1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG LÃNH đạo TĂNG CƯỜNG mối QUAN hệ GIỮA ĐẢNG với NHÂN dân từ năm 1986 đến năm 2006

102 271 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 416,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, song quần chúng nhân dân phải được tổ chức chặt chẽ và đặt dưới sự lãnh đạo của đội tiền phong của giai cấp công nhân là Đảng Cộng sản. Mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân là mối quan hệ bản chất, một trong những nguyên lý xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Giải quyết đúng đắn và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, được Đảng ta đặt ra ngay từ đầu và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng.

Trang 1

MỞ ĐẦU 3

Chương 1: YÊU CẦU KHÁCH QUAN VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA

ĐẢNG VỀ TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1996 121.1 Yêu cầu khách quan về tăng cường mối quan hệ giữa

1.2 Chủ trương của Đảng về tăng cường mối quan hệ giữa

Đảng với nhân dân từ năm 1986 đến năm 1996 30

Chương 2: ĐẢNG CHỈ ĐẠO TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ

GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN, THÀNH TỰU VÀ KINH NGHIỆM

452.1 Đảng chỉ đạo tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với

2.2 Thành tựu và kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo

tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân từ năm

MỞ ĐẦU 1- Tính cấp thiết của đề tài

Trang 2

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, song quần chúng nhân dân phải được tổ chức chặt chẽ và đặt dưới sự lãnh đạo của đội tiền phong của giai cấp công nhân là Đảng Cộng sản Mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân là mối quan hệ bản chất, một trong những nguyên lý xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Giải quyết đúng đắn và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, được Đảng ta đặt ra ngay từ đầu và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng

Thực tiễn cách mạng Việt Nam 80 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh: trong mỗi bước ngoặt của lịch sử cách mạng nước ta, ở bất cứ thời điểm nào Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, nhân dân tin yêu và ủng hộ Đảng thì dù khó khăn, gian khổ đến đâu, phong trào cách mạng vẫn tồn tại và phát triển, Đảng nhanh chóng trưởng thành và lãnh đạo cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm nên cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, đưa cả nước đi lên xây dựng CNXH

Những thành tựu vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong chặng đường tám thập niên qua bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng ta rút ra bài học kinh nghiệm quý báu có ý nghĩa sống còn và mang tính nguyên tắc là: mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân là nguồn sức mạnh vô tận, là truyền thống vô cùng quý báu của Đảng ta, là một trong những nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng

Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Qua hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa

Trang 3

lịch sử: đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, kinh tế tăng trưởng nhanh, chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh vững chắc, quan hệ đối ngoại được mở rộng Bên cạnh những thời cơ và thuận lợi, nước ta còn đối mặt với những khó khăn, thách thức lớn Mặt trái của cơ chế thị trường tạo ra sự phân hoá giàu nghèo trong nội bộ nhân dân dẫn đến sự biến đổi cơ cấu giai cấp xã hội, các hiện tượng tham nhũng, tiêu cực, sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên làm xói mòn quan hệ giữa Đảng với nhân dân Mặt khác, các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện chiến lược

“diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ, lợi dụng các vấn đề phức tạp và nhạy cảm như dân tộc, tôn giáo, nhân quyền để phá hoại, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, làm suy giảm lòng tin của quần chúng vào sự lãnh đạo của Đảng nhằm mục đích cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN ở nước ta Những tác động đó ảnh hưởng đến chủ trương tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong thời kỳ mới của Đảng ta hiện nay

Để tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, Đảng phải phát huy được sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc Sự nghiệp đổi mới đặt ra nhiều vấn đề mới cần phải giải quyết, trong đó việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là vấn đề có tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay

Tác giả chọn đề tài: “Đảng lãnh đạo tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân từ năm 1986 đến năm 1996” làm luận văn thạc sĩ lịch sử

chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam hy vọng góp phần làm sáng

tỏ hơn chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong 10 năm đầu đổi mới

2- Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là vấn đề lớn và quan trọng, nhất là trong thời kỳ đổi mới hiện nay đã được các đồng chí lãnh đạo

Trang 4

Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, đề cập dưới nhiều hình thức khác nhau Có thể khái quát thành các nhóm nghiên cứu sau:

Nhóm các bài nói, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước

tiêu biểu là:

Nguyễn Văn Linh, Về công tác quần chúng, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1990

Cuốn sách tuyển chọn các bài nói, bài viết của đồng chí Nguyễn Văn Linh đề cập đến vai trò của quần chúng nhân dân trong cách mạng giải phóng dân tộc trước đây và cách mạng XHCN hiện nay, vị trí của công tác vận động quần chúng trong sự nghiệp đổi mới đất nước Phương hướng công tác quần chúng trong thời kỳ mới nhấn mạnh tính chất cấp bách của công tác quần chúng thể hiện ở việc đẩy mạnh phong trào quần chúng thực hiện những nhiệm vụ cấp bách gắn với việc đổi mới công tác quần chúng nhằm làm chuyển biến tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước góp phần thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân

Nông Đức Mạnh, Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Tạp chí Cộng sản, số 4 + 5 (2003) Nguyễn Phú Trọng, Sự lãnh đạo của Đảng và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, Tạp chí Cộng sản, số 3 (2003) Lê Quang Đạo, Đại đoàn kết dân tộc - một nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Tạp chí Lịch sử Đảng,

số 8 (2003) Nội dung xuyên suốt các bài viết trên tập trung làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân nhằm phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Các bài viết cũng nêu bật vị trí, tầm quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc, đồng thời nêu ra những chủ trương, giải pháp phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả

Trang 5

các lĩnh vực của đời sống xã hội, đưa quy chế dân chủ ở cơ sở đi vào cuộc sống, thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra trong quá trình xây dựng, hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chính sách.

Vũ Oanh, Tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, Nxb Sự

thật, Hà Nội, 1990 Cuốn sách gồm một số bài viết của đồng chí Vũ Oanh giới thiệu Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám BCHTƯ Đảng khoá VI “Về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân” Các bài viết làm rõ sự cần thiết phải đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, tập trung phân tích bốn quan điểm chỉ đạo công tác quần chúng của Đảng trong tình hình mới, nội dung đổi mới công tác quần chúng của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, nhấn mạnh sự phối hợp đồng bộ của các cấp, các ngành, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị tạo thành phong trào quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị, bảo đảm cải thiện đời sống, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân

Nhóm các sách chuyên luận, chuyên khảo được xuất bản như: PTS

Đàm Văn Thọ, PTS Vũ Hùng: Mối quan hệ giữa Đảng và dân trong tư tưởng

Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1997 TS Nguyễn Văn Sáu, PGS, TS Trần Xuân Sầm, PGS, TS Lê Doãn Tá: Mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong thời kỳ đổi mới đất nước - vấn đề và kinh nghiệm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 PGS, TS Trần Hậu: Đoàn kết dân tộc một đường lối đúng đắn không thể phủ nhận, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc, Tăng cường đoàn kết dân tộc phát huy sức mạnh của toàn dân trong sự nghiệp đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2000 PGS, TS Phùng Hữu Phú, Chiến lược đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995

Các công trình khoa học trên tập trung làm rõ hai nội dung cơ bản:

Trang 6

Một là, cơ sở lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa Đảng và nhân

dân Các công trình đều khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận của mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân Cơ sở thực tiễn để Đảng ta đề ra chủ trương tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước: Thực tiễn Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc đưa cả nước đi lên xây dựng CNXH, một trong những nguyên nhân quyết định sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam là đã xác lập được mối quan hệ máu thịt giữa Đảng

và nhân dân Thực tiễn sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu chỉ ra: một khi nhân dân thờ ơ và quay lưng lại với Đảng và Nhà nước thì sự sụp đổ của một chế độ xã hội là khó tránh khỏi Thực tiễn công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu quan trọng, tuy nhiên nước ta cũng đứng trước những nguy cơ, thách thức lớn Mặt khác, yêu cầu mới của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đặt ra đòi hỏi Đảng phải tăng cường hơn nữa mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và nhân dân, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước vì hạnh phúc của nhân dân

Hai là, những giải pháp tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân

trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hiện nay Các công trình đưa ra

hệ thống các giải pháp: Đảng phải xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp với lợi ích, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ mới để tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân Cải cách hành chính sâu rộng phục vụ sự nghiệp đổi mới kinh tế, đảm bảo sự chủ động hội nhập phục vụ đắc lực sự nghiệp CNH, HĐH Đổi mới công tác vận động nhân dân trong tình hình hiện nay Tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức trong giai đoạn cách mạng hiện nay

Trang 7

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của thanh niên, phụ nữ trong sự nghiệp đổi mới Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Đảm bảo vai trò của thông tin đại chúng và nắm bắt dư luận xã hội trong xây dựng Đảng hiện nay

Nhóm các luận văn, luận án đã bảo vệ như: Luận văn thạc sĩ lịch sử

của Trần Đình Định (1999) Đảng lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân thời kỳ đổi mới 1986 - 1999 Luận văn thạc sĩ lịch sử của Trần Xuân Thuyết (2006) Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước từ 1996 đến 2005

Các luận văn trên đã luận giải, làm rõ Đảng lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước là một đòi hỏi khách quan Đồng thời phân tích, trình bày có hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong thời

kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước từ năm 1986 đến năm 2005 Trên

cơ sở đó đánh giá những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân, đề xuất những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng để vận dụng vào xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn cách mạng hiện nay

Các luận văn đều khẳng định phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc là vấn đề mấu chốt để tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân Mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân được các luận văn đề cập ở mức độ khác nhau, tập trung nhấn mạnh: Đảng phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc và giai cấp, kết hợp hài hòa lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp và lợi ích

cá nhân Thực chất công tác dân vận là tăng cường mối quan hệ giữa Đảng

và nhân dân, công tác dân vận cần hướng vào việc chăm lo đến lợi ích thiết thực và bảo vệ quyền lợi chính đáng của các tầng lớp nhân dân Củng cố, mở

Trang 8

rộng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lấy liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, giữ vững và tăng cường sự đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân.

Nhóm các bài báo đăng tải trên các tạp chí, tiêu biểu là:

TS Đoàn Thế Hanh, Quan hệ giữa Đảng Cộng sản cầm quyền với dân trong

tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 1 (2003) Trần Quang Nhiếp, Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, Tạp chí Cộng sản, số 31 (2003) Các bài viết khẳng định Hồ

Chí Minh đã kế thừa lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong sự nghiệp cách mạng và nâng lên một tầm cao mới Đồng thời trình bày nội dung chủ yếu tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân cùng sự vận dụng của Đảng ta trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hiện nay

PGS, TS Trần Hậu, Những biểu hiện sinh động về chính sách đại đoàn kết dân tộc đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 11 (2007) PGS, TS Đoàn Ngọc Hải, Quán triệt quan điểm của Đảng về xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn mới, Tạp chí

Giáo dục lý luận chính trị quân sự, số 4 (2003) Các bài viết tập trung nhấn mạnh đại đoàn kết dân tộc là đường lối nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày thành lập đến nay, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu trong chiến tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc hiện nay Đại đoàn kết dân tộc thực sự là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng Việt Nam Các bài viết luận giải, phân tích quan điểm của Đảng về xây dựng khối đại đoàn kết

Trang 9

dân tộc trong giai đoạn mới Trên cơ sở phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc để không ngừng củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân.

Dương Quốc Dũng, Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh vững chắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, số 63 (2000) Nguyễn Quang

Du, Tăng cường khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong thời kỳ mới, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị, số 2

(2002) Các bài viết khẳng định khối đại đoàn kết toàn dân dựa trên nền tảng vững chắc của liên minh công - nông - trí thức do Đảng lãnh đạo vừa đảm bảo được tính định hướng chính trị, đoàn kết trên lập trường cách mạng của giai cấp công nhân, vừa quy tụ, phát huy tiềm năng cách mạng của các lực lượng

xã hội đông đảo có lợi ích căn bản thống nhất với nhau là động lực thúc đẩy khối đại đoàn kết toàn dân tộc phát huy sức mạnh tổng hợp to lớn của toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Những công trình trên đã đề cập ở các khía cạnh khác nhau về mối quan

hệ giữa Đảng và nhân dân Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong thời kỳ đổi mới từ năm

1986 đến năm 1996 dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng Song những công trình khoa học nêu trên là nguồn tài liệu quý để tác giả tham khảo, kế thừa trong quá trình thực hiện luận văn của mình

3- Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích: Làm sáng tỏ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng tăng

cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân từ năm 1986 đến năm 1996, rút ra một số kinh nghiệm vận dụng nhằm tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong giai đoạn cách mạng hiện nay

Trang 10

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Phân tích, làm rõ Đảng lãnh đạo tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong sự nghiệp đổi mới là tất yếu khách quan

Phân tích, trình bày có hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong 10 năm đầu đổi mới

Đánh giá những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân, rút ra một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân từ năm 1986 đến năm 1996 vận dụng tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong giai đoạn hiện nay

4- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo tăng cường

mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong 10 năm đầu đổi mới (1986- 1996)

* Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung: Nghiên cứu làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân

- Về thời gian: Đề tài giới hạn nghiên cứu từ năm 1986 đến năm 1996

- Về không gian: Trên phạm vi cả nước

5- Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ

nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng

về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân

* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử,

phương pháp lôgíc và sự kết hợp hai phương pháp này, đồng thời còn sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh trong từng nội dung cụ thể

6- Ý nghĩa của luận văn

Trang 11

Thành công của luận văn góp phần làm sáng tỏ tính đúng đắn, sáng tạo của Đảng trong quá trình lãnh đạo tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân từ năm 1986 đến năm 1996.

Những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong 10 năm đầu đổi mới sẽ góp phần tăng cường hơn nữa mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong giai đoạn cách mạng hiện nay

Luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ở các nhà trường trong và ngoài quân đội

7- Kết cấu của luận văn

Luận văn được kết cấu gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo

Chương 1 YÊU CẦU KHÁCH QUAN VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG

VỀ TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN

TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1996 1.1 Yêu cầu khách quan về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân

1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

về mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng nhân dân

* Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng nhân dân

Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, nhân dân đóng vai trò quyết định thắng lợi của mọi cuộc cách mạng xã hội Trong khi luận giải tính tất yếu khách quan sự ra đời của Đảng Cộng sản, chủ nghĩa Mác - Lênin đồng thời làm

rõ mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản với giai cấp công nhân và nhân dân lao động

Trang 12

C Mác và Ph Ăngghen cho rằng Đảng Cộng sản là đảng của giai cấp công nhân, Đảng luôn đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân và mọi chủ trương, chính sách, chiến lược của Đảng đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp công nhân Nhưng Đảng không chỉ đại biểu cho quyền lợi giai cấp công nhân mà còn đại biểu cho quyền lợi của toàn thể nhân dân lao động bởi vì giai cấp công nhân chỉ có thể tự giải phóng được mình nếu đồng thời giải phóng cho các tầng lớp nhân dân lao động khác trong xã hội thoát khỏi áp bức bóc lột Quần chúng nhân dân có vai trò to lớn trong lịch sử, song quần chúng nhân dân phải được tổ chức chặt chẽ, đặt dưới sự lãnh đạo của chính đảng của giai cấp công nhân mới phát huy được sức mạnh của mình Liên hệ chặt chẽ giữa Đảng

và quần chúng nhân dân là nguồn sức mạnh to lớn của Đảng, là quy luật tồn tại của các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế Trong sự nghiệp đấu tranh chống giai cấp tư sản, giải phóng giai cấp và nhân loại, xây dựng xã hội mới, Đảng Cộng sản phải liên hệ chặt chẽ với quần chúng nhân dân, coi đó là điều kiện cơ bản bảo đảm thắng lợi của cách mạng vô sản C.Mác và Ph Ăngghen đòi hỏi Đảng Cộng sản, đội tiên phong cách mạng của giai cấp công nhân phải được vũ trang bằng lý luận tiên tiến, có trình độ giác ngộ cao, đồng thời trong thực tiễn, Đảng là người kiên quyết nhất và biết lôi cuốn quần chúng hành động

V.I.Lênin đã kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph Ăngghen về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong thời kỳ CNTB phát triển thành chủ nghĩa đế quốc V.I.Lênin nhấn mạnh cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, Đảng là tổ chức tự nguyện đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng quần chúng khỏi ách áp bức và bóc lột Quần chúng cần có Đảng với tư cách là người lãnh đạo họ trong cuộc đấu tranh ấy Nếu không có sự đồng tình và ủng hộ của quần chúng thì mọi đường lối, chủ trương của Đảng

Trang 13

không thể trở thành hiện thực V.I.Lênin coi sự đồng tình và ủng hộ của các tầng lớp nhân dân là điều kiện và mục tiêu hoạt động của giai cấp vô sản:

Không có sự đồng tình và ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiên phong của mình, tức là đối với giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản để giành lấy sự đồng tình, để giành lấy sự ủng hộ của đa

số nhân dân lao động[29, tr.251]

Theo V.I.Lênin, sau khi giành được chính quyền, để bảo đảm cho cuộc cách mạng vô sản đi đến thắng lợi hoàn toàn, Đảng Cộng sản với tư cách

là người lãnh đạo không được tách khỏi quần chúng mà vẫn phải:

Liên hệ với quần chúng

Sống trong lòng quần chúng

Biết tâm trạng quần chúng

Biết tất cả

Hiểu quần chúng

Biết đến với quần chúng

Giành được lòng tin tuyệt đối của quần chúng

Những người lãnh đạo không được tách khỏi quần chúng bị lãnh đạo, đội tiên phong không được tách rời khỏi toàn bộ đội quân lao động [30, tr 608]

Sự nghiệp xây dựng CNXH và CNCS là hoàn toàn mới mẻ và vô cùng khó khăn, sự nghiệp đó chỉ có thể thành công nếu Đảng tổ chức và phát huy được tính sáng tạo của quần chúng V.I.Lênin chỉ ra rằng những người cộng sản chỉ như những giọt nước trong đại dương nhân dân mênh mông và chỉ riêng bàn tay những người cộng sản thì không thể xây dựng thành công CNXH CNXH sinh động, sáng tạo là sự nghiệp của bản thân quần chúng nhân dân, cần phải phê phán những biểu hiện chuyên quyền, độc đoán làm ảnh hưởng tới những giá trị chân chính của CNXH, làm suy giảm mối quan

Trang 14

hệ giữa Đảng và nhân dân V.I.Lênin đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng mối liên hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng Cộng sản với quần chúng nhân dân Theo Người, trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào Đảng Cộng sản cũng phải luôn chăm lo xây dựng, củng cố mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng, đó là một nguyên tắc đối với việc xây dựng một chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là mối quan hệ biện chứng, tin cậy, tín nhiệm lẫn nhau V.I.Lênin chỉ rõ:

Đội tiên phong chỉ làm tròn sứ mệnh của nó khi nó biết gắn bó với quần chúng mà nó lãnh đạo và thực sự dẫn dắt tập thể quần chúng tiến lên Nếu không liên minh với những người không phải là đảng viên cộng sản trong các lĩnh vực hoạt động hết sức khác nhau thì không thể nói tới một thành công nào trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản cả [32, tr.28]

V.I.Lênin nhiều lần chỉ ra nguy cơ xa rời quần chúng đối với một đảng cầm quyền: đối với Đảng Cộng sản thì một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng

sợ nhất là tự cắt đứt liên hệ với quần chúng, đó là một tai họa thực sự Đảng Cộng sản liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân, một trong những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng chính đảng của giai cấp công nhân Mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản với quần chúng nhân dân là mối quan hệ bản chất quyết định đến toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng, ảnh hưởng tới sự thành bại của cách mạng, sự mất còn của chế độ, vận mệnh của Đảng và dân tộc Vận dụng sáng tạo và phát triển nguyên lý này là yêu cầu khách quan đối với các Đảng Cộng sản, đòi hỏi các Đảng Cộng sản phải thể hiện bản lĩnh chính trị, năng lực trí tuệ và sự sáng tạo trong việc phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân tham gia xây dựng CNXH, qua đó xây dựng Đảng vững mạnh về mọi mặt

* Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân

Ngay từ đầu và trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đặt biệt đến quần chúng nhân dân lao động, bản thân

Trang 15

Người là tấm gương và biểu tượng cao đẹp của mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc

và tinh hoa văn hoá nhân loại, nhận thức và vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng trong lịch

sử, về mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản và quần chúng nhân dân vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và có những bước phát triển nâng lên một tầm cao mới Người chỉ rõ: sự gắn bó giữa Đảng và nhân dân có cơ sở sâu xa ở sự thống nhất về những lợi ích cơ bản Mục tiêu, lý tưởng của Đảng là phụng sự lợi ích của giai cấp, của dân tộc, nhân dân chính là cội nguồn sức mạnh của Đảng, là nguồn gốc tạo nên thắng lợi của cách mạng Tăng cường mối quan

hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân là vấn đề thuộc về bản chất cách mạng của Đảng, là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy cách mạng phát triển tiến lên Sức mạnh của Đảng do nơi dân mà có, dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết: trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân Sức mạnh đó thể hiện

ở quyền lực chính trị của Đảng, quyền lực đó chính là do nhân dân ủy thác cho Đảng Người đưa ra luận điểm quan trọng: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng chứ không phải là của cá nhân anh hùng nào, tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, việc nước là việc chung của mỗi người con Rồng cháu Tiên, nước lấy dân làm gốc, bao nhiêu lợi ích đều

vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân, trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ lợi ích của nhân dân Đây là tư tưởng đặc sắc có tính triết lý sâu xa thể hiện một thế giới quan khoa học, một quan niệm nhân sinh mang tính nhân văn và cách mạng cao cả.Theo Hồ Chí Minh, trong mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, nếu Đảng

là người lãnh đạo thì nhân dân là đối tượng lãnh đạo, chịu sự lãnh đạo và trong mọi thời kỳ cách mạng đều cần có sự lãnh đạo vững vàng của Đảng

Trang 16

Đảng lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo nhân dân là vì nhân dân Vì nhân dân chính là điểm xuất phát và cũng là nội dung và mục tiêu phấn đấu của Đảng

ta Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định rằng Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, rằng Đảng chỉ mưu giải phóng cho dân nên mọi việc đều vì lợi ích của dân mà làm và chịu trách nhiệm trước dân Đặc biệt là khi Đảng ta đã trở thành đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng phải luôn luôn nhớ rằng mình là “đầy tớ” của nhân dân chứ không phải là “quan” của dân Trong

Di chúc lịch sử của Người, một lần nữa Hồ Chí Minh khẳng định:

Đảng ta là một đảng cầm quyền Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô

tư, phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo,

là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân [42, tr 510]

Đây là một luận điểm mới mẻ, sáng tạo của Hồ Chí Minh, một đóng góp quan trọng vào lý luận xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Luận điểm này chỉ rõ cái bản chất nhất trong mối quan hệ giữa đảng cầm quyền với nhân dân: dân là chủ, Đảng là “đầy tớ” nghĩa là Đảng phải trung thành và tận tụy phục vụ nhân dân Trong vai trò của Đảng đối với dân, cái chung của người lãnh đạo và của người đầy tớ là vì dân, phục vụ nhân dân Chính vì vậy

mà Hồ Chí Minh đã đồng nhất vai trò của Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân

Liên hệ với quần chúng, chăm lo củng cố, hoàn thiện mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là mối quan tâm thường xuyên của Hồ Chí Minh Giữ vững và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là một quá trình liên tục, bền bỉ phấn đấu của Đảng, là sự tác động qua lại giữa Đảng và nhân dân Trong mối quan hệ đó, Đảng có trách nhiệm chính, Đảng phải chủ động liên hệ mật thiết với quần chúng, kiên quyết giữ vững liên minh công nông

Trang 17

trong các giai đoạn cách mạng, bảo đảm thực hiện Mặt trận dân tộc thống nhất chặt chẽ và rộng rãi, đoàn kết được tất cả mọi người yêu nước Hồ Chí Minh cho rằng thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân, đã lãnh đạo nhân dân phấn đấu dưới lá cờ tất thắng của chủ nghĩa Mác - Lênin Chính vì vậy, Hồ Chí Minh rút ra kết luận: “Đảng mạnh tức là dân mạnh, dân mạnh thì Đảng mạnh, dân, Đảng mạnh thì chúng ta nhất định thắng lợi” [39, tr 517].

Khi trở thành Đảng cầm quyền, nhiệm vụ của Đảng càng to lớn hơn, toàn diện hơn, tất cả mọi việc, từ đấu tranh thống nhất nước nhà, xây dựng CNXH, đến cả tương, cà, mắm, muối của dân, Đảng đều phải lo Trách nhiệm của Đảng là phải chăm lo củng cố sức mạnh cho dân, quan tâm đến cuộc sống của nhân dân Khi đã giành được chính quyền, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân càng phải được chú ý đặc biệt vì có thể có nhiều căn bệnh dễ nảy sinh làm tổn hại đến mối quan hệ vốn đã gắn bó giữa Đảng với nhân dân trong thời kỳ đấu tranh cách mạng Vì vậy, cán bộ, đảng viên phải lắng nghe

ý kiến của nhân dân, học hỏi nhân dân vì không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân, có biết làm học trò dân mới làm được thầy học dân Để chữa căn bệnh quan liêu và chủ nghĩa cá nhân, theo Người, phải đặt lợi ích nhân dân lên trên hết, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, sẵn sàng học hỏi nhân dân, tự mình phải làm gương mẫu cần, kiệm, liêm, chính để nhân dân noi theo Việc

gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì hại đến dân phải hết sức tránh, chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta Phải nâng cao trình độ dân chúng, giác ngộ dân chúng làm cách mạng Cách mạng muốn thành công phải dựa vào dân, xa rời dân nhất định sẽ thất bại

Trên nền trí tuệ của nhân dân, Đảng ta thực sự trở thành trí tuệ của cả dân tộc Đó chính là kết quả của quá trình không ngừng củng cố và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 18

1.1.2 Thực trạng quá trình Đảng lãnh đạo giải quyết mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân thời kỳ trước đổi mới

Đảng ta ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam luôn vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

về vai trò của quần chúng nhân dân, về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân để

đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc Những thắng lợi mà Đảng và nhân dân ta giành được trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và giải phóng đất nước là kết tinh cao nhất, là biểu hiện sinh động nhất của mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân.Sau khi giành được độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc, Đảng lãnh đạo nhân dân ta bước vào công cuộc xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước Cách mạng nước ta có những nhân tố thuận lợi mới nhưng cũng đang đứng trước nhiều khó khăn gay gắt Từ điểm xuất phát thấp về kinh tế, lại chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh lâu dài, nhân dân ta vừa phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN, vừa làm nghĩa vụ quốc tế Đồng thời, phải đáp ứng cùng một lúc những yêu cầu vừa cơ bản, vừa cấp bách là ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, tích lũy để xây dựng CNXH và củng cố quốc phòng

Qua 10 năm cả nước quá độ lên CNXH, bên cạnh một số thành tựu đạt được trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhìn chung mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân thời kỳ 1976-1985 bộc lộ nhiều hạn chế, thậm chí có lúc, có nơi có biểu hiện lỏng lẻo và rạn nứt, tình trạng mất dân chủ diễn ra ở nhiều nơi, nhiều cấp, đặc biệt ở cấp cơ sở, quyền làm chủ của nhân dân bị vi phạm, cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ chưa được thực hiện có nền nếp với quy chế đồng bộ, thống nhất Niềm tin của nhân dân đối với

sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành, quản lý của Nhà nước bị giảm sút nghiêm

Trang 19

trọng Thực trạng suy giảm của mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân do nhiều nguyên nhân, nhưng nổi lên là các nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Một là, những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách

lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện của Đảng

Sau khi đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng CNXH nhưng Đảng vẫn thực hiện phương thức lãnh đạo mang nặng tính chất hành chính, quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, có biểu hiện bao biện, làm thay Nhà nước Bộ máy quản lý Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở còn cồng kềnh, kém hiệu lực Khi đề ra chủ trương, chính sách kinh tế còn mang nặng yếu tố chủ quan, duy ý chí, suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, không tuân thủ các quy luật kinh tế khách quan, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng làm cho tình hình kinh tế -

xã hội đất nước không được cải thiện Mọi động lực về lợi ích của người lao động bị triệt tiêu, năng suất lao động giảm, quyền làm chủ của người lao động trở thành hình thức, không có trên thực tế Xó hội bắt đầu có xu hướng tự phát, lộn xộn, vô tổ chức, thiếu kỷ cương, quản lý xó hội, quản lý kinh tế bị buụng lỏng, trong chỉ đạo chưa coi trọng việc phân tích dư luận quần chúng, những hiện tượng gia trưởng, độc đoán, thành kiến với quần chúng tốt không được phê phán kịp thời Tiếp theo là những sai lầm trong chỉ đạo cải cỏch giỏ - lương - tiền năm 1985 đó thực sự đẩy đất nước rơi vào tỡnh trạng khủng hoảng kinh tế - xó hội, đời sống của nhân dân lao động gặp rất nhiều khó khăn, nhân dân thiếu tin tưởng vào khả năng lónh đạo kinh tế, xây dựng đất nước sau chiến tranh của Đảng

Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện bảo đảm sự lónh đạo đúng đắn của Đảng đũi hỏi Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, đáp ứng kịp thời nguyện vọng và lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân

Trang 20

Hai là, tỡnh trạng quan liờu húa, xa dõn và sự giảm sỳt vai trũ lónh đạo của

các cấp ủy đảng và tổ chức đảng

Sau khi trở thành đảng cầm quyền lónh đạo nhân dân xây dựng CNXH trên

cả nước, do yêu cầu quản lý và xõy dựng đất nước Đảng phải có phương thức lónh đạo mới nhưng Đảng vẫn giữ nguyên phương thức lónh đạo mang tính hành chính, mệnh lệnh, bao biện, làm thay Nhà nước nên bộ máy của Đảng trở nên cồng kềnh, tạo nờn nhiều tầng nấc trung gian và chồng chéo với bộ máy của Nhà nước Điều đó dẫn đến sự cách trở giữa cơ quan lónh đạo của Đảng với dân, làm cho Nhà nước vừa mất chức năng quản lý, vừa ỷ lại, quan liờu húa, xa dõn dẫn đến Đảng ngày càng xa dân

Trong lĩnh vực kinh tế, sự lónh đạo theo kế hoạch hóa tập trung chạy theo chỉ tiêu pháp lệnh đó định sẵn không xuất phát từ điều kiện, khả năng thực tế, không quan tâm tới người lao động đó làm nảy sinh thỏi độ thờ ơ của người lao động với các chủ trương kinh tế của Đảng và Nhà nước, từ đó tạo nên một khoảng cách lớn giữa ý Đảng và lũng dõn Kết quả là Đảng không hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, cũn nhõn dõn thỡ khụng thiết tha, gắn bú, thiếu tin tưởng vào

sự lónh đạo của Đảng Điều đó tất yếu dẫn đến những chủ trương, chính sách xa thực tế, không hợp lũng dõn, khụng được sự đồng tỡnh, ủng hộ của nhõn dõn

Không chỉ riêng cơ quan lónh đạo của Đảng xa dân mà ngay tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị ở cơ sở cũng xa cách nhân dân Nội dung, phương thức lónh đạo không được đổi mới dẫn đến vai trũ cỏc tổ chức đảng không được phát huy, sức chiến đấu giảm sút, tổ chức đảng không trở thành cầu nối giữa Đảng với nhân dân Thêm vào đó, khuynh hướng phổ biến coi nhẹ vai trũ và trỏch nhiệm của tổ chức đảng so với các cơ quan Nhà nước và các tổ chức kinh tế đó đặt tổ chức đảng vào vị thế thứ yếu trong đời sống kinh tế

- xó hội Ngoài ra, tỡnh trạng chậm thể chế húa cỏc văn bản hướng dẫn và nội dung cụng tỏc lónh đạo đó gõy ra khụng ớt khú khăn, lúng túng cho công tác vận động quần chúng của Đảng Sự hạn chế về năng lực, trỡnh độ và vai trũ của bớ

Trang 21

thư và cấp ủy cũng góp phần làm giảm sự gắn bó giữa Đảng và dân Một số tổ chức đảng chưa phát huy được vai trũ lónh đạo, sinh hoạt mang tính hỡnh thức, thiếu khả năng thu hút những quần chúng ưu tú vào Đảng Vỡ sự cỏch biệt trong cỏc thế hệ đảng viên, sự “lóo húa” trong Đảng làm hạn chế khả năng Đảng thâm nhập sõu vào cỏc tầng lớp nhõn dõn, các lĩnh vực của đời sống xó hội và cỏc ngành mũi nhọn khỏc đũi hỏi cú trỡnh độ văn húa, chuyờn mụn nghiệp vụ cao.

Để giữ vững vai trũ lónh đạo, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong thời kỳ mới, Đảng phải khắc phục được tỡnh trạng quan liờu húa, xa dõn và nõng cao vai trũ, sức chiến đấu của các cấp ủy và tổ chức đảng

Ba là, một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, cuộc đấu tranh

chống quan liêu, tham nhũng và các tệ nạn xó hội chưa đạt hiệu quả cao làm giảm uy tín của Đảng, giảm lũng tin của nhõn dõn vào Đảng

Đảng liên hệ với quần chúng nhân dân không chỉ bằng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng mà cũn thụng qua tổ chức cơ sở đảng, trực tiếp là đội ngũ cán bộ, đảng viên Sau khi có đường lối, đội ngũ cán bộ, đảng viên là người trực tiếp đưa đường lối của Đảng vào quần chúng, quan hệ giữa Đảng và nhân dân được thiết lập thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên Do vậy, năng lực

tổ chức, sức chiến đấu, uy tín của Đảng phụ thuộc rất nhiều vào phẩm chất, năng lực, khả năng tập hợp, vận động quần chúng của cán bộ, đảng viên Trong giai đoạn mới của cách mạng, số cán bộ, đảng viên thực sự tiền phong, gương mẫu,

có phẩm chất đạo đức và năng lực chiếm tỉ lệ chưa cao Trong khi đó, số đảng viên trung bỡnh chủ nghĩa và yếu kộm cũn nhiều Điều đáng lo ngại là trong Đảng có một bộ phận giảm sút lý tưởng và phẩm chất cách mạng Một số khác thoái hóa, biến chất, giảm sút ý chí chiến đấu, thiếu tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật, bảo thủ, trỡ trệ, chia rẽ, bố phỏi, xa rời quần chỳng Một số đảng viên lợi dụng chức quyền tham nhũng tài sản của Nhà nước, tập thể, công thần, địa vị, hống hách, trù dập, ức hiếp nhân dân Tệ hối lộ, đầu cơ, buôn lậu, tỡm kiếm và lợi dụng những kẽ hở trong chủ trương, chính sách của Đảng, pháp

Trang 22

luật của Nhà nước để làm giàu bất chính đang diễn ra khá phổ biến nhưng chưa được xử lý kịp thời Mười năm sau khi cả nước thống nhất, quỏ độ lờn CNXH (1976 - 1986) trờn 19 vạn đảng viờn khụng đủ tư cỏch đó bị đưa ra khỏi Đảng.

Sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên không những làm hỏng đội ngũ đảng viên mà qua đó cũn làm suy yếu bộ máy Đảng, bộ máy Nhà nước, làm rối loạn trật tự kỷ cương, đạo đức xó hội gõy tỏc hại đến uy tín, thanh danh của Đảng, cản trở việc tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, làm mất lũng tin của nhõn dõn vào Đảng, nghiêm trọng hơn là tạo cơ hội để các thế lực thù địch xuyên tạc, phá hoại, chia rẽ dẫn đến phá vỡ mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân

Việc nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và xây dựng Đảng ngang tầm đũi hỏi thời kỳ mới là nhiệm vụ then chốt, cú

ý nghĩa quyết định tới thắng lợi của sự nghiệp đổi mới sau này

Bốn là, công tác quần chúng của Đảng cũn nhiều yếu kộm, tỡnh hỡnh mất

đoàn kết trong nội bộ Đảng cũn diễn ra ở nhiều nơi

Trong thời gian qua, công tác quần chúng của Đảng đó được nhiều nơi chú

ý hơn, gắn công tác xây dựng Đảng với củng cố Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, phân công đảng viên làm công tác quần chúng Tuy nhiên, công tác quần chúng của Đảng cũn bộc lộ nhiều yếu kộm thể hiện rừ nhất là nhiều cấp ủy cũn lỳng tỳng trong chỉ đạo công tác vận động quần chúng Nhiều tổ chức quần chúng của Đảng trước đây làm tốt công tác vận động quần chúng như đoàn thanh niên, hội phụ nữ thỡ nay đang tỏ ra bất cập về khả năng thu hút đoàn viên, hội viờn của mỡnh do cỏc tổ chức đó không thỏa món được nguyện vọng

và đáp ứng nhu cầu, lợi ích chính đáng của nhân dân Đáng lo ngại là những địa bàn tập trung đông dân cư như làng, xó, phường cỏc tổ chức đoàn thanh niên, hội phụ nữ trở thành hỡnh thức, thiếu nội dung để hoạt động Nhiều đảng viên chưa gương mẫu trong việc chấp hành các chủ trương, chính sách, các quy định của Nhà nước và địa phương Do vậy, đảng viên ở các phường, xó tuy có số

Trang 23

lượng đông, chiếm tỉ lệ cao trong dân cư nhưng ít tác dụng, chưa trở thành tấm gương sáng cho nhân dân học tập, noi theo.

Đoàn kết thống nhất đó trở thành một truyền thống cực kỡ quý bỏu của Đảng

và nhân dân ta nhưng từ khi cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn mới một số đơn vị, địa phương đó xảy ra mất đoàn kết nghiêm trọng kéo dài Sự mất đoàn kết những năm qua trong nội bộ Đảng phần lớn do chủ nghĩa cá nhân, tham vọng về quyền lực, tranh công đổ lỗi, cục bộ địa phương, gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ, xem thường tập thể đó gõy nờn những hậu quả rất nặng nề làm giảm lũng tin của nhõn dõn đối với Đảng Ở những nơi mất đoàn kết, đảng viên

tư tưởng phân tán, bè phái, không tập trung thực hiện nghị quyết của Đảng, không quan tâm chăm lo đời sống nhân dân làm nhân dân mất chỗ dựa, mất lũng tin, từ đó dẫn đến sự rạn nứt nghiêm trọng mối quan hệ giữa Đảng và nhõn dõn

Từ thực trạng mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân thời kỳ 1976 - 1985,

để khắc phục những hạn chế, thiếu sót trên đòi hỏi Đảng ta phải đề ra chủ trương, giải pháp đúng đắn, chỉ đạo kịp thời để giải quyết và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong thời kỳ mới

1.1.3 Yêu cầu mới về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong thời kỳ đổi mới

Mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân có cơ sở khách quan quy định từ nền tảng cốt lừi của nú, đó là sự thống nhất giữa mục tiêu và lợi ích

Đảng Cộng sản Việt Nam là người đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Mục tiêu của Đảng và của dân tộc, nhân dân ta thống nhất với nhau, đó là độc lập dân tộc và CNXH Chỉ có độc lập dõn tộc thỡ mới cú điều kiện để có tự do, hạnh phúc nên nhân dân ta kiên trỡ cuộc đấu tranh chống đế quốc, tay sai không quản hy sinh gian khổ, nhưng chỉ đến khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lónh đạo thỡ khỏt vọng độc lập dân tộc và CNXH mới trở thành hiện thực Có độc lập dân tộc nhưng

Trang 24

không đi lên CNXH thỡ nền độc lập đó không được bền vững vỡ chỉ đi lên CNXH thỡ mới xoỏ bỏ được chế độ áp bức bóc lột, mới có điều kiện đem lại

ấm no, tự do, hạnh phúc thực sự cho nhân dân Đảng Cộng sản Việt Nam là

bộ phận ưu tú của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam Sự ra đời, tồn tại và phát triển của Đảng là nhu cầu khách quan vỡ sự nghiệp giải phúng dõn tộc, vỡ hạnh phỳc của nhõn dõn, ngoài lợi ớch của Tổ quốc, của nhõn dõn, của dõn tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác Trong những bước ngoặt của lịch sử, Đảng ta luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, trách nhiệm to lớn trước nhõn dõn và vận mệnh của dân tộc Mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân là nền tảng vững chắc không gỡ phỏ vỡ được tạo nên sức mạnh vô địch đưa sự nghiệp cỏch mạng đến thắng lợi Chớnh vỡ cú sự thống nhất đó

mà nhân dân ta đó tin tưởng vào sự lónh đạo của Đảng, một lũng một dạ chiến đấu, hy sinh vỡ độc lập tự do dưới lá cờ vẻ vang của Đảng Cũn Đảng coi nhân dân là chỗ dựa vững chắc, là nguồn trí tuệ và sức sáng tạo vô tận cho mỡnh

Nhân dân là lực lượng cơ bản có sức mạnh to lớn để đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vào thực tiễn cuộc sống, những sáng kiến, nguyện vọng của nhân dân là cơ sở, nguồn gốc, là những gợi ý để Đảng xây dựng, hoàn thiện và điều chỉnh chủ trương, chính sỏch cho phự hợp với thực tiễn vỡ lợi ớch của nhõn dõn Khi những sỏng kiến, nguyện vọng chính đáng của nhân dân được Đảng nâng lên thành đường lối, chính sách thỡ chớnh nhõn dõn lại là lực lượng thực hiện đưa đường lối vào thực tiễn cuộc sống và tỡm ra biện phỏp thực hiện đạt hiệu quả cao nhất Thông qua việc thực hiện đường lối, chính sách đó, nhân dân lại có điều kiện cung cấp những ý tưởng,

dữ kiện mới nảy sinh từ thực tiễn để Đảng hoàn thiện đường lối, chính sách của mỡnh Chớnh những sỏng kiến, nguyện vọng của nhõn dõn là nguồn gốc hỡnh thành đường lối đổi mới của Đảng

Trang 25

Mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân là mối quan hệ biện chứng có sự quy định, ràng buộc, tác động qua lại lẫn nhau trong đó Đảng là chủ thể lónh đạo, nhân dân là đối tượng lónh đạo Đó là mối quan hệ hai chiều: một mặt, Đảng đề ra đường lối, chủ trương và vận động, hướng dẫn nhân dân thực hiện, qua đó Đảng xác định vai trũ lónh đạo xó hội; mặt khỏc, trong quỏ trỡnh

tổ chức nhõn dõn thực hiện đường lối thỡ Đảng được bổ sung lực lượng từ các nhân tố tiên tiến của quần chúng, Đảng tiếp thu trí tuệ của nhân dân để định ra đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp, đồng thời dựa vào sự kiểm tra, giám sát của nhân dân mà Đảng giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên, qua đó xây dựng Đảng vững mạnh về mọi mặt Ở đây, giữa chủ thể lónh đạo

và đối tượng lónh đạo có sự thống nhất về mục tiờu và lợi ớch, là sự gặp gỡ của ý Đảng và lũng dõn Đảng lónh đạo, Nhà nước quản lý, nhõn dõn làm chủ

là vấn đề có tính nguyên tắc trong cơ chế lónh đạo của Đảng đối với toàn xó hội

Sự nghiệp đổi mới ở nước ta vỡ mục tiờu độc lập dân tộc và CNXH là quỏ trỡnh nhằm cải biến một xó hội nụng nghiệp lạc hậu thành một xó hội cụng nghiệp, cú quan hệ sản xuất tiến bộ phự hợp với trỡnh độ phát triển của lực lượng sản xuất thể hiện đầy đủ bản chất ưu việt của chế độ XHCN Đổi mới ở nước ta là bước đi tất yếu để nhanh chóng đưa đất nước thoát ra khỏi tỡnh trạng khủng hoảng kinh tế - xó hội kộo dài, thỳc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng hội nhập với khu vực và thế giới Mỗi bước tiến của quá trỡnh đổi mới phải đồng thời tạo nên cơ sở vật, chất kỹ thuật và những tiền đề kinh tế - xó hội cho việc phỏt triển lực lượng sản xuất, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất theo định hướng XHCN, phát huy tối đa tiềm năng, sức mạnh và quyền làm chủ của nhân dân dưới sự lónh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước để đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân

Trang 26

Đảng và nhân dân ta tiến hành sự nghiệp đổi mới trong xu thế toàn cầu hóa về kinh tế đang diễn ra rất mạnh mẽ và sự tác động to lớn của cuộc cách mạng KHCN thỳc đẩy sự nhảy vọt về chất của lực lượng sản xuất lôi cuốn ngày càng nhiều quốc gia tham gia Theo chiến lược kinh tế mở, một mặt Đảng và Nhà nước cần làm cho nhân dân hiểu rừ chủ trương khuyến khích phát triển các hoạt động kinh tế đối ngoại, mở rộng liên doanh, liên kết và hợp tác kinh tế nhằm khai thác, phát huy lợi thế của đất nước, của các thành phần kinh tế, thu hút có hiệu quả các nguồn lực bên trong và bên ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN Mặt khác, cần thiết làm cho mọi người dân thấy được quá trỡnh toàn cầu húa kinh tế đang chịu sự chi phối của các nước

tư bản phát triển vỡ cỏc nước này đang nắm giữ vị trí hàng đầu về sức mạnh kinh tế, KHCN và các thiết chế tài chính, tiền tệ, thương mại quốc tế Tính hai mặt của toàn cầu hóa thể hiện nó vừa đem lại thuận lợi, thời cơ mới song cũng chứa đựng nhiều mâu thuẫn làm sâu sắc thêm sự phân hóa giàu nghèo giữa các nước, làm tăng thêm nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế đối với các nước nghèo, cạnh tranh sẽ gay gắt hơn, các nước chậm phát triển trong đó có nước

ta dễ bị thua thiệt và gặp rủi ro kéo theo tác động xấu đến môi trường xó hội

và an ninh Vỡ vậy, Đảng cần làm tốt công tác tuyên truyền làm cho toàn dân hiểu rừ tầm quan trọng cú ý nghĩa quyết định của việc học tập bởi vỡ nếu khụng học tập thỡ khụng có tri thức, không theo kịp sự thay đổi rất nhanh chóng của tiến bộ KHCN, không đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới Đồng thời, Đảng phải lónh đạo hoạch định chiến lược chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng,

đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu hội nhập, phát huy ý chớ tự cường

và trí thông minh, sáng tạo của các tầng lớp nhân dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới

Quỏ trỡnh đổi mới ở nước ta tiến hành cùng với quá trỡnh chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung theo cơ chế hành chính, quan liêu, bao cấp

Trang 27

sang phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường,

có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Đây là sự chuyển đổi căn bản và mới mẻ nhất Cơ chế thị trường có mặt tích cực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển với tính năng động cao, lấy năng suất, chất lượng, hiệu quả làm tiêu chí hàng đầu, gắn lợi ích mọi người với cộng đồng, phù hợp với trỡnh độ phát triển kinh tế trong nước và xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới Song cơ chế thị trường có những mặt tiêu cực là đẩy nhanh sự phân hóa giàu nghèo, kích thích chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng ảnh hưởng lớn đến những giá trị truyền thống về đạo đức và lối sống Do vậy, các tổ chức của Đảng phải được đổi mới mạnh mẽ cả về nội dung và phương thức lónh đạo đối với Nhà nước, các tổ chức chính trị - xó hội và cỏc đoàn thể nhân dân trong hệ thống chính trị để Đảng vừa giữ được vai trũ lónh đạo xó hội, vừa bảo đảm cơ chế dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Đảng thông qua Nhà nước quản lý, điều hành nền kinh tế phát triển đúng định hướng XHCN, hạn chế những mặt trái của cơ chế thị trường, bảo đảm sự bỡnh đẳng cho mọi thành phần kinh tế trước pháp luật, khắc phục có hiệu quả bệnh quan liêu, tham nhũng và cỏc tệ nạn xó hội khỏc đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, qua đó thu hút, tập hợp các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Quỏ trỡnh đổi mới ở nước ta diễn ra trong điều kiện phần lớn dân cư sống ở nông thôn và làm nông nghiệp, bỡnh quõn ruộng đất thấp, dân số đông nên thu nhập thấp, khả năng tích lũy và sức mua của nông dân đều rất hạn hẹp Do đó, Đảng phải tập trung lónh đạo và chỉ đạo thực hiện tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân, khơi dậy sức mạnh tiềm tàng của nông dân, lấy nông nghiệp làm khâu đột phá, xây dựng quyết tâm thoát khỏi đói nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng của hàng chục triệu nông dân bằng việc cùng nhau khai thác, sử dụng có hiệu quả quỹ đất đai, thực hiện tiết kiệm triệt để, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo hướng hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Trang 28

Tăng cường công tác quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực

ở nông thôn như cấp phát vốn, ngân sách, xây dựng cơ bản, quản lý đất đai Việc xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trỡnh phỳc lợi phục vụ sản xuất và đời sống không huy động quá sức dân, phải bảo đảm dân chủ, công khai, công bằng Đảng và Nhà nước phải chỉ đạo kịp thời giải quyết nhanh chóng các khiếu kiện của nhân dân không để tỡnh hỡnh phỏt triển xấu để các phần tử bất món, cơ hội lợi dụng lôi kéo, kích động nhân dân gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xó hội ở nụng thụn Phải đáp ứng những lợi ích chính đáng của nông dân, quan tâm giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân nói chung và nông dân nói riêng góp phần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân

Trong quỏ trỡnh đổi mới, Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xó hội bằng phỏp luật, đưa đất nước phỏt triển theo định hướng XHCN trờn cơ sở

mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dõn Quỏ trỡnh dõn chủ húa, xõy dựng Nhà nước XHCN ở nước ta là để xỏc lập quyền dõn chủ và khẳng định trờn thực tế quyền lực thuộc về nhõn dõn nhằm khắc phục tệ quan liờu

và dõn chủ hỡnh thức để xõy dựng những giỏ trị dõn chủ XHCN thật sự trong đời sống xó hội Qua đú nhằm phỏt huy, động viờn tớnh tớch cực, sự sỏng tạo của nhõn dõn, xõy dựng và hoàn thiện cỏc quan hệ xó hội của nhõn dõn trờn

cơ sở những chuẩn mực đạo đức và phỏp chế XHCN tạo ra điều kiện thuận lợi để con người phỏt triển toàn diện, thực sự làm chủ xó hội Muốn làm được điều đú, một mặt vừa phải mở rộng dõn chủ, mặt khỏc phải xõy dựng Nhà nước XHCN thực sự mang bản chất của giai cấp cụng nhõn Cú như vậy mới tạo ra sự thống nhất giữa sự lónh đạo của Đảng, phỏt huy vai trũ quản lý, điều hành của Nhà nước và quyền làm chủ của nhõn dõn

Trong tiến trỡnh đổi mới, sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường là một thực tế khỏch quan, điều đú cũng cú nghĩa

Trang 29

là thừa nhận sự tồn tại tất yếu những nhu cầu, lợi ớch của cỏc thành phần kinh

tế và cỏc giai tầng xó hội khỏc nhau Thực trạng đú đũi hỏi Đảng và Nhà nước phải cú đường lối, chủ trương đỳng đắn để bảo vệ lợi ớch thiết thực của

cả cộng đồng và cỏ nhõn nhằm khuyến khớch và động viờn mọi tầng lớp, mọi

cỏ nhõn tham gia vào sự nghiệp đổi mới của Đảng Việc giải quyết quan hệ lợi ớch phải đi đụi với tăng cường dõn chủ, thực hiện cụng bằng xó hội, làm tốt chớnh sỏch xó hội và hoàn thiện hệ thống phỏp luật, tụn trọng và thực hiện phỏp luật Cú như vậy, những mặt tiờu cực của kinh tế thị trường mới được hạn chế, những truyền thống tốt đẹp của dõn tộc, của cỏch mạng và mối quan

hệ giữa Đảng với nhõn dõn mới được phỏt huy Trong điều kiện hiện nay, việc phỏt huy nhõn tố con người trờn cơ sở bảo đảm cụng bằng, bỡnh đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ phải đỏp ứng nhu cầu trước mắt và lợi ớch lõu dài giữa

cỏ nhõn và cộng đồng là điều kiện giải quyết tốt nhất vấn đề lợi ớch, là cơ sở

để bảo đảm sự gắn bú giữa Đảng và nhõn dõn làm nền tảng cho việc mở rộng

và phỏt triển khối đại đoàn kết toàn dõn

Cuối thập niờn 80, cỏc nước XHCN ở Đụng Âu và Liờn Xụ rơi vào khủng hoảng kinh tế - xó hội nghiờm trọng và đứng trước những thử thỏch to lớn đe dọa vận mệnh của chế độ XHCN Nhõn cơ hội đú, cỏc thế lực thự địch với CNXH ra sức lợi dụng để tiến cụng, chống phỏ CNXH bằng rất nhiều thủ đoạn khỏc nhau để thực hiện “chiến thắng khụng cần chiến tranh” mà Việt Nam là một trọng điểm Với chiến lược “diễn biến hũa bỡnh”, cỏc thế lực thự địch ra sức lụi kộo đội ngũ trớ thức và cỏc nhà khoa học để phõn húa nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam gõy mất ổn định xó hội, thỳc đẩy quỏ trỡnh tư nhõn húa nhằm tạo ra giai cấp tư sản mới để giai cấp này cú thể giữ vai trũ chủ đạo trong xó hội, tham gia vào hoạt động chớnh trị và dần dần chi phối đời sống chớnh trị, tranh thủ những phần tử bất món, cơ hội để phỏt triển cỏc tổ chức đối lập chống lại đường lối, chớnh sỏch của Đảng và Nhà nước Những thủ đoạn trờn nhằm mục đớch làm tan ró chế độ ta từ bờn trong bằng cỏch tỏch

Trang 30

dõn khỏi Đảng, phỏ vỡ mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhõn dõn, cụ lập Đảng đi đến thủ tiờu vai trũ lónh đạo của Đảng trong đời sống chớnh trị, chuyển húa nước ta theo quỹ đạo của CNTB.

Đảng lónh đạo tiến hành sự nghiệp đổi mới trong bối cảnh quốc tế và trong nước cú những thuận lợi, thời cơ mới song cũng chứa đựng những nguy

cơ, thỏch thức lớn đũi hỏi Đảng ta phải được xõy dựng vững mạnh về chớnh trị, tư tưởng và tổ chức, phỏt huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dõn tộc, tranh thủ thời cơ, đẩy lựi nguy cơ, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhõn dõn, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới vỡ mục tiờu dõn giàu, nước mạnh, xó hội cụng bằng, văn minh

1.2 Chủ trương của Đảng về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân từ năm 1986 đến năm 1996

1.2.1 Chủ trương Đại hội VI của Đảng về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân

Với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ

sự thật, Đại hội VI của Đảng (12 - 1986) trên cơ sở kiểm điểm việc thực hiện mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong những năm qua đã rút ra bốn bài học kinh nghiệm lớn mà bài học đầu tiên là: “Trong toàn bộ hoạt động của mình Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động” [8, 29]

Trên tinh thần đổi mới, Đảng ta nhận thức sâu sắc bài học cách mạng là

sự nghiệp của quần chúng bao giờ cũng quan trọng, thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh: ở đâu mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân được tăng cường, nhân dân lao động có ý thức làm chủ và làm chủ thực sự thì ở đấy phong trào cách mạng của quần chúng được phát triển sôi nổi và rộng khắp Bài học lớn rút ra từ những năm qua là trong điều

Trang 31

kiện Đảng cầm quyền phải đặc biệt chăm lo củng cố sự liên hệ giữa Đảng và nhân dân, tiến hành thường xuyên cuộc đấu tranh ngăn ngừa và khắc phục chủ nghĩa quan liêu Mỗi đảng viên cộng sản phải thật sự vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân Mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động, phải khơi dậy được sự đồng tình, hưởng ứng của quần chúng Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, đi ngược lại lợi ích của nhân dân là làm suy yếu sức mạnh của Đảng.

Mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ

đã trở thành cơ chế chung trong quản lý toàn xã hội Để tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong quá trình đổi mới, Đại hội VI chỉ rõ: toàn Đảng, từ các đồng chí lãnh đạo Đảng đến mọi đảng viên phải thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ: Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động chứ không phải mưu cầu lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào Ý thức phục vụ nhân dân phải được thấm nhuần trong hoạt động của cán bộ, đảng viên, nhân viên Nhà nước Quyền làm chủ của nhân dân cần được thể chế hóa bằng pháp luật và tổ chức thực hiện nghiêm túc Dân chủ

đi đôi với kỷ luật, quyền hạn và lợi ích đi đôi với trách nhiệm và nghĩa vụ Các đoàn thể nhân dân phải tích cực đổi mới nội dung và phương thức hoạt động phù hợp với điều kiện mới bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân Kiên quyết xóa bỏ những nhận thức sai lầm coi công tác quần chúng là biện pháp để tổ chức, động viên nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng.Thực hiện đúng phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, những chủ trương, chính sách có quan hệ trực tiếp tới đời sống của nhân dân trên phạm vi cả nước cũng như ở địa phương cơ sở, cấp ủy đảng hoặc chính quyền phải trưng cầu ý kiến nhân dân trước khi quyết định, hoạt động của các đoàn thể quần chúng phải hướng mạnh về cơ sở, thu hút đông đảo quần chúng tham gia Các cấp lãnh đạo

Trang 32

phải quan tâm đầy đủ và có sự nhạy cảm đối với dư luận và nguyện vọng của quần chúng để điều chỉnh, bổ sung các chính sách, nhất là trong các vấn đề quan

hệ tới lợi ích thiết thân của mỗi giai cấp và tầng lớp xã hội Lợi ích của quần chúng đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, trước mắt cần tập trung giải quyết những vấn đề bức thiết phù hợp với các đối tượng, bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất trong toàn xã hội, giữ vững và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân

Đối với các tầng lớp nhân dân, Đảng chủ trương phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, củng cố và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc

và các đoàn thể quần chúng nhất là Công đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội liên hiệp nông dân tập thể Động viên các tầng lớp nhân dân tham gia rộng rãi và thường xuyên vào quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội Tập thể những người lao động có quyền hạn và nghĩa vụ trong việc xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh, bố trí lao động, tuyển lựa cán bộ quản lý, kiểm tra, giám sát các hoạt động của cơ quan quản lý, tạo điều kiện cho các tập thể lao động thực hiện tốt vai trò của người làm chủ trực tiếp ở đơn vị cơ sở Khuyến khích nhân dân phát triển kinh tế gia đình, mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết để cải thiện đời sống

Trên tinh thần đổi mới toàn diện của Đại hội VI, Đảng ta đã đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh cách mạng và nhất là 10 năm cả nước quá độ lên CNXH và rút ra bài học kinh nghiệm “lấy dân làm gốc” Đảng đã đổi mới tư duy, trước hết là tư duy lý luận, nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng, trở về với tư tưởng Hồ Chí Minh cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân Đảng ta không có mục đích nào khác là đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân Trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, nhân dân ta chịu đựng biết bao hy sinh, gian khổ, chiến đấu dũng cảm vì độc lập tự do của

Trang 33

Tổ quốc và CNXH Trong hoàn cảnh Đảng có sai lầm, khuyết điểm, nhân dân vẫn thiết tha mong đợi Đảng khắc phục sai lầm đưa đất nước tiến lên, Đảng ta không thể phụ lòng mong đợi của nhân dân.

Qua thực tiễn xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước, Đảng ta nhận thức được mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động Đường lối chính là cơ sở chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng, là ngọn cờ tập hợp, đoàn kết nhân dân xung quanh Đảng, là cơ sở để định ra các chính sách của Nhà nước Do vậy, một mặt đường lối phải đúng đắn, khoa học, phản ánh được quy luật phát triển khách quan của

xã hội, mặt khác phải phù hợp với lợi ích, nguyện vọng của nhân dân Đảng ta là Đảng cầm quyền, mọi đường lối chiến lược, sách lược của Đảng đề ra đúng đắn

và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân là định hướng quan trọng cho mọi hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta, nhân dân là lực lượng quyết định thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Muốn có đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp nguyện vọng nhân dân thì nội dung những đường lối, chủ trương đó phải bao hàm được quyền lợi của đa số nhân dân lao động Mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ mục tiêu cao nhất là phục vụ lợi ích của nhân dân, thể hiện được ý chí, nguyện vọng chính đáng của nhân dân Trên cơ sở đó mở rộng và phát huy dân chủ, xây dựng thành quy định

cụ thể để nhân dân tham gia thực tế vào công việc quản lý đất nước và xã hội

So với các Đại hội trước, Đại hội VI của Đảng đề cập đến việc củng cố mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, coi việc giải quyết vấn đề lợi ích của quần chúng là động lực thúc đẩy phong trào hành động cách mạng của nhân dân Vì vậy, Đảng đề ra phương hướng thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn: lương thực

- thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu và xác định đó là những điều kiện vật chất quan trọng nhất để ổn định tình hình kinh tế - xã hội và đáp ứng nhu cầu thiết yếu, cải thiện đời sống nhân dân

Trang 34

Đại hội VI của Đảng là bước ngoặt lịch sử quan trọng trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng của Đảng, Đảng đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước phù hợp với thực tiễn nước ta, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân, thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng quyết tâm đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và khẳng định con đường chúng ta đang đi là đúng đắn Đại hội VI đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong quá trình kế thừa và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng về chính trị,

tư tưởng và tổ chức, nâng cao uy tín của Đảng trong quần chúng, tăng cường hơn nữa khối thống nhất trong Đảng và sự gắn bó giữa Đảng với nhân dân bảo đảm cho Đảng vươn lên ngang tầm đòi hỏi của công cuộc đổi mới

1.2.2 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá

VI về đổi mới công tác quần chúng của Đảng và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân

Cuối thập kỷ 80 các nước XHCN lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện và nghiêm trọng nhất từ trước tới nay tác động tiêu cực tới phong trào cách mạng thế giới Các thế lực đế quốc và phản động triệt để khai thác những khó khăn của các nước XHCN để tăng cường can thiệp, phá hoại, thực hiện “diễn biến hòa bình” nhằm mục tiêu xoá bỏ các nước XHCN trên thế giới trong đó có Việt Nam Trong nước, qua 3 năm thực hiện đường lối đổi mới đã thu được những kết quả bước đầu quan trọng chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng là hoàn toàn đúng đắn Tuy nhiên, nước ta chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, trong quá trình đổi mới còn phát sinh những mâu thuẫn mới đòi hỏi Đảng ta phải nhạy bén phát hiện và hết sức tỉnh táo để khắc phục kịp thời Qua cuộc khủng hoảng của các nước XHCN và thực tiễn công cuộc đổi mới ba năm qua, Đảng ta rút

ra được những điều quan trọng: để bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng

Trang 35

nước ta tiếp tục tiến lên, Đảng phải tích cực đổi mới, nâng cao trình độ lãnh đạo và sức chiến đấu, luôn gắn bó chặt chẽ với nhân dân.

Thực hiện đường lối đổi mới của Đại hội VI, Hội nghị lần thứ tám BCHTƯ Đảng khoá VI (3 - 1990) ra Nghị quyết chuyên đề “Về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân” (Nghị quyết Trung ương 8B) Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình, chỉ rõ thực trạng công tác quần chúng của Đảng trong những năm qua, Hội nghị khẳng định quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân đã trở thành nguồn sức mạnh và truyền thống vô cùng quý báu của cách mạng Việt Nam và nêu lên bốn quan điểm chỉ đạo công tác quần chúng của Đảng trong tình hình mới:

Một là, cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân Chúng ta cần

tiếp tục phát huy khả năng to lớn của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân tạo nên sức mạnh của cộng đồng dân tộc, phấn đấu xây dựng nước Việt Nam XHCN giàu mạnh, vì hạnh phúc của nhân dân Nền tảng của khối đoàn kết toàn dân là giai cấp công nhân, nông dân lao động và trí thức XHCN Sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước là nhằm thực hiện và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân Nhân dân coi sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ CNXH, xây dựng Đảng và Nhà nước trong sạch vững mạnh là sự nghiệp của chính mình Mặt khác, nhân dân chủ động xây dựng khối đoàn kết toàn dân vững chắc, đấu tranh với những hiện tượng không lành mạnh trong nội

bộ nhân dân, tích cực thực hiện đường lối của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật và các chủ trương, chính sách của Nhà nước

Hai là, động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hòa các lợi ích, thống nhất quyền lợi với nghĩa vụ công dân Trong xã hội do nhân dân làm chủ, lợi ích cá nhân, lợi ích

tập thể và lợi ích xã hội gắn chặt và thống nhất với nhau, trong đó lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp Công tác vận động và tổ chức nhân dân chỉ có thể

Trang 36

thành công nếu trước hết bảo vệ và đáp ứng được trên thực tế lợi ích thiết thân của người dân, từ đó kết hợp hài hoà các lợi ích, gắn chặt quyền lợi và nghĩa vụ công dân Việc giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng chính trị và phẩm chất, đạo đức của con người mới XHCN được tiến hành đi đôi với bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân, đồng thời khắc phục tư tưởng coi nhẹ lợi ích tập thể và xã hội, chỉ thấy quyền lợi mà quên nghĩa vụ công dân hoặc ngược lại.

Ba là, các hình thức tập hợp nhân dân phải đa dạng Cùng với các đoàn

thể chính trị - xã hội trong giai đoạn mới cần thành lập các tổ chức quần chúng đáp ứng nhu cầu chính đáng về nghề nghiệp và đời sống của nhân dân, hoạt động theo hướng ích nước, lợi nhà, tương thân, tương ái Các tổ chức quần chúng được thành lập trên nguyên tắc tự nguyện, tự quản và tự trang trải

về tài chính được tổ chức trong từng địa phương hoặc có quy mô toàn quốc không nhất loạt giống nhau Các đoàn thể chính trị - xã hội cần chủ động xây dựng và tham gia vào các tổ chức nói trên, qua đó vận động quần chúng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Bốn là, công tác quần chúng là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể Công tác quần chúng không chỉ là trách nhiệm của các đoàn thể quần

chúng mà còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, có sự phối hợp với nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng Mọi cán bộ, đảng viên, nhân viên Nhà nước đều phải làm công tác quần chúng theo chức trách của mình

Bốn quan điểm chỉ đạo đổi mới công tác quần chúng của Đảng là sự tổng kết

từ quá trình lịch sử cách mạng nước ta, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn sâu sắc Đó là những vấn đề hết sức cơ bản nhằm chỉ đạo công tác quần chúng của Đảng, khẳng định công tác quần chúng luôn có ý nghĩa chiến lược đối với vận mệnh của Đảng và cách mạng nước ta Sự nghiệp đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và CNXH là một cuộc cách mạng rất sâu sắc, triệt để và toàn diện Đó không phải là con đường bằng phẳng với những mô hình sẵn có mà là quá trình phấn đấu

Trang 37

gian khổ, tìm tòi, sáng tạo với hình thức, bước đi, cách làm phù hợp Chỉ có phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước, quyền làm chủ của nhân dân, động viên mọi tiềm năng vật chất, kết tinh mọi giá trị trí tuệ của nhân dân thì công cuộc đổi mới đất nước mới đi đến thành công Sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước không có gì khác là nhằm thực hiện và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân Bài học mà Đảng ta rút ra từ sự khủng hoảng của các nước XHCN là không bao giờ được coi thường và lơi lỏng công tác quần chúng Đảng chỉ phát huy được vai trò

và sức mạnh của mình khi giữ được mối liên hệ mật thiết với nhân dân Có tạo được sự chuyển biến căn bản trong công tác quần chúng, thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân thì mới tạo được sự đồng bộ trong việc đổi mới trên các lĩnh vực khác và có sức mạnh để bảo vệ những thành quả cách mạng đạt được, nhanh chóng ổn định tình hình kinh tế - xã hội, giữ vững sự ổn định chính trị của đất nước

Để đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quần chúng, giữ vững mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân, các tổ chức đảng từ Trung ương đến chi bộ đều phải lấy công tác vận động và chăm lo lợi ích của quần chúng

là một nội dung chủ yếu trong hoạt động của mình Mỗi đảng viên đều làm công tác vận động quần chúng, gương mẫu thực hiện chức trách trong đơn vị và nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú, hoạt động tích cực trong đoàn thể mà mình tham gia Nâng cao sức chiến đấu của đội ngũ đảng viên, xử lý nghiêm những phần tử thoái hoá, biến chất, ức hiếp quần chúng, lợi dụng chức quyền vi phạm lợi ích của nhân dân Củng cố, kiện toàn các tổ chức cơ sở đảng đủ sức lãnh đạo nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, chăm lo quyền lợi của nhân dân

Đối với các tầng lớp nhân dân, Đảng chủ trương đẩy mạnh phong trào quần chúng hành động cách mạng thực hiện một số nhiệm vụ cấp bách:

Với nhiệm vụ làm chuyển biến tình hình kinh tế - xã hội: tiếp tục đẩy mạnh phong trào nhân dân khai thác mọi tiềm năng tập trung thực hiện ba chương trình kinh tế lớn Các tầng lớp nhân dân hưởng ứng chủ trương của

Trang 38

Nhà nước phát triển mạnh mẽ kinh tế tập thể và các thành phần kinh tế khác, thu hút lao động xã hội, từng bước khắc phục tình trạng thiếu việc làm Toàn dân thực hiện triệt để tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng, lên án và đấu tranh chống các hành vi và lối sống xa hoa, lãng phí.

Để thực hiện phát huy dân chủ XHCN trong đời sống xã hội, Đảng, Nhà nước thực hiện chế độ lấy ý kiến nhân dân trong việc xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, trong sắp xếp tổ chức và bố trí cán bộ Tổ chức

để nhân dân phát biểu ý kiến rộng rãi trên báo, đài góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng

Đảng tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng làm cho nhân dân kiên định đi theo con đường XHCN, quán triệt và thực hiện chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, khắc phục tư tưởng bi quan, dao động

và những quan điểm sai trái, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước âm mưu và thủ đoạn thâm độc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động trong và ngoài nước chống phá công cuộc xây dựng CNXH của nhân dân ta Phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, học tập đạo đức cách mạng của Bác Hồ, đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng nếp sống mới, gia đình văn hóa mới và con người mới XHCN, đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, hủ tục mê tín dị đoan, bảo vệ thuần phong mỹ tục của dân tộc

Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh nhân dân phải tích cực tham gia chăm lo công tác quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống Toàn dân

đề cao trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc, giúp đỡ bộ đội, công an hoàn thành tốt nhiệm vụ của nhân dân giao phó, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.Hội nghị Trung ương 8B đề cập đến việc đổi mới công tác quần chúng của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân và nhấn mạnh đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quần

Trang 39

chúng, giữ vững mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và toàn bộ sự nghiệp cách mạng Nghị quyết Trung ương 8B đánh dấu lần đầu tiên BCHTƯ ra Nghị quyết chuyên đề về công tác quần chúng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, điều đó thể hiện Đảng ta coi công tác quần chúng luôn luôn có ý nghĩa chiến lược, là một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng Nghị quyết Trung ương 8B đề ra quan điểm chỉ đạo công tác quần chúng trong tình hình mới, đồng thời đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ đối với các hai phía: chủ thể lãnh đạo là Đảng và đối tượng lãnh đạo là nhân dân Trên cơ sở đổi mới công tác quần chúng của Đảng để tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, đưa mối quan hệ vốn đã gắn bó trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc ngày càng được củng cố, tăng cường hơn nữa trong thời kỳ đổi mới đất nước, khắc phục sự suy giảm mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân thời kỳ trước đổi mới.

Nghị quyết Trung ương 8B là một Nghị quyết vừa có tính chiến lược thể hiện ở các quan điểm chỉ đạo đổi mới công tác quần chúng của Đảng trong thời kỳ mới, đồng thời vừa có tính cấp bách trước tình hình quốc tế và trong nước có những diễn biến rất phức tạp đòi hỏi phải tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân để vượt qua mọi khó khăn, thử thách đưa đất nước vững bước đi lên trên con đường XHCN mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn

1.2.3 Chủ trương Đại hội VII của Đảng về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân

Đại hội VII của Đảng (6-1991) diễn ra trong bối cảnh tình hình quốc

tế có những chuyển biến mau lẹ và phức tạp: chế độ XHCN ở các nước Đông Âu sụp đổ, Liên Xô đứng trước nguy cơ tan rã tác động xấu đến tình hình chính trị, kinh tế và xã hội nước ta Qua 5 năm thực hiện đường lối đổi mới Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã nỗ lực khắc phục khó

Trang 40

khăn, kiên trì tìm tòi, khai phá con đường đổi mới chưa có một khuôn mẫu cho trước, từng bước đưa đường lối đổi mới Đại hội VI đi vào cuộc sống Đại hội VII của Đảng đã tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, trên cơ sở đó bổ sung, phát triển các chủ trương đổi mới của Đại hội VI và thông qua các văn kiện quan trọng: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000.

Để tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong thời kỳ mới, Đại hội VII nhấn mạnh: vấn đề mấu chốt là phân định rõ chức năng

và giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân; kiên quyết chống quan liêu và những hành vi xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân

Phải giữ vững tư duy độc lập và sáng tạo trong việc đề ra đường lối đổi mới phù hợp với đặc điểm tình hình của nước ta, đáp ứng đúng lợi ích và nguyện vọng của nhân dân Tăng cường hơn nữa khối đoàn kết toàn dân, động viên được lực lượng của mọi tầng lớp nhân dân vào việc thực hiện mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ vững đoàn kết trong Đảng, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cần được đổi mới về tổ chức và hoạt động để thực sự góp phần thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội, chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, tham gia các công việc quản lý Nhà nước, giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân Đổi mới

và nâng cao hiệu quả lãnh đạo của cấp ủy đảng đối với công tác quần chúng

và các đoàn thể nhân dân Mọi đảng viên đều phải làm công tác vận động quần chúng, hoạt động tích cực trong các đoàn thể, các tổ chức xã hội

Để nâng cao năng lực công tác vận động quần chúng của Đảng, khôi phục

và nâng cao uy tín của Đảng trong nhân dân, Đảng phải đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, lý luận, phục vụ tốt yêu cầu nâng cao trình độ trí tuệ

Ngày đăng: 21/05/2017, 23:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1- Ban Dân vận Trung ương (1995), Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tác giả: Ban Dân vận Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
3- Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra - một số vấn đề lý luận và thực tiễn (1997), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra - một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra - một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
4- Phan Hữu Dật (2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
5- Nguyễn Quang Du (2002), “Tăng cường khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong thời kỳ mới”, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị, (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Tăng cường khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong thời kỳ mới”," Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị
Tác giả: Nguyễn Quang Du
Năm: 2002
6- Dương Quốc Dũng (2000), “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh vững chắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, (số 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh vững chắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”," Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự
Tác giả: Dương Quốc Dũng
Năm: 2000
7- Phạm Thế Duyệt (2003), “Thực hiện đại đoàn kết dân tộc và những vấn đề đặt ra cho hệ thống chính trị hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, (số 16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Thực hiện đại đoàn kết dân tộc và những vấn đề đặt ra cho hệ thống chính trị hiện nay”," Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Phạm Thế Duyệt
Năm: 2003
8- Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
9- Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương (khoá VI) , Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương (khoá VI)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
10- Đảng Cộng sản Việt Nam (1989), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương (khoá VI), Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương (khoá VI)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1989
11- Đảng Cộng sản Việt Nam (1990), Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương (khoá VI), Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương (khoá VI)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1990
12- Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
13- Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
14- Đảng Cộng sản Việt Nam (1992), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương (khoá VII), Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương (khoá VII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1992
15- Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
16- Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
17- Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX) về đại đoàn kết dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX) về đại đoàn kết dân tộc
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
18- Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban chỉ đạo tổng kết lý luận (2006), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban chỉ đạo tổng kết lý luận
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
19- Lê Quang Đạo (2003), “Đại đoàn kết dân tộc - một nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (số 8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại đoàn kết dân tộc - một nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”, "Tạp chí Lịch sử Đảng
Tác giả: Lê Quang Đạo
Năm: 2003
20- Trần Đình Định(1999), Đảng lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân thời kỳ đổi mới (1986 - 1999), Luận văn thạc sĩ lịch sử, Học viện Chính trị quân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân thời kỳ đổi mới (1986 - 1999)
Tác giả: Trần Đình Định
Năm: 1999
21- Đoàn Ngọc Hải (2003), “Quán triệt quan điểm của Đảng về xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn mới”, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, (số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quán triệt quan điểm của Đảng về xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn mới”," Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự
Tác giả: Đoàn Ngọc Hải
Năm: 2003

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w