1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BÀI THẢO LUẬN NHÓM 7

16 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 853,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động ngân hàng trung ương NHTW mua vào hoặc bán ra những giấy tờ có giá GTCG của Chính phủ trên thị trường.. Tác động vào dự trữ của hệ thống n

Trang 1

Chủ đề 4: Nghiệp vụ thị trường mở của Nhật Bản và thực tế Việt Nam những năm

gần đây Danh sách nhóm 7:

1.Phạm Trương Khoa

2.Nguyễn Thị Thu Trang

3.Hà Thị Kim Anh

4.Nguyễn Minh Ánh

5.Đào Thị Mộng Thu

6.Lý Thành Luân

A, Khái quát chung về nghiệp vụ thị trường mở

I Khái niệm

Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động ngân hàng trung ương (NHTW) mua vào hoặc bán ra những giấy tờ có giá (GTCG) của Chính phủ trên thị trường Thông qua hoạt động mua bán giấy tờ có giá, NHTW tác động trực tiếp đến nguồn vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, từ đó điều tiết lượng cung ứng tiền tệ và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường

II Cơ chế tác động của Nghiệp vụ thị trường mở

1 Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng

Hành vi mua bán các GTCG trên thị trường mở của NHTW có khả năng tác động ngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các ngân hàng thương mại (NHTM) thông qua ảnh hưởng đến tiền gửi của các ngân hàng tại NHTW (nếu các NHTM là đối tác tham gia OMO) và tiền gửi của khách hàng tại hệ thống ngân hàng (nếu các khách hàng là đối tác tham gia OMO)

Trang 2

2 Tác động qua lãi suất

Hành vi mua bán GTCG của NHTW trên thị trường mở có thể ảnh hưởng gián tiếp đến mức lãi suất thị trường thông qua 2 con đường sau:

Thứ nhất, khi dự trữ của ngân hàng bị ảnh hưởng sẽ tác động đến cung cầu vốn NHTW trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng

Thứ hai, việc mua bán GTCG sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung cầu về loại GTCG đó trên thị trường và giá cả của nó

NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NHẬT BẢN

I Hàng hóa của ngiệp vụ thị trường mở

Nhật Bản là nước có chủng loại các GTCG giao dịch trong nghiệp vụ thị trường mở rất phong phú Hàng hóa được sử dụng đầu tiên trong OMO là các giấy tờ có giá có tính thanh khoản cao như Trái phiếu chỉnh phủ và Tín phiếu kho bạc hiện nay ngoài các chứng khoán Chính phủ, BOJ còn sử dụng các loại GTCG khác để tham gia:

 Trái phiếu chính phủ

 Tín phiếu kho bạc

 Thương phiếu

 Trái phiếu doanh nghiệp

 Hóa đơn giảm giá kho bạc

 Quỹ giao dịch

 Quỹ đầu tư ủy thác bất động sản Nhật Bản

Trang 3

Tuy nhiên, đến nay thị trường thương phiếu, trái phiếu Doanh nghiệp vẫn là cơ sở quan trọng cho các hoạt động của thị trường mở của Nhật Bản Đặc biệt là trên thị trường đấu thầu thương phiếu, trái phiếu Doanh nghiệp, BOJ được phép thực hiện vai trò là người mua cuối cùng Điều này giúp cho BOJ luôn có công cụ chủ động điều hoà thị trường tiền tệ mà không nhất thiết phải phát hành tín phiếu NHTW

II Thành viên tham gia của thị trường mở

Về nguyên tắc, thị trường mở là thị trường không giới hạn người tham gia, mọi nhà đầu tư đều là có thể là đối tác với NHTW trong nghiệp vụ thị trường mở nếu như thỏa mãn những tiêu chuẩn cụ thể của NHTW ở các nước

Tuy nhiên tại Nhật Bản, phạm vi các đối tượng có thể giao dịch được với NHTW bị hạn chế Đối tác quan trọng của BOJ là các Ngân hàng do đó BOJ sẽ thực hiện các giao dịch OMO chủ yếu thông qua các nhà giao dịch sơ cấp và phạm vi của những nhà

sơ cấp này chính là các ngân hàng mà không bao gồm các trung gian tài chính phi ngân hàng và các doanh nghiệp Vì vậy, giới hạn chủ thể có thể tham gia vào OMO của Nhật Bản không phong phú như ở nhiều quốc gia

B, Nghiệp vụ thị trường mở tại Nhật Bản

1 Nghiệp vụ thị trường mở của NHTW Nhật Bản năm 2013

a, Tình hình kinh tế Nhật Bản 2013

Nền kinh tế Nhật Bản đã rơi vào suy thoái ba lần trong vòng 5 năm sau hai cú sốc nghiêm trọng là cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và động đất sóng thần năm 2011 Thách thức chính đối với nền kinh tế Nhật Bản sau hai cú sốc này là đạt được tăng trưởng bền vững và ổn định tài chính

Kể từ khi thủ tướng Shinzo Abe lên năm quyền vào tháng 12 năm 2012, nền kinh tế Nhật Bản dường như có những dấu hiệu khởi sắc hơn Các chính sách kinh tế của ông Abe còn được gọi là Abenomics bao gồm một tập hợp các cải cách tiền tệ, tài chính, cơ cấu kinh tế, hướng tới thúc đẩy lạm phát và đưa Nhật Bản thoát khỏi suy thoái giảm phát kéo dài nhiều thập kỷ qua Mục tiêu tổng thể là thúc đẩy tăng trưởng GDP hàng nămvà

Trang 4

tăng tỷ lệ lạm phát lên 2% thông qua chi tiêu ngắn hạn kích thích kinh tế, nới lỏng tiền tệ,

và cải cách để thúc đẩy thị trường lao động trong nước và tăng cường quan hệ đối tác thương mại

b, Nghiệp vụ thị trường mở của NHTW Nhật Bản

JBG: Trái phiếu chính phủ Nhật Bản

Ngay sau khi sự ra đời của nới lỏng tiền tệ định lượng và định tính, lãi suất dài hạn dao động từ mức thấp lịch sử của 0,3-0,4%và 0,6-0,7% Sau đó,lãi suất dài hạn tạm thời tăng lên khoảng 1% vào cuối tháng 5 năm 2013, chủ yếu phản ánh một thái độ thận trọng về đầu tư trái phiếu giữa các thành viên thị trường Từ tháng 9 năm 2013, lãi suất dài hạn nhìn chung vẫn ổn định trong phạm vi giữa 0,6% và 0,7 % Cùng với những phát triển, biến động lãi suất giảm, và từ tháng 8 năm 2013 nó gần như trở về mức biên, trước sự ra đời của nới lỏng tiền tệ định lượng và định tính

Để tránh tác động quá mức của các hoạt động trên thị trường tài chính và các hoạt động tiến hành một cách linh hoạt hơn, tần suất mua hàng được đổi khoảng 8 lần mỗi tháng từ ngày 19/04/2013 và khoảng 8-10 lần từ tháng Sáu năm 2013 Theo hướng dẫn này, Ngân hàng mua khoảng 6- 8 nghìn tỷ ¥JGBs mỗi tháng trong năm tài chính 2013 Dưới sự điều khiển nói trên của hoạt động thị trường tiền tệ, lượng nợ JGBs của Ngân hàng đứng ở mức 141.6 nghìn tỷ ¥ vào cuối năm 2013, tăng 52.4 nghìn tỷ¥ so với cùng kỳ năm trước đó Dư nợ vào cuối tháng 3/2014 đạt 154.2 nghìn tỷ ¥, tăng 62.8 nghìn

tỷ ¥từ một năm trước đó

2 Nghiệp vụ thị trường mở của NHTW Nhật Bản năm 2014

a, Tình hình kinh tế Nhật Bản 2014

Năm 2014 là một năm không thành công đối với nền kinh tế Nhật Bản về thực thi những ý tưởng chính sách đã được đề ra từ những năm trước Lạm phát vẫn xa rời mục tiêu 2% Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ công gia tăng, dân số lao động suy giảm, vẫn là những thách thức dài hạn mà chính phủ Nhật Bản đang phải đối mặt để cố gắng hồi sinh nền kinh tế của đất nước

Trang 5

Vào tháng 6/2014, Thủ tướng Shinzo Abe đã công bố hai tài liệu chính sách liên quan đến cải cách tài chính và tái thiết kinh tế là “Chính sách cơ bản về Quản lý Kinh tế -Tài chính và Cải cách 2014” (Basic Policies for Economic and Fiscal Management and Reform 2014) và bản sửa đổi “Chiến lược Tăng trưởng Kinh tế Mới” (New Economic Growth Strategy) Nhìn chung, các chính sách lần này nhận được sự phản hồi tích cực từ phía thị trường hơn so với Chiến lược tăng trưởng của năm 2013

b, Nghiệp vụ thị trường mở của NHTW Nhật Bản.

Trong năm tài chính 2014 , Ngân hàng của Nhật Bản theo đuổi chính sách nới lỏng tiền tệ mạnh mẽ dưới định tính và định nới lỏng định lượng tiền tệ (QQE) và lượng tiền

cơ sở thông qua mua hàng của một loạt các tài sản tăng đáng kể với số lượng vượt trội, bao gồm cả quy mô lớn về mua trái phiếu chính phủ Nhật Bản (JGBs)

Trong giai đoạn đến tháng 10/2014, Ngân hàng tiến hành các hoạt động thị trường tiền tệ của mình làm cho lượng tiền cơ sở tăng lên với tốc độ hàng năm khoảng 60-70 nghìn tỷ ¥ thông qua mua hàng của các loại tài sản, bao gồm cả mua của JGBs, tín phiếu giảm giá (T-Bills), CP, trái phiếu doanh nghiệp, các quỹ giao dịch (ETFs), và bất động sản ủy thác đầu tư (J-REIT)

Trong năm tài chính 2014, thu ròng từ JGBs và T-Bills vượt quá khoản thanh toán ròng của khoản thanh toán tài chính và doanh thu

JGB ( Trái phiếu chính phủ Nhật Bản)Ngân hàng đã quyết định mua JGBs để dư

nợ sẽ tăng với tốc độ hàng năm khoảng 50 nghìn tỷ yên Ngoài ra, kỳ hạn mua trung bình của Ngân hàng đã được mở rộng khoảng 3 năm ,tối đa khoảng 7-10 năm, thời gian trước đây là từ khoảng 7 năm.Khi tiến hành như mua JGB quy mô lớn

Mua ngay trái phiếu doanh nghiệp: Ngân hàng mua trái phiếu doanh nghiệp cho

đến khi số dư nợ đạt 3,2 nghìn tỷ ¥ vào cuối năm 2013 và duy trì ở khoảng 3,2 nghìn tỷ ¥ Tuân thủ các nguyên tắc này, Ngân hàng cung cấp mua hẳn một tháng một lần với 100 tỷ

¥ mỗi hoạt động trên nguyên tắc từ đầu năm tài chính năm 2014 Tuy nhiên, Ngân hàng cung cấp mua hẳn 150 tỷ ¥và 75 tỷ ¥trong năm 2014 trong tháng và tháng 12

3 Nghiệp vụ thị trường mở của NHTW Nhật Bản năm 2015

Trang 6

a, Tình hình kinh tế Nhật Bản 2015

Các số liệu kinh tế Nhật Bản được công bố trong tháng 12 năm 2015 khá khả quan: kinh tế đã thoát khỏi nguy cơ suy thoái về mặt kỹ thuật, tổng giá trị tài sản của các hộ gia đình tăng và niềm tin kinh doanh ổn định

b, Nghiệp vụ thị trường mở của NHTW Nhật Bản

Bước vào tài khóa 2015, Chính quyền của Thủ tướng Shinzo Abe dự kiến sẽ cảt giảm việc bán trái phiếu mới xuống dưới 38.000 tỷ ¥, giảm hơn 3.000 tỷ ¥ so với ngân sách ban đầu của tài khóa 2014

Trong khi đó, việc phát hành trái phiếu niên hạn ngắn 2 và 5 năm có thể sẽ được cắt giảm Do đó, lãi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm của Nhật Bản ngày 6/1 lập tức giảm xuống mức kỷ lục 0,28%

Tháng 7/2015 BOJ tiếp tục giữ chính sách tiền tệ ổn định và duy trì dự báo lạm phát lạc quan trong báo cáo công bố ngày 15/7 BOJ tăng lượng tiền cơ sở hoặc tiền mặt và tiền gửi tại Ngân hàng Trung ương hàng năm lên 80 nghìn tỷ yên (648 tỷ USD) thông qua việc mua trái phiếu chính phủ và các tài sản rủi ro

Tại Hội nghị Chính sách tiền tệ tháng 11/2015, Hội đồng Chính sách của Ngân hàng Nhật Bản đã quyết định thiết lập các hướng dẫn sau đây cho các hoạt động thị trường tiền

tệ Đối với việc mua bán tài sản với Ngân hàng quyết định:

- Ngân hàng sẽ mua trái phiếu chính phủ Nhật Bản (JGBs) để số tiền của họ sẽ tăng với tốc độ hàng năm khoảng 80 nghìn tỷ yên

- Ngân hàng sẽ mua các quỹ giao dịch (ETFs) và Nhật Bản đầu tư bất động sản quỹ tín thác (J-REIT) để tiền của họ sẽ tăng tốc độ hàng năm khoảng 3 nghìn tỷ yên và khoảng 90 tỷ yên tương ứng

- Đối với trái phiếu CP và doanh nghiệp, Ngân hàng sẽ duy trì lượng nổi bật tại 2.2nghìn tỷ ¥ và khoảng ¥ 3.2nghìn tỷ tương ứng

4 Đánh giá, nhận xét

Trang 7

( Nguồn: Bank of Japan)

Ta có thể nhận thấy lượng cung tiền MB có xu hướng tăng đặc biệt là trong giai đoạn từ 2013 trở đi (tăng từ 140% lên 260%) Điều này cho thấy Ngân hàng nhà nước Nhật Bản liên tục cung ứng tiền, thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng nhằm thúc đẩy thị trường phát triển vượt qua khủng hoảng

Trong các cuộc họp của BOJ, các mức lãi suất luôn được chú trọng và có những quy định cụ thể Thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, ngân hàng Nhật bản duy trì lãi suất ở

Trang 8

mức thấp dao động trong khoảng 0%- 0,1%, duy trì lãi suất như vậy là để khuyến khích các nhà đầu tư sử dụng vốn như một biện pháp kích thích cầu

( Nguồn: Bank of Japan)

Tuy nhiên tình hình kinh tế Nhật giai đoạn 2011-2013 không mấy khả quan CPI trong giai đoạn này có xu hướng âm, chỉ có một giai đoạn ngắn nhích lên khoảng 0,1%, nền kinh tế giảm phát Nguyên nhân là do những lần nới lỏng chính sách tiền tệ của BOJ nhằm kích cầu, lượng tiền bơm ra là chưa đủ và đồng thời là do thảm họa kép động đất sóng thần xảy ra Tuy nhiên đến giữa năm 2013, CPI có xu hướng tăng mạnh, đỉnh điểm lên đến 3,7% vào năm 2014 Điều này là rất phù hợp, cho thấy hiệu quả của chính sách tiền tệ nới lỏng của BOJ (MB trong giai đoạn này tăng mạnh từ 140% lên đến 260%) Tuy nhiên đến 6/2014 đến nay CPI lại có xu hướng giảm mạnh, cuối năm 2015 chỉ còn 0,3%

Việc này có thể do việc tăng thuế bán hàng từ 5%-8% khiến chính sách tiền tệ nới lỏng mất hiệu quả

Trang 9

Tóm lại, trải qua rất nhiều biến động, khó khăn, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản cùng với chính sách tiền tệ nới lỏng kéo dài đã liên tục cung ứng vốn cho thị trường thông qua nghiệp vụ thị trường mở đã góp phần giúp nền kinh tế Nhật Bản có những dấu hiệu khởi sắc, tuy nhiên vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ khi nền kinh tế đang có xu hướng quay trở lại lạm phát tạo áp lực rất lớn cho BOJ

C, Bài học rút ra cho Việt Nam và thực tế Việt Nam những năm gần đây

I Bài học cho Việt Nam

Tuỳ theo điều kiện cụ thể của nền kinh tế và mức độ phát triển của thị trường tài chính của từng quốc gia để vận dụng và xử lý linh hoạt công cụ OMO trong điều tiết và kiểm soát lượng tiền cung ứng nhằm thực thi CSTT Công cụ OMO ngày càng được sử dụng phổ biến tại các quốc gia có trình độ phát triển khác nhau và vai trò đang ngày càng quan trọng Điều này chứng tỏ sự ưu việt của công cụ này trong điều hành CSTT Chính vì vậy, việc áp dụng công cụ OMO tại Việt Nam vào năm 2000 là một bước đột phá trong xây dựng và điều hành CSTT của Việt Nam, trong điều kiện các thị trường tài chính tiền tệ chưa thực sự phát triển

Về các loại hàng hoá giao dịch trên thị trường mở: Nhìn chung Nhật Bản xem các loại chứng khoán của Chính phủ như tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu chính quyền địa phương và tín phiếu NHTW là các loại hàng hoá chủ yếu trong các giao dịch OMO Đây cũng là điều dễ hiểu bởi vì các loại GTCG này nhìn chung có thời hạn ngắn, có khối lượng đủ lớn để NHTW có thể can thiệp và có tính thanh khoản cao Bên cạnh đó, một số loại GTCG của các doanh nghiệp lớn, có uy tín, đã được niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc được Bộ Tài chính bảo lãnh cũng được phép giao dịch Như vậy, việc lựa chọn và quyết định chủng loại hàng hoá cho giao dịch thị trường mở tuỳ thuộc vào tình hình và điều kiện cụ thể của từng quốc gia Tuy nhiên, các loại chứng khoán của Chính phủ vẫn là hàng hoá chủ yếu và không thể thiếu tại bất kỳ một quốc gia nào

II, Thực tế Việt Nam những năm gần đây

2.1 Một số hàng hoá được giao dịch trên TTM ở Việt Nam

Trang 10

Các loại giấy tờ có giá được giao dịch thông qua TTM gồm:

- Tín phiếu kho bạc

- Tín phiếu ngân hàng Nhà nước

- Chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có giá ngắn hạn khác

2.2 Thành viên nghiệp vụ thị trường mở

- Ngân hàng trung ương

- Các đối tác của ngân hàng trung ương

 Các ngân hàng thương mại

 Các tổ chức tài chính phi ngân hàng

 Các nhà giao dịch sơ cấp

2.3 Hình thức mua bán trên thị trường mở

 Mua - bán hẳn

 Mua bán có kỳ hạn(giao dịch có thời hạn)

2.4 Phương thức giao dịch

Phương thức đấu thầu khối lượng

Là việc xác định khối lượng trúng thầu của các tổ chức tín dụng tham gia nghiệp

vụ TTM trên cơ sở khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng, khối lượng giấy tờ có giá mua hoặc bán và lãi suất do NHTW thông báo

Phương thức đấu thầu lãi suất

Là việc xác định lãi suất trúng thầu của các TCTD tham gia NVTTM trên cơ sở khối lượng dự thầu của các TCTD, khối lượng giấy tờ có giá mà NHTW cần mua hoặc cần bán, với hai phương thức xét thầu theo lãi suất là xét thầu theo: Lãi suất thống nhất và lãi suất riêng lẻ

III Thực tế Việt Nam từ 2012-2014

1 Năm 2012

(Nguồn: HNX, BVSC)

Thị trường mở hoạt động linh hoạt trong năm 2012 đã hỗ trợ thị trường liên ngân hàng trong việc cân đối thanh khoản hệ thống: Vốn được hút ròng từ các ngân hàng lớn và

Trang 11

bơm trở lại cho các ngân hàng nhỏ thông qua các nghiệp vụ thị trường Hệ thống ngân hàng ghi nhận sự nhảy vọt về giao dịch qua hợp đồng mua lại (repo) và mua đứt (outright) Khối lượng mua đứt tăng 73,1%, trong khi khối lượng mua lại tăng tới 21 lần

(theo VCBS) mà chủ yếu do sự tăng vọt về khối lượng phát hành trên thị trường sơ cấp (có173.841 tỷ đồng tín phiếu NHNN được phát hành trong năm 2012) nhằm điều tiết thanh khoản và trung hoà tiền đồng

Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng giảm mạnh từ 10-11%/năm so với cuối năm

2011 và hiện ổn định ở mức thấp, đặc biệt là lãi suất qua đêm và tuần, có xu hướng giảm liên tục từ đầu năm Lãi suất kỳ hạn qua đêm giảm mạnh nhất từ 14,22%/năm từ đầu năm xuống còn trên dưới 2%/năm vào các tháng cuối năm; kỳ hạn 1 tuần giảm tương ứng từ 13% xuống còn 3%, căng thẳng thanh khoản không kéo dài.Doanh số giao dịch bình quân ngày của quý IV chỉ bằng 44% của quý I, 55% của quý II và 75% của quý III

2 Năm 2013

2.1 Diễn biến thị trường

Nguồn: NHNN

Ngày đăng: 18/03/2017, 07:56

w