PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO HUYỆN ĐỒNG PHÚTRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THUẬN LỢI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRONG GIỜ DẠY VĂN BẢN Người thực hiện: TRẦN THỊ THANH THUGiáo viên N
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO HUYỆN ĐỒNG PHÚ
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THUẬN LỢI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRONG GIỜ DẠY VĂN BẢN
Người thực hiện: TRẦN THỊ THANH THUGiáo viên Ngữ văn trường Trung học cơ sở Thuận Lợi
Đồng Phú- Bình Phước
Bình Phước, tháng 3 năm 2008
Trang 2SÁNG KIẾNKINH NGHIỆM
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRONG GIỜ DẠY VĂN BẢN
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Lí do chọn đề tài: Phân môn Văn là một trong ba phân môn thuộc môn Ngữ văn.Dạy phân môn này là dạy văn bản.Văn bản không chỉ phục vụ cho việc giảng vănmà cho cả môn Ngữ văn nói chung Chương trình Ngữ văn THCS chọn được nhữngvăn banû cùng lúc đáp ứng hoàn toàn yêu cầu của ba phân môn: văn, tiếng Việt, tậplàm văn Vi thế, dạy văn bản rất quan trọng Giáo viên(GV)là người bắc cầu nối giữavăn bản với học sinh (HS), người tạo ra sự hoà đồng giữa hai quá trình tác động củavăn bản và sự tiếp nhận các tác động thẩm mĩ của văn bản ở HS Khi GV và HS phântích một tác phẩm văn chương, GV bao giờ cũng là người hướng dẫn cho HS phân tíchvăn bản đó theo một quan điểm đã được định hướng để giúp từng bước hiểu được hệthống giá trị có trong văn bản Đây là quá trình truyền nội dung văn hóa vào thế giớitinh thần của HS Người GV có vai trò quyết định trong việc mở rộng và nâng caotầm đonù nhận của HS và giúp cacù em khắc phục khoảng cách giữa văn bản và bạnđọc Điều đó đòi hỏi GV phải có một phương pháp giảng dạy hiệu quả Một trongnhững phương pháp giảng dạy văn bản là việc xây dựng hệ thống câu hỏi trong giờdạy Hệ thống câu hỏi có vai trò quyết định trong việc tạo ra tình huống học tập để
HS phát triển tư duy năng lực tự học Nó vừa là định hướng vừa là công cụ giúp HStìm hiểu khám phá cái hay, cái đẹp của tác phẩm Không những thế, hệ thống câu hỏicòn giúp cho người GV đạt hiệu quả tối ưu trong giờ dạy, nâng cao chất lượng giảngdạy bộ môn Khó nhất là việc xây dựng hệ thống các câu hỏi giúp mọi đối tượng HSchủ động và tích cực học tập Kĩ thuật xây dựng hệ thống câu hỏi thông thường là dựatrên gợi ý của sách giáo khoa (SGK) và sách giáo viên (SGV) Nhưng trong thực tếsoạn giảng không thể bỏ qua việc xét năng lực thực có của HS Cách dạy mới “Tròchủ động” yêu cầu một câu hỏi, một vấn đề đưa ra phải có tác động đến nhiều HS,phải có nhiều HS suy nghĩ và trình bày ra điều mình nghĩ Do vậy, trong mỗi giờ họcvăn bản hêï thống câu hỏi phải được xây dựng như thế nào cho hợp lí vừa đảm bảotính khoa học vừa đáp ứng yêu cầu đặc trưng của bộ môn, đó là cả một vấn đề Trong thực tế giảng dạy văn bản hiện nay cho thấy conø có GV biến giờ dạy vănbản thành giờ hỏi đáp liên tục Có giờ chỉ đưa chủ yếu là câu hỏi phát hiện Câu hỏiphát ra đơn điệu, vụn vặt, khô khan, ít câu hỏi nêu vấn đề Trong giờ dạy có thầy cônói thật ít, hỏi thật nhiều, chỉ nghe, ít bình giảng Thường thì GV khi phân tích chi tiếtnghệ thuật hay đi theo một hệ thống câu hỏi gồm: phát hiện chi tiết, tìm dấu hiệunghệ thuật và phân tích dấu hiệu nghệ thuật đó Dường như trong suốt giờ dạy GV chỉsử dụng loại câu hỏi này, giống như một sự rập khuôn nhàm chán GV chưa khai thác,chưa kích thích tư duy HS và đặc biệt là chưa tạo ra một không khí văn chương tronggiờ học
Trang 3Chính vì những lí do trên bản thân tôi xin đề xuất một số kinh nghiệm xây dựng hệthống câu hỏi trong giờ dạy văn bản Kinh nghiệm này được đúc rút qua quá trìnhgiảng dạy của bản thân
2 Đối tượng nghiên cứu: Giáo viên dạy Ngữ văn, học sinh học môn Ngữ văn trườngTHCS Thuận Lợi, Đồng Phú, Bình Phước
3.Phạm vi nghiên cứu: Phân môn Văn thuộc môn Ngữ văn trường THCS
4.Thời gian nghiên cứu :Từ năm học 2005-2006 đến năm học 2007-2008
5.Mục đích nghiên cứu : Tìm ra những cách xây dựng hệ thống câu hỏi trong giờ dạyvăn bản để nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn, giúp HS tiếp thu kiến thứctốt hơn
6.Kế hoạch nghiên cứu: Điều tra thực trạng dạy và học môn Ngữ văn ở trườngTHCS Thuận Lợi từ năm học 2005-2006 đến năm học 2007-2008 Nghiên cứuchương trình Ngữ văn THCS nói chung và phân môn văn nói riêng Viết sáng kiếnkinh nghiệm và triển khai các sáng kiến đó cho các GV trong tổ chuyên môn Ngữvăn trường THCS Thuận Lợi Kiểm tra đánh giá kết quả sau khi đã triển khai
7 Phương pháp nghiên cứu: Điều tra kết quả dạy phân môn văn của các GV, kết quảhọc môn Ngữ văn của HS trong từng năm học, lấy số liệu từ sổ điểâm của các lớp, lấysố liệu về kết quả chất lượng bộ môn qua Ban Giám Hiệu nhà trường Đánh giá kếtquả giảng dạy của GV qua từng thời điểm, thống kê cụ thể chất lượng giờ dạy thaogiảng trong từng tháng của GV dạy văn Phân tích, đối chiếu kết quả trước và sau khitriển khai sanùg kiến kinh nghiệm
Phần II.NỘI DUNG ĐỀ TÀI
A.Cơ sở lí luận của đề tài
Trong giờ dạy văn bản, GV điều khiển hoạt động học, hoạt động tiếp nhận vănchương bằng một loạt các thao tác: dẫn dắt, gợi mở, phân tích, bình giảng cắt nghĩa,khái quát hoá, hệ thống hoá vấn đề Nghệ thuật và tài năng của GV là phải biếtphân bố thời gian phù hợp cho từng phần của bài giảng, lúc nào cần đặt cho HS suynghĩ, thảo luận, lúc nào cần gợi mở, dẫn dắt HS phân tích các hình thức nghệ thuậtđộc đáo của tác phẩm Tuỳ theo thể loại tác phẩm mà GV có cách đặt hệ thống câuhỏi khác nhau Trong bất kì tác phẩm văn chương nào hình tượng luôn là nơi hội tụcác chi tiết nghệ thuật, là nơi bộc lộ quan điểm cách nhìn, cách đánh giá hoặc pháthiện về con người, cách sống của mỗi tác giả.Chiều sâu của tác phẩm văn chươngchứa đựng cái chân, thiện, mĩ cũng như cái tâm, cái tài của nhà văn GV dạy vănmuốn xây dựng được hệ thống câu hỏi phù hợp phải nắm được các yếu tố này Ngoài
ra, muốn xây dựng được hệ thống câu hỏi đáp ứng yêu cầu của đổi mới phương phápdạy học văn bản người GV phải nắm vững phương pháp dạy văn Phương pháp pháthiện là tất yếu vì nếu nhà văn phản ánh hiện thực trong tác phẩm thì người đọc đi
Trang 4ngược lại từ những chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm, tái hiện cuộc sống khách quan.
Vì thế, câu hỏi phát hiện là loại câu hỏi hết sức cần thiết cho HS, giúp HS hình dung,tưởng tượng cuộc sống, con người qua tác phẩm văn chương Một phương pháp dạyvăn tiếp theo là phương pháp gợi tìm Điều mà mỗi người đọc quan tâm là tác giảmuốn gửi gắm điều gì qua tác phẩm? Các phương tiện nào được sử dụng để làm việcđó? GV phải sử dụng câu hỏi gợi tìm, nêu câu hỏi dẫn dắt HS đi qua từng chặngđường cho đến khi hoàn thành một khám phá, một phát hiện Sự gợi tìm chỉ có thể cókết quả khi tạo nên một hệ thống câu hỏi dẫn dắt Một phương pháp dạy văn bảncuối cùng là phương pháp nghiên cứu Tìm hiểu nội dung, nghệ thuật tức là nghiêncứu tác phẩm đó Muốn nghiên cứu đối tượng cần tập trung tiếp cận đối tượng (nhờđọc sáng tạo), hình dung được đối tượng rõ ràng (nhờ tái hiện), từng bước hiểu chínhxác tác phẩm (nhờ gợi tìm) Vì thế, muốn HS chiếm lĩnh được tác phẩm GV phải xâydựng hệ thống câu hỏi tốt, đó là một yếu tố quyết định sự thành công
B Thực trạng dạy và học phân môn văn ở trường THCS Thuận Lợi: Trường mới
được thành lập được 05 năm Qua khảo sát chất lượng bộ môn Ngữ văn của HS cònthấp so vơi yêu cầu Trong năm học 2006-2007 số HS khối 6 (đầu vào) học yếu mônvăn là 50%, cuối năm khối lớp này còn 30% HS yếu kém môn văn Chất lượngkhảo sát bộ môn Ngữ văn toàn trường đầu năm học 2007-2008 là 70% TB trở lên Tổchuyên môn Ngữ văn hầu hết là GV mới ra trường và chưa có kinh nghiệm giảngdạy Năm học 2003-2004 và năm học 2004-2005 tổ không có GV dạy văn có nănglực chuyên môn giỏi, GV có năng lực chuyên môn khá là 50%,ûtrung bình là 50%.Năm học 2005-2006 đến năm học 2007-2008 số GV có năng lực chuyên môn giỏi chỉcó 14,3% Trong các giờ thao giảng phân môn văn số giờ dạy xếp loại giỏi conø hạnchế, thậm chí có giờ dạy xếp loại yếu, trung bình Giờ dạy văn của các GV do chưacó kinh nghiệm nên hệ thống câu hỏi còn vụn vặt, đơn điệu, chủ yếu là câu hỏi pháthiện, không có câu hỏi nêu vấn đề, HS học văn không có sự hứng thú, thụ động, ítphát biểu, lười suy nghĩ… Những năm học gần đây nhờ đổi mới phương pháp giờ dạyvà học văn bản đã có sự tiến bộ nhưng không đáng kể
C Các giải pháp và kết quả đạt được
I Một số kinh nghiệm xây dựng hệ thống câu hỏi trong giờ dạy văn bản
Hệ thống câu hỏi trong một giờ dạy văn bản rất đa dạng, phù hợp với đổi mới phươngpháp dạy học GV nên thay đổi câu hỏi theo đặc trưng cụ thể của từng văn bản Cóthể xây dựng hệ thống câu hỏi theo các kiểu sau: Câu hỏi nhận biết ,phát hiện bảnchất các hiện tượng văn hocï; câu hỏi kích thích tư duy liên tưởng, tưởng tượng; câuhỏi tạo ấn tượng thẩm mĩ; câu hỏi phân tích dánh giá các hiện tượng văn học; câu hỏi
so sánh đối chiếu; câu hỏi rèn luyện kiến thức, kĩ năng lí luận văn học; câu hỏi tìmhiểu mối quan hệ giữa văn bản với các yếu tố ngoài văn bản; câu hỏi nêu vấn đề;câu hỏi tổng kết chung những vấn đề đặt ra trong tác phẩm
Trang 5I.1 Vai trò và cách đặt câu hỏi cho mỗi loại
1.Câu hỏi nhận biết, phát hiện bản chất các hiện tượng văn học:
Đây là loại câu hỏi phổ biến nhất trong quá trình giảng dạy văn bản Vì muốn
tìm ra cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương về nội dung cũng như nghệ thuậtcủa nó, trước hết cần phát hiện ra bản chất cuả các hiện tượng văn học để làm cơ sởcho phân tích và cảm thụ tác phẩm văn học Loại câu hỏi này giúp HS chỉ ra đượccác chi tiết nghệ thuật có ý nghĩa, cách thể hiện nhân vật, cốt truyện, kết cấu, thờigian, không gian nghệ thuật của tác phẩm Các câu hỏi này nhìn chung dễã, phù hợpvới đối tượng HS trung bình, yếu Tuy nhiên, trong giờ dạy không nên sử dụng nhiều
vì quá nhiều sẽ dẫn đến việc liệt kê các hiện tượng văn học trong một bài dạy chứkhông phải làm công việc đi tìm hiểu, phân tích một tác phẩm Khi đặt câu hỏi GVcũng không nên đặt theo một kiểu mà phải linh hoạt, thay đổi từ ngữ dùng để hỏi,tránh trùng lặp
Ví dụ :
Lớp 6, dạy bài “ Lượm” tuần 25 tiết 99
*Hình ảnh Lượm được miêu tả như thế nào qua cái nhìn của người kể chuyện?(Trang phục, hình dáng, cử chỉ, lời nói)
(Qua cái nhìn của người kể chuyêïn, hình ảnh Lượm được miêu tả cụ thể như sau:Trang phục: Cái xắc xinh xinh, ca lô đội lệch; hình dáng: loắt choắt, chân thoănthoắt; cử chỉ: Mồm huýt sáo vang.Như con chim chích Nhảy trên đường vàng, cườihíp mí; lời nói: Cháu đi liên lạc Vui lắm chú à… thích hơn ở nhà.)
Lớp 7, dạy bài “Mùa xuân của tôi” tuần 16 tiết 64
* Hãy tìm những câu văn gợi tả cảnh sắc và không khí mùa xuân Hà Nội, đất Bắc?(Đó là các câu văn “Mùa xuân của tôi- Mùa xuân Bắc Việt…là mùa xuân có mưa riêuriêu, gió lành lạnh, …có câu hát huê tình…đẹp như thơ, như mộng” )
Lớp 8, dạy bài “ Khi con tu hú” tuần20 tiết 78
* Em hãy nêu tên những sự vật mà tác giả Tố Hữu nhắc đến trong bức tranh mùa hè?(Đó là cánh đồng lúa chín, vườn râm, mảnh sân, bầu trời, trái cây, hạt bắp, tiếngchim tu hú, tiếng ve, tiếng sáo diều.)
Lớp 9, dạy bài “ Lặng lẽ Sa Pa” tuần14 tiết 66, 67
* Trước khi để ông hoạ sĩ và cô gái trẻ gặp mặt người thanh niên trên đỉnh Yên Sơn,anh được giới thiệu là người thế nào? Ý nghĩa nghệ thuật của việc giới thiệu đó?(Anh thanh niên được giới thiệu là người cô độc nhất thế gian, tuổi 27, làm nghề khítượng kiêm vâït lí địa cầu, từng sống bốn năm “ mộït mình trên đỉnh núi bốn bề chỉ cócây cỏ và mây mù lạnh lẽo”, đã từng hạ cây chắn ô tô vì “thèm người quá” Giớithiệu như vâïy làm cho mọi người đều có ấn tượng mạnh về nhân vật chính, làm chomọi người tò mò, thích thú khi trực tiếp được tiếp xucù trực tiếp với nhân vật.)
Trang 62 Câu hỏi phân tích, đánh giá các chi tiết trong tác phẩm:
Phân tích , đánh giá tác phẩm là hoạt động chứùa nhiều nhất sự đối thoại thật sự
giữa thầy và trò về tác phẩm, là lúc GV và HS thể hiện rõ nhất các phương thức phốihợp tiến hành phân tích các giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm cho đến chủđề tư tưởng của tác phẩm
Loại câu hỏi này ở trong bất kì giờ dạy văn bản nào cũng phải có Đây là loại câuhỏi giúp HS phân tích, đánh giá các chi tiết trong một tác phẩm, thường đi liền saucâu hỏi phát hiện Câu hỏi phân tích, đánh giá không có một kiểu hỏi riêng mà nó cóthể sử dụng rất nhiềâu cách, đa dạng và phong phú về nhiều cấp độ.Có thể dùng câuhỏi so sánh, đối chiếu, khái quát hoá, hệ thống hoá, cũng có thể dùng câu hỏi nhậnxét, đánh giá, câu hỏi gợi mở, câu hỏi chính, câu hỏi phụ v…v…Tất cả các câu hỏiđều hướng vào việc nhằm chỉ ra cái hay, cái đẹp, cái có ý nghĩa đích thực về nghệthuật, về tư tưởng của tác phẩm Ngoài những câu hỏi nêu nhiệm vụ một cách trựctiếp như “Hãy phân tích, nhận xét…” còn có thể lựa chọn cách diễn đạt khác
Vi dụ:
Lớp 6, dạy bài “Em bé thông minh” tuần 7 tiết 26
* Qua câu trả lời của em bé: “Ngựa của ông một ngày đi được mấy bước?”, Em cónhận xét gì về câu trả lời ấy? Tại sao câu bé không trả lời câu hỏi của quan mà lạihỏi vặn lại quan? (Hỏi vặn quan tức là cậu bé đẩy thế bí của mình về phía người đố.Trong thực tế số lượng “đường cày” cũng như số lượng “bước chân ngựa” có thểđếm được nhưng đó là những chuyện không ai làm, không ai để ý nên nó thành ra cáikhông thể biết được Câu bé không trả lời được nhưng lại trả lời bằng một câu hỏi màkhiến quan cũng không thể trả lời, vạch ra cái phi lí của việc đếm một sự vật khôngcần đếm Đây là cách giải đúng nhất đối với loại câu đố này.)
Lớp 7, dạy bài “ Xa ngắm thác Núi Lư” tuần 9 tiết 34
* Em hãy phân tích câu thơ đầu để thấy cách nhìn cảnh của tác giả có điều độc đáo?(Câu thơ đầu “Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên” (Mặt trời chiếu Hương Lô sinh lànkhói tía) miêu tả vẻ đẹp của núi Lư Núi như có mây bao phủ nên được gọi là núi LòHương Lí Bạch đã nhìn, đã tả cảnh ngọn núi sinh dòng thác Đây là cảnh rực rỡ dướiánh mặt trời, cảnh đang biến hoá do tác động của ánh sáng chiếu vào sương khói mà
“sinh” ra Khói của núi Hương Lô là muôn thuở, nhưng khói tía (tử yên) khói lunglinh sắc cầu vồng là khói nhìn qua con mắt nhà thơ Lí Bạch Đó là một cảnh tượnghùng vĩ, lộng lẫy, lung linh, huyền ảo Từ cái nhìn bao quát không gian tầng trên tácgiả cho ta thấy vẻ đẹp của dòng thác tiếp theo đó )
Lớp 8, dạy bài “Quê hương” Tuần 20 tiết 77
* Hãy phân tích nghệ thật của tác giả khi miêu tả cảnh con thuyền đánh cá ra khơi?(Con thuyền được so sánh với “con tuấn mã”, một so sánh hợp lí “Con tuấn mã” ấyđang “hăng”, một trạng thái đầy phấn chấn và mạnh mẽ Vì thế mà con thuyền
“phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang” Từ “phăng” đặt ở đầu câu thơ như
Trang 7thúc đẩy mái chèo và con thuyền băng băng trên sông dài Thuyền nhẹ, trai trángkhoẻ mạnh ra khơi đầy khí thế, sôi nổi và hào hùng Khi miêu tả cánh buồm, tác giảđã dùng biện pháp nhân hoá “Rướn thân trắng bao la thâu góp gió” Cánh buồm nhưmột sinh thể biết cử động và hơn thế nữa nó mang mảnh hồn của quê hương ra biển.Nhứng người dân chài là máu thịt của làng biển, là linh hồn của làng giờ theo conthuyền ra khơi Cánh buồm giờ thành biểu tượng của họ Cách miêu tả của Tế Hanhthật tinh tế và đặc sắc.)
Lớp 9, dạy bài “Viếng lăng Bác” tuần 24 tiết 117
* Trong hai câu thơ “Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim” có sử dụng hình ảnh “Trời xanh là mãi mãi”, em hãy nêu ý nghĩa của hình ảnh này? Tại sao tình cảm của tác giả bỗng nhiên đột biến “nghe nhói ở trong tim”? (“Trời xanh là mãi mãi” là một hình ảnh ẩn dụ chỉ công đức của Bác đối với mọi người là cao đẹp, vĩnh hằng Bác đã trở thành bất tử như bầu trời xanh kia vĩnh viễn tồn tại trên cao Câu thơ trên là nói về lí trí, nói lên cái chung, câu tiếp theo là tình cảm, bộclộ niềm riêng Lí trí nói rằng Bác đang ngủ giấc ngủ bình yên, Bác sống mãi, nhưng khi nhìn Bác nhà thơ không khỏi nhói đau một cảm giác: Bác không còn nữa, Bác không còn sống để nhìn nước nhà độc lập, thống nhất, ca khúc khải hoàn, Bắc Nam sum họp Sự đột biến ấy là tình cảm chân thành và xúc động nhất, là tình cảm bột phát khi lần đầu tiên nhà thơ thấy Bác Đó cũng chính là tình cảm của cả dân tộc dành cho Bác.) Lớp 9, dạy bài “Viếng lăng Bác” tuần 24 tiết 117
* Trong hai câu thơ “Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim”có sử dụng hình ảnh “Trời xanh là mãi mãi”, em hãy nêu ý nghĩa của hình ảnh này?Tại sao tình cảm của tác giả bỗng nhiên đột biến “nghe nhói ở trong tim”? (“Trờixanh là mãi mãi” là một hình ảnh ẩn dụ chỉ công đức của Bác đối với mọi người làcao đẹp, vĩnh hằng Bác đã trở thành bất tử như bầu trời xanh kia vĩnh viễn tồn tạitrên cao Câu thơ trên là nói về lí trí, nói lên cái chung, câu tiếp theo là tình cảm, bộclộ niềm riêng Lí trí nói rằng Bác đang ngủ giấc ngủ bình yên, Bác sống mãi, nhưngkhi nhìn Bác nhà thơ không khỏi nhói đau một cảm giác: Bác không còn nữa, Báckhông còn sống để nhìn nước nhà độc lập, thống nhất, ca khúc khải hoàn, Bắc Namsum họp Sự đột biến ấy là tình cảm chân thành và xúc động nhất, là tình cảm bộtphát khi lần đầu tiên nhà thơ thấy Bác Đó cũng chính là tình cảm của cả dân tộcdành cho Bác.)
3.Câu hỏi kích thích tư duy liên tưởng, tưởng tượng
Liên tưởng và tưởng tượng là những phẩm chất tư duy riêng biệt cần thiết cho sựtiếp nhận và cảm thụ văn chương Câu hỏi kích thích tư duy liên tưởng, tưởng tượngtrong giờ văn là những câu hỏi dựa trên đặc trưng của tư duy văn học, hướng vào mụcđích khai thác tính nghệ thuật và nội dung của tác phẩm Các câu hỏi này xuất hiệnsẽ làm thay đổi tình thái của giờ học, xác nhận tình trạng thực tại và đặt HS vào cácyêu cầu của việc nhận thức Câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng có thể xuyên thấm tất
Trang 8cả các hình thức hỏi, không phải tồn tại biệt lập, tách rời mà nó được đặt trong cấutrúc hệ thống câu hỏi sáng tạo của tiến trình dạy văn bản Để việc tiếp nhận của HSdiễn ra theo một quá trình liên tục, các câu hỏi liên tưởng , tưởng tượng còn phải cómối liên hệ với các câu hỏi trong SGK đã được HS chuẩn bị ở nhà Thực hiện điềuđó, việc tạo ra động lực tiếp nối dòng suy nghĩ liên tưởng của HS vừa kiểm tra kếtquả tự học, vừa góp phần tạo ra không khí văn chương trong giờ học.
Ví dụ:
Lớp 6, dạy bài “ Lượm” tuần 25 tiết 99
* Qua những hình ảnh nhà thơ miêu tả về chú bé liên lạc,em hình dung Lượm thếnào? (Đó là một chú bé nhỏ nhắn, nhanh nhẹn, đi làm liên lạc với cái xắc bé nhỏ bênhông, mũ ca lô thì đôïi lệch về một bên trông rất ngộ nghĩnh Cậu bé với đôi má đỏbồ quân, nụ cười híp mí, lời nói vui vẻ,hồn nhiên ấy nhanh nhẹn như một chú chimchích nhảy tung tăng trên đường vàng trông thật đáng yêu.)
Lớp 7, dạy bài “ Xa ngắm thác núi Lư” tuần 9 tiết 34
* Hình ảnh “Nước bay thẳng xuống ba ngàn thước Tửơng dải Ngân Hà tuột khỏimây” (Phi lưu trực há tam thiên xích Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên) gợi trong tâmtrí em điềâu gì? (Đó là hình ảnh dòng thác chảy từ độ cao ba nghìn thước đổ xuốngnhư bay Con thác treo đứng trước mặt khác nào như dòng sông Ngân từ trên trời rơixuống, bắc cầu nối giữa bầu trời và mặt đất Đây là một cảnh tượng rất kì vĩ, hàohùng, mãnh liệt, gợi tả sức sống mãnh liệt của thác nước Núi Lư.)
Lớp 8, dạy bài “Ông đồ” tuần 17 tiết 66
* Hình dung của em thế nào về ông đồ từ lời thơ “Ông đồ vẫn ngồi đấy Qua đườngkhông ai hay”? (Lời thơ gợi tả hình ảnh đáng thương của ông đồ Ông vẫn ngồi ở chỗấy, cái chỗ cũ trên hè phố đông người qua Nhưng lúc này, ông ngồi âm thầm, lặnglẽ Mọi người qua đường không ai để ý đến ông, không ai hay sự tồn tại của ông bênhè phố, họ thờ ơ trước một ông già nhỏ bé ngồi bên nhừng xấp giấy đỏ không cònthắm, giữa nghiên mực còn đọng nhứng nỗi sầu , giữa những chiếc lá vàng rơi trongtrời mưa bụi Ông cô đơn, lạc lõng giữa phố phường, hoàn toàn bị lãng quên.)
Lớp 9, dạy bài “Mùa xuân nho nhỏ” tuần 24 tiết 116
* Trong câu thơ “Từng giọt long lanh rơi”, em tưởng tượng “giọt long lanh” là giọtgì? (“Giọt long lanh có thể là giọt nắng mùa xuân, giọt sương rơi, giọt mưa xuân, giọtnước mắt của nhân vật trữ tình trước mùa xuân, cũng có thể hiểu là giọt âm thanh củatiếng chim chiền chiện, giọt màu sắc Đây là một hình ảnh gây ấn tượng mạnh vì nógợi cảm liên tiếp từng giọt, từng giọt thấm dần vào đôi bàn tay người hứng.)
4 Câu hỏi tạo ấn tượng thẩm mĩ
Như ta đã biết văn học là loại hình nghệ thuật được sáng tạo bằng ngôn từ Ngônngữ là chất liệu chủ yếu tổ chức nên tác phẩm Ngôn ngữ vừa là phương tiện thẩm
mĩ, vừa là yếu tố làm nên chính giá trị của tác phẩm Dạy văn phải có hệ thống câuhỏi tạo ấn tượng thẩm mĩ để giúp HS bình giá được giá trị thẩm mĩ của các yếu tố
Trang 9ngôn từ trong tác phẩm như cách dùng từ, cách kết hợp, cách bài trí hình ảnh, cáchthiết lập các quan hêï ngữ pháp, quan hệ liên tưởng, giá trị hình tượng và biểu cảmcủa chúng.
Đây là loại câu hỏi phát huy chủ thể sáng tạo của HS phù hợp với tâm lý tuổi thơyêu, ghét rạch ròi Vì thế trong quá trình lên lớp một giờ dạy văn bản, loại câu hỏinày không thể thiếu được Cần cho HS hiểu qua việc sử dụng từ ngữ, xây dựng hìnhảnh của tác giả đã gợi cho HS có suy nghĩ gì, có ấn tượng, cảm xúc như thế nào?
Ví dụ
Lớp 6, dạy bài “Cô Tô” tuần 26 tiết103,104
* Hãy đọc đoạn văn miêu tả cảnh mặt trời mọc trên biển và phát biểu cảm nghĩ của
em về cách dùng từ ngữ hình ảnh miêu tả khung cảnh ấy? Qua đó em hay khái quátlại cảnh bình minh trên đảo Cô Tô? (Trước hết, tác giả miêu tả chân trời , ngấn bểsạch như tấm kính lau hết mây, hếtá bụi, đó là một hình ảnh so sánh gợi tả chân trờiđằng đông sau khi cơn bão đi qua Tiếp theo, để miêu tả mặt trời, nhà văn dùng phépnhân hoá, tính từ “tròn trĩnh” “phúc hậu”, phép so sánh “mặt trời” “như lòng đỏ mộtquả trứng thiên nhiên đầy đặn” đã miêu tả chính xác về hình dáng tròn trịa, đầy đặncủa mặt trời lúc mới mọc Hình ảnh ẩn dụ, so sánh, các tính từ miêu tả trong đoạn
“quả trứng hồng hào thăm thẳm và đường bệ đặt lên một cái mâm bạc đường kínhrộng bằng cả một cái chân trời ngọc trai màu nước biển hửng hồng “đã thể hiện đượcvẻ đẹp tráng lệ, kì vĩ, màu sắc rực rỡ, tươi sáng của mặt trời mọc trên biển Cảnhđược miêu tả trong đoạn văn là cảnh bình minh trên biển, là một bức tranh tuyệt đẹp,rực rỡ và tráng lệ.)
Lớp 7, dạy bài “ Tiếng gà trưa” tuần 14 tiết 54
* Em hãy nhận xét ý nghĩa của từ “Vì” được lặp lại liên tiếp trong khổ thơ cuối?(Việc lặp lại liên tiếp từ “Vì” (Điệp từ) có tính chất khẳng định niềm tin rất chân thậtvà chắc chắn của người cháu về mục đích chiến đấu hết sức cao cả: “Vì tình yêu Tổquốc” nhưng cũng hết sức bình dị: “Vì tiếng gà cục tác Ổ trứng hồng tuổi thơ”)
Lớp 8, dạy bài “ Tức nước vỡ bờ” tuần 3 tiết 9
* Hãy trình bày suy nghĩ cuả em về cách sử dụng từ ngữ, giọng văn của Ngô Tất Tốqua đoạn văn miêu tả sự ra tay của chị Dậu đối với tên cai lệ và người nhà lí trưởng?(Nhà văn sử dụng từ ngữ miêu tả, “túm ngay cổ”, “ấn giúi ra cửa” “ngã chỏng quèo”đã làm nổi bật sức mạnh ghê gớm của chị Dậu và hình ảnh bất lực của tên cai lệ khi
bị chị ra đòn bất ngờ Tác giả conø dùng giọng văn pha chút hài hước để miêu tả sự ratay của chị với tên người nhà lí trưởng: “Sức lẻo khẻo của anh chàng nghiện chạykhông kịp với sức xô đẩy của người đàn bà lực điền… kết cục anh chàng hầu cận ông
lí yếu hơn chị chàng con mọn, bị chị này túm tóc lẳng cho một cái, ngã nhào rathềm” Những động từ, tính từ lấy nguyên vẹn trong khẩu ngữ bình dân và cách gọi,giọng văn hài hước chẳng những làm cho sự miêu tả thật sống động mà conø toát lên
Trang 10không khí hào hứng đặc biệt Đằng sau những dòng chữ ấy thấp thoáng ánh mắt tươicười, hài hước của tác giả.)
Lớp 9 dạy bài “Bếp lưả” tuần 12 tiết 57
* Ở cuối khổ thơ thứ năm, tác giả dùng từ “ngọn lửa” mà không dùng từ “bếp lửa”,điều đó có ý nghĩa gì? (Trong bài thơ có 7 lần nhà thơ trực tiếp nói đến “bếp lửa”riêng ở cuối khổ thơ thứ năm, nhà thơ không nói đến “bếp lửa” mà dùng là “ngọnlửa”
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng
Sự chuyển hoá hình ảnh thơ từ “bếp lửa” sang “ngọn lửa” là hợp lí và cóù ý nghĩamới Nói “bếp lửa” là nói đến vật hữu hình, cụ thể của mỗi gia đình, gần gũi, thânquen với người dân ngàn đời và đặc biệt gắn bó với hai bà cháu trong bài thơ Từ đó,rất tự nhiên, trong cảm nhận, người cháu liên tưởng tới “ngọn lửa” vô hình “Mộtngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn” chính là tình bà nồng đượm, đã ấp ủ, sưởi ấm lòng cháuqua những năm tháng của cuộc đời Tình bà như ngọn lửa thắp sáng niềm tin chocháu, một niềm tin bất diệt “một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng” Như vậy, “ngọnlửa” đã trở thành một ẩn dụ chỉ tình bà
Lớp 9 dạy bài “ Sang thu” tuần 25 tiết 121
* Hãy viết một đoạn văn trình bày cảm nhận của em về hình ảnh đất trời sang thuđược tác giả thể hiện qua khổ thơ đầu? (Mùa thu đến với nhà thơ khá đột ngột, khônghẹn trước Bắt đầu không phải là hình ảnh trời mây hay sắc vàng của hoa cúc nhưtrong thơ viết về mùa thu xưa mà bắt đầu là bằng hương ổi chín thơm phả vào tronglàn gió hơi se lạnh Gió thu đem hương ổi lan toả khắp nơi Nhứng dấu hiệu đặc trưngcủa mùa thu đều hiện diện nhưng tác giả lại viết “Hình như thu đã về” Cái chính là
do sự bất ngờ, đột ngột mà tác giả đã thể hiện qua từ “Bỗng” ở câu thơ trên Do bấtngờ nên tạo ra cái cảm giác mơ hồ mách bảo thu về mà vẫn chưa thể tin Đó là mộtấn tượng tổng hợp từ cảm giác riêng về hương, về gió, về sương Từ hương nhận ragió, từ gió nhận ra sương Nhưng từ khi phát hiện ra sương chùng chình qua ngõ thìtrong sương cũng có hương, có gió và có cả tình Sương chùng chình hay chính là sựlưu luyến, bâng khuâng, ngập ngừng, bịn rịn? Phút giây giao mùa ấy của thiên nhiênnhìn thấy rồi cảm thấy rồi mà vẫn bất ngờ, chưa tin Câu thơ cuối như là một câu hỏilại mình để có một sự khẳng định.)
5 Câu hỏi so sánh, đối chiếu các hiện tượng văn học
Khi phân tích một tác phẩm, đặc biệt là khi hướng dẫn HS phân tích nội dung,nghệ thuật của tác phẩm, GV thường chú ý đến phương pháp so sánh vì có so sánhmới thấy hết được cái hay ,cái đẹp của một hình tượng văn chương Đây là phươngpháp phân tích văn học khá phổ biến và rất hiệu quả Khi sử dụng loại câu hỏi nàycần chú ý đến mục đích hỏi: so sánh làm nổi bật sự tương đồng và khác biệt vớinhững hình tượng văn chương gần gũi; so sánh làm nổi bật cấu trúc tác phẩm tức là so
Trang 11sánh các yếu tố trong nội bộ tác phẩm; so sánh để phát hiện các hiện tượng và bảnchất văn học, để làm nổi bật cấu trúc, nghệ thuật của tác phẩm GV chú ý yêu cầu
HS tránh thoát li tác phẩm, đẩy sự phân tích văn bản sang khía cạnh xã hội học Khi
so sánh không được xa rời với chủ đề của tác phẩm, phải hướng tới làm sáng rõ tínhmạch lạc, tính chỉnh thể của tác phẩm, vì vậy chỉ so sánh với chi tiết nào có ý nghĩavới việc làm sáng tỏ chủ đề tư tưởng mà thôi
Ví dụ:
Lớp 6, dạy bài “Con hổ có nghĩa” tuần 15 tiết 59
*Chuyện con hổ thứ hai so với chuyện con hổ thứ nhất có thêm ý nghĩa gì về sự biết
ơn của con hổ?
A Đền ơn ngay người đã giúp mình B Đền ơn khi ân nhân còn sống
C Đền ơn trong nhiều năm D Đền ơn mãi, ngay cả khi ân nhân đã mất
Đáp án D đúng.
Lớp 7, dạy bài “Cảnh khuya”, “Rằm tháng giêng” tuần 12 tiết 45
*Em hãy chỉ ra điểm giống và khác nhau về nội dung và hình thức thể hiện của haibài thơ?
+ Giống nhau: Cả hai bài thơ đều viết theo thể thơ tứ tuyệt, cùng kết hợp miêu tả vớibiểu cảm, đều viết về thiên nhiên (đêm trăng đẹp) và thể hiện tình yêu thiên nhiêngắn liền với tình yêu nước và phong thái lạc quan của Bác
+ Khác nhau: - Bài thơ “Cảnh khuya” được viết bằng chữ quốc ngữ, viết vào năm
1947, lúc này cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của ta conø mới ở giai đoạn đầu,còn gặp nhiều khó khăn Cảnh miêu tả trong bài thơ là cảnh đêm trăng ở chiến khu.Cảnh trăng lung linh huyền ảo, nhiều tầng lớp, có màu sắc, có âm thanh Hình ảnhBác trong bài thơ là hình ảnh một con người đang lo nỗi nước nhà với bao công việcngổn ngang Nhà thơ yêu thiên nhiên, nhưng vì kháng chiến còn gặp nhiều khó khănnên phải nén niềm vui lại
- Bài “Rằm tháng giêng” Bác viết bằng chữ Hán, vào thời gian 1948, thời điểmchiến dịch Việt Bắc của ta đạt nhiều thắng lợi Bài thơ miêu tả cảnh sông nước hoàlẫn vào nhau trong ánh trăng chan hoà, xoá nhoà mọi ranh giới sự vật Tự phong cảnhnày đã có một cái gì rất vui và tự do Con người trong cảnh là Bác và các đồng chícủa Người đang “bàn bạc việc quân” Tuy vậy, cảnh trăng đẹp làm cho con ngườicảm thấy thi vị, vui sướùng Đây cũng là niềm vui trước viễn cảnh mới của cuộc khángchiến Bài thơ thứ hai vui hơn, vì kháng chiến đã thắng lợi nhiều hơn
Lớp 8, dạy bài “Ông đồ” tuần17 tiết 66
*Hình ảnh ông đồ trong hai khổ thơ 3, 4 có gì giống và không giống với hình ảnhông ở hai khổ thơ đầu?
+ Giống nhau: Địa điểm xuất hiện của ông đồ vẫn như cũ, trên hè phố Thời giancũng vào lúc xuân sang Nhân vật và cảnh vật vẫn là ông đồ, giấy, mực, nhữngngười qua đường
Trang 12+ Khác nhau: Nếu như ở hai khổ thơ trước ông đồ vui vẻ đưa tay thảo những nétchữ đẹp, mềm mại, tài hoa trong sự tán thưởng của bao người thì ở hai khổ thơ nàykhông còn người thuê viết, ông đồ ngồi lặng lẽ bên những tờ giấy đã không còn sắcthắm, mực đọng, nghiên sầu.
Lớp 9 dạy bài”Kiều ở lầu Ngưng Bích” tuần 7 tiết 31
* Em hãy chỉ ra sự khác nhau trong nghệ thuật tác giả miêu tả nỗi nhớ của ThúyKiều? (Khi miêu tả nỗi nhớ Kim Trọng, nhà thơ dùng từ “tưởng” (Tưởng người dướinguyệt), “tưởng” ở đây là tưởng tượng, hồi tưởng, tơ tưởng Kiều đau đớn khi nhớ tớiKim Trọng, nhớ lời thề nguyền dưới trăng hôm nào, đau đớn nghĩ tới cảnh chàng KimTrọng không hay biết nàng giờ đâây đã bơ vơ nơi chân trời góc bể, chàng vẫn ngàyđêm ngóng chờ tin tức của chàng Còn khi miêu tả nỗi nhớ cha mẹ của Kiều), tác giảlại dùng từ “xót” (Xót người tựa cửa) Kiều xót xa, xót thương cho cha mẹ ngày đêmtựa cửa chờ tin con, xót xa khi song thân già yếu không biết ai là người thay nàngchăm sóc Có thể nói, cách dùng từ đó của Nguyễn Du rất phù hợp với hoàn cảnh,tâm trạng của Kiều
6.Câu hỏi tái hiện kiến thức, kĩ năng văn học đã có
Tái hiện là phương pháp phổ biến nhất trong giờ học văn Theo PGS Vũ Nho “Nóvừa là sự hình dung, tưởng tượng mà còn bao gồm cả cách hình dung, tưởng tượngnữa Chính vì vậy, việc tìm hiểu tiểu sử tác giả, việc tìm hiểu hoàn cảnh ra đời củatác phẩm, việc nhắc lại những chi tiết nghệ thuật quan trọng chính là nhằm tái hiệncuộc sống để tìm ra qui luật cảm nhận và phản ảnh của tác giả” Người GV khi xâydựng loại câu hỏi tái hiện kiến thức, kĩ năng văn học đã có cần phải khái quát, phảihệ thống hoá lại các đơn vị kiến thức về văn, tiếngViệt, tập làm văn đã học trước đó,khéo léo dẫn dắt HS tái hiện Đây là loại câu hỏi giúp HS tái hiện lại tác phẩm, hệthống nhân vật, các tình tiết, chi tiết nghệ thuật quan trọng đã học để từ đó khắc sâu,nâng cao nhận thức cho HS, giúp HS hệ thống hoá được kiến thức
Ví dụ:
Lớp 6, dạy bài “ Lao xao” tuần 29 tiết 114
*Các biện pháp tu từ nào mà em đã học được sử dụng nhiều trong văn bản?
A Nhân hoá B So sánh C Ẩn dụ D Cả A, B, C đều đúng
Đáp án đúng: D
Lớp 7 dạy bài “ Tiếng gà trưa” tuần14 tiết 53
* Đọc và tìm hiểu bài thơ “Tiếng gà trưa” trước ở nhà, em hãy nêu ý kiến củamình về thể thơ của bài thơ này và nhắc lại tên một số bàt thơ có cùng thể thơ với nómà em đã được học ở các bài trước? (Bài thơ viết theo thể thơ ngũ ngôn, xen kẽ mộtsố câu thơ ba tiếng Thể thơ này mỗi câu có năm chữ, vần gieo ở cuối câu Các bàithơ ngũ ngôn đã học là “Phò giá về kinh” , “Tĩnh dạ tứ”, “Đêm nay Bác không ngủ”)
…
Lớp 8, dạy bài “Ngắm trăng” tuần22 tiết 85
Trang 13* Em biết trong thơ Bác còn có những bài nào viết về trăng? Hãy kể tên nhữngbài thơ trăng của Bác mà em đã được học và đọc thêm? (Trong thơ Bác có nhiều bàiviết về trăng, đó là các bài thơ Người viết ở trong tù, trong khi hoạt động cách mạng :Trung thu, Cảnh khuya, Rằm tháng giêng, Tin thắng trận,…)
Lớp 9 dạy bài “ Mã Giám Sinh mua Kiều” tuần 8 tiết 37
* Khi miêu tả tâm trạng Kiêu tác giả đã sử dụng lại bút pháp nghệ thuật gì mà
em đã học trong bài “Chị em Thuý Kiều”? Hãy nêu tác dụng của bút pháp ấy trongviệc thể hiện tâm trạng Kiều? (Nguyễn Du lại sử dụng bút pháp ước lệ khi tả Kiều.Đó là lấy vẻ đẹp của thiên nhiên để gợi tả vẻ đẹp của con người, ngôn từ mĩ lệ.Trước tình cảnh phải bán mình chuộc cha, Kiều đau khổ vô bờ Nàng ngại ngùng, engại, lo lắng, mỗi bước đi của người đẹp là bao hàng lệ nhỏ “Thềm hoa một bươc, lệhoa mấy hàng” Nàng buồn bã, tủi hổ, câm lặng, chấp nhận tất cả “Nét buồn nhưcúc, điệu gầy như mai”)
7.Câu hỏi tìm hiểu mối quan hệ giữa văn bản với các yếu tố ngoài văn bản
Yếu tố ngoài văn bản là tác giả, hoàn cảnh sáng tác, hiện thực đời sống mà tácgiả phản ánh … Đây là những vấn đề góp phần đánh giá thành công một tác phẩmvăn học Khi phân tích, nếu giúp HS hiểu thêm được về tác giả, hoàn cảnh sáng tác,hiện thực đời sống phản ánh trong tác phẩm sẽ giúp HS hứng thú hơn, hiểu kĩ hơn vềtác phẩm.Vì vậy, GV cần phải lưu ý sử dụng trong giờ dạy loại câu hỏi này Đồngthời, thông qua đó GV bổ sung thêm cho HS một số thông tin liên quan đến văn bản
Ví dụ:
Lớp 6 dạy bài “Đêm nay Bác không ngủ” tuần24 tiết 93
*Nêu hiểu biết của em về hoàn cảnh ra đời bài thơ? (Bài thơ được Minh Huệ viếtvào năm 1951 Sau khi nghe một anh bạn kể mẩu chuyện về Bác Hồ tham gia chiếndịch Biên giới Cao-Bắc-Lạng năm 1950, cảm động quá, nhà thơ đãõ viết bài thơ nàyvới tấm lòng kính yêu, trân trọng.)
Lớp 7, dạy bài Bạn đến chơi nhà” tuần8 tiết 30
*Sau khi học xong bài thơ, em thử dự đoán người bạn của tác giả là người như thếnào? (Đó là một người bạn có thể nói là tri âm, tri kỉ với tác giả Người bạn này hiểurất rõ về tính cách của bạn mình nên nhà thơ mới có thể có những vần thơ hóm hỉnhvà chân thành đến vậy.)
- GV bổ sung thêm thông tin: Người bạn đến chơi nhà Nguyễn Khuyến tên là DươngKhuê Đây là người bạn cùng làm quan, cũng là bạn thơ của tác giả Tính đến thờiđiểm gặp nhau hôi ấy, tình bạn của họ đã gắn bó trên 30 năm Thời gian đó đủ chứngminh cho tình sâu, nghĩa nặng giữa hai người Lúc này Nguyễn Khuyến cáo quan về
ở ẩn Sau bao ngày xa cách, Dương Khuê không quản đường xá xa xôi đã đến thămbạn, Nguyễn Khuyến vui mừng khôn xiết, cảm động viết bài thơ này Bốn năm saucuộc gặp gỡ này Dương Khuê mất, Nguyến Khuyến cũng đã viết một bài thơ khócbạn là bài “Khóc Dương Khuê”