Quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Hải Dương (LV thạc sĩ)Quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Hải Dương (LV thạc sĩ)Quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Hải Dương (LV thạc sĩ)Quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Hải Dương (LV thạc sĩ)Quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Hải Dương (LV thạc sĩ)Quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Hải Dương (LV thạc sĩ)Quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Hải Dương (LV thạc sĩ)Quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Hải Dương (LV thạc sĩ)Quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Hải Dương (LV thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BÙI ĐỨC MINH
QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BÙI ĐỨC MINH
QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM HỒNG QUANG
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, ngày 5 tháng 5 năm 2016
Tác giả luận văn
Bùi Đức Minh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập trong đào tạo theo
học chế tín chỉ tại trường Đại học Hải Dương” là một nội dung của khoa học
quản lý giáo dục nhưng là kết quả của quá trình nghiên cứu công phu của bản thân sau một thời gian được học tập, nghiên cứu tại trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Có được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Hồng Quang, người đã tận tụy giúp đỡ, chỉ dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô trong Ban lãnh đạo Khoa Tâm lý giáo dục, Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên; các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tâm, tận lực của Hội đồng khoa học trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
và góp nhiều ý kiến quý báu cho bản luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Lãnh đạo, cán bộ, giảng viên, sinh viên trường Đại học Hải Dương đã tạo mọi điều kiện về tinh thần, vật chất, cung cấp thông tin khảo sát cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu đề tài
“Quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Hải Dương” Dù đã có rất nhiều cố gắng, song khó
tránh khỏi những thiếu sót, rất mong tiếp tục nhận được sự chỉ dẫn, góp ý và giúp đỡ quý báu của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Thái Nguyên, ngày 5 tháng 5 năm 2016
Tác giả luận văn
Bùi Đức Minh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 5
1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 10
1.2 Các khái niệm cơ bản 12
1.2.1 Cố vấn học tập 12
1.2.2 Quản lý 13
1.2.3 Quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập 13
1.3 Một số vấn đề về cố vấn học tập và mô hình cố vấn học tập 19
1.3.1 Một số vấn đề về cố vấn học tập 19
1.3.2 Mô hình cố vấn học tập ở trường đại học 23
Trang 61.4 Một số vấn đề chung về đào tạo theo tín chỉ ở trường Đại học 24
1.4.1 Tín chỉ 24
1.4.2 Đặc điểm của học chế tín chỉ 26
1.4.3 Ưu điểm của đào tạo theo học chế tín chỉ 26
1.4.4 Nhược điểm của đào tạo học chế tín chỉ 29
1.4.5 Một số nội dung về đào tạo theo học chế tín chỉ 30
1.5 Quản lý phát triển mô hình quản lý hoạt động cố vấn học tập trong đào tạo theo tín chỉ ở trường đại học 30
1.5.1 Lập kế hoạch quản lý phát triển mô hình CVHT 30
1.5.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển mô hình CVHT 31
1.5.3 Chỉ đạo hoạt động CVHT 31
1.5.4 Kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện hoạt động CVHT 32
Tiểu kết chương 1 33
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI DƯƠNG 34
2.1 Khái quát về Trường Đại học Hải Dương 34
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của nhà trường 34
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của nhà trường 35
2.2 Khái quát về khảo sát thực trạng 41
2.2.1 Mục đích khảo sát 41
2.2.2 Nội dung khảo sát 41
2.2.3 Đối tượng khảo sát 41
2.2.4 Thời gian khảo sát 41
2.3 Thực trạng mô hình cố vấn học tập trong đào tạo theo tín chỉ tại trường Đại học Hải Dương 41
2.4 Quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Hải Dương 46
Trang 72.4.1 Thực trạng lập kế hoạch phát triển mô hình cố vấn học tập theo
học chế tín chỉ tại trường Đại học Hải Dương 46
2.4.2 Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển mô hình cố vấn học tập theo học chế tín chỉ tại trường đại học Hải Dương 47
2.4.3 Thực trạng công tác chỉ đạo hoạt động CVHT trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Hải Dương 49
2.4.4 Thực trạng quản lý hình thức cố vấn học tập 50
2.4.5 Thực trạng phương pháp quản lý cố vấn học tập 51
2.4.6 Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện hoạt động cố vấn học tập 52
2.5 Thực trạng những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập trong đào tạo theo tín chỉ ở trường Đại học Hải Dương 53
2.6 Đánh giá chung về thực trạng cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Hải Dương 54
2.6.1 Những điểm mạnh 54
2.6.2 Những điểm còn hạn chế 54
2.6.3 Nguyên nhân của thực trạng 56
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI DƯƠNG 59
3.1 Cơ sở xuất phát và nguyên tắc 59
3.2 Đề xuất biện pháp 61
3.2.1 Biện pháp 1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giảng viên về công tác CVHT trong đào tạo theo tín chỉ 61
3.2.2 Biện pháp 2 Xây dựng công cụ hỗ trợ triển khai và phát triển công tác cố vấn học tập 63
3.2.3 Biện pháp 3: Xây dựng chính sách hỗ trợ giảng viên làm Cố vấn học tập 66
Trang 83.2.4 Biện pháp 4: Triển khai công tác cố vấn học tập trong môi trường
giáo dục cả ngày tại trường Đại học Hải Dương 68
3.2.5 Biện pháp 5: Tổng kết rút kinh nghiệm công tác cố vấn học tập ở trường ĐH theo từng năm học/khóa học 73
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 74
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết, khả thi của các biện pháp đề xuất 75
KẾT LUẬN VÀ KHUYỄN NGHỊ 80
1 Kết luận 80
2 Khuyến nghị 80
2.1 Với Bộ Giáo dục và Đào tạo 80
2.2 Với Ban Giám hiệu Trường Đại học Hải Dương 81
2.3 Với Cố vấn học tập trường Đại học Hải Dương 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHẦN PHỤ LỤC 86
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp ý kiến đánh giá của đội ngũ CBQL, GV, SV về sự
cần thiết của CVHT trong đào tạo theo tín chỉ 41
Bảng 2.2: Tổng hợp về độ tuổi của CVHT tại trường Đại học Hải Dương 44
Bảng 2.3: Đánh giá của đội ngũ CBQL, GV, SV về công tác quán triệt, tuyên truyền về các văn bản, tài liệu liên quan đến CVHT 45
Bảng 2.4 Đánh giá của CBQL về mức độ lập kế hoạch phát triển mô hình CVHT theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Hải Dương 46
Bảng 2.5 Đánh giá của CVHT về mức độ lập kế hoạch phát triển mô hình CVHT theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Hải Dương 47
Bảng 2.6 Tổng hợp đánh giá của CBQL về thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển mô hình CVHT 48
Bảng 2.7 Tổng hợp kết quả đánh giá của CBQL về thực trạng công tác chỉ đạo hoạt động CVHT tại nhà trường 49
Bảng 2.8 Tổng hợp kết quả đánh giá của GV làm CVHT về thực trạng công tác chỉ đạo hoạt động CVHT tại nhà trường 50
Bảng 2.9 Tổng hợp đánh giá của CBQL, GV về thực trạng quản lý hình thức CVHT 51
Bảng 2.10 Tổng hợp đánh giá của CBQL, GV về phương pháp quản lý CVHT 51
Bảng 2.11 Tổng hợp đánh giá của CBQL, GV về kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện hoạt động CVHT 52
Bảng 2.12 Thực trạng những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập 53
Bảng 3.1 Đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất 76
Bảng 3.2 Đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp 77
Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả đánh giá mức độ cần thiết 78
và mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất 78
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trên con đường đưa Việt Nam trở thành một nước phát triển theo hướng công nghiệp hiện đại thì giáo dục, nhất là giáo dục đại học có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng Giáo dục đại học đã đào tạo và cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực dồi dào trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển đất nước
Vấn đề chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ
là bước chuyển tất yếu khách quan của hệ thống giáo dục đào tạo đại học của Việt Nam theo xu thế hội nhập khu vực và quốc tế
Phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ có những ưu điểm vượt trội là:
có tính mở, linh hoạt và kết nối các cơ sở đào tạo, mang lại những tiện ích tối
đa cho người học; mang lại hiệu quả học tập cao do giá thành học tập thấp, độ mềm dẻo, khả năng thích ứng của chương trình đào tạo phù hợp với mục tiêu học tập suốt đời của mỗi người trong xã hội hiện đại, hiệu quả về quản lý cao
do tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của người học và người dạy trong hệ thống đào tạo không ngừng được củng cố và nâng cao; thể hiện đầy đủ tính thích ứng, tính mở của hệ thống giáo dục đại học trong thời đại công nghệ thông tin phát triển và hội nhập quốc tế về giáo dục như một nhu cầu tất yếu
Trong đào tạo theo học chế tín chỉ, cố vấn học tập là một nét đặc trưng quan trọng Cố vấn học tập có vai trò đặc biệt quan trọng trong đào tạo tín chỉ và ảnh hưởng đến sự thành công trong học tập, rèn luyện của sinh viên Mỗi cố vấn học tập như là một “mắt xích” trong vòng trong mối liên hệ giữa sinh viên - chương trình đào tạo - nhà trường Phần lớn các trường đại học hiện nay đã có những văn bản quy định rõ nhiệm vụ, vai trò, quyền lợi và trách nhiệm của cố vấn học tập Tuy nhiên, kết quả thực hiện theo các văn bản cũng như nhiệm vụ và vai trò của cố vấn học tập ở các trường đại học hiện nay là rất khác nhau
Trang 12Tại Trường Đại học Hải Dương hiện nay đã và đang áp dụng phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ Tuy vậy, hiệu quả đào tạo nói chung cũng như hiệu quả của cố vấn học tập còn tồn tại những hạn chế, bất cập nhất định
Mô hình cố vấn học tập đã được triển khai thực hiện nhưng còn một số bất cập, hạn chế nhất định trong chỉ đạo, quản lý, tổ chức thực hiện Xuất phát từ những
lý do trên, chúng tôi xin lựa chọn nghiên cứu vấn đề: “Quản lý phát triển mô
hình cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Hải Dương” làm đề tài luận văn của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường Đại học, luận văn đề xuất các biện pháp cho lãnh đạo trường Đại học Hải Dương trong quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý phát triển mô hình cố vấn học
tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại các trường đại học
3.2 Khảo sát thực trạng quản lý phát triển cố vấn học tập trong đào tạo
theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Hải Dương
3.3 Đề xuất các biện pháp quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập
trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Hải Dương
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Hải Dương
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Hải Dương
Trang 135 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Hải Dương có thể đem lại hiệu quả trong quá trình quản lý, tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Hải Dương
6 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá, khảo sát thực trạng quản lý phát triển mô hình Cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Hải Dương
- Các số liệu sử dụng trong luận văn là số liệu được thống kê, điều tra tại trường Đại học Hải Dương 03 năm học trở lại đây tính đến năm học 2015 - 2016
7 Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp các nhóm nghiên cứu sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá lý thuyết để xác định các khái niệm công cụ và xây dựng khung lý thuyết cho đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra:
+ Xây dựng các phiếu hỏi ý kiến đối với các cán bộ QL (Lãnh đạo trường, Lãnh đạo các Khoa, Phòng) tại trường Đại học Hải Dương
+ Xây dựng các phiếu hỏi ý kiến đối với Giảng viên (cố vấn học tập) và cán bộ, viên chức của phòng Đào tạo trường Đại học Hải Dương
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Tổng kết kinh nghiệm quản lý mô hình cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Hải Dương cũng như những kinh nghiệm tại các trường Đại học hiện nay
Trang 14- Phương pháp chuyên gia:
Xin ý kiến chuyên gia về việc xây dựng các biện pháp quản lý mô hình
cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Hải Dương
- Phương pháp thống kê:
Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý các số liệu thu nhận được từ các phương pháp nghiên cứu khác
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường đại học
Chương 2: Thực trạng quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường đại học Hải Dương
Chương 3: Biện pháp quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường đại học Hải Dương
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH
CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu của Kuh, Kinzie, Schuh, Whitt (2005) và Pascarella và Terenzini (2005) đã nhấn manh về tầm quan trọng của việc hướng dẫn những kinh nghiệm học tập bên ngoài lớp học cho sinh viên
Theo Crockett (1985), công tác CVHT được xem là một trong những điều kiện hiệu quả nhất, giúp cho sự phát triển của sinh viên về trí tuệ, nhân
cách và xã hội Một cách cụ thể hơn, Crockett cho rằng: "Công tác CVHT là
một tiến trình trợ giúp sinh viên sáng rõ trong việc lựa chọn các mục tiêu nghề nghiệp, mục tiêu cuộc sống; đồng thời giúp sinh viên phát triển các kế hoạch học tập, nhằm thực hiện các mục tiêu đó" (dẫn theo Martin, 2004, tr.3)
Trang 16Nghiên cứu về hoạt động của CVHT trên thực tế cũng có thể tính từ đầu những năm 1960 khi các nghiên cứu của Chickering (1969), Erikson (1963), janford (1967) (trích theo Daller, 1997) Jean Piaget (1896-1980), Benjamin Bloom (1956), v.v lần lượt được công bố Các lý thuyết này đã giúp cho việc
tư vấn của CVHT trở nên dễ dàng hơn, đồng thời công việc CVHT được đẩy lên một bước chuyên nghiệp hơn
Hoa Kỳ được coi là nơi đầu tiên hình thành hoạt động CVHT trong trường ĐH, sau đó ở Anh, Úc và một số nước châu Âu và châu Á
Để tiếp cận với hoạt động của CVHT, các nghiên cứu vận dụng các lý thuyết ứng dụng trong giáo dục, quản lý và trong tham vấn Các lý thuyết này giúp cho các CVHT tiếp cận với sinh viên một cách toàn diện Xét từ góc độ giáo dục, quá trình xã hội hóa cá nhân liên quan đến vấn đề tôn giáo, sắc tộc, giới tính, phân tầng xã hội, vấn đề người khuyết tật, người đồng tính đã làm
đa dạng hóa các nhóm sinh viên, chúng đòi hòi các CVHT không thể không lưu
ý khi cố vấn cho sinh viên (King, 2005; McKewen, 2003) Trong lĩnh vực CVHT, các lý thuyết phát triển con người (còn được gọi là các lý thuyết phát triển sinh viên) có thể được đặt vào một trong ba khía cạnh phát triển ở người học, như lý thuyết hình thành bản sắc xã hội, lý thuyết phát triển nhận thức và
lý thuyết phát triển về nhân cách - nghề nghiệp (Strange, 2004; King, 2000)
Có nhiều mô hình CVHT khác nhau, tùy theo quan điểm của các nhà nghiên cứu Trên thế giới, có một sổ mô hình CVHT trong các trường ĐH đã được áp dụng nhằm có những tác động tích cực đến việc học tập của người học Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi tập trung làm rõ một số mô hình CVHT theo quan điểm tổ chức quản lý Các mô hình CVHT này được áp dụng trong nhiều trường ĐH trên thế giới (chủ yếu trong các trường ĐH ở Mỹ)
Parđee (2000), Habley (1983, 2004) nghiên cứu hoạt động cùa CVHT trong các trường ĐH chủ yếu ở Mỹ đã phân loại 3 dạng mô hình CVHT như
Trang 17hình chia sẻ (dẫn theo Roger Gabb, 2007; Margaret c King, 2005) Trong mô hình có sự phân cấp, hoạt động CVHT được thực hiện bời các giảng viên và nhân viên trong các khoa; ở mô hình tập trung, toàn bộ hoạt động CVHT được diễn ra ở các đơn vị, trung tâm có sự quản lý, như các trung tâm tham vấn và cố vấn với một giám đốc và nhân viên cùng làm việc trong một tòa nhà/văn phòng Trong mô hình chia sẻ, hoạt động CVHT được chia sẻ giữa những đơn
vị trung tâm và các giảng viên, nhân viên ở các khoa
Trường ĐH Sussex (Anh) đã áp dụng một mô hình CVHT với sự giúp đỡ của sinh viên - Mô hình cố vấn sinh viên (Roger Gabb, 2007) Bộ phận dịch vụ
hỗ trợ sinh viên của trường tuyển dụng khoảng từ 2 đến 5 sinh viên năm trên có kết quả học tập tốt, có thể đáp ứng được nhiệm vụ CVHT để hỗ trợ cho các sinh viên ban đầu Với mô hình này, sinh viên sẽ được giới thiệu đển các CVHT sinh viên, Khi phát sinh những vấn đề mới, các cố vấn sinh viên sẽ chuyển vấn đề của sinh viên lên cố vấn cấp cao hơn - người giám sát Như vậy với hình thức tư vấn này, sinh viên mới nhập trường sẽ được tư vấn bởi các cố vấn đồng đẳng trước khi được giới thiệu đến CVHT chuyên nghiệp Công việc này được hiểu là sự chuyên tiếp, trung gian giữa SV và CVHT (ĐH Sussex,
2007, dẫn theo Roger Gabb (2007)
Ở Anh, hình thức tham gia tư vấn là tự nguyện Ở hầu hết các trường ĐH
và cao đẳng hình thức CVHT cho SV là một hình thức tự nguyện, SV có quyền chọn tham gia hoặc không tham gia dịch vụ trên Về phương pháp tiếp cận, các trường sử dụng phương pháp tiếp cận đài sông - học tập (pastoral- academic approaeh) tổng hợp Thông thường, hoạt động CVHT sẽ được chịu trách nhiệm bởi khoa/ trường Vì vậy, việc vận hành hệ thống CVHT này như thế nào là tùy thuộc vào sự sắp xếp của khoa/ trường đó CVHT không có hoạt động hỗ trợ đặc biệt cho các nhóm SV khác nhau
Trong khi đó ở Mỹ (cũng như ở Úc), hình thức tham gia tư vấn của sinh viên là bắt buộc Phương pháp tiếp cận của CVHT là lấy sinh viên làm trung
Trang 18tâm phát triển Hầu hết các CVHT ở Mỹ sẽ làm việc với sinh viên để giúp họ vạch rõ và thực hiện để đạt được kế hoạch học tập của họ Đây là một hình thức chuyển đổi từ chỗ là người quản lý đơn thuần đến vai trò là một phần trong quá trình học tập của sinh viên Hình thức tổ chức kết hợp giữa các chuyên viên tư vấn chuyên nghiệp và các CVHT thuộc các khoa Việc kêt hợp này tạo nên sự cân bằng giữa các kiến thức chung và các kỹ năng nâng cao của chuyên viên tư vấn với những hiểu biết về phương pháp học tập (discipline- based knowledge)
và các kỹ năng tư vấn phong phú của CVHT
Một đặc điểm của hệ thống CVHT ở Hoa Kỳ là họ cung cấp cả các dịch
vụ hỗ trợ tư vấn chuyên sâu, thường là thông qua một trung tâm tư vấn tập trung Các đối tượng làm việc của họ là các nhóm SV có nguy cơ cao và các
SV này được chỉ định phải tham gia bắt buộc một cách nghiêm túc Việc xác định nhóm SV nào là có nguy cơ còn tùy thuộc vào từng trường ĐH Tuy nhiên, các nhóm có thế là: SV năm thứ nhất, SV chuyển đổi liên thông, các SV
không chính thức (undecided or undeclared student), SV chưa được chuẩn bị
kỹ lưỡng (under- prepared student), SV chịu các hình thức quàn chế, SV thuộc nhóm dân tộc thiểu số, SV là vận động viên
Các tài liệu nghiên cứu vê CVHT ớ châu Á mà chúng tôi thu nhận được
là khá ít ỏi so với những nghiên cứu ở Hoa Kỳ và chúng không cho thấy rõ các
xu hướng nghiên cứu về CVHT ở các nước này Dựa trên những số liệu có được về hoạt động của CVHT của các nước ở châu Á, chúng tôi giới thiệu hoạt động CVHT tại các trường ĐH ở một số nước như:
Nhật Bản, CVHT của trường ĐH, chủ yếu là CVHT cho sinh viên quốc
tế là người quyết định tất cả các nội dung trợ giúp và chịu trách nhiệm tuyển chọn các trợ giáo (tutor) - Đó là những sinh viên, học viên cao học hoặc nghiên cứu sinh trong trường Những trợ giáo này có nhiệm vụ giúp đỡ sinh viên quốc
tế làm quen với môi trường học mới, trợ giúp ngôn ngữ, các vấn đề trong học tập cũng như những khó khăn gặp phải trong cuộc sống hàng ngày
Trang 19Tại Hàn Quốc, theo Kim, B & Yang (2009) một số trường như trường
ĐH Mở Quốc gia Hàn Quốc cung cấp dịch vụ tư vấn học tập online cho sinh viên song song với các văn phòng tư vấn trong trường, nơi sính viên khi có nhu cầu tư vấn thì sẽ được trợ giúp bởi các chuyên gia tư vấn Ngoài ra, hệ thống hỗ trợ sinh viên còn được thông qua các trợ giáo và hệ thống CVHT cũng được vận hành nhằm giúp đờ sinh viên trong học tập và giảm tỷ lệ bỏ học ờ SV
Còn ờ Thái Lan, để cải thiện và hỗ trợ các quá trình quàn lý học thuật, nhiều trường học ờ Thái Lan đã phát triển hệ thống thông tin và dịch vụ mang tính đột phá nham thúc đây hiệu quả và moi quan hệ với sinh viên Một trong nhừng sáng kiên nàv là Hệ thông Gợi ý Sinh viên (Student Recommendation Systein) - SRM SRM
Trong khi ở Singapore, công việc CVHT cho sinh viên là một nhiệm vụ nặng nề cho những kết quả thực tiễn tức thời Vì vậy, việc hướng dẫn cho sinh viên lựa chọn và lên kế hoạch học tập của mình làm sao để phát huy tối đa nội lực của họ đòi hòi tính chuyên môn cao của người cổ vấn Khi mà các chưomg trình học tập được đưa ra ngày càng trở nên phức tạp vả chi phí thời gian các cán bộ trong trường cao thì việc trợ giúp học tập cho sinh viên càng cần phải trở thành một hệ thống chuyên nghiệp Trường ĐH quốc gia Singapore đã phát triển một hệ thống cố vấn thông minh gọi là PACE - viết tắt của cổ vấn lập kế hoạch khóa học và đăng ký môn học PACE được triển khai trên hệ thống máy tính trong toàn trường với các đặc điểm như thân thiện với người sử dụng và dễ dùng, thích ứng với những thay đổi về chương trình học, có thể cung cấp lời khuyên và giải thích thỏa đáng, dễ duy trì (về chương trình vả tài liệu), và nhanh mạnh trong việc trả lời cũng như quay vòng thời gian Hệ thống này không nhằm mục đích thay thế nhu cầu được tham vấn một cách thông thái và cảm thông từ các CVHT là con người của sinh vièn Nó giúp sinh viên tập trung kỹ càng hơn vào các vấn đề để cân nhắc và hình dung chúng trong các tình huống khác nhau trước khi tìm kiếm lời khuyên, do đó có thể làm giảm gánh nặng cho CVHT
Trang 201.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, các hoạt động đánh giá về vai trò cùa CVHT trong đào tạo
tín chỉ bắt đầu được các trường ĐH triên khai, một số bài báo nói về hoạt động
của CVHT cũng bắt đầu xuất hiện trên các tạp chí khoa học, đặc biệt xuất hiện nhiều hơn là các bài báo mạng xung quanh vấn đề đào tạo tín chỉ, vai trò của CVHT trong việc trợ giúp sinh viên
Tác giả Nguyễn Văn Vân (trong "Báo cáo một sô mũi thủng vê công tác
CVHT theo học chế tín chỉ") đã chỉ ra những ưu việt và bất cập của đào tạo tín
chỉ, chính những đặc điểm của đào tạo tín chỉ đã đặt ra yêu cầu cần có CVHT Quản lý sinh viên trong đào tạo theo tín chi có thể xem như lả quản lý "động”
Việc quản lý theo kiểu "động" là một khó khăn, thách thức và đòi hỏi phải thay
đổi nhận thức và cách thức tổ chức đào tạo, cách thức quản lý SV Rõ ràng CVHT chiếm vai trò quan trọng trong đào tạo theo học chế tín chỉ thông qua hoạt động tư vấn, trợ giúp, theo dõi và định hướng cho SV trong việc xây dựng chương trình học tập CVHT được xem là một bộ phận không thể tách rời và đảm báo cho “cỗ máy" học chế tín chi vận hành hiệu quả, thông suốt
Tác giả Trần Văn Hùng, ĐH Duy Tân (trong bài “Nâng cao hiệu quả
công tác CVHT trong các cơ sở giáo dục ĐH”) đăng trên báo Giáo dục thời đại
Online tháng 7/2010 có phản ánh thực trạng hoạt động của CVHT của các trường ĐH dưới quan điểm của tác giả là chưa đạt hiệu quả Lý do giải thích
cho hiện trạng này là CVHT của các trường ĐH hiện nay đang bị “quá tải” về
nhiệm vụ, có nghĩa là CVHT phải “gánh” thêm nhiệm vụ của GVCN lớp như hướng dẫn về thủ tục hành chính, sinh hoạt văn thể mỹ trong khi đó nhiệm vụ
của CVHT là Tư vấn học tập, nghiên cứu khoa học và tư vấn việc làm cho sinh viên Những hạn chế này cũng bắt nguồn từ những khó khăn về nguồn nhân lực, không đủ giáo viên, cơ sở vật chất và kính phí còn hạn hẹp, công tác CVHT còn khá mới mẻ, tác giả nhân mạnh nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng hoạt động CVHT chưa đạt kết quả cao đó là các cơ sở giáo dục ĐH chưa đánh giá đúng vai trò, chức năng và nhiệm vụ của CVHT
Trang 21Nhìn chung cách tổ chức hoạt động CVHT ở mỗi trường sẽ khác nhau vì phụ thuộc vào đặc điểm của trường cả về tổ chức và quy mô đào tạo Tuy nhiên, cho dù được tổ chức dưới hình thức nào thì vấn đề mấu chốt cũng vẫn là khả năng thực hiện nhiệm vụ của nhũng người được phân công làm công tác CVHT, và CVHT cẩn phải nắm được các vấn đề sau: Tích cực nghiên cứu quy chế đào tạo theo học chế tín chỉ, các quy định của Bộ Giáo đục và Đào tạo về chưomg trình khung và nội dung chương trình các ngành đào tạo của trường; Nắm được các thông tin cá nhân của sinh viên về hoàn cảnh gia đình, sức khoẻ
và điều kiện học tập từ đó hướng dẫn sinh viên xây dựng kế hoạch học tập riêng trên cơ sở lựa chọn các học phần được Nhà trường tổ chức giảng dạy
trong từng học kỳ, vừa phù hợp với yêu càu của ngành đào tạo, vừa phù hợp với năng lực, sở thích, điều kiện sinh hoạt, hoàn cảnh cụ thể của SV
Nắm vững quy trình tổ chức đăng ký học phần để tư vấn, xác nhận giúp sinh viên thực hiện và theo dõi việc đăng ký các học phần của từng học kỳ theo chuyên ngành đào tạo; tư vấn cho sinh viên phấn đấu để hoàn thành khối lượng học tập đã đăng ký, có biện pháp theo dõi tinh hình và kết quả học tập của SV
để kịp thời đưa ra những nhắc nhở cần thiết, những chỉ dẫn hợp lý về phương pháp học tập, sử dụng có hiệu quả thời gian tự học giúp SV khắc phục những hạn chế trong học tập, vượt qua những cảnh báo học vụ từ phía nhà trường
Như vậy, vấn đề nghiên cứu về CVHT trên thế giới và trong nước đang
có những cách tiếp cận, những phương pháp, nội dung nghiên cứu khá phong phú và đa dạng, phản ánh được bản chất, đặc điểm riêng, mới mẻ và những vấn
đề đang đặt ra trong thực tiến hiện nay Tuy nhiên, việc quản lý và phát triển
mô hình CVHT tại trường Đại học Hải Dương thì chưa có một nghiên cứu, tìm hiểu cụ thể nào cả về mặt lý luận, thực tiễn
Trang 221.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Cố vấn học tập
Cố vấn là người am tường về một lĩnh vực nào đó và thường xuyên được
cá nhân hoặc tổ chức hỏi ý kiến để tham khảo khi giải quyết công việc Cố vấn
học tập (CVHT) là chức danh quy định trong quá trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ, là người tư vấn, hỗ trợ sinh viên (SV) tự nhận thức về mình, phát huy tối
đa khả năng học tập, lựa chọn đăng ký học phần, xây dựng kế hoạch học tập phù hợp để đáp ứng mục tiêu tốt nghiệp, tìm việc làm thích hợp; theo dõi thành tích học tập của SV nhằm giúp SV điều chỉnh kịp thời hoặc đưa ra một lựa chọn phù hợp trong quá trình học tập
Theo chúng tôi, giữa GVCN và CVHT có rất nhiều điểm tương đồng và
giống nhau và khác nhau thể hiện:
chọn nghề nghiệp của sinh viên
- Là trợ thủ đắc lực giúp lãnh đạo các cấp trong nhà trường ra quyết định
quản lý phù hợp
Thứ hai, khác nhau
- Khác cơ bản nhất đó là GVCN khi thực hiện nhiệm vụ mang năng sắc
thái của quá trình quản lý hành chính theo kiểu chăn dắt, thậm chí đôi khi mệnh lệnh đơn phương với sinh viên
- Điểm khác biệt của CVHT có mà GVCN không có đó là một chuyên gia tư vấn, hỗ trợ về học tập, rèn luyện và việc làm cho sinh viên;
Qua đó cho thấy, CVHT bao gồm toàn bộ chức năng, nhiệm vụ của GVCN, song quá trình thực thi phái thay đổi hẳn phong cách, lề lối làm việc
Trang 23theo tinh thân “thân thiện và tận tình” với SV hơn; điểm nổi hơn với vai trò của
một chuyên gia tư vấn, hỗ trợ về học tập, rèn luyện và việc làm cho sinh viên
lý, khái niệm quản lý có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau, được nhiều tác giả quan niệm khác nhau, nổi bật hơn cả là một số tác giả lớn như:
Có nhiều khái niệm, nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý, mỗi quan niệm nhấn mạnh mặt này hay mặt khác nhưng đều có điểm chung thống nhất xác định quản lý là hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêu
xác định Hay nói một cách khái quát nhất: Quản lý là một quá trình tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản
lý nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức đã đề ra
1.2.3 Quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập
1.2.3.1 Khái niệm phát triển
Phát triển là quá trình vận động từ thấp đến cao “mọi sự vật hiện tượng, con người, xã hội có sự biến đổi tăng tiến về mặt số lượng, chất lượng dưới tác động của bên ngoài (hoặc chủ thể quản lý) đều được coi là phát triển” [12 ,tr.329]
Các nghiên cứu của tác giả Leonard Nadler, T.V Rao, M.M Khan (1969) cho rằng mục tiêu phát triển nhân lực theo quan điểm hiện đại là không quá chú trọng về số lượng, cơ cấu, mà cần hướng đến mục tiêu (phát hiện) tiềm năng; giáo dục và đào tạo phát triển kiến thức, kỹ năng, thái độ con người (phát triển) và cần duy trì một môi trường làm việc thuận lợi nhằm
Trang 24nuôi dưỡng (phát huy) lao động sáng tạo của họ Quan điểm phát triển này có thể được áp dụng cho các cấp độ tổ chức và quốc gia [3, tr.26]
1.2.3.2 Khái niệm Mô hình
“Mô hình” là một trong những thuật ngữ được sử dụng và phổ biến từ lâu trong lịch sử ngôn ngữ của các quốc gia
Các tài liệu nghiên cứu nước ngoài thường xem xét mô hình như là mẫu hình, mô thức (model, paradigm) được thiết lập để mô phỏng, phản ánh đặc điểm cấu trúc hoặc chức năng thể hiện của các đối tượng hiện thực trong những điều kiện tối ưu hóa Có thể nói, mô hình phản ánh gián tiếp đối tượng hiện thực dưới các hình thức khác nhau như: mô hình lý thuyết, mô hình vật lý, mô hình toán học, mô hình xã hội
Thuật ngữ Mô hình xuất phát từ tiếng La Tinh là “Model“ được đưa vào ngôn ngừ khoa học từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 Theo tiếng La tinh, mô hình là chuẩn mực, quy tắc và sự vận động được điều tiết Có thể nói mô hình
là một hệ thống các biểu tượng, là sự tái hiện, là “phiên bản” sau khi đã loại bỏ những gì không phải bản chất của cái hiện thực Mô hình là một biểu tượng được giản ước theo một quy tac nào đó để phân ánh đối tượng sao cho dễ hiểu,
dễ nhận ra nhất Trong khoa học hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về
mô hình tuy nhiên trong đề tài nghiên cứu này chúng tôi quan niệm mô hình như là kết quả của quá trình trừu tượng hoá mà thực chất là kết quả (hình ảnh) của quá trình rút gọn, sắp xếp và tái cấu trúc lại sự vật, hiện tượng hướng vào những cái cốt yếu nhất, bản chất nhất
Mô hình có vai trò hêt sức quan trọng trong nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và xã hội phức tạp, đặc biệt ỉà các hiện tượng tâm lý xâ hội phức tạp, ví
dụ hoạt động trợ giúp nạn nhân chât độc đioxin Nhờ có mô hình mà con người
có thể sâu vào bản chất của các hiện tượng, làm rõ câu trúc và quan hệ qua lại giữa các thành tố tạo nên sự vật hiện tượng đó
Trang 25Theo chúng tôi, mô hình là đối tượng được tạo ra tương ứng với đối
tượng khác qua một số mặt nhất định, phản ánh quan niệm về cấu trúc, thuộc tính, chức năng, cơ chế vận hành của sự vật hiện tượng hay quá trình nào đ ó trong hiện thực
Tính chất, phân loại mô hình
a) Về tính chất
Như trên đã nêu, mô hình phản ánh các nét đặc trưng, điển hình về cấu trúc, mối quan hệ cơ bản của đối tượng nhận thức Do đó, chúng phải đảm bảo những tính chất quan trọng của mô hình với đối tượng hiện thực Bởi lẽ về mặt giá trị, mô hình được thiết kế như là “điểm tựa” để nghiên cứu, khám phá đặc trưng bản chất, quy luật vận động và phát triển của đối tượng nghiên cứu
Mô hình không chỉ phản ánh tính chất đúng đắn (về mặt lý thuyết) mà còn phải thể hiện được công dụng, lợi ích (về mặt thực tế) của nó khi được áp dụng trong thực tiễn Để có thể đáp ứng các yêu cầu này, mô hình cần có một
số tính chất sau: (1) Tính đẳng cấu giữa mô hình và đối tượng hiện thực: đẳng cấu là một trong những tính chất cơ bản của mô hình, mức độ tương đương của
mô hình so với đối tượng hiện thực được gọi là “giới hạn mô hình hóa” Giới hạn này cho phép nhận diện và đánh giá độ biến thiên về sự phù hợp giữa chúng; (2) Tính mô phỏng tương đối của mô hình: mô hình chỉ có thể phản ánh đối tượng ở mức độ nào đó gần đúng so với hiện thực mà khó có thể đạt được
sự đồng nhất hoàn toàn với chúng, tuy nhiên mô hình được phản ánh qua các yếu tố, thuộc tính, mối liên hệ cơ bản của đối tượng nghiên cứu nên nó cũng có thể mô tả một cách trung thực và cơ bản mà không phiến diện về đối tượng hiện thực; (3) Tính lý tưởng và khả thi của mô hình: Như trên đã đề cập, quan niệm mô hình như là những kiểu mẫu có tính chuẩn mực mà con người mong muốn tạo ra, vì vậy mô hình mang rõ nét tính chất lý tưởng của nó Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, tính lý tưởng của mô hình đặt ra yêu cầu đối với nhà nghiên cứu trong quá trình thiết kế mô hình sao cho tương thích với đối tượng
Trang 26nghiên cứu, tức là mô hình không hoàn toàn giống hay quá khác lạ với đối tượng hiện thực Do đó, mô hình lý tưởng phải chứa đựng trong nó đồng thời tính khả thi nữa; (4) Tính dự báo của mô hình: Trên cơ sở phân tích cơ cấu của các thành tố trong mô hình, cơ chế vận hành của chúng trong toàn hệ thống, chúng ta có thể nhận định cũng như phán đoán được xu hướng có tính chất quy luật trong quá trình vận động và phát triển của đối tượng hiện thực qua nghiên cứu mô hình Từ đó, có thể dựa trên mô hình dự báo được xu hướng phát triển của đối tượng hiện thực dưới dạng các khả năng hoặc các kịch bản khác nhau; (5) Tính định hướng của mô hình: như chúng ta biết, mô hình được sử dụng như là một “đối tượng gián tiếp” của hiện thực mà trong những điều kiện thực
tế khác nhau không cho phép nghiên cứu trực tiếp trên đối tượng gốc Vì vậy, việc xây dựng mô hình nghiên cứu có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình triển khai nghiên cứu cũng như có tác dụng chi phối và định hướng toàn bộ các hoạt động nghiên cứu tiếp sau đó Đồng thời, trong bất kỳ loại mô hình nào cũng phải được xây dựng thông qua sự phản ánh đối tượng hiện thực bằng nhận thức của con người Tức là, mô hình có phần không nhỏ được tạo ra từ sản phẩm của
tư duy Căn cứ trên những tiền đề nhận thức ban đầu như vậy được thể hiện trong mô hình làm cho quá trình nghiên cứu thế giới khách quan cũng đồng nghĩa với quá trình chứng minh hay bác bỏ mô hình nghiên cứu đã được thiết
kế trước đó Và như vậy, ta thấy rất rõ tính chất định hướng của mô hình trong hoạt động nghiên cứu nói riêng, trong sự phát triển của khoa học- công nghệ cũng như trong tiến trình phát triển nền văn minh nói chung Tính chất định hướng của mô hình thể hiện như là một mô thức lý luận, như là một lý thuyết.v.v Thậm chí, có người còn cho rằng, sự phát triển của các cuộc cách mạng trong khoa học có dấu ấn rõ nét thông qua sự chuyển đổi mô thức/mẫu hình [44] Điều này phản ánh tầm quan trọng của mô hình nghiên cứu cũng như tính định hướng rõ nét của chúng đối với sự tiến bộ hay trì trệ trong tiến trình nhận thức, khám phá quy luật của thế giới khách quan
Trang 27Tuy nhiên, không phải tất cả các loại mô hình khác nhau đều hội tụ đầy
đủ các tính chất trên mà tùy vào loại mô hình nhất định sẽ thể hiện những tính chất nổi trội và đặc thù của nó Dưới đây sẽ trình bày về sự phân loại mô hình
b) Về phân loại mô hình
Tùy theo mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu cũng như đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và mối liên hệ giữa đối tượng hiện thực (cái được thể hiện) với mô hình (cái thể hiện) mà có nhiều hướng tiếp cận phân chia về mô hình
Ngoài ra, người ta còn dựa trên đặc trưng đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học, các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau để phân loại mô hình (như
mô hình toán học, mô hình vật lý, mô hình hóa học, mô hình địa chất, mô hình kiến trúc, mô hình xã hội, mô hình tổ chức, mô hình quản lý.)
Xét ở khuôn khổ của đề tài mà nội dung của nó có liên quan đến lĩnh vực
cố vấn học tập trong đào tạo đại học theo tín chỉ, sau đây là phần trình bày phân loại mô hình căn cứ trên mối liên hệ giữa đối tượng hiện thực (A) và cái thể hiện - mô hình (a) đối tượng đó bao gồm: (1) Nếu A là đối tượng vật chất cụ thể thì a là mô hình cụ thể Trong trường hợp này nếu mô hình cụ thể thể hiện dưới dạng sơ đồ, hình vẽ thì gọi là mô hình ký hiệu (2) Nếu A là đối tượng trừu tượng và a là đối tượng cụ thể thì a được gọi là mô hình các tiên đề (3) Nếu A là đối tượng trừu tượng tồn tại phổ biến trong các đối tượng vật chất cụ thể dưới dạng các nguyên lý, quy luật và a là mô hình ký hiệu (như (1)) nhưng người ta lại dùng các công cụ Toán học để mô tả các loại mô hình này thì được gọi là mô hình toán học (4) Nếu A là đối tượng có những thuộc tính và chức năng mong muốn nhưng lại chưa thể xuất hiện chính thức trong thực tế mà người ta mong muốn tạo ta thì a trong trường hợp này gọi là mô hình lý thuyết
1.2.3.3 Mô hình CVHT trong đào tạo theo tín chỉ ở trường Đại học
Mô hình cố vấn học tập được hiểu là hệ thống quan niệm về hoạt động của cố vấn học tập trong thực tiễn đào tạo, trong đó phản ánh bản chất, cấu trúc, chức năng, đặc điểm, cơ chế vận hành và quy trình hoạt động của cố vấn học tập thích hợp với đào tạo theo tín chỉ
Trang 28Theo chúng tôi, mô hình CVHT được hiểu là những quy tắc và sự vận động được điều tiết giữa hoạt động của giáng viên và các phòng ban chức năng hay/và Trung tâm tư vấn trong việc tư vấn học tập và các hoạt động khác cho
SV, nhằm giúp sinh viên trưởng thành trong môi trường học tập ở bậc ĐH
1.2.3.4 Quản lý phát triển mô hình cố vấn học tập
Chất lượng giáo dục đại học phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Đối với đào tạo đại học theo học chế tín chỉ, vai trò của cố vấn học tập là không thể bỏ qua Cố vấn học tập không chỉ đơn thuần là lực lượng tư vấn, mà đây là lực lượng chính tham gia vào quá trình đào tạo, phục vụ đào tạo,
do đó việc quản lý hoạt động cố vấn học tập cũng rất khó khăn, nhiều nội dung cần triển khai thực hiện
Các hoạt động của cố vấn học tập chính là sự cụ thể hóa các nội dung trong chức năng, nhiệm vụ của CVHT Quản lý hoạt động của cố vấn học tập, được thể hiện trong thực tiễn qua các nội dung chính là:
- Việc triển khai kế hoạch của nhà trường đại học đối với hoạt động của CVHT: quyết định thành lập, phân công đội ngũ tham gia hoạt động CVHT; kế hoạch triển khai công tác tổ chức đào tạo gắn với phân công nhiệm vụ CVHT;
kế hoạch giám sát và đánh giá kết quả hoạt động
- Quản lý các hoạt động cụ thể của cố vấn học tập:
+ Công tác tư vấn, trợ giúp sinh viên trong học tập, nghiên cứu khoa học, định hướng nghề nghiệp;
+ Công tác quản lý sinh viên;
+ Các hoạt động khác (tham gia các cuộc họp, tập huấn về công tác cố vấn học tập theo yêu cầu của Nhà trường; Nắm vững và triển khai các quy trình liên quan đến công tác đào tạo và quản lý sinh viên; Xây dựng Bản kế hoạch hoạt động của cố vấn học tập theo năm học; Xây dựng và công khai lịch tiếp sinh viên, thời gian và địa điểm tiếp sinh viên định kỳ; cung cấp cho sinh viên
số điện thoại, email và các phương tiện liên lạc khác để sinh viên liên lạc trong
Trang 29trường hợp cần thiết; Bàn giao đầy đủ, kịp thời khi chuyển giao nhiệm vụ cố vấn học tập cho người khác theo sự phân công của Nhà trường.)
- Đánh giá hiệu quả hoạt động công tác cố vấn học tập tại nhà trường;
- Đề xuất những nội dung phát sinh trong quá trình triển khai, thực hiện
1.3 Một số vấn đề về cố vấn học tập và mô hình cố vấn học tập
1.3.1 Một số vấn đề về cố vấn học tập
1.3.1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của cố vấn học tập ở trường đại học
Bắt đầu từ năm 2007, trong quy chế "Đào tạo ĐH và cao đẳng hệ chính
quy theo hệ thống tín chỉ" ban hành kèm theo Quyết định số
43/2007/QĐ-BGDĐT, vai trò quan trọng của CVHT được nêu trong điều lệ về đăng ký học
phần của quy chế là: "Phòng đào tạo của trường chỉ nhận đãng ký khối lượng
học tập của sinh viên ở mỗi học kỳ khi đã có chữ ký chấp thuận của CVHT trong sổ đăng ký học tập hoặc theo quy định của Hiệu trưởng" Cũng tương tự
như vậy, quy định nêu rõ việc rút bớt học phần đã đăng ký của sinh viên phải được CVHT chấp thuận hoặc theo quy định của Hiệu trưởng Mặc dù vai trò và trách nhiệm của CVHT được nêu trong quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo không nhiều nhưng lại đánh dấu một mốc quan trọng cho việc hình thành và phát triển CVHT ở các trường ĐH và CĐ khi nhiều trường cũng đưa ra các văn bản quy định về CVHT của trường mình
a) Nhiệm vụ, quyền hạn của cố vấn học tập
* CVHT pha ̉i thực hiê ̣n được các chức năng cơ bản sau đây:
- Tư vấn, định hướng quá trình học tập và lựa chọn hướ ng nghề nghiệp giúp HSSV;
- Theo dõi và giám sát đươ ̣c quá trình học tập và lựa chọn đi ̣nh hướng nghề nghiệp của sinh viên
- Tham mưu cho lãnh đạo trường, khoa và bộ môn các vấn đề liên quan đến công tác quản lý đào tạo, NCKH và công tác HSSV
Trang 30* CVHT pha ̉i hoàn thành được các nhiê ̣m vụ chính:
- Cù ng với các phòng chức năng quán triệt và tận tình hướng dẫn sinh viên nắm vững các quy chế đào tạo của Bộ GD&ĐT và các quy định cụ thể hóa
về đào tạo của trường
- Tư vấn cho sinh viên về chương trình đào tạo: mục tiêu, chuẩn đầu ra, nội dung chương trình, học phần bắt buô ̣c, tự cho ̣n, ho ̣c phần thay thế…; đồng thời tư vấn cho sinh viên chọn hướng chuyên ngành…
- Tư vấn cho sinh viên cách thức xây dựng kế hoạch học tập cho toàn khóa học đảm bảo sự phù hợp với năng lực và hoàn cảnh của mỗi sinh viên;
- Hướng dẫn sinh viên đăng ký học phần ở từng học kỳ (tiến độ) để hoàn thành kế hoạch học tập đã xây dựng, đồng thời điều chỉnh la ̣i kế hoa ̣ch ho ̣c tâ ̣p cho phù hợp với điều kiê ̣n thực tế;
- Tư vấn cho sinh viên về phương pháp học tập, nghiên cứu khoa học;
- Cảnh báo về kết quả học tập và định hướng sự lựa chọn tiến độ, cách phát huy học giỏi và khắc phục học lực yếu, kém;
- Hướng dẫn sinh viên tham gia các hoạt động ngoại khóa và các hoa ̣t
đô ̣ng học thuật để phát triển các kỹ năng mềm…;
- Nắ m bắt được xu hướng nghề nghiê ̣p và thực hiê ̣n nhiê ̣m vu ̣ tư vấn hướng nghiệp và việc làm cho sinh viên;
- Hướng dẫn và giú p đỡ sinh viên giải quyết những vấn đề khó khăn trong học tập và nghiên cứu khoa học, thậm chí thấu hiểu gia cảnh và có thể giúp đỡ đươ ̣c sinh viên giải quyết mô ̣t số khó khăn trong đời sống
- Thường xuyên động viên, khích lệ HSSV xác định rõ động cơ rèn luyện phấn đấu và yên tâm học tập, kiên trì rèn luyện phấn đấu toàn diện để ngày mai lập nghiệp
Theo đó, CVHT là một mắt xích không thể thiếu trong quá trình giải quyết các vấn đề liên quan đến SV CVHT là người am hiểu quy trình đào tạo, nắm vững chương trình đào tạo và các qui định của trường để tư vấn, định
Trang 31hướng cho SV trong thời gian học tập, rèn luyện tại trường đại học Do đó, CVHT có các nhiệm vụ sau: (1) Tư vấn, định hướng cho SV trong học tập, nghiên cứu khoa học, nghề nghiệp tương lai CVHT là người hiểu tường tận quy trình đào tạo, có nhiệm vụ định hướng, tư vấn, giúp cho SV xây dựng kế hoạch học tập phù hợp với điều kiện về năng lực, điều kiện vật chất và hoàn cảnh cá nhân Ngoài ra, CVHT theo dõi thành tích học tập của SV, giúp SV điều chỉnh kịp thời hoặc đưa ra những lựa chọn đúng trong quá trình học tập Có thể nói rằng CVHT có vai trò then chốt trong mối quan hệ nhà trường - SV, giúp SV thành công trong học tập bậc đại học Bên cạnh đó, CVHT còn định hướng cho
SV trong việc lựa chọn nơi thực tập, lựa chọn đề tài khóa luận, tiểu luận, đề tài nghiên cứu khoa học phù hợp với năng lực, nguyện vọng và định hướng cho
SV lựa chọn hướng đi chuyên sâu hoặc nghề nghiệp tương lai (2) Thực hiện công tác quản lý sinh viên CVHT là người đại diện của Trường để thực hiện công tác quản lý toàn diện SV ở các mặt: Tổ chức đánh giá và xếp loại rèn luyện của SV theo quy chế; tổ chức bầu ban cán sự lớp và bổ sung, kiện toàn theo từng học kỳ, năm học; tổ chức sinh hoạt lớp định kỳ; phối hợp với các đơn
vị liên quan để giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, tác phong của SV; tư vấn
và định hướng cho SV tham gia các hoạt động đoàn thể, các hoạt động xã hội, hoạt động ngoại khóa; liên hệ với gia đình SV… (3) Tư vấn, định hướng cho
SV những vấn đề cá nhân, xã hội và cuộc sống Bên cạnh những nhiệm vụ trên, CVHT còn là người đồng hành với SV trong suốt quá trình học tập bậc đại học
Để làm được việc này, CVHT cần lắng nghe những tâm tư, tình cảm của SV; hướng dẫn SV thực hiện các quy định, chuẩn mực trong mối quan hệ với cá nhân và tập thể; góp ý cho SV các vấn đề về sức khỏe, rèn luyện bản thân và
phát triển nhân cách…
b) Vai trò:
- Trước hết, cố vấn học tập (CVHT) là cầu nối trung gian giữa Nhà trường và sinh viên và sinh viên với thị trường lao động
Trang 32- Là một chuyên gia tư vấn, hỗ trợ về học tập, rèn luyện và việc làm cho sinh viên Cố vấn học tập là một nhà tư vấn, một người giúp đỡ sinh viên phát triển các năng lực nhằm đáp ứng những mục tiêu về học tập, thích nghi với môi trường học tập và cuộc sống của nhà trường, xã hội Đào tạo theo hệ thống tín chỉ không thể thiếu vai trò và hoạt động của cố vấn học tập
- Là người đồng hành cùng sinh viên trong suốt quá trình học tập và cũng là người có ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công trong học tập và lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên Qua hoạt động cố vấn cho Sinh viên, cố vấn học tập nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng, tình cảm, năng lực cá nhân, hoàn cảnh gia đình, khó khăn, ước vọng của từng sinh viên để từ đó có những đề xuất với nhà trường các biện pháp hỗ trợ cho các sinh viên khó khăn, cũng như biện pháp quản lý đối với các sinh viên bị chi phối bởi các vấn đề phức tạp của xã hội
- Là trợ thủ đắc lực giúp lãnh đạo các cấp trong nhà trường ra quyết định quản lý phù hợp
c) Yêu cầu:
- Nắm chắc chương trình đào tạo của ngành/chuyên ngành mà sinh viên theo học do mình làm cố vấn;
- Nắm vững, đầy đủ các văn bản quản lý có liên quan đến đào tạo tín chỉ
để hướng dẫn sinh viên khi cần thiết;
- Nắm rõ chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trong trường để hướng dẫn sinh viên liên hệ công việc khi cần thiết
- Không tư vấn, hướng dẫn theo kiểu bề trên, quan liêu, mệnh lệnh hay không công tâm, công minh và quan hệ với HSSV nhằm mục đích vụ lợi
1.3.1.2 Nội dung cố vấn học tập ở trường đại học
Với vai trò là cố vấn học tập ở trường học, nội dung cố vấn học tập bao gồm các nội dung chính là:
- Cố vấn về lập kế hoạch học tập: Tư vấn cho sinh viên về chương trình học tập: mục tiêu, nội dung và cách lựa chọn các học phần; Tư vấn cho sinh
Trang 33viên đăng ký các học phần của từng học kỳ theo chuyên ngành đào tạo và hướng dẫn cho sinh viên phấn đấu để hoàn thành khối lượng học tập đã đăng
ký Tư vấn cho sinh viên cách thức xây dựng kế hoạch học tập cá nhân cho toàn khóa học với tiến độ mục tiêu và tư vấn kế hoạch cụ thể từng học kỳ Thông qua tình hình, kết quả học tập của sinh viên để tư vấn, hướng dẫn sinh viên trong việc đăng ký, điều chỉnh kế hoạch học tập cho phù hợp với năng lực
và hoàn cảnh của từng sinh viên
- Cố vấn về phương pháp học tập, tư vấn và hướng dẫn cho sinh viên về phương pháp học tập và nghiên cứu khoa học; hướng dẫn, khuyến khích, tạo điều kiện cho sinh viên tham gia các hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học; hướng dẫn sinh viên giải quyết những khó khăn trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
- Cố vấn về các vấn đề tháo gỡ khó khăn trong học tập (quan hệ GV với SV; SV với SV, các cá nhân ) Phối hợp và hỗ trợ các Khoa/Viện chuyên ngành, các phòng chức năng, các tổ chức ĐTN và HSV của Nhà trường trong việc tổ chức các phong trào, các hoạt động ngoại khóa và tham gia các hoạt động đoàn thể, hoạt động xã hội khác của sinh viên, đồng thời theo dõi, đánh giá toàn diện về học tập và rèn luyện của sinh viên Tham dự các hội nghị lớp
và chi đoàn sinh viên Nhận xét và tham gia đánh giá rèn luyện cùng với Ban cán sự lớp và Chi đoàn sinh viên
1.3.1.3 Hình thức cố vấn học tập ở trường đại học
- Cố vấn trực tiếp
- Cố vấn gián tiếp
1.3.2 Mô hình cố vấn học tập ở trường đại học
Theo cách nhìn về mô hình hoạt động chung, người ta cần xem vị trí của CVHT trong mối liên hệ với nhà trường, các phòng ban (như phòng đào tạo, phòng công tác sinh viên ) và các khoa, bộ môn Trong khi đó, mô hình riêng trong hoạt động của CVHT lại là mô hình cho một dạng hoạt động trợ giúp cụ
Trang 34thể, Ví dụ như hoạt động tư vấn cho sinh viên của các chuyên viên phòng đào tạo lả gỉ? Hoạt động của các chuyên viên phòng công tác sinh viên với chức năng tư vấn sinh viên là gì? Hoạt động của CVHT trong trợ giúp SV là gì? Hoạt động tư vấn của các giáo viên bộ môn hay Trung tâm tư vấn SV là gì?
Dựa vào tính chất hoạt động khác nhau của CVHT, người ta có thể xem CVHT theo mô hình chức năng Mô hình cố vấn chức năng phản ánh vai trò của CVHT trong từng hoạt động trợ giúp sinh viên (CVHT giúp sinh viên nhàn biết năng lực và điều kiện thực tế của mình để họ có thể xây dựng và hoan thành kế hoạch học tập ở ĐH; giúp sinh viên thích nghi với môi trường ĐH và hướng dẫn sinh viên giải quyết những khó khăn ngoài việc học tập mà SV đang gặp phải
Dựa vào chủ thể của hoạt động CVHT, có thể chia ra các mô hình CVHT khác nhau, như mô hình CVHT chuyên nghiệp, đó là hoạt động của các chuyên gia tư vấn - tham vấn Công viêc của họ chỉ chuyên tư vấn, tham vàn cho sinh viên Mô hỉnh CVHT bán chuyên nghiệp, đó là các giảng viên - CVHT kiêm giảng viên bộ môn và mô hình CVHT là sinh viên năm trên, các thạc sỹ, nghiên cứu sinh làm công tác cố vấn tình nguyện
Dựa vào quan điểm nhìn nhận sinh viên/người học mà các CVHT có cách tiếp cận sinh viên khác nhau Các cách tiếp cận này tạo nên những mô hình CVHT khác nhau, như mô hình cố vấn phát triển, mô hình cố vấn ra lệnh
hay mô hỉnh cố vấn xâm nhập - cùng tham gia
1.4 Một số vấn đề chung về đào tạo theo tín chỉ ở trường Đại học
1.4.1 Tín chỉ
Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một sinh viên để học một môn học cụ thể, bao gồm: (1) thời gian lên lớp; (2) thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóa biểu; và (3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài…; đối với các môn học lí thuyết một tín
Trang 35chỉ là một giờ lên lớp (với hai giờ chuẩn bị bài) trong một tuần và thực hiện trong một học kì có thời lượng 15 tuần
Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường để học một môn học cụ thể, bao gồm (1) thời gian lên lớp; (2) thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác
đã được quy định ở thời khóa biểu; và (3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài…; đối với các môn học lí thuyết một tín chỉ là một giờ lên lớp (với hai giờ chuẩn bị bài) trong một tuần và kéo dài trong một học kì 15 tuần; đối với các môn học ở studio hay phòng thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị); đối với các môn tự học, ít nhất là 3 giờ làm việc trong một tuần
Khái niệm tín chỉ có hai ý nghĩa: (i) là đơn vị để đo khối lượng của các học phần; và (ii) xác định khối lượng lao động học tập của người học
Tín chỉ là đơn vị đo khối lượng lao động học tập trung bình của người học, gồm (i) thời gian học tập trên lớp, (ii) thời gian học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập, thực hành, hoặc thực hiện các công việc liên quan đến học tập được quy định trong đề cương môn học, (iii) Thời gian tự học ngoài giờ lên
lớp, chuẩn bị bài, tìm tài liệu
Đào tạo là việc huấn luyện, giảng dạy, tập huấn cho một nhóm người, một tổ chức, một xã hội về một vấn đề và nhằm đạt đến một mục tiêu nhất định; Là các hoạt động truyền tải thông tin và dữ liệu từ người này (huấn luyện viên hoặc giảng viên) sang người khác (học viên); Kết quả là có sự thay đổi về kiến thức, kĩ năng và thái độ của người học từ mức độ thấp đến mức độ cao
Đào tạo theo tín chỉ là phương thức đào tạo đòi hỏi tính tích cực, chủ động của GV và SV rất rõ rệt Đào tạo theo tín chỉ lấy hoạt động học của SV làm trung tâm, đây chính là phương pháp sư phạm tích cực Khi sử dụng phương pháp này, chúng ta đã biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo;
GV không những là người truyền thụ kiến thức 9 cho SV mà còn phải là người
Trang 36tổ chức, hướng dẫn, điều khiển giúp SV chủ động trong việc chiếm lĩnh tri thức, biết cách tìm đọc tài liệu, phát hiện và giải quyết các vấn đề, biết cách khai thác, chọn nhập và xử lý thông tin trong thời đại nguồn thông tin phong
phú đến vô tận
1.4.2 Đặc điểm của học chế tín chỉ
Đặc trưng cơ bản của học chế tín chỉ là sự chuyển đổi của mô thức quản
lý đào tạo xuất phát từ (quy định của) nhà trường (học chế niên chế) sang cơ chế quản lý đào tạo hướng đến (quyền lợi của) người học
Những đặc tính quan trọng nhất của đào tạo theo học chế tín chỉ là: (1) Tính liên thông: đảm bảo kết nối các môn học theo các phương pháp được thừa nhận trong phạm vi một hệ thống giáo dục;
(2) Tính chủ động: qua việc chọn lựa từng loại môn học và bố trí môn học, sinh viên chủ động xây dựng chương trình và kế hoạch học tập phù hợp với những điều kiện cá nhân của mình;
(3) Tính khoa học: hệ thống tín chỉ gắn liền việc phân chia các loại môn học theo logic khoa học;
(4) Tính thực tiễn, linh hoạt: định kỳ nhà trường có kế hoạch xem xét lại chương trình học theo hoàn cảnh thực tế - môn học nào cần thiết, hữu dụng thì
giữ lại, môn học nào lạc hậu, không còn phù hợp thì sửa đổi hoặc loại bỏ [23]
1.4.3 Ưu điểm của đào tạo theo học chế tín chỉ
Đào tạo theo học chế tín chỉ có nhiều ưu điểm, lợi ích nổi bật cả đối với nhà quản lý, nhà giáo dục (giảng viên) lẫn người học (sinh viên) mà đào tạo theo niên chế, học phần không có được Cụ thể như sau:
1.4.3.1 Lợi ích đối với người học
a) Phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học
Như có thể thấy, trong phương thức đào tạo truyền thống (đào tạo theo niên chế), một chương trình cử nhân gồm từ 200 - 210 đơn vị học trình, mỗi đơn
vị học trình gồm 15 tiết tiếp xúc trực tiếp trên lớp giữa giáo viên và sinh viên
Trang 37(tương đương với 3000 - 3150 tiết) Đây là một chương trình được cho là “lấy công làm lãi”, chú trọng vào việc nhồi kiến thức của giáo viên sang sinh viên, không tính đến thời lượng tự học của sinh viên và do đó bỏ qua khả năng tự học,
tự tìm tòi và phát triển tri thức của họ Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, tự học, tự nghiên cứu của sinh viên được coi trọng được tính vào nội dung và thời lượng của chương trình Đây là phương thức đưa giáo dục đại học về với đúng nghĩa của nó: người học tự học, tự nghiên cứu, giảm sự nhồi nhét kiến thức của người dạy, và do đó, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học
b) Chương trình đào tạo có độ mềm dẻo và linh hoạt cao
Lợi thế thứ hai của phương thức đào tạo theo tín chỉ liên quan đến độ mềm dẻo và linh hoạt của chương trình Chương trình được thiết kế theo phương thức đào tạo tín chỉ bao gồm một hệ thống những môn học thuộc khối kiến thức chung, những môn học thuộc khối kiến thức chuyên ngành, những môn học thuộc khối kiến thức cận chuyên ngành Mỗi khối kiến thức đều có số lượng những môn học lớn hơn số lượng các môn học hay số lượng tín chỉ được yêu cầu; sinh viên có thể tham khảo giáo viên hoặc cố vấn học tập để chọn những môn học phù hợp với mình, để hoàn thành những yêu cầu cho một văn bằng và để phục vụ cho nghề nghiệp tương lai của mình Sinh viên có thể chủ động ghi tên học các học phần khác nhau dựa theo những quy định chung về cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh vực kiến thức, sinh viên dễ dàng thay đổi ngành chuyên môn trong tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không phải học lại từ đầu, các trường đại học có thể mở thêm ngành học mới một cách dễ dàng khi nhận được tín hiệu về nhu cầu của thị trường lao động và tình hình lựa chọn ngành nghề của sinh viên
c) Người học có thể chủ động trong việc hoàn thành tiến độ học tập
Lợi thế thứ ba do chính đặc điểm “tích lũy tín chỉ” trong phương thức đào tạo theo tín chỉ mang lại Sinh viên được cấp bằng khi đã tích lũy được đầy
đủ số lượng tín chỉ do trường đại học quy định; do vậy họ có thể hoàn thành
Trang 38những điều kiện để được cấp bằng tùy theo khả năng và nguồn lực (thời lực, tài lực, sức khỏe, v.v.) của cá nhân
d) Phản ánh được mối quan tâm và yêu cầu của người học
Lợi thế thứ tư là, phương thức đào tạo theo tín chỉ phản ánh được những mối quan tâm và những yêu cầu của người học như là những người sử dụng kiến thức và nhu cầu của các nhà sử dụng lao động trong các tổ chức kinh doanh và tổ chức nhà nước
e) Tạo sự liên thông giữa các cơ sở giáo dục trong và ngoài nước
Phương thức đào tạo theo tín chỉ hầu như đã trở thành phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Chuyển sang phương thức đào tạo theo tín chỉ sẽ tạo được
sự liên thông giữa các cơ sở đào tạo đại học trong và ngoài nước Một khi sự liên thông được mở rộng, nhiều trường đại học công nhận chất lượng đào tạo của nhau, người học có thể dễ dàng di chuyển từ trường đại học này sang học ở trường đại học kia (kể cả trong và ngoài nước) mà không gặp khó khăn trong việc chuyển đổi tín chỉ Kết quả là, áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ sẽ khuyến khích sự di chuyển của sinh viên, mở rộng sự lựa chọn học tập của họ, làm tăng độ minh bạch của hệ thống giáo dục, và giúp cho việc so sánh giữa các hệ thống giáo dục đại học trên thế giới được dễ dàng hơn
1.4.3.2 Lợi ích đối với giảng viên và nhà quản lý giáo dục
Thứ nhất, nó vừa là thước đo khả năng học tập của người học, vừa là thước đo hiệu quả và thời gian làm việc của giáo viên
Thứ hai, nó là cơ sở để các trường đại học tính toán ngân sách chi tiêu, nguồn nhân lực, có lợi không những cho tính toán ngân sách nội bộ mà còn cả cho việc tính toán để xin tài trợ từ nguồn ngân sách nhà nước và các nhà tài trợ
Thứ ba, nó là cơ sở để báo cáo các số liệu của trường đại học cho các cơ quan cấp trên và các đơn vị liên quan: một khi thước đo giờ tín chỉ được phát triển và kiện toàn, việc sử dụng nó như là một phương tiện để giám sát bên ngoài, để báo cáo và quản lí hành chính sẽ hữu hiệu hơn
Trang 39Thứ tư, đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo: có thể
tổ chức những môn học chung cho sinh viên nhiều trường, nhiều khoa, tránh các môn học trùng lặp ở nhiều nơi; ngoài ra sinh viên có thể học những môn học lựa chọn ở các khoa khác nhau Cách tổ chức như vậy cho phép sử dụng được đội ngũ giảng viên giỏi nhất và phương tiện tốt nhất cho từng môn học, ngành học
1.4.4 Nhược điểm của đào tạo học chế tín chỉ
Người ta thường nhắc đến hai nhược điểm quan trọng sau đây của đào tạo theo học chế tín chỉ:
1.4.4.1 Cắt vụn kiến thức
Phần lớn các mô-đun trong HTTC được quy định tương đối nhỏ, khoảng
3 - 4 tín chỉ, do đó không có đủ thời gian để trình bày kiến thức một cách logic, đầy đủ theo một qui trình tự diễn biến liên tục, từ đó, gây ấn tượng kiến thức bị cắt vụn Đây thực sự là một nhược điểm và người ta thường khắc phục nhược điểm này bằng cách không thiết kế các mô-đun quá nhỏ dưới 3 tín chỉ và trong những năm cuối người ta thường thiết kế các môn học hoặc tổ chức các kỳ thi
có tính tổng hợp để người học có cơ hội liên kết, tổng hợp các kiến thức đã học
1.4.4.2 Khó tạo nên sự gắn kết trong sinh viên
Vì các lớp học theo mô-đun không ổn định, khó xây dựng các tập thể gắn kết chặt chẽ như các lớp theo khóa học nên việc tổ chức sinh hoạt đoàn thể của sinh viên có thể gặp nhiều khó khăn Chính vì nhược điểm này mà có những quan điểm cho rằng đào tạo theo HTTC “khuyến khích chủ nghĩa cá nhân, không coi trọng tính cộng đồng” Khó khăn này là một nhược điểm thật sự của đào tạo theo tín chỉ, tuy nhiên người ta thường khắc phục bằng cách xây dựng các tập thể tương đối ổn định qua các lớp khóa học trong năm thứ nhất, khi sinh viên phải học chung phần lớn các mô-đun kiến thức và đảm bảo sắp xếp một số buổi xác định không bố trí thời khóa biểu để sinh viên có thể cùng tham gia các sinh hoạt đoàn thể chung
Trang 401.4.5 Một số nội dung về đào tạo theo học chế tín chỉ
Đào tạo theo học chế tín chỉ cung cấp cho các nhà quản lý một công cụ
để phân tích hoạt động của nhà trường Nhà trường dùng đơn vị giờ tín chỉ để xây dựng các mức học phí, phân bổ nguồn lực về cơ sở vật chất và con người, phân tích năng suất của từng cá nhân giảng viên và của từng khoa Đồng thời, HTTC cung cấp một thước đo cho năng suất lao động của 1 GV HTTC cho phép thực hiện nội dung đào tạo linh hoạt Sinh viên được quyền thay đổi chuyên ngành, chương trình học, chuyển từ trường này sang trường khác thông qua hệ thống chuyển đổi tín chỉ Sinh viên có thể tự đo lường được tiến độ học tập của mình
Một số nội dung chính về công tác đào tạo theo học chế tín chỉ bao gồm:
- Xây dựng kế hoạch, chương trình đào tạo;
- Hoạt động tuyển sinh;
- Tổ chức đào tạo;
- Cơ sở vật chất phục vụ dạy và học;
- Hoạt động cấp phát văn bằng theo thẩm quyền;
- Hoạt động nghiên cứu khoa học;
- Hoạt động báo cáo công tác đào tạo đại học
1.5 Quản lý phát triển mô hình quản lý hoạt động cố vấn học tập trong đào tạo theo tín chỉ ở trường đại học
1.5.1 Lập kế hoạch quản lý phát triển mô hình CVHT
Lập kế hoạch là tổng thể các hoạt động liên quan đến đánh giá, dự đoán,
dự báo và huy động các nguồn lực để xây dựng chương trình hành động tương lai cho công tác quản lý phát triển mô hình CVHT
Kế hoạch quản lý phát triển mô hình CVHT cần đảm bảo các nội dung
cơ bản: Xác định mục tiêu (For What?); Xác định nội dung của kế hoạch (What?); Ai tham gia đánh giá hiệu trưởng (Who?); Lựa chọn phương thức