1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Luận văn Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2014

161 604 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2014 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài.......................................................................................... 1 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................... 3 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: .............................................................. 5 4. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài ................................................................. 6 5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu................................................. 7 6. Đóng góp của đề tài ..................................................................................... 8 7. Bố cục của luận văn. ..................................................................................... 8 Chƣơng 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ TRUNG - ẤN TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH........................................................... 9 1.1. Nhân tố lịch sử ........................................................................................... 9 1.1.1. Quan hệ Trung - Ấn trong lịch sử đến trước khi đặt quan hệ ngoại giao 1950 ............................................................................................................. 9 1.1.2. Quan hệ Trung - Ấn từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao đến hết Chiến tranh lạnh......................................................................................................... 14 1.1.2.1. Giai đoạn 1950 đến 1962 ................................................................... 14 1.1.2.2. Giai đoạn từ 1962 đến cuối thập niên 80 ........................................... 17 1.2. Nhân tố quốc tế ........................................................................................ 21 1.2.1. Sự chuyển biến của môi trường khu vực và quốc tế sau Chiến tranh lạnh ........................................................................................................... 21 1.2.1.1. Sự tác động của nhân tố Pakistan....................................................... 26 1.2.1.2. Nhân tố Casơmia................................................................................ 28 1.2.2. Sự tác động của xu hướng toàn cầu hoá ............................................... 29 1.2.3. Sự tác động của nhân tố Mỹ.................................................................. 32 1.3 Nhân tố bên trong...................................................................................... 34 1.3.1. Ấn Độ trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. ............................ 34 1.3.2. Trung Quốc trong “Chính sách hướng Đông” của Ấn Độ ................... 40 Tiểu kết chương 1........................................................................................... 46Chƣơng 2: QUAN HỆ SONG PHƢƠNG TRUNG - ẤN TRÊN CÁC LĨNH VỰC TỪ 1991 ĐẾN 2014 .................................................................. 48 2.1. Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao ......................................................... 48 2.1.1 Cơ sở của mối quan hệ chính trị - ngoại giao Trung - Ấn.................... 48 2.1.2. Các hoạt động cụ thể............................................................................. 49 2.2. Trên lĩnh vực kinh tế - thương mại .......................................................... 59 2.2.1. Về hợp tác thương mại.......................................................................... 61 2.2.2. Về hợp tác đầu tư .................................................................................. 70 2.3. Trên lĩnh vực an ninh - quốc phòng......................................................... 75 2.4. Mối quan hệ trong vấn đề biên giới ........................................................ 84 2.5. Trên lĩnh vực văn hoá - giáo dục, khoa học - kỹ thuật ............................ 94 2.5.1. Hợp tác về văn hoá - giáo dục .............................................................. 95 2.5.2. Hợp tác về khoa học - kỹ thuật ............................................................. 97 Tiểu kết chương 2: ....................................................................................... 100 Chƣơng 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ MỐI QUAN HỆ TRUNG QUỐC - ẤN ĐỘ .......................................................................................................... 101 3.1. Thành tựu và hạn chế của mối quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh 1991 đến 2014 ....................................................................................... 101 3.1.1. Thành tựu ............................................................................................ 101 3.1.2. Hạn chế ............................................................................................... 106 3.2. Đặc điểm, tính chất của mối quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh 1991 đến 2014 ....................................................................................... 111 3.2.1. Đặc điểm của mối quan hệ Trung - Ấn.............................................. 111 3.2.2. Tính chất của mối quan hệ Trung - Ấn trong tương lai. ..................... 118 Tiểu kết chƣơng 3........................................................................................ 125 KẾT LUẬN .................................................................................................. 126 TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 130 PHỤ LỤC.......................................................................................................... 11 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Luận văn Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2014 Luận văn Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2014 Luận văn Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2014 Luận văn Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2014 Luận văn Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2014 Luận văn Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2014 Luận văn Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2014 Luận văn Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2014 Luận văn Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2014 Luận văn Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2014 Luận văn Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2014 Luận văn Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2014 Luận văn Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2014 Luận văn Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2014 Luận văn Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2014 Nếu thế kỷ XIX được đánh giá là thế kỷ phát triển của nước Anh, thế kỷ XX là thế kỷ của Mỹ thì thế kỷ XXI được xem là "thế kỷ châu Á" với sự nổi lên của hai trung tâm lớn là Trung Quốc và Ấn Độ. “Con rồng” và “con voi” này với vị trí chiến lược quan trọng, với tiềm lực kinh tế và quân sự to lớn, đang ngày càng tỏ rõ là hai cường quốc có ảnh hưởng sâu rộng ở châu Á - Thái Bình Dương cũng như trên trường quốc tế. Những thành tựu to lớn trong công cuộc cải cách, mở cửa nền kinh tế và những đặc trưng trong quá trình lựa chọn con đường phát triển của mình, đang đưa Trung Quốc và Ấn Độ trở thành tâm điểm thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ở khắp các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Nhìn lại sự phát triển của lịch sử Trung Quốc và Ấn Độ hơn sáu mươi năm qua cho thấy, những chính sách và bước đi nhằm thúc đẩy quan hệ song phương là một trong những nội dung quan trọng trong chính sách đối ngoại của cả hai nước. Do vậy, tìm hiểu về mối quan hệ Trung - Ấn cũng là tìm hiểu một nội dung quan trọng của lịch sử Trung Quốc và Ấn Độ từ sau Chiến tranh lạnh đến nay. Đó cũng là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu hiện nay. Diễn tiến tốt đẹp của mối quan hệ Trung - Ấn có tác động tích cực rất lớn tới quan hệ quốc tế, đến hoà bình, ổn định ở châu Á và trên toàn thế giới. Ngược lại, nếu quan hệ căng thẳng, phức tạp dẫn đến cuộc chiến tranh có thể nổ ra sẽ tạo nên sự bất ổn lớn với an ninh khu vực. Vì vậy, nghiên cứu quan hệ Trung - Ấn là cần thiết không chỉ với bản thân hai nước, mà còn với nhiều nước khác trong khu vực và trên thế giới. Đó là vấn đề có ý nghĩa khá lớn đối với việc xác định chiến lược của nhiều quốc gia trong khu vực. Mối quan hệ Trung - Ấn là một ví dụ, một sự khảo nghiệm điển hình đối với khái niệm “cùng tồn tại hoà bình” giữa các nước có thể chế chính trị2 hoàn toàn khác nhau, hơn nữa lại là hai nước láng giềng. Nghiên cứu vấn đề này còn có ý nghĩa thực tiễn đối với Việt Nam trong quan hệ quốc tế và xu hướng toàn cầu hóa hiện nay. Quan hệ Trung - Ấn đã trải qua nhữn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Văn Ngọc Thành

Hà Nội - 2015

Trang 2

BẢNG QUY ƢỚC VIẾT TẮT

APEC: Asia- Pacific Economic Cooperation (Diễn đàn hợp tác kinh tế

châu Á - Thái Bình Dương) ARF: ASEAN Regional Forum (Diễn đàn an ninh khu vực)

ASEAN: Association of South- East Asian Nations (Hiệp hội các quốc gia

Đông Nam Á) ASEM: Asia - Europe Meeting (Hội nghị Á - Âu)

CNXH: Chủ nghĩa xã hội

CNTB: Chủ nghĩa tư bản

BCIM Nhóm các nước Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, Mianmar

BRICS Nhóm các nước Braxin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc

EU: Europan Union (Liên minh châu Âu)

FDI: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

GATT: General agreement on Tarifs and Trade

(Thỏa hiệp chung về thuế quan và mậu dịch) GDP: Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)

G.8: Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới và Nga IMF: International Monntary Fund (Quỹ tiền tệ quốc tế)

LAC: Giới tuyến kiểm soát biên giới thực tế Trung - Ấn

LHQ: Liên Hợp Quốc

NAFTA: North American Free Trade agreement

(Khu vực tự do thương mại Bắc Mỹ) OPEC: Organization of Petroleum exporting Countries

(Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa) SCO: Tổ chức Hợp tác Thượng Hải

TLTKĐB: Tài liệu tham khảo đặc biệt

TTXVN: Thông tấn xã Việt Nam

WB: World Bank (Ngân hàng thế giới)

WTO: World Trade Organization (Tổ chức thương mại thế giới)

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 5

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 6

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của đề tài 8

7 Bố cục của luận văn 8

Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ TRUNG - ẤN TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH 9

1.1 Nhân tố lịch sử 9

1.1.1 Quan hệ Trung - Ấn trong lịch sử đến trước khi đặt quan hệ ngoại giao 1950 9

1.1.2 Quan hệ Trung - Ấn từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao đến hết Chiến tranh lạnh 14

1.1.2.1 Giai đoạn 1950 đến 1962 14

1.1.2.2 Giai đoạn từ 1962 đến cuối thập niên 80 17

1.2 Nhân tố quốc tế 21

1.2.1 Sự chuyển biến của môi trường khu vực và quốc tế sau Chiến tranh lạnh 21

1.2.1.1 Sự tác động của nhân tố Pakistan 26

1.2.1.2 Nhân tố Casơmia 28

1.2.2 Sự tác động của xu hướng toàn cầu hoá 29

1.2.3 Sự tác động của nhân tố Mỹ 32

1.3 Nhân tố bên trong 34

1.3.1 Ấn Độ trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc 34

1.3.2 Trung Quốc trong “Chính sách hướng Đông” của Ấn Độ 40

Tiểu kết chương 1 46

Trang 4

Chương 2: QUAN HỆ SONG PHƯƠNG TRUNG - ẤN TRÊN CÁC

LĨNH VỰC TỪ 1991 ĐẾN 2014 48

2.1 Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao 48

2.1.1 Cơ sở của mối quan hệ chính trị - ngoại giao Trung - Ấn 48

2.1.2 Các hoạt động cụ thể 49

2.2 Trên lĩnh vực kinh tế - thương mại 59

2.2.1 Về hợp tác thương mại 61

2.2.2 Về hợp tác đầu tư 70

2.3 Trên lĩnh vực an ninh - quốc phòng 75

2.4 Mối quan hệ trong vấn đề biên giới 84

2.5 Trên lĩnh vực văn hoá - giáo dục, khoa học - kỹ thuật 94

2.5.1 Hợp tác về văn hoá - giáo dục 95

2.5.2 Hợp tác về khoa học - kỹ thuật 97

Tiểu kết chương 2: 100

Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ MỐI QUAN HỆ TRUNG QUỐC - ẤN ĐỘ 101

3.1 Thành tựu và hạn chế của mối quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh 1991 đến 2014 101

3.1.1 Thành tựu 101

3.1.2 Hạn chế 106

3.2 Đặc điểm, tính chất của mối quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh 1991 đến 2014 111

3.2.1 Đặc điểm của mối quan hệ Trung - Ấn 111

3.2.2 Tính chất của mối quan hệ Trung - Ấn trong tương lai 118

Tiểu kết chương 3 125

KẾT LUẬN 126

TÀI LIỆU THAM KHẢO 130

PHỤ LỤC 1

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nếu thế kỷ XIX được đánh giá là thế kỷ phát triển của nước Anh, thế

kỷ XX là thế kỷ của Mỹ thì thế kỷ XXI được xem là "thế kỷ châu Á" với sự nổi lên của hai trung tâm lớn là Trung Quốc và Ấn Độ “Con rồng” và “con voi” này với vị trí chiến lược quan trọng, với tiềm lực kinh tế và quân sự to lớn, đang ngày càng tỏ rõ là hai cường quốc có ảnh hưởng sâu rộng ở châu Á

- Thái Bình Dương cũng như trên trường quốc tế Những thành tựu to lớn trong công cuộc cải cách, mở cửa nền kinh tế và những đặc trưng trong quá trình lựa chọn con đường phát triển của mình, đang đưa Trung Quốc và Ấn

Độ trở thành tâm điểm thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ở khắp các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam

Nhìn lại sự phát triển của lịch sử Trung Quốc và Ấn Độ hơn sáu mươi năm qua cho thấy, những chính sách và bước đi nhằm thúc đẩy quan hệ song phương

là một trong những nội dung quan trọng trong chính sách đối ngoại của cả hai nước Do vậy, tìm hiểu về mối quan hệ Trung - Ấn cũng là tìm hiểu một nội dung quan trọng của lịch sử Trung Quốc và Ấn Độ từ sau Chiến tranh lạnh đến nay Đó cũng là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu hiện nay

Diễn tiến tốt đẹp của mối quan hệ Trung - Ấn có tác động tích cực rất lớn tới quan hệ quốc tế, đến hoà bình, ổn định ở châu Á và trên toàn thế giới Ngược lại, nếu quan hệ căng thẳng, phức tạp dẫn đến cuộc chiến tranh có thể

nổ ra sẽ tạo nên sự bất ổn lớn với an ninh khu vực Vì vậy, nghiên cứu quan

hệ Trung - Ấn là cần thiết không chỉ với bản thân hai nước, mà còn với nhiều nước khác trong khu vực và trên thế giới Đó là vấn đề có ý nghĩa khá lớn đối với việc xác định chiến lược của nhiều quốc gia trong khu vực

Mối quan hệ Trung - Ấn là một ví dụ, một sự khảo nghiệm điển hình đối với khái niệm “cùng tồn tại hoà bình” giữa các nước có thể chế chính trị

Trang 6

hoàn toàn khác nhau, hơn nữa lại là hai nước láng giềng Nghiên cứu vấn đề này còn có ý nghĩa thực tiễn đối với Việt Nam trong quan hệ quốc tế và xu hướng toàn cầu hóa hiện nay

Quan hệ Trung - Ấn đã trải qua những bước thăng trầm đầy biến động Đầu những năm 50 của thế kỷ XX, quan hệ hai nước tưởng chừng như sẽ trở thành một mẫu mực của quan hệ láng giềng tốt đẹp, nhưng cuộc chiến tranh biên giới năm 1962 đã phá tan tình hữu nghị đó và hai nước bước vào thời kỳ căng thẳng suốt những năm cuộc Chiến tranh lạnh nổ ra

Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc đến nay, quan hệ Trung - Ấn đã và đang có những bước cải thiện rõ rệt, nhanh chóng, và trở thành vấn đề thời sự nóng bỏng thu hút sự quan tâm của tất cả các nước trong khu vực và dư luận quốc tế Với những ký ức còn sống động về những bước chuyển ngược chiều của quan hệ Trung - Ấn trong quá khứ, người ta có lý do để thận trọng và chắc chắn hơn trước những diễn tiến đang xảy ra, đặc biệt khi dự báo về những triển vọng của mối quan hệ này trong tương lai Điều đó càng thu hút

sự quan tâm của chúng tôi khi nghiên cứu vấn đề này

Tìm hiểu về quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh về động cơ, phương pháp, bước đi có thể rút ra nhiều điều bổ ích, thậm chí có thể tìm hiểu rõ hơn một số điểm có tính quy luật hoặc phản ánh bản chất của các nhà nước châu Á Đặc biệt, nó còn có vai trò quan trọng đối với cục diện chính trị khu vực và những lợi ích cơ bản của nước ta Nhất là trong khi Việt Nam đang cố gắng làm bạn với tất cả các nước trong khu vực và trên thế giới

Một lý do nữa cũng rất thu hút sự quan tâm nghiên cứu của bản thân về

đề tài này, đó là trong quan hệ Trung - Ấn, hợp tác luôn đi kèm với cạnh tranh Các mối quan hệ song phương luôn song tồn, đan xen giữa lợi ích và mâu thuẫn, nhưng lợi ích bao giờ cũng được đặt lên trên hết và trước hết Vì vậy, dù còn tồn tại nhiều bất đồng do lịch sử để lại nhưng hai nước luôn khéo

Trang 7

léo làm dịu nó đi, tận dụng hoà bình để gặt hái những thành tựu do hợp tác đưa lại Đó cũng là sự thể hiện rất rõ bản chất của các mối quan hệ quốc tế hiện nay

Vì những lý do khoa học và thực tiễn nêu trên, chúng tôi chọn đề tài

“Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2014” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trung Quốc và Ấn Độ không chỉ là hai nước láng giềng lớn, hai nền kinh tế lớn ở châu Á mà còn có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trên trường quốc tế Mối quan hệ của hai quốc gia này không chỉ là sự thể hiện của mối quan hệ láng giềng thân thiện mà còn là sự khảo nghiệm của tình hữu nghị giữa hai nước có hai nền kinh tế và hai thể chế chính trị hoàn toàn khác nhau Mối quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh đến nay đã thu hút khá nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, đặc biệt là của các nhà nghiên cứu Trung Quốc và Ấn Độ Tuy nhiên,

do hạn chế về thời gian và khả năng, chúng tôi chỉ mới tiếp cận chủ yếu được với những công trình nghiên cứu bằng tiếng Việt được đăng tải trên các sách, báo, tạp chí với dung lượng lớn, nhỏ khác nhau Có thể kể ra đây một số công trình chính sau:

* Cuốn “Sự điêu chỉnh chính sách của Cộng hoà Ấn Độ từ 1991 đến

2000” của các tác giả: Trần Thị Lý, Nguyễn Huy Hoàng, Bùi Minh Sơn, Đỗ Đức

Định, Nguyễn Công Khanh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2002 Trong đó, các tác giả đề cập đến những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến' sự điều chỉnh chính sách của Cộng hoà Ấn Độ; chương trình cải cách kinh tế; sự điều chỉnh chính sách đối ngoại và những thành tựu sau 10 năm điều chỉnh chính sách Đặc biệt trong phần

“Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại”, tác giả đã trình bày một cách khái quát về chính sách đối ngoại của Ấn Độ đối với Trung Quốc từ 1991 đến 2001

Trang 8

* Năm 2000, tác giả Hồ Châu có bài viết với nhan đề: “50 năm quan hệ

Trung - Ấn” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 6 Bài viết đã đề cập

đến những nét cơ bản trong lịch sử quan hệ Trung - Ấn trong nửa thế kỷ XX, một số bài học kinh nghiệm và triển vọng phát triển của mối quan hệ này

* Năm 2004, tác giả Phan Văn Rân có đăng bài: “Tam giác chiến lược

Nga - Trung - Ấn và những trở ngại trong việc hiện thực hoá ý tưởng trên”

trên tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 1 Trong bài viết tác giả đã đưa ra điều kiện khách quan cho việc thiết lập tam giác chiến lược Nga - Trung - Ấn, những khó khăn và dự báo triển vọng quan hệ Trung - Ấn trong thập kỷ tới

* Năm 2005, tác giả Nguyễn Huy Quý có bài viết: “Quan hệ Trung -

Ấn chuyển sang giai đoạn mới” trên tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 5

Trong đó tác giả đề cập đến sự chuyển hướng của quan hệ Trung - Ấn diễn ra trong bối cảnh khu vực và tình hình quốc tế, và những “khởi điểm mới” của quan hệ Trung - Ấn sau chuyến thăm Ấn Độ của Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo Đặc biệt tác giả đưa ra một số nhận xét về sự ảnh hưởng của mối quan hệ Trung - Ấn tới tình hình khu vực và quốc tế

* Trên tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 - năm 2006, tác giả Võ

Xuân Vinh có bài: " Quan hệ Ấn Độ - Trung Quốc từ sau Chiến tranh lạnh

đến nay” Qua bài viết, tác giả đã trình bày một cách khái quát các nhân tố tác

động, hiện trạng và một số kết quả đạt được trong quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh đến 2006

* Trên tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 2 - tháng 6 năm 2006 có đăng

bài của tác giả Đặng Bảo Châu với nhan đề: “Liệu Ấn Độ có vượt qua Trung

Quốc?” Trong bài viết này, tác giả đã phân tích khá kỹ về tiềm năng và sức

mạnh của “con rồng” và “con voi” châu Á, cũng như dự báo về khả năng phát triển kinh tế của hai “người khổng lồ” ở châu Á trong thời gian tới

* Năm 2006, tác giả Trần Văn Tùng có bài viết với nhan đề: “Con

đường phát triển kinh tế ở Trung Quốc và Ấn Độ” trên tạp chí Cộng sản, số

Trang 9

13 - tháng 7 Bài viết đã phân tích chính sách, con đường phát triển kinh tế của Trung Quốc và Ấn Độ trong thời gian qua Qua đó tác giả đưa ra những

so sánh, đánh giá và dự báo vị trí của hai nước trên bản đồ thế giới trong thời gian tới

* Tại thư viện trường Đại học Vinh có lưu trữ luận văn Thạc sĩ của tác

giả Trịnh Thị Dung với đề tài “Quan hệ giữa CHND Trung Hoa và CH Ấn Độ

từ sau Chiến tranh lạnh đến năm 2006‟‟ - Vinh, năm 2007 Trong công trình

của mình, tác giả đã trình bày những quan hệ Trung - Ấn trên các lĩnh vực từ

1991 đến 2006, nêu thực trạng cũng như dự đoán triển vọng của mối quan hệ Trung - Ấn

Viết về mối quan hệ Trung - Ấn không thể không nhắc đến nguồn tài liệu Tham khảo đặc biệt của TTXVN được đăng tải thường xuyên và cập nhật Đây

là nguồn tư liệu mang nhiều thông tin quan trọng và có tính thời sự rất cao

Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết đề cập đến những khía cạnh khác nhau và có liên quan trực tiếp đến vấn đề mà chúng tôi nghiên cứu Đó chính là nguồn tư liệu quý giá, bổ ích cho chúng tôi khi vận dụng để tiến hành thực hiện đề tài này

Tuy vậy, theo chúng tôi cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về mối quan

hệ Trung - Ấn Thực hiện đề tài này tác giả mong muốn góp phần nhỏ vào việc tìm hiểu một cách đầy đủ hơn, hệ thống hơn về mối quan hệ Trung Quốc

- Ấn Độ từ sau Chiến tranh lạnh đến 2014 Từ đó đưa ra một số phân tích về đặc điểm và tính chất của mối quan hệ Trung - Ấn và mạnh dạn đưa ra một số nhận định của bản thân về mối quan hệ Trung - Ấn trong tương lai

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tƣợng: Đối tượng mà đề tài nghiên cứu là mối quan hệ của

Trung Quốc và Ấn Độ từ 1991 đến 2014, trong đó trọng tâm là phân tích sự hợp

Trang 10

tác của hai nước trên các lĩnh vực và một số kết quả đạt được, từ đó đưa ra một vài nhận định về đặc điểm và tính chất của mối quan hệ này trong tương lai

3.2 Phạm vi nghiên cứu

* Về mặt thời gian: Đề tài được giới hạn chủ yếu trong khoảng thời

gian từ sau Chiến tranh lanh 1991 đến 2014

* Về mặt nội dung: Đề tài chủ yếu nghiên cứu về mối quan hệ

song phương trên một số lĩnh vực: Chính trị - ngoại giao, kinh tế - thương mại, an ninh – quốc phòng, vấn đề biên giới, văn hóa – khoa học – giáo dục trong phạm vi hai nước Trung Quốc và Ấn Độ

Tuy nhiên, do tính chất và nhiệm vụ của đề tài nên trong quá trình nghiên cứu về mối quan hệ Trung - Ấn từ năm 1991 đến năm 2014, chúng tôi không thể không tìm hiểu những nhân tố tác động và đưa ra một số nhận xét

về tính tích cực, hạn chế cũng như nhận định về tính chất, đặc điểm của cặp quan hệ này

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

4.1 Mục đích: Thực hiện đề tài này chúng tôi hướng đến mục tiêu sau:

4.1.1 Nhằm làm rõ mối quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh đến

2014 một cách có hệ thống, đi từ phân tích các nhân tố tác động đến mối quan

hệ, thực tiễn các mối quan hệ, hợp tác trên các lĩnh vực Từ đó rút ra mặt tích cực, hạn chế và một số kết quả đạt được cũng như tính chất, đặc điểm của mối quan hệ này Đồng thời chúng tôi muốn phân tích và làm rõ một số chính sách

và biện pháp mà Trung Quốc và Ấn Độ đã áp dụng trong mối quan hệ song phương

4.1.2 Nghiên cứu về mối quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh đến

2014 nhằm góp phần tìm hiểu về chính sách đối nội, đối ngoại của Trung Quốc

và Ấn Độ từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay Đó cũng là tìm hiểu một phần nội dung quan trọng của lịch sử Trung Quốc và Ấn Độ hiện đại

Trang 11

4.1.3 Thông qua việc tìm hiểu về quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh đến 2014, đề tài còn nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề khu vực và quốc gia như việc giải quyết vấn đề biên giới

4.2 Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích của đề tài, nhiệm vụ mà chúng

tôi phải thực hiện đó là: Sưu tầm, tập hợp các nguồn tư liệu, trên cơ sở đó tổng hợp, phân tích, đánh giá các sự kiện nhằm xác minh và phân loại Từ đó

đi sâu làm rõ những nhân tố tác động đến mối quan hệ Trung - Ấn, phân tích một cách khách quan, khoa học những chủ trương, biện pháp mà hai nước Trung - Ấn thực hiện trong quá trình hợp tác trên các lĩnh vực Từ đó đánh giá được những tích cực, hạn chế và một số kết quả đạt được trong quan hệ từ sau Chiến tranh lạnh đến 2014 Đồng thời, tác giả đưa ra những nhận xét về đặc điểm và tính chất của mối quan hệ Trung - Ấn

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu

- Những nguồn tư liệu mang tính chất chung về lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của Trung Quốc và Ấn Độ Các công trình khoa học, đề tài cấp bộ, luận văn lịch sử, luận văn quan hệ quốc tế có đề cập đến mối quan hệ Trung - Ấn và những nguồn tư liệu về mối quan hệ Trung - Ấn được lưu giữ tại Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Học viện Quan hệ quốc tế

- Các bài viết được đăng trên các báo, tạp chí khoa học như: Nghiên cứu Đông Nam Á, Tạp chí Cộng sản, Nghiên cứu Quốc tế, Nghiên cứu Trung Quốc Nguồn tài liệu Tham khảo đặc biệt của TTXVN trong những năm từ

1950 đến 2014, các bài viết của các tác giả Trung Quốc và Ấn Độ về mối quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh đến nay

- Nguồn tư liệu khai thác từ internet

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Với đặc thù của bộ môn khoa học lịch sử, cũng như yêu cầu của một đề tài nghiên cứu khoa học, trong quá trình thực hiện đề tài này chúng tôi đã sử

Trang 12

dụng các phương pháp như: phương pháp lịch sử và logic, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp để dựng lại bức tranh về mối quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh đến 2014 Ngoài ra,

để làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hai nước trên các mặt, các lĩnh vực chúng tôi còn sử dụng các phương pháp như so sánh, đối chiếu, tổng hợp

6 Đóng góp của đề tài

6.1 Trên cơ sở nguồn tài liệu thu thập được, luận văn sẽ khắc hoạ lại mối

quan hệ Trung - Ấn từ đầu thập niên 90 đến 2014 một cách có hệ thống, giúp người đọc có cái nhìn tổng thể về thực tiễn mối quan hệ Trung - Ấn trong khoảng thời gian này

6.2 Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã đi sâu phân tích bối

cảnh quốc tế và khu vực, về những nhân tố tác động đến mối quan hệ Trung -

Ấn Từ đó có cái nhìn tổng quan về chính sách đối ngoại của Trung Quốc và

Ấn Độ từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến 2014

6.3 Từ những kết quả đạt được trong công trình nghiên cứu, luận văn

có thể dùng làm tài liệu tham khảo về lịch sử Trung Quốc và Ấn Độ từ năm

1991 đến năm 2014 Đồng thời luận văn góp phần tìm hiểu một mảng nhỏ

của lịch sử quan hệ quốc tế, đặc biệt là mối quan hệ giữa các nước lớn ở châu

Á Từ đó rút ra bài bài học cho Việt Nam trong bối cảnh “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trên thế giới”

7 Bố cục của luận văn

Với đề tài này, ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của luận văn gồm ba chương:

Chương 1 Những nhân tố tác động đến quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh

Chương 2 Quan hệ Trung - Ấn trên các lĩnh vực từ 1991 đến 2014 Chương 3 Một số nhận xét và đánh giá về mối quan hệ Trung - Ấn

Trang 13

Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ TRUNG - ẤN

TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH

1.1 Nhân tố lịch sử

1.1.1 Quan hệ Trung - Ấn trong lịch sử đến trước khi đặt quan hệ ngoại giao 1950

* Vài nét về Trung Quốc trước 1950

Trung Quốc là một nước lớn (với diện tích 9,6 triệu km2, dân số gần 1,367 tỷ người (2014)), có vị thế quan trọng trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và trên toàn thế giới

Trung Quốc nằm ở phần nửa phía Bắc của Đông bán cầu, phía Đông Nam của lục địa Á - Âu, phía Đông và giữa Châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương Phía bắc có chung biên giới với Nga, Mông Cổ; phía Tây giáp Kazacstan, Kirghistan, Taghistan; phía Tây Nam giáp Apsganistan, Pakixtan,

Ấn Độ, Nêpan, Butan; phía Nam giáp Lào, Mianma,Việt Nam; phía Đông giáp Triều Tiên

Ngoài phần đại lục, Trung Quốc còn có nhiều đảo, trong đó Đài Loan và Hải Nam là hai đảo lớn nhất Diện tích quá rộng lớn, tạo nên sự khác biệt rõ rệt về địa hình, khí hậu và văn hóa Trung Quốc là một quốc gia đa dân tộc (56 dân tộc) với ngôn ngữ chính là tiếng Hán Quốc gia này là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại với các nền văn minh cổ nổi tiếng Đây cũng là nơi sản sinh ra những con người vĩ đại, những triết gia nổi tiếng

mà tư tưởng của họ đến nay vẫn còn giá trị Trung Quốc còn là nơi có nền văn hóa phong phú, độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc và có ảnh hưởng sâu rộng tới khu vực và thế giới

Thời phong kiến, Trung Quốc là một quốc gia hùng mạnh vào bậc nhất thế giới nhưng đến cuối thời Mãn Thanh thì đất nước này khủng hoảng suy

Trang 14

yếu và bị thực dân phương Tây xâu xé, phải đến năm 1911 với sự bùng nổ của Cách mạng Tân Hợi, ngai vàng của chế độ phong kiến đã tồn tại trên

2000 năm ở Trung Quốc mới bị lật đổ Sau đó, đất nước lại bị các nước đế

quốc, thực dân phương Tây xâm lược và đô hộ

Ngày 1/10/1949, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa chính thức được thành lập, mở ra một kỷ nguyên mới- Trung Quốc tuyên bố phát triển theo con đường XHCN Đất nước thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản (thành lập tháng 7/1921) và đây là Đảng cầm quyền duy nhất ở Trung Quốc lục địa

Từ khi giành được độc lập, Trung Quốc luôn ý thức được vai trò và tầm vóc của mình trên trường quốc tế Mọi bước đi của Trung Quốc đều nhằm vun đắp cho mục tiêu chiến lược ổn định và phát triển đất nước cũng như phát huy vai trò thế mạnh ra bên ngoài Trung Quốc đã nhiều lần điều chỉnh chiến lược và thay đổi bạn, thù Chính sách của Trung Quốc đối với các nước láng giềng tất nhiên cũng phải đựơc điều chỉnh cho phù hợp Điều đó thể hiện rõ nét trong quan hệ Trung - Ấn

* Vài nét về Ấn Độ trước 1950

Ấn Độ là nước lớn thứ 2 ở châu Á, sau Trung Quốc Diện tích Ấn Độ là 3.28 triệu km2, đứng hàng thứ bảy thế giới và dân số khoảng 1,277 tỷ người (năm 2013), đứng thứ 2 thế giới

Ấn Độ nằm ở khu vực Nam Á, có biên giới phía Bắc giáp Trung Quốc, Nepal, Butan; phía Đông giáp Bangladet, Miến Điện; Đông - Nam giáp Vịnh Bengan; Tây - Nam giáp Ấn Độ Dương; Tây và Tây - Bắc giáp Pakittan

Ấn Độ là nước đa chủng tộc và dân tộc với nhiều thứ tiếng, trong đó ngôn ngữ chính là tiếng Hin đu và tiếng Anh Ấn Độ cũng là một cái nôi của lịch sử văn minh nhân loại, là nơi sinh ra những nhà tư tưởng lớn, những vĩ nhân của thời đại Nền văn hoá bản sắc của Ấn Độ có sức sống mãnh liệt và

Trang 15

có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội trong nước cũng như nhiều nước khác trên thế giới Người Ấn chủ yếu theo Ấn Độ giáo (chiếm khoảng 83% dân số), còn lại theo đạo Hồi, Cơ Đốc, đạo Phật

Cuối thế kỷ XV, người Bồ Đào Nha bắt đầu xâm nhập Ấn Độ và từ đầu thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII, Ấn Độ bị người Mô gôn (gốc Mông cổ) thống trị Từ năm 1746 đến 1763, Ấn Độ trở thành nơi tranh chấp giữa Anh

và Pháp, kết quả Anh đã chiếm được Ấn Độ, trừ 5 thành phố ven biển thuộc Pháp (mãi đến năm 1950 Pháp mới trao trả cho Ấn Độ)

Trong suốt thời gian bị thực dân Anh thống trị, nhân dân Ấn Độ dưới sự lãnh đạo của Đảng Quốc Đại đã đứng lên đấu tranh đòi độc lập dân tộc và kết quả đã buộc thực dân Anh phải trao trả độc lập cho nước này vào ngày 15/8/1947

Ngày 26/1/1950 Ấn Độ tuyên bố thành lập nước Cộng Hoà Ấn Độ gồm

22 bang và 9 lãnh địa trực thuộc trung ương

Ấn Độ là nước có nhiều đảng phái và tổ chức chính trị Đảng Quốc Đại thành lập năm 1885, Đảng BJP, Đảng Cộng sản Ấn Độ thành lập năm 1925

và đến năm 1964 thì tách thành hai Đảng là Đảng cộng sản Ấn Độ (CPI) và Đảng Cộng sản Ấn Độ - Macxit (CPI - M), Đảng B.Janata - Đảng Nhân dân hiện đang là đảng cầm quyền ở Ấn Độ

Xuất phát từ tầm vóc và tiềm năng to lớn của mình, nước Ấn Độ độc lập luôn có mục tiêu trở thành một nước phát triển mạnh mẽ về mọi mặt, có vai trò quan trọng không chỉ ở khu vực, ở châu Á mà trên toàn thế giới

Mục tiêu chiến lược này xuyên suốt đường lối đối nội cũng như đối ngoại của Ấn Độ Họ thực hiện mục tiêu này bằng những bước tiến đều đặn, vững chắc như “bước đi của con voi” Các nhà lãnh đạo Ấn Độ luôn cương quyết bảo vệ con đường đã chọn, coi các mục tiêu chiến lược của đất nước là mục đích và tiêu chuẩn cao nhất của chính sách đối ngoại Ấn Độ tin ở bản chất của thế giới ngay cả trong những thập kỷ thế giới bị chia thành 2 phe đối

Trang 16

lập và đắm chìm trong bầu không khí Chiến tranh lạnh Đó chính là thế giới quan dựa trên nền tảng triết học truyền thống của Ấn Độ, là nguồn gốc của chủ nghĩa nhân đạo, không bạo lực Tư tưởng “Không bạo lực” đã cắm rễ sâu trong con người Ấn Độ, trong các giáo điều tôn giáo, trong những di sản của nhiều thời đại, trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng như trong suốt quá trình bảo vệ và xây dựng đất nước từ khi thành lập đến nay

* Quan hệ Trung - Ấn trong lịch sử đến trước khỉ đặt quan hệ ngoại

giao 1950

Trung - Ấn là hai nước láng giềng gần gũi về địa lý, lại có nhiều điểm tương đồng trong quá trình phát triển lịch sử, vì thế, ngay từ rất sớm hai nước này đã xác lập được những mối quan hệ trên các lĩnh vực

Về chính trị: là hai trung tâm của văn minh nhân loại và được xem như

những cái nôi của lịch sử loài người Đến thời trung đại, sự hùng mạnh của các nhà nước phong kiến của hai quốc gia này được coi là niềm tự hào của sức mạnh châu Á

Khi thực dân phương Tây vào xâm lược và thống trị, thì Trung và Ấn lại trở thành những đồng minh luôn sát cánh, hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc chiến chống kẻ thù chung, đấu tranh giành độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Hai bên đã ủng hộ nhau chống chính sách xâm lược của chủ nghĩa thực dân

và khi hai nước giành được độc lập dân tộc thì họ chính là những người bạn đầu tiên công nhận chính quyền của nhau

Sau khi giành được độc lập (Ấn Độ năm 1947 và Trung Quốc năm 1949), dù mỗi nước đã lựa chọn cho mình một con đường và hướng đi riêng, nhưng mối quan hệ hợp tác song phương trong thời gian đầu là hết sức có hiệu quả Đó vừa là nhu cầu, vừa là nhận thức để củng cố và phát triển đất nước, cũng như thực hiện được mục tiêu chiến lược của giai đoạn đầu sau khi giành độc lập

Trang 17

Về kinh tế: từ thời phong kiến, hai nước đã hình thành Con đường tơ lụa,

một đường giao thương quan trọng nối liền hai nước Trung - Ấn và từ đó có

thể đi nhiều trung tâm kinh tế lớn của thế giới Vào khoảng giữa thế kỷ XVIII,

quan hệ thương mại giữa hai nước đã phát triển thịnh đạt thông qua con đường thích hợp với những con la, con lạc đà này Chính Con đường tơ lụa lịch sử đã thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và Ấn Độ phát triển thịnh đạt từ rất sớm Năm 1962, khi cuộc chiến tranh biên giới giữa Trung -

Ấn nổ ra thì Con đường tơ lụa này bị cấm hoạt động Đến năm 2006, nó mới được Chính phủ hai bên cho mở cửa hoạt động trở lại và lại góp một phần không nhỏ vào việc nâng cao kim ngạch mậu dịch thương mại song phương

Về văn hoá, xã hội: Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước có nền văn hoá

văn minh phát triển rực rỡ, nơi sản sinh ra những vĩ nhân của mọi thời đại, những nhà tư tưởng kiệt xuất mà tư tưởng của họ trường tồn cùng nhân loại

Tư tưởng nhân nghĩa trong đạo Khổng, hay lòng từ bi của đạo Phật không chỉ

ăn sâu trong tâm linh mỗi người trong mỗi nước mà nó còn có sức lan toả tới nhiều nước trong khu vực, và như vậy cố nhiên hai trung tâm của văn minh nhân loại này không thể không lan toả ảnh hưởng đến nhau Văn hoá truyền thống của Ấn Độ đã trở thành món ăn tinh thần của nhiều người Trung Quốc

và ngược lại Mối liên hệ, trao đổi văn hoá, xã hội của hai quốc gia này đã có

từ thời cổ đại và nó đã tồn tại, phát triển tỷ lệ thuận với sự thăng trầm trong quan hệ hai nước từ trước đến nay

Có thể nói, mối liên hệ về kinh tế, chính trị, xã hội của hai nước Trung -

Ấn trong lịch sử đến trước khi đặt quan hệ ngoại giao (1950) tuy không mặn

mà như những quốc gia láng giềng ở khu vực Đông Nam Á, nhưng cũng đủ

để làm tiền đề cho một mối quan hệ láng giềng thân thiện, cùng có lợi về sau, đặc biệt đây lại là hai quốc gia láng giềng rộng lớn không chỉ trong khu vực

mà sự lớn mạnh của nó mang tầm vóc thế giới

Trang 18

1.1.2 Quan hệ Trung - Ấn từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao đến

hết Chiến tranh lạnh

1.1.2.1 Giai đoạn 1950 đến 1962

Ấn Độ giành độc lập năm 1947 và Trung Quốc được giải phóng năm 1949 Hai nước lớn nhất châu Á này bắt đầu kỷ nguyên độc lập từ những điều kiện vật chất hầu như tương đương, cùng phải đứng trước những vấn đề lớn về kinh tế và

xã hội Gần 10 năm đầu sau khi giành độc lập (1950-1958) là “tuần trăng mật” của quan hệ hai nước Nhân dân hai nước cùng chung cảnh ngộ, vừa thoát khỏi

sự áp bức, nô dịch của đế quốc thực dân, giành độc lập dân tộc, bắt đầu xây dựng cuộc sống mới Tuy có truyền thống văn hóa và chế độ chính trị khác nhau nhưng hai nước đều có mục tiêu chung là hòa bình, độc lập dân tộc và cùng với nhân dân thế giới tiếp tục đấu tranh chống CNĐQ thực dân

Trên thế giới, giai đoạn này có nhiều chuyển biến phức tạp Tư duy Chiến tranh lạnh đã chi phối mọi quan hệ quốc tế Thế giới chia làm hai phe đối địch, CNXH đứng đầu là Liên Xô, CNTB do Mĩ cầm đầu Mĩ đã phát động cuộc Chiến tranh lạnh nhằm tiêu diệt Liên Xô và hệ thống XHCN và làm bá chủ thế giới Mỹ đã lập ra các liên minh quân sự thực hiện chiến lược toàn cầu ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản, chống Liên Xô, bao vây và cô lập Trung Quốc, đồng thời chống phá điên cuồng phong trào giải phóng dân tộc Trước tình hình đó, cả Trung Quốc và Ấn Độ mới độc lập đều có yêu cầu dựa vào Liên Xô, tập hợp lực lượng Á - Phi và thi hành chính sách chống chủ nghĩa đế quốc để bảo vệ độc lập, chủ quyền, xây dựng kinh tế và tăng cường

vị trí, vai trò của mình trên trường quốc tế

Trong những năm đầu sau giải phóng, sự hợp tác chặt chẽ với Liên Xô đã đem lại cho cả Trung Quốc và Ấn Độ những lợi ích to lớn và thiết thực Trong những ngày tháng lịch sử ấy, cả hai cùng áp dụng chính sách láng giềng hữu nghị, nên quan hệ hữu nghị thân thiện song phương đã đạt đến đỉnh cao

Trang 19

Ngày 30/12/1949, Ấn Độ công nhận nước CHND Trung Hoa và thiết lập quan hệ ngoại giao Tháng 4/1950, hai nước Trung - Ấn thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp Đại sứ Ngay sau đó, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã bày tỏ mong muốn giải quyết vấn đề Tây Tạng bằng thương lượng hoà bình

Ấn Độ cam kết từ bỏ các đặc quyền ở Tây Tạng và sẽ công nhận Tây Tạng là của Trung Quốc

Từ 1950 đến 1959, Chu Ân Lai thăm Ấn Độ bốn lần, J.Nehru thăm Trung Quốc một lần Đỉnh cao của mối quan hệ hữu nghị được đánh dấu bằng việc năm 1956 tại Băngdung, hai nước đã ghi nhận 5 nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình

Sau hội nghị Bandung năm 1955, phong trào ở Á - Phi bắt đầu bị chia rẽ dần, xu hướng không liên kết hình thành và phát triển trong các nước mới giành độc lập, dẫn tới sự thành lập Phong trào Không liên kết năm 1961 mà

Ấn Độ là một trong những nước sáng lập và đóng vai trò to lớn trong quá trình phát triển

Trung Quốc nhờ sự giúp đỡ to lớn và hiệu quả của Liên Xô, nhờ tranh thủ các nước láng giềng ở châu Á và bước đầu với các nước châu Phi, nhờ sử dụng những chính sách phù hợp và sự nỗ lực của nhân dân trong nước đã đạt những thành tựu khá to lớn về mọi mặt, đặc biệt là về kinh tế và tăng cường được uy tín trên trường quốc tế Từ đó, Trung Quốc thực hiện điều chỉnh chiến lược Về đối nội, Trung Quốc đề cao tinh thần “Ngu công dời núi” và thực hiện đường lối “Ba ngọn cờ hồng” Về đối ngoại, Trung Quốc cho rằng,

từ đây họ có thể có đủ sức để tự đi con đường riêng của mình Trung Quốc bắt đầu tách khỏi Liên Xô, giương cao ngọn cờ chống chủ nghĩa xét lại (ám chỉ Liên Xô), chống hoà hoãn Xô - Mỹ và muốn chiếm vị trí lớn hơn trong vai trò lãnh đạo cách mạng thế giới

Trái với Trung Quốc, Ấn Độ tiếp tục tăng cường mối quan hệ nhiều mặt với Liên Xô, tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô để đối phó sức ép của chủ

Trang 20

nghĩa đế quốc và giải quyết những vấn đề còn tồn đọng trong nước Năm

1955, Thủ tướng J.Nehru thăm Liên Xô và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Khơrutxốp cũng chính thức sang thăm Ấn Độ Liên Xô ủng hộ các mục tiêu dân tộc cơ bản của Ấn Độ, trong đó mục tiêu chủ yếu là xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ Liên Xô ủng hộ Ấn Độ trong vấn đề Casơmia, thỏa thuận giúp Ấn Độ xây dựng những ngành công nghiệp nặng, then chốt mà trước hết

là ngành thép và cơ khí nặng sau khi Mỹ và phương Tây khước từ các dự án công trình mà Ấn Độ đề nghị được giúp đỡ

Đến cuối những năm 50 của thế kỷ XX, do tư tưởng nước lớn của Trung Quốc đối lập với chủ nghĩa dân tộc của Ấn Độ, mầm mống của các bất đồng

cơ bản Trung - Ấn đã xuất hiện như vấn đề biên giới, vấn đề Tây Tạng, vai trò trong phong trào Á - Phi những bất đồng đó đã dẫn đến tình trạng căng thẳng kéo dài trong quan hệ Trung - Ấn

Ngày 10/3/1959, ở thủ phủ Lasha (Tây Tạng) xảy ra phiến loạn của một

số phần tử quá khích, Trung Quốc đưa quân đội vào trấn áp và ngay lập tức bị

Ấn Độ phê phán là có hành động “can thiệp vũ trang” vào khu vực này

Ngày 31/3, Đatlai Latma (lãnh tụ tinh thần của Tây Tạng) trốn sang Ấn

Độ và được nước này bảo vệ Trung Quốc đã có phản ứng kịch liệt với việc này, làm quan hệ hai nước trở nên căng thẳng hơn Đỉnh cao là những vụ xung đột biên giới từ 1959 đến 1962

Ngày 17/3/1959, Ấn Độ tuyên bố khẳng đinh phần biên giới của mình, Trung Quốc kịch liệt phản đối Đến 25/8 và 20/10/1959 đã xảy ra hai cuộc xung đột vũ trang đẫm máu ở cả phần Đông và Tây biên giới hai nước Sau đó hai bên đã có nhiều cuộc gặp gỡ và dàn xếp nhưng không có hiệu quả Hậu quả là năm 1961 và

1962 xung đột vũ trang ác liệt lại xảy ra trên tuyến biên giới hai nước

Trung Quốc cho rằng Ẩn Độ đã vi phạm biên giới của mình và việc “dạy cho Ấn Độ một bài học” là chính đáng Vì thế, chiến sự đã nổ ra trong vòng 1

Trang 21

tháng (từ 20/10 đến 21/11/1962) Ngày 21/11/1962, Trung Quốc mới đơn phương tuyên bố ngừng bắn và rút quân

Đến ngày 28/2/1963, Trung Quốc tuyên bố hoàn thành việc rút quân về nơi được gọi là “đường kiểm soát thực tế 7/11/1959” Đường biên giới tạo ra khi quân đội Trung Quốc rút quân và tập kết năm 1962 - 1963 vẫn tồn tại đến nay Từ đó, quan hệ Trung - Ấn chuyển sang giai đoạn mới, thời kỳ căng thẳng kéo dài

1.1.2.2 Giai đoạn từ 1962 đến cuối thập niên 80

Khủng hoảng biên giới năm 1962 đã đặt dấu chấm hết cho tình hữu nghị của hai người khổng lồ châu Á - Trung Quốc và Ấn Độ

Tháng 7/1961, Đại sứ Ấn Độ rời nhiệm sở và Đại sứ Trung Quốc về nước (15 năm sau quan hệ hai nước chỉ còn là cấp Đại biện lâm thời) Tháng 12/1962, Ấn Độ rút Tổng lãnh sự ở Lasha và Thượng Hải, Trung Quốc cũng rút hai Tổng lãnh sự ở Ấn Độ (mãi đến tháng 12/1991 mỗi bên mới khôi phục được một Tổng lãnh sự ở Thượng Hải và Bombay) Tháng 8/1960, Tân Hoa

Xã ở Niu Đêli rút về nước, chi nhánh ngân hàng Trung Quốc ở Ấn Độ cũng

đình chỉ hoạt động Bưu kiện qua biên giới bị kiểm soát gắt gao, quan điểm về vấn đề Đài Loan cũng không được nhất trí như trước

Ngày 19/9/1963, tờ báo “Sự thật” của Liên Xô đã đăng bài phân tích cuộc xung đột biên giới Trung - Ấn và khẳng định rằng: “không có nguyên

nhân để xảy ra cuộc xung đột biên giới giữa Trung Quốc và Ấn Độ và hơn nữa không có nguyên nhân để đưa cuộc xung đột đó đến cuộc xung đột vũ trang‟‟ [21, tr.ll]

Với Trung Quốc, gây ra cuộc xung đột biên giới, nước này muốn hạ uy tín

và làm suy yếu Ấn Độ để tăng ảnh hưởng ở Nam Á và phong trào giải phóng dân tộc Chống Ấn Độ, Trung Quốc cũng muốn hạ thấp Liên Xô, cho rằng Liên

Xô tiếp tay cho Ấn Độ chống lại Trung Quốc và Trung Quốc sẽ có cớ để tách

Trang 22

khỏi Liên Xô Ngoài ra, Trung Quốc cũng thực hiện được tham vọng lãnh thổ, sau chiến tranh 1962, Trung Quốc mở rộng đường biên giới ra hàng chục ngàn

km2 Sau chiến tranh biên giới, ngày 8/11/1962, Quốc hội Ấn Độ thông qua

một nghị quyết như một lời nguyền của nhân dân Ấn Độ: “tống cổ bọn xâm

lược ra khỏi lãnh thổ thiêng liêng của Ấn, dù cuộc chiến đấu có kéo dài và gian khổ như thế nào đi chăng nữa” [42, tr.4]

Trong suốt thập kỷ 60 và đầu thập kỷ 70, quan hệ hai nước tiến triển chậm chạp có nguyên nhân chủ quan của hai nước, đồng thời còn chịu ảnh hưởng bởi bối cảnh quốc tế cũng như ở khu vực Nam Á tác động, như chiến tranh Ấn Độ- Pakittan, các sự kiện Xichkim, vấn đề Campuchia, Hiệp ước hợp tác hòa bình hữu nghị Ấn - Xô

Từ 1976 trở đi, quan hệ Trung - Ấn bắt đầu đi vào giai đoạn bình thường hoá Quá trình bình thường hoá có những bước chập chững, dè dặt, song nhìn chung là theo hướng đi lên, ngày càng được đẩy mạnh

Sở dĩ đến giai đoạn này Trung Quốc lại cải thiện quan hệ với Ấn Độ và quan hệ Trung - Ấn có biến chuyển là vì: Sau thất bại nặng nề trong “Đại nhảy vọt” và “Đại cách mạng văn hoá vô sản”, Trung Quốc nhận thấy cần phải tranh thủ dựa vào Mỹ để phát triển đất nước Tuy nhiên, ngả sang phía

Mỹ, Trung Quốc phải chịu những bất lợi về chính trị Sự liên minh Mỹ - Trung, việc Trung Quốc bao vây, cô lập Ấn Độ và kiềm chế ảnh hưởng của

Ấn Độ trong phong trào giải phóng dân tộc đã làm Ấn Độ càng tăng cường quan hệ hợp tác chặt chẽ hơn với Liên Xô, tăng cường quan hệ với Việt Nam, tạo ra sự so sánh lực lượng không có lợi cho liên minh nói trên, điều mà cả

Mỹ và Trung Quốc đều không muốn

Phong trào Không liên kết bước vào thập kỷ 70 của thế kỷ XX đã vượt qua khủng hoảng, trở thành một lực lượng quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế Ấn Độ ngày càng có vai trò to lớn trong Phong trào này mà Trung

Trang 23

Quốc không thể không tính đến Vì vậy, cải thiện và tăng cường quan hệ với

Ấn Độ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Quốc trở lại với các nước đang phát triển Bình thường hoá quan hệ với Ấn Độ, Trung Quốc cũng có ý đồ làm cho Ấn Độ giảm bớt quan hệ chặt chẽ với Liên Xô, đồng thời tranh thủ

Ấn Độ trong một số vấn đề quốc tế Ngoài ra, Trung Quốc có thể cứu vãn uy tín quốc tế đã bị giảm sút và tập hợp lực lượng thế giới thứ 3 vào tay mình Phía Ấn Độ, xuất phát từ mục tiêu chiến lược lâu dài, Ấn Độ rất coi trọng bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, đưa Trung Quốc trở lại chính sách láng giềng thân thiện Trong quan hệ với Trung Quốc cũng như bất cứ nước nào, Ấn Độ đều cho rằng quan hệ thân thiện bao giờ cũng có lợi hơn là đối đầu Bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, Ấn Độ còn nhằm thoát khỏi sức ép Mỹ - Trung - Pakixtan và thực hiện chính sách đa dạng hoá trong quan

hệ, cân bằng quan hệ với các nước lớn cho phù hợp với đường lối chung và lợi ích của quốc gia

Vì những lý do trên và sau những bước thăm dò ngoại giao, năm 1976

Ấn Độ và Trung Quốc đã trao đổi đại sứ trở lại Hai nước trở lại tăng cường trao đổi các đoàn ngoại giao, qua đó tìm hiểu thiện chí và khả năng bình thường hoá quan hệ Ngoài các đoàn thương mại, kinh tế, văn hoá, thể thao, còn có các chuyến thăm, gặp gỡ hữu nghị Đáng chú ý nhất có chuyến thăm

Ấn Độ của Chủ tịch Hội hữu nghị Trung Quốc Vương Bình Nam từ 7/5 đến 11/5/1978, cuộc gặp gỡ của Ngoại trưởng Trung Quốc Hoàng Hoa và Ngoại trưởng Ấn Độ Vajpayee ở Liên Hợp Quốc (27/9/1978)

Tuy vậy, quá trình bình thường hoá diễn ra một cách chậm chạp, dè dặt Hai bên đều giữ lập trường nguyên tắc của mình về vấn đề biên giới và kịp thời lên tiếng mỗi khi đối phương có cử chỉ gì đụng chạm đến vấn đề tranh chấp Quan điểm và thái độ của hai bên trên nhiều vấn đề khu vực và quốc tế còn khác nhau rất xa

Trang 24

Năm 1977, liên minh các Đảng cách hữu (Liên minh Janata) lên cầm quyền ở Ấn Độ Chính quyền Janata tuy là phe đối lập với Đảng Quốc đại, song cũng không thể đi ngược lại lợi ích dân tộc Janata chủ trương thúc đẩy bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, song vẫn coi việc giải quyết vấn đề biên giới là không thể thiếu được để đi đến bình thường hoá quan hệ đầy đủ

và hoàn toàn Tháng 2/1979, lần đầu tiên sau 20 năm Ngoại trưởng Ấn Độ Vajpayee sang thăm Trung Quốc Đúng vào thời điểm đó, Trung Quốc lại xảy

ra việc đụng độ biên giới với Việt Nam vào 17/2/1979 Ngoại trưởng Vajpayee đã cắt ngắn chuyến thăm và coi sự kiện xảy ra là “sự thụt lùi” Dư luận Ấn Độ coi sự kiện xảy ra này là sự lặp lại cuộc chiến tranh biên giới Ấn

Độ năm 1962 và nhắc nhở ý thức cảnh giác của Ấn Độ đối với Trung Quốc Bước sang thập niên 80, đứng trước những thay đổi của tình hình quốc tế

và trong nước, hai nước Trung - Ấn nhận thấy việc cải thiện mối quan hệ sẽ rất có lợi cho cả đôi bên Trung Quốc xuất hiện mâu thuẫn với Mĩ và chiến lược đi với Mĩ chống Liên Xô đã lỗi thời Tình thế buộc Trung Quốc vừa phải dựa vào Mĩ, vừa phải cải thiện quan hệ với Liên Xô và “thế giới thứ ba” để hiện đại hóa đất nước

Tháng 3/1980, Indira Gandhi gặp Ngoại trưởng Hoàng Hoa ở Dimbabuê; tháng 5/1980, bà gặp Chủ tịch Hoa Quốc Phong tại Belgrade; tháng 6/1980, Ngoại trưởng Hoàng Hoa thăm Ấn Độ Tháng 10/1981, hai nước ký Hiệp định trao đổi phóng viên, Hiệp định thiết lập quan hệ hàng không Cuối tháng 9/1982, Trung Quốc đón hai đoàn đại biểu Công đoàn của Ấn Độ sang thăm Cuối tháng 10/1982, đoàn Hội đồng khoa học xã hội Ấn Độ do cố vấn đối ngoại của bà Gandhi dẫn đầu đi thăm Trung Quốc Đầu năm 1983, Trung Quốc đã cử nhiều đoàn đối ngoại sang Ẩn Độ như: Đoàn luật gia (tháng 3), Đoàn phụ nữ (tháng 3) [21, tr.22]

Song song với các hoạt động trên, Trung Quốc và Ấn Độ đã tiến hành đàm phán giải quyết vấn đề biên giới bắt đầu từ tháng 12/1981 Tại các vòng

Trang 25

đàm phán về vấn đề biên giới, hai bên đã thảo luận những vấn đề cụ thể liên quan đến các khu vực từng xảy ra tranh chấp giữa hai bên Tại vòng đàm phán thứ 8, hai bên đã nhất trí cần tránh đối đầu và xung đột, duy trì hoà bình trên biên giới hai nước

Trên cơ sở những kết quả đạt được trong các vòng đàm phán và các hoạt động hữu nghị, Thủ tướng Ấn Độ R Gandhi đã sang thăm chính thức Trung Quốc sau 34 năm kể từ chuyến đi thăm Trung Quốc của cố Thủ tướng J Nehru Hai bên đã nhất trí tăng cường hợp tác kinh tế, khoa học - kỹ thuật, lập

ra Uỷ ban hỗn hợp kinh tế và ký Hiệp định hợp tác quốc tế - khoa học kỹ thuật, Hiệp định hàng không dân dụng, Hiệp định thương mại [21, tr.29] Hai bên

đã thỏa thuận được về thời gian, cấp bậc, phương thức đàm phán về Vấn đề biên giới Hai bên cũng cam kết duy trì hoà bình, ổn định dọc biên giới

Có thể nói, cho đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, tuy vấn đề biên giới Trung - Ẩn vẫn chưa được giải quyết, quan điểm của hai nước vẫn còn khác xa nhau về một số vấn đề quốc tế và khu vực như việc giải quyết vấn đề Campuchia, nhưng so với trước thì mối quan hệ hai nước đã được cải thiện một cách rõ rệt Chuyến đi thăm của Thủ tướng R Gandhi sang Trung Quốc

có ý nghĩa hết sức quan trọng, là bước mở đầu một giai đoạn mới trong quan

hệ Trung - Ấn Chấm dứt thòi kỳ đối đầu, căng thẳng, đi vào thời kỳ hoà hoãn, cùng tồn tại hoà bình và phát triển Đó cũng là sự phản ánh xu thế chung của thế giới trong thời kỳ mới là hoà hoãn để tập trung cho phát triển kinh tế Chuyến thăm này cũng thể hiện sự năng động, khéo léo của Thủ tướng R Gandhi trong vai trò đối nội và đối ngoại

Trang 26

ở Đông Âu, Liên Xô tan rã, SEV, Vacsava bị giải thể Thế giới bước vào thời

kì quá độ, từ cơ cấu quyền lực hai cực sang đa cực

Sự tan rã của Liên Xô - thành trì của hòa bình thế giới, một trong hai siêu cường của thế giới đã làm sụp đổ trật tự thế giới cũ: trật tự hai cực Ianta So sánh lực lượng trên toàn cầu từ chỗ tương đối cân bằng giữa hai hệ thống chính trị- xã hội đã chuyển sang có lợi cho Mĩ và các nước tư bản Mĩ không còn đối thủ cạnh tranh trên danh nghĩa đã ra sức củng cố địa vị siêu cường của mình Trong bối cảnh đó Trung Quốc cũng như Ấn Độ đều lo ngại về ý

đồ Mĩ thiết lập trật tự thế giới một cực do Mĩ chi phối

Sự vươn lên của ba trung tâm tư bản từ đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX đến nay tiếp tục diễn ra theo chiều hướng thay đổi tương quan lực lượng về kinh tế - chính trị đã gây nên sự bất lợi tương đối cho Mỹ Mỹ gặp phải một

số khó khăn về kinh tế xã hội Nếu trong những năm 50 thu nhập quốc dân (GDP) của Mỹ hơn GDP của tất cả các nước tư bản cộng lại, thì vào đầu thập

kỷ 90, GDP của Mỹ chỉ chiếm khoảng 25% GDP của thế giới tư bản Do Liên

Xô tan rã, cái ô hạt nhân của Mỹ cũng không còn cần thiết cho họ nữa, xu hướng li tâm phát triển Cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập chủ quyền của các nước đang phát triển chống lại sự áp đặt và can thiệp của nước lớn đã trở thành xu thế đáng kể trên thế giới Trong hoàn cảnh đó, Mỹ sẽ rất khó thiết lập được vai trò chủ đạo của mình trong trật tự thế giới mới

Chiến tranh lanh kết thúc, quan hệ quốc tế chuyển sang một thời kì mới-

từ đối đầu chuyển sang đối thoại và hợp tác Liên Hợp Quốc ngày càng có vai trò quan trọng hơn Khi thế giới phân chia thành hai phe, Liên Hợp Quốc thường bị lợi dụng làm diễn đàn của bên này chống bên kia, nên khó phát huy hết vai trò toàn cầu của mình Ngày nay, các nước lớn tìm cách nhân nhượng, thoả hiệp với nhau thông qua việc sử dụng Liên Hợp Quốc, chủ yếu là Hội đồng Bảo an làm cơ chế xử lý các vấn đề có tính toàn cầu hoặc các vấn đề khu

Trang 27

vực có liên quan đến an ninh toàn cục Tuy nhiên, sự hạn chế của Liên Hợp Quốc đã thể hiện trong việc không ngăn chặn được cuộc chiến tranh Irăc năm

2003 Vì vậy, hiện đang diễn ra cuộc đấu tranh ngấm ngầm nhưng không kém phần gay gắt để cải tổ cơ chế và bộ máy của Liên Hợp Quốc cho phù hợp với thực trạng thế giới mới Các nước đang phát triển đòi được bảo vệ độc lập, chủ quyền của mỗi nước thành viên và đòi dân chủ hoá Liên Hợp Quốc [36, tr.17]

Để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, thời gian này các nước đang phát triển có nhu cầu tập hợp lại với nhau vào Phong trào Không liên kết Tuy nhiên, hiệu quả của Phong trào chưa thật sự cao Sau Chiến tranh lạnh, Trung Quốc, Ấn Độ, mà đặc biệt là Ấn Độ không mặn mà gì với Phong trào, nhưng

từ năm 1998 thì Ấn Độ bắt đẩu thay đổi lập trường này Đầu năm 2003, Thủ tướng A.B Vajpayee tham gia Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 13 Phong trào Không liên kết đã đưa ra yêu cầu đổi mới để Phong trào phát triển hơn

Những diễn biến trên cho thấy tình hình thế giới đang có nhiều biến động, nhiều nước còn đang trong quá trình điều chỉnh chiến lược sao cho phù hợp với đặc điểm của thế giới mới Việc tập hợp lực lượng trên thế giới cũng như ở các khu vực đang chuyển biến khác trước, nhiều mối quan hệ đa phương cũng như song phương đang định hình và đan xen phức tạp

Trong bối cảnh trật tự hai cực tan rã, những cuộc xung đột khu vực hoặc giữa các quốc gia, hay các lực lượng trong cùng một quốc gia, các mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc và các lực lượng chính trị, xã hội, tôn giáo có xu hướng gia tăng Đặc biệt là sự phát triển của chủ nghĩa khủng bố quốc tế mà sự kiện 11/9/2001 ở Mỹ là một điển hình Trong giai đoạn quá độ đi đến hình thành các mối quan hệ quốc tế mới, tuy trên phạm vi toàn cầu hoà bình và ổn định là chủ đạo nhưng ở nhiều khu vực đã và đang xuất hiện nhiều nhân tố mới gây

ra tình hình mất ổn đinh không lường trước được

Trang 28

Chiến tranh lạnh kết thúc đã tạo điều kiện cho quan hệ quốc tế trở nên năng động, linh hoạt nhưng cũng phức tạp hơn Trước đây, các mối quan hệ quốc tế bị chi phối bởi chuẩn mực cùng hay khác ý thức hệ Song, khi trật tự hai cực trên thế giới mất đi, trật tự thế giới mới còn đang trong quá trình hình thành Sự tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế diễn ra đa dạng và linh hoạt, chủ yếu dựa trên sự phù hợp về lợi ích dân tộc Quan hệ quốc tế có lợi ích đan xen nhau giữa các quốc gia trở nên phức tạp

Trước những đòi hỏi mới của môi trường quốc tế, các nước đều điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình theo chiều hướng tập trung cho yêu cầu phát triển kinh tế, đa dạng hoá quan hệ quốc tế, vừa hợp tác vừa đấu tranh với các đối tượng nhằm mục đích tạo cho mình vị thế có lợi hơn Sinh hoạt quốc

tế ngày nay nổi lên các xu thế mới sau:

Thứ nhất: xu thế ưu tiên cho phát triển kinh tế đang lôi cuốn cả cộng

đồng quốc tế, cả những nước công nghiệp phát triển cũng như những nước đang phát triển Với việc kết thúc Chiến tranh lạnh giữa các nước lớn, cuộc chạy đua về kinh tế trên phạm vi toàn cầu ở nhiều mặt đang thay thế cho cuộc chạy đua vũ trang Từ đầu thế kỷ XXI, diễn ra cuộc chạy đua toàn thế giới về kinh tế và khoa học - kỹ thuật trong bối cảnh các nước trên thế giới hợp tác và đấu tranh trong cùng tồn tại hoà bình Nhân tố kinh tế ngày càng giữ vị trí quan trọng chủ đạo trong quan hệ quốc tế ngày nay, có vai trò quyết định trong việc tăng cường sức manh tổng hợp của mỗi quốc gia

Thứ hai: xu thế đa dạng hoá quan hệ đối ngoại của tất cả các nước, kể cả

các nước xưa nay hạn chế quan hệ đối ngoại ở một số đối tượng nhất định đang diễn ra Điều này trở thành một đòi hỏi khách quan, bức bách của môi trường toàn cầu mới dưới tác động của khoa học công nghệ đưa đến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong nền sản xuất được quốc tế hoá Các nước ra sức mở rộng quan hệ quốc tế, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, không

Trang 29

câu nệ đối tượng Với tất cả những ai có khả năng hợp tác hiệu quả, việc xác định bạn, thù, hình thức và mức độ quan hệ trở nên rất linh hoạt và thực dụng Cách thức tập hợp lực lượng theo kiểu truyền thống đã được thay bằng sự tập hợp lực lượng trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc, cơ động và linh hoạt hơn

Thứ ba: xu thế tăng cường hợp tác khu vực đã nảy sinh từ cuộc chạy đua

và cạnh tranh kinh tế quyết liệt toàn cầu Các nước đều coi trọng chính sách khu vực, ưu tiên phát triển quan hệ với các nước láng giềng, đẩy manh hợp tác và liên kết khu vực, nhất là về kinh tế Nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương khu vực đã hình thành, điển hình là các tổ chức khu vực như: ASEAN, NAFTA, OPEC Tại châu Âu, các quốc gia châu Âu sau nhiều năm thương lượng đã tiến tới việc nhất thể hoá kinh tế và từng bước về chính trị với mục tiêu xây dụng một trung tâm thế giới mới hùng mạnh hơn trong cuộc cạnh tranh đối với các khu vực và quốc gia khác trên thế giới Mỹ cũng xúc tiến thành lập “Khu vực tự do thương mại Bắc Mỹ” (NAFTA) gồm Mỹ, Canada, Mexicô và đang có ý đồ mở rộng ra cả vùng Tây Thái Bình Dương Nhật Bản

cố gắng tập hợp lực lượng ở châu Á và đưa ra khái niệm đồng Yên ở châu Á - Thái Bình Dương Các nước ASEAN sau một quá trình tập hợp về chính trị, Hội nghị cấp cao ASEAN tháng 1/1992 đã thông qua quyết đinh thành lập

“Khu vực mậu dịch tự do” (AFTA) vào năm 2013

Tóm lại, Chiến tranh lạnh giữa hai chiến tuyến Đông - Tây, giữa khối TBCN và XHCN đã chấm dứt, tạo điều kiện thúc đẩy hai quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá, trước hết là trên lĩnh vực kinh tế diễn ra nhanh hơn Xu thế này là tất yếu đưa thế giới bước vào một thời đại mới - thời đại của văn minh tri thức, đồng thời gây ra sự tác động to lớn tới mọi quốc gia không phân biệt trình độ phát triển, hệ thống chính trị, văn hoá Dù sức mạnh của

Mỹ có suy giảm tương đối, nhưng chưa thể có một siêu cường nào khác vươn lên thay thế độc tôn của Mỹ trong tương lai gần Các siêu cường đang lên của

Trang 30

thế giới và khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ cạnh tranh ngày càng gay gắt trong tăng cường sức mạnh quốc gia cũng như ảnh hưởng đối với nhau và đối với các khu vực Xu thế tập trung phát triển kinh tế để tránh tụt hậu khiến tất

cả các nước phải cùng nhau hợp tác, từng nước đều thi hành chính sách mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế Quá trình này càng làm cho toàn cầu hoá và khu vực hoá diễn ra nhanh hơn, đồng thời thúc đẩy phụ thuộc lẫn nhau, đan xen lợi ích quốc gia của các nước với nhau Do đó, giảm thiểu nguy cơ chiến tranh

và xung đột, khiến xu hướng vừa hợp tác vừa đấu tranh một cách hoà bình phát triển Tiến trình này mở ra thời kỳ mới với vai trò ngày càng quan trọng trong quan hệ quốc tế nói chung và trong quan hệ kinh tế quốc tế nói riêng của các chủ thể phi nhà nước như các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế và đa phương như APEC, WTO, các tổ chức phi chính phủ, các công ty xuyên quốc gia Trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu, dù là hai quốc gia lớn như Trung Quốc và Ấn Độ cũng không tránh khỏi sức ép, chính sách áp đặt của các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế khi ra nhập với tư cách thành viên

Trung Quốc - Ấn Độ, là hai quốc gia lớn, đang trong quá trình phát triển cũng đã nhanh chóng điều chỉnh chính sách đối ngoại một cách toàn diện nhằm thích ứng với bối cảnh quốc tế mới, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Hai nước cũng nhận thấy sự đối đầu trong điều kiện là những nước láng giềng sẽ hết sức bất lợi trong quá trình phát triển đất nước Do vậy, họ đã từ từ thay đổi quan điểm và chính sách để cải thiện mối quan hệ ngày một tốt đẹp hơn, phục vụ cho yêu cầu số một là phát triển kinh tế

1.2.1.1 Sự tác động của nhân tố Pakistan

Pakistan là một nhân tố ảnh hưởng lớn tới quan hệ Trung - Ấn thời hiện đại Sau năm 1947, lãnh thổ Ấn Độ bị chia cắt thành hai nước Pakistan và Ấn

Độ Chính sự chia cắt này là nguyên nhân dẫn đến các cuộc chiến tranh đẫm máu giữa Ấn Độ và Pakistan để giành giật vùng Casơmia Pakistan muốn

Trang 31

thông qua phương thức liên minh với nước ngoài để đạt được vị trí ngang hàng với Ấn Độ Còn Ấn Độ thì cho rằng Pakistan luôn là thách thức lớn nhất đối với Ấn Độ Từ đầu những năm 1990 của thế kỷ XX đến nay, hai nước đã

có những bước đi quan trọng để giải quyết tranh chấp, tuy nhiên một giải pháp làm hài lòng cả hai bên vẫn đang còn nằm ở phía trước Các vụ đánh bom do các phần tử ly khai thực hiện vẫn thường xuyên diễn ra ở vùng đất Casơmia do Ấn Độ kiểm soát Về phần mình, Ấn Độ thường tố cáo Pakistan ngầm ủng hộ các lực lượng ly khai này

Vấn đề nảy sinh, cản trở quan hệ Trung Quốc - Ấn Độ là ở chỗ kể từ những năm 1950 của thế kỷ XX đến nay, Trung Quốc luôn là đồng minh của Pakistan càng làm cho quan hệ Trung - Ấn thêm căng thẳng Ấn Độ nghi ngờ Trung Quốc liên tục giúp đỡ chương trình vũ khí hạt nhân và tên lửa đạn đạo cho Pakistan nhằm đối trọng với chương trình chế tạo vũ khí mới của Ấn Độ Hiện nay Trung Quốc đang là đối tác thương mại lớn nhất của Pakistan Chính mối quan hệ Trung Quốc - Pakistan chặt chẽ cũng là một trong những

lý do cản trở tiến trình hoà bình Ân Độ - Pakistan Chừng nào Pakistan còn tin rằng nước này có được sự ủng hộ vô tận của Trung Quốc đối với các chính sách chống Ấn Độ, họ còn do dự trong việc thực hiện các biện pháp nhằm kiềm chế hoạt động khủng bố tại Casơmia, đồng thời gây căng thẳng trong quan hệ với người anh em Ấn Độ

Ngoài ra, quan hệ Mỹ - Pakistan cũng đang tiến triển tốt đẹp Pakistan là đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố, đặc biệt là trong cuộc chiến ở Ápganixtan Trong tình hình mới hiện nay, quan hệ Trung - Ấn, Mỹ -

Ấn đang dần được cải thiện, Pakistan chính là “con bài” để Trung Quốc và

Mỹ mặc cả với Ấn Độ Như vậy, có thể thấy Pakistan chính là một nhân tố không nhỏ chi phối mối quan hệ Trung - Ấn

Bên cạnh nhân tố Mỹ, Pakistan, còn các nhân tố như Nhật Bản, EU và Nga cũng tác động lớn tới quan hệ Trung - Ấn Sự trỗi dậy mạnh mẽ về kinh

Trang 32

tế cùng những tiềm năng to lớn của Trung Quốc và Ấn Độ khiến cho nước nào cũng muốn là bạn hàng của hai nước này Các nước lớn đều ra sức đẩy mạnh quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc và Ấn Độ Do vậy, việc tăng cường quan hệ với các cường quốc như Nhật Bản, Nga và EU chắc chắn sẽ có tác động tới quan hệ Trung - Ấn

1.2.1.2 Nhân tố Casơmia

Casơmia vừa là nhân tố bên ngoài vừa là nhân tố bên trong có ảnh hưởng

lớn tới quan hệ Trung Ấn Casơmia là vùng tranh chấp từ lâu chủ yếu giữa Ấn

Độ và Pakistan Lãnh thổ Casơmia trở thành điểm nóng khi Ấn Độ và Pakistan được tự trị vào tháng 8 - 1947 Theo kế hoạch chia cắt lãnh thổ trong Luật Độc lập Ấn Độ năm 1947, Casơmia được tự do lựa chọn hoặc sáp nhập vào lãnh thổ Ấn Độ hoặc Pakistan Sau một cuộc trưng cầu dân ý, Casơmia được sáp nhập vào lãnh thổ Ấn Độ Islamabad lại cho rằng Casơmia đáng lẽ phải thuộc về Pakistan vì người Hồi giáo chiếm đa số ở Casơmia Pakistan cũng cho rằng sau một loạt nghị quyết của Liên Hợp Quốc về vấn đề Casơmia, người dân ở đây cần được bỏ phiếu để quyết định tương lai chính trị của họ Tuy nhiên, Ấn Độ không chấp nhận và đã đưa nhiều dẫn chứng khẳng định việc sáp nhập Casơmia vào Ấn Độ là phù hợp Kể từ đó, Casơmia trở thành một điểm nóng với hai cuộc chiến tranh lớn giữa Ấn Độ và Pakistan vào năm 1947 - 1948 và năm 1965 Sau cuộc chiến tranh đầu tiên kết thúc, một đường ranh giới đã được dựng lên chia cắt Casơmia thành hai vùng: Casơmia - Ấn Độ, Casơmia - Pakistan Tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong vấn đề Casơmia bởi vì dân số ở vùng đất này chủ yếu là người Hồi giáo (60% dân số, là bang có đông người Hồi giáo nhất ở Ấn Độ) Hơn 60 năm qua, Quan hệ Pakistan và Ấn Độ luôn ở trong tình trạng thù địch Sự thù địch này bắt nguồn từ nguyên nhân tôn giáo và lịch sử, leo thang thành một cuộc chạy đua vũ trang nguy hiểm Cuộc tranh chấp này càng phức tạp hơn khi có

Trang 33

thêm những thế lực bên ngoài tham gia Trung Quốc không chỉ chiếm 5.180

km2 ở Casơmia sau khi được Pakistan nhượng lại từ năm 1963, mà còn hậu thuẫn cho chính quyền Islamabad trong thế đối trọng với Niu Đê li Sự hậu thuẫn này là một trong những nguyên nhân khiến cho vấn đề Casơmia trở nên phức tạp Việc tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho vùng đất bạo lực này không thể thiếu sự tham gia của Trung Quốc Có thể thấy, vấn đề Casơmia là

một nhân tố quan trọng chi phối quan hệ Trung - Ấn hiện nay

1.2.2 Sự tác động của xu hướng toàn cầu hoá

Thời đại ngày nay, loài người đang chứng kiến sự biến đổi diễn ra hàng ngày, hàng giờ trong đời sống với quy mô rộng lớn Sự biến đổi đó trước hết diễn ra trong lĩnh vực kinh tế và theo đó bằng sự tác động lẫn nhau, tác động một cách sâu sắc tới các lĩnh vực văn hoá, chính trị, xã hội và cả ngoại giao

Dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, làn sóng toàn

cầu hóa (Globalisation), khu vực hóa ngày càng lan rộng và sâu sắc hơn Sự

tự do hoá thương mại, đầu tư, dịch vụ, chuyển giao công nghệ, phân công lao động quốc tế đã thúc đẩy các quan hệ song phương và đa phương, tăng cường

sự liên kết giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới Tự do hóa thương mại

và mở cửa thị trường tạo điều kiện cho những nước có năng lực sản xuất cao

mở rộng thị trường, đa dạng hóa các sản phẩm Thế giới đang tiến dần đến một nền kinh tế không biên giới Các quốc gia dù lớn hay nhỏ trong mối quan

hệ phụ thuộc lẫn nhau với mức độ và chiều hướng khác nhau Trung Quốc và

Ấn Độ là những nước có nền kinh tế đang phát triển, cần nhiều nguồn vốn, công nghệ kĩ thuật tiên tiến và phương thức quản lí hiện đại Do vậy, toàn cầu hóa tạo điều kiện cho các công ty của mỗi bên tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, thâm nhập vào thị trường của nhau Như vậy, quan hệ kinh tế giữa hai bên sẽ ngày càng chặt chẽ hơn, tạo điều kiện thúc đẩy quan

hệ chính trị - ngoại giao phát triển

Trang 34

Cùng với xu thế toàn cầu hóa là khu vực hóa (Regionnalisation) với nội

dung cốt lõi là hình thành các khu vực kinh tế, tăng cường sức mạnh và quyền

tự chủ cho các khu vực, xuất phát từ mục đích phát huy những lợi thế so sánh, những nét tương đồng của các quốc gia trong mỗi nhóm khu vực, nâng cao trình độ hợp tác khu vực Từ chỗ thúc đẩy hợp tác kinh tế, các quốc gia đã chủ động hơn trong việc tìm kiếm sự hợp tác song phương và đa phương về chính trị, an ninh Trung Quốc và Ấn Độ cũng đang tích cực tham gia vào các

tổ chức khu vực Năm 2005, Trung Quốc trở thành quan sát viên của SAARC Tháng 5.2005, Ấn Độ cũng trở thành quan sát viên của SCO Đồng thời, cả hai đều là đối tác quan trọng của ASEAN Mặc dù tham gia vào các tổ chức này chủ yếu là để tăng cường và tranh giành phạm vi ảnh hưởng của mình, nhưng đây cũng là các diễn đàn giúp hai nước xích lại gần nhau, giảm thiểu những bất đồng Từ năm 2000 trở đi, vượt lên trên những nghi ngại về an ninh

- quốc phòng và tranh chấp biên giới, thương mại Ấn - Trung đã phát triển mạnh, tăng từ 3 tỷ USD năm 2000 lên 38,7 tỷ năm 2007, năm 2010 lên 61,74

tỷ USD, năm 2011 đạt 74 tỷ USD [ 133, tr.15] Trong chuyến thăm Ấn Độ

tháng 9 năm 2014, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đặt mục tiêu sẽ nâng kim ngạch xuất khẩu song phương lên 100

tỷ USD vào năm 2015 [144, tr.7] Sự điều chỉnh này diễn ra trong bối cảnh quan hệ kinh tế - thương mại Trung - Ấn thời gian qua đã có sự tăng trưởng nhanh chóng Trung Quốc hiện đang là bạn hàng lớn nhất của Ấn Độ và Ấn Độ hiện đang là bạn hàng lớn thứ 10 của Trung Quốc Hai nước hiện đang xúc tiến cho việc thiết lập một khu vực tự do thương mại Nếu điều này trở thành hiện thực sẽ có tác động rất lớn tới nền kinh tế thế giới và thúc đẩy nhanh việc giải quyết những bất đồng về chính trị và tranh chấp biên giới giữa hai nước

Ngoài ra, cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện nay với quá trình tin

học hóa sản xuất đã có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ nền kinh tế và nhiều lĩnh

Trang 35

vực khác của thế giới Trong nền kinh tế tri thức, các nước đang phát triển có

cơ hội tiếp cận với các công nghệ mới, nhất là công nghệ thông tin sẽ giúp cho việc điều chỉnh mô hình và cơ cấu kinh tế của mình Đồng thời, nó cũng tạo điều kiện để các nước đang phát triển rút ngắn khoảng cách đối với các nước phát triển

Trung Quốc và Ấn Độ là những nước đang phát triển, có tiềm năng to lớn về công nghệ thông tin Trung Quốc hiện đang có xu hướng chuyển từ sản xuất những mặt hàng tiêu dùng đơn giản sang những hàng hóa công nghệ cao Công nghệ của Trung Quốc hiện đang cạnh tranh quyết liệt với những hàng hóa của Nhật Bản và Hàn Quốc Việc phóng thành công tàu vũ trụ có người lái Thần Châu 7 (tháng 9 năm 2008), đã đưa Trung Quốc trở thành nước thứ

ba trên thế giới, sau Liên Xô và Mỹ, về tàu vũ trụ Điều này cho thấy tiềm năng to lớn về kinh tế và khoa học kĩ thuật của nước này Ấn Độ cũng là một quốc gia có ưu thế lớn về khoa học công nghệ, nhất là dịch vụ và thông tin Năm 2000, Ấn Độ mới chỉ xuất khẩu được 6 tỷ USD sản phẩm phần mềm nhưng đến năm 2008, con số đó là 50 tỷ USD Công nghiệp phần mềm của

Ấn Độ hiện chiếm hơn 20% thị phần thế giới Trong số 500 công ty xuyên quốc gia lớn nhất thế giới, có tới 300 công ty có hợp đồng mua sản phẩm phần mềm của Ấn Độ [ 40, tr.70] Trong chuỗi sản xuất toàn cầu và phân công lao động quốc tế, hiện Ấn Độ đang tiếp nhận hàng triệu việc làm đòi hỏi trình độ kĩ thuật cao từ các công ty xuyên quốc gia trên thế giới Như vậy, tiềm năng phát triển kinh tế của Trung Quốc và Ấn Độ là rất to lớn Hai nước đang xích lại gần nhau cũng vì hai nước nhận ra nhưng lợi ích của sự hợp tác

và những điểm họ bổ sung cho nhau Trên một số mặt, cái mạnh của nước này

là chỗ yếu của nước kia và ngược lại Ấn Độ mạnh về dịch vụ và công nghệ thông tin còn Trung Quốc mạnh về linh kiện máy móc Kết hợp lại, họ sẽ tăng

cường sức mạnh cho nhau Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã từng tuyên bố “Nếu Ấn

Trang 36

Độ và Trung Quốc hợp tác thành công trong lĩnh vực này (công nghệ thông tin) chúng ta sẽ vượt qua cả thế giới”[84, tr.7]

Bên cạnh đó, quan hệ Trung - Ấn còn chịu sự tác động của môi trường

an ninh quốc tế Chiến tranh lạnh kết thúc, các nước trên thế giới đều tập

trung cho phát triển kinh tế, hội nhập vào trào lưu phát triển chung Tuy nhiên, những mâu thuẫn, xung đột và chiến tranh cục bộ vẫn xảy ra Đặc biệt, sau sự kiện 11-9-2001, việc Mỹ phát động cuộc chiến chống khủng bố đã vạch một đường phân giới mới trong nền chính trị thế giới Điều này tác động mạnh đến môi trường an ninh và quan hệ quốc tế Trong bối cảnh đó, các nước phải điều chỉnh chiến lược đối ngoại của mình cho phù hợp với tình hình mới Trung Quốc và Ấn Độ đều lên tiếng ủng hộ cuộc chiến của Mỹ Cả hai đều có vấn đề với chủ nghĩa ly khai và khủng bố Trung Quốc đang đau đầu với xu hướng ly khai và các hoạt động chống chính quyền của Tây Tạng

và Tân Cương Còn Ấn Độ cũng đang đối phó với những phần tử Hồi giáo cực đoan đòi ly khai ở vùng Casơmia Cả hai đều muốn thông qua việc ủng

hộ Mỹ chống khủng bố để dàn xếp với Mỹ trong những vấn đề chính trị, an ninh và kinh tế của mình Đồng thời, bằng việc ủng hộ Mỹ, quan hệ Mỹ - Trung, Mỹ- Ấn, Trung - Ấn cũng có nhiều thay đổi theo chiều hướng xích lại gần nhau hơn

1.2.3 Sự tác động của nhân tố Mỹ

Những năm gần đây, sự nổi lên nhanh chóng của Trung Quốc như một cường quốc về kinh tế và chính trị khu vực với nguyện vọng vươn lên thành cường quốc toàn cầu đã đưa đến một đối thủ cạnh tranh lớn với Mỹ trong tương lai Sự nổi lên của Bắc Kinh có ý nghĩa quan trọng đối với khu vực và toàn thế giới Một Trung Quốc đang gia tăng chi phí quốc phòng, hiện đại hóa kho vũ khí chiến lược và cải thiện khả năng can thiệp ra bên ngoài đang phá

vỡ cần bằng quân sự ở châu Á Chính sách của Mỹ với Trung Quốc là vừa

Trang 37

hợp tác vừa cạnh tranh, dùng Nhật Bản, Đài Loan và lôi kéo Ấn Độ cùng kiềm chế sự vươn lên của Trung Quốc

Cạnh đó, Ấn Độ cũng là quốc gia đang lên nhanh chóng và cũng là nước láng giềng nhiều “duyên nợ” với Trung Quốc Tầm quan trọng về địa - chính trị và địa - chiến lược của Ấn Độ sẽ có tác động rất lớn khi nước này nghiêng

về phía nào, Trung Quốc hay Mỹ Đây là động thái quốc tế lớn, chi phối các mối quan hệ khu vực và toàn cầu

Trung Quốc và Ấn Độ đều là nước lớn đang phát triển và hiện đang ở vào thời kỳ trỗi dậy mạnh mẽ, nhưng họ cũng phải đứng trước một thực tế là môi trường quốc tế đang rất phức tạp và có những biến động bất lợi cho họ, nhất là với Trung Quốc Tuy nhiên, cùng với thực lực của đất nước tăng lên thì sức ép quốc tế, nhất là từ Mỹ và phương Tây đối với Trung Quốc cũng theo đó mà tăng lên

Có thể nhận thấy rằng, những động thái mới trong quan hệ Mỹ - Ấn có ảnh hưởng rất lớn tới quan hệ Trung - Ấn Mục tiêu của Mỹ là đảm bảo rằng không có sức mạnh bên ngoài nào có thể chi phối được an ninh khu vực và an ninh toàn cầu Do vậy, hơn bất cứ lúc nào Mỹ muốn lợi dụng Ấn Độ để hạn chế sự ảnh hưởng ra bên ngoài của Trung Quốc Với một đường biên giới chung rộng lớn chưa được giải quyết dứt điểm và những "vết sẹo" vẫn chưa lành hẳn của cuộc chiến tranh năm 1962, giữa Trung Quốc và Ấn Độ vẫn còn tồn tại những lo ngại về nhau Mỹ muốn lợi dụng điều này để hạn chế quan hệ Trung - Ấn, từ đó kiềm chế sự phát triển và ảnh hưởng ra bên ngoài của Trung Quốc

Còn Ấn Độ dù luôn thực hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ và cũng không dễ gì từ bỏ nguyên tắc của mình để trở thành quân cờ trên bàn

cờ chiến lược châu Á của Mỹ, nhưng rõ ràng chính sách lôi kéo của Mỹ vẫn

ít nhiều ảnh hưởng đến mối quan hệ láng giềng vốn chịu tác động bởi nhiều yếu tố phức tạp này

Trang 38

1.3 Nhân tố bên trong

1.3.1 Ấn Độ trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc

* Vài nét về chính sách đối ngoại của Trung Quốc

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, bất kì nước nào muốn tồn tại và phát triển đều phải liên hệ chặt chẽ với các nước trong khu vực và thế giới Vấn đề là ở chỗ nước nào khéo vận dụng mối liên hệ đó để phục vụ tốt

hơn cho sự phát triển của nước mình mà thôi

Là một quốc gia lớn mạnh tốc độ phát triển kinh tế nhanh vào bậc nhất thế giới hiện nay, Trung Quốc đang chứng tỏ vai trò và vị trí to lớn của mình trong khu vực và trên toàn thế giới Mọi chính sách và bước đi của “con rồng” châu Á này đều nhằm mục tiêu ổn định để phát triển nội lực và tăng cường phạm vi ảnh hưởng trên trường quốc tế Vì thế, phương châm chính sách đối ngoại cũng không nằm ngoài mục tiêu này

Chính sách ngoại giao của Trung Quốc qua các thời đại rất linh hoạt và thực dụng, liên tục thay đổi theo chiến lược bạn, thù rất rõ ràng, đặc biệt là sau khi giành độc lập đến nay Những năm 50 của thế kỷ XX, Trung Quốc thực hiện chính sách đối ngoại “Nhất biên đảo” (ngả theo một bên - Liên Xô), đến những năm 60, điều chỉnh thành “Hai trận tuyến” (chống cả hai bên Mỹ

và Liên Xô) Bước vào thập niên 70, Trung Quốc chuyển sang áp dụng chính sách “Một trận tuyến” (thân Mỹ) Suốt những năm 80, Trung Quốc thực hiện chính sách “Độc lập- tự chủ” Từ những năm 90 đến nay, Trung Quốc chuyển sang chính sách “cận thân viễn giao”(Ngoại giao bạn bè) nhằm từng bước hoàn thiện chiến lược đối ngoại “hòa bình, độc lập, tự chủ”

Từ sau Chiến tranh lạnh đến nay, trước xu thế phát triển mới của thế giới, Trung Quốc đã và đang thực hiện chiến lược “Ngoại giao bạn bè” Chiến lược “Ngoại giao bạn bè” được xây dựng trên cơ sở phương châm đối ngoại

cơ bản là kiên trì độc lập tự chủ, chủ động hướng tới đa phương hoá các mối quan hệ với cộng đồng thế giới Cơ sở của chiến lược này là cùng có lợi,

Trang 39

không đối kháng, không liên minh, không nhằm chống lại nước thứ ba Bằng hình thức tiếp xúc, đối thoại, với mục đích là hiệp thương và hợp tác, nhằm phát triển quan hệ song phương với tất cả các nước Đúng như lời nhận xét của chuyên viên Viện kinh tế và chính trị thế giới - Viện Khoa học xã hội

Trung Quốc Vương Dật Châu: “chúng ta vừa phải nghiên cứu sự phát triển

của bản thân mình, vừa phải quan tâm đến trách nhiệm quốc tế và hình tượng đối ngoại của nước ta” [81, tr.7]

Về bản chất chiến lược “Ngoại giao bạn bè” của Trung Quốc nhằm duy trì và củng cố lợi ích quốc gia, thích ứng với tình hình quốc tế với một đối sách hoàn toàn mới theo hướng đa cực Đồng thời nó cũng phù hợp với yêu cầu đặt ra trong quan hệ hợp tác giữa Trung Quốc và các nước sau Chiến tranh lạnh

Mục tiêu chiến lược của “Ngoại giao bạn bè” là hướng tới việc bảo vệ và tăng cường lợi ích quốc gia, dân tộc của Trung Quốc trên trường quốc tế Nhà

lãnh đạo Đặng Tiểu Bình đã từng nhấn mạnh: “Suy nghĩ đến mối quan hệ Nhà

nước với Nhà nước, chủ yếu là phải xuất phát từ lợi ích chiến lược lâu dài, đồng thời cũng phải tính đến lợi ích của cả đối phương” [71, tr.36] Có thể nói, đây

chính là lời giải thích cụ thể cho mục tiêu “Ngoại giao bạn bè” của Trung Quốc

Trong quá trình thực hiện chiến lược “Ngoại giao bạn bè” thì mỗi lãnh đạo Trung Quốc có cách vận dụng linh hoạt với các thủ thuật khác nhau Nếu như dưới thời Đặng Tiểu Bình là “ẩn mình chờ thời” và Hồ Cẩm Đào có vẻ là người thực thi lời di chúc của bậc tiền bối một cách khôn khéo để phù hợp với hoàn cảnh mới mà vẫn đảm bảo lợi ích dân tộc thì Tập Cận Bình đã đưa ra chiến lược “ngoại giao nước lớn mang bản chất Trung Quốc”, “phong cách Trung Quốc”, “dáng vẻ Trung Quốc, thái độ Trung Quốc” liên tiếp tiến hành những chuyến công du sang châu Âu, châu Á, châu Phi đẩy mạnh hiện đại hóa quân sự, tỏ thái độ hung hăng và quyết đoán trên Biển Đông và Biển Hoa

Trang 40

Đông Thậm chí ông còn đưa ra dự án “Con đường tơ lụa mới thế kỷ XXI”,

“Tây Tiến” tăng cường mậu dịch, thực hiện “giấc mơ Trung Hoa” mở rộng ảnh hưởng mọi mặt của Trung Quốc

Tóm lại, từ 2012 trở về trước với chiến lược “Ngoại giao bạn bè”, Trung Quốc đã vừa tạo ra một môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, vừa tạo ra hình ảnh về một Trung Quốc giàu mạnh và văn minh trong con mắt bạn bè quốc tế Từ 2012 trở về đây với chính sách ngoại giao nước lớn do Tập Cận Bình đưa ra đã tạo ra những thời cơ và thách thức không nhỏ cho Trung Quốc trong quá trình hội nhập và phát triển

* Ấn Độ trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc

Đối với Ấn Độ - người láng giềng khổng lồ, chính sách của Trung Quốc luôn thay đổi cho phù hợp với từng thời điểm cụ thể Hơn 60 năm qua, kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao, mối quan hệ Trung - Ấn luôn có những bước thăng trầm Trong thập kỷ 50 của thế kỷ XX, quan hệ giữa hai nước phát triển tốt đẹp Năm 1962, cuộc chiến tranh biên giới nổ ra, sau đó hai nước có mối quan hệ lạnh nhạt nếu không muốn nói là thù địch Tình hình này kéo dài đến hết thập kỷ 70 của thế kỷ XX Mãi đến đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, quan

hệ hai nước mới dần được cải thiện cùng với sự điều chỉnh chính sách của cả hai bên Đặc biệt từ sau Chiến tranh lạnh kết thúc mối quan hệ Trung - Ấn được thiết lập trở lại trên hầu hết các lĩnh vực Thời gian gần đây, quan hệ Trung - Ấn có những bước phát triển mới, việc duy trì tình hữu nghị và mối quan hệ láng giềng tốt đẹp đã và đang là chính sách then chốt của cả hai bên

Nó không chỉ là nguyện vọng chung của nhân dân hai nước mà còn là quyền

lợi cơ bản của hai Chính phủ, hai quốc gia trong việc giữ gìn hoà bình thế giới

và thúc đẩy sự phát triển chung

Những nỗ lực ngoại giao của Trung Quốc nhằm cải thiện quan hệ Trung

- Ấn được thể hiện bằng việc Trung Quốc liên tục cử và đón các đoàn ngoại

Ngày đăng: 02/04/2017, 13:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bàng Trung Anh (10/2001), “Trung Quốc với thuyết đa phương linh hoạt” , Tạp chí Kinh tế và chính trị thế giới, Viện khoa học xã hội Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc với thuyết đa phương linh hoạt” , "Tạp chí Kinh tế và chính trị thế giới
2. Phạm Tuấn Anh (2004), Một góc nhìn phương Đông - phương Tây và cục diện thế giới, NXB Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một góc nhìn phương Đông - phương Tây và cục diện thế giới
Tác giả: Phạm Tuấn Anh
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2004
3. Lý Thuyết Ánh (12/2001), “Trung Quốc và thế giới trong đầu thế kỷ XXI: cơ hội và thách thức ", Tạp chí Cộng sản, Số 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc và thế giới trong đầu thế kỷ XXI: cơ hội và thách thức
4. Đỗ Thanh Bình - Văn Ngọc Thành (Đồng chủ biên 6/2012), Quan hệ quốc tế thời hiện đại những vấn đề mới đặt ra, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ quốc tế thời hiện đại những vấn đề mới đặt ra
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
5. Đặng Bảo Châu (6/2006), “Liệu Ấn Độ cổ vượt qua Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liệu Ấn Độ cổ vượt qua Trung Quốc”, "Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế
6. Hồ Châu (12/2000), "50 năm quan hệ Trung -Ấn”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm quan hệ Trung -Ấn
7. Hồ Châu (10/2003), "Ngoại giao đa phương của Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao đa phương của Trung Quốc
8. Vương Dật Châu (10/2000), “Trung Quốc và ngoại giao đa phương” - Tạp chí Kinh tế và chính trị thế giới, Viện KHXH Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc và ngoại giao đa phương” - "Tạp chí Kinh tế và chính trị thế giới
9. Trịnh Cường (4/2005), “Ấn Độ với mục tiêu trở thành cường quốc", Tạp chí Cộng sản, Số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ với mục tiêu trở thành cường quốc
10. Báo Nhân Dân (17/10/2004), “Việt Nam trong chính sách đối ngoại hướng Đông của Ấn Độ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam trong chính sách đối ngoại hướng Đông của Ấn Độ
11. Nguyễn Ngọc Diên (9/1994), “Những nhân tố làm quan hệ Ấn - Trung ấm lên trong thời kỳ sau Chiến tranh lạnh”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, Số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nhân tố làm quan hệ Ấn - Trung ấm lên trong thời kỳ sau Chiến tranh lạnh”," Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế
12. Đỗ Đức Định (2001), “Mười năm cải cách kinh tế Ấn Độ” Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Mười năm cải cách kinh tế Ấn Độ” "Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á
Tác giả: Đỗ Đức Định
Năm: 2001
13. Trần Độ (2005), „Tin tức và sự kiện về quan hệ Ấn Độ - Trung Quốc năm 2005”, Thư viện Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: „Tin tức và sự kiện về quan hệ Ấn Độ - Trung Quốc năm 2005”
Tác giả: Trần Độ
Năm: 2005
14. Nguyên Tấn Đắc (2000), Văn hoá Ấn Độ, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Ấn Độ
Tác giả: Nguyên Tấn Đắc
Nhà XB: NXB Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
15. Inđira Gandhi (1987), Chân lý của tôi, NXB Phụ Nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân lý của tôi
Tác giả: Inđira Gandhi
Nhà XB: NXB Phụ Nữ
Năm: 1987
16. Lưu Kim Hâm (2004), Trung Quốc trước thách thức thế kỷ XXI, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc trước thách thức thế kỷ XXI
Tác giả: Lưu Kim Hâm
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
Năm: 2004
17. Hoàng Thị Minh Hoa (2009), “Chính sách hướng Đông của Ấn Độ và tác động của nó tới quan hệ Trung - Ấn”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, Số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Chính sách hướng Đông của Ấn Độ và tác động của nó tới quan hệ Trung - Ấn"”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới
Tác giả: Hoàng Thị Minh Hoa
Năm: 2009
18. Nguyễn Cảnh Huệ (2002), “Ấn Độ - những thành tựu nổi bật của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước từ 1947 đến nay”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ - những thành tựu nổi bật của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước từ 1947 đến nay”," Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Cảnh Huệ
Năm: 2002
19. Hà Mỹ Hương (6/2006), "Quan hệ giữa các nước lớn khu vực Châu Á - Thái Bình Dương: một vài phân tích và dự báo”, Tạp chí Cộng sản, Số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa các nước lớn khu vực Châu Á - Thái Bình Dương: một vài phân tích và dự báo
20. Nguyễn Thu Hương (2001), “Vị trí của Ấn Độ trên trường quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí của Ấn Độ trên trường quốc tế”," Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Thu Hương
Năm: 2001

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w