Luận văn Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014) MỤC LỤC MỞ ĐẦU....................................................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài................................................................................................................... 1 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề................................................................................................. 2 3. Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu............................................................... 7 4. Phạm vi nghiên cứu: ............................................................................................................ 8 5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu ............................................................... 8 6. Đóng góp của luận văn ....................................................................................................... 9 7. Bố cục của luận văn ............................................................................................................. 9 Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ ẤN ĐỘ - ASEAN ........................................................................................................................................ 10 1.1. Bối cảnh quốc tế........................................................................................................... 10 1.2. Những nhân tố nội tại chi phối quan hệ Ấn Độ - ASEAN ............................. 11 1.2.1. Nhân tố Ấn Độ .............................................................................................................. 11 1.2.1.1. Sự điều chỉnh chính sách của Ấn Độ sau Chiến tranh lạnh ................ 11 1.2.1.2. Chính sách hướng Đông của Ấn Độ và nhu cầu hợp tác với ASEAN ..... 17 1.2.2. Nhân tố ASEAN ............................................................................................................ 21 1.2.2.1. Khái quát về ASEAN ............................................................................................. 21 1.2.2.2. Nhu cầu hợp tác của ASEAN với Ấn Độ....................................................... 25 1.3. Khái quát quan hệ Ấn Độ - ASEAN trước năm 1991 .................................. 28 TIỂU KẾT................................................................................................................................... 32 Chương 2 TIẾN TRÌNH VÀ NỘI DUNG QUAN HỆ ẤN ĐỘ- ASEAN (1991-2014)...................................................................................................... 34 2.1. Quan hệ Ấn Độ - ASEAN giai đoạn 1991- 2002............................................. 34 2.1.1. Quan hệ chính trị - ngoại giao.............................................................................. 34 2.1.2. Quan hệ an ninh - quốc phòng............................................................................... 38 2.1.3. Quan hệ kinh tế .......................................................................................................... 41Luận văn: Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014) 2.1.4. Trên các lĩnh vực khác ............................................................................................. 46 2.2. Quan hệ Ấn Độ - ASEAN giai đoạn 2002- 2014............................................. 49 2.2.1. Quan hệ chính trị - ngoại giao.............................................................................. 49 2.2.2. Quan hệ an ninh quốc phòng................................................................................. 53 2.2.3. Quan hệ kinh tế ........................................................................................................... 56 2.2.4. Trên các lĩnh vực khác ............................................................................................. 65 TIỂU KẾT................................................................................................................................... 70 Chương 3: ĐÁNH GIÁ QUAN HỆ ẤN ĐỘ - ASEAN........................................ 72 3.1. Tổng quan những thành tựu của quan hệ Ấn Độ- ASEAN............................ 72 3.2. Những hạn chế và nguyên nhân của quan hệ Ấn Độ - ASEAN................... 77 3.2.1. Những hạn chế.............................................................................................................. 77 3.2.2. Về nguyên nhân ............................................................................................................ 79 3.3. Triển vọng của quan hệ Ấn Độ - ASEAN............................................................. 81 3.4. Tác động của quan hệ Ấn Độ - ASEAN tới Việt Nam................................... 83 TIỂU KẾT................................................................................................................................... 99 KẾT LUẬN ............................................................................................................................. 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 105 PHỤ LỤCLuận văn: Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014) DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1: Nhập khẩu của Ấn Độ từ các nước Đông Nam Á ......................... 30 Bảng 1.2: Xuất khẩu của Ấn Độ từ các nước Đông Nam Á .......................... 30 Bảng 2.1: Thương mại của Ấn Độ với một số khu vực giai đoạn 1996-2002 ..... 42 Bảng 2.2: Giá trị xuất khẩu của Ấn Độ sang các nước ASEAN giai đoạn từ 1997-1998 đến 2002-2003.................................................................... 45 Bảng 2.3: Giá trị nhập khẩu hàng hóa của Ấn Độ sang các nước ASEAN giai đoạn từ 1997-1998 đến 2002-2003 ....................................................... 46 Bảng 2.4: Một số chỉ số kinh tế - xã hội cơ bản của khu vực châu Á - Thái Bình Dương và ASEAN nửa cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI ... 57 Bảng 2.5: Tỉ phần thương mại Ấn Độ - ASEAN trong tổng thương mại giữa Ấn Độ và châu Á - Thái Bình Dương giai đoạn 2002-2012.................. 58 Bảng 2.6: 10 đối tác thương mại hàng hóa lớn nhất của khu vực ASEAN năm 2009 ..................................................................................................... 61 Bảng 2.7: Các nước và khu vực dẫn đầu về đầu tư vào khu vực ASEAN từ năm 2007-2009..................................................................................... 62 Bảng 3.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn 1990-2013.. 91 Bảng 3.2: Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chính của Việt Nam sang Ấn Độ năm 2006-2007 và 2007-2008................................................... 941 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Quan hệ quốc tế thế kỷ XX có nhiều biến động to lớn cùng những thăng trầm của lịch sử nhân loại. Sau nhiều thập kỉ đối đầu căng thẳng, quan hệ Đông - Tây trở lên hòa dịu khi Chiến tranh lạnh kết thúc, mở ra một thời kì mới trong quan hệ quốc tế. Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã thay cho sự chia rẽ, đối đầu trước kia. Trong bối cảnh đó, các mối quan hệ quốc tế được đẩy mạnh không chỉ trên phạm vi thế giới, phạm vi khu vực mà còn thể hiện trong những mối quan hệ song phương, đa phương giữa các quốc gia. Quan hệ Ấn Độ và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cũng không nằm ngoài quá trình này. Quan hệ Ấn Độ - ASEAN là mối quan hệ khá đặc biệt, bởi đây không phải là quan hệ giữa hai quốc gia mà là quan hệ giữa một nước lớn với một tổ chức khu vực. Nếu như quan hệ quốc tế giữa các tổ chức, các cường quốc thường có những diễn biến phức tạp, thì quan hệ Ấn Độ - ASEAN luôn tiến triển trong hòa bình hợp tác. Đặc biệt từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc đến nay, mối quan hệ này ngày càng được đẩy mạnh. Quan hệ Ấn Độ - ASEAN là một biểu hiện sinh động của quan hệ quốc tế thời kỳ mới, với sự hợp tác ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển. Ấn Độ là một quốc gia có diện tích và dân số lớn nhất khu vực Nam Á, với vai trò và vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế, Ấn Độ từng bước đẩy mạnh quan hệ với nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới. Trong đó, hợp tác với ASEAN là một trong những ưu tiên hàng đầu của Ấn Độ, nhất là khi chính sách hướng Đông ra đời. Đẩy mạnh quan hệ với ASEAN, cũng như từng nước trong khu vực Đông Nam Á sẽ tạo cầu nối cho Ấn Độ, một cường quốc ở châu Á, vươn tới khu vực châu Á - Thái Bình Dương từ đó từng bước hiện thực hóa các mục tiêu trong chính sách hướng Đông của mình.2 ASEAN kể từ khi thành lập đến nay đã không ngừng lớn mạnh, từng bước tạo dựng uy tín quốc tế thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia, tổ chức. Ngày nay, ASEAN đang hướng tới xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột về chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội, cho nên việc xây dựng quan hệ bạn bè với các nước lớn, trong đó có Ấn Độ sẽ góp phần tạo điều kiện đưa ASEAN thành một tổ chức khu vực mạnh, đối phó với những thách thức trong và ngoài khu vực hiệu quả hơn Luận văn Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014) Luận văn Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014) Luận văn Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014) Luận văn Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014) Luận văn Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014) Luận văn Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014) Luận văn Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014) Luận văn Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014) Luận văn Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014) Luận văn Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014) Luận văn Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014) Luận văn Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014) Luận văn Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014) Luận văn Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014) Luận văn Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014) Luận văn Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014) Luận văn Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014) Luận văn Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014)
Trang 1Luận văn: Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014)
DANH MỤC VIẾT TẮT
Miniters Meeting
Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN
Miniters Meeting Plus
Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN mở rộng
Agreement
Hiệp định thương mại
tự do ASEAN AFTA ASEAN free trade Area Khu vực thương mại tự do
ASEAN AIFTA ASEAN - India free trade
ASEAN The Association of Southeast
BIMST-EC Bangladesh India Myanmar
Srilanka Thailand Economic Cooperation
Hợp tác kinh tế Bangladesh,
Ấn Độ, Myanmar, Sri Lanka
và Thái Lan CBMs Confidence Buiding Measues Các biện pháp xây dựng lòng
tin
Cooperation Agreement
Hiệp định Hợp tác Kinh tế toàn diện
Partnership Agreement
Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện
Trang 2Luận văn: Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014)
and Vietnam
Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam
South China Sea)
Bộ quy tắc ứng xử (ở Biển Đông)
DOC Declaration on the Conduct of
Parties Indonesia the South China Sea
Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GCSS General Cultural Scholarship
Scheme
Chương trình học bổng văn hóa chung
GDP Gross domestic product Tổng sản phẩm quốc nội
Development
Phát triển nguồn nhân lực
Intergration
Sáng kiến về hội nhập khu vực ASEAN
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
Trang 3Luận văn: Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014)
NAFTA North American Free Trade
Hiệp định thương mại ưu đãi
SAARC South Asian Association for
Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á
Good Agreement
Hiệp định thương mại về hàng hóa giữa ASEAN và Ấn
Độ
UNCLOS United Nations Convention
on Law of the Sea
Công ước Liên hợp quốc về luật biển
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới ZOPFAN Zone of Peace, Freedom and
Neutrality
Khu vực hòa bình, tự do và trung lập
Trang 4Luận văn: Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014)
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3.Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7
4.Phạm vi nghiên cứu: 8
5.Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 8
6.Đóng góp của luận văn 9
7.Bố cục của luận văn 9
Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ ẤN ĐỘ - ASEAN 10
1.1 Bối cảnh quốc tế 10
1.2 Những nhân tố nội tại chi phối quan hệ Ấn Độ - ASEAN 11
1.2.1 Nhân tố Ấn Độ 11
1.2.1.1 Sự điều chỉnh chính sách của Ấn Độ sau Chiến tranh lạnh 11
1.2.1.2 Chính sách hướng Đông của Ấn Độ và nhu cầu hợp tác với ASEAN 17
1.2.2 Nhân tố ASEAN 21
1.2.2.1 Khái quát về ASEAN 21
1.2.2.2 Nhu cầu hợp tác của ASEAN với Ấn Độ 25
1.3 Khái quát quan hệ Ấn Độ - ASEAN trước năm 1991 28
TIỂU KẾT 32
Chương 2 TIẾN TRÌNH VÀ NỘI DUNG QUAN HỆ ẤN ĐỘ- ASEAN (1991-2014) 34
2.1 Quan hệ Ấn Độ - ASEAN giai đoạn 1991- 2002 34
2.1.1 Quan hệ chính trị - ngoại giao 34
2.1.2 Quan hệ an ninh - quốc phòng 38
2.1.3 Quan hệ kinh tế
Trang 5Luận văn: Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014)
2.1.4 Trên các lĩnh vực khác 46
2.2 Quan hệ Ấn Độ - ASEAN giai đoạn 2002- 2014 49
2.2.1 Quan hệ chính trị - ngoại giao 49
2.2.2 Quan hệ an ninh quốc phòng 53
2.2.3 Quan hệ kinh tế 56
2.2.4 Trên các lĩnh vực khác 65
TIỂU KẾT 70
Chương 3: ĐÁNH GIÁ QUAN HỆ ẤN ĐỘ - ASEAN 72
3.1 Tổng quan những thành tựu của quan hệ Ấn Độ- ASEAN 72
3.2 Những hạn chế và nguyên nhân của quan hệ Ấn Độ - ASEAN 77
3.2.1 Những hạn chế 77
3.2.2 Về nguyên nhân 79
3.3 Triển vọng của quan hệ Ấn Độ - ASEAN 81
3.4 Tác động của quan hệ Ấn Độ - ASEAN tới Việt Nam 83
TIỂU KẾT 99
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 PHỤ LỤC
Trang 6Luận văn: Quan hệ Ấn Độ - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014)
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Nhập khẩu của Ấn Độ từ các nước Đông Nam Á 30 Bảng 1.2: Xuất khẩu của Ấn Độ từ các nước Đông Nam Á 30 Bảng 2.1: Thương mại của Ấn Độ với một số khu vực giai đoạn 1996-2002 42 Bảng 2.2: Giá trị xuất khẩu của Ấn Độ sang các nước ASEAN giai đoạn từ 1997-1998 đến 2002-2003 45 Bảng 2.3: Giá trị nhập khẩu hàng hóa của Ấn Độ sang các nước ASEAN giai đoạn từ 1997-1998 đến 2002-2003 46 Bảng 2.4: Một số chỉ số kinh tế - xã hội cơ bản của khu vực châu Á - Thái Bình Dương và ASEAN nửa cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI 57 Bảng 2.5: Tỉ phần thương mại Ấn Độ - ASEAN trong tổng thương mại giữa
Ấn Độ và châu Á - Thái Bình Dương giai đoạn 2002-2012 58 Bảng 2.6: 10 đối tác thương mại hàng hóa lớn nhất của khu vực ASEAN năm
2009 61 Bảng 2.7: Các nước và khu vực dẫn đầu về đầu tư vào khu vực ASEAN từ năm 2007-2009 62 Bảng 3.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn 1990-2013 91 Bảng 3.2: Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chính của Việt Nam sang
Ấn Độ năm 2006-2007 và 2007-2008 94
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quan hệ quốc tế thế kỷ XX có nhiều biến động to lớn cùng những thăng trầm của lịch sử nhân loại Sau nhiều thập kỉ đối đầu căng thẳng, quan hệ Đông - Tây trở lên hòa dịu khi Chiến tranh lạnh kết thúc, mở ra một thời kì mới trong quan hệ quốc tế Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã thay cho sự chia rẽ, đối đầu trước kia Trong bối cảnh đó, các mối quan hệ quốc tế được đẩy mạnh không chỉ trên phạm vi thế giới, phạm vi khu vực mà còn thể hiện trong những mối quan hệ song phương, đa phương giữa các quốc gia Quan hệ Ấn Độ và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cũng không nằm ngoài quá trình này Quan hệ Ấn Độ - ASEAN là mối quan hệ khá đặc biệt, bởi đây không phải là quan hệ giữa hai quốc gia mà là quan hệ giữa một nước lớn với một tổ chức khu vực
Nếu như quan hệ quốc tế giữa các tổ chức, các cường quốc thường có những diễn biến phức tạp, thì quan hệ Ấn Độ - ASEAN luôn tiến triển trong hòa bình hợp tác Đặc biệt từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc đến nay, mối quan
hệ này ngày càng được đẩy mạnh Quan hệ Ấn Độ - ASEAN là một biểu hiện sinh động của quan hệ quốc tế thời kỳ mới, với sự hợp tác ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển
Ấn Độ là một quốc gia có diện tích và dân số lớn nhất khu vực Nam Á, với vai trò và vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế, Ấn Độ từng bước đẩy mạnh quan hệ với nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới Trong đó, hợp tác với ASEAN là một trong những ưu tiên hàng đầu của Ấn Độ, nhất là khi chính sách hướng Đông ra đời Đẩy mạnh quan hệ với ASEAN, cũng như từng nước trong khu vực Đông Nam Á sẽ tạo cầu nối cho Ấn Độ, một cường quốc ở châu Á, vươn tới khu vực châu Á - Thái Bình Dương từ đó từng bước hiện thực hóa các mục tiêu trong chính sách hướng Đông của mình
Trang 8ASEAN kể từ khi thành lập đến nay đã không ngừng lớn mạnh, từng bước tạo dựng uy tín quốc tế thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia, tổ chức Ngày nay, ASEAN đang hướng tới xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột về chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội, cho nên việc xây dựng quan hệ bạn bè với các nước lớn, trong đó có Ấn Độ sẽ góp phần tạo điều kiện đưa ASEAN thành một tổ chức khu vực mạnh, đối phó với những thách thức trong và ngoài khu vực hiệu quả hơn
Bên cạnh đó, sự lớn mạnh của Trung Quốc và tham vọng ở Biển Đông của Bắc Kinh đã làm nảy sinh nhiều mối quan ngại trong khu vực Việc xây dựng và thúc đẩy quan hệ Ấn Độ - ASEAN sẽ góp phần tạo ra sự cân bằng về lực lượng và đảm bảo sự ổn định về chính trị và an ninh trong khu vực Vì vậy, việc tăng cường quan hệ Ấn Độ - ASEAN lên tầm chiến lược ngày càng
có ý nghĩa quan trọng đối với hai bên
Việt Nam là thành viên của ASEAN, đồng thời cũng là đối tác quan trọng của Ấn Độ từ khi hai nước đặt quan hệ ngoại giao năm 1972 Việt Nam trở thành ưu tiên hàng đầu trong chính sách hướng Đông của Ấn Độ, và có những đóng góp quan trọng trong việc thúc đẩy mối quan hệ Ấn Độ - ASEAN trong hiện tại và tương lai
Như vậy, mối quan hệ giữa Ấn Độ và ASEAN có ý nghĩa quan trọng cả trong khoa học, chính trị và thực tiễn Việc nghiên cứu toàn diện mối quan hệ này sẽ góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới
Xuất phát từ tầm quan trọng đó, tôi quyết định chọn vấn đề “Quan hệ Ấn Độ
- Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (1991-2014)” làm đề tài luận văn thạc
sĩ chuyên ngành Lịch sử thế giới
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Mối quan hệ hợp tác toàn diện giữa Ấn Độ với ASEAN đã diễn ra trong một thời gian dài Đặc biệt trong hai thập kỷ gần đây, mối quan hệ này ngày
Trang 9càng được đẩy mạnh hơn khi chính sách hướng Đông của Ấn Độ ra đời Ấn
Độ là một cường quốc trên thế giới, việc nghiên cứu Ấn Độ nói chung và các chính sách của Ấn Độ nói riêng đã hình thành sớm ở nhiều quốc gia, trong các cơ quan hay các viện nghiên cứu chuyên sâu về Ấn Độ Còn về ASEAN, đến cuối thế kỷ XX, tổ chức này đã hoàn thành việc mở rộng thành viên và đây được coi là một tổ chức khu vực thành công nhất trên thế giới sau Liên minh châu Âu (EU) Với vị thế trên, cả Ấn Độ và ASEAN đều là những nhân
tố chủ chốt, có ảnh hưởng quan trọng trong bàn cờ quan hệ quốc tế và khu vực Vì vậy việc nghiên cứu từng chủ thể độc lập, cũng như mối quan hệ giữa
Ấn Độ và ASEAN đã thu hút sự quan tâm của giới chính trị và giới học giả trong và ngoài nước Bởi thế, trong khi tiến hành luận văn, tác giả đã tiếp cận được những nguồn tài liệu vừa phong phú về hình thức, vừa đa dạng về nội dung, vừa đa chiều về quan điểm của giới nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài
Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, việc tìm hiểu mối quan hệ hợp tác giữa
Ấn Độ với tổ chức ASEAN còn hạn chế, chủ yếu là những nghiên cứu về hợp tác kinh tế song phương giữa Ấn Độ với một số quốc gia thành viên Tuy nhiên, sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, cùng với sự điều chỉnh quan trọng về chính sách đối ngoại, chính sách hướng Đông của Ấn Độ ra đời, mối quan hệ giữa Ấn Độ với ASEAN được tăng cường đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả như các công trình:
Công trình ASEAN- India: Emerging Economic Opportunity của nhóm
tác giả Mukul G Asher, Rhul Sen & Sahana Srivastava năm 2001,đề cập tới
sự nổi lên về kinh tế của Ấn Độ, cơ hội hợp tác kinh tế giữa Ấn Độ với ASEAN và quan hệ về kinh tế Ấn Độ với một số nước ASEAN trong thập niên 90 của thế kỷ XX Qua đó cho thấy một số thành quả hợp tác về kinh tế của song phương, đa phương của mối quan hệ trên
Trang 10Công trình India and Southeast Asia: Prospects and Problems, in
Baladas Ghoshal, India and Southeast Asia – Challenges and Opportunities,
của tác giả Baladas Ghoshal năm 1996, đề cập tới Ấn Độ và Đông Nam Á với những cơ hội và thách thức trong hợp tác sau khi tình hình thế giới có những thay đổi lớn từ năm 1991 Từ sự phân tích đó, tác giả cũng đưa ra những triển vọng và những vấn đề cần quan tâm của quan hệ Ấn Độ với Đông Nam Á trong tương lai
Công trình India - ASEAN Economic Relations của tác giả Charan D
Wadhva và Mukul G Asher, Viện nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore (ISEAS) năm 1985 Công trình tập trung tìm hiểu mối quan hệ về kinh tế giữa
Ấn Độ với ASEAN trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, chủ yếu là hợp tác kinh tế song phương về thương mại và đầu tư giữa Ấn Độ với một số nước ASEAN
Công trình Rediscovering Asia – Evolution of India’s Look East Policy,
của tác giả Nanda Parakash năm 2003, đưa ra chiến lược quay trở lại châu Á của Ấn Độ với việc ra đời và thực hiện chính sách hướng Đông Tác giả tập trung phân tích quá trình thực hiện chính sách hướng Đông ở Đông Nam Á, những thành tựu bước đầu trong hợp tác kinh tế giữa Ấn Độ với ASEAN và coi việc hướng về Đông Nam Á là một chiến lược quan trọng và cần thiết của
Ấn Độ trong bối cảnh mới
Ngoài những công trình trên còn có nhiều nghiên cứu về chính sách đối
ngoại của Ấn Độ sau Chiến tranh lạnh như: Công trình “India and Southeast
Asia - Indian Perceptions and Policies” của Mohammed Ayoob năm 1999,
công trình India Foreign Policy,“Challenges and Prosoects”, của tác giả Kanwal Sibal năm 2003, công trình “India - ASEAN Relations - Analysing
Regional Implications”, của Mohit Anand năm 2009, công trình “Southeast Asia in India’s Post Cold War Foreign Policy”, tác giả Mohammed Khalid
(2010), … Hầu hết các công trình đều tập trung vào sự điều chỉnh chính sách
Trang 11đối ngoại của Ấn Độ sau Chiến tranh lạnh, nhằm phù hợp với sự thay đổi của tình hình thế giới và khu vực Qua đó nhấn mạnh tầm quan trọng của Đông Nam Á trong chính sách đối ngoại, cũng như vai trò trụ cột trong chính sách hướng Đông của Ấn Độ
2.2 Tình hình nghiên cứu vấn đề ở trong nước
Ở Việt Nam, Ấn Độ là một đề tài được quan tâm từ rất sớm, với nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về quốc gia này, trải dài từ thời kỳ cổ đại đến nay Tuy nhiên, giai đoạn từ khi Ấn Độ giành độc lập đến nay, nhất là khi Chiến tranh lạnh kết thúc, việc nghiên cứu Ấn Độ ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trong nước Việc nghiên cứu tập trung chủ yếu vào sự trỗi dậy về kinh tế và những thay đổi chiến lược ngoại của Ấn Độ, sự ra đời của chính sách hướng Đông và mối quan hệ Ấn Độ với các cường quốc, tổ chức khu vực và thế giới, trong đó có Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Về mối quan hệ Ấn Độ - ASEAN có một số công trình liên quan như sau:
Công trình Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Cộng hòa Ấn Độ từ
1991 đến 2000, Nxb Khoa học xã hội năm 2002 của tác giả Trần Thị Lý Tác
giả đi sâu phân tích những nguyên nhân dẫn tới sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Cộng hòa Ấn Độ sau Chiến tranh lạnh, khái quát chính sách đối ngoại của Ấn Độ với Mỹ, Trung Quốc, Nga, khu vực Nam Á, Đông Nam Á thời kỳ trong và sau Chiến tranh lạnh Qua đó, cho thấy sự thay đổi lớn trong chính sách của Ấn Độ, song song với sự điều chỉnh chính sách đối ngoại, là những cải cách toàn diện về kinh tế xã hội trong nước Từ những nỗ lực đó,
Ấn Độ gặt hái được nhiều thành công lớn trên nhiều lĩnh vực
Công trình Quan hệ Ấn Độ - ASEAN tiến tới mối quan hệ lâu dài và bền
vững của tác giả Phạm Minh Tuấn trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 64
năm 2006, đã chỉ rõ nhu cầu hợp tác của Ấn Độ và ASEAN trong bối cảnh mới sau Chiến tranh lạnh, những thuận lợi và hạn chế trong quan hệ giữa Ấn Độ với
Trang 12Đông Nam Á, tương quan lực lượng giữa Ấn Độ với các nước lớn tại khu vực Qua đó cho thấy, mối quan hệ hợp tác trên là rất cần thiết và bền vững
Công trình ASEAN trong chính sách hướng Đông của Ấn Độ, Nxb Khoa
học xã hội , Hà Nội năm 2003 của tác giả Võ Xuân Vinh Đây là một công trình nghiên cứu khá đầy đủ về chính sách hướng Đông của Ấn Độ, về sự ra đời, mục tiêu mà Ấn Độ kỳ vọng khi thực hiện chính sách Vai trò của ASEAN trong chính sách hướng Đông, những kết quả đạt được trong việc thực hiện nhóm các mục tiêu chính trị chiến lược và kinh tế xã hội Ngoài ra, tác giả còn đề cập tới sự tác động của việc thực thi chính sách hướng Đông với Ấn Độ và ASEAN…
Bên cạnh những công trình trên, còn có nhiều công trình nghiên cứu liên
quan tới mối quan hệ Ấn Độ và ASEAN như: Ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ
đối với các quốc gia Đông Nam Á (2002) tác giả Nguyễn Công Khanh, Chính sách ngoại thương của Ấn Độ thời kì cải cách (2005) của Nguyễn Hương Trinh, Vai trò của Ấn Độ ở Châu Á những năm đầu thế kỉ XXI (2011) của tác giả
Hoàng Thị Minh Hoa, Nguyễn Thị Lan, Ấn Độ với tiến trình hợp tác Đông Á (từ
năm 1997 đến nay): Thực trạng và triển vọng (2014) của Trần Thị Kim Thu…
Nhìn chung các công trình trên đều khai thác chủ đề về Ấn Độ, làm sáng tỏ tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa Ấn Độ giai đoạn sau Chiến tranh lạnh và cũng có những nét chấm phá về mối quan hệ Ấn Độ - ASEAN
Qua việc tìm hiểu tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước về quan hệ Ấn Độ và ASEAN thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, tôi nhận thấy hầu hết các công trình đều tập trung nghiên cứu một khía cạnh nào đó, như tìm hiểu
sự hợp tác về kinh tế, sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ sau Chiến tranh lạnh, chính sách hướng Đông… Hợp tác trên các lĩnh vực cụ thể của Ấn Độ với ASEAN được đề cập một cách rải rác, chưa có hệ thống, chưa được viết chi tiết đầy đủ các lĩnh vực của mối quan hệ
Trang 13Vì vậy, vấn đề đặt ra cho luận văn là nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về mối quan hệ Ấn Độ - ASEAN từ sau Chiến tranh lạnh đến nay trên tất
cả các lĩnh vực hợp tác, qua đó đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại và triển vọng của mối quan hệ này trong tương lai, sự tác động của mối quan hệ này tới Việt Nam Trên cơ sở kế thừa và chọn lọc, nguồn tài liệu trên sẽ rất bổ ích cho tác giả của luận văn, góp phần dựng lại bức tranh toàn cảnh về mối quan hệ Ấn Độ - ASEAN từ sau Chiến tranh lạnh đến nay
3 Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu quan hệ hợp tác giữa Ấn Độ và ASEAN
Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu đặt ra, luận văn tập trung giải quyết một
số nhiệm vụ sau:
Phân tích các nhân tố quốc tế, nhân tố nội tại (Ấn Độ và ASEAN) và những mối quan hệ hợp tác trước đó, tác động tới sự vận động của quan hệ
Ấn Độ - ASEAN giai đoạn 1991-2014
Trình bày thực trạng mối quan hệ Ấn Độ - ASEAN trên một số lĩnh vực
về chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng, kinh tế, văn hóa - xã hội,… qua hai giai đoạn 1991-2002 và 2002-2014
Bước đầu rút ra một số nhận xét về kết quả, hạn chế, những nguyên nhân dẫn tới hạn chế của quan hệ Ấn Độ - ASEAN Ngoài ra, luận văn còn làm rõ
Trang 14những nét khái quát về sự tác động của quan hệ Ấn Độ - ASEAN tới Việt Nam, sự hợp tác song phương giữa Ấn Độ và Việt Nam trong thời gian qua
4 Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Luận văn tìm hiểu tổng quát mối quan hệ Ấn Độ - ASEAN
trên các lĩnh vực chính trị - an ninh, kinh tế và một số lĩnh vực khác
Về không gian: Luận văn trình bày mối quan hệ giữa Ấn Độ với một tổ
chức khu vực đó là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, không đi sâu trình bày cụ thể quan hệ Ấn Độ với từng nước thành viên ASEAN Tuy nhiên, trong một số sự kiện cụ thể, quan hệ song phương giữa Ấn Độ với một số nước Đông Nam Á cũng được luận văn đề cập đến, nhằm làm sáng tỏ và sinh động hơn mối quan hệ giữa Ấn Độ và ASEAN
Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu mối quan hệ Ấn Độ -
ASEAN từ năm 1991 đến năm 2014 Tức là từ sau khi Liên Xô tan rã, Trật tự hai cực Ianta sụp đổ, đặc biệt nhấn mạnh từ thời gian Ấn Độ đưa ra chính sách hướng Đông năm 1992 đến nay, đây là giai đoạn thăng hoa của quan hệ
Ấn Độ - ASEAN Mốc thời gian năm 2014 sẽ là thời điểm dừng của luận văn Trong luận văn, chúng tôi sử dụng cụm từ viết tắt là ASEAN thay cho Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á để tiện trình bày
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tài liệu: Luận văn được hoàn thành dựa trên nhiều nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu từ các trang web chính thức
Phương pháp nghiên cứu: Căn cứ vào những nguồn sưu tầm được, trên
cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của Đảng Cộng sản
Trang 15Việt Nam về những vấn đề quốc tế và khu vực, tác giả sử dụng các phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp,
so sánh, dự báo,… để hoàn thành luận văn
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn có những đóng góp sau đây:
Luận văn trình bày một cách tương đối hệ thống, toàn diện về những vấn
đề nổi trội nhất trong quan hệ giữa Ấn Độ và Hiệp hội các Đông Nam Á Trên
cơ sở đó, luận văn phác thảo nên bức tranh tổng thể về quan hệ giữa Ấn Độ và ASEAN trong giai đoạn từ 1991-2014 Đan xen vào đó là những mối quan hệ hợp tác song phương giữa Ấn Độ và một số nước thành viên ASEAN Qua
đó, tác giả bước đầu đưa ra một số nhận xét về mối quan hệ này, những kết quả đạt được, những tồn tại và nguyên nhân của nó
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập nghiên cứu về lịch sử quan hệ quốc tế, về lịch sử Ấn Độ và ASEAN trong thời kỳ hiện đại
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm những chương sau:
Chương 1: Những nhân tố tác động đến quan hệ đến quan hệ Ấn Độ
- ASEAN
Chương 2: Tiến trình và nội dung quan hệ Ấn Độ - ASEAN (1991- 2014) Chương 3: Đánh giá quan hệ Ấn Độ - ASEAN
Trang 16Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
QUAN HỆ ẤN ĐỘ - ASEAN
1.1 Bối cảnh quốc tế
Từ cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, tình hình thế giới
có nhiều chuyển biến to lớn và sâu sắc Liên bang Xô Viết và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu lâm vào khủng hoảng rồi tan rã, chấm dứt Trật tự thế giới hai cực do Liên Xô và Mỹ đứng đầu kéo dài hơn bốn thập kỷ
Chiến tranh lạnh kết thúc, Trật tự hai cực Ianta sụp đổ đã tác động mạnh
mẽ đến quan hệ quốc tế nói chung và từng quốc gia, dân tộc nói riêng Quan
hệ quốc tế thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hợp tác trên cơ sở hai bên cùng có lợi Hòa bình, hợp tác và cạnh tranh đan xen với nhau Sự thịnh vượng của quốc gia này là điều kiện, là cơ hội phát triển của quốc gia khác và ngược lại
Sự tan rã của Liên Xô, sự suy giảm thực lực của Mỹ do dồn sức cho cuộc Chiến tranh lạnh đã trở thành vận hội mới với các quốc gia có tiềm lực như Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc… Các nước này có cơ hội vươn lên trong trật tự thế giới mới đang hình thành, trật tự “nhất siêu, đa cường”
Cùng với những biến động của tình hình an ninh, chính trị thế giới, quá trình hình thành một hệ thống kinh tế, thương mại, tài chính trên quy mô toàn cầu đang tác động mạnh mẽ đến xu thế phát triển trong quan hệ quốc tế Sự phát triển vượt bậc của khoa học, công nghệ, đặc biệt là kinh tế tri thức đã làm thay đổi tương quan lực lượng giữa các nước Cuộc cách mạng khoa học
- công nghệ, với những thành tựu to lớn, đã mở ra một cuộc chạy đua toàn cầu
về kinh tế và việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào phát triển kinh tế Theo đó,
Trang 17vào sức mạnh tổng hợp, trong đó kinh tế đóng vai trò then chốt Trong bối cảnh đó, không một quốc gia nào có thể phát triển đơn thương độc mã, mà phải có sự giao lưu, liên minh, liên kết Nhu cầu đó đã tạo ra một xu thế mới trong quan hệ quốc tế: Xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa và khu vực hóa… mở
ra cơ hội mới cho các mô hình liên kết khu vực như EU, ASEAN, OPEC, ASEM… và sự nối kết các quốc gia
Ngày nay, cùng với những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, nhân loại đã và đang phải đối diện với những vấn đề mang tính toàn cầu có nguy cơ đe dọa đến hòa bình và an ninh thế giới như ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, chạy đua vũ trang, chủ nghĩa ly khai, khủng bố… Để giải quyết vấn đề này đòi hỏi sự chung tay của tất cả các quốc gia trên toàn thế giới Trong bối cảnh mới, các quốc gia, các tổ chức đều phải điều chỉnh chính sách, hoạch định chiến lược để thích ứng, cùng nhau hợp tác vì lợi ích chung của nhân loại Đây cũng chính là cơ sở để Ấn Độ và ASEAN đẩy mạnh hợp tác trong bối cảnh mới
1.2 Những nhân tố nội tại chi phối quan hệ Ấn Độ - ASEAN
1.2.1 Nhân tố Ấn Độ
1.2.1.1 Sự điều chỉnh chính sách của Ấn Độ sau Chiến tranh lạnh
Năm 1950, Ấn Độ giành được độc lập, chấm dứt hàng trăm năm thống trị của thực dân Anh, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử Ấn Độ Về kinh tế,
Ấn Độ xây dựng một nền kinh tế độc lập tự cường với hai thành phần kinh tế chính: Khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân với mục tiêu xây dựng một nền kinh tế hoàn chỉnh vững chắc, có địa vị quốc tế Ấn Độ thực hiện thành công cuộc cách mạng Xanh và cách mạng Trắng trong nông nghiệp, giải quyết được vấn đề lương thực cho một nước đông dân thứ hai thế giới
Về chính trị, Ấn Độ tích cực ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa trên thế giới Là một trong những nước đầu tiên tham gia tổ
Trang 18chức Liên Hợp Quốc (1945), Ấn Độ đã có nhiều đóng góp cho tổ chức này trong việc bảo vệ hòa bình và an ninh thế giới Đặc biệt, Ấn Độ là một trong những nước đã sáng tạo ra con đường đi giữa trong trật tự thế giới hai cực thời kỳ Chiến tranh lạnh, đó chính là Phong trào Không liên kết Phong trào này lôi cuốn hơn 100 quốc gia tham gia Ấn Độ nổi lên với tư cách một nước đứng đầu thế giới thứ ba, có một tiếng nói quan trọng và một vị trí trên trường quốc tế
Bước sang những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ
XX, tình hình thế giới có những biến động to lớn, buộc Ấn Độ phải có những điều chỉnh trong chính sách của mình, đặc biệt là điều chỉnh chính sách đối ngoại cho phù hợp với bối cảnh mới
Về chính trị: Năm 1991, mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông
Âu khủng hoảng và tan rã, khiến Ấn Độ mất đi một chỗ dựa vững chắc về mọi mặt Bởi vì, trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, tuy là một nước Không liên kết, nhưng Ấn Độ có nhiều quan điểm gần gũi với Liên Xô về chống chủ nghĩa khủng bố, ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc… Quan hệ
Xô - Ấn ngày càng trở nên mật thiết hơn với Hiệp ước hòa bình Hữu nghị và Hợp tác mà hai bên đã ký vào năm 1971 Lý tưởng xã hội chủ nghĩa trở nên gần gũi trong nền chính trị Ấn Độ kể từ những năm 70 của thế kỷ XX Tuy nhiên, sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991 khiến Ấn Độ phải điều chỉnh lại con đường phát triển của mình dựa trên tư tưởng chính trị gần gũi với Liên Xô
Đây có thể là sự điều chỉnh quan trọng đầu tiên của Ấn Độ sau Chiến tranh
lạnh về tư tưởng chính trị
Sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, sự trỗi
dậy của Trung Quốc, buộc Ấn Độ phải có sự điều chỉnh quan trọng thứ hai
chính là từ bỏ tư tưởng chống phương Tây Từ sau Chiến tranh lạnh, Ấn Độ là một trong những nước nhiệt thành nhất trong việc theo đuổi các giá trị chính trị của phương Tây ngoài khu vực châu Âu - Đại Tây Dương
Trang 19Về kinh tế: Ngoài những điểm tương đồng trong quan điểm chính trị,
Liên Xô còn là chỗ dựa vững chắc của Ấn Độ về kinh tế Mô hình công nghiệp hóa của Liên Xô đã được Nehru, vị Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, áp dụng vào mô hình phát triển kinh tế của nước này Thực tế cho thấy, các nhà máy, xí nghiệp của Ấn Độ được Liên Xô giúp đỡ sản xuất ra 80% tổng sản lượng thiết bị luyện kim, 60% thiết bị điện, 35% sản lượng thép, 70% sản lượng khai thác dầu, 30% sản lượng chế biến dầu, 20% sản lượng điện [9, tr.14] Liên
Xô trở thành bạn hàng lớn thứ hai và là bạn hàng “dễ tính” của Ấn Độ Mối quan
hệ mật thiết dựa trên những lợi ích chính trị, kinh tế đã khiến Ấn Độ thực sự hụt hẫng và suy giảm nghiêm trọng khi Liên Xô tan rã Mức tăng GDP tụt xuống còn 0,8% vào năm tài chính 1991-1992, lạm phát dâng cao trên 13%, dự trữ ngoại tệ đến tháng 5/1991 chỉ còn khoảng một tỷ USD (đủ cho nhập khẩu trong
20 ngày), nợ nước ngoài lên đến 70 tỷ USD…[9, tr.24]
Tình hình nghiêm trọng đến mức Thủ tướng N Rao đã nói “Tình hình ngoại tệ gần như tuyệt vọng, tình hình tài chính tồi tệ Chúng tôi đã đến mức như một nước vỡ nợ với Quỹ tiền tệ Quốc tế trong thời gian vài ngày” [43.tr.2] Kinh tế suy thoái làm cho giá cả tăng vọt, đặc biệt là những mặt hàng thiết yếu như gạo, rau quả, đường, sữa,… khiến nhân dân mất lòng tin vào Chính phủ Sự suy thoái kinh tế kéo theo những rối loạn nghiêm trọng về mặt xã hội như mâu thuẫn tôn giáo, đẳng cấp sắc tộc, khủng bố, ly khai…Có
thể nói đầu thập niên 90, Ấn Độ đang “đứng trước bờ vực” Thủ tướng Rajiv
Gandhi đã thốt lên rằng “Trong 15 tháng qua, Ấn Độ đã bị lu mờ như thể không còn tồn tại Chúng ta phải đảm bảo làm sao để Ấn Độ xuất hiện trở lại như một nước tiền tuyến” [9, tr.27]
Đứng trước những khó khăn khách quan và chủ quan đó, Ấn Độ đã có bước điều chỉnh quan trọng về kinh tế, đây được xem là bước điều chỉnh quan
trọng thứ ba của Ấn Độ sau Chiến tranh Lạnh Cuộc cải cách toàn diện của
Trang 20thống, các chính sách kinh tế vĩ mô và cơ cấu kinh tế chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp và hướng nội sang nền kinh tế thị trường tự do hóa, mở cửa và khuyến khích đầu tư “Tự do hóa nền kinh tế đã giảm bớt những méo mó, lệch lạc và tăng tính cạnh tranh trong và ngoài nước” [44, tr.6] Những thành công ban đầu của cải cách kinh tế đã tạo cơ sở cho Ấn Độ nhanh chóng hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia các tổ chức kinh tế đa phương, song phương tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát triển kinh tế đất nước Trong đó, Đông Nam Á là một trong những mục tiêu quan trọng
hàng đầu, là tấm ván bật để Ấn Độ bước vào thị trường toàn cầu
Về chính sách đối ngoại: Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Ấn Độ với tư
cách là nước sáng lập và luôn giữ vai trò trụ cột trong Phong trào Không liên kết, lãnh tụ của thế giới thứ ba Sau khi Liên Xô tan rã, vai trò quốc tế của Ấn
Độ bị giảm sút, những vấn đề mà Ấn Độ từng phát huy vai trò như ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, chống đế quốc xâm lược, giải trừ quân bị, bảo vệ hòa bình,… đã không còn thực sự quan trọng, khi yếu tố kinh
tế trở thành sức mạnh nổi trội trong quan hệ quốc tế thời hậu kỳ Chiến tranh lạnh Vì vậy, Ấn Độ cần phải có những thay đổi về chính sách đối nội cũng như đối ngoại, để xác lập cho mình một vị trí quốc tế xứng đáng trong một trật tự mới đang hình thành
Ấn Độ từ vị thế của một nhà lãnh đạo thế giới thứ ba đã chuyển sang cách thức xây dựng một nước Ấn Độ hùng mạnh, một cường quốc kinh tế quân sự với những bước đi đầu tiên, đó là cuộc cải cách kinh tế toàn diện vào tháng 7/1991 và thử hạt nhân công khai vào tháng 5/1998 Sự điều chỉnh trong suy nghĩ trở thành cường quốc thế giới, được xem là bước điều chỉnh
quan trọng thứ tư của Ấn Độ
Chiến tranh lạnh kết thúc, Liên Xô tan rã, trật tự thế giới mới được hình thành theo xu hướng “nhất siêu, đa cường”, mở ra cơ hội vươn lên cho một số
Trang 21cường quốc trên thế giới như Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc…Trong khi đó,
sự rút đi của Mĩ và Liên Xô sau Chiến tranh lạnh đã tạo ra những “khoảng trống quyền lực” rất lớn ở nhiều khu vực, Đông Nam Á là một khu vực như thế Các cường quốc có quan hệ gần gũi với khu vực này về mặt lịch sử, địa
lý đã không bỏ lỡ cơ hội tăng cường ảnh hưởng của mình
Trung Quốc, năm 1978 tiến hành cải cách mở cửa, nhằm xây dựng chủ
nghĩa xã hội mang “đặc sắc” Trung Quốc với mục tiêu trọng tâm là phát triển
kinh tế Cùng với những mục tiêu về kinh tế, Trung Quốc đã tranh thủ bầu không khí hòa dịu của thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh, công khai mở rộng ảnh hưởng trên một phạm vi rộng lớn ở Đông Nam Á, Nam Á và Ấn Độ Dương, Trung Quốc tuyên bố “Ấn Độ Dương không duy nhất thuộc về Ấn Độ” Trong khi đó, từ lâu Ấn Độ đã coi Nam Á và Ấn Độ Dương là phạm vi ảnh hưởng truyền thống của mình
Trung Quốc tranh thủ sự ủng hộ của các nước Nam Á, đồng thời tìm cách hạn chế việc phát huy sức mạnh của Ấn Độ Với Pakistan, Trung Quốc
hỗ trợ sự phát triển vũ khí hạt nhân, thực hiện những liên minh ngầm về quân
sự Với Myanmar, quốc gia này đang phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc ở lĩnh vực an ninh, chính trị và kinh tế Các mối quan hệ đặc biệt với Myanmar đã giúp Trung Quốc “bọc sườn” Ấn Độ và từng bước thâm nhập sâu hơn vào khu vực Vịnh Bengal thuộc Ấn Độ Dương
Ấn Độ tại khu vực Nam Á và Ấn Độ Dương , nơi Ấn Độ coi là phạm vi ảnh hưởng truyền thống của mình đang trong tình trạng bất ổn, đó là sự hạn chế của Hiệp hội Hợp tác khu vực Nam Á (SAARC), sự chậm phát triển của các quốc gia thành viên do thiếu vốn và kỹ thuật, sự bất đồng giữa Ấn Độ với một số quốc gia, như Pakistan, về vấn đề Hồi giáo, vấn đề Jammu và Kashmi, với Bangladesh, về vấn đề phân chia nguồn nước của các con sông… Tình hình đó buộc Ấn Độ phải “thoát ra khỏi bối cảnh Nam Á bí bách và bị giam
Trang 22hãm, giúp Ấn Độ trở thành một trong những nhân tố chủ chốt và là một cường quốc khu vực đang lên” [45, tr.5]
Cùng với sự trỗi dậy của Trung Quốc với tham vọng ngày càng lớn tại Nam Á và Ấn Độ Dương khiến Ấn Độ thực sự lo ngại, sự hạn chế của Ấn Độ trong hợp tác ở khu vực Nam Á, buộc Ấn Độ phải có những điều chỉnh quan trọng trong chính sách đối ngoại để thích ứng với tình hình mới Một bước đi khôn khéo, nhằm đối trọng với Trung Quốc và tìm kiếm những thị trường tiềm năng, đó là sự ra đời của chính sách hướng Đông sau Chiến tranh lạnh, hướng tới khu vực Châu Á- Thái Bình Dương mà Đông Nam Á là trọng tâm Như vậy, trước sự biến động của tình hình thế giới và những yêu cầu nội tại của đất nước, Ấn Độ đã đưa ra những điều chỉnh mang tính chiến lược trong chính sách đối nội, đối ngoại của mình, đi từ chủ nghĩa lý tưởng sang chủ nghĩa hiện thực, thực dụng hơn, “cũng giống như Đặng Tiểu Bình, người
áp dụng chủ nghĩa thực dụng cho Trung Quốc, các nhà lãnh đạo của Ấn Độ bắt đầu nhấn mạnh đến phương cách thực tế để mang lại quyền lực và thịnh vượng cho Ấn Độ” [19, tr.37] Ấn Độ đã có những chuyển hướng mạnh mẽ
về tất cả các mặt để thích ứng với tình hình mới,nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh Trong đó kinh tế và chính sách đối ngoại là hai lĩnh vực có tầm quan trọng đặc biệt, để hiện thực hóa các mục tiêu mà Ấn Độ đặt ra
Về đối ngoại, Ấn Độ có sự điều chỉnh chiến lược khi lần lượt coi khu vực láng giềng trực tiếp (các nước Nam Á), các cường quốc ( Mỹ, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc…), khu vực láng giềng mở rộng (gồm Tây Á, Trung Á, Đông Nam Á và Ấn Độ Dương) và cuối cùng là các đối tác còn lại của Ấn Độ trên thế giới, là những thứ tự ưu tiên trong chính sách đối ngoại của mình từ năm 1991 đến nay Tuy nhiên những thứ tự ưu tiên này không phải hoàn toàn cứng nhắc, mà có thể xáo trộn trong những hoàn cảnh nhất định Khi mà quan
Trang 23hệ với các nước láng giềng và hợp tác trong tổ chức SAARC chưa thực sự hiệu quả, còn nhiều bất cập, hay quan hệ với các cường quốc vẫn còn nhiều nghi kỵ… thì hợp tác với ASEAN được xem là một ưu tiên mới trong chiến lược đối ngoại sau Chiến tranh lạnh của Ấn Độ và chính sách hướng Đông đã
ra đời trong bối cảnh đó
1.2.1.2 Chính sách hướng Đông của Ấn Độ và nhu cầu hợp tác với ASEAN
Về thời gian ra đời, xuất phát từ những thay đổi của bối cảnh toàn cầu
sau Chiến tranh lạnh, sự khó khăn trong hợp tác ở khu vực Nam Á cũng như những nhu cầu phát triển nội tại của đất nước, Ấn Độ buộc phải điều chỉnh chính sách, nhằm khai thác, tận dụng triệt để các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vai trò trong khu vực và trên thế giới
Một trong nhưng điều chỉnh có ý nghĩa quan trọng của Ấn Độ từ đầu thập niên 90 cho đến nay là việc hoạch định và thực thi chính sách hướng Đông Trên thực tế tư tưởng hướng Đông đã xuất hiện từ rất sớm ở Ấn Độ, ngay từ nửa đầu thế kỷ XX Cố Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru đã từng nói: “Thái Bình Dương chắc chắn sẽ thay thế Đại Tây Dương như một trung tâm đầu não thế giới Tuy không phải là một quốc gia trực tiếp ở Thái Bình Dương, nhưng Ấn Độ không thể không đóng vai trò quan trọng ở đó” [46, tr.188] Tuy nhiên vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, đến thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, tư tưởng hướng Đông mới thực sự trở thành hiện thực khi chính sách hướng Đông ra đời
Chính sách hướng Đông gắn liền với nhiệm kỳ cầm quyền của Thủ tướng N Rao, ra đời trong cuộc cải cách toàn diện của Ấn Độ năm 1991và chính thức được khởi động từ năm 1992 khi Ấn Độ trở thành đối tác đối thoại từng phần của ASEAN
Về mục tiêu, chính sách hướng Đông được xem là một chính sách đối
ngoại linh hoạt và rộng mở, được điều chỉnh theo từng giai đoạn phát triển của Ấn Độ với các mục tiêu chủ yếu sau:
Trang 24Thứ nhất: Về các mục tiêu chính trị chiến lược, thực hiện chính sách
hướng Đông, Ấn Độ hướng tới xây dựng, mở rộng và cạnh tranh ảnh hưởng ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, từng bước nâng cao hình ảnh của một cường quốc trong khu vực, tạo thế cân bằng tương đối trong quan hệ với Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản Trong đó mối quan tâm sâu sắc nhất của Ấn Độ chính là nhân tố Trung Quốc Trước sự ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Trung Quốc ở Nam Á và Ấn Độ Dương, Ấn Độ buộc phải nâng cao tiềm lực kinh tế và quốc phòng, cạnh tranh với Trung Quốc ở các khu vực có lợi ích chiến lược, trong đó có khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Ngoài ra, chính sách hướng Đông cũng nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các nước Đông Nam Á để Ấn Độ có thể gia nhập các tổ chức khu vực rộng lớn như APEC, ASEM, hay tham gia các cơ chế hợp tác của ASEAN như ARF, ASEAN+1, ESA, ADMM+…và quan trọng nữa là sự ủng hộ của các thành viên ASEAN trong chiến dịch giành chiếc ghế Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc
Thứ hai: Về các mục tiêu kinh tế - xã hội, thực hiện chính sách hướng
Đông Ấn Độ hướng tới duy trì mức tăng trưởng cao và ổn định của nền kinh
tế, thông qua các mối quan hệ chặt chẽ với Đông Á, đặc biệt là trao đổi thương mại Ấn Độ tin rằng Đông Á nắm giữ chiếc chìa khóa cho tăng trưởng kinh tế và ổn định của Ấn Độ Ngoài ra, hội nhập kinh tế với khu vực Đông Nam Á nói riêng và châu Á - Thái Bình Dương nói chung là một mục tiêu quan trọng trong chính sách hướng Đông kể từ đầu thập niên 90 Bên cạnh đẩy mạnh hợp tác song phương với các nước trong khu vực, Ấn Độ đã đề xuất thành lập và tham gia nhiều cơ chế hợp tác của khu vực Đông Nam Á như cơ chế Hợp tác cấp cao Ấn Độ - ASEAN, Hợp tác sông Hằng - sông MeKong, trở thành thành viên của Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), tham gia tích cực ACD, thúc đẩy đàm phán Hiệp định thương mại tự do (FTA) với ASEAN và từng nước ASEAN, thúc đẩy hợp tác SAARC - ASEAN và BIMSTEC…
Trang 25Bước đầu có thể thấy Ấn Độ đã thành công trong việc hiện thực hóa xây dựng Cộng đồng kinh tế châu Á, một hình thức liên kết kinh tế nhằm đối trọng với khối EU và khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), nhưng quan trọng hơn là Ấn Độ không bị đứng ngoài các khối kinh tế chủ đạo của
thế giới, từng bước khẳng định vị trí cường quốc của mình Ngoài những mục
tiêu trên, chính sách hướng Đông còn góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế
và ổn định xã hội ở vùng Đông Bắc Ấn Độ
Tóm lại, chính sách hướng Đông là sự chuyển hướng quan trọng trong nhìn nhận của Ấn Độ về thế giới và vị trí của mình trong bối cảnh toàn cầu, thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh, với mục tiêu lớn nhất là biến Ấn Độ thành một cường quốc về kinh tế, quân sự không chỉ ở khu vực châu Á mà còn trên phạm vi toàn thế giới
Việc thực thi chính sách hướng Đông của Ấn Độ chia làm hai giai đoạn:
Trong giai đoạn đầu (1992- 2002) thực hiện chính sách hướng Đông, Ấn
Độ chủ yếu tăng cường quan hệ với các nước Đông Nam Á (ASEAN), nhằm mục tiêu khôi phục mối quan hệ chính trị với các nước ASEAN, tăng cường hợp tác kinh tế trong đó chủ yếu là các mối liên hệ về thương mạivà đầu tư, thúc đẩy các mối liên hệ về quân sự với Đông Nam Á nhằm gia tăng sự hiểu biết, đạt được các lợi ích về chính trị và chiến lược, tranh thủ sự ủng hộ của các nước trong ASEAN để Ấn Độ có thể tham gia các tổ chức an ninh, kinh tế
và chính trị đa phương tại khu vực này như ASEM, APEC, WTO, ARF… Như vậy, trong giai đoạn thứ nhất của chính sách hướng Đông, Ấn Độ lấy chính sách ngoại giao kinh tế làm trụ cột, coi Đông Nam Á là “bàn đạp” để
Ấn Độ tiến vào thị trường Đông Á và châu Á - Thái Bình Dương
Giai đoạn thứ hai của chính sách hướng Đông (2002 - nay), được đánh
dấu bằng sự kiện Hội nghị cấp cao Ấn Độ - ASEAN lần đầu tiên được tổ chức tại Phnom Penh, Campuchia, tháng 11/2002 Trong giai đoạn này, chính sách
Trang 26hướng Đông đã được mở ra toàn khu vực châu Á - Thái Bình Dương và ASEAN vẫn được xem là trọng tâm của chính sách Ấn Độ tăng cường mối quan hệ nhiều mặt với các thành viên ASEAN ở cả cấp độ song phương và đa phương, đẩy mạnh hợp tác an ninh, cùng nhau bảo vệ lợi ích trên biển, chống khủng bố… hướng tới phá bỏ rào chắn về chính trị giữa Ấn Độ và ASEAN Hội nghị thượng đỉnh Ấn Độ - ASEAN được tổ chức thành công đã đưa quan
hệ hai bên lên một tầm cao mới Ấn Độ trở thành nước đầu tiên ngoài khu vực Đông Á (gồm Đông Bắc Á và Đông Nam Á), tham gia vào cơ chế ASEAN +1 của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Với sự kiện này, Ấn Độ trong quan hệ với ASEAN hoàn toàn bình đẳng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc (ASEAN+3), cùng nhau tiến vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Về phạm vi của chính sách hướng Đông, có sự điều chỉnh trong từng giai đoạn Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ Sinha khẳng định “Giai đoạn đầu tiên của chính sách hướng Đông tập chung vào ASEAN và hướng tới các mối liên kết thương mại và đầu tư Giai đoạn mới của chính sách này được đặc trưng bởi khái niệm mở rộng về hướng Đông, từ Australia tới Đông Á, với ASEAN là trọng tâm của chính sách” [19,tr.57]
Như vậy, chính sách hướng Đông của Ấn Độ được mở rộng ra toàn bộ khu vực châu Á -Thái Bình Dương, trong đó khu vực Đông Nam Á vừa là điểm xuất phát vừa là trọng tâm của chính sách Có nhiều lý do khiến khu vực Đông Nam Á được Ấn Độ quan tâm đặc biệt, từ sau thập niên 90 trở đi,
đó là sự thay đổi của môi trường quốc tế, sự gần gũi về mặt địa lý, những mối quan hệ truyền thống lâu đời, sự phát triển năng động giàu tiềm năng của Đông Nam Á Hơn nữa, các nước trong khối ASEAN lại là những thành viên nòng cốt của một số tổ chức kinh tế khu vực rộng lớn như APEC, ASEM Tất cả những yếu tố đó đều cần thiết cho một cường quốc mới nổi như Ấn Độ và Ấn
Độ coi khu vực này, chính là tấm ván để Ấn Độ tiến vào thị trường toàn cầu
Trang 271.2.2 Nhân tố ASEAN
1.2.2.1 Khái quát về ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (gọi tắt là ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967 tại Băng Cốc, Thái Lan với năm thành viên ban đầu: Thái Lan, Philippin, Indonesia, Malaysia và Singapore Các nước ASEAN (trừ Thái Lan) đều trải qua giai đoạn lịch sử là thuộc địa của các nước phương Tây và mới chỉ giành độc lập vào các thời điểm khác nhau sau Chiến tranh thế giới thứ hai Mặc dù có sự tương đồng về lịch sử, địa lý song các nước ASEAN lại rất khác nhau về chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo và văn hóa Điều đó tạo nên
sự thống nhất trong đa dạng của khu vực, đây cũng chính là cơ hội và thách thức cho các thành viên dưới mái nhà ASEAN Sự phát triển của ASEAN có thể chia làm hai giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất (1967-1991): Ra đời trong bối cảnh Chiến tranh
lạnh, chịu sự chi phối của chiến cuộc Đông - Tây, ASEAN trong giai đoạn này chưa thực sự thoát ra khỏi phạm vi khu vực Đông Nam Á Bên cạnh việc tăng cường trao đổi ý kiến và thảo luận để hiểu biết lẫn nhau, ASEAN còn góp phần dàn xếp những bất đồng, mâu thuẫn song phương giữa các nước thành viên như mâu thuẫn giữa Philippin và Malaysia về vấn đề chủ quyền Sabah, hòa giải căng thẳng giữa Indonesia và Singapore sau khi tòa án tối cao Singapore hành hình hai sĩ quan thủy quân của Indonesia dưới tội danh phá hoại và ám sát…
Vào cuối những năm 60 của thế kỷ XX, sự sa lầy của Mỹ ở chiến trường Đông Dương đã tạo ra khả năng xuất hiện khoảng trống quyền lực trong khu vực Đông Nam Á Để tránh sự can dự của các cường quốc và đảm bảo ổn định, an ninh khu vực, ASEAN đưa ra sáng kiến thành lập một khu vực hòa bình, tự do và trung lập ở Đông Nam Á (ZOPFAN) vào năm 1971
Trang 28Sau khi Mỹ hoàn toàn thất bại trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương, ASEAN buộc phải có những điều chỉnh để thích nghi với tình hình mới Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ nhất được triệu tập tại Bali, Indonesia tháng 2/1976 đã thông qua Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC), với mục tiêu tăng cường hòa bình vĩnh viễn, thân thiện và hợp tác lâu dài giữa các nước thành viên Sau khi kết nạp Brunei vào năm 1984, ASEAN cũng để ngỏ khả năng mở rộng thành viên với các quốc gia Đông Nam Á khác cũng như chủ động mở rộng quan hệ với các nước và các tổ chức hợp tác khu vực trên thế giới: Thiết lập cơ chế đối thoại với cộng đồng châu Âu (EC- 1972), Australia (1974), Newzealand (1975), Canada, Mỹ và Nhật Bản (1977)
Đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, khi vấn đề Campuchia được giải quyết, tình hình khu vực dần ổn định, Chiến tranh lạnh chấm dứt, Liên Xô và Mỹ rút khỏi các căn cứ quân sự tại Đông Nam Á, thì khu vực Đông Nam Á được xem là một môi trường thuận lợi cho ASEAN phát triển về mọi mặt
Giai đoạn thứ hai (1991- nay): Trong giai đoạn này, ASEAN từng bước
gặt hái được nhiều thành công trở thành một trong những tổ chức hợp tác hiệu quả nhất trên thế giới, nâng vị thế của Hiệp hội trên trường quốc tế
Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa và
sự hợp tác trở thành xu thế chính trong quan hệ quốc tế ASEAN đứng trước vận hội mới, để chấm dứt sự chia rẽ đối đầu giữa các nước trong khu vực, tạo dựng một môi trường hòa bình và ổn định, đồng thời thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa các nước thành viên cũ, kết nạp thành viên mới Việt Nam trở thành thành viên thứ bảy của ASEAN (tháng 7/1995) và là thành viên đầu tiên được kết nạp kể từ sau Chiến tranh lạnh Đến năm 1999, với sự nỗ lực của các nước thành viên, Campuchia trở thành thành viên chính thức cuối cùng của gia đình ASEAN, trước đó Lào và Myanmar đã gia nhập tổ chức này vào năm 1997
Trang 29Trong lịch sử gần 50 năm ra đời và phát triển, việc mở rộng từ ASEAN 5 lên ASEAN 10, vào nửa cuối thập niên 90 của thế kỷ XX là một thành công lớn của ASEAN Các quốc gia Đông Nam Á với nhiều điểm khác biệt về chính trị, kinh tế, văn hóa đã cùng nhau chung sống dưới mái nhà ASEAN bỏ lại phía sau những nghi kỵ, tranh chấp, bất đồng hướng tới xây dựng một Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) được đề ra năm 1992 ASEAN kỳ vọng hoàn thành xây dựng FTA của khu vực trong vòng 15 năm, nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN, cũng như giữa ASEAN với các khu vực khác trên thế giới Sáng kiến hội nhập ASEAN (IAI), được thông qua tại Hội nghị cấp cao ASEAN không chính thức lần thứ tư tại Singapore năm
2000 Năm 2001, Bộ trưởng Ngoại các nước ASEAN ra Tuyên bố Hà Nội về thu hẹp khoảng cách phát triển
Bên cạnh hợp tác phát triển kinh tế, hợp tác an ninh - chính trị trong ASEAN cũng được tăng cường, nhằm đối phó với những nguy cơ, thách thức trong bối cảnh lịch sử mới Ngày 25/7/1994, Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) được thành lập tại Bangkok, Thái Lan, thu hút sự tham gia của nhiều nước không chỉ đến từ Đông Nam Á, Đông Bắc Á mà còn từ Nam Á, Bắc
Mỹ, Tây Âu, Đông Âu… Thông qua ARF, các nước thành viên ASEAN đã phối hợp với các nước đối thoại đưa ra nhiều sáng kiến nhằm duy trì hòa bình
và ổn định khu vực Tháng 4/1997, ASEAN tổ chức thành công hội nghị ASEAN+3 với ba nước: Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc Đến năm 2000, ASEAN +3 chính thức được thể chế hóa tiến tới tiến trình hội nhập Đông Á, thúc đẩy quan hệ hợp tác ASEAN với các nước Đông Á Ngoài ra hình thức ASEAN+1 cũng trở nên đa dạng hơn với sự ra đời của Hội nghị cấp cao ASEAN - Ấn Độ năm 2002
Năm 2003, với sự ra đời của Tuyên bố Hòa hợp ASEAN (Tuyên bố Bali II), ASEAN tiến thêm một bước trong các nỗ lực tăng cường liên kết khu vực
Trang 30Tuyên bố Bali II xác định mục tiêu thành lập một Cộng đồng ASEAN gồm ba trụ cột: Cộng đồng an ninh - chính trị, Cộng đồng kinh tế và Cộng đồng văn hóa - xã hội Tiếp đó, để tăng cường vị thế và uy tín quốc tế cho Hiệp hội, các nhà lãnh đạo ASEAN đã ra Tuyên bố Kuala Lumpur về xây dựng Hiến chương ASEAN trong Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 11 (2005) tại Malaysia Tháng 11/2007, Hiến chương ASEAN đã chính thức ra đời tại Hội nghị cấp cao ASEAN tổ chức ở Singapore, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của các nước Đông Nam Á Từ đây ASEAN chính thức trở thành một tổ chức có tư cách pháp nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình liên kết sâu giữa các nước thành viên, tiến tới hiện thực hóa Cộng đồng ASEAN
Song song với việc đẩy mạnh kinh tế nội khối, ASEAN tăng cường hợp tác với các đối tác trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhằm duy trì vai trò động lực, vị thế trung tâm trong hợp tác kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng ở khu vực Đông Á Sau khi ký FTA với Trung Quốc vào năm 2002, ASEAN tiếp tục ký Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện với Ấn Độ (CECA),
ký với Nhật Bản Hiệp định khung về đối tác kinh tế toàn diện vào năm 2003 Năm 2006 và năm 2008, ASEAN lần lượt ký các FTA với Hàn Quốc và Nhật Bản Năm 2009, FTA ASEAN - Australia và New Zealand được ký kết, cũng trong năm 2009, ASEAN ký FTA về hàng hóa với Ấn Độ
Về an ninh, sau vụ tấn công khủng bố vào nước Mỹ tháng 9 năm 2001, các vụ tấn công khủng bố tiếp tục xảy ra ở một số nước Đông Nam Á và nhiều nơi khác trên thế giới ASEAN với tư cách là một tổ chức khu vực, đã bắt đầu ký các hiệp định hợp tác chống khủng bố với nhiều đối tác có lợi ích
an ninh quan trọng ở khu vực Năm 2003, ASEAN lần lượt ký các Tuyên bố chung về hợp tác chống khủng bố quốc tế song phương với Ấn Độ, Australia, Liên minh châu Âu, sau đó ASEAN tiếp tục ký với Nhật Bản, Nga (năm 2004), Hàn Quốc, New Zealand (năm 2005), Canada (năm 2006)
Trang 31Đến nay, trải qua gần 50 năm tồn tại và phát triển, ASEAN đã đạt được những thành công đáng kể Quá trình mở rộng và kết nạp đầy đủ thành viên,
đã thúc đẩy ASEAN thực hiện mục tiêu hướng tới xây dựng một Cộng đồng ASEAN Trong quan hệ đối ngoại, ASEAN đẩy mạnh quan hệ hợp tác song phương, đa phương với nhiều quốc gia tổ chức khu vực trên thế giới, xây dựng các cơ chế hợp tác, đối thoại như ARF, ASEAN+1, ASEAN+3, EAS, ADMM+… Các quốc gia Đông Nam Á với một nền kinh tế đang phát triển,
sự ổn định tương đối về chính trị, sự đa dạng về văn hóa, cùng hội tụ dưới mái nhà ASEAN, là những yếu tố không thể không quan tâm của các cường quốc trên thế giới Ấn Độ, một cường quốc đang trỗi dậy, đã không bỏ lỡ cơ hội hợp tác với khu vực này thông qua chính sách hướng Đông
1.2.2.2 Nhu cầu hợp tác của ASEAN với Ấn Độ
Đông Nam Á bao gồm 11 quốc gia với tổng diện tích 4,5 triệu km2, dân
số khoảng 500 triệu người và có tổng GDP cũng như kim ngạch buôn bán xấp
xỉ 800 tỷ USD/ năm [13,tr.39] Từ trong lịch sử, Đông Nam Á đã có vị trí chiến lược trên bản đồ chính trị, quân sự và kinh tế của thế giới, do nằm ở ngã
tư đường nối các khu vực Đông Bắc Á, Nam Á, châu Úc, nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương Từ chỗ là những nước thuộc địa, phụ thuộc, những nền nông nghiệp lạc hậu, các quốc gia Đông Nam Á đã kiên trì con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc, vươn lên mạnh mẽ về kinh tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt là sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tri thức, quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc
tế, đã đưa ASEAN trở thành một trong những tổ chức khu vực thành công nhất trên thế giới, thu hút sự quan tâm của các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga…
Nhìn từ ASEAN, Ấn Độ là một quốc gia có nền văn hóa lâu đời, một cường quốc đang trỗi dậy trong thời kỳ mới và ngày càng có ảnh hưởng sâu
Trang 32rộng đến các vấn đề quốc tế và khu vực Vì vậy ngay từ rất sớm, ASEAN đã
có nhu cầu hợp tác với Ấn Độ trên mọi phương diện
Về kinh tế, ASEAN là một trong những khu vực có nền kinh tế phát
triển năng động nhất trên thế giới, bao gồm những quốc gia đang phát triển
Để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, các nước ASEAN thực hiện chiến lược công nghiệp hóa hướng tới xuất khẩu, tăng cường thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài Trong khi đó, Ấn Độ là một quốc gia có diện tích lớn nhất khu vực Nam Á, dân số đứng thứ hai thế giới, trên một tỷ người Từ sau cuộc cải cách toàn diện tháng 7 năm 1991, kinh tế Ấn Độ phát triển nhanh chóng, tăng trưởng GDP cao và liên tục (trung bình 7,8%/năm, trong vòng 10 năm qua),
đó sẽ là thị trường mà ASEAN đang tìm kiếm Năm 2005, Ấn Độ trở thành nền kinh tế đứng thứ mười thế giới, với kim ngạch ngoại thương 120 tỷ USD Ngoài ra, Ấn Độ cũng là quốc gia đang phát triển có chi tiêu quân sự lớn nhất (15,3 tỷ USD năm 2004 - 2005) [13, tr.40] Theo đánh giá của một số nhà nghiên cứu, nếu Ấn Độ duy trì được đà tăng trưởng như hiện nay thì tới năm
2030 Ấn Độ sẽ cùng với Mỹ, Trung Quốc trở thành ba cường quốc kinh tế lớn nhất thế giới
Với những lợi thế của mình, Ấn Độ trở thành bạn hàng nhiều tiềm năng của ASEAN Kinh tế Ấn Độ và ASEAN có thể bổ xung cho nhau trong một
số lĩnh vực Ấn Độ có một đội ngũ đông đảo cán bộ khoa học nhiều kinh nghiệm, kỹ thuật viên lành nghề, một số ngành công nghiệp mũi nhọn vào loại tiên tiến của thế giới, đặc biệt là ngành công nghiệp quốc phòng, có thể đáp ứng nhu cầu của các nước Đông Nam Á về mặt công nghệ, cũng như phát triển nguồn nhân lực Thị trường rộng lớn trên một tỷ dân của Ấn Độ cũng là mục tiêu quan trọng cho các doanh nghiệp Đông Nam Á và ngược lại
Về chính trị - an ninh, quan hệ Ấn Độ - ASEAN được xây dựng trên
những cơ sở hết sức thuận lợi Từ trong lịch sử, mối quan hệ này đã có từ rất
Trang 33lâu đời và hoàn toàn diễn biến trong hòa bình, giữa Ấn Độ và các nước Đông Nam Á dường như chưa có một xung đột quân sự nào Văn hóa, tôn giáo Ấn
Độ cũng thấm đẫm, hòa quện vào nền văn hóa Đông Nam Á, đó là những tiền
đề thuận lợi cho mối quan hệ Ấn Độ - ASEAN trong giai đoạn mới
Từ sau Chiến tranh lạnh, với sự phát triển ổn định trên nhiều lĩnh vực,
Ấn Độ đã từng bước nâng cao vị thế của mình, buộc các quốc gia trên thế giới phải nhìn nhận Ấn Độ là cường quốc đang trỗi dậy và sẽ có vai trò to lớn trong quan hệ quốc tế những thập kỷ sắp tới Trong bối cảnh đó, các nước ASEAN mong muốn tăng cường quan hệ với Ấn Độ để góp phần cân bằng trong quan hệ với Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Australia, giảm sức ép trong quan hệ với các nước lớn Đặc biệt, trong thời gian gần đây sự nổi lên của Trung quốc đã làm thay đổi cán cân lực lượng khu vực và toàn cầu Trung Quốc coi Đông Nam Á là địa bàn chiến lược, là nơi Trung Quốc có thể phát huy sức mạnh và mở rộng ảnh hưởng Lòng tin của các quốc gia về sự nổi lên
và phát triển hòa bình của Trung Quốc đã bị sứt mẻ nghiêm trọng, do tham vọng ngày càng lớn của Bắc Kinh Gần đây nhất là những căng thẳng gia tăng tại biển Đông và biển Hoa Đông, khi Trung Quốc đưa ra những yêu sách, những tuyên bố chủ quyền trên biển Đông và đặc biệt là sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 hoạt động trong vùng lãnh hải của Việt Nam từ ngày 1 tháng
5 năm 2014 Sự nổi lên của Trung Quốc là nhân tố quan trọng, khiến Ấn Độ
và các nước ASEAN xích lại gần nhau hơn
Từ những nhu cầu lợi ích trên, ASEAN tăng cường mở rộng quan hệ với
Ấn Độ trên nhiều phương diện Trong bối cảnh quốc tế mới, cả ASEAN và
Ấn Độ đều sẵn sàng cho những mối quan hệ sâu hơn, thực chất hơn, đem lại những hiệu quả thiết thực đáp ứng kỳ vọng của các nhà lãnh đạo và nhân dân
Ấn Độ, ASEAN
Trang 341.3 Khái quát quan hệ Ấn Độ - ASEAN trước năm 1991
Ấn Độ là nước có quan hệ lâu đời với khu vực Đông Nam Á trên nhiều lĩnh vực: Kinh tế, văn hóa, thương mại Quan hệ văn hóa bắt đầu từ những năm đầu công nguyên, đã để lại dấu ấn khó phai của Ấn Độ trên hầu hết các quốc gia Đông Nam Á cho tới ngày nay, bao gồm những ảnh hưởng về tôn giáo (Phật giáo, Hồi giáo và Ấn Độ giáo ), văn học, triết học, nghệ thuật kiến trúc và phong tục tập quán… Bên cạnh nhưng mối quan hệ về văn hóa, từ cách đây 2000 năm các thương gia Ấn Độ đã có mặt ở Đông Nam Á theo các tuyến giao thương đường biển qua eo biển Ma-lắc-ca Cùng với mối quan hệ kinh tế, văn hóa lâu đời, một số lương lớn người Ấn Độ đã sang làm việc và định cư tại Đông Nam Á chiếm khoảng 1% tổng dân số khu vực, với gần 5,1 triệu người Đặc biệt ở những nước Singapore, Malaysia, Myanmar cộng đồng người Ấn lần lượt chiếm tới 9,71%, 7,3%, 5% tổng dân số của những quốc gia này Lực lượng Ấn kiều đông đảo góp phần quan trọng trong việc xây dựng và hình thành các cầu nối về văn hoá, thương mại, đầu tư với Ấn Độ
Về mặt lịch sử, Ấn Độ và Đông Nam Á đều có những điểm tương đồng khi cùng chung cảnh ngộ chịu ách thống trị của chủ nghĩa thực dân thời kỳ cận hiện đại Sau khi giành được quyền tự trị năm 1947 và giành độc lập năm
1950, Ấn Độ luôn ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á Điển hình là sự giúp đỡ trực tiếp cả về vật chất và tinh thần của Ấn Độ dành cho cuộc đấu tranh chống thực dân Hà Lan của nhân dân Indonesia, ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân 3 nước Đông Dương, công nhận nền độc lập của Myanmar, Malaysia và Singapore… Như vậy, ngay từ khi ASEAN chưa thành lập, Ấn Độ, và các quốc gia Đông Nam Á đã xác lập được một mối quan hệ tốt đẹp, đó là tiền đề thuận lợi cho hợp tác sau này
Năm 1967, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á được thành lập (viết tắt
là ASEAN) Tổ chức này được thành lập trong thời điểm cuộc Chiến tranh
Trang 35lạnh đang ở giai đoạn căng thẳng nhất, bởi vậy quan hệ Ấn Độ - ASEAN chịu
sự chi phối của mâu thuẫn Đông-Tây Ấn Độ ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân ba nước Đông Dương, trong khi đó quan hệ chính trị giữa Ấn Độ với các nước ASEAN cũ, không được mặn mà do xu hướng thân phương Tây ở những mức độ khác nhau của các thành viên trong Hiệp hội
Tuy có sự khác nhau về quan điểm chính trị, nhưng quan hệ thương mại song phương giữa Ấn Độ với các thành viên ASEAN lại phát triển vào bậc nhất của quốc gia Nam Á này Từ năm tài khóa 1971-1972 đến năm tài khóa 1979-1980, giá trị xuất khẩu của Ấn Độ sang các nước ASEAN tăng 814,2%
từ 244,9 triệu Rupee lên 2.238,9 triệu Rupee, trung bình mỗi năm tăng 28%, trong khi tăng trưởng xuất khẩu bình quân của Ấn Độ ra toàn thế giới chỉ có 16,7%/ năm Nhập khẩu của Ấn Độ từ ASEAN tăng 5.587,3% từ 70,3 triệu Rupee lên 3.998,2 triệu Rupee Trung bình mỗi năm tăng 50% so với con số 19,2% mức tăng bình quân của Ấn Độ Tỉ lệ thương mại Ấn Độ -ASEAN trong tổng thương mại của Ấn Độ tăng từ 3,8% ở giai đoạn 1974-1979 lên 5,4% ở giai đoạn 1980-1991[47, tr270]
Về đầu tư, ASEAN luôn là những địa chỉ đầu tư quan trọng của Ấn Độ Trong giai đoạn 1975-1980, khu vực Đông Nam Á nói riêng và Đông Á nói chung thu hút tới 31 dự án với số vốn 38,34 triệu USD trong tổng số 74 dự án đầu tư ra nước ngoài của Ấn Độ Trong giai đoạn 1981-1990, Đông Nam Á thu hút 38 dự án trên tổng số 155 dự án đầu tư ra nước ngoài của Ấn Độ với tổng trị giá 41,85 triệu USD, chiếm 29,26% tỉ lệ các dự án và 36,32% tổng giá trị các dự án Tính chung trong cả giai đoạn 1975-1990 các nước thành viên ASEAN là Thái Lan, Singapore, Indonesia, Malaysia chiếm tới 35,46% tổng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Ấn Độ [41,tr.23]
Trang 36Bảng 1.1: Nhập khẩu của Ấn Độ từ các nước Đông Nam Á
Đơn vị: triệu USD
Bảng 1.2: Xuất khẩu của Ấn Độ từ các nước Đông Nam Á
Đơn vị: triệu USD
Trang 37Như vậy, mặc dù mối quan hệ giữa Ấn Độ và ASEAN với tư cách là một
tổ chức thì vẫn chưa có do môi trường không thuận lợi của thời kỳ Chiến tranh lạnh, tuy nhiên sự phát triển nhanh chóng của các nền kinh tế ASEAN thập niên 70 của thế kỷ XX đã thu hút sự quan tâm của Ấn Độ Quan hệ thương mại, đầu tư song phương giữa Ấn Độ và các nước thành viên ASEAN tăng lên nhanh chóng, qua đó chúng ta có thể khẳng định Đông Nam Á nói chung và các nước ASEAN cũ nói riêng là những thị trường đầu tư, là một trong những đối tác kinh tế quan trọng nhất của Ấn Độ thời kỳ Chiến tranh lạnh Sự khác biệt về quan điểm chính trị dường như không ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ kinh tế Ấn Độ - ASEAN
Bước vào thập niên 90, khi môi trường quốc tế đã thay đổi, Ấn Độ và ASEAN có nhiều cơ hội để tăng cường hợp tác trên mọi lĩnh vực Trong đó phát triển kinh tế thực sự trở thành nhu cầu thiết thực nhất của các bên Với
Ấn Độ, cuộc cải cách toàn diện tháng 7/1991 và sự điều chỉnh chính sách đối
ngoại được xem là sự “lột xác” của nước này trong thời kỳ mới Quan hệ với
Đông Nam Á thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh, sẽ không chỉ là quan hệ tự phát vì những lợi ích trước mắt, mà đó là sự hoạch định có chiến lược của Ấn Độ nhằm những mục tiêu lớn hơn Sự ra đời của chính sách hướng Đông và việc thực thi chính sách này là một minh chứng cho chiến lược của Ấn Độ và tầm quan trọng của ASEAN trong thời kỳ mới
Trang 38TIỂU KẾT
Như vậy, sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình thế giới có những chuyển biến to lớn, Liên Xô sụp đổ, trật tự hai cực tan rã, một trật tự mới đang bắt đầu hình thành Ấn Độ một quốc gia có lợi ích kinh tế và quân sự gắn liền với Liên Xô buộc phải có những điều chỉnh để thích ứng với tình hình mới Tháng 7 năm 1991, ngay sau khi lên nắm quyền Thủ tướng N Rao
đã tiến hành cải cách toàn diện đất nước, trong đó tập chung vào điều chỉnh những chính sách về kinh tế và đối ngoại Từ lý tưởng xây dựng một xã hội
xã hội chủ nghĩa, Ấn Độ chuyển sang chủ trương xây dựng một xã hội tư bản hiện đại, lấy phát triển kinh tế làm trọng tâm, đi từ chủ nghĩa ngoại giao nước lớn sang chủ nghĩa thực dụng Sự ra đời của chính sách hướng Đông được xem là một sự điều chỉnh chiến lược trong chính sách ngoại giao của Ấn Độ, trong bối cảnh quốc gia này đang gặp nhiều khó khăn trong quan hệ với các nước Nam Á, sự chậm chạp trong cải thiện quan hệ với Mỹ, đặc biệt là sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực Nam Á và Ấn Độ Dương Nói cách khác, triển khai chính sách hướng Đông là nhiệm vụ bắt buộc của chiến lược ngoại giao của Ấn Độ lúc đó Hướng Đông là hướng tới châu Á - Thái Bình Dương với hai nhóm mục tiêu cơ bản về chính trị chiến lược và kinh tế -
xã hội, với hy vọng khu vực này sẽ là “tấm ván bật” để Ấn Độ bước vào thị
trường toàn cầu Trong đó Ấn Độ xác định, Đông Nam Á chính là điểm xuất phát của chính sách hướng Đông
ASEAN, một tổ chức khu vực được thành lập vào năm 1967 Trong Chiến tranh lạnh, cơ chế hoạt động của ASEAN còn khá lỏng lẻo và mờ nhạt, hơn nữa bản thân các thành viên của hiệp hội đều là những nước thuộc địa, phụ thuộc của tư bản Âu - Mỹ Môi trường quốc tế thay đổi từ sau Chiến tranh lạnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho ASEAN vươn lên mạnh mẽ trở thành một khu vực phát triển năng động nhiều tiềm năng trên thế giới Năm 1999,
Trang 39việc mở rộng thành viên từ ASEAN-5 lên ASEAN-10 đã hoàn tất với sự gia nhập của Campuchia Từ đây, ASEAN có thể bỏ lại sau lưng lịch sử là những nước thuộc địa, có quan điểm khác nhau trong quan hệ với các cường quốc để tiến tới củng cố nội khối, xây dựng một Cộng đồng ASEAN Song song với củng cố nội khối, ASEAN mở rộng hợp tác với các cường quốc trong khu vực
và thế giới, trong đó Ấn Độ một cường quốc khu vực đang lên được xem là đối tác quan trọng của hiệp hội trong bối cảnh mới
Ngay trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, mặc dù bị chi phối bởi chiến cuộc Đông - Tây, sự khác biệt về quan điểm chính trị, nhưng giữa Ấn Độ và các nước ASEAN đã có những mối quan hệ hợp tác song phương chủ yếu về kinh
tế thương mại và đầu tư Tuy nhiên hợp tác chính trị an ninh thời kỳ này còn khá mờ nhạt do mối quan hệ chồng chéo giữa các nước ASEAN với các nước lớn, trong khi đó các nước thành viên chưa thiết lập được các mối quan hệ vững chắc và tin tưởng lẫn nhau Hơn nữa, trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Ấn
Độ là một nước thân cận với Liên Xô theo đuổi chủ nghĩa lý tưởng, giương cao ngọn cờ chống chủ nghĩa thực dân Sự khác biệt về quan điểm chính trị dường như không ảnh hưởng nhiều tới hợp tác kinh tế, nhưng lại hạn chế các mối quan hệ hợp tác về chính trị an ninh giữa Ấn Độ và ASEAN
Trong thời kỳ mới khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Ấn Độ và ASEAN đã sẵn sàng cho một giai đoạn phát triển mới bằng việc hoạch định những chính sách kinh tế chính trị đối ngoại phù hợp Đặc biệt với sự ra đời của chính sách hướng Đông, Ấn Độ đã tạo nền tảng cơ hội cho các nước ASEAN đẩy mạnh hợp tác với Ấn Độ và ngược lại Cùng với xu thế chung của thế giới, quan hệ
Ấn Độ - ASEAN hứa hẹn sẽ đem lại nhiều thành công thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh
Trang 40Chương 2 TIẾN TRÌNH VÀ NỘI DUNG QUAN HỆ ẤN ĐỘ- ASEAN
(1991-2014)
2.1 Quan hệ Ấn Độ - ASEAN giai đoạn 1991- 2002
2.1.1 Quan hệ chính trị - ngoại giao
Đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, cùng với những cải cách toàn diện về kinh
tế, Ấn Độ đã có sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình để thích ứng với tình hình mới Chính sách hướng Đông ra đời coi châu Á - Thái Bình Dương là tấm ván bật để Ấn Độ tiến vào thị trường toàn cầu Trong đó Đông Nam Á được xem là điểm khởi động của chính sách hướng Đông Một chiến dịch tiến công ngoại giao, ở cả cấp độ song phương và đa phương nhằm tăng cường mối quan
hệ chặt chẽ mọi mặt với các quốc gia Đông Nam Á được tiến hành
Để khởi động chính sách, Thủ tướng Nahasimha Rao ngay sau khi lên nắm quyền đã cùng nhiều quan chức cao cấp của Ấn Độ như các Bộ trưởng
Bộ Ngoại giao, Thương mại, Tài chính lần lượt thăm chính thức các nước ASEAN Trong đó, đáng chú ý là những cuộc viếng thăm của Thủ tướng N Rao đến hầu hết các nước Đông Nam Á như Indonesia (năm 1992), Thái Lan (1993), Singapore và Việt Nam (1994), Malaysia (1995)… Các động thái này được đánh giá là một dấu hiệu chuyển hướng chiến lược của Ấn Độ sau nhiều thập kỷ vắng bóng ở Đông Nam Á Thứ trưởng Ngoại giao Thái Lan Pitsuwan đã nhận xét “chưa bao giờ một vị Thủ tướng Ấn Độ lại liên tục đến Đông Nam Á trong một thời gian ngắn như vậy” [9, tr.247] Trong các chuyến thăm, Ấn Độ khẳng định sự ủng hộ với các tiêu chí hòa bình, ổn định
và phát triển của các nước Đông Nam Á, tuyên truyền cho cuộc cải cách kinh
tế ở Ấn Độ, coi Đông Nam Á cũng như châu Á - Thái Bình Dương là một