Nên ngay đầu cấp THCS thì người giáo viên dạy các bộ môn cần phải nắm bắt được các đối tượng học sinh, phân loại học sinh, tìm ra được các đối tượng học sinh yếu, kém để có kế hoạch dạy
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
I LỜI MỞ ĐẦU
Đánh giá chất lượng giáo dục của một nhà trường không chỉ dựa vào chất lượng mũi nhọn mà còn căn cứ vào chất lượng đại trà Chất lượng đại trà là cơ
sở, là nên móng của chất lượng mũi nhọn Muốn nâng cao chất lượng đại trà thì việc không thể thiếu là dạy phủ đạo cho học sinh yếu kém Ở nước ta, bất cứ trường học nào cũng có học sinh giỏi, học sinh yếu kém Vì vậy, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém là mục tiêu cơ bản hàng đầu, là mối quan tâm lớn đối với sự nghiệp giáo dục hiện nay
Trong thời gian qua Bộ giáo dục và Đào tạo đã có nhiều chủ trương, biện pháp tích cực để nâng cao chất lượng dạy và học Đặc biệt là thực hiện các cuộc
vận động lớn như: Cuộc vận động " Hai không với bốn nội dung", "Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương tự học và sáng tạo", "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực", " Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh",
“Trường học thân thiện, học sinh tích cực”…Song song với các cuộc vận động
đó là các chuyên đề về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Qua việc thực hiện các cuộc vận động và các chuyên đề này đã làm thay đổi khá nhiều về chất lượng giáo dục Tuy có nhiều tiến bộ nhưng chất lượng thật sự của giáo dục hiện nay ở bậc Trung học cơ sở (THCS) còn khá nhiều yếu kém Yêu cầu đặt ra cho chúng
ta là phải tìm ra những nguyên nhân yếu kém một cách chính xác, phải nhìn thẳng vào sự thật một cách khách quan Từ đó đưa ra những giải pháp tích cực sát với thực tế để từng bước nâng cao chất lượng Vấn đề này cần phải có thời gian, công sức của mọi người trong toàn xã hội
Trung học cơ sở là cấp học mang tính chất kế thừa kiến thức ở bậc tiểu học
và khởi đầu cho việc hình thành vốn kiến thức cơ bản cho học sinh, làm nền tảng vững chắc cho cấp học Trung học phổ thông, Cao Đẳng, Đại Học Mục tiêu của giáo dục THCS là giúp cho học sinh củng cố và phát triển những kết quả giáo dục ở Tiểu Học, có học vấn phổ thông trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu
về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học Trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động Nên ngay đầu cấp THCS thì người giáo viên dạy các bộ môn cần phải nắm bắt được các đối tượng học sinh, phân loại học sinh, tìm ra được các đối tượng học sinh yếu, kém để có kế hoạch dạy phụ đạo cho phù hợp
Vấn đề dạy học phụ đạo cho học sinh yếu là một hoạt động bình thường và không thể thiếu được trong bất kỳ trường THCS nào Đây chính là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của người thầy, của nhà trường để góp phần giúp cho các học sinh không theo kịp bạn bè có thể nắm bắt được những kiến thức cơ bản
Trang 2nhằm lấp lỗ hổng kiến thức của bản thân Trong đơn vị trường học, việc tổ chức các lớp học phụ đạo cho học sinh yếu kém là việc làm thường xuyên chứ không phải chỉ là phong trào thi đua hoặc để đối phó với một đợt thi hoặc kiểm tra Trong năm học 2014-2015 này tôi được phân công giảng dạy hai lớp 6, môn Ngữ Văn, tôi đã phải từng bước nắm bắt và phân loại đối tương học sinh, lọc ra các học sinh yếu để có kế hoạch dạy phụ đạo cho các em Chính vì thế nên trong khuôn khổ bài viết này, tôi xin được trình bày một số nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng dạy học còn yếu kém ở môn Ngữ Văn lớp tôi phụ trách và đưa ra một số kinh nghiệm để nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ Văn lớp 6 ở trường THCS Nguyệt Ấn hiện nay
II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Thực trạng chung:
Qua tìm hiểu trong quá trình dạy học tại trường trung học cơ sở Nguyệt Ấn
và tham khảo một số trường bạn trong huyện, tôi được biết rằng nội dung này
đã được Ban giám hiệu các nhà trường, các tổ chuyên môn và từng giáo viên triển khai cụ thể, sâu rộng trong kế hoạch chuyên môn theo tháng, tuần Hầu hết
ở các trường, dù ở những mức độ khác nhau, mỗi giáo viên đều đã thể hiện được tinh thần tích cực Song, trên thực tế, chúng ta có thể nhận thấy còn có những giáo viên, tuy rất tâm huyết và tích cực nhưng còn lúng túng trong nội dung và phương pháp trong quá trình dạy học nên hiệu quả thực hiện chưa cao Phần lớn học sinh vẫn có ý thức học tập môn Ngữ Văn, tích cực say mê nghiên cứu để cảm nhận, phân tích các tác phẩm văn học bằng niềm say mê yêu thích môn học của mình Thế nhưng bên cạnh đó vẫn còn không ít những học sinh không say
mê môn học dẫn đến chán chường, bỏ bê, sao nhãng khiến chất lương học môn Ngữ Văn ở trường còn có nhiều yếu kém
2 Thực trạng dạy học Môn Ngữ Văn lớp 6 ở trường THCS Nguyệt ấn
a Về phía GV
Năm học 2014-2015 này nhà trường đã bố trí, phân công hai giáo viên trực tiếp dạy môn Ngữ Văn 6 Trong đó tôi phụ trách dạy hai lớp, và một đồng nghiệp tôi dạy hai lớp còn lại Quá trình giảng dạy chúng tôi đã kết hợp, trao đổi
và cùng với tổ bộ môn Ngữ Văn xây dựng kế hoạch hoạt động giảng dạy phù hợp, hữu hiệu nhất để dạy học sinh Mong muốn của chúng tôi là giúp các em học sinh đầu cấp THCS biết cách học, hiểu và cảm thụ văn chương một cách tốt nhất; làm cho các em không còn ngỡ ngàng với cách học của học sinh lớp đầu cấp nữa, mà ngay từ ban đầu là phải bắt tay vào học tập thật sự có chất lượng Thế nhưng cũng do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan đem lại nên kế hoạch dự định của tôi chưa được thực hiện triệt để Thực tế qua khảo sát đầu năm, môn Ngữ Văn 6 hai lớp ( 6A1, 6A3) do tôi phụ trách vẫn còn trường hợp học sinh học yếu Vì thế mà tôi mong muốn tìm cách khắc phục được trình trạng
Trang 3trên để nâng cao được chất lương học sinh do mình phụ trách nói riêng và cho toàn khối lớp 6 nói chung
b Về phía học sinh:
So với toàn trường, môn Ngữ Văn của khối 6 trường THCS Nguyệt Ấn các
em đã có phần khả quan Các em đã có tinh thần say mê học tập Từ việc nắm bắt được kiến thức lí thuyết của các tiết trong từng phân môn học, các em đã biết vận dung để làm các bài tập trong sách giáo khoa và sách nâng cao (đối với lớp 6A1) Bước đầu tạo được những thuận lợi đáng kể trong quá trình học văn ở đầu cấp được thuận lợi
Mặc dù đã có những bước chuyển mới như vậy, nhưng do những yếu tố khác tác động đến học sinh nên quá trình học tập các em vẫn chậm chạp trong cách tiếp thu bài, dẫn đến hiệu quả học tập qua các tiết dạy còn chưa cao, nhất là
ở lớp 6A3
c Kết quả cụ thể qua lần khảo sát đầu năm học 2014-2015:
Lớp Sĩ
số
Xếp loại
3 Nguyên nhân của thức trạng trên:
a Về nhà trường và giáo viên
Một trong những nguyên nhân phải kể đến đó là do nhà trường còn thiếu cơ
sở vật chất Sinh hoạt chuyên môn nhóm, tổ chưa có kế hoạch, nội dung cụ thể
để trao đổi phương pháp dạy học nên phần nào cũng đã ảnh hưởng đến chất lương dạy học các bộ môn nói chung và môn Ngữ Văn 6 nói riêng
Một phần do giáo viên chưa quan tâm đúng mức, chưa giúp đỡ kịp thời để các em hổng kiến thức cơ bản dẫn đến việc các em ngày một tụt hậu so với trình
độ chung của lớp Hoặc do giáo viên còn lúng túng về phương pháp, khó khăn trong việc xác định nội dung phụ đạo cho các em Hoặc do giáo viên chưa có kế hoạch cụ thể, nóng vội trong quá trình phụ đạo cho các em
b Về phía học sinh
Cấp THCS là cấp đầu tiên mà học sinh phải làm quen với sự thay đổi về môi trường học tập: bạn bè mới, thầy cô giáo mới, mỗi thầy cô lại có một phương pháp riêng, nhiều môn học mới Chính vì sự thay đổi này nên nhiều học sinh còn lúng túng trong quá trình tiếp thu kiến thức
Nhiều em học lệch theo định hướng gia đình và định hướng nghề nghiệp của
xã hội sau này
Địa bàn thuộc vùng xã hội đặc biệt khó khăn (Vùng 135 – Có 5/23 làng thuộc thôn đặc biệt khó khăn giai đoạn, 18 làng còn lại tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn
Trang 4cao) học sinh đa số là con em dân tộc thiểu số (Dân tộc Mường) thuộc diện hộ nghèo, một số học sinh nghèo bố mẹ lại đi làm ăn xa không có người quản lý hoặc quản lý lỏng lẻo; học sinh chưa có đủ đồ dùng, dụng cụ học tập, đi học thất thường, có em đi học trong một tuận chỉ được 2 đến 3 buổi; một số học sinh chưa tự giác học, chưa có động cơ học tập tốt
Vốn từ vựng của các em còn ít nên khả năng diễn đạt chưa tốt; Khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế, chưa mạnh dạn trong học tập do hiểu chưa sâu, nắm kiến thức chưa chắc, thiếu tự tin; một số học sinh lười suy nghĩ, còn trông chờ thầy cô, trình độ tư duy, vốn kiến thức cơ bản lớp dưới còn hạn chế; Khả năng chú ý và tập trung vào bài giảng của giáo viên không bền
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
1 Giải pháp chung:
a Đối với giáo viên giảng dạy Ngữ văn 6:
Giáo viên là người chủ đạo trong việc khắc phục học sinh yếu, thành hay bại
là phần lớn do giáo viên Vì vậy giáo viên là người hết sức quan trọng trong việc khắc phục học sinh yếu Giáo viên được ví như một người huấn luyện viên
trưởng Vì vậy giáo viên cần lưu ý một số biện pháp sau:
- Qua những bài làm kiểm tra cũng như tiết học trên lớp phát hiện
những đối tượng nào yếu - kém lập thành một danh sách rồi kiểm tra lại một lần nữa để phân loại các em theo từng nhóm cụ thể Tìm hiểu, phân tích nguyên nhân để từ đó có biện pháp khác phục hợp lý và có hiệu quả Sau đó báo cáo cho Tổ trưởng và Ban giám hiệu nhà trường để có kế hoạch học phụ đạo cho học sinh
- Đề xuất với Tổ trưởng, Ban giám hiệu nhà trường về cách khắc phụ để tất
cả cùng tập trung giải quyết có hiệu quả tốt nhất
- Chủ động gặp phụ huynh trao đổi về việc học tập của học sinh, cùng với phụ huynh tìm biện pháp khắc phục
- Tiếp theo giáo viên lập kế hoạch phụ đạo học sinh yếu ngoài giờ học chính khóa có thể ở trường, ở nhà (đề xuất với Tổ trưởng, Ban giám hiệu nhà trường, phụ huynh )
- Trong tiết dạy học bình thường giáo viên soạn bài nhất thiết phải có kế hoạch dạy học cho những học sinh yếu Kế hoạch dạy học cho học sinh yếu phải phù hợp với trình độ học sinh đó ở đó
- Phân công học sinh khá, giỏi giúp đỡ bạn ở trường, ở nhà Tạo ra các nhóm học tập, thi đua trong các nhóm có học sinh yếu
- Động viên, tuyên dương kịp thời học sinh có tiến bộ
- Trong buổi sinh hoạt chuyên môn hàng tháng (2 tuần /lần) giáo viên môn Ngữ Văn báo cáo tiến độ tiếp thu bài của những học sinh yếu cho Tổ trưởng và
Trang 5giáo viên trong khối, từ đó giáo viên nào còn vướng mắc thì được tập thể giáo
viên trong khối góp ý bổ sung
b Đối với cán bộ tổ:
- Đấu mối với giáo viên dạy Ngữ Văn 6, lập hợp danh sách học sinh yếu báo cáo Ban giám hiệu nhà trường Tiến hành họp tổ để cùng phân tích nguyên nhân, bàn kế hoạch khắc phục học sinh yếu; lập kế hoạch phụ đạo và trình lên Ban giám hiệu nhà trường; nắm bắt sự tiến bộ của học sinh
c Đối với Nhà trường:
- Họp Hội đồng sư phạm giáo dục nhà trường để bàn tìm biện pháp tối ưu nhất để khắc phục học sinh yếu các môn nói chung và môn Ngữ Văn nói riêng
- Duyệt kế hoạch phụ đaọ học sinh yếu m ôn Ngữ Văn; kiểm tra việc giáo viên dạy phụ đạo ở trường
- Có biện pháp hỗ trợ về vật chất cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học phụ đạo
- Theo dõi và báo cáo cho phòng giáo dục về tiến độ chất lượng học sinh yếu
d Đối với học sinh:
- Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học tập như: sách giáo khoa, sách tài liệu tham khảo, vở ghi…Học bài, làm bài, chuẩn bị bài trước khi đến lớp
- Đi học phải chuyên cần, nghỉ học phải có lý do chính đáng
- Trong giờ học tập trung nghe cô giáo giảng bài, tích cực tham gia trao đổi,
bàn luận, phát biểu bài
e Đối với phụ huynh:
- Tạo điều kiện học tập tốt nhất cho con em mình về thời gian, đồ dùng học tập; thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc con em mình học bài ở nhà
- Thường xuyên liên hệ với giáo viên chủ nhiệm lớp, giáo viên phụ trách các môn học, giáo viên dạy môn Ngữ Văn để nắm được tình hình học tập của con em mình, từ đó giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn cùng trao đổi với phụ huynh
để tìm biện pháp tốt nhất cho con em mình học tập
2 Giải pháp cụ thể
a Công việc chuẩn bị của giáo viên dạy môn Ngữ Văn 6.
* Giáo viên phân loại các đối tượng học sinh
- Phân loại theo hoàn cảnh gia đình, đặc điểm tâm-sinh lí: Giáo viên cần xem xét, phân loại những học sinh yếu đúng với những đặc điểm vốn có của các em
để lựa chọn biện pháp giúp đỡ phù hợp với đặc điểm chung và riêng của từng
em Một số khả năng thường hay gặp ở các em là: Sức khoẻ kém, thiếu tự tin, nhút nhát, bố mẹ không quan tâm hoặc đi làm ăn xa
- Phân loại theo trình độ, khả năng tiếp thu, nhận thức
+ Nhóm yếu về dùng từ, diễn đạt, diễn cảm
+ Nhóm yếu về kĩ năng lập luận dựng đoạn
+ Nhóm yếu về phương pháp làm bài
Trang 6+ Nhóm yếu về phương pháp phân tích cảm thụ văn chương.
- Tạo nhóm học tập: Giáo viên giao nhiệm vụ cho những học sinh khá, giỏi kèm cặp nhóm học yếu Đây là việc làm rất quan trọng Tục ngữ có câu
“ Học thầy không tày học bạn ” Mối quan hệ giữa các thành viên trong nhóm là quan hệ bạn bè gần gủi, thân thiết nên các em không hổ thẹn khi trao đổi bài với bạn hoặc nhờ bạn giúp đỡ
Trong dạy học cần phân hóa đối tượng học tập trong từng hoạt động, dành cho đối tượng này những câu hỏi dễ, những bài tập đơn giản để tạo điều kiện cho các em được tham gia trình bày trước lớp, từng bước giúp các em tìm được vị trí đích thực của mình trong tập thể
* Giáo viên xây dựng môi trường học tập thân thiện:
Xây dựng môi trường học tập có nghĩa rất quan trọng Hiện nay, Bộ giáo dục đang phát động cuộc vận động “ Trường học thân thiện, học sinh tích cực” Việc
xây dựng môi trường học tập không chỉ nhằm thực hiện cuộc vận động mà để tạo
ra môi trường thân thiện, gần gủi để học sinh học tập Muốn vậy, giáo viên cần lưu những điểm sau:
- Trước tiên người thầy phải nhiệt tình, thật sự yêu thương trò như người
thân trong gia đình Từ đó tạo tạo sự gần gủi, rút ngắn khoảng cách giữa thầy và trò, tạo sự tin tưởng ở học sinh
- Sự thân thiện của giáo viên là điều kiện cần để những biện pháp đạt hiệu quả cao Thông qua cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nụ cười giáo viên tạo sự gần gũi, cảm giác an toàn nơi học sinh để các em bày tỏ những khó khăn trong học tập, trong cuộc sống của bản thân mình
- Giáo viên luôn tạo cho bầu không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng, không đánh mắng hoặc dùng lời thiếu tôn trọng với các em, đừng để cho học sinh cảm thấy sợ giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu và tôn trọng mình Nếu giáo viên tạo được sự mật thiết giữa thầy với trò, giữa học sinh với học sinh, thầy trò tạo được sự vui vẻ, thoải mái và nhẹ nhàng trong học tập thì chắc chắn rằng các em là học sinh yếu kém sẽ mạnh dạn và tự tin hơn rất nhiều để phát huy khả năng tự học của mình
- Bên cạnh đó, giáo viên phải là người đem lại cho các em những phản hồi tích cực Ví dụ như giáo viên nên thay chê bai bằng khen ngợi, giáo viên tìm những việc làm mà em hoàn thành dù là những việc nhỏ để khen ngợi các em Kịp thời tuyên dương những em có tiến bộ
* Giáo dục ý thức học tập cho học sinh:
- Trước hết, giáo viên cần cho học sinh thấy rõ tầm quan trọng của môn Ngữ Văn, đặc biệt là theo xu hướng mới của thi cử
- Giáo dục tình yêu đối với môn học; giáo dục ý thức học tập của học sinh tạo cho học sinh sự hứng thú trong học tập, từ đó sẽ giúp cho học sinh có ý thức vươn lên Trong mỗi tiết dạy giáo viên nên liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế để
Trang 7học sinh thấy được ứng dụng và tầm quan trọng của môn học trong thực tiễn Từ đây, các em sẽ ham thích và say mê khám phá tìm tòi trong việc chiếm lĩnh tri thức môn Ngữ Văn
- Bên cạnh đó, giáo viên phải tìm hiểu từng đối tượng học sinh về hoàn cảnh gia đình và nề nếp sinh hoạt, khuyên nhủ học sinh về thái độ học tập, tổ chức các trò chơi có lồng ghép việc giáo dục học sinh về ý thức học tập tốt và ý thức vươn lên trong học tập, làm cho học sinh thấy tầm quan trọng của việc học Đồng thời, giáo viên phối hợp với gia đình giáo dục ý thức học tập của học sinh Do hiện nay, có một số phụ huynh luôn gò ép việc học của con em mình, sự áp đặt và quá tải sẽ dẫn đến chất lượng không cao Bản thân giáo viên cần phân tích để các bậc phụ huynh thể hiện sự quan tâm đúng mức Nhận được sự quan tâm của gia đình, thầy cô sẽ tạo động lực cho các em ý chí phấn đấu vươn lên
b Công việc chuẩn bị của học sinh:
Học sinh phải có đủ sách giáo khoa môn Ngữ Văn để học những kiến thức cơ bản theo hướng dẫn của giáo viên Sưu tầm thêm các tài liệu có liên qua đến kiến thức môn học để hỗ trợ việc học môn Ngữ Văn lớp 6 được tốt, tranh ảnh về phong cảnh thiên nhiên và con người liên quan đến kiến thức bài học Tạo được
sự đoàn kết đồng thuận trong tập thể lớp học phụ đạo và cần có thái độ hợp tác cao với giáo viên, có ý thức học tập tốt
II CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1 Chuẩn bị:
a Đối với giáo viên:
Đối với giáo viên dạy Ngữ Văn nói chung, giáo viên dạy môn Ngữ văn 6 nói riêng việc chuẩn bị là vô cùng cần thiết Khi nhận chuyên môn, giáo viên cần có cái nhìn tổng thể toàn bộ chương trình Ngoài việc xác định mục đích yêu cầu,
đồ dùng dạy học liên quan đến bài dạy, giáo viên còn phải dự kiến dạy phụ đạo cho học sinh yếu kém gồm những nội dung nào, mục nào?
- Giành thời gian nghiên cứu, sưu tầm tài liệu, soạn giáo án dạy học phụ đạo
cơ bản phù hợp với trình độ của học sinh, sau đó trình tổ trưởng duyệt trước một tuần
- Chuẩn bị các tranh ảnh, vận dụng, băng hình các đồ dùng trực quan khác
để giúp học sinh tiếp thu bài một cách tốt nhất
- Cung cấp cho học sinh nắm bắt kiến thức lí thuyết cơ bản ở các bài đã học
và hướng dẫn học sinh làm các bài tập nhận diện và thông hiểu một cách nhuần nhuyễn
b Đối với học sinh.
- Học sinh phải có ách giáo khoa để chuẩn bị bài và theo dõi bài học trong
quá trình giáo viên lên lớp Trước khi đến lớp phụ đạo cần ôn lại những kiến thức cơ bản đã được học ở lớp chung
Trang 8- Chuẩn bị phiếu học tập và tổ chức nhóm nhỏ để thảo luận học phụ đạo theo
sự hướng dẫn của giáo viên
2 Cách thức tổ chức thực hiện:
a Ôn tập kiến thức đã học trên lớp
* Về tác phẩm văn học: Căn cứ theo đặc trưng thể loại tôi giúp cho các
em học tập và nắm vững các phần sau:
- Thuộc và nhớ nội dung, chi tiết đặc sắc của tác phẩm Chẳng hạn như thuộc cốt truyện, nắm vững các chi tiết, kết cấu nhân vật hệ thống các sự kiện, biến cố, giá trị đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm Gắn tác phẩm với thời đại lúc tác phẩm ra đời để am hiểu, xuất xứ hoàn cảnh sáng tác chủ đề, giá trị nội dung, đặc sắc hình thức, giá trị tư tưởng, giá trị thẩm
mỹ của tác phẩm
Ví dụ:
Em hãy tìm hiểu và nắm vững văn bản “Bánh chưng,bánh giày”, các em
có thể tiến hành trả lời các câu hỏi gợi mở sau đây để tìm hiểu:
- Hãy trình bày những hiểu biết của em về thể loại truyền thuyết?
- Truyện liên quan đến triều đại nào trong lịch sử nước ta?
- Truyện có những nhân vật nào? Ai là nhân vật chính ?
- Nhân vật Lang Liêu có hoàn cảnh như thế nào?
- Tìm những chi tiết mang màu sắc cổ tích trong truyện?
- Truyện thể hiện ý nghĩa?
- Theo em, Lang Liêu được vua chọn là người nối ngôi có xứng đáng không? Vì sao ?
* Phân môn Tiếng Việt
Căn cứ vào từng bài cụ thể, tôi giúp học sinh nắm vững những đơn vị kiến thức về: Từ và cấu tạo của từ, nghĩa của từ, nguồn gốc; Các từ loại; các lỗi
thường gặp khi sử dụng từ; các biện pháp tu từ thường gặp
Ví dụ: Đọc câu văn sau và trả lời các câu hỏi
“ Nước từ trên cao đổ xuống hò reo, rồi trườn qua các kẻ đá chảy về thượng nguồn”
- Xác lượng số lượng từ được sử dụng trong câu trên?
- Liệt kê các danh từ, động từ, tính từ (nếu có) trong câu văn trên?
- Câu văn đã sử dụng phép tu từ nào?
* Phân môn tập làm văn
Ở phân môn này, tôi bắt đầu bằng việc cho học sinh ôn lại các kiểu văn bản
và phương thức biểu đạt ( Xác định phương thức biểu đạt trong văn bản cụ thể), hướng dẫn các em tìm hiểu từng kiểu bài cụ thể bằng cách nhận diện kiểu văn bản Sau đó mới hướng dẫn học sinh cách làm bài Khi làm bài văn, học sinh thường bỏ qua các bước như: tìm hiểu đề, tìm, lập dàn bài, đọc và sửa chữa Vì vậy, khi phụ đạo, tôi yêu cầu các em làm theo từng bước
Trang 9b Thử nghiệm bằng các buổi học phụ đạo vào buổi chiều:
Năm học 2014 – 2015 khối 6 gồm 4 lớp, tôi và cô Nguyễn Thị Lí cùng tổ Khoa học xã hội tiến hành dạy phụ đạo mỗi tuần 2 buổi và tiến hành thử nghiệm trong một tháng (Tháng 11 năm 2014) Vì trong nửa cuối tháng tám và tháng 9,
10 thì tôi giảng dạy, khảo sát, nắm bắt và phân loại đối tượng học sinh, lập được danh sách học sinh học yếu và tổ chúng tôi tiến hành trong bốn tuần:
* Tuần thứ nhất: Ôn tập về văn bản.
- Buổi 1: + Ôn lại các khái niệm về truyền thuyết
+ Cho học sinh kể lại nội dung các truyện truyền thuyết đã học: Con Rồng, cháu Tiên; Bánh chưng, bánh giày; Sơn Tinh, Thủy Tinh… + Các nhân vật, nhân vật chính, nhân vật phụ
+ Các chi tiết tưởng tượng kì ảo
+ Các chi tiết liên quan đến sự thật lịch sử
- Buổi 2: + Ôn lại Thể loại truyện cổ tích
+ Cho học sinh kể lại nội dung các truyện cổ tích
+ Xác định các nhân vật, phân loại nhân vật
+ Các chi tiết tưởng tượng kì ảo
+ Ý nghĩa của truyện
* Tuần thứ hai: Ôn tập về phân môn Tiếng Việt:
- Buổi 1: + Ôn tập phần lí thuyết về từ và cấu tạo từ tiếng
+ Tiến hành ôn luyện làm lại các bài tập dạng nhận diện, thông hiểu trong Sách giáo khó và sau đó đưa thêm các bài tập trắc nghiệm khách quan cho HS nhận biết lựa chọn trường hợp đúng theo yêu cầu
- Buổi 2: + Ôn tập phần lí thuyết về nghĩa của từ, từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ
+ Tiến hành ôn luyện làm lại các bài tập nhận diện, thông hiểu và sau đó tập làm các bài tập vận dung thấp Ví dụ như tập giải nghĩa của một số từ giáo viên cho sẵn, sau đó đặt câu với các từ vừa giải nghĩa
* Tuần thứ ba: Ôn tập về phân môn Tập làm văn:
- Buổi 1: + Ôn tập về giao tiếp văn bản và các phương thức biểu đạt được học trong chương trình môn Ngữ Văn THCS (Hệ thống khái niệm toàn bộ phần
lí thuyết)
+ Tiến hành ôn luyện làm lại các bài tập dạng nhận diện, thông hiểu như: Tập xác định phương thức biểu đạt của các văn bản đã học trong các văn bản thuộc thể loại truyền thuyết Sau đó cho học sinh kể thêm các văn bản
mà các em biết thuộc sáu kiểu văn bản đã học Tiếp theo giáo viên cho học sinh làm các bài tập vận dung thấp như: Tập đặt câu văn tương ứng với sáu kiểu văn bản được học
- Buổi 2: + Ôn tập khái niệm và các bước làm bài văn tự sự (Hệ thống khái niệm toàn bộ phần lí thuyết)
Trang 10+ Tiến hành ôn luyện làm lại các bài tập dạng nhận diện, thông hiểu và sau đó tập làm các bài tập vận dụng thấp rồi đến bài phần vân dụng cao
Ví dụ như cho học sinh tập kể lại câu chuyện mà mình được học hoặc được nghe
kể lại Tiếp theo giáo viên mạnh dạn cho học sinh kể lại câu chuyện được học trong chương trình bằng lời văn của em
* Tuần thứ tư:
- Buổi 1: Tiến hành làm bài khảo sát (90 phút), tích hợp cả ba phân môn: Đọc - hiểu văn bản, Tiếng Việt, Tập làm văn
Đề bài khảo sát:
Phần 1: Trắc nghiệm:
Trả lời bằng cách khoanh tròn chữ cái đầu trước câu trả lời đúng
Câu 1: Truyền thuyết là gì:
A Những câu chuyện hoang đường
B Câu chuyện có những yếu tố hoang đường nhưng có liên quan đến các sự kiện, nhân vật lịch sử của một dân tộc
C Lịch sư đát được được phản ánh khá chân thực
D Cuộc sống hiện thực được kể lại một cách nghệ thuật
Câu 2: Văn bản “ Con Rồng cháu tiên ” thuộc kiểu văn bản nào sau đây?
A Tự sự B Miêu tả
C Thuyết minh D Biểu cảm
Câu 3: Trong văn bản "Con Rồng cháu Tiên" thì ý nghĩa nổi bật nhất của
hình tượng " cái bọc một trăm trứng "là gì?
A Giải thích sự ra đời của các dân tộc Việt Nam
B Ca ngợi sự hình thành nhà nước Vă Lang
C Tình yêu đát nước và lòng tự hào dân tộc
D Cả ba ý trên đều dúng
Câu 4: Trong truyền thuyết "Bánh Chưng, bánh Giầy" nhân vật Lang Liêu
gắn với lĩnh vực hoạt động nào của người Lạc Việt thời kì vua Hùng dựng nước?
A Chống giặc ngoại xâm
B Đấu tranh, chinh phục thiên nhiên
C Lao động sản xuất và sáng tạo văn hóa
D Giữ gìn ngôi vua
Câu 5: Nhận xét sau đây đúng với thể loại tự sự nào?
"Truyện dân gian kể về một số kiểu nhân vật nhất định, thường có yếu tố tưởng tượng kì ảo và thể hiện ước mơ của nhân dan ta về sự công bằng trong xã hội, sự chiến thắng của cái thiện đối với cái ác"
A Thần thoại B Truyền thuyết
C Cổ tích D Truyện cười