1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giá trị nhân văn trong tư tưởng hồ chí minh về đoàn kết tôn giáo và sự vận dụng vào xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh thái bình hiện nay

187 651 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Thái Bình trong những năm đổi mới vừa qua đã đẩy mạnh củng cố, tăng cường khối đoàn kết tôn giáo trong nhân dân; đồng thời tích cực học tập, vận dụng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGÔ MINH THUẬN

GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO Ở TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGÔ MINH THUẬN

GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO Ở TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY

Trang 3

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu khoa học: Giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo và sự vận dụng vào xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình hiện nay, dưới sự hướng dẫn của PGS, TS Trần Đình Thảo là hoàn toàn mới, không có sự trùng lặp với các công trình nghiên cứu khác

- Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào

TÁC GIẢ

Ngô Minh Thuận

Trang 4

Lời cảm ơn!

Tác giả xin trân trọng cảm ơn tới thầy PGS, TS Trần Đình Thảo - Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận án

Xin trân trọng cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoa Triết học của Trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội đã định hướng, giúp đỡ tác giả trong việc lựa chọn đề tài khoa học trên để nghiên cứu Đề tài bước đầu đã đáp ứng đúng nhiệm vụ học tập, nghiên cứu của nhà trường cũng như tình hình thực tiễn ở tỉnh Thái Bình đặt ra trong giai đoạn đổi mới hiện nay

Xin trân trọng cảm ơn tới các cơ quan hữu trách của Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị thuộc Đại học quốc gia Hà Nội, Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Tuyên giáo tỉnh Thái Bình, Ban Tôn giáo tỉnh Thái Bình, Trường chính trị tỉnh Thái Bình.v.v đã cộng tác, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận án

Xin chân thành cảm ơn tới tập thể lớp nghiên cứu sinh Triết học K.2011 đã có nhiều đóng góp quan trọng giúp tác giả hoàn thành luận án

Trang 5

1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LUẬN ÁN 10

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 10

1.2 Tổng quan tư liệu, tài liệu liên quan đến đề tài luận án 12

Chương 2 GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO 32

2.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận án 32

2.2 Nội dung giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo 42

Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA Ở TỈNH THÁI BÌNH TRÊN CƠ SỞ VẬN DỤNG GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO 71

3.1.Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hoá và tôn giáo ở tỉnh Thái Bình 71

3.2 Thực trạng vận dụng giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình từ năm 2004 đến nay 81

3.3.Những vấn đề đặt ra của việcvận dụng giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình 118 Chương 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN TỐT VIỆC VẬN DỤNG GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO Ở TỈNH THÁI BÌNH NHỮNG NĂM ĐỔI MỚI TIẾP THEO 123

4.1 Xu hướng biến động của tôn giáovà phương hướng vận dụng giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình 123

4.2.Các giải pháp vận dụng giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình những năm đổi mới tiếp theo 130

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 153

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC 156

TÀI LIỆU THAM KHẢO 157

PHỤ LỤC 168

Trang 7

3

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Trang 8

4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy, tôn giáo là một hình thái ý thức

xã hội, đã tồn tại từ lâu trong đời sống tinh thần của con người Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo có ảnh hưởng hết sức phức tạp đến mọi mặt của đời sống xã hội của nhiều dân tộc, đã có thời kỳ thần quyền lấn át thế quyền, thống trị và chi phối các mặt đời sống xã hội Bên cạnh đó, nhân loại cũng chứng kiến những cuộc chiến tranh đẫm máu, kéo dài hàng trăm năm giữa các cộng đồng tôn giáo khác nhau trên thế giới Thực tế lịch

sử chứng minh, tôn giáo thường bị giai cấp thống trị sử dụng như một thứ công cụ đặc biệt để trấn áp về mặt tinh thần đối với quần chúng nhân dân; nhưng trong nhiều trường hợp tôn giáo lại là ngọn cờ tư tưởng cho việc tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân lao động đoàn kết thành một khối thống nhất, bền gan, đồng sức, đồng lòng trong cuộc đấu

tranh chống lại nhữngáp bức, bất công để đòi quyền sống, quyền tự do dân chủ, quyền

mưu cầu hạnh phúc ở thế giới trần tục Chính những biểu hiện phức tạp, đa dạng cùng

với những tác động đa chiều của tôn giáo đối với đời sống xã hội, khiến tôn giáo trở nên thần

bí, khó hiểu làm cho con người khó khăn trong việc nhận thức về nó một cách toàn diện

Nhiều nhà khoa học đã tìm cách giải mã các hiện tượng tôn giáo và vai trò của nó trong đời sống xã hội Dựa trên những thành tựu của khoa học, kỹ thuật và công nghệ đem lại, các vấn đề như bản chất, nguồn gốc, tính chất, chức năng và vai trò của tôn giáo bước đầu đã được lý giải Tuy nhiên, vẫn còn có những câu hỏi đặt ra như một thách đố đối với nhận thức của con người và cho tới nay chưa có lời giải đáp thỏa đáng Vì vậy, có nhà nghiên cứu đã phải lên tiếng:“Tôn giáo là gì mà lại có ma lực cuốn hút người ta, làm cho con người ta sùng tín mãnh liệt, đồng thời lại có thể liên kết người ta hoặc ngược lại, đẩy người ta đến chỗ kỳ thị lẫn nhau sâu sắc như vậy? Nó là gì có thể tác động đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, giáo dục, đạo đức, phúc lợi xã hội, ảnh hưởng tới tư tưởng, tình cảm và hành động của đông đảo dân chúng đến như vậy?”[Xem133,tr.2].Việc tìm cách giải đáp các vấn đề trên của tôn giáo thật không

hề đơn giản, nhất là trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều biến động, phức tạp Tôn giáo suy giảm ở nơi này nhưng lại gia tăng ở nơi khác; bên cạnh tôn giáo lớn có tầm

Trang 9

5

vóc thế giới xuất hiện nhiều hiện tượng “tôn giáo mới” mang theo những biểu hiện phi

văn hóa, phản nhân tính, cuồng tín hay hiện tượng đa dạng hóa, thế tục hóa, dân tộc hóa của các tôn giáo Tất cả những biểu hiện đó, tạo nên bức tranh tôn giáo đa dạng về chủng loại, phong phú về màu sắc và đa chiều về khuynh hướng vận động, biến đổi làm cho tôn giáo vừa gần gũi, vừa xa lạ; vừa hiện thực, vừa hư ảo, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống hiện thực của con người

Ngày nay, trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng, nhìn chung nhân loại đang

muốn tiến tới sự hòa hợp, với một ý tưởng nhân văn xây dựng trái đất thành ngôi nhà

chung của nhân loại Vì vậy, sự giao lưu văn hóa, tôn giáo đã và đang diễn ra rất mạnh

mẽ; không có một dân tộc hay một tôn giáo nào có thể cưỡng lại được và cũng không có một dân tộc hay tôn giáo nào có thể tiến lên được, nếu không có sự kế thừa, tiếp biến và phát triển những giá trị bản sắc văn hóa dân tộc, tôn giáo vốn có của nó.Dân tộc Việt

Nam trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh “dựng nước và giữ nước”, luôn chủ động kế

thừa, tiếp thu và phát huy các giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; kết hợp với những giá trị tinh hoa văn hóa, tôn giáo của nhân loại vào việc giải quyết nhiệm vụ lịch sử của đất nước đặt ra Điển hình cho sự kế thừa, tiếp nối và kết hợp hài hòa các giá trị tinh hoa văn hóa Đông – Tây, hoà chung cùng dòng chảy chủ lưu truyền thống yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam - đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh, như lời

nhận xét của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Sự nghiệp văn hóa lớn lao nhất, quan

trọng nhất của Hồ Chí Minh là đã huy động sức mạnh của 4000 năm văn hiến của dân tộc kết hợp với tinh hoa văn hóa của thời đại, lãnh đạo thành công sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành lại cho nhân dân ta quyền làm người, quyền được sống một cuộc sống xứng đáng với con người Sự nghiệp đó trả lại địa vị xứng đáng cho nền văn hóa Việt Nam cũng là một sự nghiệp to lớn đối với nền văn hóa thế giới, góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa, từng bước tiến lên thanh toán chủ nghĩa thực dân, xóa bỏ đi một vết nhơ trong lịch sử và trong nền văn hóa của loài người”[50,tr.47-48]

Tổng kết toàn bộ lịch sử đường lối cách mạng Việt Nam, tại Đại hội VII (1991)

Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định nhất quán: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư

tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”[35,tr.21] Đối

Trang 10

6

với tín ngưỡng, tôn giáo, Đại hội nhấn mạnh: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần

của một bộ phận nhân dân Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền

tự do tín ngưỡng Chống mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng; đồng thời chống việc lợi dụng tín ngưỡng để làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân Gần đây nhất,

Đại hội XI (2011), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định nhất quán: “Trong bất

kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ”[47,tr.21]

Tại tỉnh Thái Bình, văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV (năm 1991) chỉ ra:

“Mọi chủ trương, đường lối của Đảng bộ tỉnh trong quá trình đổi mới cần dựa trên nền

tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tình hình thực tiễn ở địa phương”[Xem 34,tr.29] Quán triệt tinh thần trên, đồng thời căn cứ vào tình hình thực

tiễn địa phương là một tỉnh đồng bằng đông dân có khoảng 1.900.000 dân (theo thống kê

năm 2012 của Ủy ban Dân số - Gia Đình – Trẻ em), trong đó đồng bào theo tôn giáo

chiếm gần 1/3 dân số của tỉnh, với ba tôn giáo làPhật giáo, Công giáo và Tin lành đã và đang ảnh hưởng sâu rộng đến đức tin, lối sống, nhận thức và hành động trong nhân dân Cho nên, các lực lượng thù địch, chống đối thường xuyên lợi dụng điểm nóng chính trị hay các kẽ hở liên quan đến vấn đề thực hiện cơ chế, chính sách, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở địa phương nhằm phá vỡ khối đoàn kết toàn dân, làm suy giảm hệ thống chính trị tại địa phương Gần đây nhất năm 1997, 1998 tình trạng mất dân chủ đã diễn ra trên địa bàn tỉnh Thái Bình làm cho vai trò lãnh đạo của Đảng bị giảm sút, khối đại đoàn kết toàn dân bị rạn nứt; đồng thời xuất hiện nhiều biểu hiện hoạt động tôn giáo sai quy định của pháp luật và hoạt động mê tín dị đoan có chiều hướng gia tăng Vì vậy, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Thái Bình trong những năm đổi mới vừa qua đã đẩy mạnh củng cố, tăng cường khối đoàn kết tôn giáo trong nhân dân; đồng thời tích cực học tập, vận dụng giá trị nhân văn của Hồ Chí Minh cùng với đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam vào công tác xây dựng khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo đã đạt được những thành tựu nhất định Tuy nhiên, nhiều năm qua việc vận dụng vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế cả về chủ quan và khách quan, cũng như chưa phát huy hết sức sống và khả năng

Trang 11

7

sáng tạo giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác xây dựng khối đoàn kết tôn giáo, dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa tại địa phương

Trước tình hình trên, Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XVIII (2010), tổng

kết công tác tôn giáo nhận định: Tín đồ tôn giáo là nguồn lao động dồi dào, có tiềm năng

và sức sáng tạo rất lớn góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH tại địa phương; đồng thời cũng là đối tượng dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng vào mục đích chính trị nhằm phá vỡ khối đoàn kết toàn dân, làm suy yếu hệ thống chính trị Vì vậy, cần tiếp tụcđẩy mạnh củng cố, tăng cường hơn nữa khối đoàn kết tôn giáo trong nhân dân

Xuất phát từ tình hình tình hình thực tế nêu trên, kết hợp với nhiệm vụ chính trị trọng tâm của Đảng bộ tỉnh Thái Bình và những vấn đề còn tồn tại trong công tác xây

dựng khối đoàn kết tôn giáo đặt ra hiện nay, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Giá trị

nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo và sự vận dụng vào xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình hiện nay” làm luận án tiến sĩ chuyên

tôn giáo ở Thái Bình những năm đổi mới tiếp theo

2.2 Nhiệm vụ của luận án

Một là, chỉ ra một số khái niệm liên quan đến luận án Đồng thời, làm rõ những

nội dung giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo

Hai là, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và vấn đề đặt racủa việc vận dụng giá trị

nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn công tác xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình từ năm 2004 đến nay

Trang 12

8

Ba là, đề xuất những phương hướng chủ đạo và giải pháp mang tính khả thi nhằm

phát huy tốt giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình những năm đổi mới tiếp theo

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng của luận án

Giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo và sự vận dụng giá trị đóvào thực tiễn công tác xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình hiện nay

3.2 Phạm vi của luận án

Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:

- Về nội dung nghiên cứu: Gồm hai phần lý luận và thực tiễn

Về mặt lý luận: Nghiên cứu giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn

kết tôn giáo

Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu sự vận dụng giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí

Minh của Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể chính trị-xã hội tỉnh Thái Bình vào thực tiễn công tác xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình

- Về không gian nghiên cứu: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Thái Bình

- Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2004 đến nay, là thời điểm Pháp lệnh tín

ngưỡng, tôn giáo ra đời và cũng là thời điểm đẩy mạnh “Học tập và làm theo tấm

gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Chỉ thị 23-CT/TW, ngày 27-3-2003 của Ban Bí thư

Trung ương Đảng

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luậncủa luận án

Luận án dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo, cụ thể:

- Các quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin về tôn giáo

- Quan điểm của Hồ Chí Minh về tôn giáo và chính sách tôn giáo

- Các văn kiện, nghị quyết của Đảng về tôn giáo và công tác tôn giáo

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 13

9

Trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận án, tác giả sử dụng phương

pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành khác được vận dụng vào nghiên cứu như: tôn giáo học, xã hội học tôn giáo, triết học tôn giáo, sử học tôn giáo, dân tộc học tôn giáo, văn hóa học tôn giáo, chính trị học tôn giáotrên tinh thần lý luận

gắn với thực tiễn nhằm phân tích mối quan hệ biện chứng giữa “tôn giáo với chính trị”,

“tôn giáo với kinh tế”, “tôn giáo với văn hóa”ở tỉnh Thái Bình hiện nay Đồng thời, luận

án cũng vận dụng các phương phápkhác như: lôgíc, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, điều tra khảo sát thực tế và phỏng vấn nhanh

5 Những đóng góp mới của luận án

Đây là công trình khoa học được trình bày một cách lôgíc và có tính hệ thống

về giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo, trên cơ sở đó vận dụng vào xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình Vì vậy, luận án có những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn, cụ thể:

- Khái niệm giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo

- Nghiên cứu rút ra những nội dung cơ bản giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo Đây là sự đóng góp mới về mặt lý luận nhằm chỉ ra bản chất nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trong đoàn kết tôn giáo

- Làm rõ thực trạng vận dụng giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình từ năm 2004 đến nay Đồng thời, chỉ ra những vấn đề tồn tại, đặt ra trong công tác xây dựng khối đoàn kết tôn giáo Từ đó, đề xuất những phương hướng chủ đạo và giải pháp mang tính khả thi nhằm củng cố, tăng cường hơn nữa khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình những năm đổi mới tiếp theo

- Kết quả nghiên cứu đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy chuyên đề tôn giáo và công tác xây dựng khối đoàn kết tôn giáo tại một số trường đại học, trường Đảng, các trung tâm bồi dưỡng lý luận chính trị ở các huyện, thị

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm

4 chương, 9 tiết

Trang 14

10

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LUẬN ÁN

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong những năm đổi mới vừa qua, đã có nhiều công trình của các nhà khoa học

Nghiên cứu tư tưởng triết học trong các học thuyết tôn giáo là chủ đề lớn được

nhiều nhà khoa học; đặc biệt là các nhà triết họcquan tâm đi sâu nghiên cứu nhằm làm rõ vấn đề bản thể luận, nhân sinh quan, nhận thức luận trong các học thuyết tôn giáo Đồng thời, chỉ ra những nguyên tắc, phương pháp luận khi tiếp cận,nghiên cứu đối với các học thuyết tôn giáo.Qua đó, góp phần định hướng nhân sinh quan cho các chức sắc, nhà tu hành, tín đồ tôn giáokhi tham gia thực hành đạo đức tôn giáo trong đời sống xã hội

Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo nhằm làm rõ những quan điểm ,

nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo và việc giải quyết vấn đề tôn giáo trong cách mạng xã hội chủ nghĩa;hay những vấn đề lý luận và thực tiễn về tôn giáo trên thế giới và ở Việt Nam nhằm làm rõ tình hình tôn giáo và xu hướng biến động của tôn giáo trên thế giới và ở Việt Nam Đồng thời, chỉ ra những bài học kinh nghiệm trong việc giải quyết vấn đề tôn trên thế giới, khu vực Từ đó, đưa ra những nguyên tắc có tính chất phương pháp luận trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới hiện nay

Nghiên cứu phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa tôn giáo với tín ngưỡng và mê tín

dị đoan là vấn đề được nhiều nhà khoa học nghiên cứu nhằm phân biệt và làm rõ sự khác

nhau giữa tôn giáo với tín ngưỡng và mê tín dị đoan Qua đó, góp phần định hướng hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người

Nghiên cứu sự ảnh hưởng của văn hóa tôn giáo trong đời sống tinh thần xã hội Việt Nam hiện nay là chủ đề được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu,để làm rõ vị

trí, vai trò và sự ảnh hưởng của văn hóa tôn giáo trong đời sống tinh thần dân tộc Việt Nam thông qua giáo lý, giáo luật, nghi lễ và các tổ chức giáo hội Qua đó, đề xuất những phương hướng chủ đạo và giải pháp mang tính khả thi nhằm gìn giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống văn hóa tôn giáo trong đời sống xã hội Việt Nam, góp phần thực

hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Trang 15

11

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và đoàn kết tôn giáo được nhiều

nhà khoa học quan tâm, kể từ khi có NQ/24/TW/1990 ban hành khẳng định: tôn giáo là nhu cầu tinh thần không thể thiếu được của quần chúng nhân dân lao động và tôn giáo có nhiều ưu điểm tiến bộ phù hợp với công cuộc dựng xã hội chủ nghĩa Vì vậy,nghiên cứu

nguyên tắc và phương pháp đoàn kết tôn giáo; đặc biệt là những quan điểm, chính sách của Hồ Chí Minh vềtôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín

ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; hay chủ đề tư tưởng Hồ Chí Minh vềtôn giáo với dân tộc

và chủ nghĩa xã hội nhằm làm rõ mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc và việc giải

quyết vấn đề tôn giáo trong lòng dân tộc; đồng thời chỉ ra mục tiêu, lý tưởng của các tôn giáo phù hợp với mục tiêu, lý tưởng của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Qua đó, khẳng định tôn giáo luônđồng hành cùng dân tộc trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội;

hay nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về khoan dung tôn giáo nhằm làm rõ quá trình

hình thành và phát triển văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh trên lĩnh vực tôn giáo và nội dung khoan dung tôn giáo của Người Đồng thời, chỉ ra giá trị khoan dung tôn giáo trong

tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần cứu nước, giải phóng dân tộc, giai cấp, con người

Nghiên cứu đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về tôn giáođược nhiều nhà khoa học quan tâm, kể từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ VII (1991), nhằm làm rõ các quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam; đặc biệt làm rõ mục đích của việc quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức và cá nhân tôn giáo là để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân một cách hợp hiến và hợp pháp Đồng thời, đấu tranh chống lại các hành vi lợi dụng quyền tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân làm phương hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân

Nghiên cứu tư tưởng nhân văn, đạo đức Hồ Chí Minhđược nhiều nhà khoa học

quan tâm, từ khi Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 07 tháng 11 năm 2006 về tổ chức cuộc vận

động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”,nhằm làm rõ các giá trị

chuẩn mực văn hóa, đạo đức của Hồ Chí Minh trong quan hệ ứng xử với mình, với

Trang 16

12

người, với việc; đặc biệt là việc thực hành đạo đức cánh mạng trong đời sống xã hội, coi

đó là kim chỉ nam cho toàn Đảng, toàn dân học tập và làm theo v.v

Khi tiếp cận với những chủ đề nghiên cứu trên, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp thu thập tài liệu; phương pháp lịch sử - lôgíc; phương pháp hệ thống; phương pháp phân loại tài liệu theo nhóm nhằm hệ thống hóa, khái quát hóa những công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài luận

án Qua đó, tác giả kế thừa, bổ sung và phát triển luận án nghiên cứu khoa họcnhằm đạt kết quả cao

1.2 Tổng quan tư liệu, tài liệu liên quan đến đề tài luận án

1.2.1 Nhóm công trình khoa học nghiên cứu về chủ nghĩa nhân văn và giá trị nhân văn của Hồ Chí Minh

Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng nhân văn hay (chủ nghĩa nhân

văn), đặc biệt là chủ nghĩa nhân văn cộng sản chủ nghĩa đã góp phần thiết thực vào sự

nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giai cấp, con người Vì vậy, tư tưởng nhân văn của

Hồ Chí Minh không chỉ là tài sản văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam mà còn là tài sản văn hóa tinh thần của nhân loại Cho nên, đã có nhiều công trình khoa học của các tác giả trong và ngoài nước đi sâu nghiên cứu như:

Cuốn sách của Đặng Xuân Kỳ (chủ biên) (2005),Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát

triển văn hóa và con người, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Các tác giả chỉ ra, tư tưởng

về văn hóa và con người trong lịch sử được Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy vào trong tiến trình cách mạng Việt Nam nhằm giải phóng dân tộc, giai cấp, con người Từ đó, các tác giả chú trọng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và con người vào việc phát

triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam thông qua chiến lược “trồng người”

nhằm đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH hiện nay.Tuy nhiên, các tác giả chưa chỉ ra chủ thể

của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa và con người trong đời

sống xã hội và những yêu cầu đối với việc vận dụng hiện nay

Cuốn sách của Đinh Xuân Lâm,Bùi Đình Phong(đồng chủ biên)(2007),Văn hóa

và triết lý phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

Trước tiên, các tác giả chỉ ra thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 là

Trang 17

13

thắng lợi chính trị; đồng thời cũng là thắng lợi của sức mạnh văn hóa- đó là lấy nhân nghĩa làm gốc, lấy đại nghĩa làm đầu, dùng chí nhân thay cường bạo Từ đó, các tác giả

liên hệ chỉ ra giá trị trường tồn trong bản “Tuyên ngôn độc lập” và “Trong lời kêu gọi

toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh có tính chất như một văn kiện, hàm

chứa giá trị văn hóa to lớn đó là: Văn minh thắng tàn bạo thực dân Sức mạnh của văn

hóa không chỉ là sức mạnh vật chất của con người mà còn là sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, sức mạnh của văn hóa tương lai; đồng thời các tác giả cũng nhấn mạnh đến

triết lý phát triển của Hồ Chí Minh đó là: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã

hội.Tuy nhiên, các tác giả, chưa đề cập nhiều đến việc vận dụng văn hóa và triết lý phát

triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Cuốn sách của Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (đồng chủ biên)(2009),Hồ Chí

Minh văn hóa và phát triển, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội Các tác giả chỉ ra, ở

Hồ Chí Minh văn hóa là quá trình kế thừa, chắt lọc và tiếp biến những giá trị văn hóa của dân tộc và thời đại Qua đó, các tác giả khẳng định những giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh

về văn hóa đã được thời gian thẩm định, không chỉ là tài sản riêng của dân tộc Việt Nam

mà còn trở thành tài sản chung của toàn nhân loại Đây là cuốn sách thể hiện chiều sâu giá trị tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh về văn hóa và phát triển, góp phần hình thành con người Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Cuốn sách của Hoàng Chí Bảo (2010), Văn hóa và con người Việt Nam trong đổi

mới và hội nhập quốc tế, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Tác giả chỉ ra, văn hóa là do

con người sáng tạo ra, là một hiện tượng lịch sử độc đáo của nhân loại Con người chủ động tạo ra văn hóa, đồng thời tiêu dùng và cảm thụ văn hóa Từ đó, tác giả nhấn mạnh trong thời đại hội nhập và giao lưu quốc tế hiện nay, vấn đề văn hóa dân tộc, bản sắc dân tộc luôn được đặt lên hàng đầu; đồng thời tác giả phân tích nếu không biết tiếp thu một cách có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại thì sự hòa tan, mất gốc là điều không thể tránh khỏi đối với một quốc gia, dân tộc Đây là cuốn sách có giá trị lớn đối với việc xây dựng con người mới và cốt cách dân tộc Việt Nam, tác giả đã cảnh báo về sự lai căng văn hóa, sự đồng hóa văn hóa trong quá trình hội nhập hiện nay; nếu không có những giải pháp thích hợp sẽ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam

Trang 18

14

Cuốn sách của Song Thành (chủ biên) (2010),Hồ Chí Minh nhà văn hóa kiệt xuất,

NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Các tác giả chỉ ra, Hồ Chí Minh nhà văn hóa kiệt xuất được thế giới công nhận, sự nghiệp văn hóa lớn nhất của Người là đã sáng tạo ra một nền văn hóa mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam Qua đó, tác giả khẳng định Di sản văn hóa

Hồ Chí Minh không chỉ có ý nghĩa giá trị to lớn cho dân tộc mà còn cho thời đại, coi đó

là tấm gương sáng của nhân loại và là biểu tượng của chủ nghĩa nhân văn Việt Nam về lòng nhân ái.Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập nhiều đến việc vận dụng những Di sản văn hóa Hồ Chí Minh vào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay

Nghiên cứu về sự vận dụng chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh,đây là chủ đề của

nhiều nhà khoa học quan tâm như:Luận án của Lê Quý Đức (1994), Chủ nghĩa nhân văn

Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay Tác

giả chỉ ra sự kế thừa và phát triển chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh trong lịch sử tư tưởng nhân văn của nhân loại; đồng thời làm rõ tư tưởng nhân văn thể hiện trên lĩnh vực

tư tưởng nghệ thuật, cụ thể là: Tư tưởng nhân văn về bản chất nghệ thuật, về vai trò chức

năng của nghệ thuật, về sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội, đem lại hạnh phúc và sự phát triển nhân cách cá nhân cho mỗi con người

Tuy nhiên, luận án chưa đề cập đến mối quan hệ giữa văn hóa nghệ thuật với việc đấu tranh chống lại các trào lưu phi văn hóa và phản văn hóa hiện nay

Luận án của Trần Đình Châu (1994), Tư tưởng nhân văn trong di sản quân sự

của Hồ Chí Minh Tác giả chỉ ra, tư tưởng nhân văn của nhân dân Việt Nam và của nhân

loại và được Người phát triển sáng tạo trong điều kiện mới của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người Luận án chỉ ra sự thống nhất giữa tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh và tư tưởng bạo lực cách mạng của Người trong khởi nghĩa và chiến tranh.Luận án chưa đề cập nhiều đến việc vận dụng tư tưởng nhân văn trong di sản quân sự của Hồ Chí Minh vào tập hợp lực lượng cách mạng của toàn dân, cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Luận án của Nguyễn Hữu Công (2001),Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con

người toàn diện đã làm rõ cơ sở lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con

người toàn diện; luận chứng làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng phát triển con

Trang 19

15

người toàn diện của Hồ Chí Minh Ngoài ra, tác giả chỉ ra những vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn phát triển con người toàn diện ở nước ta hiện nay.Cuốn sách của Phạm Bá Toàn

(2012), Giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ qua hồi ký, nhật ký chiến tranh, NXB Quân đội

nhân dân Tác giả, bước đầu làm rõ một số khái niệm cơ bản về giá trị, hệ giá trị và thang giá trị; đồng thời chỉ ra giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ qua hồi ký, nhật ký, chiến tranh Cuối cùng, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm khai thác, phát huy giá trị văn hóa Bộ

đội Cụ Hồ.Cuốn sách này, có nhiều khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận án Luận văn của Trịnh Thị Yến (2013),Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh và ý nghĩa của nó đối

với việc nâng cao tính nhân văn trong giáo dục Việt Nam hiện nay đã làm rõ khái niệm

nhân văn, tư tưởng nhân văn và cơ sở hình thành tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh Tiếp

đó, chỉ ra những nội dung cơ bản tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh để rồi đi đến vận dụng tính nhân văn trong giáo dục ở Việt Nam hiện nay.Tuy nhiên, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu sự vận dụng tính nhân văn trong giáo dục học sinh, sinh viên chưa chú trọng giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay

Nghiên cứu việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, là chủ đề

được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu như: Hoàng Trang, Phạm Ngọc Anh

(đồng chủ biên) (2004), Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với việc giáo dục đội ngũ cán

bộ, đảng viên hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Các tác giả chỉ ra, tư tưởng

nhân văn Hồ Chí Minh không chỉ biểu hiện ở tình yêu thương con người, thương yêu nhân dân hết sức rộng lớn Qua đó, các tác giả nhấn mạnh đến việc cần thiết phải giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện

nay ở nước ta, hay cuốn sách của Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương (2007), Một số

lời dạy và mẫu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Chính trị

quốc gia, Hà Nội Cuốn sách sưu tầm, tập hợp, tuyển chọn những mẩu chuyện kể về tấm gương, đạo đức Hồ Chí Minh trong đời sống sinh hoạt và làm việc hàng ngày Tuy nhiên, cuốn sách chỉ dừng lại ở việc sưu tầm, tập hợp, tuyển chọn những mẩu chuyện kể

về tấm gương, đạo đức Hồ Chí Minh, chưa đi sâu nghiên cứu, phân tích nhằm rút ra ý nghĩa, giá trị từ những mẩu chuyện về tấm gương, đạo đức Hồ Chí Minh

Trang 20

16

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh như một giá trị nhân văn của nhân loại, có nhiều nhà khoa học nước ngoài quan tâm nghiên cứu, cụ thể: Bài viết của J.Lacouture (1969), “Một nửa thế kỷ đấu tranh cách mạng”, Báo Le Monde(5), ra ngày 5-9 Tác giả

đã viết về tinh thần khoan dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Người vẫn yêu mến và đề cao văn hóa Pháp, vẫn ca ngợi truyền thống dân chủ của cách mạng Mỹ Bài viết của Hêrôminô (1990), “Báo diễn đàn nhân dân của Vênêxuêla”(775), ra ngày 19-5 nhận định: Suốt đời mình, từ buổi khởi nghiệp cách mạng cho đến khi từ biệt thế giới này, không lúc nào Hồ Chí Minh lơ là đến việc thực hành giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên Bản thân Người tự mình thực hành đạo đức còn nhiều hơn như: nói đi đôi với làm, gương mẫu từ việc lớn đến việc nhỏ, việc công cũng như việc tư; đời sống cá nhân trong sáng, giản dị, một hình ảnh mẫu mực về “Người lãnh đạo và là Người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”

Bài viết của M.AT-MÉT (1990), “Hồ Chí Minh, một nhân vật vĩ đại đã cống hiến trọn đời mình cho sứ mệnh tự do và độc lập” Tác giả nhận định, Hồ Chí Minh đã có những cống hiến rất lớn cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới Người được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho

Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này

Bài viết của Hans D‟Orville (2010), “Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị và thời đại” Tác giả, trước tiên đặt ra câu hỏi và tự trả lời, “Hồ Chí Minh của năm

2010 là ai?” Từ việc trả lời câu hỏi trên, tác giả khẳng định Hồ Chí Minh là Người giải phóng dân tộc và đấu tranh suốt đời cho tự do, đấu tranh cho sự phát triển của đất nước, của khu vực và thế giới Từ đó, tác giả đưa ra luận cứ khẳng định thông điệp cho đến nay

vẫn còn nguyên giá trị đối với dân tộc và nhân loại đó là: “Vì lợi ích mười năm trồng

cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” Nhìn chung, những công trình khoa học của các

tác giả nước ngoài đều khẳng định, tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh có một sức sống mãnh liệt góp phần vào sự nghiệp đấu tranh cho tự do, hòa bình, công bằng, bình đẳng;

Trang 21

17

đồng thời làm cho văn hóa của các dân tộc ngày càng xích lại Đây chính là những cống hiến giá trị to lớn của Hồ Chí Minh trong xây dựng một nền văn hóa yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới

Tại tỉnh Thái Bình, có các công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu về Chủ tịch

Hồ Chí Minh với nhân dân Thái Bình như: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Thái Bình

(1970), Thái Bình năm lần đón Bác Các tác giả đã chỉ ra, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thái

Bình đã vinh dự 5 lần được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm, mỗi lần Người về thăm quê hương Thái Bình đều để lại những tình cảm tốt đẹp cho Đảng bộ và nhân dân Thái Bình Ngoài ra, Người căn dặn Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thái Bình phải đoàn kết, thực

hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí, phấn đấu “xây dựng Thái Bình trở thành

tỉnh gương mẫu về mọi mặt” Sở Văn hóa và Thông tin tỉnh Thái Bình (2000), “Thái

Bình làm theo lời Bác” Các tác giả đã chỉ ra những việc mà Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thái Bình đã thực hiện làm theo lời Người căn dặn Qua đó, các tác giả khẳng định Đảng

bộ và nhân dân tỉnh Thái Bình đã, đang và sẽ tiếp tục phấn đấu “xây dựng Thái Bình trở

thành tỉnh gương mẫu về mọi mặt”

Ngoài ra các sách chuyên khảo nêu trên, cổng thông tin điện tử Thái Bình http://www.thaibinh.gov.vn có các bài viết về học tập, vận dụng và làm theo tấm gương

đạo đức Hồ Chí Minh như: Tỉnh đoàn Thái Bình (2011), “Tuổi trẻ Thái Bình sau 4 năm

thực hiện cuộc vận động, học tập và làm theo lời Bác” Qua 4 năm triển khai thực hiện

cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Bộ Chính trị

phát động và được các cấp bộ Đoàn, Tỉnh đoàn trong tỉnh triển khai thực hiện đã đem lại nhiều kết quả đáng trân trọng, tác động rất tích cực đến dư luận xã hội, tạo được những chuyển biến rõ nét trong nhận thức và hành động của cán bộ, đoàn viên, thanh thiếu nhi

về tư tưởng, tấm gương đạo đức của Bác, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh

Bài viết của Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Thái Bình (2012), “Đẩy mạnh việc rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh về đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị” Bài viết khẳng định, trong kho tàng tri thức quý giá của nhân loại, tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh Dù ở bất kỳ cương

Trang 22

18

vị nào, từ một người phụ bếp trên con tàu lúc ra đi tìm đường cứu nước, cho đến khi trở thành Lãnh tụ của một nước độc lập, Người vẫn giữ được nếp sống riêng giản dị và đức

khiêm tốn hết mực, luôn một lòng vì nước, vì dân Qua đó,bài viết nhấn mạnh việc thực

hiện Chỉ thị 03-CT/TW, ngày 14-5-2011 về giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh một cách thiết thực, hiệu quả Cuối cùng bài viết khẳng định, đây chính là yêu cầu vừa mang tính lâu dài, vừa

là đòi hỏi cấp bách của sự nghiệp đổi mới đất nước ta hiện nay, vừa là yếu tố cơ bản để hình thành đạo đức cách mạng của người Việt Nam thời đại mới

Nhìn chung, các bài viết khẳng định tư tưởng nhân văn hay giá trị nhân văn của

Hồ Chí Minh có nét sáng tạo độc đáo riêng biệt, có ý nghĩa không chỉ đối với dân tộc

mà còn đối với thời đại Nó hướng tới việc giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột của chủ nghĩa thực dân, đế quốc và xây dựng một nền văn hóa yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới

1.2.2 Nhóm công trình khoa học nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, đoàn kết tôn giáo và sự vận dụng vào thực tiễn Việt Nam

Trong những năm đổi mới vừa qua, đặc biệt từ Đại hội VII (1991) khẳng định:

“Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” Vì vậy, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh là một yêu cầu

tất yếu, khách quan nhằm xây dựng thành công khối đoàn kết tôn giáo, dân tộc; đồng

thời đấu tranh làm thất bại các âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch,

chống đối Cho nên, đã có nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứuvấn đề này như:

Cuốn sách của các tác giả Phùng Hữu Phú, Đại Đức Thích Minh Trí (đồng chủ

biên) (1997), Hồ Chí Minh với Phật giáo Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội

Các tác giả cho rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu những yếu tố tích cực, tiến bộ của Phật giáo để làm phong phú thêm hành trang tư tưởng của Người về tôn giáo Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu nghiên cứu sự vận dụng sáng tạo triết lý Phật giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh vào sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc Viện Nghiên cứu Tôn

giáo, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (1998), Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, tín

ngưỡng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Đây là công trình của một tập thể tác giả đã

Trang 23

19

sưu tầm và tuyển chọn những bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo Tuy nhiên, hạn chế của cuốn sách là chỉ dừng ở việc sưu tầm những bài viết của Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng và chưa đi sâu phân tích những luận điểm, quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng khối đoàn kết tôn giáo.Cuốn sách của Lê Hữu

Nghĩa, Nguyễn Đức Lữ (đồng chủ biên) (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và

công tác tôn giáo, NXB Tôn giáo, Hà Nội Cuốn sách tập hợp nhiều bài viết của các nhà

khoa học nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam hiện nay Đây là nguồn tư liệu khoa học, giúp tác giả nghiên cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo

Nghiên cứu quan điểm của Hồ Chí Minh về tôn giáo với dân tộc và chủ nghĩa xã

hội tiêu biểu là cuốn sách của Nguyễn Đức Lữ (2013), Tôn giáo với dân tộc và chủ nghĩa

xã hội, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Tác giả chỉ ra, những quan điểm của Hồ Chí

Minh về mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc như: kính Chúa gắn với yêu nước, nước

có độc lập thì tôn giáo mới được tự do, nước có vinh thì đạo mới sáng Qua đó, tác giả khẳng định, Hồ Chí Minh đã để lại cho thế hệ sau những di sản quý báu, trong đó có vấn

đề tôn giáo Vì vậy, Đảng, Nhà nước ta cần tiếp tục vận dụng những tư tưởng tiến bộ của Người vào thực tiễn cách mạng Việt Nam nhằm xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”

Ngoài các sách chuyên khảo và luận văn về tôn giáo nêu trên, những năm đổi mới vừa qua xuất hiện nhiều bài viết tiêu biểu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo như: Các bài viết của Nguyễn Đức Lữ (1995), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết

lương giáo”, Tạp chí Lịch sử Đảng (3), “Hồ Chí Minh về việc kế thừa đạo đức trong Nho giáo”, Tạp chí Khoa học Chính trị (4/2000) , “Ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo”, Tạp chí Lịch sử Đảng (9/2002), “Hồ Chí Minh về mối quan hệ tôn giáo với một số lĩnh vực của đời sống xã hội”, Tạp chí Tôn giáo (6/2002), “Hồ Chí Minh đối với truyền thống thờ cúng gia tiên và những người có công với dân, với nước”, Tạp chí Sinh

hoạt Lý luận (5/2003) Các công trình trên, tác giả đã chỉ ra quan điểm của Hồ Chí Minh

về đoàn kết lương giáo, nhằm phục vụ cho mục tiêu giải phóng giải phóng dân tộc, giai cấp, con người và sự ảnh hưởng của Nho giáo đến tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 24

1.2.3.Nhóm công trình khoa học nghiên cứu vềkhoan dung tôn giáo và khoan dung tôn giáo Hồ Chí Minh

Tư tưởng khoan dung đã được tìm hiểu theo các mức độ, phạm vi, mục đích khác

nhau và được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau như: Triết học, văn hóa học, tâm lý

học, tôn giáo học Tuy nhiên, đề cập đến khoan dung trên lĩnh vực tôn giáo là chủ đề

mà đề tài luận án quan tâm, nghiên cứu.Đỗ Quang Hưng (1997)với bài viết, “Tôn giáo

và khoan dung: Trường hợp của Việt Nam”, Tạp chí Triết học (5) đã xuất phát từ vấn đề

tôn giáo học để giải đáp cho sự tồn tại của tư tưởng khoan dung trong lĩnh vực tôn giáo Bài viết tập trung khai thác thực trạng tồn tại nhiều loại hình tôn giáo khác nhau ở Việt Nam, cũng như hiện tượng tam giáo đồng nguyên Đồng thời, bài viết lý giải sự khoan dung trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam như là nhu cầu tất yếu và hình thành đặc điểm văn hóa tâm linh tồn tại trong tâm hồn người Việt Mặc dù nội dung bài viết chưa tiếp cận trực diện, nhưng nó cũng gợi mở để tiếp tục nghiên cứu vấn đề này

Tác giả Hajine Nakamura (2006), có bài viết “Tinh thần khoan dung và sự hòa

giải trong tư duy của người Ấn Độ”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật (1); hay các bài viết của

Hoàng Thị Thơ (2007), “Vài suy ngẫm về khoan dung trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ và

Phật giáo Việt Nam”,Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo (12); “Khoan dung trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Việt Nam” (2008), Công bằng và xã hội, trách nhiệm xã hội và

đoàn kết xã hội, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, hay “Khoan dung Phật giáo cho lợi ích

chung của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa” (Buddhist tolerance for the common

good of the Nation in Global Age) (2008), Religious studies review (4) Tác giả, đã đi sâu

phân tích cơ sở và biểu hiện của khoan dung trong Phật giáo nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng Mặc dù, bài viết này mới chỉ tập trung phân tích theo tư tưởng của Thích

Trang 25

21

Ca Mâu Ni và mới khảo sát trong trường hợp cụ thể của vua Asoka (Ấn Độ), nhưng đã nêu được phần nào biểu hiện của nội dung tư tưởng của Phật giáo Đối với tác giả Hajine Nakamura, việc hình thành tư tưởng khoan dung vào thực tiễn không chỉ dừng lại ở vua Asoka mà đã đi xa hơn, những yếu tố cơ bản vẫn được giữ vững trong chính sách tôn giáo tại Ấn Độ về sau Ngược lại, Hoàng Thị Thơ, từ nội dung của bài viết có thể suy ra, khái niệm khoan dung được xem như đồng nghĩa với vị tha trong quan niệm Phật giáo,

vì nó hàm nghĩa làm lợi cho chúng sinh Tác giả, phân tích biểu hiện của khoan dung trong Phật giáo tại Việt Nam qua việc phân tích hình ảnh, kết cấu ngôi chùa và hình thức bài trí bàn thờ tại gia của người Việt Nam đã đi đến khẳng định rằng, khoan dung không chỉ giới hạn trong phạm vi phẩm chất đạo đức của con người cá nhân, con người Việt Nam mà đang mở rộng thành phẩm chất văn hóa của dân tộc Việt Nam, nhất là trong bối cảnh của toàn cầu hóa

Ở Việt Nam nghiên cứu về khoan dung tôn giáo, phần lớn có điểm xuất phát là hiện tượng “tam giáo đồng nguyên”, hiện tượng tín ngưỡng phổ biến trong các thời kỳ lịch sử Việt Nam Các bài viết theo chủ đề đó có thể đề cập đến là: Bài viết của Lê Tâm Đắc và Tạ Quốc Khánh (2003), “Tính hỗn dung của người Việt thể hiện qua đối tượng

thờ trong các ngôi chùa ở Hà Nội”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo (2); hay Đỗ Lan Hiền (2007), “Khoan dung tôn giáo – Một triết lý nhân sinh của người Việt”, Tạp chí Triết học

(11); Nguyễn Đức Lữ (2008), “Từ ngày quốc tế khoan dung suy nghĩ về tính khoan dung

của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo (4); hay TS

Nguyễn Thị Phương Mai (2014), “Khoan dung của Phật giáo: Một đóng góp vào việc

giải quyết bất cập trong lối ứng xử của người Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu

Tôn giáo (6) Bài viết khẳng định, tư tưởng khoan dung của Phật giáo không chỉ nằm

trong giáo lý, trong đạo đức và trong hành động của Phật tử; mà nó còn được hiện thực hóa trong hoạt động chính trị và ảnh hưởng tới đường lối chính trị của một quốc gia Trong bối cảnh hiện nay, lối ứng xử của con người Việt Nam đang phải đối diện với vấn

đề do quá trình giao lưu văn hóa, quá trình phát triển kinh tế và xã hội trong thời đại toàn cầu mang lại Để giải quyết bất cập trong quan hệ đó, tác giả chỉ ra khoan dung của Phật giáo có đóng góp nhất định không chỉ trong mối quan hệ giữa con người với xã hội, mà

Trang 26

22

trong mối quan hệ giữa con người với gia đình, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên v.v Đây là những bài viết đưa ra nhiều dẫn chứng cụ thể trong đời sống tôn giáo nhằm luận chứng cho tinh thần khoan dung tôn giáo của người Việt Song, đó chưa phải

là sự phổ quát rộng lớn về tinh thần khoan dung của dân tộc Việt Nam trong suốt chiều

dài lịch sử “dựng nước và giữ nước”

Bên cạnh, các công trình khoa học nghiên cứu về khoan dung tôn giáo nói chung, thì tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh cũng nhiều bài viết tiêu biểu, chủ yếu tập trung làm rõ tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh về văn hóa, về tôn giáo như: Ngô Phương Bá

(1993), “Tư tưởng bao dung hòa hợp của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Tạp chí Cộng sản (9);

hay Song Thành (2003), “Văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh với nhiệm vụ xây dựng văn

hóa và con người Việt Nam hiện nay”, Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương; Hồ Trọng

Hoài (2005), “Khoan dung – Một giá trị đạo đức trong nhân cách văn hóa của Hồ Chí

Minh”, Tạp chí Cộng sản (17) Nhìn chung, các bài viết trên mới chỉ đề cập đến một số

biểu hiện cụ thể về khoan dung tôn giáo của Hồ Chí Minh, mà chưa có sự khái quát về đặc điểm tư tưởng khoan dung hay nội dung khoan dung tôn giáo của Hồ Chí Minh được thể hiện như thế nào

Nguyễn Tấn Hưng (2010), “Kế thừa và phát huy tinh thần khoan dung Hồ Chí

Minh trong xây dựng đồng thuận xã hội và đại đoàn kết dân tộc”, Tạp chí Triết học (7)

Tác giả, đã liệt kê ra 5 đặc điểm của khoan dung Hồ Chí Minh Tuy nhiên, tác giả chưa chỉ rõ điều kiện để khái quát, chưa khẳng định được đâu là văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh; haybài viết của Lê Đại Nghĩa (2011), “Đức khoan dung tôn giáo của Chủ tịch Hồ

Chí Minh”, Tạp chí Lý luận chính trị (4) Tác giả đã luận giải, khoan dung Hồ Chí Minh

trên lĩnh vực tôn giáo là cách thức ứng xử khoan dung đối với tôn giáo có những nội dung độc đáo, sáng tạo riêng biệt Từ đó, tác giả liên hệ việc Đảng, Nhà nước quán triệt vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng đức khoan dung tôn giáo vào công tác xây dựng khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết

tôn giáo góp phần quan trọng trong việc đấu tranh làm thất bại các âm mưu “Diễn biến

hòa bình” bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam

Trang 27

23

Như vậy, tinh thần khoan dung của Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện trong lĩnh vực cụ thể, mà còn rộng hơn, nó thể hiện trong cả suy nghĩ và hành động của Nguời Chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng, không chỉ trong tư tưởng mà còn trong hoạt động thực tiễn, tư tưởng khoan dung của dân tộc được Hồ Chí Minh thể hiện rất điển hình Tuy nhiên, vấn đề nó chưa được tìm hiểu nhiều, nhất là trong việc Hồ Chí Minh vận dụng tinh thần khoan dung đó vào xây dựng khối đoàn kết dân tộc, tôn giáo để bảo

vệ và xây dựng Tổ quốc trước sự chống phá của các thế lực thù địch, nhằm bảo tồn và phát triển dân tộc Vấn đề này đặt ra cho chúng ta khi nghiên cứu, cần làm rõ tinh thần khoan dung đó của Hồ Chí Minh như thế nào trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay

1.2.4 Nhóm công trình khoa học nghiên cứu về tình hình tôn giáo nói chung

và thực tiễn chính sách tôn giáo ở tỉnh Thái Bình những năm đổi mới vừa qua

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tôn giáo với văn hóa, tôn giáo với chính trị, tôn giáo với kinh tế, hay tôn giáo trong quan hệ quốc tế nhằm làm rõ vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội hiện đại, trong những năm gần đây, khoa học hiện đại nghiên cứu

về quan hệ của tôn giáo trong đời sống hiện thực đã tạo ra những bước đột phá mới trong nghiên cứu tôn giáo như: Cuốn sách của Samuel Huntington, Đại học Harvard(1996),

The Clash of Civilizations and the Remaking of the World Order, (Sự va chạm của các nền văn minh và sự hình thành trật tự thế giới mới) Tác giả nhận định, trong thời kỳ hậu

chiến tranh, văn hóa, tôn giáo trở thành các nhân tố cơ bản quyết định vấn đề chiến tranh

và hòa bình thế giới Lý thuyết toàn cầu hóa của Samuel Huntington nhấn mạnh ảnh hưởng của tôn giáo đến bản sắc chính trị và khu vực Ông miêu tả chính trị thế giới thời

kỳ này như là một hệ thống đa cực gồm 9 nền văn minh: phương Tây, Mỹ-Latinh, châu

Phi, thế giới Hồi Giáo, Trung Hoa, Hin đu, Cơ đốc chính thống, Phật giáo và Nhật Bản

Trạng thái cân bằng quyền lực đang chuyển từ Tây sang Đông, đưa các giá trị phương Tây cọ sát với giá trị của cácnền văn hóa phương Đông Ông nhấn mạnh, tôn giáo là yếu

tố trung tâm quyết định đặc điểm của nền văn minh và các tôn giáo lớn là nền tảng của các nền văn minh lớn

Cuốn sách của Eric-O.Hanson (2006), Religion and Politics in the International

System Today, (Tôn giáo và chính trị trong hệ thống thế giới toàn cầu hóa) Tác

Trang 28

24

giảnghiên cứu, phân tích vai trò của tôn giáo trong bốn hệ quy chiếu của thế giới toàn cầu

hóa gồm: Hệ thống chính trị, hệ thống kinh tế; hệ thống quân sự và hệ thống thông tin

toàn cầu Tiếp đó, tác giả khẳng định, trong toàn cầu hóa tình trạng cạnh tranh và bất

bình đẳng vẫn là vấn đề lớn đối với mọi quốc gia Sự bất đồng về kinh tế, đặc biệt là bất bình đẳng về phân phối thu nhập là mảnh đất mầu mỡ để tôn giáo phát triển; đặc biệt là các nhóm cực đoan, cấp tiến là động cơ cho nhiều phong trào tôn giáo, lao động và môi trường hợp lực đấu tranh cho sự bình đẳng Trong hệ thống quân sự toàn cầu, đó là vấn

đề chiến tranh và hòa bình giữa các quốc gia, hay trong nội bộ một quốc gia Thời kỳ chiến tranh lạnh, nhiều tổ chức tôn giáo đã tham gia vào phong trào phản chiến, nhiều nhà thờ và giám mục đã tuyên bố ủng hộ lựa chọn hòa bình Trong hệ thống thông tin liên lạc toàn cầu làm vấn đề bản sắc cá nhân và cộng đồng càng nổi trội Quá trình quốc

tế hóa thông tin, truyền thông diễn ra nhanh chóng, rất nhiều nhà lãnh tụ tôn giáo đã sử dụng công nghệ thông tin để truyền bá tư tưởng của họ và duy trì các mối liên hệ với cộng đồng Từ việc phân tích vai trò của tôn giáo trong bốn hệ quy chiếu của thế giới toàn cầu hóa, tác giả đi đến khẳng định tôn giáo có ảnh hưởng rất to lớn đối với sự phát triển của toàn nhân loại Vì vậy, ông đề nghị cần phải loại bỏ tất cả những hình thức, định kiến và phân biệt đối xử với tôn giáo; đồng thời tôn trọng quyền tự do tôn giáo trên cơ sở Công ước quốc tế

Cuốn sách của các tác giả Jonathan Fox và Shmuel Sandler (2006), Bringing

Religion into International Relations, (Tự do tôn giáo trong quan hệ quốc tế) Các tác giả

đã bàn về tự do tôn giáo trong quan hệ quốc tế, bằng việc đưa ra các luận cứ về quyền tự

do tôn giáo được quy định trong nhiều hiệp định, hiệp ước quốc tế như trong Tuyên ngôn

nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948 đề cập đến quyền tự do suy nghĩ, tự do tín

ngưỡng và tự do tôn giáo Trong Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về việc xóa bỏ mọi hình

thức không khoan dung và phân biệt đối xử về tôn giáo hoặc tín ngưỡng và thay vào đó

là nội dung mới bao gồm nhiều quyền khác liên quan đến tôn giáo như: Quyền được tự

do hành lễ và hội họp; tự do duy trì nơi hành lễ; thành lập và duy trì các tổ chức tôn giáo

từ thiện; tự do tiếp cận với tài liệu tôn giáo, tự do hành đạo, tự do lựa chọn nhà lãnh đạo tôn giáo; tự do quyên góp và nhận tiền quyên góp tự nguyện; tự do duy trì liên lạc với

Trang 29

25

các thành viên cùng tôn giáo trong nước và ngoài nước Từ việc đưa ra các luận cứ trên các ông đã phân tích quyền tự do tôn giáo trong quan hệ quốc tế là một trong những quyền cơ bản của con người cần được tôn trọng Cuốn sách của Max Weber (Sách dịch

sang tiếng Việt), (2010), Nền đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản,

NXBTri thức, Hà Nội Tác giả cho rằng, một trong các điểm nổi bật của tôn giáo là gắn với nền đạo đức một xã hội, không phải giáo thuyết đạo đức của một tôn giáo, mà chính

là ứng xử đạo đức giáo thuyết đó quy định Từ đó, Max Weber liên hệ với các nước phương Tây điển hình như ở Mỹ, việc tham gia vào các hoạt động tôn giáo là cần thiết vì trong nền dân chủ này, dù ở địa vị xã hội nào, mỗi người muốn được xã hội chấp nhận phải tích cực tham gia vào các câu lạc bộ, các giáo phái, hội đoàn Nhờ đó, tạo nên các giá trị văn hóa cộng đồng rộng lớn ở phương Tây

Trong cuốn sách của Lê Thanh Bình, Đỗ Thanh Hải (đồng chủ biên) (2012),Tôn

giáo và quan hệ quốc tế, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Tác giả chỉ ra, những thập

niên cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, tình hình tôn giáo trên thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà khoa học cũng như các nhà quản lý và các nhà hoạt động thực tiễn; đồng thời tác giả chỉ ra hiện nay vấn đề tôn giáo vẫn diễn biến hết sức phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây bất

ổn định Từ đó, các tác giả khẳng định chính sách ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta hiện nay cần chủ động đối thoại; đặc biệt là những vấn đề về quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân nhằm đảm bảo sự hài hòa, ổn định lâu dài vì lợi ích chung của quốc gia dân tộc Việt Nam Tuy nhiên, những cuốn sách của các tác giả nêu trên, chưa tập trung đi sâu nghiên cứu khía cạnh văn hóa tâm linh của tôn giáo, góp phần củng cố hòa bình cho nhân loại

Nghiên cứu về tôn giáo nhằm làm rõ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, có rất nhiều nhà khoa học quan tâm đến vấn đề này

như: Đỗ Quang Hưng(chủ biên) (2008),Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam lý

luận và thực tiễn, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Các tác giả đã chỉ ra bối cảnh quốc tế

của vấn đề tôn giáo ở Việt Nam thế kỷ XX và những kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo Qua đó, các

Trang 30

26

tác giả khẳng định chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trên cơ sở pháp luật Việt Nam

Cuốn sách của Nguyễn Đức Lữ (chủ biên) (2011), Lý luận về tôn giáo và chính

sách tôn giáo ở Việt Nam, NXB Tôn giáo, Hà Nội Các tác giả chỉ ra, quan điểm của chủ

nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, liên hệ tình hình tôn giáo trên thế giới và một số đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam hiện nay cùng với những xu hướng biến động của tôn giáo Từ đó, các tác giả đề xuất một số phương hướng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong việc thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước đối với tôn

giáo.Cuốn sách của Nguyễn Hồng Dương (chủ biên) (2012), Quan điểm đường lối của

Đảng về tôn giáo và những vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị quốc

gia, Hà Nội Các tác giả làm rõ quá trình nhận thức của Đảng về công tác tôn giáo và chính sách tôn giáo qua các cương lĩnh, văn kiện, nghị quyết của Đảng từ khi đổi mới đến nay Qua đó, các tác giả đi đến kết luận trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo sẽ vẫn tồn tại cùng dân tộc, đòi hỏi Đảng và nhà nước ta tiếp tục đổi mới các quan điểm, chính sách đối với tín ngưỡng, tôn giáo làm cho chức sắc, tín đồ yên

tâm hành đạo, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân “sống tốt đời, đẹp đạo” Tuy nhiên, các

công trình nghiên cứu khoa học nêu trên chủ yếu tập trung vào nghiên cứu các quan điểm, đường lối của Đảng về tôn giáo và công tác tôn giáo, chưa tập trung đi sâu nghiên cứu sự vận dụng tư tưởng nhân văn trong xây dựng khối đoàn kết tôn giáo của Hồ Chí Minh

Ngoài các sách chuyên khảo nêu trên, còn có nhiều bài viết của các tác giả nhằm

làm rõ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân

như: Bài viết của tác giả Lê Quang Vịnh (2000), “Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín

ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo”, Tạp chí Cộng sản(6) đã làm rõ

quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được luật pháp Việt Nam quy định; đồng thời chỉ ra Đảng và Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân Bài viết của GS.TS Đỗ Quang Hưng (2006), “Vấn đề tôn giáo trong văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng cộng sản”,

Trang 31

27

Tạp chí Thông tin Công tác Tư tưởng – Lý luận(6), đã chỉ ra quá trình nhận thức của

Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo Từ Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày

16/10/1990 của Bộ Chính trị khoá VI về “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình

mới” là dấu mốc mở đầu cho bước ngoặt phát triển về nhận thức; đồng thời chỉ ra hai

luận đề có tính đột phá về nhận thức Tác giả nhấn mạnh kể từ sau Nghị quyết 24 nói trên, Đảng ta còn có nhiều văn kiện khác khẳng định và phát triển tư duy đổi mới về tôn giáo; đặc biệt là Chỉ thị 37-CT/TW ngày 2/7/1998 của Bộ Chính trị về công tác tôn giáo

trong tình hình mới, một văn kiện quan trọng lần đầu tiên được đăng tải công khai trên

báo Nhân dânvà hàng loạt báo khác Tiếp đó tác giả chỉ ra từ năm 1990 đến 2003, đã có

13 văn kiện về các vấn đề tôn giáo gồm 2 nghị quyết, 2 chỉ thị, 9 thông báo Trong Sau

đó, tác giả đi đến khẳng định văn kiện Đại hội X có nói đến các tôn giáo hợp pháp và việc được pháp luật bảo hộ khi các tổ chức tôn giáo ấy hoạt động theo pháp luật

Bài viết của Nguyễn Thanh Xuân (2012),“Đảng và Nhà nước luôn tôn trọng tự do

tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân”,Tạp chí Công tác Tôn giáo (1+2) Tác giả khẳng định

từ khi đổi mới đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Qua đó, tác giả đề xuất những giải pháp nhằm củng cố, tăng cường công tác QLNN về tôn giáo những năm đổi mới tiếp theo

Tại tỉnh Thái Bình, nghiên cứu công tác QLNN về tín ngưỡng, tôn giáo, là chủ đề

chính được Tỉnh ủy, UBND tỉnh cùng với các nhà làm công tác tôn giáo quan tâm nghiên cứu như: Trong luận văn lý luận chính trị cao cấp của Phạm Văn Bảng (2001),

Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về hoạt động tôn giáo ở tỉnh Thái Bình trong thời kỳ đổi mới Tác giả chỉ ra cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề tôn giáo, trong đó

nhấn mạnh đến quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo Qua đó, tác giả đề xuất một số kinh nghiệm nhằm làm tốt công tác QLNN về tôn giáo.Luận văn lý luận chính trị cao cấp của Bùi Quang Thanh

(2002), Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về hoạt động tôn giáo ở Thái Bình trong

thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tác giả bước đầu làm rõ quan điểm của chủ nghĩa

Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo và việc giải quyết vấn đề tôn giáo Từ đó, tác giả vận dụng vào công tác QLNN

Trang 32

28

về hoạt động tôn giáo ở Thái Bình trong thời kỳ đổi mới; đồng thời làm rõ những nhiệm

vụ và giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác QLNN về tôn giáo ở tỉnh Thái Bình trong giai đoạn đổi mới hiện nay

Ngoài các luận văn nêu trên, những năm đổi mới vừa qua xuất hiện các đề tài khoa học nghiên cứu chuyên sâu về tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo ở địa phương như: Ban Tôn giáo tỉnh Thái Bình chủ trì, chủ nhiệm đề tài Phạm Văn Bảng (2003),

Thực trạng cán bộ làm công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo ở Thái Bình, những giải pháp nâng cao vai trò đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo, đề tài

chỉ ra tình hình tôn giáo và đội ngũ cán bộ làm công tác QLNN về tôn giáo ở Thái Bình

ở ba cấp tỉnh, huyện, xã, chỉ ra những mặt thuận lợi và khó khăn trong công tác QLNN

về tôn giáo ở địa phương Thái Bình Từ đó, đề tài đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao vai trò, chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác QLNN về tôn giáo, trong

đó đề tài nhấn mạnh đến việc kiện toàn đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực làm công tác QLNN về tôn giáo Trường Chính trị tỉnh Thái Bình (2006) với đề tài khoa học,

Phát triển đảng viên trong đồng bào Công giáo Đây là công trình khoa học góp phần

xây dựng và phát triển Đảng viên trong đồng bào tôn giáo; đặc biệt là đạo Công giáo

Tiếp đó, Trường Chính trị tỉnh Thái Bình (2007) đề tài, Xử lý tình huống vi phạm tôn

giáo Đây là công trình rất có giá trị, góp phần quan trọng vào việc giải quyết những tình

huống mâu thuẫn phát sinh về tôn giáo trong đời sống xã hội Ban tôn giáo tỉnh Thái

Bình (2006) thực hiện đề tài khoa học, Thực trạng và giải pháp quản lý đối với các điểm

nhóm theo các hệ phái của đạo Tin lành ở Thái Bình trong tình hình mới Đây là công

trình khoa học có ý nghĩa trong việc QLNN về các điểm nhóm theo các hệ phái của đạo Tin lành ở tỉnh Thái Bình, đặc biệt là những điểm nhóm Tin lành đang hoạt động, nhưng chưa được Nhà nước và UBND tỉnh công nhận

Bên cạnh các sách chuyên khảo tiêu biểu nêu trên, còn có các bài viết về chính sách tôn giáo và công tác QLNN về tôn giáo ở Thái Bình như: Đàm Văn Vượng,Trưởng

Ban Tuyên giáo tỉnh Thái Bình đăng trên cổng thông tin điện tử http://btgcp.gov.vn của

Ban tôn giáo Chính phủ (2012) với bài viết, “Thái Bình thực hiện tốt chính sách tín

ngưỡng, tôn giáo góp phần giữ vững ổn định chính trị, tăng cường củng cố quốc phòng,

Trang 33

29

an ninh bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” Tác giả đã chỉ ra tỉnh Thái Bình trong quá trình hình thành và phát triển cho đến ngày nay có 3 tôn giáo chính được Nhà nước công nhận là Phật giáo, Công giáo và Tin lành Tiếp đó, tác giả chỉ ra những cống hiến, đóng góp của đồng bào tôn giáo trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược Ngày nay, bà con theo đạo đang phát huy truyền thống quê hương,

xây dựng cuộc sống "tốt đời, đẹp đạo” Qua đó, tác giả đưa ra phương thức giải quyết

các vấn đề phát sinh trên lĩnh vực tôn giáo ở tỉnh Thái Bình nhằm đảm bảo hiệu quả, chính xác Các bài viết trên, chủ yếu tập trung nghiên cứu công tác QLNN về tôn giáo nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trên cơ sở pháp luật Việt Nam, chưa đi sâu nghiên cứu sự vận dụng giá trị nhân văn của Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng khối đoàn kết tôn giáo

Nghiên cứu tôn giáo với tư cách làmặt đời sống văn hóa tinh thần và sự ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống xã hội, có các công trình khoa học tiêu biểu như:

Luận án của Hồ Trọng Hoài (1995), Vai trò xã hội của tôn giáo ở Việt Nam hiện

nay-Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án của Lê Hữu Tuấn (1999), Ảnh hưởng của những tư tưởng triết học Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần ở Việt Nam Mỗi

luận án đều có cách tiếp cận vấn đề riêng, nhưng nhìn chung các luận án nêu trên đều tìm cách giải mã nguồn gốc, bản chất của tôn giáo cũng như sự ảnh hưởng của nó trong đời

sống xã hội Việt Nam Luận án của Lê Văn Lợi (2008),Ảnh hưởng của văn hóa tôn giáo

trong đời sống tinh thần xã hội Việt Nam hiện nay Tác giả, đã dựa trên quan điểm của

chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và kế thừa một số thành tựu nghiên cứu đại cương về văn hóa và tôn giáo, phân tích bản chất của văn hóa tôn giáo Qua đó, tác giả chỉ ra tác động mang tính đặc thù của văn hóa tôn giáo với một số lĩnh vực của đời sống

xã hội Việt Nam, làm rõ một số nguyên tắc và phương pháp nhằm khai thác, phát huy mặt tích cực của văn hóa tôn giáo phục vụ cho công cuộc xây dựng xã hội mới

Ngoài ra các công trình khoa học nêu trên, còn có các bài viết của các nhà khoa

học đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa tôn giáo và triết học, hay văn hóa, đạo đức tôn

giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống xã hội như:Bài viết của tác giả Lê Cộng Sự

(2007), “Mối quan hệ giữa triết học và tôn giáo”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam(7)

Trang 34

30

trên trang báo điện tử Viện thông tin khoa học xã hội Tác giả nhận định, triết học và tôn giáo là hai hình thái ý thức xã hội có tính đa dạng, phức tạp xét về nguồn gốc hình thành, nội dung hàm chứa, đối tượng phản ánh, phương thức biểu đạt, phương pháp tiếp cận, chức năng xã hội, hình thái biểu hiện và lịch sử phát triển khác nhau Do đó, để hiểu mối quan hệ giữa hai hình thái ý thức xã hội trên, bài viết của tác giả bắt đầu bằng việc phân tích quan hệ giữa thế giới quan thần thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học; thông qua đó tác giả chỉ ra sự tác động biện chứng, đan xen giữa triết với tôn giáo trên phương diện thế giới quan, nhân sinh quan

Bài viết của Hoàng Thị Lan (2012), “Phật giáo với việc bảo tồn, phát huy giá trị

văn hóa truyền thống Việt Nam”,Tạp chí Công tác Tôn giáo (8) Tác giả chỉ ra, quá trình

du nhập của Phật giáo vào Việt Nam và sự tiếp nhận của dân tộc Việt Nam trên nền tảng văn hóa bản địa, góp phần làm phong phú, sâu đậm bản sắc dân tộc Qua đó, đi đến khẳng định Phật giáo vẫn đã và đang tiếp tục sứ mạng của mình góp phần làm giàu, làm đẹp, làm phong phú thêm cho nền văn hóa dân tộc, góp phần nuôi dưỡng, phát huy truyền thống văn hóa Việt Nam Bài viết của Ngô Thị Xuân Lan (2012), “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo tham gia đóng góp tích cực cho

công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, Tạp chí Công tác Tôn giáo(8) Tác giả khẳng

định, bất cứ tôn giáo cũng có một hệ thống chuẩn mực và giá trị đạo đức nhằm điều chỉnh ý thức và hành vi của tín đồ, những giá trị đạo đức đó được thể hiện ở giáo lý, giáo luật, lễ nghi hay những quy định mà tín đồ bắt buộc tuân theo và thực hành Tác giả dẫn chứng một số chuẩn mực đạo đức mang tính nhân văn trong đạo Công giáo, Phật giáo, Tin lành, Cao Đài.v.v Qua đó, tác giả kiến nghị Đảng, Nhà nước và các cơ quan hữu trách cần phải tiếp tục phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo ở Việt

Nam nhằm làm cho “nước vinh, đạo sáng”.Tại tỉnh Thái Bình những năm đổi mới vừa

qua, có một số công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu về tín ngưỡng, tôn giáo nhằm

làm rõ sự ảnh hưởng tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống xã hội và công tác QLNN về tín

ngưỡng, tôn giáo ở địa phương hiện nay như: Luận văn của Nguyễn Thị Hồng Thuận

(2009), Ảnh hưởng của tín ngưỡng dân gian đối với đời sống xã hội ở tỉnh Thái B́ình

hiện nay Tác giả chỉ ra, các loại hình tín ngưỡng dân gian ở Thái Bình và đi sâu phân

Trang 35

31

tích sự ảnh hưởng của nó đối với đời sống xã hội; đồng thời đưa ra những giải pháp mang tính khả thi nhằm khôi phục và phát triển các loại hình tín ngưỡng dân gian ở địa phương Thái Bình hiện nay Nhìn chung, các các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả nêu trên, đều khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trong đời sống xã hội là hợp pháp và cần thiết Vì vậy, yêu cầu đặt

ra phải tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi và hoàn hiện cơ chế, chính sách, luật pháp nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.Qua tìm hiểu, đánh giá các công trình nghiên cứu khoa học đi trước về tôn giáo và đoàn kết tôn giáo; tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trên phạm vi cả nước nói chung và tại địa bàn tỉnh Thái Bình nói riêng, tác giả khẳng định luận án còn có những vấn đề đặt ra, cần tiếp tục nghiên cứu

Xuất phát từ việc nghiên cứu các công trình khoa học tiêu biểu nêu trên, tác giả nhận thấy đề tài luận án còn có những vấn đề mới đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ:

Một là;nghiên cứu rút ra khái niệm giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh

về đoàn kết tôn giáo

Hai là;nghiên cứu cơ bản và có tính hệ thống nội dung giá trị nhân văn trong tư

tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo

Ba là; đề xuất những phương hướng chủ đạo và các giải pháp mang tính

khả thi trên cơ sở vận dụng sáng tạo giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh

về đoàn kết tôn giáo nhằm thực hiện tốt việc xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình những năm đổi mới tiếp theo

Trên tinh thần học hỏi, cầu thị, tiếp thu và kế thừa những kết quả đạt được của các công trình nghiên cứu khoa học trước đó vào thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, luận án tiếp tục đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống những vấn đề liên quan đến giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo Từ đó, tìm

ra những đặc điểm riêng ở tỉnh Thái Bình trên cơ sở vận dụng sáng tạo giá trị nhân văn của Người vào công tác xây dựng khối đoàn kết tôn giáo trong giai đoạn đổi mới hiện nay Qua đó, góp phần vào viê ̣c củng cố, tăng cường hơn nữa khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình những năm đổi mới tiếp theo

Trang 36

32

Chương 2 GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO

2.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận án

2.1.1 Khái niệm “nhân văn”, “tư tưởng nhân văn” và “tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh”

* Khái niệm “nhân văn”

Trong những năm vừa qua, có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm nhân văn, nhưng hầu hết chưa có một khái niệm nào được coi là hoàn chỉnh để làm nền tảng cho việc nghiên cứu, học thuật chuyên sâu Vì bản thân khái niệm có nội hàm rất phong phú và phức tạp, gắn với nó là phạm trù mang tính lịch sử, mỗi thời kỳ khác nhau, mỗi chế độ xã hội khác nhau sẽ có quan niệm khác nhau về nội hàm khái niệm “nhân văn”

và “tư tưởng nhân văn”

Ở phương Tây, ban đầu người ta sử dụng thuật ngữ gốc Latinh là Studia Humanitatis nghĩa là chủ nghĩa nhân văn Thuật ngữ này dùng để chỉ các môn học của người Hi Lạp cổ đại như: Văn học, nghệ thuật, đạo đức đây là những môn học liên quan đến con người, tư cách sống, tư duy trí tuệ của con người Theo cách hiểu trên, thì đây là tư tưởng lấy con người làm trung tâm, xuất phát từ sự tôn trọng giá trị con người,

đề cao phẩm giá của con người, yêu thương con người và cuộc sống trần thế Ngoài ra, còn có cách hiểu khác khi đồng nhất khái niệm nhân văn với nhân đạo như Humanism (Anh), Humanisme (Pháp), Gumanizm (Nga) đã đồng nhất nhân văn = nhân đạo, với ý nghĩa chỉ phẩm giá của con người với tư cánh một chủ thể nhân ái

Khái niệm “nhân văn” ở phương Đông được hiểu là văn hóa, giáo hóa Sách Kinh dịch có viết: “Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ, nghĩa là: “Xem xét nhân văn để giáo hóa cho toàn thiên hạ”” [55, tr 173]

Ở Việt Nam, khái niệm nhân văn được nhiều tác giả đề cập đến như theo nhà nghiên cứu Hồ Bá Thâm cho rằng: “Phạm trù nhân văn không chỉ bao hàm tính nhân văn, nhân đạo mà còn cao hơn thế Nhân văn là vươn tới không chỉ cái đúng, vì lẽ phải, vươn tới tình thương mà còn vươn tới cái đẹp, cái cao thượng Do vậy, phạm trù nhân văn bao hàm cả phạm trù nhân bản, nhân đạo và cái đẹp ở con người ” [117, tr 6-7] Theo nhà nghiên cứu Thành Duy nhận định, để đi tìm một định nghĩa về khái niệm

Trang 37

33

“nhân văn” trong truyền thống có thể nêu khái quát thành bốn hàm nghĩa sau: “Hàm nghĩa thứ nhất là lòng nhân từ, thương xót Hàm nghĩa thứ hai là lòng thương xót của quân vương hoặc chính phủ đối với thần dân Hàm nghĩa thứ ba xuất hiện từ thế kỷ XVIII ở Châu Âu, lấy nhân quyền làm trung tâm Hàm nghĩa thứ tư là cách hiểu phổ biến của những người Mác-xít, lấy nhu cầu cơ bản của con người làm trung tâm” [Xem

30, tr 51].Qua nghiên cứu khái niệm “nhân văn”, có thể khái quát lại ở một số đặc điểm

cơ bản sau:

Một là; lấy con người làm trung tâm, muốn giải thoát khỏi sự đè nén, áp bức, bất

công trong xã hội

Hai là;có tình yêu thương đồng loại, hiểu biết và quý trọng tự nhiên Tình yêu

thương đó có khi trở nên sâu sắc, rộng khắp đến vô hạn - biểu hiện của lòng từ bi, bác ái

Ba là;đề cao giá trị tự do và quyền tự nhiên của con người về hưởng thụ các giá

trị vật chất và tinh thần như: quyền được sống, tự do, mưu cầu hạnh phúc

Bốn là;có văn hóa, biết tích lũy kinh nghiệm sống và phát triển để trở thành văn minh Năm là,có tri thức, trí tuệ và khát vọng vươn lên trong cuộc sống

* Khái niệm tư tưởng nhân văn

Tư tưởng nhân văn (hay chủ nghĩa nhân văn) là một khái niệm để chỉ giá trị tinh thần chung của nhân loại Theo nhà nghiên cứu Đào Duy Anh viết: “Chủ nghĩa nhân văn

là một thứ chủ trương của học giả Âu Châu hồi thế kỷ XV, là hội văn nghị (nghệ) phục hưng bài xích cái cũ không tưởng của Cơ đốc giáo mà lấy nhân loại làm đối tượng nghiên cứu Họ chủ trương nghiên cứu văn nghị (nghệ) Hy Lạp xưa (Humanisms)” [Xem 1,tr 66].Dưới góc độ triết học, khái niệm “Chủ nghĩa nhân văn là toàn bộ những quan niệm đạo đức, chính trị, bắt nguồn từ cái không phải siêu nhiên, kỳ ảo, từ những nguyên lý không ngoài đời sống nhân loại mà từ con người tồn tại thực tế và hiện thực của nó Từ những nhu cầu khả năng ấy đòi hỏi phải được phát triển đầy đủ, phải được thỏa mãn” [156, tr 5-6]

“Ơ cấp độ thế giới quan, chủ nghĩa nhân văn là toàn bộ những tư tưởng, tình cảm quý trọng các giá trị như trí tuệ, tình cảm, phẩm giá, sức mạnh, vẻ đẹp Chủ nghĩa nhân văn không phải là một khái niệm đạo đức đơn thuần mà bao hàm cả cách nhìn nhận,

Trang 38

34

đánh giá con người về nhiều mặt (vị trí, vai trò, khả năng, bản chất) trong quan hệ tự

nhiên, xã hội, con người” [156, tr 75-76] Từ sự phân tích trên cho thấy, tư tưởng nhân

văn (hay chủ nghĩa nhân văn) là quan niệm đề cập đến số phận, tâm trạng, nguyện vọng của con người muốn giải tỏa khỏi bế tắc trong cuộc sống, giải thoát khỏi hạn chế ràng buộc của tự nhiên, xã hội và của chính bản thân con người Thực chất đó là trào lưu tư tưởng bàn đến con người, được hiểu như tư tưởng nhân đạo hay chủ nghĩa nhân đạo

* Khái niệm “tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh”

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh có thể là một sự hình thành ngẫu nhiên thú vị, hay một tất yếu hợp lôgíc; nhưng đúng hơn là quy luật phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước,phản ánh trong nhận thức và hành động của Hồ Chí Minh Đó là sự kết hợp hài hòa giữacác giá trịtruyền thống của dân tộc Việt Nam với tinh hoa văn hóa của nhân loại, mà cốt lõi nhất là tư tưởng nhân văn cộng sản chủ nghĩa được Hồ Chí Minh vận dụng vào điều kiện lịch sử - cụ thể của dân tộc Việt Nam nhằm cứu nước, giải phóng dân tộc, giai cấp, con người; đồng thời góp phần thiết thực vào sự nghiệp đấu tranh cho tự do, hòa bình

của nhân loại.Nhận định trên cho thấy, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là hệ thống

những quan điểm về con người, cách ứng xử với mình, với người, với việc và với các sự vật, hiện tượng khác Tất cả đều cho con người, vì con người nhằm tiến tới giải phóng triệt để con người khỏi áp bức bóc lột, bất công trong xã hội, thấm đượm tinh thần dân tộc và quốc tế trong sáng

Như vậy, khái niệm “tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh” đề cập đến ba nội dung cơ bản:

Một là; những quan niệm, quan điểm của Hồ Chí Minh về con người, về bản

chất, vị trí, vai trò của con người trong xã hội

Hai là; đề cập đến quyền và nghĩa vụ của con người phải được đảm bảo và thực

thi trong xã hội

Ba là; cách ứng xử với mình, với người, với việc Tất cả cho con người, vì con

người nhằm hướng tới giải phóng triệt để con người

2.1.2 Khái niệm Lương - Giáo, đoàn kết, đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh

* Khái niệm “Lương - Giáo”

Trang 39

35

Khái niệm “Lương - Giáo” xuất hiện từ thời nhà Nguyễn Theo đó, Lương là chỉ

những người Việt Nam không theo đạo Thiên Chúa Như vậy, ta có thể hiểu rằng: tất cả những người không theo Công giáo, những người theo Phật giáo, Nho giáo thuộc bên

Lương; người theo đạo Công giáo được gọi là Giáo Tuy nhiên, khái niệm này có sự phát

triển qua các thời kỳ Sau này, Lương là khái niệmđể chỉ những người không theo tôn giáo, còn Giáo là những người có tôn giáo Hồ Chí Minh sử dụng khái niệm Lương-Giáo

ở nghĩa như trên khi Người nói: “Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng

bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hoà thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc

Phải chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng đối với tất cả các tôn giáo” [103 tr 454] Ngày nay, khái niệm “Lương-Giáo” ít người sử dụng vì có sự phân biệt

đối xử với tôn giáo mà thay vào đó là cụm từ những người có tín ngưỡng, tôn giáo và

những người không có tín ngưỡng, tôn giáo

* Khái niệm “đoàn kết”

Khái niệm “đoàn kết” đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử xã hội loài người, ở

Việt Nam xuất hiện từ trong quá trình đấu tranh “dựng nước và giữ nước”, trong tổ chức

xây dựng đời sống chính trị, kinh tế-xã hội, văn hóa Vì vây, trên các phương diện khác nhau, sẽ có những quan niệm và cách tiếp cận khác nhau về đoàn kết

Trên phương diện lý thuyết hệ thống, đoàn kết là sự hợp nhất các nhân tố, các bộ

phận thành một chỉnh thể thống nhất vận động theo quy trình nhất định, tạo nên một tổng hợp lực, nhằm phát huy sức mạnh theo cấp số nhân trên cơ sở liên kết từng bộ phận riêng

lẻ Nó không phải là một phép cộng đơn giản, máy móc của từng cá nhân lại với nhau để thành một tổng số, mà là quá trình tích lũy từ sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi căn bản về chất trong lý thuyết hệ thống

Trên phương diện tổ chức, đoàn kết dùng để chỉ một cấp độ cao của sự tập hợp

mang tính tự giác của từng cá nhân, của tổ chức Trong tập hợp đó có tính cố kết, liên kết, ràng buộc, chế định lẫn nhau, nếu thiếu nó sẽ không thể thực hiện thắng lợi được các mục tiêu và nhiệm vụ của tổ chức đề ra Sự thống nhất trong đa dạng của tổ chức sẽ tạo

nên tính năng động, sáng tạo của tổ chức Đó chính là sự thống nhất giữa “cái chung và

Trang 40

36

cái riêng”, “cá nhân và tập thể” trong tổ chức xây dựng đời sống chính trị, kinh tế-xã

hội, văn hóa

Trên phương diện kinh tế, đoàn kết là một quá trình giải quyết những mâu thuẫn,

xung đột về lợi ích, để đi đến những thỏa thuận chung mà mọi người có thể chấp nhận được, dựa trên nguyên tắc đảm bảo quyền và lợi ích cho từng nhóm đối tượng trong xã

hội Đó là sự kết hợp hài hòa giữa “lợi ích chung và lợi ích riêng”, “lợi ích cá nhân và

lợi ích tập thể” Sự đoàn kết đó chỉ có thể được xác lập trên cơ sở công bằng, bình đẳng

trong các quan hệ sản xuất; đặc biệt là quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất và phân phối sản phẩm Đoàn kết phải được xây dựng trên quan hệ lợi ích, coi lợi ích chính là động lực cho sự phát triển chung của xã hội

Trên phương diện xã hội, đoàn kết là sự đồng thuận, đồng tâm, đồng lòng, nhất trí

của các thành viên trong xã hội Mọi người thống nhất với nhau cùng hành động vì mục tiêu chung Cho dù có sự khác biệt nhất định về quan điểm, suy nghĩ; nhưng thông qua mục tiêu chung, các thành viên tìm thấy lợi ích và quyền lợi của mình, tìm thấy chỗ đứng của mình trong xã hội Đó là mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng

Trên phương diện văn hóa, đoàn kết chính là một nét đẹp văn hóa của con người

và xã hội loài người Đoàn kết không chỉ là một bản năng bẩm sinh mà còn là một đức tính, một hành vi ứng xử thể hiện giá trị nhân văn cao cả, thể hiện tính xã hội của con người cùng chung tay, góp sức nhằm bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa của nhân loại

Trên phương diện tâm lý, đoàn kết là sự khoan dung, độ lượng, nhân ái coi trọng

tình thương và lẽ phải Nó bắt nguồn từ tính nhân văn trong mỗi con người Đồng thời cũng là yếu tố để mỗi thành viên hòa mình vào cộng đồng, vào xã hội

Để hiểu rõ hơn khái niệm đoàn kết, chúng ta có thể tham khảo một số khái niệm của một số nhà nghiên cứu sau:

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ, thuật ngữ đoàn kết được hiểu như

sau: “Đoàn kết là đồng lòng kết thành khối, thành nhóm chặt chẽ” [73, tr 281].Thống nhất với khái niệm trên, tác giả Nguyễn Như Ý đã bổ sung và làm rõ hơn nội hàm của

Ngày đăng: 30/03/2017, 06:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1932), Hán-Việt từ điển Giản yếu,NXB Văn Tân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán-Việt từ điển Giản yếu
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Văn Tân
Năm: 1932
2. Kofi Annan (2005), Phải chăng chúng ta vẫn bảo tồn được những giá trị phổ biến?, Tài liệu phục vụ nghiên cứu, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phải chăng chúng ta vẫn bảo tồn được những giá trị phổ biến
Tác giả: Kofi Annan
Năm: 2005
3. Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (đồng chủ biên) (2009), Hồ Chí Minh văn hóa và phát triển,NXB Chính trị-Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh văn hóa và phát triển
Tác giả: Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong
Nhà XB: NXB Chính trị-Hành chính
Năm: 2009
4. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (1990), Kỷ niệm lần thứ 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Tuyên Huấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ niệm lần thứ 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: NXB Tuyên Huấn
Năm: 1990
5. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2000), Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Tài liệu nội bộ, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
6. Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thái Bình (2004), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Bình giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2000, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Bình giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2000
Tác giả: Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thái Bình
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
10. Ban Tôn giáo Chính phủ (2006), Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, NXB Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2006
14. Ban Tôn giáo tỉnh Thái Bình (2010), Báocáo tổng kết công tác QLNN về hoạt động tôn giáo năm 2010 phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác QLNN về hoạt động tôn giáo năm 2010 phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2011
Tác giả: Ban Tôn giáo tỉnh Thái Bình
Năm: 2010
18. Ngô Phương Bá (1993), “Tư tưởng bao dung hòa hợp của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Tạp chí Cộng sản (9),tr.9-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng bao dung hòa hợp của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tác giả: Ngô Phương Bá
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 1993
19. Hoàng Chí Bảo (2002), “Giáo dục và thực hành đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên theo gương Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”,Tạp chí Lịch sử Đảng (2), tr.8-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và thực hành đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên theo gương Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Tạp chí Lịch sử Đảng
Năm: 2002
20. Lê Thanh Bình, Đỗ Thanh Hải (đồng chủ biên) (2012), Tôn giáo và quan hệ quốc tế, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo và quan hệ quốc tế
Tác giả: Lê Thanh Bình, Đỗ Thanh Hải (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2012
21. Trần Đình Châu (1994),Tư tưởng nhân văn trong di sản quân sự của Hồ Chí Minh,Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng nhân văn trong di sản quân sự của Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Đình Châu
Năm: 1994
22. Thích Minh Châu (1995), Những lời đức Phật dạy về hòa bình và giá trị con người, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những lời đức Phật dạy về hòa bình và giá trị con người
Tác giả: Thích Minh Châu
Năm: 1995
23. Nguyễn Trọng Chuẩn (1998), “Vấn đề khai thác những giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển”, Tạp chí Triết học (2), tr.16-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề khai thác những giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1998
24. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (chủ biên) (2002), Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
28. Chính Phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Nghị định Chính phủ về hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (22/NĐ-CP) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định Chính phủ về hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo
Tác giả: Chính Phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2005
29. Nguyễn Thế Doanh (2008), Vai trò của khoan dung tôn giáo và đoàn kết xã hội trong việc kiến tạo nền hòa bình và giữ gìn ổn định xã hội, công bằng xã hội và đoàn kết xã hội, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của khoan dung tôn giáo và đoàn kết xã hội trong việc kiến tạo nền hòa bình và giữ gìn ổn định xã hội, công bằng xã hội và đoàn kết xã hội
Tác giả: Nguyễn Thế Doanh
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2008
30. Thành Duy (2010), Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh trong lòng dân tộc Việt Nam,NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh trong lòng dân tộc Việt Nam
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2010
31. Nguyễn Ngọc Dũng (2005), Hỏi và đáp về Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và các văn bản hướng dẫn thực hiện,NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi và đáp về Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và các văn bản hướng dẫn thực hiện
Tác giả: Nguyễn Ngọc Dũng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2005
32. Nguyễn Hồng Dương (2012), Quan điểm đường lối của Đảng về tôn giáo và những vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay,NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm đường lối của Đảng về tôn giáo và những vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w