1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ứng dụng CNTT trong giảng dạy môn Ngữ Văn lớp 7 - GV: Hà Thị Anh Thơ

24 1,1K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Trong Giảng Dạy Môn Ngữ Văn Lớp 7
Tác giả Hà Thị Anh Thơ
Người hướng dẫn Giáo viên: Hà Thị Anh Thơ
Trường học Trường THCS Nguyễn Đức Cảnh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2008-2009
Thành phố Đồng Triều
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 17,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với chương trình và sách giáo khoa mới, giáo viên có thể phát huy tínhtích cực chủ động của học sinh trong việc tiếp cận lĩnh hội tri thức mới, đặc biệtđi sâu nhấn mạnh vào mối quan hệ g

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐÔNG TRIỀU

TRƯỜNG THCS NGUYỄN ĐỨC CẢNH

  

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “ Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạymôn ngữu văn lớp 7 THCS”

Tác giả: Hà Thị Anh Thơ Tổ: Văn-Sử-Ngoại ngữ NĂM HỌC 2008-2009

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

I 1 - LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Năm học 2008- 2009 là năm học tiếp tục thực hiện nghị quyết số40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, nghị quyết số41/2000/QH10 về phổ cập giáo dục trung học cơ sở, chỉ thị số 06-CT/TW ngày07/ 11/2006 của Bộ chính trị Trung ương Đảng về cuộc vận động “Học tập vàlàm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chỉ thị số 33/2006/CT - TTg ngày08/9/2006 của thủ tướng chính phủ về “ Chống tiêu cực và khắc phục bệnh thànhtích trong giáo dục”, cuộc vận động “ Hai không” Là năm học thực hiện chủ đề

“Năm học đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới quản lý tài chính vàtriển khai phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” do BộGiáo dục đào tạo phát động

Theo định hướng đổi mới chương trình giáo dục THCS, các môn học ở bậcTHCS có quan hệ chặt chẽ với nhau và đều có những thay đổi, có lẽ môn Ngữvăn là môn có sự thay đổi nhiều nhất Điều đó có nghĩa bởi môn Ngữ văn là mônhọc chiếm vị trí quan trọng, có tác động tích cực đến hoạt động của các môn họckhác và ngược lại

Mục tiêu tổng quát của môn Ngữ văn trong nhà trường THCS đã nêu rõ: “ Môn Ngữ văn góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn phổthông cơ sở, có ý thức tự tu dưỡng, biết thương yêu quí trọng gia đình bè bạn, cólòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tư tưởng tình cảm caođẹp Đó là những con người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo,bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân - thiện - mĩ trong nghệ thuật, trướchết là trong văn học Có năng lực thực hành, năng lực sử dụng tiếng Việt như mộtcông cụ để tư duy giao tiếp Đó cũng là những con người có ham muốn đem tàitrí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”

Để đạt được những mục tiêu trên, việc áp dụng quan điểm tích hợp vào việcbiên soạn chương trình sách giáo khoa và phương pháp dạy học đã được tiếnhành trong những năm qua và đã đạt được những kết quả nhất định

Trang 3

Với chương trình và sách giáo khoa mới, giáo viên có thể phát huy tínhtích cực chủ động của học sinh trong việc tiếp cận lĩnh hội tri thức mới, đặc biệt

đi sâu nhấn mạnh vào mối quan hệ gắn bó giữa ba phần Văn bản Tiếng việt Tập làm văn trong cùng một đơn vị bài học

Về phương pháp giảng dạy Ngữ văn theo quan điểm tích hợp, bên cạnhviệc chú ý cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học đặc thù của từng phânmôn, lại phải vừa khai thác những yếu tố chung của 3 phân môn Đồng thời cầnchú ý hình thành và rèn luyện các kĩ năng cho học sinh, đặc biệt là các kĩ năngnghe, đọc, viết, nói, đặt trong mối tương quan giữa 3 phần như đã nói ở trên Xuất phát từ đó, trong quá trình vận dụng thực tế phương pháp dạy họcngười giáo viên phải sáng tạo Thay cho phương pháp dạy học thụ động nhưtrước đây là phương pháp dạy học tích cực Trong đó thày chỉ giữ vai trò là người

tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động lĩnh hội tri thức và kiểm tra, đánh giá kếtquả hoạt động của các em, còn học sinh với vai trò là chủ thể của hoạt động lĩnhhội Các em hoàn toàn chủ động, tích cực trong việc tự nghiên cứu, thảo luận,phát hiện kiến thức và thể hiện, đồng thời tự kiểm tra kết quả hoạt động của mìnhtrên cơ sở hướng dẫn của giáo viên Muốn làm tốt được điều đó, trong mỗi giờhọc, giáo viên cùng học sinh phải thực hiện hài hoà các khâu, các bước Đặc biệt

để tổ chức cho học sinh lĩnh hội tri thức một cách có hiệu quả, người giáo viênphải sáng tạo, sử dụng linh hoạt và phù hợp các phương pháp, hình thức tổ chứcdạy học

Trong năm học này việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học được

Bộ Giáo dục Đào tạo quan tâm và đã đưa vào những nhiệm vụ trọng tâm củanăm học Đó là việc làm hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển chung của thờiđại công nghệ hiện đại Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, tôi cũng rất quantâm đến việc thực hiện nhiệm vụ này Ngay từ đầu năm, tôi đã suy nghĩ và lựachọn chuyên đề: Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Ngữ văn ở khối lớpmình được phân công giảng dạy: khối 7 Qua quá trình giảng dạy môn Ngữ vănlớp 7 trong năm học này, tôi nhận thấy học sinh có khả năng lĩnh hội kiến thứctương đối tốt, có hứng thú cao với việc học tập nghiên cứu bộ môn Bên cạnh đó,

Trang 4

học sinh là con em công nhân vùng mỏ, có điều kiện học tập tốt: về thời gian, về

sự quan tâm của gia đình trong việc mua sắm đồ dùng học tập, tài liệu thamkhảo…Đồng thời, các em có vốn từ vựng phong phú, có năng lực giao tiếp tươngđối tốt Về các kỹ năng của bộ môn các em thường xuyên được rèn luyện kỹ năngnghe, đọc, nói, viết Xong điều mà tôi quan tâm và băn khoăn là khi thực hiệnứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học với một số học sinh còn mới mẻ, liệucác em có hứng thú học tập để chiếm lĩnh tri thức, tạo không khí giờ học sôi nổi

để tiết học đạt hiệu quả hay không? Và để có câu trả lời đó, ngay từ đầu nămhọc, tôi đã đi sâu nghiên cứu và ứng dụng công nghệ thông tin trong các giờ dạygóp phần nâng cao chất lượng và bước đầu đã thu được kết quả tốt

I 2 - MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Khi nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại vào giờ dạy, tôimuốn cung cấp cho học sinh được nhiều kiến thức liên quan đến bài giảng quacác ví dụ minh hoạ, khắc sâu những kiến thức cơ bản cho HS, tạo cho học sinh

có hứng thú cao trong quá trình nghiên cứu, lĩnh hội các kiến thức mới, tái tạocác kiến thức cũ HS được chủ động làm việc nhiều hơn với các kiến thức, cácyêu cầu mà GV đưa ra Đồng thời GV có thể liên kết với các phần mềm khác làmcho bài dạy sinh động GV sẽ tiết kiệm được thời gian ghi bảng phụ, dành thờilượng bao quát các hoạt động khác của HS Giờ học sôi nổi, khoảng cách giữa

GV và HS bị thu hẹp, tạo không khí giờ học thân thiện hơn

I.3 - THỜI GIAN ĐỊA ĐIỂM:

Khi nghiên cứu áp dụng chuyên đề này, trong năm học 2008 – 2009 tôi đã lựa chọn đối tượng học sinh khối lớp 7 trường T.H.C.S Nguyễn Đức Cảnh và ở môn được phân công giảng dạy: Ngữ văn 7

I.4- ĐÓNG GÓP VỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN:

Đi sâu nghiên cứu việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào dạy học, giáo viêngiúp các em học sinh có điều kiện tốt hơn trong việc tự nghiên cứu, tiếp nhận và vận dụng kiến thức Qua sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh phải có được những kĩ năng cơ bản để có thể đáp ứng được những yêu cầu của giờ học, từ đó

Trang 5

tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh hình thành kiến thức kĩ năng của môn học sao cho đạt hiệu quả cao nhất

Trên thực tế, để có thể hình thành được những kiến thức, kĩ năng cho họcsinh không phải là một việc làm đơn giản, không thể đạt được hiệu quả trong thờigian ngắn Bởi vậy, công việc này đòi hỏi người giáo viên phải thực sự tâm huyếtvới nghề nghiệp, có lòng kiên trì, nhẫn nại, mới có thể mang lại những thànhcông Bên cạnh đó, thì ý thức, sự say mê hứng thú từ phía người học cũng gópphần không nhỏ để đưa đến hiệu quả công việc, bởi quá trình dạy, học là một quátrình có sự tác động đa chiều giữa người học và người dạy Như đã nói ở trên,thày chỉ đóng vai trò hướng dẫn, tổ chức giúp học sinh lĩnh hội tri thức, rèn luyện

kĩ năng, còn trò đóng vai trò chủ động lĩnh hội, biến những tri thức của thày,những con chữ im lặng trên sách vở thành tri thức của riêng mình, trên cơ sở đó

mà hình thành những kiến thức, kĩ năng cơ bản Vì thế, ứng dụng công nghệthông tin trong dạy học nói chung, phân môn Ngữ văn nói riêng vô cùng quantrọng và cần thiết, là việc nên làm thường xuyên đối với bất kì một giáo viênnào trực tiếp làm công tác giảng dạy

II PHẦN NỘI DUNG

II.1- CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là việc sử dụng các phần mềm

hỗ trợ cho việc cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng cho học sinh trong cácgiờ học như: Microsoft PowerPoint, Violet Các phần mềm này có tác dụngmạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp, hình thức dạy học, là công cụ hỗ trợ đắc lựccho việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung, dạy và học môn Ngữ văn nóiriêng Qua thực tế giảng dạy của bản thân, tôi thấy rằng việc ứng dụng công nghệthông tin vào dạy học sẽ giúp học sinh tiếp thu bài học một cách dễ dàng, chophép giáo viên minh hoạ bài học bằng những hình ảnh làm cho giờ học sinh độnghấp dẫn, trong thời lượng một tiết học có thể giải quyết được nhiều công việckhác nhau Học sinh sẽ được làm việc nhiều hơn để củng cố khắc sâu hơn nhữngkiến thức vừa được lĩnh hội Vậy làm thế nào để việc ứng dụng công nghệ thông

Trang 6

tin trong dạy học có hiệu quả cao nhất trong các giờ lên lớp ? Đó là câu hỏi màtôi luôn trăn trở và thực sự lưu tâm chú trọng

Giờ dạy ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ là những dòng chữ dàyđặc trên phông chiếu mà giáo viên trình cho học sinh xem mà có thể kết hợp vớicác hình thức dạy học khác như: trao đổi, thảo luận nhóm, học sinh làm việc cánhân trong các giờ dạy cung cấp kiến thức mới, giờ dạy ôn tập Nếu sử dụnggiáo án điện tử một cách linh hoạt và phù hợp sẽ làm giảm sự phụ thuộc của họcsinh vào lời giảng của giáo viên, chuyển tải thông tin nội dung kiến thức sâuhơn, học sinh hiểu bài nhanh hơn, nhớ kiến thức lâu hơn, và còn góp phần giáodục tư cách, rèn luyện kĩ năng thực hành cho người học, nó có tác động đến mọihoạt động nhận thức của học sinh, phát huy trí sáng tạo, kích thích hứng thú trongquá trình dạy học, mang lại những kết quả tích cực, đảm bảo tính khoa học, tínhgiáo dục, tính mĩ thuật Có lẽ cũng bởi vì vậy mà trong các hội nghị chuyên đề

về vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, các giáo viên trực tiếpđứng lớp đều được khuyến khích làm và giảng dạy bằng giáo án điện tử Thực tếtrong năm học này, việc sử dụng giáo án điện tử đã phổ biến ở tất cả các trườngtrong huyện nói riêng, trong toàn nghành nói chung bởi những tác dụng hữu ích,tích cực của nó Theo xu hướng chung đó, là một giáo viên đứng lớp, trực tiếplàm công tác giảng dạy, tôi đã nghiên cứu các tài liệu về ứng dụng công nghệthông tin trong dạy học và đã áp dụng vào các bài giảng Ngữ văn 7 trong nămhọc này, bước đầu tôi thấy đã thu được những kết quả đáng kể Trong phạm vibài viết này, tôi sẽ trình bày những nội dung cụ thể mà bản thân tôi đã nghiên cứu

và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

II.2- CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

II.2.1 Điều tra cơ bản:

Trên cơ sở điều tra cơ bản từ đầu năm học, thăm dò ý kiến của học sinh, tôithấy rằng nhiều học sinh còn ngại học Văn, cá biệt có một số học sinh còn tâm lý

sợ học Một số em cho rằng các giờ học mà giáo viên ứng dụng công nghệ thôngtin, vì theo dõi bài học trên phông chiếu nhiều lúc khó nhìn, những slide có nhiềuchữ, chữ thường nhỏ, mờ Có những kiểu hiệu ứng chạy chữ quá sinh động học

Trang 7

sinh sẽ chú ý vào đó mà không chú ý đến bài học Giáo viên không viết bảng, các

em khó theo dõi tiến trình của bài

Kết quả khảo sát đầu năm cho thấy, học sinh còn hạn chế nhiều về kĩ năngdiễn đạt dùng từ đặt câu, kĩ năng trình bày một vấn đề còn lúng túng, còn sainhiều lỗi chính tả, dấu câu Bởi vậy kết quả bài kiểm tra còn thấp, cụ thể là:

II.2.2- Phương pháp áp dụng

1 Trong phân môn Ti ếng Việt

a Cung cấp kiến thức lý thuyết cho học sinh.

Kiến thức lý thuyết tiếng Việt thường rất khô khan, cứng nhắc bởi vậy,một số học sinh thường có tâm lí ngại học khi nghiên cứu tiếp cận, đòi hỏi ngườigiáo viên phải xoá bỏ tâm lý đó cho học sinh Vì vậy, việc “ mềm hoá” kiến thức

là điều mà mỗi giáo viên nên làm Nhưng làm như thế nào lại là việc mà mỗi giáoviên băn khoăn, nhất là những giờ dạy ứng dụng công nghệ thông tin Bên cạnhviệc xây dựng một hệ thống câu hỏi dẫn dắt học sinh, giáo viên cần chú ý đến

việc phát huy hiệu quả của hiệu ứng xuất hiện và màu sắc của chữ Trong các giờ

dạy ứng dụng công nghệ thông tin, tôi đã suy nghĩ nhiều về việc đó Chọn cáchiệu ứng xuất hiện chữ và màu sắc của chữ sẽ thu hút được học sinh học tập Các

Trang 8

hiệu ứng xuất hiện chữ với độ nhanh chậm vừa phải, giúp cho học sinh dễ theodõi Trong bài dạy giáo viên cần lựa chọn một kiểu hiệu ứng xuất hiện chữ saocho không rời rạc, không bay lượn để tránh cho học sinh sự mất tập trung chú ý.Với những đơn vị kiến thức là điểm nhấn của bài, cần lưu ý với học sinh giáoviên có thể chọn những màu chữ khác nhau.

Ngoài ra, để cho bài giảng sinh động, giáo viên có thể sử dụng các hình

ảnh minh hoạ để giúp học sinh hình thành các kiến thức của bài Điều đó làm cho

bài giảng sinh động, kích thích trí tưởng tượng của học sinh

b

Hướng dẫn học sinh giải các bài tập trong phần luyện tập:

Khi biên soạn sách, các nhà biên soạn đã xây dựng trong tiết học một hệthống bài tập thường có các dạng : bài tập nhận biết, bài tập sáng tạo, nâng cao.Trong một tiết học, yêu cầu giáo viên phải hướng dẫn học sinh giải quyết đủ cácdạng bài tập đó Để giảm bớt không khí nặng nề, căng thẳng, tận dụng thời giancũng như tạo không khí sôi nổi trong khi hướng dẫn học sinh luyện tập, giáo viên

có thể dùng phần mềm hỗ trợ Violet để tạo các dạng bài tập khác nhau như: bàitập trắc nghiệm đúng - sai; bài tập điền khuyết, bài tập kéo thả Cũng có thể sửdụng hình ảnh sinh động giúp học sinh giải các bài tập

c Trong phần củng cố kiến thức toàn bài:

Giáo viên có thể sử dụng phần mềm Violet, Powerpoint tạo cho học sinhchơi trò chơi đoán ô chữ bí mật Việc làm này vừa có tác dụng củng cố khắc sâukiến thức vừa được nghiên cứu cho học sinh, lại vừa giúp giáo viên có thể kiểmtra các kiến thức cũ qua việc xây dựng hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh tìm

ra từ chìa khoá của ô chữ bí mật

2 Trong phân môn Văn ( Các văn bản)

Giờ dạy các văn bản thường vẫn là những giờ học mà học sinh hứng thúkhi giáo viên dùng giáo án điện tử Các giờ học này, học sinh được xem nhiềucác hình ảnh như: chân dung các nhà văn, các hình ảnh minh hoạ khác, bìa cáctác phẩm văn học Khi phân tích văn bản học sinh được được theo dõi quá trìnhhướng dẫn của giáo viên qua hệ thống câu hỏi dẫn dắt và phần trình chiếu nhịp

Trang 9

nhàng Đồng thời giỏo viờn cú thể sưu tầm cỏc thước phim tư liệu, tranh ảnh cỏcđịa danh minh hoạ tạo cho bài học sinh động

II.2.3 Vận dụng vào giảng dạy một số bài cụ thể

a Dạy tiết 27 - Bài: Quan hệ từ :

Bài dạy này cung cấp kiến thức cho học sinh hiểu thế nào là quan hệ từ,cỏch dựng quan hệ từ, biết vận dụng quan hệ từ trong khi núi và viết Để chuẩn bịcho bài giảng điện tử này, tụi sử dụng phần mềm Powpoint tạo cỏc slide trỡnhchiếu, xõy dựng hệ thống cõu hỏi dẫn dắt học sinh phõn tớch tỡm hiểu cỏc ngữ liệutrong sỏch giỏo khoa Đồng thời tỡm thờm một số vớ dụ để khai thỏc kiến thứcliờn quan và tớch hợp với cỏc kiến thức khỏc về từ loại trong chương trỡnh

Cấu tạo của bài học gồm hai đơn vị kiến thức cơ bản Trong đơn vị kiến thức thứnhất của bài: Thế nào là quan hệ từ?, sau khi học sinh đó nắm được khỏi niệm, đểgiỳp học sinh cú sự phõn biệt quan hệ từ với cỏc từ loại khỏc như danh từ, trợ từ,tụi đó chọn cỏc màu chữ khỏc nhau để học sinh dễ nhận thấy sự phõn biệt đú Trong slide này, tụi đưa ra hai bài tập nhỏ Bài tập 1 giỳp học sinh phõn biệtdanh từ “ của” ( trong nghĩa của cải) với quan hệ từ “ của”( mang ý nghĩa quan hệ

sở hữu) Bài tập 2 giỳp học sinh phõn biệt quan hệ từ “ mà” với trợ từ “ mà”.Tụi đó chọn những màu chữ khỏc nhau để học sinh dễ phõn biệt Trong giờ dạy,tụi lần lượt trỡnh chiếu từng bài tập và yờu cầu học sinh phõn biệt Sau khi họcsinh trả lời, tụi trỡnh chiếu đỏp ỏn Cụ thể như sau:

- Đây là cuốn sách của nó.

- Nhà nó lắm của

( của : quan hệ từ) ( của : danh từ)

2 Phõn biệt ý nghĩa của những từ “mà” trong cỏc cõu văn sau:

a Tôi khuyên bảo nhiều lần mà nó không nghe.

( mà : quan hệ từ dùng để nối hai vế của câu ghép)

b Mẹ đã nhắc nhở con rồi mà ( mà : trợ từ dùng để thể hiện thái độ của ng ời nói)

Trang 10

* Khi cung cấp kiến thức cho học sinh về các cặp quan hệ từ, tôi cũng sử dụngnhững màu chữ khác nhau để học sinh dễ nhận thấy các quan hệ từ tương ứng vớinhau, tạo nên cặp quan hệ từ Trong slide này, tôi trình chiếu các quan hệ từđứng trước trong cặp quan hệ từ rồi yêu cầu học sinh tìm các quan hệ từ thứ hai

để tạo thành cặp và yêu cầu học sinh nêu rõ ý nghĩa của từng cặp quan hệ từ Câuhỏi thứ hai, tôi yêu cầu học sinh đặt câu văn ra phiếu học tập, rồi gọi một số họcsinh trình bày Cụ thể như sau:

b Dạy tiết 39 - Bài: Từ trái nghĩa.

Bài học có hai đơn vị kiến thức Sau khi hướng dẫn học sinh phân tích, tìm hiểu đơn vị kiến thức thứ nhất, tôi chuyển qua đơn vị kiến thức thứ hai Để giúp học sinh tìm được một số thành ngữ có sử dụng từ trái nghĩa và nêu tác dụng củaviệc dùng các từ trái nghĩa ấy, tôi sử dụng một số hình ảnh minh hoạ cho một số thành ngữ có nội dung tương phản nhau và yêu cầu học sinh tìm các thành ngữ tương ứng với từng hình ảnh Trước hết, tôi trình chiếu cho học sinh quan sát hình ảnh minh hoạ và yêu cầu học sinh tìm các thành ngữ Tôi đã sử dụng những hình ảnh động kết hợp với phần mềm Flat tạo ra những mũi tên chuyển động Nhờ những hình ảnh động mà học sinh nhận biết được nội dung hình ảnh và tìm

T×m quan hÖ tõ cã thÓ dïng thµnh cÆp víi c¸c quan hÖ tõ sau ®©y?

Nãi râ ý nghÜa cña chóng?

lµ v×

( ®iÒu kiÖn … kÕt qu¶) ( nguyªn nh©n … kÕt qu¶ ) ( nh îng bé … t¨ng tiÕn ) (®iÒu kiÖn … kªt qu¶ ) ( kÕt qu¶ … nguyªn nh©n)

? §Æt c©u víi c¸c cÆp quan hÖ tõ võa t×m ® îc?

TiÕt 27: Quan hÖ tõ

Trang 12

c Dạy tiết 67- Bài: Chơi chữ.

Bài dạy này nhằm giúp học sinh hiểu được thế nào là chơi chữ, nắm đượcmột số lối chơi chữ thường dùng, bước đầu cảm thụ được cái hay của phép chơichữ Đồng thời rèn cho học sinh kĩ năng vận dụng phép chơi chữ.Khi hướng dẫn

học sinh nghiên cứu đơn vị kiến thức thứ 2 của bài: Các lối chơi chữ gồm có 5

ngữ liệu trong sách giáo khoa Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu ngữ liệu 4 đểrút ra lối chơi chữ dùng lối nói lái, tôi đã sử dụng một số hình ảnh minh hoạ đểlàm nền cho slide, tạo sự sinh động cho bài giảng và kích thích trí tưởng tượngcủa học sinh

Ngữ liệu: Con cá đối bỏ trong cối đá

Con mèo cái nằm trên mái kèo

Trách cha mẹ em nghèo, anh nỡ phụ duyên em

Với việc chèn các hình ảnh vào nền các slide như trên sẽ tạo cho học sinhcảm giác thích thú lại dễ hình thành kiến thức và nhớ lâu hơn các ngữ liệu

Ngày đăng: 15/09/2013, 17:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh đối lập: - Ứng dụng CNTT trong giảng dạy môn Ngữ Văn lớp 7 - GV: Hà Thị Anh Thơ
nh ảnh đối lập: (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w