1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chuyên đề chuyên sâu bảo hiểm y tế

33 394 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 582,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyên đề chuyên sâu về bảo hiểm y tế Tình hình thực hiện y tế toàn dân tại tỉnh Quảng Bình Bảo hiểm y tế là một trong những chính sách lớn và quan trọng của Đảng và Nhà nước nhằm góp phần ổn định cuộc sống của người lao động. Trong cuộc sống con người luôn gặp phải nhiều loại rủi ro và một trong những rủi ro hay gặp là ốm đau bệnh tật, từ đó phát sinh các khoản chi phí chữa bệnh. Do đó việc đảm bảo tài chính cho việc chi trả các chi phí khám chữa bệnhlà rất quan trọng đối với tất cả mọi người trong xã hội. Trong suốt quá trình thực hiện kể từ khi thành lập, BHYT Việt Nam đã khẳng định tính đúng đắn của một chính sách xã hội của Nhà nước, phù hợp với tiến trình đổi mới đất nước. Hệ thống về chính sách pháp luật về BHYT từng bước được hoàn thiện phù hợp với phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Số người tham gia BHYT ngày càng tăng qua các năm, quyền lợi của người tham gia BHYT ngày càng được mở rộng hơn và tiến tới thực hiện BHYT toàn dân.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI

KHOA BẢO HIỂM -   -

CHUYỀN ĐỀ CHUYÊN SÂU BẢO HIỂM Y TẾ

Trang 2

MỤC LỤC

Nội dung BHYT toàn dân bao gồm một số nội dung cơ bản sau: 9

Bảng 2.2 Mức độ bao phủ BHYT trên tổng dân số theo địa bàn năm 2014 14

Bảng 2.4 Năng lực khám, chữa bệnh BHYT Thành phố Đồng Hới năm 2014 18

Bảng 2.5 Tình hình Quỹ BHYT của thành phố Đồng Hới năm 2012-2014 19

Bảng 2.6 Tình hình chi quỹ BHYT năm 2012 -2014 21

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Số lượng người tham gia BHYT tại Thành phố Đồng Hới theo nhóm

đối tượng giai đoạn 2012 - 2014 Error: Reference source not found Bảng 2.2 Mức độ bao phủ BHYT trên tổng dân số theo địa bàn năm 2014 Error:

Reference source not found

Bảng 2.3: Cơ sở khám chữa bệnhBHYT năm 2012 – 2014 Error: Reference

source not found

Bảng 2.4 Năng lực khám, chữa bệnh BHYT Thành phố Đồng Hới năm 2014

Error: Reference source not found Bảng 2.5 Tình hình Quỹ BHYT của thành phố Đồng Hới năm 2012-2014 Error:

Reference source not found

Bảng 2.6 Tình hình chi quỹ BHYT năm 2012 -2014Error: Reference source not

found

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Bảo hiểm y tế là một trong những chính sách lớn và quan trọng của Đảng và Nhà nước nhằm góp phần ổn định cuộc sống của người lao động Trong cuộc sống con người luôn gặp phải nhiều loại rủi ro và một trong những rủi ro hay gặp là ốm đau bệnh tật, từ đó phát sinh các khoản chi phí chữa bệnh Do đó việc đảm bảo tài chính cho việc chi trả các chi phí khám chữa bệnhlà rất quan trọng đối với tất cả mọi người trong xã hội Trong suốt quá trình thực hiện kể từ khi thành lập, BHYT Việt Nam đã khẳng định tính đúng đắn của một chính sách xã hội của Nhà nước, phù hợp với tiến trình đổi mới đất nước Hệ thống về chính sách pháp luật về BHYT từng bước được hoàn thiện phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Số người tham gia BHYT ngày càng tăng qua các năm, quyền lợi của người tham gia BHYT ngày càng được mở rộng hơn và tiến tới thực hiện BHYT toàn dân

Tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình BHYT đã và đang được tiến hành một cách tích cực Nhiều đối tượng thuộc diện chính sách, hộ nghèo, học sinh, sinh viên đã được tham gia BHYT Tuy đã được nhiều thành tích đáng kể nhưng trong quá trình thực hiện còn gặp không ít những khó khăn vướng mắc,

tỷ lệ người lao động tham gia trong doanh nghiệp còn thấp, việc cấp sổ, thẻ BHYT còn chậm, chất lượng khám chữa bệnhchưa thực sự đáp ứng được nhu cầu của người bệnh Công tác quản lý, đầu tư thuốc, hóa chất phục vụ cho khám chữa bệnhtại một số cơ sở khám chữa bệnhcòn nhiều bất cập

Vì những lí do trên nên chúng em quyết định chọn đề tài : “Tình hình thực

hiện BHYT toàn dân tại thành phố Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2012

- 2014” làm báo cáo chuyên đề BHYT nhằm phân tích được rõ hơn tình hình thực

hiện BHYT trên thực tế cũng như đưa ra một số những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện BHYT tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

Bài báo cáo ngoài phần mở đầu và kết luận còn gồm 3 chương chính :

Chương 1: Lý luận chung về BHYT và BHYT toàn dân

Chương 2: Tình hình thực hiện BHYT toàn dân tại thành phố Đồng Hới – tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2012 – 2014

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện BHYT toàn dân tại thành phố Đồng Hới – tỉnh Quảng Bình

Trang 4

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHYT VÀ BHYT TOÀN DÂN.

1.1 Khái niệm, vai trò, đặc điểm Bảo hiểm y tế

1.1.1 Khái niệm

- Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật BHYT

Theo Luật BHYT: Bảo hiểm y tế toàn dân là việc các đối tượng quy định trong Luật này đều phải tham gia BHYT BHYT được tiếp cận như một quyền

về chăm sóc sức khỏe của công dân đi đôi với nghĩa vụ đóng góp và chia sẻ trách nhiệm xã hội của cá nhân, cộng đồng, người sử dụng lao động và Nhà nước BHYT còn được xem như là một sản phẩm của sự tiến bộ xã hội, mọi người có trách nhiệm với bản thân và xã hội về chăm sóc sức khỏe, không phải chỉ dựa vào điều kiện kinh tế của chính mình, sự hỗ trợ của gia đình, người thân khi đau ốm

- Mức độ bao phủ BHYT là số lượng người tham gia BHYT trên tổng số dân tại một địa bàn nhất định

1.1.2 Vai trò của BHYT

BHYT là một trong những chế độ chăm sóc y tế quan trọng trong hệ thống

an sinh xã hội do nhà nước tổ chức thực hiện Nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân có nhu cầu được bảo hiểm từ đó hình thành một quỹ và quỹ này sẽ được sử dụng để chi trả các chi phí khám chữa bệnh khi một người có tham gia BHYT không may mắc bệnh BHYT bảo đảm tính công bằng trong xã hội, an sinh xã hội, cụ thể, vai trò của BHYT thể hiện tập trung ở các điểm sau đây:

BHYT giúp cho người tham gia giảm gánh nặng về chi phí khám, chữa bệnh khi không may gặp rủi ro về sức khỏe Khi đó, người tham gia BHYT sẽ được chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí vì họ đã có một quỹ dự phòng riêng cho vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người tham gia đặc biệt là những người nghèo mắc bệnh Nhờ có BHYT mà người lao động có thể khắc phục hậu quả

Trang 5

một các nhanh chóng và kịp thời khi bị ốm đau Tạo cho họ niềm lạc quan trong cuộc sống, từ đó giúp họ yên tâm lao động sản xuất.

BHYT mang tính nhân văn xã hội sâu sắc Trong hoạt động BHYT, tính cộng đồng đoàn kết cùng chia sẻ rủi ro rất cao Nó là nền tảng cho lĩnh vực bảo vệ

và chăm sóc sức khỏe, tính đoàn kết tương trợ lẫn nhau trong BHYT là sự đảm bảo cho từng người dựa trên cơ sở chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHYT góp phần thực hiện công bằng xã hội, nâng cao chất lượng, hiệu quả chăm sóc sức khỏe Thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân là phải đảm bảo cho mọi người dân được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản có chất lượng tốt, dựa trên nhu cầu chăm sóc sức khỏe, có chính sách trợ giúp người nghèo được chữa bệnh khi ốm đau

Thúc đẩy sự phát triển cơ chế quản lý y tế trong hoạt động chăm sóc sức khỏe Thực hiện BHYT góp phần thúc đẩy hoàn thiện và phát triển cơ chế quản

lý y tế Trong điều kiên kinh tế thị trường cơ chế quản lý y tế là sự điều tiết các mối quan hệ giữa ba bên gồm người tham gia BHYT, cơ quan bảo hiểm xã hội,

cơ sở khám chữa bệnh Do vậy, cơ chế quản lý phải có sự phát triển mới đáp ứng được yêu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân với chất lượng và hiệu quả cao

1.1.3 Đặc điểm của BHYT

BHYT là sự chuyển giao rủi ro chia sẻ rủi ro của một người hay một số ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại; bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung

và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may

bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra

BHYT là một hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, mà vì mục đích an sinh xã hội Chi phí khám chữa bệnhcho đối tượng đóng BHYT được cân đối giữa một bên là tổng chi phí khám chữa bệnh cho những người có nhu cầu và cần phải Khám chữa bệnh và bên kia là tổng số người đóng góp của tất cả những người tham gia BHYT, bất kể họ có nhu cầu hay không có nhu cầu khám chữa bệnh BHYT, thể hiện bản chất nhân đạo, cộng đồng, mang tính nhân văn sâu sắc Có thể nói BHYT dựa trên tư tưởng nhân bản, còn Bảo hiểm thương mại dựa trên cơ chế thị trường, trong đó sức mua chứ không phải là nhu cầu là nhân

Trang 6

tố ảnh hưởng đến dịch vụ BHYT được cung cấp, BHYT sẽ không còn là công cụ của an sinh xã hội nếu chấp nhận nguyên tắc thị trường, bởi mục đích chính của BHYT là khắc phục mặt trái của thị trường, để thực hiện công bằng trong khám chữa bệnh cho người dân

BHYT vừa là hoạt động bắt buộc vừa là hoạt động tự nguyện Theo luật BHYT quy định gồm 25 đối tượng tham gia BHYT bắt buộc gồm 5 nhóm chính Đồng thời luật BHYT tạo điều kiện cho những người ngoài 5 nhóm này cũng được tham gia BHYT

BHYT là một hàng hoá, dịch vụ đặc biệt Việc người ta mua BHYT thực chất chỉ là bỏ tiền ra để đổi lấy "sự an tâm" về rủi ro nào đó không chắc chắn xảy ra thông qua việc bù đắp bằng tài chính cho thiệt hại, chứ không mong muốn sử dụng dịch vụ đó Hơn nữa, việc mua-bán dịch vụ BHYT lại không phải chi trả trực tiếp Đó cũng là lý do chủ yếu làm cho nhiều người không nhìn thấy được lợi ích của BHYT và đã không sẵn sàng tham gia

BHYT là loại hình bảo hiểm mang tính nhân đạo nhất trong số tất cả các loại hình bảo hiểm BHYT đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe với chất lượng ngày càng cao đối với đại bộ phận dân cư Tham gia BHYT vừa có lợi cho bản thân, vừa

có lợi cho xã hội Sự đóng góp của mỗi người chỉ là một phần nhỏ so với chi phí Khám chữa bệnhkhi rủi ro, ốm đau Trong trường hợp đó cộng đồng xã hội sẽ giúp

đỡ thông qua quỹ BHYT

1.2 Quỹ BHYT và cơ chế quản lý quỹ.

1.2.1 Nguồn hình thành quỹ BHYT

Quỹ BHYT được hình thành từ các nguồn sau đây :

- Tiền đóng BHYT theo quy định của Luật BHYT

- Tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư của quỹ BHYT

- Tài trợ, viện trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

- Các nguồn thu hợp pháp khác

1.2.2 Cơ chế quản lý quỹ BHYT và phân bổ quỹ BHYT.

Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch và

có sự phân cấp quản lý trong hệ thống tổ chức BHYT

Tổng số thu BHYT của BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được phân bổ và quản lý như sau:

Trang 7

- 90% số thu BHYT (gọi là quỹ khám bệnh, chữa bệnh) để lại cho BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý

- 10% số thu BHYT chuyển BHXH Việt Nam quản lý để lập quỹ dự phòng khám bệnh, chữa bệnh BHYT và chi phí quản lý BHYT và được thực hiện như sau:

+ Tổng mức chi phí quản lý BHYT hằng năm do Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam quyết định trong tổng chi phí quản lý của BHXH Việt Nam được Thủ tướng phê duyệt

+ Quỹ dự phòng khám, chữa bệnh BHYT là phần còn lại sau khi đã trích trừ chi phí quản lý BHYT

1.2.3 Sử dụng quỹ BHYT.

Quỹ BHYT được sử dụng cho các mục đích sau:

- Thanh tỏán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT trong đó:

+ Chi trả các khoản chi phí, khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng, khám thai định kỳ, sinh con, khám bệnh để sàng lọc, chuẩn đoán sớm một số bệnh, vận chuyển người bệnh từ tuyến huyện lên tuyến trên trong các trường hợp cấp cứu hoặc khi đang điều trị nội trú phải chuyển tuyến chuyên môn, kỹ thuật

+ Trích chuyển 12% quỹ khám bệnh, chữa bệnh của đối tượng học sinh, sinh viên cho cơ sử giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân để chăm sóc sức khỏe ban đầu cho học sinh sinh viên

- Chi phí quản lý bộ máy tổ chức BHYT thoe quy định mức hành chính của

cơ quan nhà nước

- Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHYT theo quy định mức hành chính của cơ quan nhà nước

- Lập quỹ dự phòng khám bệnh, chữa bệnh BHYT

- Trường hợp quỹ khám chữa bệnhdo BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý trong năm không sử dụng hết được sử dụng như sau:

Trang 8

+ 60% sử dụng để mua sắm, bảo dưỡng trang thiết bị y tế, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và những khoản chi khác để phục vụ khám bệnh, chữa bệnh BHYT tại địa phương.

+ 40% chuyển cho BHXH Việt Nam để bổ sung vào quỹ dự phòng khám bệnh, chữa bệnh BHYT

+ Quỹ dự phòng khám bệnh, chữa bệnh BHYT do BHXH Việt Nam quản

lý được sử dụng để bổ sung cho quỹ khám bệnh, chữa bệnh do BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý trong trường hợp quỹ khám bệnh, chữa bệnh do BHXH tỉnh, thành phố quản lý bị bội chi

+ Trường hợp quỹ dự phòng khám bệnh, chữa bệnh nhỏ hơn tổng chi phí khám chữa bệnhcủa hai quý trước liền kề hoặc lớn hơn tổng chi khám chữa bệnhBHYT của hai năm trước liền kề, thì BHXH Việt Nam có trách nhiệm báo cáo Hội đồng quản lý, Bộ Y Tế và Bộ tài chính Sau đó Bộ Y Tế chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ các biện pháp giải quyết

1.3 Một số vấn đề về BHYT toàn dân.

Ở Việt Nam, việc thực hiện BHYT toàn dân đã được thể chế hoá trong Luật BHYT, bằng lộ trình với từng nhóm đối tượng và đã xác định thực hiện theo lộ trình từ 3 - 5 năm bảo đảm bao phủ toàn dân Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt

Đề án thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2012 - 2015 và 2020 với mục tiêu đến năm 2015 đạt tỷ lệ trên 70% dân số tham gia BHYT, đến năm

2020 có trên 80% dân số tham gia BHYT

Thực hiện lộ trình bao phủ BHYT toàn dân trong chính sách bảo đảm an sinh

xã hội là một trong những nhiệm vụ chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tham gia BHYT là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân, đồng thời là trách nhiệm của nhà nước và toàn xã hội

Thực hiện thành công lộ trình BHYT toàn dân sẽ đem lại những tác động

xã hội và hiệu quả kinh tế tỏ lớn đối với việc phát triển kinh tế - xã hội

Thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2012 - 2015 và 2020

có tác động đến công tác chăm sóc sức khỏe của toàn dân, cơ chế tài chính y tế bền vững, bảo đảm an sinh xã hội

Trang 9

Mở rộng phạm vi bao phủ của BHYT về tỷ lệ dân số tham gia BHYT, về phạm vi dịch vụ y tế được thụ hưởng và giảm tỷ lệ chi trả từ tiền túi của người

sử dụng dịch vụ y tế; bảo đảm quyền lợi của người tham gia BHYT; tiến tới BHYT toàn dân

Nội dung BHYT toàn dân bao gồm một số nội dung cơ bản sau:

- Mở rộng độ bao phủ đối tượng tham gia BHYT

- Phát triển mạng lưới cơ sở y tế

- Phát triển quỹ BHYT

Trang 10

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN BHYT TOÀN DÂN

TẠI THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI TỈNH QUẢNG BÌNH GIAI ĐOẠN 2012-2014

2.1 Giới thiệu về thành phố Đồng Hới – tỉnh Quảng Bình

2.1.1 Điều kiện địa lý, tự nhiên

Thành phố Đồng Hới, thuộc tỉnh Quảng Bình nằm trên quốc lộ 1A, đường sắt thống nhất Bắc Nam và đường Hồ Chí Minh, có vị trí địa lý 17o21’ vĩ độ bắc

và 106o10’ kinh độ đông; tổng diện tích tự nhiên là 155,54 km2, đất nội thị là 55,58km2, đất ngoại thị là 99,69km2

Thành phố có vị trí trung độ của tỉnh Quảng Bình, cách khu du lịch di sản thiên nhiên thế giới vườn quốc gia Phong nha - Kẻ Bàng 50 km, cách khu du lịch suối Bang 50 km, cách khu cụm Cảng biển Hòn La 60 km và cửa khẩu quốc

tế Cha Lo 180 km Với vị trí địa lý thuận lợi, thành phố Đồng Hới là địa phương chỉ có bão như các tỉnh Miền Trung, hàng năm không bị ngập lụt, nên ít bị thiên tai, dịch bệnh hơn các địa bàn khác trong tỉnh Thành phố Đồng Hới là đô thị được xây dựng từ khi tái lập tỉnh Quảng Bình năm 1989, do vậy công tác quy hoạch, quản lý đô thị và môi trường tương đối tốt, là một thành phố ven biển có môi trường trong lành, không bị ô nhiễm, nguồn nước sinh hoạt chất lượng tốt Bên cạnh đó, Đồng Hới cũng là một trong những thành phố được hưởng chính sách đầu

tư về môi trường sinh thái của quốc tế về khắc phục biến đổi khí hậu đối với các

Trang 11

thành phố ven biển Việt Nam, do vậy môi trường sống của dân cư ở đây được đánh giá là tốt, ít chịu tác động của môi trường sinh thái đối với sức khỏe con người.Các yếu tố tự nhiên, là những thuận lợi để thành phố Đồng Hới phát triển kinh tế, người dân thành phố Đồng Hới có thu nhập cao hơn, làm cho người dân

có điều kiện để tham gia BHYT và thuận lợi cho việc thúc đẩy phát triển BHYT toàn dân

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Thành phố Đồng Hới có 16 đơn vị hành chính, gồm 10 phường và 6 xã; dân

số của thành phố Đồng Hới năm 2014 là 115.909 người, mật độ dân số trung

bình là 1027,5 người/km2 Dân số thành phố Đồng Hới tập trung chủ yếu ở các phường nội thành, chủ yếu là lao động chính trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khu vực hành chính, sự nghiệp Lao động tự do chủ yếu là hoạt động thương mại; số người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 48,8% tổng số dân của thành phố; lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật đã qua đào tạo chiếm

tỷ trọng khá lớn Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển dịch vụ BHYT

Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân được chú trọng, hiện có 16/16 xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế

Thành phố Đồng Hới chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ, công nghiệp và nông lâm thủy sản Ngành dịch vụ du lịch đang từng bước trở thành ngành mũi nhọn của thành phố Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2012 - 2014 của thành phố là 14,2%; đời sống của nhân dân ngày được nâng cao; tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống và đến 31/12/2014 chỉ còn 1,38% Thu nhập bình quân trên đầu người 1.300 USD Cơ sở hạ tầng của thành phố tương đối hoàn thiện và đồng bộ, đặc biệt chú trọng đến các dự án vệ sinh môi trường, khu đô thị mới, các siêu thị, khách sạn;

hệ thống vỉa hè, công viên, cây xanh, cấp thoát nước, điện, đường, trường, trạm từng bước được hoàn thiện

Với đặc điểm văn hóa - xã hội và kinh tế trên địa bàn như vậy, thành phố Đồng Hới có thể sớm đạt được lộ trình mục tiêu BHYT toàn dân theo kế hoạch của Chính phủ đã phê duyệt

Trang 12

2.2 Tình hình thực hiện BHYT tại thành phố Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2012-2014.

2.2.1 Đối tượng tham gia BHYT.

Số lượng đối tượng tham gia là một trong những tiêu chí hàng đầu để đánh giá hiệu quả thực hiện BHYT, phản ánh được kết quả tích cực của công tác tuyên truyền vận động và chất lượng của dịch vụ y tế Trong những năm quá số lượng người tham gia BHYT tại thành phố Đồng Hới đã có những chuyển biến

rõ rệt, được thể hiện ở bảng sau

Bảng 2.1: Số lượng người tham gia BHYT tại Thành phố Đồng Hới theo nhóm đối tượng giai đoạn 2012 - 2014

TT Chỉ tiêu Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014

I Đối tượng tham gia BHYT (người) 79.652 85.023 90.394

1 Trẻ em dưới 6 tuổi 12.736 13.745 14.754

2 Người nghèo và cận nghèo 2.015 1.636 1.257

3 Học sinh, sinh viên 20.611 23.172 25.733

4 Các đối tượng có trách nhiệm

tham BHYT khác 23.257 24.186 25.115

5 Các đối tượng tự nguyện khác 11.158 11.452 11.746

6 Hưu trí, mất sức lao động 9.875 10.832 11.789

II Dân số (người) 113.885 114.897 115.909III Tỷ lệ dân số tham gia BHYT (%) 70% 74% 78%

(Nguồn: BHXH và Niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình năm 2012 đến 2014)

Qua bảng trên ta thấy đối tượng tham gia BHYT năm 2014 so với năm

2012 tăng 10.742 người, tương ứng với mức tăng là 13,49% trong đó:

Nhóm trẻ em dưới 6 tuổi năm 2012 là 12.736 người, đến năm 2013 tăng lên 13.745 người và đạt mức 14.754 người tại năm 2014, ứng với mức tăng là 15,84% Nguyên nhân là do mức sinh tăng kéo theo tỷ lệ dân số trung bình năm 2014 tăng lên 1,83% làm số lượng tham gia BHYT của nhóm này cũng tăng khá cao

Nhóm người nghèo và cận nghèo có số lượng người tham gia giảm dần qua các năm từ 2.015 người năm 2012 còn lại 1.257 năm 2014 là do thành phố Đồng Hới triển khai các chương trình xóa đói giảm nghèo có hiệu quả làm tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống 1,38% trong năm 2014, khiến cho số lượng người trong nhóm

Trang 13

người nghèo và cận nghèo cũng giảm đi nên lượng người tham gia BHYT trong nhóm này cũng vì thế mà giảm xuống

Nhóm học sinh, sinh viên là nhóm có số lượng người tham gia nhiều nhất

và cũng có những biến động đáng kể qua các năm cụ thể: năm 2012 là 20.611 người và tăng lên 5.122 người, nâng tổng số người tham gia BHYT của nhóm năm 2014 lên thành 25.733 người, ứng với mức tăng là 24,85% Sở dĩ có điều này là do tính đến thời điểm cuối năm 2014, thành phố Đồng Hới đã hoàn thành mục tiêu 100% phổ cập giáo dục và xoá mù chữ, đồng nghĩa với việc số lượng học sinh, sinh viên trong thành phố tăng lên Thêm vào đó, trong năm từ năm

2012 trên địa bàn thành phố có thêm trường Trung cấp Luật, nâng tổng số học sinh sinh viên trên toàn thành phố lên hơn 300 người, nhớ đó số lượng người tham gia BHYT trong nhóm cũng tăng qua các năm

Nhóm các đối tượng có trách nhiệm tham BHYT khác như người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, người có công với cách mạng cũng có những chuyển biến đáng kể, năm 2012 số lượng người tham gia trong nhóm là 23.257 người, đến năm 2013 tăng lên 24.186 người và đạt mức 25.115 năm 2014, ứng với mức tăng là 7,99%

Nhóm các đối tượng tự nguyện khác qua 3 năm tuy chưa có nhiều chuyển biến mạnh mẽ trong tổng số người tham gia BHYT song nhìn chung cũng có xu hướng tăng với mức tăng là 5,27%

Nhóm hưu trí, mất sức lao động năm 2014 so với năm 2012 cũng có biến động tăng với số lượng tăng là 1914 người, tương ứng 19,38 %

So số lượng người tham gia BHYT trên tổng dân số của toàn thành phố, có thể thấy rằng thành phố Đồng Hới đã thực hiện BHYT cho các nhóm đối tượng

có hiệu quả, tỷ lệ người tham gia BHYT qua 3 năm tăng lên rõ rệt, từ 70% năm

2012 lên 78% năm 2013 Qua đó cũng thấy được nỗ lực thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân của thành phố Đồng Hới trong những năm qua

2.2.2 Mức độ bao phủ BHYT trên tổng dân số.

Thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân chính là triển khai các biện pháp, chính sách nhằm đạt 100% dân số tham gia BHYT Trong tiến trình thực hiện mục tiêu này, thành phố Đồng Hới đã đạt được những thành tựu nhất định, một trong số

Trang 14

đó là mở rộng phạm vi bao phủ BHYT trên tổng dân số Đến hết năm 2014, mức

độ bao phủ BHYT của thành phố Đồng Hới được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.2 Mức độ bao phủ BHYT trên tổng dân số theo địa bàn năm 2014

TT Phường/xã Dân số

(người)

Mật độdân số (người/km2)

Số người tham gia BHYT(người)

Độ bao phủ (%)

(Nguồn: BHXH thành phố Đồng Hới, năm 2014)

Qua bảng 2.2 ta thấy mức độ bao phủ BHYT trên tổng dân số theo địa bàn

có sự khác biệt giữa các khu vực:

Phường Bắc Lý có dân số lớn nhất trong địa bàn thành phố Đồng Hới nhưng có mức độ bao phủ BHYT không cao khoảng 77 % dân số Điều này là

do so với tổng dân số của phường thì số người tham gia BHYT còn thấp, cụ thể

là 13.360 người tham gia trên tổng số dân là 17.386 người

Phường Đồng Mỹ có dân số thấp nhất nhưng có mức độ bao phủ BHYT khá cao chiếm 94% dân số Nguyên nhân là do dân số của phường thấp, chỉ

2920 người và phường Đồng Mỹ cũng là phường có diện tích nhỏ nhất Đồng

Trang 15

thời, phường Đồng Mỹ cũng rất tích cực thực hiện các biện pháp tuyền tuyền nhằm nâng cao nhận thức của người dân tham gia BHYT,…

Xã Quang Phú là xã có mức độ bao phủ BHYT là nhỏ nhất chiếm 49% trong dân số là do dân số của xã khá đông, 3114 người trong khi xã lại nằm cách

xa trung tâm thành phố và lao động chủ yếu là làm việc trong lĩnh vực ngư nghiệp, đánh bắt hải sản xa bờ, nên việc áp dụng biện pháp nâng cao ý thức tham BHYT đến người dân gặp nhiều khó khăn và hầu như người dân tại đây chưa quan tâm nhiều đến loại hình bảo hiểm này

Những số liệu trên chứng tỏ rằng mức độ bao phủ BHYT trên toàn thành phố Đồng Hới tương đối cao Số người tham gia BHYT chiếm 78% tổng dân số thể hiện nỗ lực của các ban, ngành, cơ quan trong thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân

2.2.3 Mạng lưới cơ sở y tế và dịch vụ y tế

Tuy trên địa bàn thành phố, các cơ sở khám chữa bệnhtư nhân ngoài công lập hoạt động khá nhiều nhưng chưa được đưa vào khám, chữa bệnh cho các đối tượng tham gia BHYT Trong khi đó, hệ thống cơ sở y tế trong địa bàn thành phố không có sự thay đổi về số lượng qua các năm, tuy vậy vẫn có thể nhận định

sự phát triển của mạng lưới dịch vụ y tế qua sự tăng lên về số giường bệnh và số cán bộ y tế được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.3: Cơ sở khám chữa bệnhBHYT năm 2012 – 2014

TT Tiêu thức Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014

I Số cơ sở khám, chữa bệnh BHYT 20 20 20

3 Trạm Y tế xã, phường 16 16 16

II Số giường bệnh của các cơ sở khám,

chữa bệnh BHYT (giường) 976 982 988

Trang 16

1 Bệnh viện 840 845 852

3 Trạm Y tế xã, phường 106 106 106III Số lượng bác sỹ (người) 209 225 241

IV Số lượng y sỹ, kỹ thuật viên (người) 145 152 159

V Số người tham gia BHYT/1 bác sỹ 381 378 375

VI Số người tham gia BHYT/số giường

bệnh (người/giường) 81 86 91VII Số bác sỹ/1.000 dân 1,84 1,96 2,08

(Nguồn: UBND thành phố Đồng Hới - BHXH tỉnh Quảng Bình)

Để nâng cao chất lượng dịch vụ BHYT trong khi cơ sơ vật chất của thành phố không có nhiều thay đổi thì thành phố đã tăng số lượng y bác sĩ, số giường bệnh trong các cơ sở y tế, cụ thể là:

Số lương bác sĩ năm 2012 là 209 người đến năm 2014 tăng lên là 241 người

và số lượng y sĩ, kỹ thuật viên cũng tăng thêm 14 người, tương ứng với mức tăng là 9,66%

Số người tham gia BHYT/số giường bệnh từ năm 2012 đến năm 2014 tăng

10 người/ giường là do cơ sơ vật chất của thành phố không thay đổi trong khi số người tham gia khám chữa bệnh BHYT lại tăng, điều này làm cho các bệnh viện

và cơ sở khám chữa bệnhBHYT bị quá tải, kéo theo nhiều vấn đề bất cập khác trong dịch vụ chăm sóc y tế

Thực trạng cơ sở y tế khám chữa bệnhBHYT thể hiện trong những năm qua

số lượng cơ sở khám chữa bệnhBHYT, số lượng giường bệnh, y, bác sỹ trên địa bàn thành phố Đồng Hới có tăng theo tỷ lệ thuận với số lượng người tham gia BHYT Tuy nhiên, với tỷ lệ tăng còn thấp, tốc độ tăng chậm cho thấy cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Đồng Hới còn phải nổ lực nhiều hơn nữa để đáp ứng được những yêu cầu trong thực hiện BHYT toàn dân trong những năm tới

Tại thành phố Đồng Hới có khá nhiều trung tâm khám chữa bệnh, bệnh viện sử dụng thẻ BHYT trong đó có bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba

Ngày đăng: 04/04/2017, 08:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Số lượng người tham gia BHYT tại Thành phố Đồng Hới theo   nhóm đối tượng giai đoạn 2012 - 2014 - Chuyên đề chuyên sâu bảo hiểm y tế
Bảng 2.1 Số lượng người tham gia BHYT tại Thành phố Đồng Hới theo nhóm đối tượng giai đoạn 2012 - 2014 (Trang 12)
Bảng 2.2. Mức độ bao phủ BHYT trên tổng dân số theo địa bàn năm 2014 - Chuyên đề chuyên sâu bảo hiểm y tế
Bảng 2.2. Mức độ bao phủ BHYT trên tổng dân số theo địa bàn năm 2014 (Trang 14)
Bảng 2.3: Cơ sở khám chữa bệnhBHYT năm 2012 – 2014 - Chuyên đề chuyên sâu bảo hiểm y tế
Bảng 2.3 Cơ sở khám chữa bệnhBHYT năm 2012 – 2014 (Trang 15)
Bảng 2.4. Năng lực khám, chữa bệnh BHYT Thành phố Đồng Hới năm 2014 - Chuyên đề chuyên sâu bảo hiểm y tế
Bảng 2.4. Năng lực khám, chữa bệnh BHYT Thành phố Đồng Hới năm 2014 (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w