LÊ THỊ VÂN ANHMỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ VẠN XUÂN Chuyên ngành: Quản lý giáo dục Mã số: 60.14.0
Trang 1LÊ THỊ VÂN ANH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ VẠN XUÂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
VINH, 2013
Trang 2LÊ THỊ VÂN ANH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ VẠN XUÂN
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đình Huân
Vinh, 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, lòng biết ơn sâu sắc, cho phép tôi gửi lời cảm ơntới Ban Giám hiệu Trường Đại học Công nghệ Vạn Xuân, nơi đã cho phép tôiđược đi học, luôn ủng hộ và tạo điều kiện về vật chất cũng như tinh thần trongthời gian học tập
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, các thầygiáo, cô giáo ở Trường Đại học Vinh đã quản lý, giảng dạy và giúp đỡ tôitrong suốt thời gian học tập
Tôi xin bày tỏ sự kính trọng, lòng biết ơn sâu sắc và chân thành cảm ơn
thầy giáo PGS.TS Nguyễn Đình Huân, người đã tận tình giúp đỡ và hướng
dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các bạn bè, đồng nghiệp và các
em sinh viên, đồng nghiệp, đã cùng chung sức đóng góp ý kiến, giúp đỡ, độngviên tôi trong quá trình học tập, thực hiện nghiên cứu luận văn
Trong quá trình học tập và nghiên cứu, bản thân tôi đã có nhiều cố gắng,song trong luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được
ý kiến đóng góp của Hội đồng chấm luận văn, các thầy giáo, cô giáo và cácbạn đồng nghiệp để nội dung nghiên cứu của đề tài hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 08 năm 2013
Lê Thị Vân Anh MỤC LỤC
Trang 4LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 6
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Thế giới 6
1.1.2 Việt Nam 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản 10
1.2.1 Đào tạo, tín chỉ, đào tạo theo hệ thống tín chỉ 10
1.2.2 Công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ 16
1.2.3 Quản lý, quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ 18
1.2.4 Giải pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo theo hệ thống tín trong các trường đại học 23
1.3 Một số vấn đề lý luận về ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ 25
1.3.1 Sự cần thiết ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ 26
1.3.2 Nội dung quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ 29
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo ở trường đại học 32
Trang 5CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
CÔNG NGHỆ VẠN XUÂN 35
2.1 Khái quát về Trường Đại học Công nghệ Vạn Xuân 35
2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành của Nhà trường 35
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Nhà trường 35
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Nhà trường 36
2.1.4 Hoạt động đào tạo của Nhà trường 39
2.2 Thực trạng về ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Trường Đại học Công nghệ Vạn Xuân 44
2.3 Thực trạng công tác đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Trường Đại học Công nghệ Vạn Xuân 49
2.3.1 Quản lý mục tiêu đào tạo 50
2.3.2 Quản lý nội dung, chương trình 51
2.3.3 Công tác xây dựng chương trình môn học 52
2.3.4 Quản lý hành chính trong đào tạo 52
2.3.5 Quản lý điểm, văn bằng 56
2.3.6 Tổ chức kiểm tra việc thực hiện giảng dạy theo mục tiêu đào tạo của Nhà trường 57
2.4 Đánh giá chung về thực trang quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Trường Đại học Công nghệ Vạn Xuân 60
2.4.1 Những thành tựu 60
2.4.2 Những hạn chế 61
2.4.3 Nguyên nhân của thực trạng 62
Trang 6CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Ở
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ VẠN XUÂN 66
3.1 Nguyên tắc đề xuất các giải pháp 66
3.1.1 Đảm bảo tính kế thừa 66
3.1.2 Đảm bảo tính toàn diện 67
3.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả 67
3.2 Các giải pháp 68
3.2.1 Giải pháp 1: Sử dụng một hệ thống phần mềm quản lý đồng bộ 68
3.2.2 Giải pháp 2: Hoàn thiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin trong Nhà trường 70
3.2.3 Giải pháp 3: Tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ quản lý và cán bộ giảng viên 78
3.2.4 Giải pháp 4: Xây dựng quy trình và quy chế sử dụng 80
3.3 Mối liên hệ và điều kiện thực hiện các giải pháp 82
3.4 Thăm dò tính cần thiết và khả thi các giải pháp 84
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Hệ thống thông tin 17
Hình 1.1 Mối liên hệ giữa các chức năng của quản lý 20
Hình 1.2 Cấu trúc hệ thống quản lý 21
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Nhà trường 37
Bảng 2.1 Thống kê đội ngũ giảng viên cơ hữu của Nhà trường 38
Bảng 2.2 Quy mô đào tạo của Nhà trường năm 2012 43
Bảng 2.3 Trình độ tin học của CBGV trong trường 45
Bảng 2.4 Kết quả điều tra năng lực ứng dụng CNTT của CBGV 47
Bảng 2.5 Kết quả điều tra năng lực ứng dụng CNTT của sinh viên 48
Bảng 2.6 Kết quả điều tra thực trạng cơ sở vật chất, thiết bị CNTT 49
Sơ đồ 2.2 Chương trình khung đào tạo Trường Đại học Công nghệ Vạn Xuân .52
Bảng 2.7 Nhận xét của 30 giáo viên về việc tổ chức phân công giảng dạy .53 Sơ đồ 2.3 Quy trình xếp thời khóa biểu 54
Bảng 3.1 Kết quả đánh giá của cán bộ CBGV về tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 85
Biểu đồ 3.1 Mức độ cần thiết của các giải pháp 86
Biểu đồ 3.2 Mức độ khả thi của các giải pháp 87
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phầngiải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩycông cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăngcường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quátrình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống củanhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu đểthực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Theo Công văn số 6147/BGDĐT-CNTT ngày 27 tháng 9 năm 2010 của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, để tăng cường triển khai đào tạo nguồn nhân lựccông nghệ thông tin và ứng dụng CNTT trong đổi mới quản lý, đổi mới nộidung, chương trình và phương thức dạy và học, Bộ Giáo dục và Đào tạohướng dẫn việc triển khai nhiệm vụ CNTT cho các đại học, học viện, trườngđại học, cao đẳng như sau: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong đào tạo và pháttriển nguồn nhân lực nói chung và CNTT nói riêng là nhân tố quan trọng hàngđầu, đảm bảo sự thành công của quá trình đổi mới đại học Đổi mới cơ bản vàtoàn diện đào tạo nhân lực trình độ đại học, cao đẳng và ứng dụng CNTT theohướng hội nhập, hiện đại hoá và đạt trình độ khu vực và quốc tế, nhằm tạođược chuyển biến cơ bản về chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, đápứng yêu cầu phát triển CNTT của đất nước, của sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Không có CNTT thì không thể đổimới một cách hiệu quả và hiện đại hoá quản lý giáo dục đại học, đổi mớiđược nội dung, phương pháp dạy học và không thể hội nhập quốc tế; Ứngdụng CNTT và đào tạo nguồn nhân lực CNTT là công tác thườngxuyên hàng năm và lâu dài của ngành giáo dục”
Trang 10Trường Đại học Công nghệ Vạn Xuân là một trường đại học tư thụcmới thành lập Để khẳng định được tên tuổi và vị thế của mình, Ban lãnh đạoNhà trường luôn đặt mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề, có trình độcao để phục vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng đất nước, hướng tới mục tiêuxây dựng và phát triển Nhà trường ngày càng lớn mạnh, góp phần quan trọngtrong sự phát triển và ổn định của xã hội Để đảm bảo thực hiện được vai trò,
sứ mệnh của Nhà trường trong bối cảnh mới thì việc quan tâm, đảm bảo thựchiện tốt và có hiệu quả hoạt động đào tạo là yếu tố có ý nghĩa quyết định Từnăm 2009, bước vào hoạt động đào tạo năm đầu tiên, Trường Đại học Côngnghệ Vạn Xuân đã áp dụng ngay hình thức đào tạo tín chỉ Bản chất của đàotạo theo hệ thống tín là thực hiện cá nhân hoá việc học tập của người học - làmột trong những mục tiêu mà giáo dục thế giới nói chung và giáo dục ViệtNam nói riêng mong muốn đạt được để nhằm mục đích làm cho người họctuỳ theo năng lực, sức học, thời gian và điều kiện của mình tham gia vào quátrình đào tạo đạt hiệu quả cao nhất - tích cực nhất Điều này có ý nghĩa cực kỳ
to lớn với sinh viên các trường đại học, cao đẳng nói chung và sinh viênTrường Đại học Công nghệ Vạn Xuân nói riêng, những người sẽ trực tiếptham gia và đáp ứng nguồn nhân lực xã hội về sau
Cùng với các cơ sở giáo dục, đào tạo trên cả nước, những năm quaTrường Đại học Công nghệ Vạn Xuân đã có nhiều nỗ lực trong việc ứng dụngCNTT trong quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ Tuy nhiên thực tế cho thấycông tác quản lý đào tạo còn nhiều khó khăn và bất cập, chưa đáp ứng đượcyêu cầu Sinh viên chưa có được sự tư vấn hiệu quả khi lựa chọn số môn họcphù hợp với khả năng; hình thức học tập của sinh viên vẫn chưa thay đổi, vẫnnặng về lý thuyết, ít thực hành, thực tập và tự học, việc tự nghiên cứu còn hạnchế Trong khi đó giảng viên còn gặp nhiều khó khăn trong việc thay đổi, cơcấu lại nội dung giảng dạy và đổi mới phương pháp theo yêu cầu; các điều
Trang 11kiện phục vụ hoạt động giảng dạy theo phương thức mới còn chưa đảm bảo…Những khó khăn và bất cập trên đã ảnh hưởng rất lớn đến quá trình đào tạo,đến việc giảng dạy và học tập cũng như hiệu quả đào tạo nói chung của Nhàtrường Vì vậy việc quan tâm, tìm hiểu để có những giải pháp phù hợp, thiếtthực nhằm nâng cao chất lượng hoạt động quản lý đào tạo, đáp ứng nhu cầucủa người học và xã hội là cấp bách và cần thiết Đó cũng là lý do của đề tài:
"Một số giải pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo theo hệthống tín chỉ ở Trường Đại học Công nghệ Vạn Xuân"
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trongđào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Trường Đại học Công nghệ Vạn Xuân nhằmnâng cao chất lượng và phù hợp với tình hình thực tế phát triển giáo dục củaNhà trường
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Trường Đại học Côngnghệ Vạn Xuân
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạotheo hệ thống tín chỉ ở Trường Đại học Công nghệ Vạn Xuân
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được các giải pháp có cơ sở khoa học, phù hợp với thựctiễn, có tính khả thi sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo theo phươngthức tín chỉ tại Trường Đại học Công nghệ Vạn Xuân
Trang 125 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý ứng dụng công nghệthông tin trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ;
- Khảo sát và đánh giá thực trạng của việc quản lý ứng dụng công nghệthông tin trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Trường Đại học Công nghệVạn Xuân;
- Đề ra những giải pháp cơ bản để quản lý ứng dụng công nghệ thôngtin trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Trường Đại học Công nghệ VạnXuân
6 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu các giải pháp quản lý ứng dụng công nghệ
thông tin trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Trường Đại học Công nghệVạn Xuân;
- Khảo sát thực tiễn được thực hiện tại Phòng Đào tạo kết hợp với cáckhoa chuyên ngành, hệ đào tạo chính quy của Trường
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Thu thập tài liệu, phân tích, hệ thống hoá, khái quát hoá những nộidung có liên quan đến đề tài để xây dựng các khái niệm công cụ và khung líthuyết của đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Điều tra, khảo sát, lấy ý kiến chuyên gia, giảng viên, cán bộ quản lý,sinh viên để xác định những khó khăn khi thực hiện việc ứng dụng công nghệthông tin trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Trang 13Nghiên cứu kinh nghiệm quản lí các cơ sở giáo dục đại học và kinhnghiệm quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo theo hệ thống tínchỉ của một số trường đã triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ.
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Nhằm xử lý số liệu thu được
8 Đóng góp cho luận văn
Xây dựng được hệ thống lý luận và trên cơ sở thực tiễn hoạt động củaTrường Đại học Công nghệ Vạn Xuân để đề xuất các giải pháp khả thi ứngdụng công nghệ thông tin trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ, góp phần nângcao chất lượng đào tạo của Trường
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý lý luận của việc ứng dụng công nghệ thông tintrong đào tạo ở trường đại học
Chương 2: Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo theo
hệ thống tín chỉ ở Trường Đại học Công nghệ Vạn Xuân
Chương 3: Một số giải pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tintrong đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Trường Đại học Công nghệ Vạn Xuân
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Thế giới
Ở một số nước phát triển trên thế giới đã sớm chú trọng tới việc ứngdụng CNTT Những nước này có nhiều chương trình quốc gia về CNTT,nhằm ứng dụng nó vào mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có GD&ĐT.Những thành tựu phát triển kinh tế đạt được hiện nay có phần đóng góp hếtsức to lớn của chương trình quốc gia này Có thể thấy ở một số quốc gia điểnhình như:
- Nhật Bản: “Kế hoạch về một xã hội thông tin, mục tiêu quốc gia tớinăm 2000” đã được công bố từ năm 1972;
- Hàn Quốc: Xác định mục tiêu chiến lược của chính sách đẩy mạnh tinhọc hóa là xây dựng một xã hội thông tin phát triển vào năm 2000;
- Singapo: Năm 1981, nước này đã thông qua một đạo luật về tin họcquốc gia, quy định ba nhiệm vụ; một là, thực hiện việc tin học hóa mọi côngviệc hành chính và hoạt động của Chính phủ; hai là, phối hợp giáo dục và đàotạo tin học; ba là, phát triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ tin học ởSingapo Một Ủy ban máy tính quốc gia được thành lập để quản lý công tácđó;
- Tại Mỹ và các nước Châu Âu, những nghiên cứu về quản lý ứng dụngCNTT trong giáo dục không còn là vấn đề mới mẻ, chính vì thế ứng dụngCNTT trong quản lý GD đã được sự ủng hộ từ các chính sách trợ giúp củaChính phủ ngay từ cuối những thập niên 90;
Trang 15- Ứng dụng CNTT trong giáo dục tại Anh quốc:
+ Cấp trung học trung bình được đầu tư 198 máy tính để bàn và 53 máytính xách tay/trường;
+ Tỉ lệ nối mạng ở tiểu học là 96%, trung học là 99,8%;
+ CNTT được ứng dụng trong tất cả các môn học chứ không phải làmột môn riêng biệt; không dạy học sinh phổ thông lập trình phần mềm, đây làcông việc của các chuyên gia hoặc các trường trung học chuyên nghiệp;
+ Máy chiếu có ở mọi phòng học;
+ Các trường phổ thông kể cả tiểu học đều có phòng đa phương tiện(Multimedia)
Khi nghiên cứu vấn đề thúc đẩy phát triển ứng dụng CNTT trongGD&ĐT giáo sư David Mousund, bộ phận quản lý và chính sách trường đạihọc Oregon Autralia đã đưa ra các luận điểm:
- Lĩnh vực công nghệ thông tin truyền thông ICT (InformationCommunication Technology) đang thay đổi nhanh chóng đến mức nó vượtkhả năng cập nhật của đa số các nhà lãnh đạo khiến họ ngần ngại;
- Những tư tưởng chủ đạo cơ bản về việc sử dụng ICT trong giáo dụctuy đã thay đổi nhưng thay đổi rất chậm
Trong luận điểm của mình giáo sư David Mousund đã chỉ ra vấn đề làcần phải thay đổi tư tưởng của nhà quản lý Ông đã chỉ ra mâu thuẫn giữa ICT
và tư tưởng của nhà quản lý
Trong hội thảo khoa học quốc tế “Các giải pháp công nghệ và quản lýứng dụng CNTT trong giáo dục” (Hãng Microsoft tài trợ) được tổ chức tạiTrường Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, nhiều học giả đã mang đếnhội thảo các đề tài với cùng quan niệm chung là thúc đẩy ứng dụng CNTT
Trang 16trong giáo dục Các tác giả đã đề cập một cách sâu rộng tác động của CNTT,tầm quan trọng của CNTT, cách sử dụng website trong GD&ĐT, đặc biệt làđòi hỏi phải thay đổi quản lý trong thời đại thông tin.
1.1.2 Việt Nam
Do ý nghĩa, tầm quan trọng của CNTT đối với phát triển kinh tế - xãhội đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước nên Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương chính sách hết sứcquan trọng để đẩy mạnh việc ứng dụng, phát triển CNTT:
- Chỉ thị số 58/CT-TW của Bộ Chính trị ngày 17/10/2000 về đẩy mạnh
và ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nêu rõ:
“Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác GD&ĐT ở các cấp học, bậc học,ngành học; phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tậpcủa toàn xã hội Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáodục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở GD&ĐT” [2]
- Chỉ thị số 29/2001/CT-BGD&ĐT ngày 30/7/2001 về tăng cườnggiảng dạy đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn
Trang 17- Công văn số 273/CNTT, ngày 12/8/2008, của Cục CNTT (BộGD&ĐT) về việc kết nối cáp quang Internet đến các trường trong cả nước[10].
Để tăng cường triển khai đào tạo nguồn nhân lực CNTT và ứng dụngCNTT trong đổi mới quản lý, đổi mới nội dung, chương trình và phương thứcdạy và học, Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn việc triển khai nhiệm vụCNTT theo công văn số 6147/BGDĐT-CNTT, ngày 27 tháng 9 năm 2010 vềviệc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT đối với các trường đại học, caođẳng Các trường đại học, cao đẳng tổ chức quán triệt và nâng cao nhận thức,trách nhiệm đến toàn thể cán bộ, giảng viên trong ngành ở địa phương, trướchết cho lãnh đạo các đơn vị, các cơ sở giáo dục và đào tạo về tinh thần và nộidung của các văn bản quan trọng sau:
- Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 01/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công nghệthông tin đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020;
- Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng BộGDĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tintrong ngành giáo dục giai đoạn 2008 - 2012;
- Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ quy định
về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước;
- Nghị định số 102/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ vềquản lý đầu tư ứng dụng CNTT sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước;
- Thông tư số 07/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010 quy định về sửdụng thư điện tử và trang tin điện tử trong các cơ sở giáo dục đại học;
- Thông tư số 08/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010 quy định về sửdụng phần mềm tự do mã nguồn mở trong các cơ sở giáo dục;
Trang 18- Thống nhất sử dụng bộ mã Tiếng Việt Unicode TCVN 6909:2002.Việc nghiên cứu ứng dụng CNTT vào quản lý GD đặc biệt là trongquản lý nhà trường đã được một số luận văn thạc sỹ, công trình khoa họcnghiên cứu đề cập đến chẳng hạn như: “Một số biện pháp chỉ đạo việc đẩymạnh ứng dụng CNTT trong công tác quản lý dạy học tại các trường THPT”của tác giả Nguyễn Văn Tuấn (Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006); “Một số biệnpháp nhằm phát triển ứng dụng CNTT trong quản lý GD ở huyện Vĩnh Bảo,Hải Phòng” của tác giả Nguyễn Văn Khiêm (Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006);
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Nghiên cứu tổ chức và quản lý việc ứng dụngCNTT&TT trong quản lý trường THCS” do TS Trương Đình Mậu làm chủnhiệm; Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Một số giải pháp ứng dụng CNTT trongquản lý đào tạo ở trường Đại học Vinh” do PGS.TS Nguyễn Đình Huân làmchủ nhiệm,
Những công trình nghiên cứu và luận văn thạc sỹ trên đã đề cập đếnviệc ứng dụng CNTT vào trong QL ở nhà trường, khẳng định ý nghĩa tầmquan trọng của ứng dụng CNTT trong QL và các tác giả cũng đề xuất đượcmột số giải pháp cần thiết, khả thi, nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong
QL Tuy nhiên, mới chỉ dừng ở một phạm vi, một trường, một số khía cạnhnào đó Chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đề cập đến một số giảipháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo theo hệ thống tínchỉ ở Trường Đại học Công nghệ Vạn Xuân Vì thế, tác giả đi sâu nghiên cứu
đề tài này mong muốn đề xuất được những giải pháp tăng cường ứng dụngCNTT trong quản lý đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng QL và đào tạocủa Nhà trường
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Đào tạo, tín chỉ, đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Trang 19Đào tạo, cùng với nghiên cứu khoa học và dịch vụ phục vụ cộng đồng
là hoạt động đặc trưng của trường đại học Đó là hoạt động chuyển giao có hệthống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng,
kỹ xảo nghề nghiệp chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạođức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tựlập và góp phần xây dựng, bảo vệ đất nước
Đào tạo là hoạt động mang tính phối hợp giữa các chủ thể dạy - học(người dạy và người học), là sự thống nhất hữu cơ giữa hai mặt dạy và họctiến hành trong một cơ sở giáo dục, mà trong đó, tính chất, phạm vi, cấp độ,cấu trúc, quy trình của hoạt động được quy định một cách chặt chẽ, cụ thể vềmục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, cơ sở vậtchất và thiết bị dạy học, đánh giá kết quả đào tạo, cũng như về thời gian vàđối tượng đào tạo cụ thể
Xét từ góc độ chuyển giao kinh nghiệm, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghềnghiệp chuyên môn, bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn
bị tâm thế lao động cho người học, đào tạo được cấu thành bởi các thành tốcấu trúc gồm mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp, phương tiện vàhình thức tổ chức các hoạt động đào tạo
Quá trình chuyển giao năng lực nghề nghiệp được thực hiện trong hoạtđộng cùng nhau của thầy và trò trong một môi trường dạy học xác định Xét
Trang 20từ góc độ này đào tạo bao gồm các thành tố: 1) hoạt động dạy của giảng viên;2) hoạt động học của người học; và 3) môi trường đào tạo (môi trường vậtchất và môi trường tinh thần, môi trường văn hóa)
Xét từ góc độ quá trình thực hiện nhiệm vụ theo chức năng của nhàtrường, đào tạo bao gồm các khâu: 1) đầu vào: đánh giá nhu cầu đào tạo, xâydựng các chương trình đào tạo, xây dựng các điều kiện đảm bảo cho việc thựchiện các chương trình đào tạo, tuyển sinh; 2) các hoạt động đào tạo: dạy học,thực tập, giáo dục, nghiên cứu khoa học…; và 3) đầu ra: kiểm tra, đánh giákết quả giáo dục và dạy học, xét học vụ và công nhận tốt nghiệp, cấp phát vănbằng, chứng chỉ, kiểm định và đảm bảo chất lượng đào tạo
Đào tạo luôn được xác định về phạm vi, cấp độ, cấu trúc và những hạnđịnh cụ thể về thời gian, không gian, nội dung và tính chất Vì lẽ đó, đào tạo
là cơ cấu, là quá trình quyết định làm cho giáo dục có tính chất tổ chức, kếhoạch, hướng đích và điều khiển được Đào tạo không chỉ là một chức năngquan trọng mà còn là một thuộc tính cơ bản của giáo dục, là hình thức thựcthể của giáo dục
Theo quan điểm phổ biến hiện nay, đào tạo là quá trình trang bị kiếnthức - kỹ thuật, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, phẩm chất, đạo đức cho người học,giúp họ thành người lao động có kiến thức, có kỹ thuật, có tay nghề Quá trìnhđào tạo diễn ra theo kế hoạch, với các cơ sở đào tạo, với đội ngũ giáo viêngiảng dạy là các nhà giáo được đào tạo chuyên nghiệp
Trang 21- Khối lượng học tập gồm 1 tiết học lý thuyết (50 phút) trong một tuần
lễ và kéo dài 1 học kỳ (15 - 18 tuần) thì được tính là một tín chỉ;
- Các tiết học loại khác nhau như: thực tập thí nghiệm, đi thực địa, vẽ,nhạc, thực hành nghệ thuật, thể dục, v.v… thì thường cứ 3 tiết trong một tuầnkéo dài một học kỳ được tính một tín chỉ Ngoài định nghĩa nói trên, người tacòn qui định: để chuẩn bị cho một tiết học lý thuyết trên lớp, SV phải có ítnhất 2 giờ làm việc ở ngoài lớp
Trong các từ điển bách khoa, các tài liệu về giáo dục đại học cũng cónhiều định nghĩa khác nhau về tín chỉ Theo định nghĩa của Jaems Quann (Đạihọc Quốc gia Washington) thì tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thờigian bắt buộc của một người học bình thường để học một môn học cụ thể, baogồm:
- Thời gian lên lớp;
- Thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác
đã được qui định ở thời khoá biểu;
- Thời gian dành cho đọc, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặcchuẩn bị bài,…
Đối với các môn học lý thuyết 1 tín chỉ là một giờ học trên lớp (với 2giờ chuẩn bị ở nhà) trong một tuần và kéo dài trong một học kỳ 15 tuần; đốivới các môn học ở studio hay phòng thí nghiệm - ít nhất là 2 giờ trong 1 tuần(với 1 giờ chuẩn bị ở nhà); đối với việc tự nghiên cứu - ít nhất là 3 giờ làmviệc trong 1 tuần
Quyết định 31/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 30/7/2001 về việc thí điểm tổchức đào tạo, kiểm tra, thi công và công nhận tốt nghiệp đại học, cao đẳng hệchính qui theo hệ thống tín chỉ cũng đã qui định rõ: Tín chỉ là đơn vị dùng để
Trang 22đo khối lượng kiến thức đồng thời là đơn vị để đánh giá kết quả học tập củasinh viên dựa trên số lượng tín chỉ đã tích luỹ được Mỗi tín chỉ được qui địnhbằng 15 tiết học lý thuyết Để tiếp thu được 1 tiết học lý thuyết, sinh viên cần
ít nhất 2 tiết chuẩn bị cá nhân Cứ 30 tiết thảo luận trên lớp, bài tập thí nghiệmhoặc 45 - 60 tiết thực tập, kiến tập, làm tiểu luận, đồ án, khoá luận tốt nghiệpđược tính tương đương 1 tín chỉ
Qui định trên không đặt yêu cầu cụ thể về thời gian học của một tín chỉkéo dài trong 1 học kỳ (thường từ 10 - 15 tuần tuỳ theo từng trường đại học ởcác nước khác nhau)
Theo Quy chế 43 thì một tín chỉ (credit) được quy định bằng 15 tiết học
lý thuyết; 30 - 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 - 90 giờ thựctập tại cơ sở; 45 - 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khoá luận tốtnghiệp
Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếpthu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân
1.2.1.3 Đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ ra đời tại Đại học Harvard Hoa Kỳ năm
1872, sau đó phát triển rộng khắp trên toàn thế giới Đây là hệ thống quản lý
và tổ chức đào tạo theo triết lý: lấy người học làm trung tâm, chương trìnhđào tạo và quá trình đào tạo mềm dẻo, đáp ứng năng lực của người học cũngnhư yêu cầu của thị trường lao động Theo khuyến cáo của tổ chức ngân hàngthế giới “World Bank” thì đào tạo theo hệ thống tín chỉ không phải chỉ hiệuquả đối với các nước phát triển mà còn có hiệu quả cao đối với các nước đangphát triển Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các nước phát triển đang tiếp cậnvới nền kinh tế tri thức, giáo dục đại học ở Việt Nam đã từng bước thực hiện
Trang 23chuyển đổi từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ đối vớinhững cơ sở đáp ứng các điều kiện giáo dục.
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ là mô hình tổ chức quá trình đào tạo mềmdẻo với nhiều môn học được xác định bằng những tín chỉ để cho sinh viên lựachọn đăng ký học tập Tùy theo sức học, điều kiện mà sinh viên tự lập kếhoạch học tập của mình dưới sự giúp đỡ của cố vấn học tập, như vậy về mặt
lý thuyết mỗi một sinh viên có một thời khóa biểu riêng cho mình
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ có các đặc điểm cơ bản sau đây:
- Chương trình đào tạo được chia thành các mô - đun kiến thức, kỹnăng và có tính tự chọn cao;
- Quá trình học tập là sự tích lũy kiến thức của người học theo từng họcphần;
- Sinh viên tự đăng ký học tập và tổ chức lớp học theo học phần;
- Đơn vị học vụ là học kỳ, xét kết quả học tập theo học kỳ chính (mộtnăm học có hai học kỳ chính và một học kỳ phụ);
- Đánh giá học phần là đánh giá quá trình, sử dụng thang điểm 10,thang điểm chữ và thang điểm 4, điểm trung bình chung tốt nghiệp phải đạt2,0;
- Quy định khối lượng kiến thức phải tích lũy (số tín chỉ tích lũy tốithiểu) cho từng văn bằng Xếp năm học theo số tín chỉ tích lũy tại thời điểmxem xét;
- Có hệ thống cố vấn học tập am hiểu về chương trình đào tạo và nắmvững tình hình học tập cụ thể của sinh viên;
Trang 24- Chương trình đào tạo mềm dẻo, có tính liên thông cao, ngoài họcphần bắt buộc còn có học phần tự chọn để sinh viên có điều kiện tích lũythêm tín chỉ và định hướng chuyên môn, nghề nghiệp;
- Không thi tốt nghiệp, không tổ chức bảo vệ khóa luận tốt nghiệp vớicác chương trình cao đẳng và đại học;
- Bắt buộc áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực theo nguyên tắc lấysinh viên làm trung tâm
1.2.2 Công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ
1.2.2.1 Thông tin
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thông tin, nhưng phần lớn đều hiểuthông tin là tất cả những gì có thể cung cấp cho con người những hiểu biết vềđối tượng được quan tâm trong tự nhiên và xã hội, về những sự kiện diễn ratrong không gian và thời gian, về những vấn đề chủ quan và khách quan…nhằm giúp con người trên cơ sở đó có thể đưa ra được những quyết định đúngđắn, kịp thời, có hiệu quả và có ý nghĩa Thông tin bao hàm tất cả những thuthập có tính ghi chép, thống kê, tổng kết, những nhận định, dự báo, những dựkiến, kế hoạch, chương trình,…Thông tin là thuộc tính của sự vật, đặc trưngcho độ bất định của sự vật đó Thông tin là những gì có thể giúp cho conngười hiểu đúng về đối tượng mà họ quan tâm
Với quan điểm tiếp cận hệ thống và điều khiển học, thông tin có thểhiểu là những nội dung trao đổi giữa hệ thống và môi trường được sử dụngnhằm mục đích điều khiển hoạt động của hệ thống đó
Dữ liệu (Data) có thể hiểu vật liệu thô mang thông tin Dữ liệu sau khiđược tập hợp lại và xử lý cho ta thông tin Nói cách khác, dữ liệu là nguồngốc, là vật mang thông tin, là vật liệu sản xuất ra tin
Trang 25Hệ thống thông tin (Information System) là một hệ thống tiếp cận cácnguồn dữ liệu như các phần tử và chúng được xử lý thành các sản phẩm thôngtin là các phần tử ra.
Sơ đồ 1.1: Hệ thống thông tin
1.2.2.2 Công nghệ thông tin
Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Công nghệ thông tin viết tắt
IT (Information Technology) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lýthông tin, là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi,lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và thu thập thông tin
Tại Việt Nam, khái niệm CNTT trong Nghị quyết số 49/NQ-CP, Nghịquyết về phát triển CNTT ở nước ta trong những năm 90, đã định nghĩa nhưsau: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phươngtiện và công cụ hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm
tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rấtphong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xãhội” [9]
Theo điều 4, Luật CNTT số 67/2006/QH11, ngày 29/6/2006 thì; “Côngnghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ
kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổithông tin số”
Công nghệ thông tin, thuật ngữ chỉ chung cho tập hợp các ngành khoahọc và công nghệ liên quan đến khái niệm thông tin và các quá trình xử lýthông tin Theo nghĩa đó, CNTT cung cấp cho chúng ta các quan điểm,
Dữ liệu
(Data)
Xử lý (Processing) (Information)Thông tinNhập
(Input)
Xuất (Output)
Trang 26phương pháp khoa học, các phương tiện, công cụ và giải pháp kỹ thuật hiệnđại chủ yếu là các máy tính và phương tiện truyền thông nhằm tổ chức, khaithác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin trong mọi lĩnhvực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa của con người.
Theo nghĩa hẹp thì CNTT bao gồm các thiết bị phần cứng dùng để kếtnối các máy tính, các thiết bị điện tử nhờ có môi trường truyền thông (đườngdây điện thoại, đường truyền cáp, ăng ten, trạm vệ tinh, bộ định hướng, bộchuyển tiếp và các thiết bị khác dùng để kiểm soát đường truyền dữ liệu), cácphần mềm được dùng để gửi, nhận và quản lý các tín hiệu được truyền dẫn,các phương tiện kết nối phần cứng với phần mềm
Dù hiểu về CNTT ở góc độ nào thì những công nghệ, phương tiện kỹthuật nói trên đều hỗ trợ cho việc thu nhận, lưu trữ, xử lý và trao đổi thông tin
CNTT có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Trongquản lý nhà trường chúng ta có thể chia những khả năng ứng dụng của CNTTlàm hai phạm trù:
- CNTT là một hệ thống trợ giúp Trong công tác hành chính CNTT sẽđơn giản hóa những nhiệm vụ như: Lập kế hoạch, làm báo cáo và quản lýhành chính nhà trường;
- Với công tác hành chính thì CNTT thường xuyên đem đến những sựtrợ giúp to lớn Những công việc hành chính phức tạp và tốn nhiều thời gian
có thể được đơn giản hóa và vi tính hóa Ví dụ như lập kế hoạch, quản lý hệthống, làm báo cáo, kế toán, hành chính
1.2.3 Quản lý, quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Trang 271.2.3.1 Quản lý
Ngay từ trong xã hội nguyên thủy, để tồn tại và phát triển, con ngườiphải sống theo bầy đàn, tạo thành sức mạnh thống nhất để chống chọi vớithiên nhiên, thú dữ vì mục đích sinh tồn Con người không thể hành độngriêng lẻ mà cần phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêuchung Từ đó việc tổ chức điều khiển, ra lệnh, chỉ huy hình thành như một sựtất yếu, tự nhiên Đó là nguồn gốc của hiện tượng quản lý
Trong các giáo trình và tài liệu về quản lí, khi trình bày khái niệm vềquản lí, ngoài việc trích dẫn những tư tưởng của các tác giả kinh điển của líluận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, các tác giả thường dẫn ra những quan điểmcủa một số các tác giả nước ngoài như: Frederich Winslon Taylor (1855 –1915); Henry Fayol (1841 – 1925; Mary Parker Pollet (1868 – 1933); HaroldKoontz,… và một số tác giả Việt Nam như: Đỗ Hoàng Toàn, Nguyễn NgọcQuang, Hồ Văn Vĩnh, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Duy Quý, Bùi Trọng Tuân
Các nghiên cứu về quản lí có thể được khái quát theo những khuynhhướng sau: Thứ nhất, nghiên cứu quản lí theo quan điểm của điều khiển học
và lí thuyết hệ thống; Thứ hai, nghiên cứu quản lí với tư cách là một hoạtđộng, một lao động tất yếu trong các tổ chức của con người; Thứ ba, nghiêncứu quản lí với tư cách là một quá trình trong đó các chức năng quản lí đượcthực hiện trong sự tương tác lẫn nhau
Khái quát các nghiên cứu trên, tác giả luận văn thống nhất với quanniệm: Quản lí là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổchức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lí theo kếhoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đếnđối tượng quản lí nhằm tạo ra sự thay đổi cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn
Trang 28định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn biến động Quanniệm này nhấn mạnh những khía cạnh của quản lí:
- Quản lí có hình thức thực thể là những hoạt động cho chủ thể quản líthực hiện thông qua các chức năng quản lí: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểmtra Điều đó có ý nghĩa không có những hoạt động này, chưa có hoạt độngquản lí trên thực tế, chưa có cơ sở để khẳng định hoạt động quản lí đã xảy ra;
Lập kế hoạch
Kiểm tra
Tổ chức Thực hiện
Hình 1.1: Mối liên hệ giữa các chức năng của quản lý
- Quản lí thể hiện tập trung trí tuệ và ý trí của chủ thể quản lí Điều nàyđược thể hiện ở những tác động hướng đích có chủ định do chủ thể quản líthực hiện và những mục tiêu mà chủ thể quản lí xác định Tuy nhiên, nhữngtác động này của chủ thể chỉ có hiệu quả khi nó dựa trên cơ sở nhận thức củachủ thể về các quy luật khách quan trong lĩnh vực hoạt động của mình Bêncạnh đó quản lí đồng nghĩa với sự thay đổi có chủ định cho tổ chức và bằngnhững tác động của chủ thể quản lí cũng như trong việc triển khai, tổ chức vàthực hiện các nguồn lực của tổ chức
Quản lý vừa là khoa học, vừa là một nghệ thuật Chính vì vậy, trong quátrình hoạt động, người cán bộ quản lý phải hết sức sáng tạo, linh hoạt và mềmdẻo để chỉ đạo hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục đích đã đề ra
Trang 29- Người học phải đảm bảo thời gian học tập trên lớp, tham gia thảoluận, thuyết trình và thi kết thúc học phần Đây là một khó khăn cho ngườihọc, vì phải có đủ thời gian tham gia học tập trên lớp Do đó, người học phảichủ động sắp xếp thời gian để tham gia trong quá trình học tập sao cho phùhợp với điều kiện thực tế của mình Muốn vậy, sinh viên phải nắm được toàn
bộ chương trình học theo từng học kì hoặc từng năm học để có kế hoạch đăng
MÔI TRƯỜNG QUẢN LÝ
Mục tiêu quản lý
Trang 30ký tham gia học tập cho hợp lí Sinh viên phải thường xuyên cập nhập cácthông tin môn học, đăng ký học tập qua mạng Internet Do đó, CNTT đóngvai trò rất quan trọng trong việc phân phối quá trình học tập của sinh viên;
- Người học phải có thời gian hoạt động thực tế bộ môn như làm ở cácphòng thí nghiệm, thực tập chuyên môn, hoặc làm các phần việc khác…
- Người học phải có thời gian tự học Ngoài giờ học ở lớp, sinh viênphải tự tìm các nguồn tư liệu như: sách, báo, tư liệu trên mạng Internet…đểchuẩn bị cho các bài thuyết trình của mình Do đó, việc tìm tài liệu đóng vaitrò vô cùng quan trọng CNTT với những nguồn tài nguyên phong phú, đadạng sẽ góp phần rất lớn trong việc đảm bảo yêu cầu tìm tòi, học tập của sinhviên
Như vậy, các yêu cầu trên trong hệ thống tín chỉ nhằm đảm bảo choquá trình học tập, rèn luyện của sinh viên được kết quả cao nhất để đáp ứngnhu cầu ngày càng cao của xã hội Muốn vậy, sinh viên phải dựa vào các công
cụ hỗ trợ như: các phần mềm quản lí của nhà trường, mạng Internet…để cóthể chủ động trong việc đăng ký môn học, thời gian học, tìm tài liệu cho quátrình học tập…Vì vậy, sự ứng dụng CNTT vào học tập theo hệ thống tín chỉ
là cần thiết
Ngoài ra, việc ứng dụng CNTT và công tác dạy - học cũng mang tínhcấp thiết vì:
Thứ nhất, nó phù hợp với yêu cầu của thời đại vì “thời đại tin học thật
sự đến rồi và thời đại công nghiệp coi như kết thúc Nền giáo dục của thời đạicông nghiệp nay không còn thích hợp với xã hội nữa” Trong hệ thống giáodục của phương Tây, CNTT chính thức được đưa vào chương trình giảng dạy
ở các bậc học Người ta nhanh chóng nhận ra rằng nội dung về công nghệthông tin đã có ích cho tất cả các môn học khác nhau Do đó, việc ứng dụng
Trang 31nó vào dạy học ở các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam là phù hợp với quyluật phát triển của thời đại.
Thứ hai, việc ứng dụng CNTT vào dạy học là phù hợp với chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước Chiến lược phát triển giáo dục đào tạo đếnnăm 2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu rõ: “từng bước phát triển giáodục dựa trên công nghệ thông tin…công nghệ thông tin và đa phương tiện sẽtạo ra thay đổi lớn trong hệ thống quản lí giáo dục, trong chuyển tải nội dungchương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về phương pháp dạy vàhọc Như vậy, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng xác định con đường phát triểncho giáo dục Việt Nam là “dựa trên công nghệ thông tin” và nó là phươngtiện để thúc đẩy cuộc “cách mạng về phương pháp dạy và học” - nghĩa là thayđổi phương pháp dạy học trong nhà trường
Tóm lại, CNTT đang ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nền giáodục Đó là những công cụ hỗ trợ tích cực cho công cuộc đổi mới phương phápđào tạo ở trường đại học, cao đẳng…của Việt Nam Do đó, việc ứng dụngCNTT vào việc đào tạo theo hệ thống tín chỉ là cần thiết
1.2.4 Giải pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo theo hệ thống tín trong các trường đại học
Thứ nhất: Xây dựng kế hoạch dài hạn, ngắn hạn và lộ trình ứng dụng
CNTT vào hoạt động đào tạo, giáo dục, phục vụ Trong đó xác định rõ mụctiêu từng giai đoạn, yêu cầu đạt được đối với từng đối tượng, từng loại côngviệc Xây dựng chính sách phù hợp để động viên khuyến khích, tạo động lựccho CBGV, HSSV ứng dụng mạnh mẽ CNTT trong giảng dạy, học tập, côngtác Tổ chức thực hiện và chỉ đạo, kiểm tra, uốn nắn kịp thời nhằm thực hiệntốt kế hoạch đã đề ra Có cơ chế quản lý và xác định chế độ trách nhiệm của
cá nhân, đơn vị trong việc ứng dụng CNTT vào các hoạt động
Trang 32Thứ hai: Đầu tư kinh phí, tăng tốc độ đường truyền, trang bị phần mềm
quản lý đào tạo, quản lý HSSV, quản lý nhân sự Các phần mềm này đượcmua và thiết kế phù hợp với đặc điểm và các điều kiện đào tạo của trường.Đồng thời, tích cực sử dụng các phần mềm mã nguồn mở phục vụ cho hoạtđộng đào tạo Xây dựng các điều kiện để thực hiện như các quy định về mã sốmôn học, chương trình đào tạo, ngành đào tạo, cơ chế quản lý đào tạo theoquy chế của Bộ GD&ĐT Tiếp tục trang bị thêm phần cứng, tạo điều kiện chocác CBGV, HSSV ứng dụng CNTT
Thứ ba: Tiếp tục tập huấn, triển khai ứng dụng các phần mềm trong
dạy học ở các bộ môn và kỹ năng sử dụng trung tâm học tập trực tuyến đểphục vụ giảng dạy, thực hiện các học phần theo yêu cầu của học chế tín chỉ.Tăng cường số lượng và chất lượng sử dụng các phần mềm trong dạy học ởcác khoa, các bộ môn Chia sẻ kinh nghiệm đổi mới phương pháp dạy học,thực hiện các bài giảng điện tử, phát huy hiệu quả hỗ trợ của CNTT đồng thờikhông làm mất đi vai trò của GV trong giảng dạy và hướng dẫn HSSV họctập, nghiên cứu
Thứ tư: Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực ứng dụng CNTT và quản lý thực
hiện ứng dụng CNTT Thường xuyên bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho độingũ, có chính sách và chế độ phù hợp cho CBGV trong việc ứng dụng có hiệuquả CNTT phục vụ dạy học, công tác Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá, quy chếquy định ứng dụng CNTT trong đào tạo và thực hiện nhiệm vụ Tổ chức cáchội thi, hội thảo ứng dụng CNTT trong từng lĩnh vực để chia sẻ kinh nghiệm,nâng cao hiệu quả hoạt động
Thứ năm: Nghiên cứu cải cách hành chính, áp dụng kỹ thuật số hoá,
thiết lập môi trường lưu trữ, xử lý thông tin, quản lý kết quả và chất lượnggiáo dục đào tạo qua hệ thống thông tin kỹ thuật số Khai thác và sử dụng tối
đa mạng Internet, website, tạo lập môi trường làm việc, hợp tác có hiệu quả
Trang 33nhờ sự ứng dụng CNTT Đây sẽ là một thử thách cho các trường để hội nhậpvới môi trường làm việc trong bối cảnh toàn cầu hoá và yêu cầu của nền kinh
tế tri thức Các nghiên cứu cần được đề cập đến là các đối tượng, các điềukiện, các yêu cầu để tạo lập môi trường làm việc với sự góp mặt của CNTT vàtruyền thông Mở rộng quan hệ hợp tác với các trường trong và ngoài nước đểchia sẻ kinh nghiệm, tăng nguồn đầu tư, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụcho CB, GV về CNTT
Thứ sáu: Các khoa, tổ bộ môn cần có kế hoạch triển khai và ứng dụng
CNTT trong đào tạo, rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ cho HSSV Triển khaiứng dụng các phần mềm dạy học, sử dụng trung tâm học tập trực tuyến, tạomôi trường cho HSSV chủ động, sáng tạo trong học tập, rèn luyện, tìm kiếm
và tích luỹ tri thức, kỹ năng
Thứ bảy: Nghiên cứu và ứng dụng các phần mềm mã nguồn mở trong
quản lý và đào tạo ở trường đại học
Thứ tám: Bộ phận chuyên trách về CNTT có trách nhiệm xây dựng kế
hoạch, tham mưu và triển khai các hoạt động hỗ trợ việc ứng dụng CNTTtrong đào tạo, quản lý theo kế hoạch của nhà trường và kế hoạch từng nămhọc Tập trung bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng sử dụng các phần mềm dạy học
Thứ chín: Giảng viên cần tăng cường xây dựng bài giảng điện tử bằng
các phần mềm mô phỏng trên máy tính nhằm hỗ trợ cho phương pháp giảngdạy truyền thống, tạo website cá nhân trên mạng phục vụ dạy học trực tuyếnqua việc liên kết các tài nguyên trên mạng Internet; mô phỏng các thí nghiệm
ảo, thực hành ảo trên máy tính phục vụ học tập
1.3 Một số vấn đề lý luận về ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ.
Trang 341.3.1 Sự cần thiết ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo theo
hệ thống tín chỉ.
CNTT là ngành khoa học công nghệ cao, nó có nhiều tác dụng trongcuộc sống xã hội, mang lại hiệu quả lớn trong mọi mặt của xã hội trong đó cóquản lý Ứng dụng CNTT làm cho việc quản lý trở nên sâu sát hơn, cụ thểhơn, người quản lý không mất nhiều thời gian vào những việc cụ thể mà dànhnhiều thời gian hơn cho công việc hoạch định chiến lược cho tổ chức, cho đơnvị
1.3.1.1 Hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động dạy của giảng viên
- CNTT làm cho tất cả các thông tin được cập nhật nhanh chóng, cácthông tin của đơn vị được công khai với cộng đồng Sự công khai thông tinlàm cho cộng đồng đánh giá được đơn vị, làm cho đơn vị thân thiện với cộngđồng, với người học Thông tin được công khai cũng làm cho cộng đồng chấpnhận đơn vị, làm cho gia đình, đơn vị chủ quản nắm được tình hình học tậpcủa con em, của nhân viên mình kịp thời Ngoài ra, CNTT giúp người học cóthể tham khảo thông tin phục vụ bài học, có thể tự học trong những thời giankhác nhau, ở những địa điểm khác nhau, làm cho trở nên chủ động học tậptheo hướng “trường học thân thiện, sinh viên tích cực’’
- CNTT làm cho quá trình quản lý nhanh chóng, chính xác, kịp thời.Máy tính là một công cụ chủ yếu trong CNTT, máy tính thực hiện nhữngphép tính toán rất nhanh và chính xác Công nghệ truyền thông đã dần tiến tớitrình độ hoàn thiện ở mức độ cao nên thông tin được nhanh chóng, rộng khắp.Nhờ CNTT, thông tin quản lý được truyền đến người quản lý hầu như tức thì,trực tiếp không thông qua khâu trung gian nên người quản lý nắm bắt được
Trang 35thông tin một cách nhanh chóng, chân thực Từ nguồn thông tin đó, ngườiquản lý có thể xử lý thông tin quản lý kịp thời và chính xác.
- CNTT làm cho những quyết định quản lý sát với thực tiễn đang diễn
ra, làm cho quyết định quản lý có hiệu quả hơn Do xã hội luôn luôn thay đổinên trạng thái của đơn vị biến đổi không ngừng Các quyết định quản lý cũng
vì vậy mà không đồng nhất như nhau trong thời điểm khác nhau Tốc độ thayđổi của xã hội càng nhanh càng yêu cầu người lãnh đạo phải cân nhắc tức thời
để đưa ra quyết định quản lý phù hợp với tình hình thực tế CNTT giúp choviệc cân nhắc các điều kiện thực tế một cách nhanh chóng, đặc biệt là việctính toán của CNTT có thể là một cơ sở để hỗ trợ cho các nhà quản lý raquyết định một cách đúng đắn một cách nhanh nhất, dành nhiều thời gian hơnvào công việc khác
1.3.1.2 Hiệu quả của ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
- CNTT làm cho người thầy nhanh chóng nắm bắt thông tin, cập nhậtnhững kiến thức mới, làm cho bài giảng phong phú, sinh động Dưới con mắtcủa người học, người thầy là một tấm gương tri thức Nguồn tri thức xã hộiluôn phát triển theo thời gian, càng về thời gian gần đây, lượng tri thức đócàng được phát triển với gia tốc lớn hơn Trong những tri thức đó, có nhữngthông tin không có lợi ẩn vào đó, náu mình trong khối thông tin đó, ngụytrang bởi những lý luận có vẻ hợp lý, khoa học Các thông tin đó nhanh chóngđưa lên nhiều phương tiện thông tin đại chúng nên mọi người đều biết Muốngiữ vững vị trí của mình trong con mắt cả người học, người thầy phải luôncập nhật kiến thức mới, những tri thức mới để hướng dẫn cho người học Hơnnữa, người thầy cần phải phân biệt được thông tin cần thiết cho cuộc sống xãhội, những thông tin nào không có lợi cho cuộc sống để định hướng chongười học để tránh
Trang 36- CNTT giúp cho sinh viên quan sát những hiện tượng tự nhiên lớn mộtcách dễ dàng, giúp sinh viên quan sát những thí nghiệm nguy hiểm mà khôngảnh hưởng đến sức khỏe của sinh viên, giúp tiết kiệm những đồ dùng dạy họcđắt tiền Một trong những thế mạnh của CNTT là sự mô phỏng các hiện tượng
tự nhiên Công nghệ mô phỏng làm cho thế giới tự nhiên trở nên trực quansinh động hơn, sinh viên có thể quan sát trực tiếp Từ đó giúp người học nắmvững kiến thức hơn Người học cảm thấy những giờ học nhẹ nhàng hơn, hứngthú hơn, góp phần làm cho trường học trở nên một môi trường thân thiện
- CNTT làm cho quá trình dạy học được mở rộng về không gian và thờigian, giúp cho các giảng viên có trình độ cao có thể giảng cho nhiều sinh viêncùng học Công nghệ truyền dẫn thông tin của ngành CNTT làm cho thông tinđược truyền đến nhiều nơi trên thế giới một cách nhanh chóng và giá thànhngày càng giảm Việc giá thành truyền thông tin giảm nhanh làm cho việctruyền thông tin trở nên phổ biến và nhiều người có thể sử dụng được côngnghệ này Sự phổ biến CNTT thể hiện ở hệ thống mạng Internet Hiện nay,mạng Internet phổ biến khắp mọi nơi từ thành phố đến nông thôn và trở nênthân thiện với người sử dụng Số lượng người biết sử dụng Internet và số thuêbao Internet tăng lên nhanh chóng Hiện nay, hầu hết những thông tin conngười cần đến đều có thể tìm được trên Internet
- CNTT làm cho người học hứng thú trong giờ học Việc ứng dụngCNTT trong dạy học làm cho các kiến thức của người thầy luôn sống động,luôn cập nhật Chương trình mô phỏng những hiện tượng tự nhiên khiến chongười học không chỉ được nhìn thấy một cách trực quan mà còn làm chongười học có thể tương tác với các hiện tượng đó thông qua máy tính Thôngqua những hoạt động, quá trình nhận thức của người học trở nên tự nhiên, sâusắc hơn
Trang 371.3.1.3 Hiệu quả của ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý
- Người quản lý có thể nhanh chóng nhận được các báo cáo tình hìnhhoạt động của nhà trường cũng như chỉ đạo các đơn vị thực hiện
- Các phòng ban, các khoa phối hợp làm việc một các hiệu quả trongviệc lập kế hoạch hoạt động, công tác giảng dạy và quản lý sinh viên
- Sinh viên có thể nhanh chóng nắm được các thông tin liên quan nhưlịch học, lịch thi, kết quả học tập, rèn luyện, …
Tóm lại, CNTT có vai trò quan trọng trong quản lý giáo dục nói chung,quản lý đào tạo nói riêng Việc ứng dụng CNTT vào quản lý đào tạo có vai tròquan trọng trong việc nâng cao chất lượng quản lý đào tạo Chất lượng quản
lý đào tạo được nâng cao dẫn đến chất lượng đào tạo được nâng cao
1.3.2 Nội dung quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ.
- CNTT làm cho quá trình quản lý người học được rõ ràng, chính xác.Chương trình quản lý người học luôn được xử lý một cách tự động Ngườihọc luôn biết được kết quả học tập của bản thân một cách nhanh nhất để cóđược những điều chỉnh cần thiết trong học tập của mình nhằm đạt kết quả caohơn Thông qua những chương trình học tập, người học tự đánh giá được mức
độ nhận thức mà bản thân đạt được Những thông tin về quá trình phấn đấucủa người học làm cho người quản lý điều chỉnh cách thức quản lý để đạt mụcđích đề ra
- CNTT làm cho những thông tin về quá trình học tập và phấn đấu củasinh viên được công khai hóa làm cho gia đình, xã hội được biết những nhậnxét đánh giá của nhà trường đối với sinh viên Các cơ sở giáo dục cần côngkhai những thông tin về quá trình phấn đấu tu dưỡng, kết quả học tập củangười học cho gia đình, xã hội, cơ quan chủ quản của người học Việc công
Trang 38khai các thông tin đó làm cho người học có động lực học tập hơn, làm chongười học có ý thức học tập hơn CNTT và mạng Internet thực hiện công khaihóa những thông tin đó một cách rất nhanh chóng, dễ dàng, hiệu quả
- Ứng dụng CNTT trong khâu lập kế hoạch: Hoạt động lập kế hoạch làhoạt động căn cứ thực trạng ban đầu của tổ chức, bao gồm xác định mục tiêu,mục đích của tổ chức trong từng giai đoạn, thời kỳ và từ đó định ra biện pháphay cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó CNTT giúp cho việc tínhtoán, ước lượng, thu nhập thông tin là cho kế hoạch của đơn vị sát với mụctiêu của đơn vị, phù hợp với trạng thái của đơn vị giúp cho đơn vị chủ độnghơn trong việc thực hiện kế hoạch, làm cho đơn vị chủ động đối phó, thíchứng với sự thay đổi của môi trường giáo dục
- Ứng dụng trong khâu tổ chức: Tổ chức là sự hình thành nên cấu trúccác mối quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chức với nhau
mà nhờ cấu trúc đó, chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý một cáchhiệu quả nhất nhằm thực hiện thành công kế hoạch, tức là đạt được mục tiêu,mục đích mà kế hoạch đã đặt ra Khâu tổ chức cần thông tin chính xác, rõràng, chân thực CNTT giúp cho việc thu nhập thông tin nhanh, rõ ràng, chínhxác, chân thực Những thông tin này giúp cho công tác tổ chức trong quản lýgiáo dục được chính xác, có hiệu quả
- Ứng dụng CNTT trong khâu chỉ đạo: Chỉ đạo là hoạt động điều khiển
hệ thống, làm cho hệ thống tiến đến mục tiêu đề ra Người quản lý cần nắmđược thực trạng của hệ thống đang có vấn đề gì? Các cấp quản lý ý thức nhưthế nào về vấn đề đó? Để giải quyết vấn đề thì cần những nguồn lực nào?Hiện trạng hệ thống đã có những nguồn lực nào, đã đủ điều kiện để giải quyếtvấn đề chưa? Khâu này cần có nhiều thông tin mang tính khách quan, trungthực, rõ ràng Thông tin thu được còn phải được xử lý qua khâu ước lượng,kiểm định Thông tin làm cho người có trách nhiệm nắm được hiện trạng của
Trang 39đơn vị, nắm được vị trí của dơn vị trong quá trình thực hiện mục tiêu, mụcđích đề ra Việc nắm những thông tin một cách đầy đủ, trung thực giúp chongười quản lý ra những quyết định sáng suốt, đúng đắn, phù hợp với trạngthái của đơn vị, giúp đơn vị đạt đến mục tiêu với một chi phí thấp.
- Ứng dụng CNTT trong kiểm tra, đánh giá: Kiểm tra là hoạt độngnhằm thẩm định, xác nhận trạng thái của hệ thống, của đơn vị Như vậy, kiểmtra là thu nhập, ghi chép các thông tin về hệ thống và so sánh các thông tinnày với một thước đo nhằm xác định xem hệ thống đang ở vị trí nào trong quátrình thực hiện mục tiêu Kiểm tra có hai quá trình: thiết lập hệ thống thang đo
và thu nhập các thông tin về trạng thái hệ thống, so sánh nó với thang đo đềra
CNTT cho phép triển khai kỹ thuật trắc nghiệm khách quan rất thuậnlợi Kỹ thuật kiểm tra bằng hình thức trắc nghiệm khách quan cho phép ngườiquản lý tăng cường kiểm tra một cách sâu sắc hơn, mở rộng hơn Người quản
lý có thể thực hiện kiểm tra trắc nghiệm khách quan đến từng người học.Công nghệ internet cho phép người học có thể kiểm tra, tự đánh giá kết quảhọc tập của bản thân Làm cho người học tự thẩm định chính mình, chuyểndần quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
Việc kiểm tra để nắm bắt trạng thái của hệ thống rất quan trọng Kiểmtra cho phép đánh giá mức độ, chất lượng công việc mà đơn vị đã thực hiệntrong quá trình thực hiện mục tiêu để có những điều chỉnh kịp thời, làm chođơn vị thực hiện mục tiêu đề ra một cách tối ưu nhất
Ứng dụng CNTT trong kiểm tra giúp cho các thông tin thu được chínhxác, chân thực, nhanh chóng làm cho kết quả kiểm tra phản ảnh đúng trạngthái của hệ thống Thông tin về trạng thái đúng đắn, rõ ràng, nhanh chónggiúp cho nhà quản lý có điều kiện tăng cường hoạt động kiểm tra, giúp cho
Trang 40nhà quản lý nhanh chóng nắm bắt được những biến đổi của hệ thống, có đượccác quyết định điều chỉnh kịp thời, làm cho hiệu quả công tác quản lý đượcnâng cao.
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo ở trường đại học.
Để đảm bảo việc ứng dụng CNTT vào quản lý đào tạo có hiệu quả cần
có hai yếu tố: Cơ sở vật chất đầy đủ và trình độ sử dụng CNTT của đội ngũcán bộ quản lý
Cơ sở vật chất cần đáp ứng một số điều kiện sau đây: Hệ thống thiết bịCNTT đáp ứng được những yêu cầu đề ra như cấu hình phải đảm bảo cácchương trình quản lý phải sử dụng được, hệ thống mạng nội bộ phải luônthông suốt với một tốc độ mạnh, hệ thống phải được bảo mật tốt, tránh đượcnhững can thiệp từ những người không có quyền truy cập
Trình độ CNTT của cán bộ quản lý trong đơn vị phải đạt các yêu cầu:
sử dụng thành thạo hệ thống thông tin bao gồm các chương trình ứng dụng,các chương trình quản lý, hệ thống mạng nội bộ, hệ thống mạng Internet Vớicán bộ quản lý cần biết sử dụng Internet trong việc thu thập, tìm kiếm thôngtin, gửi nhận thư điện tử, biết sử dụng các chương trình ước lượng, kiểm trathông tin Với cán bộ giảng viên, cần biết các chương trình phục vụ việcgiảng dạy của bản thân, biết tìm kiếm thông tin trên Internet theo chủ đề, biếtlưu trữ và tổ chức lưu trữ trên hệ thống riêng của mình, hoặc lưu trữ trên hệthống mạng chung
Hai điều kiện nói trên phải tương xứng với nhau để những khoản đầu tưkhông bị lãng phí Nếu đầu tư tràn lan mà không nâng cao trình độ CNTT củacán bộ thì lãng phí cơ sở vật chất, nếu không đầu tư cơ sở vật chất đầy đủ,