Theo Hội đồng thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người, nhưng lại không làm tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Đất đai đối với sản xuất và đời sống của cộng đồng dân cư có ý nghĩa quan trọng và vô cùng cần thiết. Vậy làm thế nào để sử dụng đất trong phát triển kinh tế xã hội mà giảm thiểu thoái hoá đất và không gây ảnh hưởng tới kế hoạch sử dụng đất trong tương lai. Thoái hoá đất đang là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn ở nước ta, đặc biệt là ở miền núi, nơi tập trung hơn 34 quỹ đất. Các dạng thoái hoá đất chủ yếu là: xói mòn, rửa trôi, đất có độ phì nhiêu thấp và mất cân bằng dinh dưỡng, đất chua hoá, mặn hoá, phèn hoá, bạc màu, khô hạn và sa mạc hoá, đất ngập úng, lũ quét, đất trượt và sạt lở, đất bị ô nhiễm. Trên 50% diện tích đất (3,2 triệu ha) ở vùng đồng bằng và trên 60% diện tích đất (13 triệu ha) ở miền núi có những vấn đề liên quan tới suy thoái đất. Nhiều nguyên nhân suy thoái môi trường đất có nhiều, song chủ yếu do: • Hoạt động nông nghiệp: áp dụng các biện pháp quản lý sử dụng không thích hợp như trồng chay hoặc bón phân không cân đối, thiếu biện pháp bảo vệ đất, dùng cơ giới nặng…Kiểu thoái hóa này biểu hiện ở xói mòn, đất chặt, mất mùn và dinh dưỡng, chua hóa… • Phá rừng và lấy đi tàn dư hữu cơ: biến đất rừng thành đất trồng cây ngắn ngày che phủ kém, khai thác rừng quá giới hạn, phát luồng dẫn đến xói mòn kiệt đất. • Khai thác sinh khối quá mức: lấy gỗ, củi đun, đốt nương… • Chăn thả gia súc quá mức và không kiểm soát: làm đất chặt cứng giảm thảm cỏ, dẫn đến xói mòn. • Hoạt động phi nông nghiệp: đô thị hóa, đào mỏ, mở đường, xây dựng, làm gạch…làm mất sức sản xuất và hư hại cả vỏ thổ bì. Sự suy thoái môi trường đất kéo theo sự suy thoái các quần thể động, thực vật và chiều hướng giảm diện tích đất nông nghiệp trên đầu người đã đến mức báo động.
Trang 1i
MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
LỜI CẢM TẠ Error! Bookmark not defined TÓM TẮT Error! Bookmark not defined MỤC LỤC i
DANH SÁCH CÁC BẢNG iii
Chương 1MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Yêu cầu 2
1.4 Giới hạn của đề tài 2
Chương 2TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Tình hình thoái hóa đất 3
2.2 Các biện pháp hạn chế thoái hóa đất 4
2.3 Vai trò cây che phủ 6
2.4 Đặc tính, tác dụng của cây lạc dại trong cải tạo đất sản xuất nông nghiệp 8
2.4.1 Đặc tính cây lạc dại 8
2.4.2 Tác dụng cây lạc dại trong sản xuất nông nghiệp 10
2.5 Một vài đặc điểm của một số loại rau trồng thí nghiệm 15
2.5.1 Khổ qua 15
2.5.2 Dưa leo 15
2.5.3 Đậu đũa 17
2.5.4 Đậu côve 18
Chương 3NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Thời gian và địa điểm 20
3.1.1 Thời gian 20
3.1.2 Địa điểm 20
3.2 Vật liệu thí nghiệm 21
3.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm 21
Trang 2ii
3.4.Quy trình kỹ thuật 22
3.4.1 Trồng lạc dại 22
3.4.2 Quy trình trồng rau 23
3.6 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 27
3.6.1 Lạc dại 27
3.6.2 Các loại rau 27
3.6.3 Tính chất đất 28
3.7 Phương pháp xử lý số liệu 28
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Lạc dại 29
4.1.1 Thời gian che phủ 100 % diện tích đất 29
4.1.2 Tích lũy chất khô 29
4.1.3 Nốt sần 29
4.1.4 Nồng độ dinh dưỡng trong cây lạc dại 30
4.2 Ảnh hưởng của phủ lạc dại đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số loại rau 30
4.2.1 Tỷ lệ nẩy mầm 30
4.2.2 Số cành/ cây 31
4.2.3 Thời gian sinh trưởng khổ qua, dưa leo, đậu đũa 31
4.2.4 Các yếu tố cấu thành năng suất khổ qua, dưa leo, đậu đũa 35
4.2.5 Năng suất khổ qua, dưa leo, đậu đũa 37
4.2.6 Tình hình sâu bệnh trên đậu đũa, dưa leo, khổ qua 37
4.2.7 Hiệu quả kinh tế của trồng lạc dại trên đất xám bạc màu Thủ Đức 39
4.3 Ảnh hưởng thảm phủ lạc dại đến tính chất đất 39
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45
5.1 Kết luận 45
5.2 Đề nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
PHỤ LỤC 49
Trang 3iii
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1:Tình hình thời tiết 20
Bảng 3.2:Quy trình trồng khổ qua 23
Bảng 3.3:Quy trình trồng dưa leo 24
Bảng 3.4:Quy trình trồng đậu đũa 25
Bảng 3.5: Quy trình trồng đậu cove 26
Bảng 4.1: Tỷ lệ nẩy mầm các loại rau 30
Bảng 4.2: Số cành trung bình/cây của các loại rau 31
Bảng 4.3: Thời gian sinh trưởng các loại rau 32
Bảng 4.4: Các yếu tố cấu thành năng suất của các loại rau 35
Bảng 4.5: Năng suất của các loại rau 36
Bảng 4.6: Hiệu quả của trồng rau trên đất có lạc dại (triệu đồng/ha) 39
Bảng 4.7: Chỉ tiêu hóa tính của đất (Giá trị trung bình ± sd) 40
Bảng 4.8: Các chỉ tiêu lý tính 43
Trang 41
Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Trên thế giới nói chung cũng như ở nước ta nói riêng sự thoái hóa đất đang là
sự thách thức lớn trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp Đất đai bị thoái hóa không những mất đi độ màu mỡ mà còn kéo theo sự mất nước, sự sa mạc hóa và đồng thời gây ra hàng loạt những hậu quả như: lũ lụt, hạn hán, sạt lở đất v.v
Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã khẳng định vai trò của cây phủ đất với nền nông nghiệp sinh thái bền vững Khi đánh giá về sự thoái hóa đối với đất ở Đông Nam Á và vai trò của con người trong việc ngăn chặn nguy cơ này FAO - UNEP (ISRIC 1997), cho rằng biện pháp sinh học (dùng các cây che phủ đất) có hiệu quả cao nhất
Việc che phủ đất làm ổn định nhiệt độ mặt đất, giảm lượng nước bốc hơi, giảm đáng kể sự phát triển của cỏ dại, cải thiện các tính chất lý hóa tính của đất, chi phí sản xuất thấp
Nhiều chủng loại cây được ứng dụng rộng rãi ngoài thực tế sản xuất và đã khẳng định được vai trò trong việc bảo vệ và cải tạo đất đặc biệt là cây che phủ họ đậu Cây che phủ họ đậu ngoài các đặc tính như cây che phủ, còn có khả năng cố định đạm và một số chất dinh dưỡng quan trọng khác cho đất và cây trồng
đề tài “ẢNH HƯỞNG PHỦ ĐẤT BẰNG CÂY LẠC DẠI (Arachis pintoy)
ĐẾN TÍNH CHẤT ĐẤT VÀ NĂNG SUẤT MỘT SỐ LOẠI RAU” đã được tiến hành tại Thủ Đức
Trang 5 Phát triển lạc dại trên đất bạc màu
Trồng thử nghiệm một số loại rau: đậu đũa, đậu cove, khổ qua, dưa leo trên đất
xám bạc màu có lạc dại và không có lạc dại
Phân tích chỉ tiêu đất lý hóa tính đất
Phân tích cây lạc dại: nốt sần hữu hiệu, nốt sần vô hiệu và trọng lượng chất khô trước và sau khi thu hoạch
Thành phần dinh dưỡng trong cây lạc dại
1.4 Giới hạn của đề tài
Do đặc tính cây họ đậu cần thời gian dài mới thấy hiệu quả cải tạo đất và tăng năng suất Đề tài thực hiện trong thời gian ngắn nên chưa thấy rõ hiệu quả cải thiện đất của cây lạc dại và tình hình sâu bệnh
Thời gian cây lạc dại che phủ đất 100% sau 6 tháng và cây lạc dại sinh trưởng kém
Trang 6Thoái hoá đất đang là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn ở nước ta, đặc biệt là ở miền núi, nơi tập trung hơn 3/4 quỹ đất Các dạng thoái hoá đất chủ yếu là: xói mòn, rửa trôi, đất có độ phì nhiêu thấp và mất cân bằng dinh dưỡng, đất chua hoá, mặn hoá, phèn hoá, bạc màu, khô hạn và sa mạc hoá, đất ngập úng, lũ quét, đất trượt và sạt lở, đất bị ô nhiễm
Trên 50% diện tích đất (3,2 triệu ha) ở vùng đồng bằng và trên 60% diện tích đất (13 triệu ha) ở miền núi có những vấn đề liên quan tới suy thoái đất Nhiều nguyên nhân suy thoái môi trường đất có nhiều, song chủ yếu do:
Hoạt động nông nghiệp: áp dụng các biện pháp quản lý sử dụng không thích hợp như trồng chay hoặc bón phân không cân đối, thiếu biện pháp bảo vệ đất, dùng cơ giới nặng…Kiểu thoái hóa này biểu hiện ở xói mòn, đất chặt, mất mùn và dinh dưỡng, chua hóa…
Phá rừng và lấy đi tàn dư hữu cơ: biến đất rừng thành đất trồng cây ngắn ngày che phủ kém, khai thác rừng quá giới hạn, phát luồng dẫn đến xói mòn kiệt đất
Khai thác sinh khối quá mức: lấy gỗ, củi đun, đốt nương…
Chăn thả gia súc quá mức và không kiểm soát: làm đất chặt cứng giảm thảm cỏ, dẫn đến xói mòn
Trang 72.2 Các biện pháp hạn chế thoái hóa đất
Thoái hóa đất là sự suy giảm chất hữu cơ trong đất và được chuyển hóa bởi quần thể vi sinh vật đất Cho nên tốc độ phục hồi độ phì nhiêu đất sẽ phụ thuộc vào việc sản xuất liên tục sinh khối và cung cấp cho đất lượng hữu cơ bị mất do khoáng hóa và rửa trôi Chỉ khi có một lượng cân bằng dương về mùn thì độ phì nhiêu của đất mới có thể duy trì lâu bền hoặc cải thiện thêm và các biện pháp nông học (giống, phân bón, tưới nước…) có thể phát huy đầy đủ tác dụng
Nhằm tạo điều kiện cho đất có khả năng sản xuất cao và giữ được độ màu mỡ lâu dài, điều quan trọng là phải có những biện pháp canh tác tốt và phù hợp Dưới đây
là sáu yêu cầu cần phải được thực hiện để có thể duy trì và nâng cao được chất lượng đất, hạn chế thoái hóa đất Việc chọn lựa các biện pháp kỹ thuật để thực hiện mỗi yêu cầu trên phụ thuộc vào nhiều yếu tố vì những loại đất khác nhau có phản ứng khác nhau với cùng một biện pháp kỹ thuật Do vậy, cần phải biết rõ loại đất và cách sử dụng đất để quyết định đưa ra những biện pháp kỹ thuật tốt nhất nhằm nâng cao chất lượng đất
Nâng cao hàm lượng chất hữu cơ trong đất: dù đất có hàm lượng chất hữu cơ cao hay thấp, thì việc cung cấp thêm chất hữu cơ cho đất hàng năm có thể là cách tốt nhất
để cải thiện và duy trì chất lượng đất Bón thêm hữu cơ cho đất thường xuyên sẽ cải thiện được cấu trúc đất, tăng khả năng giữ nước và dinh dưỡng của đất, bảo vệ đất tránh xói mòn, đóng cứng, và nuôi dưỡng quần thể sinh vật trong đất Những biện pháp kỹ thuật làm tăng hàm lượng chất hữu cơ trong đất là: bỏ lại tàn dư thực vật trên đồng ruộng, lựa chọn những cây trồng luân canh cho sinh khối sinh học cao, sử dụng các biện pháp quản lý nước và dinh dưỡng hiệu quả nhất, trồng cây che phủ đất, bón phân hữu cơ cho đất, hạn chế cày đất khi không thật cần thiết, và sử dụng bạt phủ nông nghiệp
Tránh làm đất nhiều quá mức cần thiết: giảm làm đất sẽ hạn chế mất chất hữu cơ
và bảo vệ được bề mặt đất với nhiều tàn dư thực vật Cày đất với mục đích làm cho đất
Trang 85
tơi xốp, lên luống, và tiêu diệt cỏ dại, sâu bệnh Nhưng những hoạt động làm đất này cũng có thể phá vỡ cấu trúc đất, làm tăng quá trình phân giải và mất chất hữu cơ, tăng nguy cơ xói mòn, hạn chế sự sinh sống bình thường của các sinh vật sống trong đất, và
là nguyên nhân đất bị đóng váng, nén chặt
Quản lý các loại sâu bệnh và dinh dưỡng một cách hiệu quả: một chức năng quan trọng của đất là có khả năng đệm và thải hóa chất độc hại, nhưng khả năng giải độc này là khá giới hạn Các loại thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học có những lợi ích quý giá, nhưng chúng cũng làm hại tới các sinh vật sống trong đất và gây ô nhiễm nước, không khí nếu chúng được sử dụng không đúng Các chất dinh dưỡng từ nguồn chất hữu cơ cũng có thể gây ô nhiễm khi chúng được sử dụng sai hay dùng lượng quá nhiều Việc quản lý sử dụng chất dinh dưỡng và sâu bệnh hiệu quả có nghĩa là kiểm tra
và đánh giá đất và sâu bệnh; sử dụng đúng lượng thuốc sát trùng cần thiết, đúng nơi và đúng lúc; áp dụng các ưu điểm của các biện pháp canh tác trong quản lý dinh dưỡng và sâu bệnh như: luân canh cây trồng, trồng cây che phủ đất và quản lý tốt phân bón
Hạn chế đất bị nén chặt: đất bị nén chặt sẽ làm giảm lượng nước, không khí và khoảng trống cho sự sinh trưởng của rễ và các sinh vật trong đất Đất bị nén chặt là do hoạt động giao thông trong vườn, những phương tiện canh tác có sức nặng, hay việc giao thông thực hiện khi đất quá ẩm Khi đất nén quá chặt (do hoạt động của các phương tiện cơ giới nông nghiệp) thì rất khó, đôi khi là không thể cứu chữa được, do
đó các biện pháp hạn chế sự nén chặt là thật sự cần thiết
Che phủ mặt đất: đất không canh tác rất mẫn cảm với xói mòn nước và gió, dễ bị mất nước và gây ra đóng váng bề mặt đất Trồng cây che phủ đất sẽ giúp bảo vệ đất, tạo môi trường sống cho các sinh vật sống dựa vào đất như: côn trùng và trùn đất, và cũng có thể cải thiện giá trị của nước Mặt đất có thể được che phủ bằng tàn dư thực vật, hay trồng cây, cỏ che phủ đất Hơn nữa, cây trồng hoa màu cũng cung cấp chất hữu cơ cho đất và vi sinh vật trong đất Việc che phủ mặt đất cũng cần phải được quản
lý chặt chẽ đề phòng những vấn đề xảy ra như sâu bệnh, vì nguồn tàn dư và thảm thực vật là nơi trú ngụ của các loại côn trùng và bệnh hại cây trồng
Đa dạng hóa hệ thống cây trồng: trong một vài nguyên nhân, tính đa dạng là rất
có lợi Mỗi loại cây trồng đều đóng góp cho đất những giá trị nhất định, đó là những chất hữu cơ từ cây trồng và tác dụng của rễ cây (rễ cây góp phần vào việc hình thành
Trang 96
cấu trúc của đất) Sự đa dạng của sinh vật đất giúp khống chế sự gia tăng quần thể sâu bệnh hại, và sự đa dạng của các biện pháp kỹ thuật cũng có thể làm giảm được áp lực của sâu bệnh và cỏ dại Nên sử dụng những cây trồng lâu năm trong việc luân canh để nâng cao tính đa dạng Sự thay đổi và đa dạng hóa các loài cây trong thảm thực vật không chỉ làm tăng tính đa dạng cây trồng, mà còn làm phong phú và đa dạng hơn các loại côn trùng, vi sinh vật và sinh vật hoang dã sống trong vườn
Kết quả nghiên cứu về các biện pháp chống thoái hóa đất cho rằng biện pháp sinh học luôn tạo lớp phủ cây trồng có ý nghĩa quyết định trong việc bảo vệ và phục hồi thoái hóa đất
Thông thường, sản xuất cây trồng bao gồm việc sử dụng các thiết bị máy móc nặng cho việc chuẩn bị đất, canh tác, và thu hoạch Các biện pháp này thường gây hậu quả trong việc làm giảm chất lượng đất Nếu cây trồng được sản xuất từ năm này sang năm khác không luân canh với việc xây dựng cây trồng bảo vệ đất, mức độ vật chất hữu cơ trong đất có thể bị giảm đáng kể, dẫn đến giảm năng suất cây trồng và chất lượng đất
Ngược lai, thiết kế cây che phủ tốt/luân canh cây trồng giữ đất che phủ với chất hữu cơ còn sót lại là ổn định và thậm chí nâng cao năng xuất cây trồng và chất lượng đất Kết hợp luân canh mạnh mẽ cây trồng và giảm sự làm đất trong hệ thống, đặc biệt hiệu quả trong việc ổn định và nâng cao năng suất cây trồng và chất lượng đất
2.3 Vai trò của cây che phủ
Dùng cây che phủ đất là biện pháp hữu hiệu chống xói mòn đất thông qua việc tránh tiếp xúc trực tiếp của hạt mưa với mặt đất và hạn chế dòng chảy bề mặt Ngoài
ra, còn làm tăng hàm lượng hữu cơ cho đất qua sự phân huỷ lớp vật liệu phủ đất Độ xốp của đất được cải thiện nhanh, từ đó làm tăng khả năng hấp thụ và giữ nước của đất, tăng cường hoạt tính sinh học của đất, tạo điều kiện cho bộ rễ cây trồng phát triển tốt Che phủ đất cũng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón thông qua việc chống xói mòn rửa trôi đất, tăng dung tích hấp thụ của đất
Một tác dụng quan trọng nữa là hạn chế gần như tuyệt đối cỏ dại cạnh tranh với cây trồng, từ đó giảm công lao động làm cỏ và góp phần tăng năng suất cây trồng Vật liệu dùng để che phủ:
Trang 10Sử dụng cây che phủ trong hệ thống nông nghiệp không phải là một biện pháp mới Trước sự phát triển của sản xuất phân bón, cây che phủ thường được sử dụng để cải thiện cấu trúc đất và khả năng sản xuất Gần đây mối quan tâm về kinh tế và môi trường thúc đẩy sự trỗi dậy trong việc sử dụng cây che phủ
Nói đến cây che phủ đất, nó được chia làm hai phạm trù chính: cây che phủ thuộc câu họ đậu và cây che phủ không thuộc cây họ đậu
Một số cây che phủ đã được ứng dụng không thuộc cây họ đậu: , , Barley
(Hordeum vulgare), Oats (Avena sativa), Buckwheat (Fagopyrum esculentum), Pearl (Pennisetum glaucum)
Một số cây trồng che phủ có thể gây trở ngại khi trồng cây công nghiệp, cản trở sự nẩy mầm, tàn dư cây che phủ cũng có thể dẫn đến làm lạnh đất vào mùa đông Một số cây trồng cần phải được cắt bỏ tại một thời điểm nhất định để đảm bảo rằng nó không
để lại hạt giống và do đó trở thành vấn đề cỏ dại cho những năm sau
Nhìn chung các cây che phủ không thuộc cây họ đậu có thể che phủ đất và phát triển nhanh chóng nhưng không cố định đạm và chính bản thân nó có thể trở thành cỏ dại
Một số cây che phủ thuộc cây họ đậu: Hairy vetch, , , Red Clover, Berseem clover,
White clover, , ,
Những cây họ Đậu được dùng nhiều nhất trên thế giới là: Indigofera endecaphylla Jacq, Pueraria javanica Benth, Centrosema pubescens Benth, Desmodium ovalifolium Grill, Flemingiasp., Stylosanthes gracilis, Tithonia diversifolia, Vigna oligosperma, Mimosa invisa v.v
Các loài cây phân xanh được trồng làm cây che phủ được dùng nhiều nơi ở nước
ta là: muồng lá tròn, điền thanh, Mucuna hay còn gọi đậu mèo, đậu stylô, kudzu
Trang 118
Cây phân xanh thường dùng làm cây che phủ có khả năng thích nghi lớn, nhưng không phải loài cây nào ở đâu trồng cũng được Năng suất chất xanh và khả năng phát triển của các loài cây có thể thay đổi tuỳ theo chân đất và điều kiện cụ thể ở từng nơi
Có loài thích hợp ở ruộng lúa, có loài thích hợp ở các chân đất đồi, có loài thích hợp ở các chân đất cát, có loài thích hợp ở các tỉnh Nam Bộ, có loài thích hợp ở các tỉnh miền núi phía Bắc Vì vậy, cần lựa chọn các loài thích hợp với điều kiện của địa phương để trồng mới thu được kết quả tốt Cây phân xanh cũng thường chỉ phát huy tác dụng trong những cơ cấu nhất định với các loài cây trồng, vì vậy cần lựa chọn những cơ cấu cây trồng hợp lý với thành phần cây phân xanh phù hợp để trồng xen, trồng gối hoặc luân canh
2.4 Đặc tính, tác dụng của cây lạc dại trong cải tạo đất sản xuất nông nghiệp 2.4.1 Đặc tính cây lạc dại
Cây lạc dại - LD99 (Arachis pintoy) được đánh giá là cây có nhiều triển vọng,
phù hợp với nhiều vùng sinh thái và khả năng ứng dụng cho các cơ cấu cây trồng trên đất dốc ở Việt nam
Tên khoa học: Arachis pintoy
Thuộc họ: Fabaceae
Đặc tính di truyền: (2n = 20), tự thụ phấn, rất ít xảy ra sự thụ phấn chéo
Tên thường gọi: Úc: pinto peanut; Tây Ban Nha: Maní forrajero perenne; Bồ Đào Nha: Amendoim forrageiro; Indonesia: Kacang pinto; Thái Lan: Thua lisong tao
Xuất xứ: Từ miền trung Brazil (cửa sông Jequitinhonha) Đã được trồng ở Argentina, Colombia, Mỹ, gần đây trồng ở Đông - Nam Châu Á, Trung Mỹ và Thái Bình Dương
Trang 12Kích thước củ phụ thuộc vào điều kiện chăm sóc, tuy nhiên trung bình khoảng 4
mm x 5 mm Trọng lượng nghìn hạt khoảng 70 - 80 g Là cây họ đậu có nốt sần và khả năng cố định đạm
Ở Việt Nam gọi là Lạc dại hay lạc lưu liên che phủ đất LD99, một số tác giả còn gọi là cỏ lạc Giống lạc lưu liên che phủ đất LD99 dự án nghiên cứu hệ thống nông nghiệp miền núi phía Bắc nhập vào Việt Nam từ năm 1999 và bắt đầu nghiên cứu ứng dụng tại xã Ngọc Phái, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Cạn Giống này còn được Trường Đại học tổng hợp Hohenheim - Cộng hòa Liên bang Đức - đưa vào tập đoàn cây họ đậu phục vụ lớp tập huấn về đánh giá dinh dưỡng và khả năng cải tạo đất của các loại cây họ đậu nhiệt đới được tổ chức tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam từ 12 đến 15 tháng 4 năm 1999
Khả năng trồng với các loại cỏ khác: Sinh trưởng tốt khi trồng kết hợp với cả hai loại cỏ thảm và cỏ bụi Khi trồng với các loài cỏ mọc khoẻ thì cần cắt cỏ thường xuyên để duy trì lạc lưu niên che phủ đất LD99 ở mật độ cao Lạc lưu niên che phủ đất LD99 mọc và phát triển nhanh hơn khi được trồng dưới cây to
http://www.tropicalforages.info/key/Forages/Media/Html/images
/Arachis_pintoi/Arachis_pinto_02.jpg
Trang 1310
2.4.2 Tác dụng cây lạc dại trong sản xuất nông nghiệp
Lạc dại có rất nhiều lợi ích Một vài lợi ích chính trong một số bài viết, như:
Bảo tồn đất
Chủ yếu, người nông dân và nhà nghiên cứu sử dụng cây che phủ trong việc sản xuất rau, vườn cây ăn trái, đồn điền hoặc kết hợp với các bãi cỏ chăn thả gia súc Theo Firth (2002), một trăm phần trăm cây che phủ thấp, có khả năng che phủ đất nhanh, có thể tiếp tục tồn tại, có chiều cao thấp, và có thân thảo từng cụm ảnh hưởng đến việc kiểm soát sói mòn
Theo một vài tài liệu thu thập được của nghiên cứu này, một vài thí nghiệm đã đưa ra:
Lạc dại là cây che phủ rất tốt để giảm sói mòn và chảy tràn bề mặt (Sugahara et
al, 2001; Zhiping và cộng sự, 2002; Huang và cộng sự, 2004; Doanh and Tuan, 2004; Maswar và cộng sự, 2005)
Ảnh hưởng cấu trúc tầng đất mặt (Firth và cộng sự) 2002; Neef và cộng sự, 2004)
Sản xuất chất khô cao (Addison 2003; Gallegos 2003; Espindola và cộng sự, 2005; Oelbermann và cộng sự, 2005)
Phục hồi vùng đất bị thoái hóa (De Oliveira và cộng sự, 2003; Doanh and Tuan, 2004)
Chịu bóng (Addison, 2003; Firth và cộng sự, 2002)
Hàm lượng chất dinh dưỡng cao và chất xơ thấp (Firth và cộng sự, 2002; Neef, 2004)
Lưu niên (Perez và cộng sự, 2001;Firth và cộng sự, 2002)
Dạng bò nên chiều cao thảm phủ thấp (Firth và cộng sự, 2002)
Luân chuyển dinh dưỡng nhanh (De Oliveira và cộng sự, 2003)
Phát triển tốt ở những vùng đất có độ màu mỡ thấp với nhu cầu phân bón, lượng nước tối thiểu và không sử dụng thuốc trừ sâu (Bryan et al 2001)
Cải thiện chất lượng đất
Cây che phủ là một công cụ quan trọng để tạo thành chất dinh dưỡng và sự quản lý chất hữa cơ trong đất Cây che phủ có chu kỳ dinh dưỡng bền vững bằng cố định nitơ, giữ chất hữu cơ và hấp thu chất dinh dưỡng, ngăn chặn rửa trôi chất dinh dưỡng, chảy tràn và giảm xói mòn đất Một trong những điều quan trọng của cây che phủ là sự hấp thu chất dinh dưỡng trong đất Sự quản lý cây che phủ để giữ lại chất dinh dưỡng và tích tụ chất hữu cơ trong đất là phương pháp hiệu quả
Trang 14Theo Preston Sullivan chuyên viên bộ nông nghiệp xuất bản, 2003 thì cây họ đậu tạo sinh khối thấp hơn một số loại cây che phủ khác như lúa mạch đen tạo được 6,4 kg/ha so với Crimsom Clover 4,8 kg/ha nhưng cây họ đậu thì có khả năng cố định đạm cao hơn những cây không thuộc họ đậu Cụ thể như cây lúa mạch đen cố định được 101 kg/ha thấp hơn so với cây Sweet clover 136 kg/ha, Crimsom Clover là 131 kg/ha, Hairy Vetch 160 kg/ha
Ngoài khả năng cố định đạm cây che phủ họ đậu còn chứa một lượng lớn các chất dinh dưỡng quan trọng khác như kali, photpho, canxi, magiê Cây Crimsom Clover tạo 162 kg/ha Kali, 18 kg/ha Phospho, 12 kg/ha Magiê và 70 kg/ha Canxi Cây Hairy Vetch (Đậu linh lăng) tạo 151 kg/ha Kali, 20 kg/ha Phospho, 20 kg/ha Magiê, 59 kg/ha Canxi và cao hơn so với cây che phủ không thuộc họ đậu như cây Rye 123 kg/ha Kali, 19 kg/ha Phospho, 9 kg/ha Magiê, 23 kg/ha Canxi
Vật liệu trộn trong ủ phân hữu cơ
Lạc dại không chỉ cải tạo chất lượng đất khi được trồng như thảm phủ thực vật,
mà phần dư thừa của lạc dại cũng có thể sử dụng như vật liệu thô trong ủ phân hữu cơ Cây họ đậu thường có tỷ lệ phân hủy nhanh và giải phóng chất dinh dưỡng lớn vì tỷ lệ C/N của cây họ đậu thấp Cây hòa bản có tỷ lệ C/N cao phân giải chậm Cây họ đậu tỷ
lệ C/N biến thiên từ 10/1 đến 15/1 trong khi đó cây không thuộc họ đậu có tỷ lệ C/N rất cao như Corn stalks 60/1, Sawdust 250/1
Trang 1512
Thúc đẩy cây trồng chính phát triển
o Huang và cộng sự (2004) đã thực hiện luân canh vườn cây ăn quả với Lạc Dại trong 3 năm và tiến hành so sánh chỉ tiêu chiều cao cây, đường kính thân, tán cây với vườn cây ăn quả không phủ lạc dại
o Firth và cộng sự 2002, nghiên cứu tại Macadamia:
o Chất lượng của quả hạch không nhất quán bị ảnh hưởng bởi cây che phủ đất, trong khi nước của quả hạch bị cản trở
o Doanh và Tuấn 2004, cho biết lạc dại tăng năng suất cây mận, đồng thời trái
lớn hơn và màu sáng hơn khi kết hợp vườn cây ăn quả canh tác với lạc dại
Làm thức ăn cho gia súc
Cây lạc dại làm thức ăn cho gia súc, giữ chức năng như là cây che phủ khi nó chiếm giữ đất thay cho bãi cỏ hoặc rơm khô, và như là phân xanh khi nó được sát hợp cuối cùng Lợi ích cải tạo đất lớn, khi không cắt cho gia súc ăn, đến một thời gian sau sinh khối được tích lũy khi chết
Các kết quả nghiên cứu về lợi ích của trồng xen cây họ đậu – cỏ bãi cỏ thức ăn cho gia súc:
Lạc Dại như là cỏ khô (Perez và cộng sự, 2001; Doanh and Tuan 2004 Maswar và cộng sự, 2006)
Cải thiện chất lượng và số lượng thức ăn cho gia súc (Wunscher và cộng sự, 2004; Villarreal và cộng sự, 2005)
Tăng sản lượng sữa, trọng lượng và tỷ lệ sinh đẻ, đồng thời làm tăng trọng lượng của gia cầm (Rivas and Holfman, 2000; Lara and Reategui, 2004; Lobo and Acuna và cộng sự 2003)
Tất cả lợi ích đó xảy ra do hàm lựợng chất dinh dưỡng trong Lạc Dại cao hơn
so với chất dinh dưỡng chứa trong một số lọai cỏ khác và cũng do sản xuất sinh khối cao ở cỏ - cây họ đậu như là cỏ khô, ảnh hưởng đến đất và thú nuôi
Kiểm soát bệnh
Cây che phủ có thể làm tăng một số dịch bệnh Các nhà sinh thái học cho rằng
hệ thống tự nhiên ổn định có đặc thù rất đa dạng, gồm nhiều loại cây trồng khác nhau, động vật chân đốt, động vật có vú, chim và vi sinh vật Sự phát triển của cây che phủ làm tăng sự đa dạng trong hệ thống cây trồng Trong hệ thống ổn định, sự bộc phát
Trang 16 Ngăn chặn sự phát triển của cỏ dại
Cỏ dại phát triển mạnh trên đất trống Cây che phủ chiếm hết chỗ và ánh sáng, bằng cách che bóng cho đất và giảm cỏ dại Độ tơi xốp của đất ảnh hưởng đến độ sâu
rễ cây phân xanh và do đó làm giảm quần thể cỏ dại phát triển mạnh trên đất
Allelopathic plants chất ức chế sinh học cây trồng nó ngăn chặn hoặc làm chậm
sự phát triển của những cây trồng khác ở gần nó bởi chất độc tự nhiên giải phóng ra, or
“allelochemical” “hóa chất sinh học” Thảm phủ thực vật ức chế cỏ dại trong suốt mùa
vụ trồng trọt bằng sự cạnh tranh ánh sáng, độ ẩm và chất dinh dưỡng
Một vài nghiên cứu đã ghi nhận:
Lạc dại có thể kiểm soát cỏ dại (Rivas and Holman, 2000; Doanh and Tuan, 2004) Sự sản xuất sinh khối cao của lạc dại ngăn chặn một vài loại cỏ dại phát triển Severino and Christoffeleti (2004), đã báo cáo rằng lạc dại ngăn chặn cỏ guenia, hairy beggarsticks và cỏ trong tự nhiên trong vườn lê tàu Zhiping et al (2002) từ Trung Quốc, phát triển cỏ dại bị giảm khi so sánh với độc canh cây sắn Nhưng Isaac và cộng
sự, 2006) cho biết sự lấn chiếm của Commelina difus, lạc dại chỉ có tiềm năng rất ít trong quản
lý cỏ dại
Hoạt động của rễ
Lạc dại cải thiện các tính chất đất, làm đất tơi xốp, tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng và phát triển
Tăng hoạt động vi sinh vật trong đất
Sự ảnh hưởng của quần thể động vật trong đất đến sự khoáng hóa cacbon và nitrogen, đó là hai nguyên tố quan trọng trong nông nghiệp Hai nguyên tố liên kết chặt chẽ với nhau như tỷ lệ sự khoáng hóa C có liên quan tới sự cố định N Tỷ lệ khoáng hóa N cũng phụ thuộc vào tỷ lệ C/N của vật chất hữu cơ
Trang 1714
Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hoạt động của vi sinh bao gồm các vấn
đề đất đai, nhiệt độ, độ ẩm đất, lượng khí carbon và nitơ (C/N), tỷ lệ C/N mô cây phản ánh các loại và độ tuổi từ nguồn mà nó chuyển hóa Tỷ lệ C/N vật chất hữu cơ phân hủy nhanh chóng từ 15/1 đến 25/1
Nói chung cây lạc dại là cây có tiềm năng rất lớn trong hệ thống nông nghiệp bền vững Ngoài ra cây lạc dại còn có thể dùng làm cảnh
Abdul-Baki, 2002 chỉ đạo nghiên cứu cho thấy rằng sự thích hợp của A pintoy
cv Amarillo and Accession No IRFL 7154, trồng dọc hai bên đường được thực hiện
tại Florida kết luận rằng lạc dại thích hợp là cây cảnh Chi phí trồng cây thấp, hầu như
không yêu cầu phải cắt tỉa và giảm sự duy trì trồng cây ven đường đem lại thẩm mỹ với thảm phủ màu xanh và hoa màu vàng quyến rũ Sau khi được thiết lập nó rất ít cần nước tuới ngay cả dưới điều kiện hạn hán
2.5 Cây che phủ và trồng rau
Việc trồng cây che phủ kết hợp với một số mô hình canh tác đã trở nên khá phổ biến trên thế giới
Cụ thể như: việc kết hợp trồng lạc dại trong 4 hệ thống đã được tiến hành
Nghiệm thức 1: cây đu đủ, Arachis pintoy, cây ớt Nghiệm thức 2: physic nut, Arachis pintoy, ớt Nghiệm thức 3: 5 loại cây rừng khác nhau (a) Black cabbage bark, (b) Cedar, (c) Billy web, (d) Mahogany và (e) Teak, Arachis pintoy, cây ớt Nghiệm thức
4: cây ớt
Qua kết quả thí nghiệm cho thấy: nghiệm thức 2 : physic nut, Arachis pintoy, ớt
cho sản lượng ớt thu hoạch cao nhất
Nước ta đã ứng dụng cây lạc dại vào sản xuất ở các tỉnh phía Bắc, người dân trồng xen cây lạc dại giữa hai hàng mì, ngô tăng năng suất cây trồng và cải tạo đất Việc chọn cây che phủ trong vấn đề sản xuất rau hiện nay chưa được áp dụng một cách rộng rãi và một số vấn đề liên quan đến cây che phủ và sản xuất rau không được nông dân hiểu biết một cách đúng đắn vai trò và tầm quan trọng của nó
Phần lớn các loại rau có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất rất cao nên yêu cầu cung cấp một lượng lớn chất dinh dưỡng Người dân đã lạm dụng phân bón hóa học tăng năng suất cây trồng và quá trình sử dụng phân bón không hợp lý trong một thời gian dài sẽ làm đất bị thoái hóa
Trang 1815
Nếu sử dụng cây che phủ họ đậu và kết hợp với việc luân canh thích hợp sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho người trồng, bảo vệ và cải tạo đất, an toàn cho môi trường
Hiện nay cây che phủ chưa được người trồng rau chấp nhận rộng rãi vì còn một số mặt hạn chế sau:
- Một số người sản xuất rau, đặc biệt sản xuất rau hàng hóa không kết hợp với chăn nuôi để sử dụng cây che phủ làm thức ăn cho gia súc
- Cây rau được trồng truyền thống trên phạm vi nhỏ thoát nước tốt, màu mỡ, khó khăn trong việc lựa chọn cây che phủ luân canh cây rau
- Cây che phủ thường làm tăng chi phí sản xuất do hạt giống và chi phí trồng cây trong thời gian dài kết hợp với việc quản lý cây che phủ
- Quay vòng vốn đầu tư không thể nhận thấy trong thời gian ngắn Một số cây che phủ kết hợp với lợi ích cải tạo chất lượng đất là không thể thực hiện trong một thời gian ngắn
2.6 Một vài đặc điểm của một số loại rau trồng thí nghiệm
2.6.1 Khổ qua
Cây mướp đắng (khổ qua) có nguồn gốc ở châu Phi, hiện nay được trồng rộng rãi ở khắp các nơi trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Do có biên độ sinh thái rộng, nên ở vùng nhiệt đới mướp đắng có thể sinh trưởng quanh năm, rất dễ mẫn cảm với điều kiện úng ngập Mướp đắng có thể trồng trên nhiều loại đất nhưng sinh trưởng thuận lợi nhất trên đất giàu dinh dưỡng và thoát nước tốt Mướp đắng là thức ăn, vị thuốc của nhiều dân tộc trên thế giới Nó là cây dây leo bằng tua cuốn Thân có góc cạnh, lá mọc so le, phiến lá hình tim tròn chia 5 – 7 thùy, mép khía răng cưa to Tràng hoa màu vàng nhạt Quả dài 15 – 23 cm, trên mặt quả có nhiều u nổi màu xanh nhạt, khi chín chuyển sang màu vàng rồi đỏ hồng Hạt có màng màu đỏ (giống hạt gấc).Mùa quả từ tháng 2 đến tháng 12 (gần như quanh năm)
Cây Khổ qua thời gian sinh trưởng ngắn, sau khi gieo 35 - 40 ngày là có thể thu hoạch
Thời gian thu hoạch có thể kéo dài từ 1,5 - 2 tháng, năng suất và hiệu quả kinh tế khá cao
Trang 1916
2.6.2 Dƣa leo
Dưa leo được biết ở Ấn Độ cách nay hơn 3.000 năm, sau đó được lan truyền
dọc theo hướng Tây Châu Á, Châu Phi và miền Nam Châu Âu Dưa leo được trồng ở Trung Quốc từ thế kỷ thứ 6 và hiện nay được trồng rộng rãi khắp nơi trên thế giới Dưa leo cung cấp nhiều vitamin và khoáng chất Trái dưa leo chứa 96% nước
và 100g trái tươi cho 14 calo; 0,7 mg protein; 24 mg calcium; vitamin A 20 IU; vitamin C 12 mg; vitamin B1 0,024 mg; vitamin B2 0,075 mg và niacin 0,3 mg
Đặc tính sinh học:
Rễ: Bộ rễ dưa phát triển rất yếu, rễ chỉ phân bố ở tầng đất mặt 30 - 40 cm
Thân: Thân thảo hằng niên, thân dài, có nhiều tua cuốn để bám khi bò Chiều dài thân tùy điều kiện canh tác và giống, các giống canh tác ngoài đồng thường chỉ dài từ 0.5 - 2,5 m Thân trên lá mầm và lóng thân trong điều kiện ẩm độ cao có thể thành lập nhiều rễ bất định Thân tròn hay có góc cạnh, có lông ít nhiều tùy giống Thân chánh thường phân cành; cũng có nhiều dạng dưa leo hoàn toàn không thành lập cành ngang
Sự phân cành của dưa còn chịu ảnh hưởng của nhiệt độ ban đêm
Lá: Lá đơn, to mọc cách trên thân, dạng lá hơi tam giác với cuống lá rất dài 5 - 15 cm; rìa lá nguyên hay có răng cưa Lá trên cùng cây cũng có kích thước và hình dáng thay đổi Hoa: Đơn tính cùng cây hay khác cây Hoa cái mọc ở nách lá thành đôi hay riêng biệt; hoa đực mọc thành cụm từ 5 - 7 hoa; dưa leo cũng có hoa lưỡng tính có giống trên cây có cả 3 loại hoa và có giống chỉ có 1 loại hoa trên cây Hoa có màu vàng, thụ phấn nhờ côn trùng, bầu noãn của hoa cái phát triển rất nhanh ngay trước khi hoa nở Các giống dưa leo trồng ở vùng ĐBSCL thường ra hoa sớm, bắt đầu ở nách lá thứ 4 - 5 trên thân chính, sau đó hoa nở liên tục trên thân chính và cành
Sự biến dị về tính trạng giới tính ở dưa leo rất rộng, đó là đặc tính thích nghi mạnh của cây trong điều kiện môi trường Nói chung, điều kiện ngày dài, nhiệt độ cao
và các điều kiện bất lợi khác làm cho cây cho nhiều hoa đực Ngoài ra, tỉa cành, sử dụng kích thích sinh trưởng và chế độ phân bón có thể ảnh hưởng đến sự biến đổi giới tính của cây Các dạng cây có giới tính khác nhau ở dưa leo được nghiên cứu và tạo lập để sữ dụng trong chọn tạo giống lai
Trái, hạt: Lúc còn non có gai xù xì, khi trái lớn gai từ từ mất đi Trái từ khi hình thành đến khi thu hoạch có màu xanh đậm, xanh nhạt, có hay không có hoa văn
Trang 2017
(sọc, vệt, chấm), khi chín trái chuyển sang màu vàng sậm, nâu hay trắng xanh Trái tăng trưởng rất nhanh tùy theo giống, có thể thu trái từ 8 - 10 ngày sau khi hoa nở Phẩm chất trái không chỉ tùy thuộc vào thành phần các chất dinh dưỡng trong trái mà còn tùy thuộc vào độ chặc của thịt trái, độ lớn của ruột trái và hương vị trái Trái chứa hạt màu trắng ngà, trung bình có từ 200 - 500 hạt/trái
Dưa leo thuộc nhóm ưa nhiệt, nhiệt độ ngày thích hợp cho dưa tăng trưởng là
30oC và nhiệt độ ban đêm 18 - 21oC Dưa có phản ứng với độ dài ngày khác nhau tùy theo giống, thông thường ngày ngắn kích thích cây ra lá và trái, vì vậy điều kiện thời tiết vùng đồng bằng cho phép dưa leo ra hoa trái quanh năm
Yêu cầu về độ ẩm đất của dưa leo rất lớn Dưa chịu hạn rất yếu, thiếu nước cây sinh trưởng kém và tích lũy chất cucurbitaxin làm trái trở nên đắng Tuy nhiên ẩm độ không khí cao lại giúp cho bệnh đốm phấn phát triển mạnh
và Hồng Kông trong khi Brunei thì thích trái ngắn, màu xanh đậm vì có nhiều trái/kg Đậu xuất khẩu sang Châu Âu và Canada thì thích trái dài trung bình, màu xanh nhạt Đặc tính sinh học
Cây thân thảo hằng năm, hệ thống rễ phát triển tốt
Thân bò, leo quấn, có góc cạnh, không lông, mắt thân thường có màu tím
Lá kép 3 lá phụ với cuống dài, lá mọc xen kẻ, mặt lá ít lông tơ
Phát hoa mọc ở nách lá, hoa màu vàng hay xanh lơ mọc thành chùm ở đỉnh Tràng hoa có 5 cánh rời, nhụy đực gồm 9 dính + 1 rời, bầu noản với 12 - 21 noãn Hoa lưỡng tính, tỉ lệ thụ phấn chéo bởi côn trùng rất thấp trong điều kiện khí hậu khô, nhưng trong điều kiện ẩm ướt tỉ lệ nầy có thể tăng đến 40%
Trang 2118
Trái dài 30 - 120 cm, trái non thẳng, láng, mềm; trái già co thắt lại trái chứa 10 - 30 hạt Trái tươi có giá trị dinh dưỡng tương đối cao, giàu protein, chất bột đường và vitamin A
Hạt hình quả thận, màu sắc và kích thước thay đổi
Sau khi nẩy mầm cây tăng trưởng nhanh, ra hoa 35 ngày sau khi gieo và bắt đầu cho thu hoạch trái tươi 2 tuần sau khi hoa nở Tùy theo sự tăng trưởng và cường độ thu hái, cây ra hoa, kết trái kéo dài 1.5 - 2 tháng và cây tàn 3 - 4 tháng sau khi trồng
Đậu đũa thích khí hậu nóng, nhiệt độ ban ngày thích hợp là 25 - 35oC và nhiệt
độ ban đêm không dưới 15oC Đậu đũa phản ứng với độ dài ngày không rỏ rệt nhưng thiên về cây ngày ngắn Đậu mọc tốt ở vùng đồng bằng và nơi có cao độ trung bình, ở cao độ cao > 700 m sự ra hoa của đậu bị hạn chế nhất là vào mùa có thời tiết lạnh Đậu đũa chịu hạn giỏi đồng thời tăng trưởng tốt trong mùa mưa ẩm độ cao, nơi
có vũ lượng 1500 - 2000 mm Nhu cầu nước cả vụ là 6 - 8 mm/ngày Trồng trong mùa nắng có tưới đậu mọc tốt như trong mùa mưa
Đậu trồng được trên mọi loại đất , thích hợp trên đất nhiều hữu cơ, pH từ 5,5 - 6
2.6.4 Đậu côve
Đậu cove có nguồn gốc từ Trung Mỹ và được trồng cách nay hơn 600 năm Trái non chứa khoảng 2,5% đạm, 0,2% chất béo, 7% chất đường bột và đặc biệt nhiều vitamin A và C và chất khoáng, trái có thể dùng ăn tươi, đóng hộp và đông lạnh Ở các nước Châu Á như Ấn Độ, Miến Điện, Nepal, SriLanka, Bangladesh hột đậu cove khô được sử dụng trong các bữa ăn kiêng Đậu cove là một trong những loại hoa màu thích nghi trong hệ thống luân canh với lúa và là loại đậu rau quan trọng bậc nhất vì phân bố rộng khắp, sản lượng tương đối lớn và có khả năng là nguồn thu nhập khá cao cho các nông hộ Đậu cove là cây hằng niên, thân thảo, rễ chính mọc sâu nên cây có khả năng chịu hạn tốt, rễ phụ có nhiều nốt sần chủ yếu tập trung ở độ sâu khoảng 20 cm Thân
có 2 dạng: thân sinh trưởng hữu hạn và vô hạn Lá kép có 3 lá phụ với cuốn dài, mặt lá rất ít lông tơ Chùm hoa mọc ở nách lá trung bình có từ 2 - 8 hoa
Sau khi trồng 35 - 40 ngày đã có hoa nở, hoa lưỡng tính tự thụ phấn khoảng 95% nên việc để giống rất dễ dàng Trái đậu ăn tươi thu hoạch từ 10 - 13 ngày sau khi hoa
nở Hột đậu to, trọng lượng 1.000 hột 250 – 450 g
Trang 22Độ ẩm đất 65% là thích hợp Vợt quá 80% cây dễ bị bệnh Thời kì ra hoa cần ẩm nhiều
Độ ẩm không khí thấp có thể gây ra hiện tượng rụng hoa, rụng quả và nhiều hiện tượng khác thường làm mất giá trị thương phẩm
Đậu cô ve ưa các loại đất nhẹ, có độ phì cao Đất cần tơi xốp, dễ thoát nước
Trang 2320
Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm
Trại thực nghiệm trung tâm công nghệ sinh học, Đại Học Nông Lâm TP HCM
Mẫu đất và cây lạc dại được phân tích tại phòng thí nghiệm
3.1.3 Tình hình thời tiết trong các tháng thí nghiệm
(Nguồn: Trạm khí tượng thủy văn Tân Sơn Nhất, Tp HCM)
Qua bảng 3 cho thấy tổng lượng mưa cao ở các tháng 4, 5 và số ngày mưa kéo dài, nên ảnh hưởng đến thời gian ra hoa, ra trái ở khổ qua, dưa leo
Số ngày mưa thay đổi lớn từ tháng 2, 3 đến tháng 4, 5 gây ảnh hưởng đến năng suất cây rau
Nhìn chung thời tiết không thuận lợi cho cây rau sinh trưởng và phát triển khi không có mái che
Trang 24 Khổ qua: Giống quả xanh của thành phố Hồ Chí Minh
Dưa leo: Giống quả nhỏ: thân gầy, lá mỏng , trái màu xanh vàng, gai trắng xám
Đậu Đũa: giống đậu đũa hồng điểm : thân sinh trưởng vô hạn, giống hạt trắng
Đậu Cove leo: Giống đậu cove Đài Loan hạt trắng
- Phân bón: Phân bò, urê, super lân, kali clorua, NPK (16-16-8), DAP
- Vật liệu khác: Tre, dây nilon, kẽm,…
3.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm đơn yếu tố, bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên gồm 3 lần lặp lại: Nghiệm thức 1(P): có lạc dại
Nghiệm thức 2(NP): không có lạc dại
Bốn loại rau được ký hiệu theo số: (1) khổ qua, (2): dưa leo, (3) đậu đũa, (4) đậu cove được bố trí ngẫu nhiên trên từng nghiệm thức có và không có lạc dại
- Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
Chiều biến thiên
Quy mô thí nghiệm:
Diện tích toàn khu khoảng 300 m2
Trang 25Sau khoảng 3 - 4 tháng cắt thân (hom) để làm giống nhân ra
Cắt xong, làm cỏ, xới đất cho tơi xốp và tưới đủ ẩm cho cây tiếp tục sinh trưởng, phát triển
- Bón 2 (kg) N/126 m2 cây sinh trưởng tốt
Trang 26- 2 - Xử lý hạt giống Ngâm nước 3 sôi 2 lạnh, ủ khăn ẩm cho đến khi hạt ra nhớt,
lau nhớt, tiếp tục ủ khăn ẩm cho đến khi hạt nứt nanh
0 - Gieo Mật độ 25 x 25 cm , sâu 5- 7 cm, dự phòng 10 % trong khay
để trồng dặm
10 - Trồng dặm Dùng cây dự trữ thay thế cây chết và cây sinh trưởng kém
15 - Làm giàn Giàn hình chữ A, dùng dây nilon
20
- Làm cỏ, nhấc
dây lạc dai
- Bón thúc lần 1
- Nhấc hoặc cắt cây lạc dại bò sát gốc cây rau
- 1.08 kg NPK 16-16-8, hòa vào nước tưới cho 54 m2
30 - Làm cỏ
- Bón thúc lần 2 - 1.08 kg NPK 16-16-8, hòa vào nước tưới cho 54 m2
41 - Bắt đầu thu hoạch - Thu trái da căng bóng, gai nở đều
Trang 2724
o Dƣa leo:
Bảng 3.3:Quy trình trồng dưa leo
- Nhấc hoặc cắt cây lạc dại bò sát gốc cây rau
- 1.08 kg NPK 16-16-8 hòa vào nước tưới cho 54 m2
30 - Làm cỏ
- Bón thúc lần 2 - 1,62 kg NPK 16-16-8 hòa vào nước tưới cho 54 m2
37 - Bắt đầu thu hoạch - Thu trái da căng, bóng
55 - Bón nuôi trái - 1,08 kg NPK 16-16-8/54 m2, KCl 0.2 kg/54 m2,
đào hốc sâu 20 cm, cách gốc 25 cm, cho phân vào và lấp đất lại
Trang 2825
c Đậu đũa:
Bảng 3.4:Quy trình trồng đậu đũa
- 0,27 kg DAP hòa vào nước tưới cho 54 m2
33 Thu hoạch - Thu trái to, bóng, xanh mượt
45 - Làm cỏ
- Bón thúc lần 2
- 2,16 kg NPK 16-16-8 hòa vào nước tưới cho 54 m2
55 - Bón nuôi trái - 2,16 kg NPK 16-16-8/54 m2, 0.54 kg urê/54 m2, 0,2
kg kali/54 m2 Đào hốc sâu 20 cm, cách gốc 25
cm, cho phân vào và lấp đất lại
Trang 2926
o Đậu cove:
Bảng 3.5: Quy trình trồng đậu cove
- Nhấc hoặc cắt cây lạc dại bò sát gốc cây rau
- 0,17 kg DAP/54 m2, 0,2 urê kg, hòa vào nước tưới theo hàng
33 Cây chết hoàn toàn do bị nấm rễ
Trang 30Bốn loại rau được theo dõi các chỉ tiêu
Chọn ngẫu nhiên 2 cây/hàng, (8 cây/nghiệm thức) theo dõi các chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu sinh trưởng
Tỷ lệ nẩy mầm: theo dõi phân trăm nẩy mầm, ghi nhận kết quả khi các hốc theo dõi đạt tỷ lệ nẩy mầm cao nhất
Số cành trung bình/cây: Đếm số cành cấp 1 trên cây, theo dõi (7ngày/lần) vào các ngày sau gieo: 7, 14, 21, 28, 35
Động thái ra cành: ghi nhận thời gian 15%, 75% số cây theo dõi phân cành cấp 1
Động thái ra hoa: ghi nhận thời gian khi 15% số cây theo dõi ra hoa (bắt đầu ra hoa), 75% số cây theo dõi ra hoa (ra hoa rộ)
Thời gian thu hoạch: ghi nhận thời gian 15% (bắt đầu thu hoạch), 75% (thu hoạch rộ) trên các cây theo dõi Đậu đũa, đậu cove, khổ qua hai ngày thu hoạch một lần Dưa leo ngày thu hoạch một lần
Các yếu tố cấu thành năng suất:
Số trái trên/cây: số trái trung bình của các cây theo dõi
Trọng lượng trung bình trái(g) = TLTB trái/cây/số trái thu hoạch trên cây