từ - khái niệm - sự vật
Ngôn ngữ và ý thức (tư duy) gắn bó với nhau như một, không bao giờtách rời nhau, nhưng chúng không phải là một Đối với thực tại khách quan,ngôn ngữ có tác dụng, vai trò như một công cụ để định danh, gọi tên cho các
sự vật, hiện tượng, quan hệ… tồn tại trong đó Mặt khác, quan trọng hơn là:ngôn ngữ như một công cụ để cấu trúc hóa, mô hình hóa thực tại khách quan
Nó cũng cho thấy được ít nhiều những đặc điểm văn hóa - dân tộc, văn hóavật chất và văn hóa tinh thần của mỗi cộng đồng người; nhưng không thể nói
đó là những biểu hiện cao thấp của các trình độ tư duy khác nhau
Trang 12IV NGÔN NGỮ - LỜI NÓI - HOẠT ĐỘNG LỜI NÓI
1 Trong giao tiếp ngôn ngữ, sở dĩ tôi nói, anh nghe và chúng ta hiểunhau được (mặc dù ai nấy đếu nhận ra và phân biệt: đây là tiếng nói của tôi,kia là tiếng nói của anh…) là bởi vì giữa chúng ta đã có một cái chung vànhững cái riêng
a) Cái chung đó của chúng ta bao gồm các âm, các từ, các bộ phậncấu tạo từ, các mô hình cấu tạo nhóm từ, mô hình cấu tạo câu, các thànhphần câu… cùng với các quy tắc hoạt động, quy tắc biến đổi của chúng… vốn
đã và đang được sử dụng trong không biết bao nhiêu lần khác nhau giữanhững người đang cùng nói một ngôn ngữ
Cái chung đó, trong ngôn ngữ học được gọi là ngôn ngữ
Đó là một hệ thống những đơn vị vật chất, và những quy tắc hoạt độngcủa chúng, dùng làm công cụ giao tiếp của con người, được phản ánh trong ýthức của cộng đồng và trừu tượng hóa khỏi bất kì một tư tưởng, cảm xúc vàước muốn cụ thể nào
Như vậy, ngôn ngữ không chỉ tồn tại riêng cho tôi hay riêng cho anh,
mà tồn tại cho tất cả chúng ta Nó được nhận thức và tương ứng với ý thứccủa cả cộng đồng chứ không phải chỉ tương ứng với ý thức của riêng anhhoặc riêng tôi Nó, tự bản chất vốn là hiện tượng mang tính xã hội
b) Là công cụ để giao tiếp giữa người với người, ngôn ngữ chứng tỏcác khả năng của mình trong các lời nói ra (kể cả dạng nói lẫn dạng viết) Cáilời nói ra đó, trong ngôn ngữ học được gọi là lời nói - kết quả của sự nóinăng
Lời nói là chuỗi liên tục các tín hiệu ngôn ngữ được xây dựng nên theocác quy luật và chất liệu của ngôn ngữ, ứng với nhu cầu biểu hiện những nộidung (tư tưởng, tỉnh cảm, cảm xúc, ý chí…) cụ thể Với cách hiểu như vậy,nếu không đòi hỏi thật nghiêm ngặt về mặt tên gọi thuật ngữ, ta có thể coi lờinói như là những văn bản, những diễn từ (discourse) Lời nói phân biệt với
Trang 13ngôn ngữ ở chỗ: nó mang những màu sắc cá nhân của chủ thể nói năng(người nói cụ thể trong một tình huống cụ thể).
c) Có thể nói: giao tiếp bằng ngôn ngữ giữa người với người thực chất
là sự truyển - nhận thông tin thông qua sự trao đổi văn bản (B.v Kasevich).Nếu không tính đến sự giao tiếp bằng cách viết, thì giao tiếp bằng cách nóinăng sẽ bao gồm:
- Hành vi nói ra của người nói Đây chính là hành vi sản sinh văn bản(diễn từ)
- Hành vi hiểu văn bản (được thực hiện từ phía người nghe, người đốithoại)
Trong đối thoại giao tiếp, giả sử có hai người, thì tư cách người nghe
và người nói được luân phiên nhau: anh nói, tôi nghe và ngược lại, tôi nói,anh nghe
Hành vi nói của người nói và hành vi hiểu của người nghe được gọi làhành vi lời nói; còn hệ thống các hành vi lời nói gọi là hoạt động lời nói
2 Về sự phân biệt ngôn ngữ với lời nói và xem xét mối quan hệ giữachúng với nhau, phải kể F.de.Saussure là người đi đầu Ông (và những ngườiủng hộ ông về sau) đã tách biệt hoàn toàn tuyệt đối giữa ngôn ngữ như mộtcái hoàn toàn có tính chất xã hội với lời nói như một cái hoàn toàn có tính cánhân
Sự thể không hoàn toàn hẳn như vậy Thực chất phân biệt ngôn ngữ(langue) với lời nói (parole) là tự tách bạch giữa hai mặt của một vấn đề:Ngôn ngữ được thực tại hóa trong lời nói; và lời nói chính là ngôn ngữ đanghành chức, đang được dùng để giao tiếp giữa người với người
Chính F.Saussure trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương cũng đãviết về vấn đề này như sau:
Hoạt dộng ngôn ngữ có một mặt cá nhân và một mặt xã hội, và khôngthể quan niệm mặt này mà thiếu mặt kia được (tr.29)
Trang 14Tất nhiên, hai đối tượng này gắn bó khăng khít với nhau và giả định lẫnnhau: ngôn ngữ là cần thiết để cho lời nói có thề hiểu được và gây được tất
cả những hiệu quả của nó; nhưng lời nói lại cần thiết để cho ngôn ngữ đượcxác lập; về phương diện lịch sử, sự kiện của lời nói bao giờ cũng đi trước (…)Cuối cùng, chính lời nói làm cho ngôn ngữ biến hóa (tr.45)
Như vậy, so với ngôn ngữ và trong mối tương quan với ngôn ngữ, lờinói không phải chỉ đơn thuần là cái gì đó thứ yếu, hoàn toàn ngẫu nhiên vàhoàn toàn mang tính cá nhân Nó cũng chính là ngôn ngữ - ngôn ngữ đang ởdạng hoạt động - và vì vậy, nó cũng mang trong mình mặt xã hội của ngônngữ lẫn những màu sác cá nhân của người nói - người sử dụng
Ngôn ngữ hoạt động, hiện ra dưới dạng những chuỗi âm nối tiếp nhau.Tuy nhiên, để sử dụng được một ngôn ngữ, có thính giác tốt vẫn là chưa đủ.Người ta phải biết phân tích được các loạt âm thanh đó với những dấu hiệuriêng biệt, để biết trong đó có những âm đoạn nào ứng với cái gì, nằm trongnhững quan hệ nào với các âm đoạn khác… Do đó, nếu không nắm đượcngôn ngữ thì ta vẫn có thể nghe thấy lời nói của người khác, nhưng khôngbiết anh ta "nói gì" Đối với đứa trẻ sơ sinh, trong những tháng đầu tiên, tiếngnói của những người xung quanh nó chẳng khác gì với các tiếng động, tiếng
ồn ào khác Ngay cả người lớn, khi chưa nắm được ngoại ngữ, anh ta có thểnghe thấy người ta nói ngoại ngữ đó, nhưng không thể hiểu được; thậm chícũng không thể nhắc lại từng câu, từng từ được Sở dĩ như vậy là vì anh takhông biết "phân tích" cái chuỗi âm thanh lạ tai đó ra từng thành phần; từngkhúc đoạn; bộ phận… như thế nào; và các quy luật vận dụng chúng trong cáctình huống nói năng như thế nào…
Kết cục, nếu nắm vững những hiểu biết về mối quan hệ biện chứng củacặp phạm trù cái chung - cái riêng trong học thuyết duy vật biện chứng Mácxít, chúng ta sẽ thấy mối quan hệ ngôn ngữ - lời nói một cách sáng rõ hơnnhiều
Trang 15Chương 2 HỆ THỐNG TÍN HIỆU NGÔN NGỮ
I BẢN CHẤT TÍN HIỆU CỦA NGÔN NGỮ
1 Trong đời sống của mình, loài người phát hiện, làm quen, xây dựng
và sử dụng nhiều kiểu loại tín hiệu khác nhau Việc nghiên cứu toàn diện cácloại tín hiệu đó, là nhiệm vụ trung tâm của khoa tín hiệu học (semiology)
Đã có nhiều quan niệm khác nhau và nhiều cách phân loại khác nhauđối với tín hiệu Để cho vấn đề ở đây trở nên giản tiện, đỡ phức tạp, chúng taquan niệm về tín hiệu như sau:
Tín hiệu là một sự vật (hoặc một thuộc tính vật chất, một hiện tượng)kích thích vào giác quan của con người, làm cho người ta tri giác được và lígiải, suy diễn tới một cái gì đó ngoài sự vật ấy
Ví dụ: Cái đèn đỏ trong bảng đèn tín hiệu giao thông đường bộ là mộttín hiệu; bởi vì khi nó hoạt động (sáng lên) ta nhìn thấy nó và suy diễn tới sựcấm đoán, không được đi qua chỗ nào đó
Vậy một sự vật sẽ là một tín hiệu nếu nó thỏa mãn các yêu cầu sauđây:
a) Phải là một sự vật hoặc thuộc tính vật chất được cảm nhận qua giácquan của con người; chẳng hạn: âm thanh, màu sắc, ánh sáng, hình vẽ, vậtthể… Nói cách khác, tín hiệu phải là vật chất, kích thích đến giác quan củacon người và con người cảm nhận được
b) Phải đại diện cho một cái gi đó, gợi ra cái gì đó không phải là chính
nó Tức là cái mà nó đại diện cho, không trùng với chính nó Ví dụ: Tín hiệuđèn đỏ báo hiệu nội dung cấm đi Nội dung này và bản thể vật chất của cáiđèn đỏ không hề trùng nhau
Mặt khác nó cũng sẽ chỉ là tín hiệu khi mối liên hệ giữa nó với cái mà
nó chỉ ra được người ta nhận thức, tức là người ta phải biết liên hệ nó với cáigì
Trang 16c) Sự vật đó phải nằm trong một hệ thống tín hiệu nhất định để đượcxác định tư cách tín hiệu của mình cùng với các tín hiệu khác Chảng hạn, cáiđèn đỏ vừa nói trên là một tín hiệu; thế nhưng nếu tách nó ra, đưa vào chùmđèn trang trí thì nó lại không phải là tín hiệu nữa Sở dĩ như thế là vì chỉ cónằm trong hệ thống tín hiệu đèn giao thông, nó mới có tư cách tín hiệu, đượcxác định cùng với đèn xanh, đèn vàng nhờ sự đối lập quy ước giữa chúng vớinhau.
2 Xuất phát từ bình diện tín hiệu học trong nghiên cứu ngôn ngữ,người ta bảo rằng ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu, rằng nó có bản chất tínhiệu
Theo quan niệm vừa trình bày bên trên, tín hiệu là cái phải có hai mặt:mặt biểu hiện vật chất và mặt được biểu hiện (cái mà mặt biểu hiện chỉ ra,làm đại diện cho) Vậy thì trong ngôn ngữ trước hết phải coi các hình vị(những đơn vị nhỏ nhất mà có giá trị về mặt ngữ pháp ví dụ như: work, er,ing, ed… trong các từ: work, worker, working, worked… của tiếng Anh: hoặcnhư: sân, máy, bay, quạt, cánh… trong các từ: sân bay, máy bay, cánhquạt… của tiếng Việt) và các từ là những tín hiệu; bời vì chúng có mặt biểuhiện là âm thanh, và mặt được biểu hiện là những ý nghĩa, những nội dungnhất định nào đó
Ở đây cũng cần phải thấy rằng trong từ - đơn vị trung tâm của ngônngữ - có thể có nhiều quan hệ tín hiệu Trước hết, âm thanh biểu hiện (làm tínhiệu cho) ý nghĩa Tiếp theo, cả cái phức thể âm thanh - ý nghĩa đó lại biểuhiện, làm tên gọi, làm đại diện cho sự vật, hiện tượng, thuộc tính, quá trình…trong thế giới khách quan Đến lượt mình, cả cái phức thể bộ ba này, trongnhững phát ngôn cụ thể, lại có thể làm tín hiệu, đại diện cho một sự vật khác.(Đó là những trường hợp chuyển nghĩa ẩn dụ, hoán dụ, trường hợp từ biểuthị nghĩa bóng… như ta vẫn thường gặp)
Tuy nhiên, nhiệm vụ chính của ngôn ngữ học không phải là nghiên cứucác sự vật, hiện tượng… được gọi tên; mà là nghiên cứu các phương thứcphản ánh chúng trong ngôn ngữ nói chung và từng ngôn ngữ cụ thể
Trang 173 Bản chất tín hiệu và đặc trưng của tín hiệu ngôn ngữ thể hiện ởnhững điểm sau đây:
3.a Cũng như các tín hiệu nói chung, tín hiệu ngôn ngữ là sự hợp nhấtcủa cái biểu hiện với cái được biểu hiện Cái biểu hiện của tín hiệu ngôn ngữ
là âm thanh, còn cái được biểu hiện của nó là ý nghĩa, là khái niệm về sự vậtđược phản ánh được gọi tên (Ở đây, như trên vừa nói, chúng ta đã gác sựvật được gọi tên sang một bên) Dưới dạng đơn giản hóa tới mức lí tường, ta
có thể biểu diễn tín hiệu - từ cây trong tiếng Việt chẳng hạn, bằng lược đồnhư sau:
3.b Hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ không bao giờ tách rời nhau, nhưnglại có quan hệ võ đoán với nhau Điều này có nghĩa là chúng ta không tìmđược lí do cho việc giải thích vì sao âm này lại có ý này hoặc ý này vì sao lạiđược "chứa" trong âm này…
Trong ví dụ vừa nêu trên kia, bản thân âm CÂY không hề có mối liên hệbên trong nào, cũng như không có sức mạnh quy định, ràng buộc nào đối vớicái ý mà nó biểu thị Ngược lại, cái ý (khái niệm) loài thực vật có thân, lá,…không hể tự mình quy định tên gọi cho mình, không hề có tác động quyết địnhnào đối với áo khoác vật chất âm thanh của mình
Trang 18Dùng âm này hay âm kia để biểu thị ý (nội dung) này hay ý khác… tất
cả đều do quy ước, do thói quen (hoặc suy đến cùng là do thói quen) của tậpthể cộng đồng.
Nếu quả thật quan hệ giữa mặt biểu hiện và được biểu hiện của tínhiệu ngôn ngữ là quan hệ có lí do, quan hệ quy định lẫn nhau thì đã không cóhiện tượng cùng một sự vật như nhau, một khái niệm như nhau, nhưng mỗingôn ngữ đã cấp cho nó một âm khác nhau; và trong một ngôn ngữ đã không
có hiện tượng từ đồng âm, đồng nghĩa tồn tại
Tuy nhiên, trong ngôn ngữ, các từ tượng thanh, các thán từ lại dườngnhư là những luận chứng phản lại nguyên lí về tính không lí do giữa mặt biểuhiện và được biểu hiện Để giải đáp, chúng ta hãy tự hỏi: các từ tượng thanh
và thán từ trong mỗi ngôn ngữ là bao nhiêu? Chúng có phải là toàn bộ ngônngữ, hay phần cốt lõi, cơ bản của ngôn ngữ không? Tại sao cùng một sự vậtnhưng trong ngôn ngữ này người ta gọi nó bàng cái tên có tính tượng thanh,còn ngôn ngữ kia thì lại không?…
Cuối cùng, cần ghi nhận rằng sự tượng thanh cũng chỉ là tương đối,gần đúng mà thôi; và trong các ngôn ngữ khác nhau đã tượng thanh cùngmột từ theo những cách ít nhiều khác nhau Bên cạnh đó, các từ cảm tháncũng trong một tình hình tương tự như vậy
Nhìn trên góc độ lịch sử và toàn thể, những từ được coi là có lí do cũng
sẽ lu mơ dần cái lí do ấy đi để nhận lấy tính chất của tín hiệu ngôn ngữ nóichung, là vốn không có tính lí do
3.c Mặt biểu hiện của tín hiệu ngôn ngữ là âm thanh - là cái nghe đượcchứ không nhìn thấy được Nó "diễn ra trong thời gian và có những đặc điềmvốn là của thời gian: a) Nó có một bề rộng và b) bề rộng đó chỉ có thể đo trênmột chiều mà thôi” (F.de.Saussure)
Nói rõ hơn, mặt biểu hiện của tín hiệu ngôn ngữ có tính hình tuyến Khitín hiệu ngôn ngữ đi vào hoạt động (giao tiếp) chúng hiện ra lần lượt cái nàytiếp theo sau cái kia, làm thành một chuỗi, một tuyến theo bề rộng một chiều
Trang 19của thời gian Chính điều này làm cho tín hiệu ngôn ngữ khác với các tín hiệukhác, bởi vì trong khi mặt biểu hiện của tín hiệu ngôn ngữ có tính hình tuyến,thì các tín hiệu loại khác có thể được sắp xếp, phân bố trên một không gian
đa chiều, thậm chí bất chấp trật tự không gian và thời gian
Tính hình tuyến này lộ rõ ngay khi người ta biểu hiện các yếu tố đóbằng chữ viết và đem tuyến không gian của những tín hiệu vẫn tự thay thếcho sự kế tiếp trong thời gian (F.de.Saussure), Với ngôn ngữ, người ta khôngthể nào nói ra hai yếu tố cùng một lúc Chúng phải được phát âm nối tiếp theonhau trong ngữ lưu, hết cái này đến cái kia Ví dụ, ta hãy quan sát một phátngôn được ghi lại bằng những kí hiệu chữ viết như sau:
Ai-đi-đằng-ấy-xa-xa-để-em-ôm-bóng-trăng-tà-năm-canh…
Chính vì vậy, thuộc tính này (tính hình tuyến) được coi như một nguyên
lí cơ bản của ngôn ngữ, có giá trị chi phối cơ chế hoạt động của ngôn ngữ
Nó cũng dẫn đến rất nhiều hệ quả, mà một trong những hệ quả quan trọngnhất là quan hệ ngữ đoạn giữa các đơn vị ngôn ngữ Điều này chẳng nhữngquan trọng đối với người tham gia vào cuộc đối thoại, giao tiếp bằng ngônngữ (để người ta có thể nghe được, nhận ra một cách phân minh các tín hiệu,các yếu tố trong lời của người nói ra) mà còn rất quan trọng đối với ngườiphân tích ngôn ngữ học
Dựa vào các chuỗi được nối ra đó, người phân tích ngôn ngữ học phântích và nhận diện được các đơn vị ngôn ngữ, phát hiện được các quy tắc kếthợp các yếu tố, các đơn vị, các thành phần để có các từ, nhóm từ, câu, đoạnvăn và văn bản
4 Ngôn ngữ, như đã trình bày, vốn là hiện tượng mang bản chất xã hội
và thuộc số các hiện tượng xã hội Mặt khác, nó còn có một bản chất nữakhông kém phần quan trọng là: ngay từ đầu, ngôn ngữ đã đồng thời là tínhiệu, mang bản chất tín hiệu
Chính bản chất tín hiệu của ngôn ngữ, với tất cả những đặc trưng riêngbiệt và tính phức tạp trong tổ chức hệ thống của mình, một nhân tố trung tâm
Trang 20bảo đảm cho nó trở thành phương tiện lao tiếp quan trọng nhất của conngười.
II HỆ THỐNG VÀ CẤU TRÚC CỦA NGÔN NGỮ
1 Những khái niệm mở đầu
1.1 Hàng ngày, chúng ta vẫn nói hoặc nghe nói tới những tên gọi như:
hệ thống giáo dục phổ thông, hệ thống đèn tháp sáng, hệ thống ống cấp thoátnước… Chúng ta đã dùng từ hệ thống không đòi hỏi được giới hạn một cáchnghiêm ngặt về mặt thuật ngữ
Hiện nay, khái niệm hệ thống được sử dụng trong rất nhiều ngành khoahọc; và đã có không ít quan niệm về nội dung, cũng như cách tiếp cận thuậtngữ này
Một cách hiểu thường gặp về hệ thống, được phát biểu như sau: Đó làmột tổng thề những yếu tố có liên hệ qua lại và quy định lẫn nhau, tạo thànhmột thể thống nhất phức tạp hơn Cách hiểu hệ thống như vậy có thể đượcdiễn giải rõ thêm:
- Đó là một tập hợp các yếu tố
- Các yếu tố đó phải có quan hệ qua lại với nhau, quy định lẫn nhau Từđây suy ra rằng: mỗi yếu tố chỉ thể hiện được mình và cố được "phẩm chất”của mình trong hệ thống "của mình"
- Các yếu tố quan hệ với nhau theo những cách thức nhất định như thế,tạo thành một tập hợp có tư cách một chỉnh thể
Vậy, có thể xem bộ cờ tướng là một hệ thống; ba cái đèn màu xanh, đỏ,vàng của tín hiệu giao thông đường bộ là một hệ thống…
1.2 Hệ thống nào cũng có cấu trúc của nó Khái niệm cấu trúc thườngxuyên đi đôi cùng với khái niệm hệ thống Cấu trúc được hiểu là tổng thể cácmối quan hệ trong hệ thống, là phương thức tổ chức của hệ thống
Như thế, cấu trúc chỉ là một thuộc tính cấu tạo hệ thống; nó có đượctrong hệ thống chứ không ở ngoài hệ thống Nếu hiểu được tổ chức bên trong
Trang 21của hệ thống như thế nào, là ta đã hiểu được cấu trúc của nó Ví dụ: Khi coimột tòa nhà cao tầng là một hệ thống hoàn chỉnh, nếu ta "nắm" được tòa nhà
ấy có bao nhiêu đơn nguyên, mỗi đơn nguyên có bao nhiêu tầng, mỗi tầng cóbao nhiêu phòng; các đơn nguyên, các tầng và các phòng đó thuộc nhữngloại nào, kiểu gì, được sắp đặt như thế nào, nương tựa vào nhau ra sao,quan hệ nối kết với nhau như thế nào… thì nghĩa là ta đã biết được, hiểuđược cấu trúc của hệ thống - tòa nhà đó
Tuy nhiên, có điều cấn lưu ý là dường như chúng ta đã nói tới cấu trúcnhư một cái gì đấy chỉ thuần túy là một tổng thể, một mạng lưới của các quan
hệ, mà không kể gì đến các yếu tố có quan hệ Sự thể là vẫn phải tính đến cảcác yếu tố trong khi miêu tả và xem xét cấu trúc nhưng đôi khi, để nhằm vàonhững mục tiêu nhất định, người ta đã trừu tượng hóa chúng mà thôi
1.3 Trong tự nhiên và xã hội có rất nhiều loại hệ thống Tuy vậy, các hệthống chức năng là loại quan trọng nhất Đó là loại hệ thống được cấu tạo,được xây dựng nhằm những mục đích nhất định; và trong đó, mỗi yếu tố hoặcloại yếu tố phải thực hiện một chức năng nào đó
Ngôn ngữ là hệ thống chức năng, bởi vì nó do con người tạo lập đểthực hiện chức năng vô cùng quan trọng: chức năng làm công cụ giao tiếp,chức năng phản ánh tư duy của con người…
2 Hệ thống và cấu trúc của ngôn ngữ.
2.1 Sở dĩ ta nói được: ngôn ngữ là một hệ thống là vì nó thỏa mãnnhững yêu cầu, đáp ứng những tiêu chí cần yếu của khái niệm hệ thống nóichung Nó là một tổng thể, một tập hợp các yếu tố - các đơn vị của nó - vàcác đơn vị này có những mối quan hệ thuộc nhiều kiểu dạng khác nhau
Ngôn ngữ cũng có cấu trúc của nó, bởi vì nó có một tổ chức bên trong,
có một mạng lưới quan hệ phức tạp, đa dạng giữa các kiểu loại yếu tố - đơn
vị khác nhau của mình
2.2 Các đơn vị của ngôn ngữ - cũng tức là các yếu tố của nó - phânbiệt nhau về chức phận trong hệ thống, vị trí trong hệ thống và cũng phân biệt
Trang 22nhau về cấu tạo của mình Để nhận diện và phân biệt chúng về mặt khoa học,người ta phải dùng các kĩ thuật phân tích ngôn ngữ học.
Theo trình tự từ lớn đến nhỏ (như vẫn thường gọi) có thể kể ra các đơn
vị của ngôn ngữ là: câu - từ - hình vị - âm vị
Trong số này, câu có chức năng cơ bản là thông báo Từ (có nhànghiên cứu còn kể thêm cả cụm từ) là đơn vị có chức năng định danh Hình vị
và âm vị là những đơn vị đảm nhận chức năng cấu tạo (hình vị để cấu tạo vàbiến đổi từ; âm vị để cấu tạo và phân biệt mặt biểu hiện - vật chất âm thanh -của các đơn vị khác) Ví dụ:
a) Các câu: They saw that his ideas were both clever and pratical (tiếngAnh)… Họ đã thấy những ý tưởng của ông vừa thông minh vừa thiết thực(tiếng Việt)…
b) Các từ: They saw that his ideas were both clever and practical (t.Anh)…
-Họ - đã – thấy - những - ý tưởng - của - ông - vừa - thông minh - thiếtthực (t.Việt)…
c) Các hình vị: fly-er; work - ed; book - s; un-cover; im-possible; ly… (t.Anh); tàu-thủy; đường-sắt; cái-vàng; xe-cộ; láu-cá; học-trò; nhà-máy;lười-nhác… (t.Việt)
loue-d) Các âm vị: k-a-d (carloue-d) b-i-g (big) t-u (too) s-ou (so)… (t Anh) s-a(xa) l-a-m (làm) k-u-n (cùn)… (t.Việt)
2.3 Các đơn vị của ngôn ngữ, như vậy là không phải chỉ gồm một loại.Căn cứ vào chức năng đảm nhận trong hệ thống, người ta đã tách ra đượccác loại đơn vị như vừa trình bày trên đây Mỗi loại đơn vị đó, đến lượt chúng,lại làm thành một tiểu hệ thống trong hệ thống lớn là hệ thống ngôn ngữ.Người ta gọi mỗi tiểu hệ thống (gồm những đơn vị đồng loại) của ngôn ngữ làmột cấp độ Đó là vì (như dưới đây sẽ trình bày) các tiểu hệ thống đó có quan
hệ chi phối nhau
Trang 23Vậy tương ứng, ta thấy ngôn ngữ có các cấp độ (được gọi tên bằng têncủa đơn vị lập thành nó) là: cấp độ câu, cấp độ từ, cấp độ hình vị, cấp độ âmvị.
2.4 Các đơn vị của ngôn ngữ quan hệ với nhau rất phức tạp và theonhiều kiểu Đặc biệt, càng đi vào hoạt động giao tiếp, các quan hệ đó càngthể hiện ra dưới nhiều dạng khác nhau Tuy nhiên, xét ngôn ngữ với tư cáchmột hệ thống, người ta thường nói đến ba quan hệ cốt lõi nhất, có khả năngchi phối toàn bộ cơ chế hoạt động của hệ thống này như sau:
2.4.a Quan hệ cấp bậc (hierarchical relation)
Người ta cũng gọi đây là quan hệ tôn ti hoặc quan hệ bao hàm, quan
hệ cấp hệ Chúng ta gọi đó là quan hệ cấp bậc với ngụ ý thể hiện tính tôn ti,thứ bậc của các cấp bậc ngôn ngữ Quan hệ cấp bậc thể hiện ở chỗ: đơn vịthuộc cấp độ cao hơn bao giờ cũng bao hàm đơn vị thuộc cấp độ thấp hơn.Ngược lại, đơn vị thuộc cấp độ thấp hơn bao giờ cũng nằm trong đơn vị thuộccấp độ cao hơn; và là thành tố để cấu tạo đơn vị thuộc cấp độ cao hơn
Điều đó có nghĩa là: câu bao hàm từ; từ bao hàm hình vị; hình vị baohàm âm vị Ngược lại, âm vị nằm trong hình vị, hình vị nằm trong từ, từ nằmtrong câu Vậy xét về mặt thành tố cấu tạo, mỗi đơn vị thuộc cấp độ cao hơnbao giờ cũng gồm ít nhất một đơn vị thuộc cấp độ thấp hơn Ví dụ:
Hình vị gồm một âm vị: pari-e (t.Pháp), book-s (t.Anh)
Từ gồm một hình vị: eau (t.Pháp); ‘…’ (t.Nga); người, đẹp, hát (t.Việt).Câu gồm một từ Feu! (t.Pháp), Attention! (t.Anh); Bat! (t.Khmer); Cháy!(t.Việt)
Thậm chí, một văn bản (gần đây với sự phát triển của bộ môn ngônngữ học văn bản, người ta đã chứng minh và coi văn bản cũng là đơn vị ngônngữ) có thể chỉ gồm một câu, một từ như trong tục ngữ, các danh ngôn, cáccâu khẩu hiệu, lời nhắc nhở, khuyến cáo…
Chẳng hạn:
Trang 24Pass along!… Attention: train!… (t.Anh)
Tốt gỗ hơn tốt nước sơn (t.Việt)
Lắc trước khi dùng, (lời ghi trên nhãn lọ thuốc)
Thuốc tiêm, không được uống, (-nt-)
Rõ ràng, đơn vị ở cấp độ thấp hơn bao giờ cũng là cái đi vào để cấutạo đơn vị thuộc cấp độ cao hơn Quan hệ cấp bậc là quan hệ giữa các đơn vịkhông đồng loại, những đơn vị khác nhau về cấp độ, tức là khác nhau vềphẩm chất, về chức năng mà chúng đảm nhận trong hệ thống ngôn ngữ
2.4 b Quan hệ ngữ đoạn (syntagmatical relation)
Quan hệ ngữ đoạn là quan hệ nối kết các đơn vị ngôn ngữ thành chuỗikhi ngôn ngữ đi vào hoạt động Cơ sở của nó chính là tính hình tuyến củangôn ngữ Tính chất này bắt buộc các đơn vị ngôn ngữ phải nối tiếp nhau lầnlượt trong ngữ lưu để cho ta những kết hợp gọi là ngữ đoạn (syntagmes) Vídụ: Bàn này; Bàn này bằng gỗ; Bàn này bằng gỗ lim; Đã làm rồi; Còn vui hơnnữa; Sẽ nhớ mãi…
Thực chất, quan hệ ngữ đoạn là quan hệ của tính tương cận Nó liênkết các yếu tố lại để tạo thành những đơn vị lớn hơn; chẳng hạn, liên kết cáchình vị để tạo từ; liên kết các từ để tạo nhóm từ; liên kết các từ, nhóm từ đểtạo câu; liên kết các câu để tạo đoạn văn bản hoặc văn bản…
Ta có thể hình dung quan hệ ngữ đoạn là quan hệ giữa các yếu tố, cácđơn vị, nối tiếp nhau trên một trục nằm ngang theo tuyến tính gọi là trục ngữđoạn Trên trục này chỉ có những đơn vị đồng hạng (hiểu với nghĩa là thuộccùng cấp độ, có chức phận như nhau) thì mới trục tiếp kết hợp với nhau Đó
là một nguyên tắc
Chẳng hạn, từ trực tiếp kết hợp với từ (hoặc nhóm từ có chức phậntương đương) chứ không phải là trực tiếp kết hợp với câu hoặc hình vị của từkhác
2.4.c Quan hệ liên tưởng (associative relation)
Trang 25Ở đây, chúng ta hãy dùng tên gọi này với nội dung bao gồm cả cái màtrong một số tài liệu về ngôn ngữ học gọi là quan hệ hệ hình hay quan hệ đối
vị (paradigmatical relation)
Trên kia chúng ta đã thấy quan hệ ngữ đoạn là quan hệ hiện diện trêntuyến tính, dựa vào sự nối tiếp nhau của hai hay nhiều yếu tố trên trục ngữđoạn
Quan hệ liên tưởng là quan hệ "xâu chuỗi” một yếu tố xuất hiện vớinhững yếu tố khiếm diện đứng sau lưng nó và về nguyên tắc có thể thay thếcho nó Ví dụ:
1 - Đứng sau lưng từ chè trong ngữ đoạn đang uống chè là một loạt từ:
cà phê, bia, rượu, thuốc, nước… Chúng hoàn toàn đủ khả năng về nguyêntắc để thay vào vị trí của chè
2 - Đứng sau lưng dạng thức (…) của động từ tiếng Nga (…) là cácdạng thức (…), (…)…
Chúng sẵn sàng thay thế cho nhau "khi cần thiết"
Có thể biểu diễn hai ví dụ này dưới dạng như sau:
là trục liên tưởng
Trang 26Sự liên tưởng có thể được tiến hành dựa trên tính tương đồng (chủ yếu
là tương đồng về mặt được biểu hiện) hoặc tính tương phản (đối lập, tráinghĩa) Như vậy, quan hệ liên tưởng mang tính nội dung, dựa vào nội dung, ýnghĩa hơn là quan hệ ngữ đoạn Mặt khác nếu quan hệ ngữ đoạn là quan hệhiện diện giữa hai hay nhiều yếu tố trong các ngữ đoạn hiện thực thì quan hệliên tưởng lại là khiếm diện Nó khiếm diện vì nó là sợi dây liên hệ giữa mộtyếu tố xuất hiện với những yếu tố "đứng sau lưng” yếu tố này, trú ngụ trongđầu óc, trong trí tuệ của người sử dụng ngôn ngữ
Quan hệ liên tưởng cho phép người nói (người tạo lập văn bản) khimuốn nói một cái gì đó được quyền lựa chọn lấy yếu tố thích ứng trong dãyliên tưởng có thể có Tuy nhiên, sự lựa chọn này cũng còn phải tùy thuộc vàokhả năng tổ hợp giữa các yếu tố được lựa chọn để đưa vào kết hợp trongngữ đoạn nữa Chứng tỏ rằng mỗi một kết hợp, một ngữ đoạn, một phát ngônđược hình thành, đều đã có sự chi phối, chế ước lẫn nhau và thống nhất vớinhau giữa quan hệ ngữ đoạn và quan hệ liên tưởng Điều này thể hiện rõnhát và phát huy tác dụng trong khi tạo lập văn bản giao tiếp nói chung, đặcbiệt là trong sáng tác văn chương, nghệ thuật, thơ ca
Ví dụ, trong câu thơ Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày của Tản
Đà, hẳn ông đã phải lựa chọn trong dãy liên tưởng như: đẫm… chẳng hạn, để lấy ra một từ thỏa đáng nhất Từ khô được lựa chọn vì
khô-tuôn-cạn-ướt-nó xứng với cái ý tác giả muốn khô-tuôn-cạn-ướt-nói; đồng thời bảo đảm sự tương hợp về mọiquy tắc ngôn ngữ với các yếu tố đứng trước và sau nó trong ngữ đoạn
5 Nhận ra các đơn vị, các yếu tố, các lớp hạng yếu tố của ngôn ngữcùng những quan hệ phức tạp, đa dạng giữa các yếu tố, các lớp hạng này, là
ta đã phát hiện ra được cấu trúc của nó Mặt khác, qua đó, tính hệ thống củangôn ngữ cũng được làm sáng tỏ
Tuy nhiên, nhận thức về hệ thống và cấu trúc của ngôn ngữ không phảichỉ là "biết để mà biết" Điều này cho phép ngôn ngữ học nhìn nhận đối tượngnghiên cứu của mình một cách toàn diện và sâu sác hơn Chính từ chỗ thấyđược ngôn ngữ bao gồm nhiều loại đơn vị, yếu tố khác nhau, tạo thành nhiều
Trang 27tiểu hệ thống, nhiều bộ phận khác nhau có tác động, quan hệ qua lại với nhau
mà trong ngôn ngữ học đã xây dựng những bộ môn nghiên cứu khác nhau, đisâu vào nghiên cứu từng mặt, từng bộ phận, từng tiểu hệ thống đó Chẳnghạn, ngữ âm học và âm vị học nghiên cứu cơ cấu âm thanh - mặt biểu hiện -của ngôn ngữ; ngữ pháp học nghiên cứu cơ cấu ngữ pháp của ngôn ngữ; từvựng học nghiên cứu thành phần từ vựng của ngôn ngữ… Đến nay thì ngônngữ đã được nghiên cứu ở những góc độ chi tiết hơn với nhiều bộ môn cụ thểhơn nữa như: ngữ nghía học, phong cách học, ngữ pháp văn bản, từ nguyênhọc… và nhiều bộ môn liên ngành khác như: ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữhọc tâm lí… Các bộ môn đó có thể nghiên cứu trên góc độ chung đối với cácngôn ngữ, và thuộc về các bộ môn đại cương (tức là nghiên cứu những vấn
đề chung, khái quát cho nhiều hoặc cho các ngôn ngữ) Ngược lại, chúngcũng có thể nghiên cứu trong từng ngôn ngữ cụ thể như: ngữ âm học tiếngViệt, từ vựng học tiếng Việt, ngữ pháp học tiếng Việt…
Một cấu trúc phức tạp của những đơn vị không đồng loại có quan hệqua lại với nhau; đó là cái điển hình đối với ngôn ngữ (A Rephormatxki) Vìvậy, khi xét một sự kiện ngôn ngữ nào đó, ta phải luôn luôn đặt nó trong hệthống Tại đây, cấu trúc của hệ thống sẽ "thẩm định" phẩm chất của sự kiện
đó trong mối quan hệ với hàng loạt sự kiện khác, yếu tố khác Ví dụ: xét mộtyếu tố a Nó là cái gì? Đặt vào tiếng Nga, trong tương quan với các từ ‘…’,
‘…’, ’…’… nó là một từ: liên từ a Còn trong tương quan với các yếu tố như
‘…’, y, e, ‘…’, u… (như trong pyKoũ, pyny, pyKe, pyKu… chẳng hạn) thì a lại
là một hình vị để thể hiện các ý nghĩa giống cái, cách 1, số ít của danh từ
Việc xác nhận ngôn ngữ mang tư cách của một hệ thống cho ta một sựnhìn nhận trở lại đối với nguyên lí về tính võ đoán Chính tính hệ thống củangôn ngữ đã chế ước tính võ đoán Về điểm này, F.de Saussure có nêu mộtnhận xét quan trọng: Tất cả những gì có liên quan đến ngôn ngữ với tính cách
là một hệ thống đều đòi hỏi (…) được nhìn nhận trên quan điểm sau đây, mộtquan điểm đã không dược các nhà ngôn ngữ học chú ý máy: sự hạn chế tính
võ đoán (…) Nguyên lí này, nếu có hiệu lực vô hạn độ, sẽ dẫn tới tình trạng
Trang 28hết sức phức tạp; nhưng trí tuệ đã đưa được nguyên lí trật tự và đều đặn vàomột số bộ phận trong khối các tín hiệu, và chính đó là vai trò của cái cónguyên do tương đối.
Cuối cùng, cũng cần nói thêm: hệ thống ngôn ngữ không phải là mộtcái gì đấy cứng nhắc và hoàn toàn bất biến Là một hệ thống thuộc loại hệthống chức năng, ngôn ngữ phải có những biến đổi để đáp ứng với yêu cầulàm công cụ giao tiếp của con người
Trong tiến trình phát triển của mình, hệ thống này hiện ra tư cách là cáicủa ngày hôm nay, đang tồn tại và hành chức, nhưng chính nó cũng lại là sảnphẩm, là tài sản của ngày hôm qua, từ các thế hệ xa xưa truyền lại Nó vừa làkết quả của hiện tại, lại vừa là kết quả của quá khứ Bởi vậy, người ta có thểnghiên cứu ngôn ngữ ở một trạng thái cụ thể, vào một đoạn thời gian nào đó,được giả: định như là “đứng im" không có thay đổi gì, hệ thống ngôn ngữđược coi như là hoàn toàn ổn định… Nghiên cứu như thế gọi là nghiên cứuđồng đại (synchronic) Ngược lại, người ta có thể nghiên cứu ngôn ngữ (cácyếu tố, các bộ phận của nó) đã có những biến đổi gì, biến đổi như thế nào…trong các trạng thái xét theo tiến trình lịch sử… Hướng nghiên cứu này gọi lànghiên cứu theo quan điểm lịch đại (diachronic)
Đồng đại và lịch đại không đối nghịch nhau mà thống nhất biện chứngvới nhau Nếu ta coi mỗi trạng thái ngôn ngữ như một "lát cắt" đồng đại thìlịch đại chính là một dãy liên tục mang tính kế thừa của chính những lát cắtđồng đại đó Ngược lại, đối với lịch đại, mỗi lát cắt đồng đại chỉ là một sựphân cắt ít nhiều mang tính chất ước lượng mà thôi
Chương 3 NGUỒN GỐC VÀ DIỄN TIẾN CỦA NGÔN NGỮ
Các dạng ngôn ngữ đã và đang hiện diện trên hành tinh của chúng ta,hết sức đa dạng và sinh động Mỗi ngôn ngữ cụ thể như thế lại có một nguồngốc trực tiếp hoặc gián tiếp của nó, với những chiều hướng biến động, phát
Trang 29triển không phải bao giờ cũng hoàn toàn như nhau Tuy nhiên, đó là nhữngvấn đề được nghiên cứu riêng cho từng ngôn ngữ một.
Ở đây, chúng ta sẽ chỉ nói đến những "chuyện chung" của ngôn ngữtrong xã hội loài người nói chung
I NGUỒN GỐC CỦA NGÔN NGỮ
1 Không phải chỉ có chúng ta hôm nay mới tự hỏi: ngôn ngữ của conngười ra đời từ đâu? nhờ ai, nhờ cái gì?… Việc đặt những vấn đề đại loạinhư thế và lời giải đáp cho chúng, thực ra đã có không ít và có từ lâu, thậmchí từ xa xưa
Khi đức tin vào sức mạnh sáng tạo vạn năng nơi Thượng Đế bị đổ vỡ(vì chẳng bao giờ có Thượng Đế cả) thì không ai còn nghĩ rằng Thượng Đế
đã tạo ra loài người chúng ta và cho ta ngôn ngữ để ta biết nói như biết thởvậy
Người ta cũng đã cố gắng đi tìm nguồn gốc ngôn ngữ ở trần gian, nơingôn ngữ đang tồn tại và hoạt động Thế là các giải thuyết như: thuyết tượngthanh, thuyết về tiếng kêu động vật, thuyết về tiếng kêu trong phối hợp laođộng, thuyết cảm thán bộc lộ tâm lí tình cảm, thuyết quy ước xã hội… lần lượtxuất hiện Ngày nay, bình tĩnh mà xét, các giả thuyết đó đều có phần đúngcủa nó, nhưng tiếc thay, chỉ đúng được với một vài sự kiện hoặc hiện tượngngôn ngữ mà thôi Nhìn nhận như thế về nguồn gốc ngôn ngữ, thật chẳngkhác nào thấy một vài cây đã vội kết luận cho rừng bởi vì "thấy cây mà chẳngthấy rừng”
2 Với sự ra đời của triết học day vật biện chứng, vấn đề nguổn gốcngôn ngữ được xem xét vi zr.iT z::h một cách toàn diện hơn khoa học vàhợp lí hơn: con nr::: -i:."U thể sáng tạo và sử dụng ngôn ngữ; vậy phái tìmhiếu su ra ir: của ngôn ngữ gán liền với nghiên cứu nguốn góc con nguời cảtrong quá trình phát sinh giống nòi lẫn quá trình phát sinh và phát triển củamỗi cá thể
Trang 30Các kết quả nghiên cứu vể triết học sinh vật học, khảo cổ học, sinh líhọc thần kinh và ngôn ngữ học… kết luận rằng lao động đã làm phát sinh,phát triển loài người và làm phát sinh ngôn ngữ trong quá trình đó.
2.a Hàng triệu năm trước đây, tổ tiên của chúng ta vốn là một loàivượn người sống trên cây trong những cánh rừng tiền sử Do nhiều biếnđộng của tự nhiên, những cánh rừng ấy bị tiêu diệt Thức ăn trên tầng câycao ngày càng trở nên khó kiếm Loài vượn người ấy buộc lòng phải rời ngọncây cao (vốn là nơi trú ẩn, sinh sống từ lâu đời) xuống đất đi lang thang kiếmăn
Trên mặt đất, sự di động chủ yếu không còn là leo trèo như trên câynữa; đã thế kẻ thù lại nhiều hơn… Việc tìm kiếm thức ăn và tự vệ để sinhtồn… đã buộc loài vượn người này tập dần được cách đi bằng hai chi sau vàđứng thẳng mình lên Cái bản lề trong quá trình chuyển biến từ vượn thànhngười chính là việc đứng thẳng mình lên và đi bằng hai chân đó Để có đượcdáng đứng thẳng lên, loài vượn người xưa kia đã phải "tập đi" hàng nghìnnăm chứ không đơn giản như một em bé tập đi bây giờ, chỉ độ một tháng làxong
Thế là hai tay con vượn người được giải phóng Đôi chân bây giờ hoàntoàn đảm đương việc đi lại Đôi tay ngày càng trở nên khéo léo hơn, biết sửdụng các vật sản có làm công cụ tự vệ, kiếm ăn; và quan trọng hơn: nó biếtchế tạo ra công cụ lao động Con vượn người đã chuyển dẩn thành conngười vượn rồi thành người (người nguyên thủy)
Dáng đứng thẳng cũng làm cho tầm mắt của tổ tiên chúng ta được rộng
và xa hơn; đồng thời lồng ngực nở hơn và những cơ quan của bộ máy phát
âm có điểu kiện phát triển hơn
Mặt khác, có công cụ trong tay, những con người tiền sử đó kiếm đượcnhiều thức ăn hơn và chuyển dẩn từ đời sống ăn thực vật (cây, quả, củ, rễ…)sang đời sống ăn thịt Thêm vào đó, việc tìm ra và sử dụng được lửa cũng đãkhiến họ chuyển từ ăn sống sang ăn chín Một hệ quả quan trọng đã diễn ra,
Trang 31thức ăn chín mém khiến xương hàm người ta không cần phải to thô nhưtrước nữa; lồi cằm (phần trước xương hàm dưới) vểnh ra rõ dần.
Tuy nhiên, trong số các biến đổi vễ mặt sinh học của con người sự tiến
bộ của bộ não là quan trọng nhất Nhờ lao động, nhờ ăn thịt, bộ não của tổtiên chúng ta cũng phức tạp dần lên; những phần vỏ não trực tiếp liên quanđến tiếng nói như thùy trán, thùy thái dương và phần dưới thùy đỉnh, pháttriển mạnh Kết cục là so với những người bà con anh em họ của tổ tiênchúng ta bộ não con người ngày nay (tính theo tỉ lệ giữa trọng lượng của nãovới trọng lượng toàn thân) lớn hơn khi đột 10 lần, hơn đười ươi 6 lần, hơn khỉđen 2 lần và hơn vượn 4 lần
Như vậy, lao động đã tạo ra con người và tạo ra những tiền đề thứ nhất
về mặt sinh học để ngôn ngữ cơ thể phát sinh Có thể nói lao động để chuẩn
bị và "tạo cơ sở vật chất” để loài người có những cơ quan thích hợp cho việcsản sinh tiếng nói
2.b Cũng chính lao động đã tạo ra nhân tố xã hội để ngôn ngữ phátsinh Lao động đã liên kết con người thành những bầy đàn, những cộng đồng
và về sau thành xã hội có tổ chức Muốn cùng chung sức để làm việc gì đó,người ta cần phải thỏa thuận với nhau là sẽ làm gì, làm như thế nào… Nhữngđiều "biết được" về thế giới xung quanh, những kinh nghiệm trong lao độngcần phải được thông báo cho nhau từ người này sang người khác, từ thế hệnày sang thế hệ khác…
Đến đây thì con người (dù là người cổ nhất) đã khác con vật về chất.Người ta đã đến lúc thấy "cần phải nói với nhau một cái gì đó" bởi vì họ đã cócái cần phải nói với nhau và có phương tiện để nói với nhau Phương tiện ấychúng ta gọi là ngôn ngữ Vậy không có ai khác, chính lao động đã sáng tạo
ra con người và ngôn ngữ của con người Lao động đã làm cho bộ óc củacon người cổ xưa biết hoạt động "theo kiểu người" và có một công cụ vừa đểtiến hành những hoạt động đó, vừa làm phong phú hóa nó, nâng nó lên "trình
độ của con người" Đó là ngôn ngữ
Trang 322.c Tự bản chất của mình, từ khi mới phat sinh, ngôn ngữ vốn là công
cụ, là phương tiện để con người giao tiếp với nhau Thế nhưng lúc đầu nóchưa phải là ngôn ngữ như chúng ta đang có hôm nay; mà là thứ ngôn ngữchưa phân thành âm tiết rõ ràng, bởi vì cái lưỡi, cái cằm và hàm dưới, hệ dâythanh… chưa phù hợp, thuần thục với công việc mới mẻ, đầy phức tạp côngviệc phát tiếng nói này; thậm chí có bộ phận còn đang trên đường hoàn thiệndần
Tuy vậy, người ta không đợi cho mọi bộ phận cấu âm phát triển thậthoàn chỉnh rồi mới nói với nhau Những tiếng nói còn lẫn, còn nhòe, và ú ớ đó
đã được phối hợp với các động tác, dáng vẻ của cơ thể, mặt mũi, vai, tay,chân (nhất là đôi tay) để "phát biểu" ý nghĩ, tình cảm của họ Thoạt đầu tiếngnói của con người chưa khác các điệu bộ bao nhiêu (Điều này còn để lạinhững tàn dư của nó trong một số ngôn ngữ mà hiện nay ta còn thấy được.Chẳng hạn, trong ngôn ngữ dân tộc Êvê, người ta không dùng một từ đi màlại dùng nhiều từ khác nhau, miêu tả các kiểu đi khác nhau
dô bô hô bô hô: đi nặng nề, phục phịch
dô dê dê: đi một cách vững vàng
dô bu la bu la: đi nhanh bừa đi
dô pi a pi a: đi rón rén
dô gô vu gô vu: đi khập khiễng, đầu chúi xuống…)
Dần dần, con người sử dụng tiếng nói thành thạo hơn và bỏ xa nhữngcách "phát biểu" bằng cử chỉ, động tác; bởi lẽ ngôn ngữ thành tiếng của họngày càng mạch lạc hơn, hoàn thiện hơn, trở thành hệ thống tín hiệu thứ hai,
hệ thống "tín hiệu loan báo các tín hiệu”
Hoạt động tín hiệu là hiện tượng chung cho mọi loài động vật trên hànhtinh chúng ta; nhưng con người, với ngôn ngữ của mình đã có thêm mộtphương thức mới, khác hẳn vệ chất Nhờ có ngôn ngữ này mà từ đây, ngaytrong đêm đen, con người nghe được (tức là nhận được) một tín hiệu có
Trang 33nghĩa "mặt trời" chẳng hạn, thì anh ta đã nghĩ tới, đã hình dung ra mặt trời rồi,không cần phải đợi cho đến khi nhìn tận mắt nữa.
Đối với động vật, chỉ có những kích thích trực tiếp về thị giác, thínhgiác, khứu giác, xúc giác mới trở thành tín hiệu kích thích được Ngược lại,đối với con người, ngoài những thứ đó, người ta còn có các từ trong ngônngữ để thay thế cho chúng Đến đây thì cái gọi là ngôn ngữ thực sự hìnhthành và không bao giờ rời xa loài người nữa
II DIỄN TIẾN CỦA NGÔN NGỮ
Ở trên, chúng ta đã phân tích và thấy rằng ngôn ngữ xuất hiện cùng vớiquá trình hình thành ý thức, gắn liền với lao động, với sự xuất hiện của conngười và xã hội loài người Vậy, xem xét quá trình diễn tiến của ngôn ngữtrong sự diễn tiến của xã hội loài người sẽ là điều hợp lí
Về mặt dân tộc học, người ta đã phân loại các đơn vị tổ chức xã hộiloài người thành các bậc: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc và cuối cùng là dân tộc Bêncạnh đó, học thuyết về các hình thái kinh tế xã hội lại phân chia lịch sử xã hộitheo một cách khác và được các hình thái kinh tế xã hội ứng xử với các giaiđoạn phát triển như: công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tưbản chủ nghĩa
Trên thực tế, khó lòng có thể vạch ra từng bậc trong sự diễn tiến củangôn ngữ một cách "phân đoạn" như vậy Tuy nhiên, trong chừng mực nhấtđịnh, người ta vẫn có thể dựa vào những ranh giới phân đoạn đó nhiều hoặc
ít, tùy theo, vì chẳng còn có cách nào hơn
1 Chế độ công xã nguyên thủy ứng với loại cộng đồng thị tộc và bộ lạc(còn gọi chung là các nhóm dân tộc học) trong đó bộ lạc là đơn vị cơ sở
Mỗi bộ lạc như thế cư trú trên một lãnh thổ, mọi người trong bộ lạc cóquan hệ kinh tế với nhau, mang những đặc điểm đời sống - văn hóa chung vànói cùng một thứ tiếng
Trang 34Về mặt ngôn ngữ, thời kì này có hai xu hướng dường như trái ngượcnhau, nhưng nhiều khi lại đan xen vào nhau: xu hướng chia tách, phân tán và
xu hướng liên minh, hợp nhất
a) Xu hướng chia tách thường xảy ra khi một bộ lạc tăng trưởng dân sốkhông ngừng và đến một lúc nào đó, do nhiều điều kiện khác nhau (nhưngnhu cầu sinh sống là chủ yếu) buộc người ta tự nhiên phải tách ra thànhnhững bộ phận, những nhóm, cư trú phân tán trên nhiều địa bàn khác nhau
Do điều kiện sống xa nhau, thậm chí biệt lập, rất ít tiếp xúc hoặc không có tiếpxúc nữa, các bộ phận cư dân đó về sau đã hình thành nên (một cách tựnhiên) những bộ lạc độc lập
Trong quá trình đó, những khác biệt về mặt ngôn ngữ đã nảy sinh rồiđược củng cố qua nhiều thế hệ và trở thành ngôn ngữ khác nhau có cùngnguồn gốc, hoặc trở thành những phương ngữ, thổ ngữ khác nhau của mộtngôn ngữ chung Các nhà dân tộc học, sử học, ngôn ngữ học cùng với nhữngngành khoa học hữu quan, khi nghiên cứu sự thân thuộc về mặt cội nguồngiữa các tộc người, giữa các ngôn ngữ hiện đang tồn tại hoặc giữa cácphương ngữ của một ngôn ngữ, đã thấy rất rõ điều đó Chẳng hạn: Các nhómphương ngữ: Mày, Rục, Sách, Arem, Mãliểng của tiếng Chứt; các nhómphương ngữ: Thổ, Poọng, Đan Lai, Li Hà, Cuối Chăm, Cuối Niêu của tiếngThổ ở khu vực Đông Nam Trường sơn - Việt Nam; Các phương ngữ củatiếng Papua ở Châu Phi, các phương ngữ của tiếng Litva ở Liên Xô… hẳn đã
là kết quả của quá trình chia tách và khuếch tán như vậy
Có thể nói, ngôn ngữ của các bộ lạc, tự nó đã là những mầm mống đểhình thành các phương ngữ, thổ ngữ trong giai đoạn xã hội phát triển cao hơnsau này
b) Xu hướng hợp nhất có lẽ hay xảy ra vào giai đoạn chót của chế độcông xã nguyên thủy đang chuyển dần sang xã hội có giai cấp Lúc này, cónhững liên minh bộ lạc được hình thành (hoặc là bằng cách một bộ lạc nàychinh phục các bộ lạc khác, hoặc là một số bộ lạc tự nguyện liên minh vớinhau vì những nguyên nhân nào đó)
Trang 35Liên minh bộ lạc là điều kiện hết sức thuận lợi để các ngôn ngữ (dùkhông gần gũi nhau lắm về mặt cội nguồn, hoặc hoàn toàn không có quan hệthân thuộc đi chăng nữa) tiếp xúc chặt chẽ với nhau và tác động, ảnh hưởnglẫn nhau Thường có hai lối tác động:
Thứ nhất, một ngôn ngữ bộ lạc chiến thắng các ngôn ngữ khác và trởthành ngôn ngữ chung trong cộng đồng toàn liên minh Tuy vậy, nó vẫn chịuảnh hưởng của các ngôn ngữ không chiến thắng khác và thay đổi ít nhiều bộdạng của mình đi; nhất là ở mặt ngữ âm và từ vựng Tiếng Latin của người La
Mã trong các vùng bị người La Mã chinh phục, là như vậy
Thứ hai, tiếp xúc ngôn ngữ dẫn đến pha trộn ngôn ngữ và thậm chí cóthể làm nảy sinh một ngôn ngữ mới Thế nhưng, đây không phải là sự phatrộn cơ giới, đảo đều; cũng không phải là sự tạo thành một ngôn ngữ hoàntoàn mới, khác hẳn các ngôn ngữ tham gia tiếp xúc, pha trộn; bởi vì ngôn ngữmới này vẫn giữ cơ cấu hình thái của một trong những ngôn ngữ thuộc thànhphần pha trộn đó làm cơ sở nên tảng cho mình Chính nhờ cái cơ sở (gọi là
cơ tầng) đó mà người ta vẫn xác định được ngôn ngữ mới thân thuộc vớingôn ngữ nào hơn và thuộc vào nhóm nào trong phổ hệ của họ ngôn ngữ
Lối tiếp xúc, ảnh hưởng như thế, ngay gần đây, người ta vẫn còn cóthể kiểm chứng được trong không hiếm ngôn ngữ hiện đang tổn tại Ví dụ:
1/ Tiếng Việt trong quá trình tiếp xúc láu đời với tiếng Hán, đã vaymượn vào vốn từ của mình một khối lượng rất lớn các từ và yếu tố tạo từcùng với một số ảnh hưởng khác về mặt ngữ pháp; nhưng không vì thế mà
nó thuộc cùng một nhóm gấn gũi về cội nguồn với tiếng Hán
Ở châu Âu, quan hệ giữa tiếng Anh với tiếng Pháp; tiếng Rumani vớicác ngôn ngữ Slave và tiếng Hi Lạp, tiếng Hung, người ta cũng thấy nhữngtình hình tương tự: tiếng Anh vẫn thuộc số các ngôn ngữ Giecman, còn tiếngPháp, tiếng Rumani vẫn thuộc về các ngôn ngữ Roman
2/ Theo A.G.Odricua, người Sán Chấy ở Việt Nam vốn là người Daogốc Quý Châu - Trung Quốc, di cư đến Quảng Đông rồi di cư sang Việt Nam
Trang 36sống chung với người Tày, Nùng Tại đây, ngôn ngữ của họ, tiếng Sán Chấy,
là một ngôn ngữ pha trộn gồm cơ tiếng Dao với tiếng Tày Nùng
Như vậy, điểm nổi rõ về mật ngôn ngữ trong thời kì công xã nguyênthủy, thời kỉ của các thị tộc, bộ lạc là luôn luôn diễn ra quá trình chia tách vàliên minh, tiếp xúc Một mặt, sự chia tách làm gia tăng số lượng các ngôn ngữkhác nhau hoặc các phương ngữ, thổ ngữ khác nhau trong một ngôn ngữ;mặt khác, sự tiếp xúc lại dẫn đến tình trạng gần nhau, và tới một mức nào đó
sẽ dẫn đến pha trộn ngôn ngữ
2 Thay thế chế độ công xã nguyên thủy là chế độ xã hội có giai cấp,gắn lieefn với sự thiết lập nhà nước (trước hết là những nhà nước cổ đại)theo kiểu nào đó của phương Đông hoặc phương Tây
Tùy theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở từng nơi mà các nhà nước đó đãđược xây dựng bằng những cách khác nhau, bởi những nguyên nhân ít nhiềukhác nhau Các nhà nước cổ đại ở Hi Lạp, La Mã, Ai Cập, Ấn Độ Trung Hoa
và vùng Cận Đông là sản phẩm của những bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc chiếnthắng để thống trị các tộc người khác trong cộng đồng Một số nơi khác (rất
có thể như nước Văn Lang ở Việt Nam thời xưa chẳng hạn) lại xây dựng nhànước trên cơ sở của một liên minh tự nguyện, thiết lập chính quyền trungương thống nhất, khả dĩ tập trung sức mạnh toàn cộng đổng để đối phó vớithiên tai hoặc các cuộc xâm lãng, thôn tính của ngoại nhân
Nhà nưóc ra đời đòi hỏi trong cộng đồng phải có một ngôn ngữ thốngnhất làm ngôn ngữ nhà nước Ngôn ngữ đó có thể là một ngôn ngữ bản địacủa người chiến thắng như tiếng Latin từ sau năm 49 trước công nguyên ở
đế quốc La Mã, tiếng Xôngai trong lãnh thổ của nhà nước Xôngai (ở châuPhi) trước đây; cũng cổ thể là ngôn ngữ của bộ lạc làm hạt nhân, trung tâmcho nhà nước như tiếng Việt trong lãnh thổ nước Vãn Lang thời xưa Mặtkhác, ở một số nơi, cùng với sự hình thành nhà nước là quá trình xuất hiện,xây dựng chữ viết (hoặc là tự sáng tạo, hoặc là vay mượn, cải biên, hoặc làtiếp thu hẳn một hệ thống của ngoại tộc)
Trang 37Người nắm được và sử dụng chữ viết lúc đó chủ yếu là các trí thứctrong tầng lớp thống trị, các tăng lữ thuộc các tôn giáo hoặc thương nhân(như ở Cận Đông và vùng Địa Trung Hải) Vì vậy, trong giai đoạn này ngônngữ nhà nước không phải ở nơi nào cũng đồng thời là ngôn ngữ của toàndân Thậm chí, khi nhà nước đã đạt tới trình độ quản lí tổ chức và tập trungcao (như trong chế độ phong kiến về sau chẳng hạn) thì cái gọi là ngôn ngữnhà nước, ngôn ngữ có tính chính thống thường cũng có nghĩa là ngôn ngữviết, phân biệt với ngôn ngữ nhân dân (là ngôn ngữ dùng trong giao tiếp rộngrãi hàng ngày) và có khi nó xa cách với ngôn ngữ nhân dân.
Điều này còn diễn ra cho tận đến lúc ngôn ngữ dân tộc dần dần chiếm
ưu thế trong mọi phạm vi giao tiếp của cả nước
Dầu sao thì sự ra đời của nhà nước cũng đã có ảnh hưởng đến ngônngữ Nó là nhân tố vừa đòi hỏi, vừa thúc đẩy việc tìm kiếm, xây dựng mộtngôn ngữ chính thức, thống nhất về phương diện quốc gia Dù có đồng thời làngôn ngữ toàn dân hay không
3 Nét nổi bật trong thời kì hình thành dân tộc là hình thành một ngônngữ dân tộc thống nhất
Dân tộc vốn là một phạm trù lịch sử, xuất hiện vào một giai đoạn nhấtđịnh, với những điều kiện và hoàn cảnh nhất định
Một trong những điều kiện quan trọng bắt buộc, để bảo đảm một cộngđồng người hình thành một dân tộc (ví dụ như điều kiện về lãnh thổ, về kinh
tế, về cấu tạo tâm lí và văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần…) là cộng đồng đóphải có một ngôn ngữ chung
Tuy nhiên, ngôn ngữ chính thức, thống nhất của nhà nước với ngônngữ thống nhất của dân tộc không phải bao giờ cũng trùng nhau Tình trạngnày hiện nay chúng ta vẫn còn quan sát được ở nhiều nước châu Phi: tại đó,
có nhiều ngôn ngữ của các dân tộc bản địa, nhưng ngôn ngữ nhà nước lại làmột thứ tiếng châu Âu nào đó, được phổ biến từ thời thực dân Ví dụ tiếngAnh ở Nigiêria, tiếng Pháp ở Mali và Ghinê…
Trang 38Dân tộc được hỉnh thành, làm tăng cường thêm sự thống nhất về nhiềumặt, trong đó có thống nhất ngôn ngữ Những dị biệt của ngôn ngữ mang tính
xã hội hoặc lãnh thổ giữa các bộ lạc, bộ tộc bị triệt thoái dân; còn những nétchung, thống nhất càng ngày càng được phát hiện, xây dựng và củng cố đểthành tài sản chung của tất cả mọi người
Thông thường, ngôn ngữ dân tộc có thể được xây dựng trên cơ sở củamột phương ngữ có sẵn (thường là phương ngữ ở vùng trung tâm kinh tế,chính trị, văn hóa trong quan hệ nhà nước) hoặc xây dựng trên cơ sở của cáctác động qua lại dẫn đến sự tổng hòa, có chọn lọc từ các phương ngữ khácnhau Ví dụ, có thể coi tiếng Việt với phương ngữ Bắc (mà trung tâm là haivùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã) thuộc trường hợp thứ nhất; còn tiếngNga với sự tổng hòa các phương ngữ Bắc Nga và Nam Nga cùng một phầntiếng Slave cổ, thuộc về trường hợp thứ hai
Tính thống nhất của ngôn ngữ dân tộc, tuy vậy, vẫn buộc phải chấpnhận tình trạng còn tổn tại những phương ngữ địa lí và phương ngữ xã hội
Đó là sự thực hiển nhiên mà chúng ta hoàn toàn có thể quan sát được thốngnhất trong cái đa dạng, và đa dạng trên một căn bản thống nhất Tiếng Việt,tiếng Hán, tiếng Khmer, tiếng Lào, tiếng Thái Lan cũng như tiếng Nga, tiếngPháp, tiếng Anh… đều như thế
Sự hình thành ngôn ngữ dân tộc thống nhất cũng sẽ thường dẫn đếnviệc xây dựng ngôn ngữ văn học (hiểu theo nghĩa rộng, không phải chỉ làngôn ngữ trong văn học nghệ thuật) Đó là thứ ngôn ngữ có quy chế, đượctrau dồi dù có chính thức hay không
Thật ra, quá trình hình thành ngôn ngữ dân tộc và xây dựng ngôn ngữvăn học (của dân tộc) không phải bao giờ cũng đi đôi với nhau hoặc tiếp liễnnhau Trong khi ở Hi Lạp cổ đại, ngôn ngữ văn học được xây dựng từ rất sớm(thế ki III trước Công nguyên) thì trước đầy và ngay cả thời gian không xa sovới hiện nay, ở nhiều nơi người ta dùng hẳn một ngôn ngữ khác (cùng vớichữ viết của nó) để làm ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ nhà nước Ngôn ngữvăn học như thế cũng đồng thời chỉ có nghĩa là ngôn ngữ viết Ngôn ngữ đó
Trang 39thường là của những dân tộc khác có nền văn hóa, văn học hết sức rực rỡ.Chẳng hạn một số nước Châu Âu dùng tiếng Latin; vùng Bắc Phi và Tiểu Á,một số nước dùng tiếng A Rập; còn vùng Lào, Thái Lan, Campuchia dùngtiếng Pali Sanskrit; Việt Nam dùng tiếng Hán…
Khi ngôn ngữ dân tộc dần dần khẳng định được vai trò và vị trí củamình, nó cũng sẽ được nhân dân tích cực trau dồi, làn cho có quy chế, cóchuẩn mực cả ở hình thức nói lẫn hình thức viết Do vậy, nó được dùng trongmọi lĩnh vực giáo dục, văn hóa văn học nghệ thuật, thông tin đại chúng… Từđây, ngôn ngữ dân tộc của nhân dân được lựa chọn, được suy chế hóa đểtrở thành ngôn ngữ văn học của dân tộc mình
4 Xem xét diễn tiến của ngôn ngữ loài người nói chung cũng như củamột ngôn ngữ nói riêng, hầu như người ta hiếm gặt những trường hợp biếnđổi và phát triển đơn tuyến Những điều trình bày trên đây, quả thực đã cóphần đơn giản hóa vấn đề rất nhiều để cho phù hợp với mục đích của chúngta: chỉ quan sát những đường hướng khái quát và giản lược nhất mà thôi
Dù sao thì ngôn ngữ cũng không bao giờ không biến đổi Chỉ có điều,khi khảo sát diễn tiến của bất kì ngôn ngữ nào cũng vậy cần lưu ý rằng:
a) Nó không phát triển, biến đổi theo phương thức đột biến và cáchmạng, mặc dù luôn luôn biến đổi không ngừng
b) Trong các quá trình biến đổi, do những tác động ảnh hưởng nhiềuchiều, nhiều kiểu của nhiều nhân tố trong và ngoài ngôn ngữ, thì ba mặt: ngữ
âm, từ vựng và ngữ pháp của nó vẫn không biến đổi đồng đều như nhau Đểthực hiện được chức năng làm công cụ giao tiếp và phản ánh, bảo đảm chomọi người sử dụng có thể hiểu được nhau, mặt từ vựng của ngôn ngữ baogiờ cũng thay đổi nhanh nhạy nhất, mặt ngữ âm biến đổi chậm hơn rất nhiều
so với từ vựng, còn ngữ pháp là bộ phận biến đổi chậm nhất và ít nhiều nómang tính cách của một nhân tố, một thành phần bảo thủ
Trang 40Đối với việc nghiên cứu quá trình phát triển lịch sử của ngôn ngữ nóichung hay từng mặt, từng bộ phận của nó nói riêng, nhận thức đó là mộttrong những điều rất có ý nghĩa và cần thiết.
Chương 4 PHÂN LOẠI CÁC NGÔN NGỮ
I CÁC NGÔN NGỮ TRÊN THẾ GIỚI VÀ CƠ SỞ PHÂN LOẠI
1 Hiện nay chưa có một ngôn ngữ chung cho tất cả mọi người trên tráiđất, mà chỉ có những ngôn ngữ riêng, cụ thể của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồngngười
Theo thống kê mới đây, trên thế giới có khoảng 5.650 ngôn ngữ Tuynhiên, con số này chưa phải là tuyệt đối chính xác, vì nó còn liên quan đếntiêu chí: thế nào là một ngôn ngữ độc lập Trong số ngôn ngữ vừa nêu, cókhoảng 1400 "ngôn ngữ” chưa phải là những ngôn ngữ độc lập hoặc đang cónguy cơ bị tiêu biến
Về mật độ phân bố, số lượng ngôn ngữ ở mỗi khu vực trên trái đất,cũng như số người sử dụng mỗi ngôn ngữ, rất không đồng đều Chẳng hạn,chỉ riêng khu vực rừng núi Đông Nam Á đã có tới 180 ngôn ngữ khác nhau(có thể nói đó là một mật độ rất dày) Ở châu Úc, khoảng 250 ngôn ngữ chỉ cókhoảng hơn 40.000 người sử dụng
Trong xu thế ngày càng mở rộng quan hệ giữa các dân tộc, các quốcgia từ trước đến nay và từ nay về sau, việc dạy và học tiếng luôn luôn đốnghành với những việc thuộc loại, phải đi trước một bước Mặt khác, nghiên cứulịch sử một dân tộc cũng không thể tách rời lịch sử ngôn ngữ của dân tộc đó.Bởi vậy, ngôn ngữ học đã lưu tâm nghiên cứu, so sánh, phân loại các ngônngữ để giúp tìm ra những con đường tối ưu cho công việc đó
2 Việc phân loại các ngôn ngữ có thể dựa vào những tiêu chí bênngoài chúng như: số lượng người nói, chủng tộc, ranh giới địa lí… Thế