1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

ĐỀ ÁN MĂNG ĐEN 2015 2016, TỈNH KON TUM

106 720 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày 05/02/2013, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng du lịch sinh thái Măng Đen và Quy hoạch chung đô thị Kon Plông, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum đến năm 2030 đánh

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM

Trang 2

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM

ĐỀ ÁN

ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÙNG DU LỊCH SINH THÁI MĂNG ĐEN, HUYỆN KON PLÔNG, TỈNH KON TUM

CƠ QUAN CHỦ TRÌ

ỦY BAN NHÂN DÂN

HUYỆN KON PLÔNG

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

I Tính cấp thiết 1

II Căn cứ lập Đề án 2

III Phạm vi và kết cấu của Đề án 4

1 Phạm vi của Đề án 4

2 Kết cấu của đề án 4

PHẦN THỨ NHẤT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ THỰC TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI 5

I Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên và thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của huyện Kon Plông 5

1 Đánh giá chung 5

2 Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên 7

3 Tiềm năng về tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 8

4 Phân tích, đánh giá dân số và lao động 12

5 Đánh giá tổng quát về thực trạng phát triển kinh tế-xã hội 14

6 Đánh giá thực trạng các dự án thu hút đầu tư 17

II Vị trí, ranh giới và đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội vùng du lịch sinh thái Măng Đen 19 1 Vị trí, ranh giới và đặc điểm tự nhiên 19

2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 20

PHẦN THỨ HAI ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÙNG DU LỊCH SINH THÁI MĂNG ĐEN, HUYỆN KON PLÔNG 23

I Tóm lược quy hoạch theo Quyết định 298/QĐ-TTg ngày 05/02/2013 về việc phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng du lịch sinh thái Măng Đen và Quy hoạch chung đô thị Kon Plông, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum đến năm 2030 23

1 Phạm vi 23

2 Phân vùng du lịch 23

3 Các trung tâm du lịch 23

4 Thực trạng các khu theo Quy hoạch đã quyết định 24

II Đánh giá chung thực trạng cơ sở hạ tầng của huyện Kon Plông 26

1 Đánh giá chung 26

2 Hệ thống giao thông 26

3 Hệ thống điện 28

4 Hệ thống bưu chính viễn thông 29

5 Hệ thống thủy lợi, cấp, thoát nước 29

III Đánh giá thực trạng hệ thống hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật vùng du lịch sinh thái Măng Đen, huyện Kon Plông 30

Trang 4

1 Đánh giá chung 30

2 Thực trạng đầu tư xây dựng cơ bản huyện Kon Plông 30

3 Hệ thống hạ tầng du lịch .31

4 Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch 34

IV Thực trạng phát triển ngành du lịch của vùng du lịch sinh thái Măng Đen, huyện Kon Plông 34

1 Thực trạng phát triển ngành du lịch của tỉnh Kon Tum 34

2 Thực trạng phát triển ngành du lịch của huyện Kon Plông của vùng du lịch sinh thái Măng Đen 37

V Nguyên nhân tồn tại, hạn chế 40

I Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư xây dựng vùng du lịch sinh thái Măng Đen 42

1 Tác động của các quy hoạch 42

2 Tác động của nhân tố bên ngoài, nội lực bên trong ảnh hưởng đến đầu tư xây dựng vùng du lịch sinh thái Măng Đen 43

II Quan điểm, mục tiêu đầu tư xây dựng vùng du lịch sinh thái Măng Đen đến năm 2025 44

1 Quan điểm đầu tư xây dựng vùng du lịch sinh thái Măng Đen 44

2 Mục tiêu 45

3 Chỉ tiêu 45

III Định hướng đầu tư phát triển vùng du lịch sinh thái Măng Đen đến năm 2025 48

1 Định hướng đầu tư phát triển các tuyến du lịch 48

2 Định hướng phát triển các điểm du lịch 50

3 Định hướng phát triển các loại hình, sản phẩm du lịch 51

4 Định hướng phát triển thị trường khách du lịch 53

5 Định hướng xây dựng và quảng bá về du lịch 56

IV Định hướng phát triển một số ngành phụ trợ phục vụ cho du lịch 56

1 Về nông nghiệp 56

2 Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 57

3 Về thương mại, dịch vụ 57

V Định hướng đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật vùng du lịch sinh thái Măng Đen 58

1 Yên cầu 58

2 Một số nguyên tắc chung 58

3 Phương án tổ chức không gian phát triển hệ thống hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật vùng du lịch sinh thái Măng Đen 58

Bảng 3.1: Danh mục các tuyến đường trong khu vực trung tâm đô thị 59

Bảng 3.2: Danh mục các tuyến đường trong Vùng vệ tinh 60

4 Nội dung các danh mục đầu tư xây dựng theo từng giai đoạn 61

VI Khái toán kinh phí đầu tư xây dựng vùng du lịch sinh thái Măng Đen 83

1.Tổng nguồn vốn đầu tư 83

Trang 5

2.Phần kỳ vốn đầu tư 83

VIII Hiệu quả của đầu tư 84

PHẦN THỨ TƯ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN 86

I Giải pháp 86

1 Giải pháp về quản lý quy hoạch - kiến trúc 86

2 Giải pháp về bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình xây dựng 87

3 Giải pháp về chính sách giải phóng mặt bằng 89

4 Giải pháp về liên kết và hợp tác đầu tư, tuyên truyền quảng bá 90

5 Giải pháp về thu hút, kêu gọi đầu tư 91

6 Giải pháp khai thác sử dụng các điểm, khu du lịch 93

7 Giải pháp về nguồn nhân lực 93

8 Giải pháp đối với việc chuyển đổi, phát triển và bảo vệ rừng trong quá trình đầu tư xây dựng các công trình du lịch 94

II Tổ chức thực hiện 96

1 UBND huyện Kon Plông 96

2 Sở Kế hoạch và Đầu tư 96

4 Sở Xây dựng 97

5 Sở Giao thông - Vận tải 97

6 Các ngành Điện, Nước, Viễn thông 97

7 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch 97

8 Sở Lao động thương binh và Xã hội 97

III Kiến nghị Trung ương 97

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu dân số huyện Kon Plông 13

Bảng 2.1: Tổng hợp nguồn vốn đầu tư xây dựng hạ tầng du lịch Kon Plông giai đoạn 2011 - 2014 30

Bảng 2.2: Bảng tổng hợp thực trạng các điểm du lịch 33

Bảng 2.3: Tổng hợp dự án đã và đang triển khai trên địa bàn huyện 39

Bảng 2.4: Số lượng khách du lịch đến Kon Plông 39

Bảng 3.4: Hạng mục xây dựng chi tiết 62

Bảng 3.5: Hạng mục xây dựng chi tiết 63

Bảng 3.6: Hạng mục xây dựng chi tiết 64

Bảng 3.7: Hạng mục xây dựng chi tiết 64

Bảng 3.8: Hạng mục xây dựng chi tiết 64

Bảng 3.9: Hạng mục xây dựng chi tiết 65

Bảng 3.10: Hạng mục xây dựng chi tiết 65

Bảng 3.11: Hạng mục xây dựng chi tiết 66

Bảng 3.12: Hạng mục xây dựng chi tiết 66

Bảng 3.13: Hạng mục xây dựng chi tiết 67

Bảng 3.14: Hạng mục xây dựng chi tiết 67

Bảng 3.15: Hạng mục xây dựng chi tiết 68

Bảng 3.16: Hạng mục xây dựng chi tiết 70

Bảng 3.17: Hạng mục chi tiết trong khu phức hợp G2-A 71

Bảng 3.18: Hạng mục xây dựng trong Công viên trung tâm Khu G2-B 71

Bảng 3.19: Hạng mục xây dựng trong Công viên trung tâm Khu G2-C 72

Bảng 3.20: Hạng mục xây dựng trong Công viên trung tâm Khu G2-D 72

Bảng 3.21: Hạng mục xây dựng chi tiết Công viên trung tâm Khu 73

G2-E 73

Bảng 3.22: Hạng mục xây dựng chi tiết 74

Bảng 3.23: Hạng mục xây dựng chi tiết 74

Bảng 3.24: Hạng mục xây dựng chi tiết 75

Bảng 3.25: Hạng mục xây dựng chi tiết 75

Bảng 3.26: Hạng mục xây dựng chi tiết 76

Bảng 3.27: Hạng mục xây dựng chi tiết 76

Bảng 3.28: Hạng mục xây dựng chi tiết 77

Trang 7

Bảng 3.29: Hạng mục xây dựng chi tiết 78

Bảng 3.30: Hạng mục xây dựng chi tiết 78

Bảng 3.31: Hạng mục xây dựng chi tiết 79

Bảng 3.32: Hạng mục xây dựng chi tiết 79

Bảng 3.33: Hạng mục xây dựng chi tiết Khu nghiên cứu, bảo tồn và phát triển các loại thực vật xứ lạnh G3-A 80

Bảng 3.34: Hạng mục xây dựng chi tiết Tổ hợp khu đóng gói, phân phối các loại rau hoa xứ lạnh Măng Đen G3-B 81

Bảng 3.35: Hạng mục công trình chi tiết Trung Tâm mua sắm và giải trí Đăk Long G3-C 81

Bảng 3.36: Hạng mục xây dựng chi tiết 82

Bảng 3.37: Hạng mục xây dựng chi tiết 83

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

I Tính cấp thiết

Là một ngành kinh tế tổng hợp, du lịch đã và đang có những đóng góp to lớn và quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá, bảo vệ môi trường và giữ vững an ninh, quốc phòng; góp phần tăng cường tình hữu nghị với các nước trên thế giới.Với tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú, từ cảnh quan thiên nhiên, hệ thống danh thắng cảnh đặc sắc, truyền thống lịch sử hào hùng kết hợp với tinh hoa văn hóa độc đáo, đa dạng, Việt Nam có đủ các yếu tố để phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Trong 10 năm trở lại đây, ngành du lịch đã có nhiều tiến bộ và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, lượng khách du lịch quốc tế có sự tăng trưởng nhanh và liên tục: tăng từ từ 2,419 triệu lượt (năm 2003) lên hơn 7,572 triệu lượt khách (năm 2013), bình quân giai đoạn 2003 – 2013, khách quốc tế tăng lượng khách du lịch nội địa cũng tăng lên nhanh chóng: từ 13,5 triệu lượt (năm 2003) lên 35 triệu lượt (năm 2013); Tổng thu nhập du lịch ngày càng tăng: tăng từ 22 ngàn tỷ đồng (năm 2003) lên 200 ngàn tỷ đồng (năm 2013), hàng năm tạo thêm công ăn việc làm trực tiếp cho 30-40 ngàn lao động; công tác quản lý nhà nước

về du lịch được đổi mới; kết cấu hạ tầng du lịch ngày càng được hoàn thiện, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch tăng nhanh cả về

số lượng và chất lượng; nhiều khu du lịch, resort, khu giải trí, khách sạn cao cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế được đầu tư xây dựng và đưa vào phục vụ du lịch; chất lượng nhân lực du lịch qua đào tạo và kinh nghiệm thực tiện được nâng lên; sản phẩm du lịch có đổi mới và đa dạng… đã góp phần vào việc tăng cường năng lực, tạo ra được sự bứt phá và diện mạo mới cho ngành du lịch Việt Nam

Măng Đen thuộc huyện Kon Plông (tỉnh Kon Tum) nằm ở độ cao trung bình 1.000 - 1.500 m so với mực nước biển, có khí hậu ôn đới, quanh năm mát

mẻ, nhiệt độ trung bình hàng năm giao động từ 16-20C, độ ẩm trung bình 84%, có rừng nguyên sinh bao bọc xung quanh, với nhiều danh lam thắng cảnh, rừng có độ che phủ hơn 80% diện tích tự nhiên; có nhiều hồ thác, suối đá và cảnh quan thiên nhiên, văn hóa bản địa độc đáo; đây là tiềm năng thuận lợi để phát triển trở thành trung tâm du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng cấp quốc gia; có nhiều hệ động vật, thực vật quý hiếm sinh sống; nhiều hồ thác như: (Đăk Ke, Pa

82-sỹ, Lô Ba), hồ (Toong Đam, Toong Zơri, Toong Pô)… thích hợp cho phát triển

du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng gắn với nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, khu du lịch Măng Đen còn phát triển chậm, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế

Trang 9

Một trong những nguyên nhân đó là do hệ thống cơ sở hạ tầng nói chung, hạ tầng kỷ thuật phục vụ du lịch nói riêng đối với Măng Đen còn hạn chế, bất cập; việc đầu tư phát triển các tuyến, điểm, loại hình và sản phẩm du lịch chưa nhiều

Chính vì vậy, việc lập Đề án “Đầu tư xây dựng vùng du lịch sinh thái Măng

Đen, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum” nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi

thế, thúc đẩy khu du lịch Măng Đen phát triển nhanh và bền vững đến 2020 trở thành Khu du lịch sinh thái quốc gia Măng Đen và góp phần thực hiện mục tiêu Việt Nam là quốc gia có ngành du lịch phát triển; đồng thời đảm bảo thực hiện Quy hoạch vùng du lịch sinh thái Măng Đen và quy hoạch chung đô thị Kon Plông, huyện Kon Plông đến năm 2030 là rất cần thiết

- Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý

dự án đầu tư xây dựng công trình;

- Nghị định số 83/2009/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009;

- Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 20/04/2011 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum đến năm 2020;

- Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013 của Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;

- Quyết định số 298/QĐ-TTg ngày 05/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng du lịch sinh thái Măng Đen và quy hoạch chung đô thị Kon Plông, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum đến năm 2030;

- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Kon Tum khóa VIII về đầu tư xây dựng và phát triển các vùng kinh tế động lực tỉnh Kon Tum giai đoạn 2007 – 2010, có tính đến năm 2020;

- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Kon Tum lần thứ XIV;

- Quyết định số 644/QĐ-UBND ngày 7/7/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum V/v phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Kon Tum giai đoạn 2008-2015 và định hướng đến năm 2020;

- Quyết định số 1254/QĐ-UBND ngày 08/11/2010 của UBND tỉnh Kon Tum về việc phê duyệt quy hoạch hệ thống đường gom các tuyến Quốc lộ trên địa bàn tỉnh Kon Tum;

Trang 10

- Quyết định số 29/2011/QĐ-UBND ngày 26/9/2011 của UBND tỉnh Kon Tum về việc phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn

và sản phẩm chủ lực của tỉnh đến năm 2020;

- Quyết định 967/QĐ-UBND ngày 18/10/2012 của UBND tỉnh Kon Tum về việc phê duyệt điều chỉnh dự án đầu tư xây dụng công trình tôn tạo bảo tồn và phát triển lang văn hóa- du lịch Kon Tu Rằng, xã Măng Cành, huyện Kon Plông;

- Quyết định 1372/QĐ-UBND, ngày 22/12/2011 của UBND tỉnh Kon Tum

về phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển rau, hoa, quả và các loại cây trồng khác gắn với du lịch sinh thái huyện Kon plông đến năm 2015;

- Quyết định số 22/2013/QĐ-UBND ngày 10/04/2013 của UBND tỉnh Kon Tum về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành văn hóa, thể thao và du lịch Kon Tum đến năm 2020, định hướng đến năm 2025;

- Văn bản số 1046/UBND-KTTH ngày 31/05/2013 của UBND tỉnh Kon Tum về việc lập đề án đầu tư xây dựng khu du lịch sinh thái quốc gia Măng Đen, huyện Kon Plông;

- Quyết định số 482/QĐ-UBND ngày 01/7/2013 của UBND tỉnh Kon Tum

về việc phê duyệt dự án quy hoạch thủy lợi tỉnh Kon Tum giai đoạn 2011-2020

và định hướng đến năm 2025;

- Quyết định số 834/QĐ-UBND ngày 24/10/2013 của UBND tỉnh Kon Tum về việc phê duyệt điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển giao thông nông thôn tỉnh Kon Tum đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030;

- Quyết định số 911/QĐ-UBND ngày 08/11/2013 của UBND tỉnh Kon Tum về việc phê duyệt phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn tỉnh Kon Tum đến năm 2020;

- Quyết định số 127/QĐ-UBND ngày 28/02/2013 của UBND tỉnh Kon Tum về phê duyệt Quy hoạch vùng nuôi cá nước lạnh huyện KonPlông, tỉnh Kon Tum đến năm 2020;

- Văn bản số 30/UBND-KTTH ngày 03/01/2014 của UBND tỉnh Kon Tum

về việc đề cương nhiệm vụ lập Đề án đầu tư xây dựng vùng du lịch sinh thái quốc gia Măng Đen, huyện Kon Plông;

- Quyết định số 1361/QĐ-UBND ngày 26/12/2014 của UBND tỉnh Kon Tum về việc phê duyệt điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển đường thủy nội địa tỉnh Kon Tum đến năm 2020;

- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Kon Plông lần thứ VXII;

- Quyết định số 1933/QĐ-UBND, ngày 04/9/2012 của UBND huyện Kon Plông về việc phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 làng văn hóa – du lịch làng Kon Pring, xã Đắk Long, huyện Kon Plông tỉnh Kon Tum

Trang 11

III Phạm vi và kết cấu của Đề án

tự nhiên 20.159 ha ở vùng này các làng còn nguyên sơ (Vi Koa, Vi KTàu, Đăk

Xô, Vi Choong) cơ sở hạ tầng và giao thông thuận tiện phù hợp với hình thức du lịch cộng đồng (lễ hội, tham quan, sinh hoạt văn hóa) có khả năng thu hút khách

du lịch

2 Kết cấu của đề án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, đề án gồm 4 phần:

- Phần thứ nhất: Đặc điểm tự nhiên và thực trạng kinh tế - xã hội

- Phần thứ hai: Đánh giá thực trạng vùng du lịch sinh thái Măng Đen, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum

- Phần thứ ba: Đầu tư xây dựng vùng du lịch sinh thái Măng Đen, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum

- Phần thứ tư: Giải pháp và tổ chức thực hiện

Trang 12

PHẦN THỨ NHẤT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ THỰC TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI

I Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên và thực trạng phát triển kinh

tế - xã hội của huyện Kon Plông

1 Đánh giá chung

1.1 Thuận lợi

Huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum được thành lập ngày 31/1/2002 theo Nghị định số 14/2002/NĐ-CP của Chính phủ trên cơ sở chia tách huyện Kon Plông (cũ) thành hai huyện Kon Plông (mới) và huyện Kon Rẫy Khu du lịch sinh thái Măng Đen - huyện Kon Plông nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Kon Tum

Kon Plông là vùng đất có địa thế và cảnh quan đẹp, là nơi có điều kiện xây dựng một đô thị sinh thái hàng đầu của Việt Nam Khu vực bảo tồn được nhiều giá trị tự nhiên, văn hóa, lịch sử

Huyện Kon plông là cửa ngõ phía Đông Bắc của tỉnh Kon Tum, bao gồm 9

xã, 89 thôn, 117 làng theo địa giới hành chính, với diện tích tự nhiên 138.115,92

ha chiếm khoảng 14,23% diện tích toàn tỉnh, dân số trung bình đến cuối năm

2013 là 22.508 người Theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Kon Tum, Măng Đen là một trong ba vùng kinh tế động lực gồm thành phố Kon Tum, vùng kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y và vùng du lịch sinh thái Măng Đen(1)

Huyện có nguồn tài nguyên rừng với hệ sinh thái phong phú, nguyên vẹn,

hệ động, thực vật cận nhiệt đới quý hiếm Đây là nguồn tài nguyên quan trọng cần được quan tâm khai thác hợp lý và có biện pháp hữu hiệu để bảo vệ; nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái; vị trí địa lý thuận lợi trong giao lưu kinh tế; quỹ đất chưa sử dụng còn khá nhiều, đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện Măng Đen có khí hậu mát mẻ quanh năm, nhiệt độ cả năm giao động từ 18-200C; cảnh quan tự nhiên còn rất nguyên sơ, lưu giữ nhiều loại cây cổ thụ, những loại gỗ quý hiếm, những loại dược liệu và động vật hoang dã quý hiếm nằm trong danh sách đỏ của Việt Nam Cùng với các khu rừng nguyên sinh, rừng thông, nhiều hồ nước như hồ Toong Đam, Toong Zơ Ri, Toong Pô, các thác đá trong xanh như Đăk Ke, Pa Sĩ,

Lô Ba tạo thành một quần thể thác khá hấp dẫn, đã tạo nên những nét thơ mộng,

kỳ ảo cho thiên nhiên vùng Măng Đen

Thuận lợi đầu tư và nghiên cứu đa dạng, nhất là nghiên cứu về phát triển nông nghiệp công nghệ cao

1() Nghị quyết số: 04/2007/NQ-HĐND ngày 27 tháng 3 năm 2007 của HĐND tỉnh Kon Tum về phát triển các vùng kinh tế động lực tỉnh Kon Tum giai đoạn 2007-2010, có tính đến năm 2020

Trang 13

Tiềm năng phát triển thể dục thể thao cao cấp như golf, thể thao địa hình; Tiềm năng phát triển các sản phẩm như dệt, đan lát, điêu khắc, phát triên cá nước lạnh (cá tầm, cá hồi), phát triển rau hoa xứ lạnh…

Kon Plông có nhiều dân tộc sinh sống, trong đó chủ yếu là người dân tộc

Xê Đăng, Mơ Nâm, Ka Dong, Hrê với nhiều nét văn hóa khác nhau của từng dân tộc, nhiều lễ hội được người dân địa phương tổ chức hằng năm như: lễ hội đâm trâu, mừng lúa mới, lễ hội cầu mưa ; các sản phẩm văn hóa đặc sắc: văn hóa cồng chiêng, tục uống rượu cần và các hoạt động thể dục thể thao bản địa như: bắn nỏ, đẩy gậy, đi cà kheo Cùng với thắng cảnh tự nhiên, các di tích lịch

sử cách mạng như: Di tích lịch sử văn hóa Măng Đen, Sân bay Măng Đen, Đài tưởng niệm Chiến thắng Măng Đen, Di tích lịch sử Măng Bút gồm sân bay quân

sự Măng Bút, hầm thông tin, hầm chỉ huy và các hào xung quanh đã tạo nên sự

đa dạng về văn hóa - lịch sử của vùng đất này

Về du lịch tâm linh: có Tượng Đức Mẹ Măng Đen, Chùa Khánh Lâm đang được xây dựng, hàng năm đã thu hút hàng chục nghìn khách du lịch đến với nơi đây

Hạ tầng ngày càng hoàn thiện, đến nay được đầu tư cơ bản các tuyến đường khu Trung tâm hành chính huyện, đặc biệt là dự án đường Đông Trường Sơn, dự án cải tạo và nâng cấp Quốc lộ 24, đoạn tránh đèo Măng Đen đang được triển khai hoàn thành sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc kết nối từ các nơi đến với Măng Đen

Ngày 05/02/2013, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng du lịch sinh thái Măng Đen và Quy hoạch chung đô thị Kon Plông, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum đến năm 2030 đánh dấu bước ngoặc trong sự phát triển của Măng Đen trong tương lai gần

Được sự quan tâm, hỗ trợ của địa phương trong đầu tư: Tổ hỗ trợ và xúc tiến đầu tư; Đầu tư cở sở hạ tầng đến vùng dự án; Hướng ưu đãi đầu tư theo Nghị quyết số 30a/NQ-CP

Với tiềm năng của một đô thị nằm trong khu vực hệ sinh thái đa dạng và hấp dẫn như Măng Đen, đô thị Kon Plông đang là điểm đến lý tưởng của rất nhiều nhà đầu tư và khách du lịch trong nước và quốc tế

1.2 Khó khăn

Hiện nay giao thông đi lại vẫn còn khó khăn, Kon Plông ở xa các trung tâm

đô thị lớn, xa các khu nghỉ dưỡng bờ biển; đường hẹp, nhiều quanh co, độ dốc lớn nhất là giao thông kết nối từ bên ngoài vào địa bàn Vào mùa mưa thường xảy ra hiện tượng sạt đường, lở núi gây ách tắc đi lại Công tác kết nối các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trong khu vực tổ chức tour, tuyến du lịch lên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn, các doanh nghiệp chưa mạnh dạn tổ chức cho

Trang 14

du khách khám phá tiềm năng du lịch của huyện Công tác quảng bá tiềm năng

và hình ảnh du lịch của huyện còn chưa phong phú về nội dung lẫn hình thức, chưa có sự đột phá trong phát triển du lịch

Vùng du lịch sinh thái Măng Đen đang còn ở giai đoạn đầu của sự phát triển, hoạt động du lịch chủ yếu dựa vào tự nhiên sẵn có chưa được đầu tư để khai thác tiềm năng du lịch Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng du lịch, cơ sở lưu trú, các khu vui chơi, giải trí, dành cho du lịch đang còn hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu cơ bản của du khách Nguồn vốn hàng năm đầu tư cho cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng du lịch còn hạn hẹp Khó khăn, vướng mắc chủ yếu về thủ tục giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất rừng khi thực hiện dự án Các doanh nghiệp, nhà đầu

tư còn có tâm lý lập dự án để chiếm đất, giữ đất hoặc tìm đối tác để sang nhượng lại gây khó khăn trong công tác quản lý các dự án trên địa bàn

Số lượng và kinh nghiệm của nguồn nhân lực du lịch còn hạn chế, đặc biệt

là thiếu trầm trọng hướng dẫn viên du lịch

2 Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên

Huyện nằm ở vị trí trung điểm giữa vùng Tây Nguyên và duyên hải Trung

Bộ, nơi có cảng biển khu kinh tế Dung Quất, khu kinh tế mở Chu Lai , nằm trên tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây, đây là tuyến giao thông quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Kon Tum nói chung và huyện Kon Plông nói riêng Huyện Kon Plông cách Cửa khẩu quốc tế Bờ Y khoảng 150 km, nằm trong Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam nên có nhiều điều kiện thuận lợi để mở rộng hợp tác và hội nhập vào nền kinh tế quốc gia, quốc tế; tạo

cơ hội việc làm và tăng thu nhập đặc biệt là khu vực nông thôn; đẩy mạnh chuyển giao công nghệ và tăng khả năng tiêu thụ đầu ra cho sản xuất

Trang 15

- Địa hình cao nguyên, đỉnh bằng sườn dốc: Chiếm diện tích khoảng 3.000

- 5.000 ha, phân bố chủ yếu trên địa bàn xã Măng Cành, Đắk Long, Pờ Ê, xã Hiếu Đây là vùng đất đỏ Bazan có thể phát triển các loại cây công nghiệp như Chè, Cà phê catimo, các loại cây ăn quả khác

- Địa hình thung lũng: Phân bố rải dọc theo hệ thống các sông Đăk Rinh, Đăk Rơ Manh, Đăk Snghé Trong thung lũng có thể phân thành 3 dạng địa hình sau: vùng trũng theo hợp thủy sông suối; thềm bậc cao trên phù sa cổ và dạng gò đồi - dạng địa hình này diện tích không lớn, nhưng thuận lợi để phát triển các cụm dân cư và phát triển kinh tế

Chính điều kiện địa hình đa dạng của vùng núi cao đã tạo nên những nét đặc biệt về sinh thái, môi trường và sự sống cho việc khám phá tự nhiên của con người

3 Tiềm năng về tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

3.1 Tài nguyên đất đai

3.1.1 Về thổ nhưỡng

Huyện Kon Plông nằm chung trong vùng Tây Nguyên được hình thành trên một nhân đá cổ là địa khối Kon Tum, trải qua quá trình phong hóa tạo nên hai lớp phủ thổ nhưỡng điển hình tương phản nhau về màu sắc và độ phì nhiêu của đất:

- Lớp phủ thổ nhưỡng trên đá macma bazơ và trung tính với tầng đất dày, tơi xốp, độ phì nhiêu cao, màu đỏ rực rỡ, thành phần cơ giới nặng

- Lớp phủ vàng đỏ, vàng xám và xám hình thành trên các đá macma axít

và đá cát, phù sa cổ với độ dày tầng đất biến động, độ phì thấp, nhiều kết von đá lẫn, thành phần cơ giới nhẹ, quá trình rửa trôi mạnh mẽ

Theo kết quả điều tra phân loại đất, huyện Kon Plông có những loại đất chính như sau: Đất phù sa ngòi suối (Py); đất xám trên đá mắc ma xít (Xa); đất nâu vàng trên đá phù sa; đất vàng đỏ trên đá macma axit (Fa); đất đỏ vàng trên đá sét và phiến chất (Fs); đất thung lũng dốc tụ (D); đất mùn đỏ trên đá Mác Ma A xít,

Nhìn chung điều kiện thổ nhưỡng huyện Kon Plông rất đa dạng, phần lớn đất đai nằm trên địa hình núi dốc Do vậy, đất có khả năng nông nghiệp chiếm tỷ

lệ thấp, đất lâm nghiệp chiếm phần lớn diện tích đất tự nhiên

+ Đất sản xuất nông nghiệp là: 10.541,16 ha;

+ Đất lâm nghiệp là: 116.473,81 ha;

+ Đất nuôi trồng thủy sản là: 14,12 ha;

Trang 16

+ Đất nông nghiệp khác là: 9,00 ha;

- Đất phi nông nghiệp là: 3.488,71 ha chiếm 2,53 % so với tổng diện tích

tự nhiên

+ Đất chưa sử dụng năm 2014 là: 7.589,12 ha chiếm 5,49 % so với tổng diện tích tự nhiên

3.2 Tài nguyên nước

3.2.1 Tài nguyên nước mặt

Huyện Kon Plông có hệ thống sông, suối khá dày đặc phân bố rộng trên toàn địa bàn, tuy nhiên đa số là các suối nhỏ Một số suối tuy nhỏ nhưng có lưu vực rộng có thể xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện vừa và nhỏ, như: Sông Đăk Ring chảy qua xã Đăk Ring có chiều dài 15km; nhánh Sông Đăk Snghé có chiều dài trên 60km; Sông Đăk Rơ Manh là một nhánh của sông Đăk Ring, có chiều dài 12km; Suối Đăk Tà Meo…

Với hệ thống sông suối nhỏ nơi đây còn lưu trữ được nhiều loài cá quý, ngon, bổ như cá Niêng, cá Chình, cá Phá,… Bên cạnh đó trong những năm gần đây huyện đầu tư phát triển cá Tầm, cá Hồi Trong đó, đã thử nghiệm ấp nở thành công trứng cá Tầm

Tuy nhiên, do hạn chế của địa hình cùng với lượng mưa phân bố không đều giữa 2 mùa trong năm nên việc xây dựng các công trình thuỷ lợi để sản xuất nông nghiệp rất phức tạp và khó khăn Do vậy, xây dựng các công trình thuỷ lợi

là rất quan trọng trong việc điều hoà nguồn nước phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, đòi hỏi đầu tư rất lớn

3.2.2 Tài nguyên nước ngầm

Nguồn nước ngầm trên địa bàn huyện khá dồi dào đủ đáp ứng cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân Tuy vậy, muốn khai thác phải có nguồn năng lượng và đầu tư lớn Nước ngầm tuy chưa có số liệu khảo sát, nhưng thực tế các giếng nước đào của dân có nước ở độ sâu 10-15m Những nơi đồi núi cao thì phải khoan hàng trăm mét (Măng Đen)

3.3 Khí hậu

Khí hậu mát mẻ quanh năm, Kon Plông được ví như Đà Lạt thứ hai của Tây Nguyên, nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 16-200C, độ ẩm trung bình 82-84% Huyện Kon Plông có vị trí nằm ở phía Đông-Bắc dọc theo dãy Trường Sơn nên chịu ảnh hưởng khí hậu của 2 vùng Tây Nguyên và đồng bằng; tháng lạnh nhất là tháng 11 và 12 có nhiệt độ trung bình 150C; tháng nóng nhất

là tháng 5 có nhiệt độ trung bình dưới 22,70C Mùa lạnh từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, thời gian còn lại có khí hậu mát mẻ, rất thích hợp với việc phát triển du lịch sinh thái nghỉ dưỡng

Trang 17

Lượng mưa hàng năm cao, có năm mưa kéo dài 8 - 9 tháng Mưa nhiều nhất trong huyện là trung tâm huyện và trung tâm xã Hiếu Mùa mưa nhiều từ tháng 8 đến tháng 2 năm sau, độ ẩm bình quân từ 82 - 87% Mùa mưa ít từ tháng 4 đến tháng 6 trong năm Mùa mưa tập trung với cường độ lớn, những vùng có cao độ

<520m thường bị ảnh hưởng của lũ lụt, hiện tượng lũ quét thường xảy ra ở các xã Đăk Ring, Ngọc Tem, Măng Bút, Đăk Tăng, Đăk Nên Lượng mưa trung bình 2.310mm Độ ẩm trung bình hàng năm dao động trong khoảng 78-87%

Chế độ khí hậu đặc trưng như trên cùng với sự đa dạng về địa hình và thổ nhưỡng cho phép huyện Kon Plông có thể phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi, rừng đa dạng sinh học có nguồn gốc ôn đới

3.4 Tài nguyên khoáng sản

Theo tài liệu điều tra, huyện Kon Plông có các loại khoáng sản sau: kẽm, vàng, đá bazan, đá rubi, cuội, sỏi, đá grannit, đá trang trí nội thất gabro, bô xit… phần lớn có trữ lượng nhỏ; quặng bô xít phân bố trên địa bàn xã Măng Cành, Đăk Long; mỏ đá xây dựng ở xã Măng Cành; sắt ở xã Hiếu; đá granit ở xã Đăk Ring; đặc biệt quặng có trữ lượng lớn là quặng đá gabro trữ lượng dự báo 300.000 tấn trên địa bàn xã Đăk Ring với diện tích dự kiến khai thác là 400ha và mỏ sắt xã Hiếu diện tích khoảng 200ha

3.5 Tài nguyên rừng

Huyện Kon Plông có khoảng 116.473,81 ha đất lâm nghiệp trong tổng số 138.115,92 ha diện tích tự nhiên Rừng chiếm 84% tổng diện tích tự nhiên của huyện

Rừng tự nhiên huyện Kon Plông chủ yếu là diện tích rừng đầu nguồn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc bảo vệ nguồn nước, sinh cảnh, các động thực vật quý hiếm, thảm thực vật tự nhiên của quần thể rừng khu vực Kon Plông bao gồm dạng rừng lá rộng hỗn giao với rừng lá kim Hệ sinh thái rừng rất đa dạng, như hệ sinh thái rừng Thông, hệ sinh thái rừng cây gỗ lá rộng, hệ sinh thái rừng hỗn giao Thành phần động, thực vật rừng rất phong phú, có nhiều loài quý, hiếm, có giá trị cao về bảo tồn đa dạng sinh học Ngoài màu xanh thăm thẳm của các hệ sinh thái rừng, còn có các hệ sinh thái đất ngập nước có giá trị rất cao về thẩm mỹ, cảnh quan và kinh tế, như thác Pa Sỹ, thác Đăk Ke, hồ Toong Pô

Trang 18

- Thác Pa Sỹ: Thuộc xã Măng Cành, thác đổ xuống với chiều cao khoảng 15m Có một bãi đất phẳng rất thuận tiện cho việc tập kết của khách tham quan

Từ thác Pa Sỹ đến khu đồi Thông tương đối gần, đường đi thuận tiện, do vậy giữa đồi Thông và thác nước sẽ tạo thành một tour du lịch

- Thác Đắk Ke, thác Lô Ba: Thuộc xã Đắk Long cũng gần khu vực thác Pa

Sỹ tạo thành một quần thể thác khá hấp dẫn

- Hang đá thôn Kon Du, xã Măng Cành: Nằm phía Đông xã Măng Cành, đi theo tuyến đường tương đối cheo leo qua những cánh rừng già sẽ tới cửa hang Bên trong động rất rộng có thể chứa được một số lượng lớn người Hang này là một di tích lịch sử trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của Tây Nguyên

- Kon Plông có nhiều danh lam thắng cảnh và các di tích lịch sử như: Di tích lịch sử văn hóa Măng Đen với cụm cứ điểm M11 (đồn A), M12, sân bay Măng Đen, đài tưởng niệm Chiến thắng Măng Đen (được Bộ VHTT công nhận),

di tích lịch sử Măng Bút (được UBND tỉnh công nhận) Khí hậu quanh năm mát

mẻ, có rừng nguyên sinh bao bọc xung quanh và khu rừng Thông cổ thụ rộng lớn dọc theo Quốc lộ 24, có rất nhiều hồ và thác, suối đá và cảnh quan đẹp mắt,

có các truyền thống văn hóa lâu đời của đồng bào dân tộc thiểu số, tạo nên một sắc thái độc đáo

- Cao nguyên Măng Đen tại xã Đăk Long được mệnh danh là Đà Lạt thứ 2 của cả nước xét về cảnh quan và đặc điểm khí hậu thời tiết, hệ sinh thái rừng phong phú và đặc sắc mang đậm nét Tây Nguyên Nơi đây địa hình cao thấp, nhấp nhô hùng vĩ và có tầm nhìn tốt từ phía khu trung tâm hành chính huyện Rừng nguyên sinh rậm rạp phủ kín các khu vực đồi núi, bao quanh là những suối

đá, gềnh thác nhấp nhô theo địa hình tự nhiên Động thực vật tại đây phong phú

về chủng loại, đa dạng về sinh học Có nhiều loại hoa Lan, nhiều loại hoa rừng đặc sắc, đây cũng là điều kiện thuận lợi để thu hút du khách đến tham quan nghỉ dưỡng và nghiên cứu khoa học

- Huyện nằm trong khu vực trung điểm giữa Tây Nguyên và Duyên hải Trung Bộ nên rất thuận lợi trong việc hình thành các điểm du lịch, đặc biệt là tuyến quá cảnh Quảng Ngãi - Măng Đen (Kon Plông) qua cửa khẩu Bờ Y theo quốc lộ 24, 14, 40 - 18B sang Lào đến các tỉnh Đông Bắc Thái Lan

- Các bản làng văn hóa dân tộc với cảnh quan, môi trường sống còn lưu giữ được nét sinh hoạt, văn hóa truyền thống, có thể khai thác để tạo thành những sản phẩm du lịch có giá trị như: Làng Kon Tu Rằng, Kon Pring, Vi Kờ Oa, Vi Ô Lắc thuộc huyện Kon Plông đã được phép cho du khách được nghỉ qua đêm trong chương trình du lịch cộng đồng của tỉnh Kon Tum

- Điểm tôn giáo tín ngưỡng: Chùa Lâm Khánh, Tượng Đức Mẹ sẽ là “điểm hành hương”

Trang 19

- Du lịch nghỉ dưỡng: là loại hình du lịch khai thác tiềm năng về khí hậu, gồm:+ Du lịch nghỉ dưỡng: khai thác tiềm năng khí hậu cảnh quan của Vùng du lịch sinh thái Măng Đen để phát triển các khu du lịch nghỉ dưỡng, với hệ thống các resort

+ Du lịch điều dưỡng chữa bệnh: Khai thác tiềm năng nguồn dược liệu quí

để hình thành các trung tâm du lịch chữa bệnh tại đô thị Kon Plông Khai thác

mỏ nước khoáng để phục vụ chữa bệnh tại thôn Vương, xã Đăk Nên và thôn Điek Chè, xã Ngọc Tem

- Du lịch vui chơi giải trí, thể thao: là các loại hình du lịch đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và dân cư địa phương Các loại hình vui chơi giải trí trong vùng Du lịch sinh thái Măng Đen gồm:

+ Vui chơi giải trí theo mô hình công viên chuyên đề

+ Các dịch vụ vui chơi giải trí cao cấp như: spa, golf

+ Đầu tư xây dựng Trung tâm huấn luyện vận động viên chất lượng cao; Chơi golf; Du lịch leo núi, đua xe đạp địa hình, đi cáp treo, tắm nước lạnh vào mùa đông, săn bắt thú rừng nuôi,

- Du lịch Hội nghị - Lễ hội, khác:

+ Thu hút tổ chức các Hội nghị cấp tỉnh, khu vực, quốc gia, quốc tế

+ Tổ chức các lễ hội truyền thống bản địa: cúng lúa mới, tết bản địa, tổ chức chợ phiên, tổ chức đồng bào mang gùi bán sản phẩm bản địa cho du khách

+ Hàng năm tổ chức tuần lễ văn hóa thể thao gắn với du lịch

+ Đầu tư xây dựng các chòi ngắm thiên văn; Quy hoạch đầu tư xây dựng các khu trại sáng tác: điêu khắc, chạm trổ, vẽ tranh, câu cá, tạc tượng; sáng tác thơ, ca, tác phẩm về truyền thống cách mạng và sự nghiệp xây dựng Măng Đen- KonPlông…

4 Phân tích, đánh giá dân số và lao động

4.1 Dân số

Trên địa bàn huyện Kon Plông có các thành phần dân tộc sinh sống phần lớn là những dân tộc đã sống lâu đời ở địa phương như: dân tộc Xơ Đăng, Mơ Nâm, Ka Dong và Hrê trong đó phần lớn là dân tộc Xơ Đăng 17.360 người (chiếm 80% dân số), dân tộc Kinh chỉ có khoảng 2.210 người (chiếm 10%) Dân số huyện Kon Plông tăng từ 20.378 người năm 2009 lên 24.364 người năm 2014 , Người dân tộc thiểu số chiếm 89,05% (chủ yếu là người dân tộc Xơ Đăng, Mơ Nâm, Ka Dong, Hrê) Mật độ dân số đạt 16 người/km2 Tỷ lệ tăng dân

số tự nhiên giảm từ gần 2,86% năm 2009 xuống 1,63% năm 2010, 1,38% năm

2011 và nhích lên 1,70% năm 2014 Dân số tăng là do số người di cư từ các tỉnh khác đến và công nhân đến thi công tại các công trình thủy điện, đường giao thông… ở các xã Măng Bút, Đăk Ring, Đăk Nên, Ngọc Tem, Đăk Tăng

Trang 20

Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu dân số huyện Kon Plông

2011

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

4.2 Lao động

Lực lượng lao động của huyện tăng lên qua các năm, năm 2010 là 10.950 người, năm 2011 tăng lên 11.627 người, năm 2012 tăng lên 12.998 người, năm 2013 tăng lên 13.494, năm 2014 ước tính 13.529 chiếm 56% so với tổng dân số Đây là lực lượng lao động dồi dào bổ sung vào nguồn lao động hàng năm, đồng thời cũng đặt ra cho Kon Plông áp lực lớn về giải quyết việc làm cho người lao động

Nhìn chung, dân số và nguồn nhân lực của huyện khá dồi dào, cơ cấu trẻ, cần cù, tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, phần lớn dân cư là dân tộc thiểu số và lao động sống bằng nghề nông, nhận thức còn hạn chế Mặt khác, số lao động qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp, lao động thiếu việc làm còn nhiều nên gặp phải những khó khăn trong quá trình phát triển kinh

tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

4.3 Thực trạng về môi trường sinh thái trên địa bàn huyện

Vị trí của huyện Kon Plông có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, bởi vì Kon Plông là vùng đầu nguồn sinh thủy thuộc lưu vực của công trình thủy điện Ya Ly, thủy điện Sê san 3, thủy điện Thượng Kon Tum, công trình thủy lợi, thủy điện Thạch Nham, các công trình thủy điện khác đã và đang được khảo sát lập dự án đầu tư xây dựng

Môi trường đất: Huyện Kon Plông có 12.386,2 ha đất trống đồi núi trọc,

trong đó thoái hóa khoảng 18 % Nguyên nhân chủ yếu là do kỹ thuật canh tác theo lối tự phát không tuân thủ các quy trình kỹ thuật nhằm bảo vệ và nâng cao

độ phì đất, chủ yếu là canh tác trên đất thấp

Môi trường nước trong những năm gần đây có những thay đổi đáng kể, chủ

yếu là do canh tác không hợp lý trên các vùng đất dốc trong lưu vực các sông, với quy mô lớn Phần lớn các sông đều có hiện tượng tăng lưu tốc và lưu lượng dòng chảy, nước đục, tỷ lệ cát phù sa bồi lắng cao

Trang 21

Môi trường không khí: Công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn huyện chưa

phát triển nên nguồn gây ô nhiễm không khí ở khu vực huyện là không đáng kể

Tác nhân ảnh hưởng chủ yếu:

- Khai thác tài nguyên rừng, hoạt động khai thác tài nguyên rừng trong những năm gần đây khá mạnh, hậu quả để lại là đất bị xói mòn, tài nguyên rừng, tài nguyên nước, tính đa dạng sinh học có hiện tượng bị suy giảm

- Các hoạt động kinh tế vùng nông thôn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên chưa có thói quen sử dụng các chất hóa học, thuốc trừ sâu nên đất đai

ô nhiễm do hóa chất chưa phải là vấn đề đáng lo ngại mà vấn đề quan trọng hơn

là các biện pháp ổn định và nâng cao đời sống, xóa bỏ du canh du cư, đốt rừng làm nương rẫy, các biện pháp kỹ thuật canh tác trên đất dốc

- Vấn đề nhà ở, nước sinh hoạt và công trình vệ sinh ở nông thôn cũng cần được đặt ra và quan tâm thích đáng

5 Đánh giá tổng quát về thực trạng phát triển kinh tế-xã hội

5.1 Những thành tựu chủ yếu

5.1.1 Cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch

Khu du lịch sinh thái Măng Đen được Chính phủ đưa vào danh mục các khu

du lịch quan trọng của quốc gia Tại đây đang tập trung đầu tư hoàn thiện kết cấu

hạ tầng, đảm bảo đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và phục vụ du lịch.Lĩnh vực giao thông:

- Đường du lịch từ QL 24 vào Pa Sỉ đã hoàn thành và đưa vào khai thác sử dụng; đầu tư, tôn tạo và phát triển làng văn hóa du lịch Kon Tu Rằng đã hoàn thành

- Đang đẩy nhanh tiến độ thi công dự án đường Trường Sơn Đông; dự án đường Ngọc Hoàng - Măng Bút - Tu Mơ Rông (đoạn Măng Bút, Đăk Lanh); dự

án đường Quốc lộ 24; đường tỉnh lộ 676

- Đang tiếp tục triển khai thực hiện đầu tư các tuyến đường Khu trung tâm hành chính huyện, cụm đường Khu dân cư phía Bắc, cụm đường Khu dân cư phía Nam trung tâm huyện, đường du lịch vào thác Đăk Ke; Đồng thời đang chuẩn bị đầu tư các tuyến đường du lịch như: đường vào Hồ Toong Đam, Toong Zơri; đường vào thác Lô Ba dài 3 km

Đang tích cực huy động các nguồn vốn, kêu gọi thu hút đầu tư vào công trình vào các khu, điểm du lịch, cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, trung tâm thương mại, hệ thống điện phục vụ du lịch; dự án thủy điện Thượng Kon Tum, dự án thủy điện Đăk Đrinh

Đầu tư các công trình phúc lợi xã hội gắn với phát triển du lịch như Đài tưởng niệm di tích lịch sử chiến thắng Măng Đen, Nghĩa trang liệt sỹ tại khu vực trung tâm huyện Hiện nay đang kêu gọi và thu hút đầu tư các công trình như: Khu thể dục thể thao trung tâm huyện, khu vui chơi văn hóa thiếu nhi trung tâm

Trang 22

huyện và một số công trình phúc lợi xã hội khác như: khu du lịch Hồ và thác Đăk Ke, hồ và thác Pa sỹ, Hồ Toong Pô, các Làng Văn hóa,

Công tác thu hút đầu tư xây dựng biệt thự, nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ dưỡng: Đã đầu tư và đưa vào khai thác sử dụng 36 nhà hàng, khách sạn; đang đầu tư xây dựng 96 nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ; đã giao đất hoặc cấp đất (bán đấu giá) chưa triển khai xây dựng 62 dự án nhà hàng; các khu chức năng: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, khu trung tâm thương mại

Nhận thức được tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát triển rừng phục vụ quốc kế dân sinh và phát triển du lịch, UBND huyện đã chỉ đạo các xã, các đơn

vị chủ rừng như: Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Kon Plông, Ban Quản lý rừng phòng hộ Thạch Nham, các xã và các ban, ngành liên quan thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra, thống kê, khoanh vẽ lên bản đồ và xây dựng phương án khoán quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn Hiện nay 9/9 xã của huyện đều có cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn theo quy định UBND các xã, Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng của huyện đã xây dựng kế hoạch thực hiện Đề án 30a; đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa các ngành để nắm chắc diễn biến tài nguyên rừng, xây dựng và triển khai thực hiện ký cam kết quy ước bảo vệ rừng tại buôn làng Toàn huyện có 89/89 thôn làng đều xây dựng các quy ước về bảo vệ rừng

Việc triển khai thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ không những giúp

hộ gia đình đồng bào có điều kiện thoát khỏi đói nghèo một cách bền vững mà còn là điều kiện quan trọng để tạo động lực cho việc giữ gìn và phát triển tài nguyên rừng của địa phương

5.1.2 Dịch vụ du lịch

Trong những năm vừa qua huyện đã xây dựng và triển khai thực hiện chương trình phát triển du lịch bằng các hoạt động cụ thể như: du lịch sinh thái nghỉ dưỡng; du lịch lễ hội văn hoá, lịch sử đồng bào các dân tộc Tây Nguyên; khai thác triệt để lợi thế tiềm năng khí hậu, cảnh quan thiên nhiên Một số dự án đầu tư khu biệt thự, nhà hàng, khách sạn đã đi vào hoạt động

Việc liên kết phát triển tour du lịch giữa Vùng du lịch sinh thái Măng Đen, cửa khẩu quốc tế Bờ Y (Kon Tum) với các tỉnh duyên hải miền Trung và các nước bạn Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma tuy mới ở giai đoạn đầu, nhưng trong tương lai không xa, với loại hình du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí mang tính chất sinh thái, Măng Đen sẽ hòa nhập và hội nhập tích cực vào Hành lang kinh tế Đông - Tây và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung để tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo trong hành trình “Con đường xanh Tây Nguyên” góp phần xây dựng bộ mặt đô thị Kon Plông và khu du lịch sinh thái Măng Đen ngày càng văn minh, hiện đại trong thời kỳ đổi mới của đất nước và hội nhập quốc tế

Trang 23

Tuy nhiên xét tổng thể, hiện nay tình hình hoạt động thương mại và dịch vụ hàng hóa vẫn chưa được đa dạng, phong phú.

5.2 Những hạn chế

Kinh tế phát triển còn chậm, đời sống người dân còn nhiều khó khăn, địa hình phức tạp, giao thông không thuận lợi, mức sống của người dân trong huyện thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao

Tỷ lệ dân tộc thiểu số cao, trình độ học vấn còn thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, chủ yếu lao động bằng nghề nông, nhận thức còn hạn chế Đây là khó khăn chính cho huyện trong việc tổ chức hoạt động kinh tế theo kiểu mới hiệu quả cao đặc biệt là lĩnh vực du lịch Nhiều phong tục tập quán lạc hậu vẫn còn tồn tại Địa hình phức tạp, bị chia cắt, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội còn hạn chế, đi lại khó khăn nhất là vào mùa mưa Khí hậu khác biệt là những hạn chế gây khó khăn trong việc sản xuất, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội

Thu hút đầu tư vào địa bàn huyện còn chậm, một số công trình đầu tư xây dựng không đảm bảo tiến độ Số dự án đăng ký nhiều, nhưng tiến độ đầu tư chậm, có những dự án kéo dài trong nhiều năm đến nay vẫn chưa thực hiện; nhiều nhà hàng, khách sạn xây dựng dở dang kéo dài

Quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch một số dự án triển khai chậm (dự án rau hoa xứ lạnh, dự án trồng cây Keo lai, dự án tái định canh, định cư thủy điện Thượng Kon Tum, Đắk Đrinh, chương trình Nông thôn mới)

Kết cấu hạ tầng nhất là giao thông, điện, nước chưa đảm bảo phục vụ tốt cho công tác kêu gọi thu hút đầu tư vào Vùng du lịch sinh thái Măng Đen Việc kết nối tour tuyến du lịch chưa rõ nét, hoạt động vui chơi giải trí, sản phẩm du lịch phục vụ du khách chưa đa dạng và phong phú, đội ngũ cán bộ chưa có kinh nghiệm trong công tác du lịch, phong cách làm việc chưa được chuyên nghiệp, không tạo ra được bước đột phá trong nghiệp vụ du lịch; các thông tin đến với khách hàng chưa phong phú Ngoài những nguyên nhân khách quan như vị trí địa lý, thời tiết, cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế toàn cầu… thì nguyên nhân chính là sự phối kết hợp giữa các cơ quan, ban ngành trong quá trình triển khai thực hiện còn chưa đồng bộ

Chuyển dịch cơ cấu còn chậm, ngành thương mại - du lịch chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của huyện Cơ cấu cây trồng vật nuôi trong nông nghiệp chậm được chuyển đổi, sản phẩm hàng hóa ít Tiếp cận được với thị trường tiêu thụ còn hạn chế, hàng hóa có giá trị kinh tế cao nhằm tăng thu nhập gặp nhiều khó khăn

Vấn đề cung cấp nước hợp vệ sinh, cấp điện còn hạn chế nhất là ở các vùng sâu, vùng xa Tính đến nay trên địa bàn huyện còn 16/117 làng chưa có điện lưới

Trang 24

Quốc gia, chiếm 8,5% Hệ thống dịch vụ thương mại, trạm y tế và trường học tuy đã được quan tâm đầu tư nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu cấp thiết cho sản xuất, trao đổi hàng hóa và đời sống nhân dân

6 Đánh giá thực trạng các dự án thu hút đầu tư

Song song với công tác lập quy hoạch, huyện đang tích cực phối hợp với

Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh tổ chức kiểm tra rà soát các dự án thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh cho chủ trương và cấp chứng nhận đầu tư trên địa bàn để từ đó kiến nghị với UBND tỉnh kiên quyết thu hồi các dự án chậm tiến độ, không đúng theo cam kết ban đầu để giới thiệu cho các nhà đầu tư khác có tiềm lực về tài chính để thực hiện đầu tư Các dự án kêu gọi đầu tư vào địa bàn huyện Kon Plông gồm các lĩnh vực: thủy điện, du lịch, trồng chế biến rau, hoa, cá xứ lạnh Thực hiện quảng bá thu hút đầu tư bằng nhiều hình thức: Trang thông tin điện

tử huyện Kon Plông; thông qua các hội nghị, hội thảo diễn ra trên địa bàn huyện; thường xuyên làm việc và phối hợp với các tập thể, cá nhân có nhu cầu đầu tư

6.1 Các dự án thủy điện

Toàn huyện có tổng số 4 dự án công trình thủy điện vừa và nhỏ quy hoạch đã được phê duyệt, trong đó thủy điện Đăk Pône (14 MW) đã được đầu tư hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng trong Qúy II/2010; dự án thủy điện Thượng Kon Tum (220 MW) và thủy điện Đăk Đrinh ( 125 MW) đang triển khai thực hiện đầu tư + Thủy điện Thượng Kon Tum (nhà máy tại Kon Plông), công suất 220MW đang thi công đường hầm dẫn nước dài 17km, đạt 30%;

+ Thủy điện Đăk Đrinh, công suất 125MW (nhà máy tại Quảng Ngãi) đã tích nước chuẩn bị phát điện;

+ Thủy điện hồ Đăk Lô, công suất 22MW (nhà máy tại Xã Ngọc Tem) đang đầu tư

Sau khi hoàn thành các công trình sẽ đi vào hoạt động Việc khai thác các sản phẩm du lịch trên các lòng hồ thủy điện tạo động lực phát triển bền vững, đa dạng và mở rộng quy mô phát triển du lịch

6.2 Các dự án du lịch

Trước khi có Quyết định 298/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, để có cơ

sở thu hút đầu tư, được sự thống nhất chủ trương của UBND tỉnh, UBND huyện phối hợp với các cơ quan chức năng xây dựng quy hoạch chi tiết khu thị trấn huyện lỵ Kon Plông gắn với phát triển du lịch Măng Đen và các dự án quy hoạch chi tiết phát triển du lịch Măng Đen với tổng diện tích 720 ha, bao gồm các khu chức năng như: Trung tâm thương mại và du lịch sinh thái hồ Đăk Ke; Khu du lịch sinh thái thác Đăk Ke và thác Lô Ba; Khu du lịch sinh thái hồ Toong Đam, Toongzơri, Toong Pô; Khu du lịch sinh thái cảnh quan, leo núi, suối và thác Pa Sỹ

Trang 25

Đến nay đã có 42 dự án du lịch sinh thái với tổng số vốn đầu tư là 3.238,9

tỷ đồng đã đăng ký đầu tư vào địa bàn huyện: Dự án tổ hợp khu du lịch sinh thái, trị giá 1.196,9 tỷ đồng của công ty cổ phần Trường Long; Khu du lịch và sinh thái nghỉ dưỡng cao cấp, trị giá 400 tỷ đồng của công ty cổ phần du lịch và thủ công mỹ nghệ Nhân Luật; Dự án xây dựng khu biệt thự (40 căn biệt thự), trị giá 135,5 tỷ đồng và dự án đầu tư kinh doanh vườn hoa, cây cảnh và du lịch sinh thái, trị giá 169 tỷ đồng của công ty cổ phần Sài Gòn Măng Đen; Dự án xây dựng khu biệt thự cao cấp tại Măng Đen, trị giá 80 tỷ đồng của công ty cổ phần Măng Đen Vila,

6.3 Các dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp

6.3.2 Nuôi cá nước lạnh

Trên địa bàn huyện có 4 dự án nuôi cá nước lạnh, diện tích 1.575 m2 với tổng vốn đầu tư 26,5 tỷ đồng, hiện tại, người nuôi cá Tầm ở đây đã chủ động được giống, kỹ thuật Đây là sản phẩm có giá trị cao, đầu ra rất lớn

6.4 Đánh giá chung

Trong những năm qua, quản lý nhà nước về du lịch, nhất là công tác lập và phê duyệt quy hoạch phát triển du lịch được quan tâm chỉ đạo, triển khai thực hiện kịp thời Hạ tầng kỹ thuật du lịch từng bước được đầu tư, nâng cấp Dịch vụ

du lịch được mở rộng và nâng dần về chất lượng; các điểm du lịch đã thu hút du khách Công tác huy động nguồn vốn, kêu gọi thu hút các tổ chức, cá nhân đầu

tư vào các khu, cụm, điểm du lịch, bước đầu đạt được những kết quả quan trọng

Sự phát triển của ngành du lịch đã góp phần phát triển kinh tế - xã hội, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc trên địa bàn huyện

Tuy nhiên, nhìn chung du lịch của huyện vẫn chưa khai thác tốt các lợi thế đặc thù, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có Huy động vốn đầu tư còn thấp

so với nhu cầu; có nhiều nhà đầu tư đến đăng ký thực hiện dự án nhưng tốc độ triển khai dự án còn chậm

Số lượng du khách trong và ngoài tỉnh đến du lịch tại huyện còn quá ít Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch còn nhiều hạn chế, ý thức bảo vệ tài nguyên môi trường của một số người dân còn thấp; đội ngũ cán bộ tham mưu, quản lý

Trang 26

lĩnh vực ngành du lịch còn yếu và thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển trong điều kiện hội nhập quốc tế.

Công tác quản lý, bảo vệ rừng còn yếu, tình trạng khai thác vận chuyển lâm sản trái phép gia tăng cả về quy mô và số lượng Sản xuất công nghiệp chậm phát triển (chủ yếu là vật liệu xây dựng thông thường)

Kết cấu hạ tầng và hệ thống dịch vụ còn nhiều yếu kém chưa đủ mạnh để thu hút khách đến tham quan, du lịch Thương mại, dịch vụ du lịch chưa đa dạng

Vùng du lịch sinh thái Măng Đen nằm ở độ cao trung bình 1.000 - 1.500m

so với mực nước biển, là vùng đất có nhiều danh lam thắng cảnh, khí hậu quanh năm mát mẻ, nhiệt độ trung bình dưới 200C, có rừng nguyên sinh bao bọc xung quanh và rừng thông cổ thụ rộng lớn dọc theo Quốc lộ 24, độ che phủ của rừng trên 80%, có nhiều hồ thác, suối đá và cảnh quan đẹp

Măng Đen nằm phía Đông-Bắc tỉnh Kon Tum cách thành phố Kon Tum 54km về phía Đông - Bắc đi theo quốc lộ 24; có quan hệ khá thuận lợi với các vùng du lịch trong cả nước; cách các bãi biển du lịch của Quảng Ngãi 120 đến 150km và các trung tâm du lịch Đà Nẵng, Hội An, Quảng Nam khoảng 250-300km theo đường quốc lộ 24, Đường Mòn Hồ Chí Minh; cách thành phố Đà Lạt khoảng 400km theo đường Đông Trường Sơn

Măng Đen có vị trí quan trọng về giao lưu kinh tế đặc biệt là vị trí trung chuyển của các tỉnh Duyên hải miền Trung trên tuyến hành lang kinh tế Đông-Tây qua cửa khẩu quốc tế Bờ Y Thông qua cửa khẩu này, khách du lịch có thể tới các khu du lịch tại Tây Nguyên, miền Trung Việt Nam, Nam Lào, Đông - Bắc Campuchia, Đông - Bắc Thái Lan

Măng Đen được nhìn nhận là điểm khởi đầu của tuyến du lịch “Con đường

xanh Tây Nguyên”, được kết nối với tuyến du lịch “Con đường Di sản miền Trung” và “Con đường huyền thoại Hồ Chí Minh” để hình thành tuyến du lịch

xuyên quốc gia Đặc biệt, từ Măng Đen “Con đường xanh Tây Nguyên” sẽ vượt qua Cửa khẩu quốc tế Bờ Y (Kon Tum) để hình thành tuyến du lịch “Con

đường di sản Đông Dương”, nối các di sản thế giới của Việt Nam với các di sản

thế giới của 2 nước bạn: Lào và Campuchia… Do đó, Măng Đen đã và đang thu hút được sự quan tâm của du khách trong nước và quốc tế

1.2 Đặc điểm tự nhiên

Măng Đen là khu vực có lượng mưa nhiều nhất trong huyện, số ngày mưa

157 ngày/năm, nơi trũng ít mưa hơn 140-150 ngày/năm

Trang 27

Về cảnh quan thiên nhiên: Măng Đen nằm ở vị trí đặc biệt, nằm giữa 2 đèo lớn là đèo Măng Đen và đèo Viôlăk (Quảng Ngãi) Khu vực Măng Đen hầu như còn nguyên sơ về cảnh quan tự nhiên, rừng nguyên sinh chiếm hơn 80% tổng diện tích toàn huyện; hệ sinh thái phong phú và đa dạng, nhiều loại gỗ và dược liệu quý hiếm như: Pơmu, Trầm gió, Quế; có nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm như: Hươu, Nai, Trăn, Sơn dương, Nhím… Bên cạnh diện tích rừng nguyên sinh rộng lớn, Măng Đen còn có khoảng 4.000ha rừng Thông được trồng

từ những năm 1980 tạo thêm tính đa dạng và có nét tương đồng với Đà Lạt (điểm khác biệt lớn nhất nếu đem Măng Đen so sánh với Đà Lạt hoặc Sa Pa chính là cây xanh - rừng già)

Cùng với các khu rừng nguyên sinh, rừng Thông, dòng sông Đắk SNghé với nhiều nhánh suối nhỏ, nhiều hồ nước như hồ Toong Đam, Toong Zơ

Ri, Tông Pô (ngoài các hồ hiện có vẫn còn 5 hồ chưa cải tạo với diện tích trên

100 ha), các quần thể thác nước như Đăk Ke, Pa Sỹ, Lô Ba là những điểm du lịch lý tưởng

Có thể nói, thiên nhiên Măng Đen rất thích hợp cho loại hình du lịch khám phá, nghiên cứu khoa học, giải trí Đặc biệt là loại hình du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng Vùng du lịch sinh thái Măng Đen được Thủ tướng Chính phủ đưa vào vùng

du lịch sinh thái quốc gia có môi trường chưa bị ảnh hưởng và có nhiều phong cảnh đẹp, hấp dẫn với các loại hình có thể khai thác như du lịch tham quan, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái

2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.1 Dân cư

Nhóm cộng đồng dân cư bản địa gồm các dân tộc ít người sinh sống lâu đời ở Măng Đen, phân bố rải rác khắp núi rừng theo các buôn làng Với nền kinh tế còn đậm nét truyền thống về nông nghiệp chủ yếu trồng trọt nương rẫy

2.2 Lao động

Măng Đen là vùng nông thôn mới bắt đầu được thị trấn hóa, người dân chủ yếu sống bằng nghề nông Phương tiện sản xuất thô sơ, không có các trang trại lớn, sản lượng lương thực bình quân đầu người là 619,96 kg, năng suất thấp

2.3 Phát triển kinh tế

Kinh tế của khu vực Măng Đen chưa phát triển, chủ yếu là nông, lâm nghiệp,

tự cung tự cấp Tuy nhiên với đặc thù của khí hậu và điều kiện tự nhiên, khu vực Măng Đen đang có khả năng cung cấp nhiều sản phẩm cho ngành du lịch như:

- Cốt toái bổ, sâm dây, hà thủ ô, có giá trị lớn về y, dược, từ lâu đời đã được người dân Xê Đăng dùng để chữa bệnh Ngoài ra còn có nguồn suối nước nóng tại xã Ngọc Tem cũng có tác dụng chữa bệnh rất tốt

Trang 28

- Các sản phẩm nông nghiệp và chăn nuôi dưới tán rừng.

- Các loại rau hoa xứ lạnh đều thích hợp với điều kiện tự nhiên, sinh thái, thổ nhưỡng ở xã Măng Cành và Đăk Long Đặc biệt là các loại hoa như Cúc, Sa lem, Cẩm chướng, Hồng, Baby, Địa lan, hoa Ly; một số loại rau củ (Khoai tây,

Ớt ngọt, Bí ngồi, Súp lơ, Đậu Hà Lan ), một số cây ăn quả (Hồng, Vải, Nhãn ) khi trồng thử nghiệm đều sinh trưởng và phát triển tốt Rau, hoa đều có màu sắc, năng suất và chất lượng tương tự như trồng ở Đà Lạt

- Sản phẩm cá Hồi, cá Tầm đang được nuôi với quy mô tập trung tại xã Hiếu, xã Măng Cành Dự kiến các dự án tại 2 xã này có thể sản xuất khoảng 120 tấn cá Hồi thương phẩm/năm và 20 tấn cá Tầm cung cấp cho thị trường trong và ngoài khu vực

2.4 Đánh giá chung

2.4.1 Thuận lợi

Nhận thức được tầm quan trọng của vị trí chiến lược phát triển du lịch Măng Đen, Chính phủ và địa phương ủng hộ việc phát triển du lịch bền vững bằng các biện pháp cụ thể như kêu gọi các nhà đầu tư, tăng cường huy động vốn

và nguồn lực để xây dựng cơ sở hạ tầng đường bộ đến khu vực và trong khu vực này đầy đủ cho phát triển du lịch, cho phép đầu tư xây dựng sân bay taxi Từ việc coi trọng giá trị nguyên sơ, hoang dã không chỉ riêng của Măng Đen, của Tây Nguyên, của Việt Nam mà còn là của thế giới trong bối cảnh đô thị hóa và toàn cầu hóa hiện nay Do nhu cầu du lịch sinh thái đang ngày càng phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới, tỉnh Kon Tum đã và đang hướng đến xây dựng Măng Đen thành một vùng nghỉ dưỡng, chữa bệnh, tham quan, giải trí… đúng với ý nghĩa đích thực của du lịch sinh thái Quan điểm phát triển đối với khu du lịch sinh thái Măng Đen là mong muốn có một sản phẩm đặc thù, một thương hiệu độc đáo và hình ảnh riêng biệt cho Măng Đen, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của khách du lịch Sản phẩm du lịch sẽ phải thân thiện với thiên nhiên, với các hệ sinh thái tự nhiên, có sự tham gia của cộng đồng dân cư với những nét văn hóa bản địa độc đáo họ Măng Đen được xác định là vùng du lịch sinh thái quốc gia thì sản phẩm du lịch phải có chất lượng, có tầm cỡ quốc gia và phải kết nối với các vùng du lịch trọng điểm khác trong tổng thể du lịch của vùng Tây Nguyên, khu vực duyên hải miền Trung và Nam Trung Trung Bộ, cả nước và du lịch quốc tế

Điều kiện tự nhiên và khí hậu ở Măng Đen rất thích hợp với việc trồng các loại rau, hoa xứ lạnh; phát triển nuôi cá Tầm, cá Hồi (loại cá xứ lạnh châu Âu); đặc biệt đã thực hiện thành công dự án “Nuôi cá Tầm, cá Hồi thương phẩm” và

“Nuôi sinh sản giống cá Tầm, cá Hồi”; đồng thời có rất nhiều loài động vật, thực

Trang 29

vật quý hiếm sinh sống và rừng cây Sim rộng lớn cho quả mọng nước Do đó thuận lợi cho việc phát triển vùng rau, hoa xứ lạnh, chè Ô Long, sản xuất, chế biến các sản phẩm từ Sim và đầu tư các cơ sở nuôi các loại động vật như: Hươu, Nai, Heo rừng, Nhím, Gà rừng, chim Trĩ, Trăn và nhiều loại động vật quý hiếm khác… góp phần đa dạng sản phẩm du lịch cho khu du lịch sinh thái Măng Đen.Thiên nhiên Măng Đen rất thích hợp cho loại hình du lịch khám phá, nghiên cứu khoa học, giải trí đặc biệt là loại hình du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng.

2.4.2 Những khó khăn đối với sự phát triển du lịch sinh thái Măng Đen

- Cùng với địa bàn Tây Nguyên, Măng Đen ở độ cao 1.200 m so với mực nước biển, địa hình núi non hiểm trở, nhiều đèo núi nên vấn đề giao thông đi lại gặp không ít khó khăn Vấn đề an toàn giao thông gây nhiều lo ngại cho khách

du lịch, tham quan, chi phí đường dài đắt đỏ

- Kon Tum là tỉnh mới phát triển du lịch trong những năm gần đây nên kinh nghiệm còn thiếu, cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, năng lực quản lý và vận hành hoạt động du lịch còn yếu

- Các điểm thu hút khách du lịch còn thiếu hoặc chưa đáp ứng điều kiện lưu trú chất lượng theo tiêu chuẩn; các dịch vụ hỗ trợ du lịch tiêu chuẩn kém chất lượng như trung tâm thông tin, nhà hàng và các cơ sở vui chơi giải trí; thời gian lưu trú tương đối ngắn; tính thời vụ cao; mức độ chi tiêu du lịch tương đối thấp -

ít lựa chọn để du khách chi tiêu; trình độ phát triển nguồn nhân lực nhìn chung thấp, đặc biệt là trong cung cấp các dịch vụ du lịch, thiếu nguồn nhân lực có trình

độ ngoại ngữ để phục vụ khách quốc tế: hướng dẫn viên, nhân viên phục vụ

- Nhận thức của cộng đồng về phát triển du lịch còn hạn chế và du lịch dựa vào cộng đồng còn kém phát triển

- Măng Đen không có biển một phần không hấp dẫn được khách du lịch thị trường Đông Âu vì loại khách này chủ yếu là đi nghỉ vào dịp mùa Đông để tránh cái lạnh ở châu Âu

- Nhìn chung các đơn vị lữ hành còn nhỏ lẻ, chưa kết nối được với các doanh nghiệp lữ hành trong và ngoài tỉnh, vì vậy còn gặp nhiều khó khăn trong việc thu hút du khách

- Sản phẩm du lịch chủ lực của các địa phương chưa phong phú; thiếu các khu vui chơi giải trí đạt tiêu chuẩn quốc tế, chưa có nhiều dịch vụ hấp dẫn nên chưa kích thích được tiêu dùng của du khách

- Các cơ sở hạ tầng như đường xá, bệnh viện còn kém phát triển

- Công tác xúc tiến, quảng bá cho thị trường du lịch chưa được đầu tư tương xứng, từ việc xúc tiến du lịch tại chỗ tới việc tận dụng thế mạnh của internet, quảng bá qua các trang thông tin điện tử…

Trang 30

PHẦN THỨ HAI ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÙNG DU LỊCH SINH THÁI MĂNG ĐEN,

HUYỆN KON PLÔNG

I Tóm lược quy hoạch theo Quyết định 298/QĐ-TTg ngày 05/02/2013

về việc phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng du lịch sinh thái Măng Đen và Quy hoạch chung đô thị Kon Plông, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum đến năm 2030

1 Phạm vi

Quy hoạch xây dựng vùng du lịch sinh thái quốc gia Măng Đen, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum đến năm 2030 bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum với quy mô 138.116ha

Ranh giới cụ thể như sau: Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam; phía Nam giáp: huyện Kon Rẫy tỉnh Kon Tum và tỉnh Gia Lai; phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi

và phía Tây giáp huyện Tu Mơ Rông tỉnh Kon Tum

2 Phân vùng du lịch

Quyết định số 298/QĐ-TTg xác định quy hoạch với các tiểu vùng như sau:+ Vùng du lịch đô thị Kon Plông - trung tâm của vùng du lịch Măng Đen với quy mô: 14.682,7 ha bao gồm các khu chức năng: Thương mại, dịch vụ, vui chơi giải trí, thể thao cao cấp có các loại hình du lịch: cảnh quan sinh thái, lễ hội, ẩm thực, trải nghiệm Diện tích đất xây dựng khoảng 3.000 ha

+ Vùng du lịch phía Bắc (vùng liên kết, hỗ trợ): Bao gồm các xã Đắk Tăng

- Măng Bút, Đắk Ring - Đắk Nên Diện tích đất tự nhiên 67.526 ha có các loại hình du lịch: Cảnh quan, dã ngoại, trải nghiệm, khám phá, chăm sóc sức khỏe + Vùng du lịch phía Đông Bắc (vùng liên kết, hỗ trợ - xã Ngọc Tem) với diện tích tự nhiên 35.388 ha gồm các loại hình du lịch: Chăm sóc sức khỏe, trải nghiệm, khám phá tự nhiên

+ Vùng du lịch phía Đông (vùng liên kết, hỗ trợ - xã Hiếu, Xã Pờ Ê) với diện tích tự nhiên 20.159 ha, có các loại hình du lịch như: Cảnh quan, trải nghiệm, lễ hội, vui chơi giải trí…

3 Các trung tâm du lịch

- Trung tâm du lịch chính: Đô thị Kon Plông là trung tâm du lịch chính của vùng du lịch sinh thái Măng Đen, bao gồm các chức năng: Nghỉ ngơi, điều dưỡng, du lịch sinh thái, thể thao, giải trí, dịch vụ du lịch, lưu trú, ẩm thực, hội chợ triển lãm thương nghiệp, biểu diễn ca múa nhạc, làng văn hóa dân tộc, công viên hoa chuyên đề có diện tích khoảng 3.000 ha

- Khu du lịch Đăk Tăng - Măng Bút: Là khu du lịch cảnh quan, dã ngoại Quy mô khu trung tâm 1.350 ha, mật độ xây dựng tối đa 5%, các khu vực ngoài

Trang 31

khu trung tâm được xây dựng với mật độ nhỏ hơn 5%, dự kiến bao gồm các hạng mục chính: Khu trung tâm, làng văn hóa dân tộc, làng du lịch sinh thái, khu ngắm cảnh ven lòng hồ thủy điện.

- Khu du lịch Ngọc Tem: Là khu du lịch cảnh quan, dã ngoại và điều dưỡng Quy mô khu trung tâm khoảng 725,94 ha, mật độ xây dựng tối đa 5%, các khu vực ngoài khu trung tâm được xây dựng với mật độ nhỏ hơn 5%

- Khu du lịch xã Hiếu - Pờ Ê: Là khu vực khai thác về tiềm năng lễ hội, tham quan, sinh hoạt văn hóa Quy mô khu trung tâm khoảng 2.507,92 ha, mật

độ xây dựng tối đa 10%, các khu vực khác mật độ xây dựng nhỏ hơn 5%

4 Thực trạng các khu theo Quy hoạch đã quyết định

4.1 Hiện trạng phân bố tài nguyên du lịch

Tiềm năng du lịch Măng Đen được phân bố tập trung theo 3 khu vực chính với những điểm mạnh và hạn chế khác nhau:

4.1.1 Khu vực đô thị Kon plông và phụ cận

- Tiềm năng và thế mạnh chính của khu vực nằm ở vị trí trung tâm thuận lợi cho việc kết nối với các khu vực khác đồng thời thuận tiện cho việc phát triển các trung tâm dịch vụ du lịch đa dạng và tập trung đặc biệt các đặc trưng như khí hậu, cảnh quan, văn hóa dân tộc thiểu số

- Có khả năng khai thác các loại hình du lịch chính như: du lịch văn hóa; du lịch nghỉ dưỡng, điều dưỡng chữa bệnh; vui chơi giải trí; thể thao; du lịch sinh thái; tham quan di tích lịch sử; du lịch cuối tuần

4.1.2 Khu vực phía Đông

Nằm ở phía Đông huyện gồm địa giới các xã Hiếu, Pờ Ê, Ngọc Tem

- Tiềm năng và thế mạnh chính của khu vực nằm ở các đặc trưng văn hóa dân tộc thiểu số; cảnh quan rừng núi

- Có khả năng khai thác các loại hình du lịch chính như: du lịch văn hóa; du lịch nghỉ dưỡng, điều dưỡng chữa bệnh; du lịch sinh thái; du lịch mạo hiểm; du lịch cuối tuần

- Hạn chế chính của khu vực do hệ thống kết cấu hạ tầng kém phát triển, trình độ dân cư thấp

4.1.3 Khu vực phía Bắc

Nằm ở phía Bắc huyện, thuộc địa bàn các xã Đăk Tăng, Măng Bút, Đăk Ring, Đăk Nên

- Tiềm năng và thế mạnh chính của khu vực bao gồm: hệ sinh thái đa dạng, cảnh quan núi rừng hùng vĩ, di tích sân bay

- Có khả năng khai thác các loại hình du lịch chính như du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng chữa bệnh, du lịch cuối tuần, du lịch văn hóa dân tộc, du lịch mạo hiểm

Trang 32

- Hạn chế của khu vực do hệ thống hạ tầng kém phát triển; chưa có công trình dịch vụ phù hợp; trình độ dân trí thấp.

4.2 Các dự án đang triển khai trong khu vực lập quy hoạch

Theo Quy hoạch, vùng du lịch sinh thái quốc gia Măng Đen là vùng bảo tồn sinh thái, rừng quốc gia, là vùng du lịch nằm trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Đây cũng là vùng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phục vụ phát triển sinh thái và là vùng trọng điểm phát triển kinh tế phía Đông của tỉnh Kon Tum Hiện tại khu vực này đã lập một số quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết, được UBND tỉnh Kon Tum phê duyệt như:

- Quy hoạch chung xây dựng thị trấn huyện lỵ huyện Kon Plông – Tỉnh Kon Tum

- Quy hoạch chi tiết khu trung tâm thương mại và du lịch sinh thái hồ Đăk Ke: 75ha

- Quy hoạch chi tiết 3 khu du lịch sinh thái Măng Đen huyện Kon Plông

270 ha, trong đó:

+ Khu du lịch sinh thái thác Đăk Ke và thác Lô Ba: 95 ha;

+ Khu du lịch sinh thái hồ Toong Đam, Toong Zơri, Toong Pô: 90 ha; + Khu du lịch sinh thái, cảnh quan, leo núi, suối và thác Pa Sỹ: 85 ha;

- Quy hoạch chi tiết cụm tiểu thủ công nghiệp và làng nghề truyền thống đồng bào các dân tộc Tây Nguyên: 55 ha;

- Quy hoạch chi tiết khu trung tâm huyện lỵ Kon Plông: 70 ha;

- Quy hoạch chi tiết phía Đông, phía Tây, phía Nam, phía Bắc khu trung tâm huyện lỵ Kon Plông (mỗi khu vực quy hoạch của thị trấn gắn với cụm điểm

+ Quy hoạch sân bay Măng Đen sử dụng làm sân bay taxi

- Sau khi có Quyết định 298/QĐ-TTg đã có 3 dự án thuộc cấp tỉnh triển khai thực hiện:

+ Dự án xây dựng khu Resort du lịch sinh thái của Công ty cổ phần Măng Đen với quy mô 18,9 ha, tổng vốn 49,3 tỷ đồng đang tiến hành xây dựng;

+ Dự án trồng chè Ô Long và rau hoa xứ lạnh công nghệ sạch của Công ty

cổ phần Măng Đen Villa với quy mô 106 ha;

Trang 33

+ Dự án xây dựng khu du lịch sinh thái của Ngân hàng Công thương Việt Nam với quy mô 203 ha đã được UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư

Đồng thời UBND huyện đã kiến nghị với UBND tỉnh thu hồi 8 dự án chậm triển khai và không triển khai đầu tư, gia hạn 3 dự án đầu tư

II Đánh giá chung thực trạng cơ sở hạ tầng của huyện Kon Plông

1 Đánh giá chung

Hệ thống cơ sở hạ tầng huyện Kon Plông hình thành và phát triển dựa trên nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện Trong những năm qua việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng của huyện đã mang lại những bước kết quả nhất định Hệ thống giao thông chính cơ bản được hình thành tạo ra sự kết nối thuận tiện từ huyện đến xã; hệ thống điện lưới, bưu chính viễn thông đã đến được các thôn, bản vùng sâu, vùng xa; hệ thống cấp, thoát nước tại khu vực trung tâm đã được đầu tư và phát triển đồng bộ; hạ tầng tại các điểm, tuyến du lịch đang dần dần hoàn thiện để có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển du lịch Tuy nhiên, việc phát triển cơ sở hạ tầng vẫn còn nhiều hạn chế về quy mô và chất lượng, đặc biệt

là hệ thống giao thông với quy mô khá nhỏ chưa tương xứng với nhu cầu phát triển của địa phương

2 Hệ thống giao thông

Đường giao thông trên địa bàn huyện Kon Plông bao gồm các tuyến Quốc

lộ, huyện lộ Nhìn chung, hệ thống giao thông phát triển với mật độ và quy mô không đều, phân thành từng cụm riêng lẻ với một số tuyến giao thông kết nối giữa các khu vực Mật độ đường cao nhất tập trung tại trung tâm huyện Kon Plông thuộc xã Đăk Long, đây là khu vực đã được chính phủ quy hoạch dành cho du lịch với điểm, tuyến du lịch đang trong giai đoạn xây dựng

Toàn huyện có tổng cộng 368,214 km đường bộ Trong đó: đường bê tông

xi măng 157,219 km chiếm 42,7%; bê tông nhựa 57,84 km chiếm 15,71%; đường nhựa đá 59,73 km chiếm 16,22%; còn lại là đường cấp phối và đường đất chiếm 25,37% Quy mô đường chủ yếu từ 3,5 – 6m, đường từ 7,5m trở lên rất ít

và chỉ tập trung tại khu vực trung tâm hành chính huyện Nếu phân theo chất lượng đường thì có 71,96% là đường tốt, 2,69% đường trung bình và 25,35% đường xấu

Giao thông đối ngoại được hình thành trên cơ sở quốc lộ 24, đường Đông Trường Sơn và tỉnh lộ 676 Kết nối đến trung tâm các xã để tạo thành hệ thống đường khung của huyện, cụ thể:

Quốc lộ 24 kéo dài từ thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum đến thị trấn Thạch Trụ của tỉnh Quảng Ngãi Đoạn đi qua huyện Kon Plông dài 50 km lần lượt đi đến địa phận 3 xã là Đăk Long, xã Hiếu và xã Pờ Ê theo hướng Đông - Tây Đoạn đường này đã được nhựa hóa với chiều rộng mặt đường 3,5m, nền

Trang 34

đường 6,5m Riêng đoạn đi qua địa phận trung tâm huyện đã được đầu tư mở rộng để đạt tiêu chuẩn đường cấp III miền núi với bề rộng nền đường 11m Điều kiện mặt đường toàn tuyến nhìn chung là tốt tuy nhiên quy mô còn nhỏ so với tiềm năng về giao thông

Tuyến đường Đông Trường Sơn đoạn nối từ dốc Ngọc Lu đến QL 24, QL24 đi Kbang thuộc tỉnh Gia Lai đã hoàn thiện và đưa vào sử dụng với mặt đường 6m, các đoạn còn lại đang trong giai đoạn thi công Sau khi hoàn thiện đoạn tuyến này sẽ đóng vai trò quan trọng cùng với tuyến quốc lộ 24 thu hút khách du lịch từ các đô thị lớn trong cả nước đến với Măng Đen

Tỉnh lộ 676 có chiều dài 63,825 km đi qua trung tâm huyện 2,5 km có bề rộng mặt đường 15m Tuyến đường đi qua nhiều trung tâm cụm xã của huyện như Đăk Tăng, Đăk Ring, Đăk Nên và có thể kết nối với huyện Tu Mơ Rông thông qua tuyến đương Vi xây – Măng Bút Trên toàn tuyến đã được cứng hóa với quy mô 3,5 - 6m chất lượng đường tương đối Đoạn khu vực đô thị Kon Plông đã được mở rộng với chiều rộng mặt cắt ngang 32m (mặt đường bê tông nhựa 15m)

Đường giao thông nội vùng:

Tuyến ĐH31 Từ Km 9 tỉnh lộ 676 đến Km 10 đường Ngọc Tem với chiều dài 10,41km, tuyến có quy mô đường đất với điều kiện nền đường xấu Hiện nay tuyến đường này đang trong quá trình đầu tư nâng cấp

Tuyến ĐH32: Cơ bản bám theo tuyến đường Đông Trường Sơn, tuyến có chiều dài 50,52km, điểm đầu tại Km 94+500 quốc lộ 24, điểm cuối là Măng Nát- Ngọc Tem Hiện nay, một số đoạn của tuyến trùng với đường Đông Trường Sơn đang được đầu tư nâng cấp Đoạn nâng cấp có mặt đường 6m kết cấu bê tông xi măng các đoạn còn lại chủ yếu là đường 3,5m với kết cấu láng nhựa hoặc bê tông xi măng tại một số điểm mặt đường đã bị xuống cấp và tuyến đang tồn tại một số cầu Treo chỉ dành cho xe máy và người đi bộ ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng vận tải hàng hóa cho khu vực này

Tuyến ĐH33: Nối quốc lộ 24 với đường Ngọc Tem với chiều dài 8,13km, chiều rộng nền đường 5m, mặt 3m Tuyến đã được nhựa hóa 6,68 km, đoạn còn lại là đường đất với chất lượng xấu cần được nâng cấp

Tuyến ĐH34: tổng chiều dài toàn tuyến 14,92 km, nền 5 m, mặt 3,5 m chạy qua hai xã Đăk Long và Măng Cành Hiện tại, toàn tuyến đã được nhựa hóa

Tuyến ĐH35: Bắt đầu từ Km 33+259 tỉnh lộ 676 đến UBND xã Măng Bút

có tổng chiều dài toàn tuyến là 7,6 km Đường này mới được đầu tư xây dựng trong năm 2012 với kết cấu bê tông xi măng nền 5m, mặt 3,5m, chất lượng đường tốt, đảm bảo điều kiện cho ô tô chạy đến trung tâm huyện Theo quy hoạch tuyến sẽ được nâng cấp thành tỉnh lộ 680B để nối với huyện Tu Mơ Rông quy mô 2 làn xe nền đường 6,5m, mặt bê tông nhựa 5,5m để tạo điều kiện thu

Trang 35

hút khách du lịch nội tỉnh đến với khu du lịch sinh thái Măng Đen Hiện nay đang đầu tư 12 km từ trung tâm xã đến thôn Đắk Lanh, xã Măng Bút.

Hệ thống đường xã vẫn còn nhiều hạn chế về cả quy mô và chất lượng, trên địa bàn huyện có 91,4 km đường Trong đó, có 29,2 km chiếm 32% có quy mô

từ >3,5m hầu hết là đường cấp phối hoặc đường đất với chất lượng xấu tập trung tại các xã Măng Cành, Măng Bút Đường đất, cấp phối vẫn còn chiếm tỷ lệ khá lớn trong cơ cấu đường xã toàn huyện với 50,36%

Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có 32,152 km đường thôn với quy mô nền đường ≤ 5m là các tuyến đường nội bộ thôn, đường vào các điểm trường học, UBND…tại các xã Các tuyến này đang được huyện đầu tư theo hình thức nhà nước và nhân dân cùng làm

Đường không: Sân bay Măng Đen nằm tại trung tâm huyện đã được bộ quốc phòng thống nhất chủ trương về quy hoạch, khôi phục xây dựng để phục

vụ bay Taxi Dự kiến sau khi sân bay này đầu tư và đưa vào sử dụng nhằm hỗ trợ cho phát triển du lịch

3 Hệ thống điện

Vùng du lịch sinh thái Măng Đen, huyện Kon Plông được cấp điện chủ yếu trạm biến áp 110KV Kon Plông thông qua lộ đường dây 22kV xuất tuyến 477.TBA 110kV công suất 25MVA-110/22kV được đặt tại xã Đăk Long, huyện Kon Plông được đưa vào vận hành năm 2010; được kết nối với TBA 110kV Kon Tum; ngoài nhiệm vụ cung cấp điện chủ yếu cho toàn huyện Kon Plông, TBA 110kV Kon Plông còn nhiệm vụ huy động công suất của nhà máy thủ điện

Đặ Pô Ne

Hiện tại nguồn cung cấp điện chủ yếu cho vùng du lịch sinh thái Măng Đen

và các khu vực của huyện đều thông tuyến đường dây 110 KV mạch đơn PleiKu

- Kon Tum - Đăk Tô và 2 trạm 110/22 KV với tổng dung lượng là 41 MVA (1x16 MVA và 1x25 MVA) Ngoài ra còn một số nguồn phát độc lập là các trạm thủy điện vừa và nhỏ, đảm bảo cho nhu cầu sử dụng điện của khu vực

Hệ thống lưới điện quốc gia đã được đầu tư cơ bản phục vụ nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của nhân dân, 100% lưới điện quốc gia đã đến được trung tâm xã, 91,66% hộ dân được sử dụng điện Dự án điện lưới nông thôn đã đầu tư cho 101 làng, còn lại 16 làng sẽ tiếp tục được đầu tư Bên cạnh đó các dự án thủy điện vừa và nhỏ đang được triển khai đầu tư mạnh

Các Trạm biến áp được đầu tư tăng dần hàng năm, đến nay đã được lắp đặt tại hầu hết các xã Theo báo cáo của điện lực Kon Plông, tính đến nay trên toàn huyện có 155 Trạm biến áp với tổng công suất 36.341 KVA, trong đó 65 trạm 1 pha, 90 trạm 3 pha

Trang 36

Hệ thống lưới điện Kon Plông hiện nay gồm 87 đường dây cao thế 22 kv với tổng chiều dài 301.905 km và 155 đường dây hạ thế (gồm 0,4 kv và 0,23 kv) với tổng chiều dài 86,46 km, được phân bổ đều khắp trên toàn huyện, bảo đảm nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân Định kỳ hàng năm, hệ thống đường dây đều được cải tạo và đại tu theo kế hoạch.

Tại khu vực trung tâm huyện lỵ và khu du lịch sinh thái Măng Đen lưới điện chiếu sáng tại các trục đường chính đã cơ bản được đầu tư hoàn chỉnh Hiện nay, hệ thống điện chiếu sáng tại các địa điểm du lịch đang từng bước được triển khai hoàn thiện nhằm phục vụ tốt hơn cho hoạt động du lịch

4 Hệ thống bưu chính viễn thông

Bưu chính viễn thông đang trong giai đoạn phát triển và mở rộng Tại một số

xã vùng sâu, vùng xa do điều kiện địa hình hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt nên hoạt động bưu chính chỉ đáp ứng được vào mùa khô Mùa mưa hệ thống giao thông đi lại khó khăn dẫn đến việc cấp phát thư từ, công văn, báo chí… còn chậm không thể đáp ứng đầy đủ, kịp thời các thông tin liên lạc từ huyện xuống các xã

Đến nay, tại trung tâm 9 xã trong huyện đã được đầu tư trang bị hệ thống điện thoại nhằm thuận tiện cho liên lạc, trao đổi thông tin 6/9 xã đã có hệ thống bưu điện văn hóa xã

5 Hệ thống thủy lợi, cấp, thoát nước

Hệ thống thủy lợi: Trên địa bàn các xã đã có công trình thủy lợi gồm hồ, đập, đập BTCT kết hợp tràn xả lũ, với các công trình tiểu thủy nông

Hệ thống thủy lợi chưa được đầu tư đồng bộ, công suất tưới tiêu thực tế chưa đạt so với công suất thiết kế, hệ thống kênh mương chưa đồng bộ Một số công trình đã xuống cấp, hư hỏng do lũ lụt

Hệ thống cấp nước: Có 1 nhà máy xử lý nước tại khu vực trung tâm thị trấn Kon Plông với công suất khai thác 4000 m3/ngày đêm, mạng lưới đường ống cấp nước bao phủ toàn bộ khu vực trung tâm với tổng chiều dài 15.836m bao gồm các loại ống từ D80 – D150 Ngoài ra, hệ thống nước tự chảy tại trung tâm các

xã, thôn đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng của người dân

Hệ thống thoát nước: Tại khu vực trung tâm mới chỉ có một số tuyến thoát nước dọc theo các trục đường số 1; 2; 3; 4 và 5 với kết cấu mương xây có nắp đan, kích thước 500x600, hướng thoát nước về các khe tụ thủy gần nhất Hệ thống thoát nước mưa tại một số tuyến đường còn thiếu như: đường số 6, số 7,

số 8 Hệ thống thoát nước sinh hoạt chưa được đầu tư xây dựng nước thải sinh hoạt chủ yếu được thải trực tiếp ra môi trường xung quanh

Trang 37

III Đánh giá thực trạng hệ thống hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật vùng du lịch sinh thái Măng Đen, huyện Kon Plông

1 Đánh giá chung

Hệ thống hạ tầng du lịch bao gồm hệ thống giao thông, điện, nước, hạ tầng cảnh quan, kiến trúc, hạ tầng dịch vụ vận chuyển… nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch phát triển

Nhìn chung, hệ thống hạ tầng du lịch tại Kon Plông đang được đầu tư xây dựng các điểm, tuyến du lịch và hạ tầng giao thông kết nối các điểm, tuyến tại vùng du lịch sinh thái Măng Đen đã đưa vào hoạt động Các tuyến đường kết nối với vùng du lịch lân cận đang được đầu tư hoàn chỉnh

2 Thực trạng đầu tư xây dựng cơ bản huyện Kon Plông

Theo số liệu của Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Kon Plông, trong 3 năm gần đây, bình quân vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản huyện khoảng hơn 220 tỷ đồng/năm, trong đó vốn từ ngân sách tỉnh bình quân 173,8 tỷ đồng/năm, chiếm tỷ

lệ gần 79%, vốn ngân sách huyện gần 47 tỷ đồng/năm, chiếm tỷ lệ gần 21% Nguồn vốn ngân sách tỉnh chủ yếu từ các nguồn: Nghị quyết 10-NQ/TW, theo QĐ 33/QĐ-TTg, Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, Chương trình phát triển kinh tế xã hội các vùng tây nguyên, trái phiếu Chính phủ, ODA, nguồn vốn đầu tư hạ tầng du lịch, nguồn xây dựng cơ bản tập trung ; Nguồn ngân sách huyện chủ yếu từ các nguồn như: Hỗ trợ đầu tư vùng kinh tế động lực theo Nghị quyết 04/2007/NQ-HĐND của HĐND tỉnh, Nguồn thu sử dụng đất; Nguồn vốn thực hiện chương trình 135/CP, Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

Bảng 2.1: Tổng hợp nguồn vốn đầu tư xây dựng hạ tầng du lịch Kon

Plông giai đoạn 2011 - 2014

Trang 38

3 Hệ thống hạ tầng du lịch

Hệ thống giao thông: Hiện nay, mạng lưới đường giao thông kết nối giữa các vùng du lịch đã được hình thành Cụ thể:

- Các tuyến du lịch Kon Plông - Đăk Tăng- Măng Bút chạy trên nền TL676

và đường vi xây Măng Bút; Tuyến Kon Plông - Đăk Nên chạy trên nền TL 676; Tuyến Kon Plông - xã Hiếu - Pờ Ê chạy trên nền quốc lộ 24 Các tuyến này cơ bản đã được đầu tư xây dựng thông suốt

- Tuyến Kon Plông – Ngọc Tem chạy trên nền quốc lộ 24, ĐH 23 và tuyến đường Đông Trường Sơn sẽ thuận tiện sau khi đường Đông Trường Sơn hoàn thành trong thời gian đến

Như vậy, về cơ bản việc đi lại giữa các khu vực du lịch của huyện không gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, Ngoại trừ khu trung tâm du lịch chính đang trong quá trình hình thành các điểm, tuyến du lịch và hệ thống nhà hàng khách sạn thì các vùng khác hầu như chưa phát triển

Theo định hướng phát triển khu du lịch tại quy hoạch xây dựng vùng du lịch sinh thái Măng Đen và đô thị Kon Plông đến năm 2030 Trên địa bàn toàn huyện sẽ hình thành 1 vùng du lịch chính và 4 khu vực phát triển hổ trợ Cụ thể:

Trung tâm du lịch chính: sẽ là một cụm du lịch mang tính chất trung tâm

tập trung hầu hết các sản phẩm du lịch và dịch vụ với quy mô lớn của vùng du lịch sinh thái Quốc gia Măng Đen là đô thị Kon Plông với các dịch vụ phục vụ khách du lịch như: trung tâm nghỉ dưỡng, trung tâm du lịch sinh thái, trung tâm giải trí và là nơi cung cấp thông tin cho du khách cũng như cung cấp khách đến các khu, điểm du lịch vệ tinh chủ yếu phục vụ tham quan Đô thị Kon Plông sẽ là một đô thị du lịch mang đầy đủ các chức năng của một đô thị loại IV

Khu vực phát triển hỗ trợ: Bao gồm các khu vực có tài nguyên du lịch

hấp dẫn, được quy hoạch đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch Các phân khu du lịch của Măng Đen là một bộ phận cấu thành nằm trong hệ thống tổng thể của khu du lịch quốc gia Măng Đen với hệ thống sản phẩm dịch vụ mang tính đặc thù, bổ trợ cho phân khu trung tâm Hệ thống các khu du lịch bao gồm:

Khu du lịch Đăk Tăng - Măng Bút: Đây là khu du lịch cảnh quan, du lịch

lòng hồ thủy điện, du lịch dã ngoại và du lịch trải nghiệm Quy mô khu trung tâm 1.350 ha, mật độ xây dựng tối đa 5%, các khu vực ngoài khu trung tâm được xây dựng với mật độ nhỏ hơn 5%, dự kiến bao gồm các hạng mục chính:

+ Khu trung tâm: phục vụ các nhu cầu vui chơi giải trí, văn hóa gồm: sân lễ hội, nhà dịch vụ, nhà hàng ăn uống

+ Khu làng văn hóa dân tộc

Trang 39

+ Làng du lịch sinh thái: bao gồm các hạng mục công trình phục vụ du lịch sinh thái như: lưu trú, dịch vụ thể thao, giải trí, cắm trại

+ Khu ngắm cảnh ven lòng hồ thủy điện

Khu du lịch Ngọc Tem: Có nhiều rừng nguyên sinh và cảnh quan đẹp nên tại

đây xây dựng các công trình dịch vụ phục hồi sức khỏe, trung tâm dịch vụ và ngắm cảnh, dã ngoại, trải nghiệm, nghiên cứu thực vật, khu biệt thự ven bờ suối, khu cây hoa và cây cảnh Quy mô khu trung tâm khoảng 725,94 ha, mật đô xây dựng tối đa 5%, các khu vực ngoài khu trung tâm được xây dựng với mật độ nhỏ hơn 5%

Khu du lịch xã Hiếu - Pờ Ê: Khu này có tiềm năng về khai thác lễ hội,

tham quan, sinh hoạt văn hóa Quy mô khu trung tâm khoảng: 2.507,92 ha, mật độ xây dựng tối đa 10%, các khu vực khác mật độ XD nhỏ hơn 5%

Hạ tầng du lịch tại khu trung tâm du lịch chính:

Hệ thống giao thông kết nối các điểm du lịch trong khu trung tâm du lịch chính bao gồm hệ thống đường nội bộ, đường khu vực và liên khu vực Hiện nay, đường nối các điểm du lịch trung tâm như: Hồ Đăk ke, Tượng đức mẹ, Chùa Khánh Lâm,…mới được đầu tư trong giai đoạn gần đây tương đối thuận lợi Tuy nhiên, căn cứ vào quy hoạch chung thì nhu cầu mở rộng đô thị và phát triển các điểm tuyến du lịch, dịch vụ du lịch dự kiến trong thời gian đến như: Khu sân golf, Khu thể thao, khu trung tâm mua sắm, thương mại, dịch vụ giải trí thì mạng lưới đường tại khu vực phía Nam và Tây Bắc của trung tâm hành chính vẫn còn ít ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển du lịch cũng như đô thị Cụ thể:

- Các đường chính, đường nội bộ tại khu vực phía nam như: tuyến đường tránh, đường liên khu vực bao gồm các điểm du lịch nằm trong quy hoạch khu làng thể thao nam Kon Plông, Khu du lịch sinh thái nam Kon Plông và khu vực

đô thị mới vẫn chưa được đầu tư xây dựng

- Tại khu vực Tây Bắc: là nơi tập trung các điểm du lịch sinh thái vẫn chưa hình thành mạng lưới giao thông

Hệ thống cấp nước: Các điểm du lịch, dịch vụ du lịch như khách sạn, nhà nghỉ vẫn sử dụng nguồn nước chính là nước ngầm tương đối ổn định, hệ thống cấp nước của đô thị Kon Plông mới cung cấp cho khu vực trung tâm

Hệ thống điện: Hệ thống điện với mạng lưới phân bố trên hầu hết các khu vực của vùng đảm bảo cung cấp cho các điểm du lịch và hệ thống nhà hàng, khách sạn

Điểm du lịch:

Hạ tầng các điểm du lịch đang được hoàn thiện và sẽ sớm đưa vào hoạt động như: công trình trung tâm Hội nghị, chùa Khánh Lâm, khu du lịch tâm linh tượng Đức mẹ, khu lòng hồ Đăk Ke, thác Pa Sỹ…với bán kính đối với trung tâm hành chính hơn 10km Các điểm du lịch này đều đã xây dựng hệ thống đường

Trang 40

giao thông nội bộ, điểm bán đồ lưu niệm, các khu cảnh quan…Tại các địa điểm này đều kết hợp với cảnh quan thiên nhiên đẹp phù hợp với phát triển theo hình thức du lịch sinh thái

Các điểm du lịch đã được hình thành cơ bản về cơ sở hạ tầng kỹ thuật Tuy nhiên, chưa quan tâm nhiều đến kiến trúc, cảnh quan nhân tạo và cần phải có một thiết kế cảnh quan cụ thể cho từng điểm nhằm hoàn thiện hơn về mặt kiến trúc như: mảng cây xanh tại các ta luy đường, vườn hoa, vườn dạo, công viên chuyên đề tại các điểm du lịch…

9 Khu di tích chiến thắng Măng Đen Chưa khai thác

10 Khu di tích chiến thăng Măng Bút Chưa khai thác

Hệ thống hạ tầng kỹ thuật toàn vùng chưa hoàn thiện, không gian kiến trúc khu vực đô thị còn thiếu, chưa xây dựng được các công trình điểm nhấn tại các cửa ngõ đô thị và khu vực trung tâm đô thị như: Đài phun nước, tượng đài… chưa tạo được nét nổi bật về bộ mặt đô thị của khu vực trung tâm hành chính cũng như các tuyến đường chính vào đô thị

Hạ tầng dịch vụ du lịch: Hệ thống hạ tầng vận tải hàng hóa và hành khách chưa có do nhu cầu và mức sống của người dân còn thấp Dịch vụ cho thuê phương tiện như: xe máy, xe đạp, ô tô chưa phát triển nên khách du lịch di chuyển đến các điểm du lịch chủ yếu là thông qua tour, tuyến của các đơn vị lữ hành hoặc tự túc về mặt phương tiện

Có 1 Trung tâm thương mại đã đi vào hoạt động: đây là nơi trưng bày các sản phẩm đặc trưng du lịch của huyện như: sâm dây, gạo đỏ, rượu vang sim, các loại dược liệu, hàng thủ công mỹ nghệ, dẹt thổ cẩm và có dịch vụ ăn uống để phục vụ khách du lịch

Ngoài ra, trên địa bàn huyện có chợ Trung tâm huyện (1,1 ha), chợ xã Đăk Tăng và chợ xã Ngọc Tem

Ngày đăng: 17/03/2017, 11:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.4: Số lượng khách du lịch đến Kon Plông - ĐỀ ÁN MĂNG ĐEN 2015  2016, TỈNH KON TUM
Bảng 2.4 Số lượng khách du lịch đến Kon Plông (Trang 46)
Bảng 3.1: Danh mục các tuyến đường trong khu vực trung tâm đô thị - ĐỀ ÁN MĂNG ĐEN 2015  2016, TỈNH KON TUM
Bảng 3.1 Danh mục các tuyến đường trong khu vực trung tâm đô thị (Trang 66)
Bảng 3.2: Danh mục các tuyến đường trong Vùng vệ tinh - ĐỀ ÁN MĂNG ĐEN 2015  2016, TỈNH KON TUM
Bảng 3.2 Danh mục các tuyến đường trong Vùng vệ tinh (Trang 67)
Bảng 3.6: Hạng mục xây dựng chi tiết - ĐỀ ÁN MĂNG ĐEN 2015  2016, TỈNH KON TUM
Bảng 3.6 Hạng mục xây dựng chi tiết (Trang 71)
Bảng 3.7: Hạng mục xây dựng chi tiết - ĐỀ ÁN MĂNG ĐEN 2015  2016, TỈNH KON TUM
Bảng 3.7 Hạng mục xây dựng chi tiết (Trang 71)
Bảng 3.16: Hạng mục xây dựng chi tiết - ĐỀ ÁN MĂNG ĐEN 2015  2016, TỈNH KON TUM
Bảng 3.16 Hạng mục xây dựng chi tiết (Trang 77)
Bảng 3.17: Hạng mục chi tiết trong khu phức hợp G2-A - ĐỀ ÁN MĂNG ĐEN 2015  2016, TỈNH KON TUM
Bảng 3.17 Hạng mục chi tiết trong khu phức hợp G2-A (Trang 78)
Bảng 3.18: Hạng mục xây dựng trong Công viên trung tâm Khu. G2-B - ĐỀ ÁN MĂNG ĐEN 2015  2016, TỈNH KON TUM
Bảng 3.18 Hạng mục xây dựng trong Công viên trung tâm Khu. G2-B (Trang 78)
Bảng 3.22: Hạng mục xây dựng chi tiết - ĐỀ ÁN MĂNG ĐEN 2015  2016, TỈNH KON TUM
Bảng 3.22 Hạng mục xây dựng chi tiết (Trang 81)
Bảng 3.23: Hạng mục xây dựng chi tiết - ĐỀ ÁN MĂNG ĐEN 2015  2016, TỈNH KON TUM
Bảng 3.23 Hạng mục xây dựng chi tiết (Trang 81)
Bảng 3.24: Hạng mục xây dựng chi tiết - ĐỀ ÁN MĂNG ĐEN 2015  2016, TỈNH KON TUM
Bảng 3.24 Hạng mục xây dựng chi tiết (Trang 82)
Bảng 3.26: Hạng mục xây dựng chi tiết - ĐỀ ÁN MĂNG ĐEN 2015  2016, TỈNH KON TUM
Bảng 3.26 Hạng mục xây dựng chi tiết (Trang 83)
Bảng 3.28: Hạng mục xây dựng chi tiết - ĐỀ ÁN MĂNG ĐEN 2015  2016, TỈNH KON TUM
Bảng 3.28 Hạng mục xây dựng chi tiết (Trang 84)
Bảng 3.31: Hạng mục xây dựng chi tiết - ĐỀ ÁN MĂNG ĐEN 2015  2016, TỈNH KON TUM
Bảng 3.31 Hạng mục xây dựng chi tiết (Trang 86)
Bảng 3.36: Hạng mục xây dựng chi tiết - ĐỀ ÁN MĂNG ĐEN 2015  2016, TỈNH KON TUM
Bảng 3.36 Hạng mục xây dựng chi tiết (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w