Khái niệm sinh kế và sinh kế bền vững a.Khái niệm sinh kế “Sinh kế” là một khái niệm rộng bao gồm các phương tiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hóa mà các cá nhân, hộ gia đình
Trang 1CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SINH KẾ VÀ MÔ HÌNH SINH KẾ BỀN VỮNG
1.1 SINH KẾ VÀ SINH KẾ BỀN VỮNG CHO HỘ NGHÈO
1.1.1 Các khái niệm và tiêu chí đánh giá nghèo
Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định Tình trạng thiếu thốn thể hiện trên nhiều phương diện như: thu nhập thiếu do bị thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu những nhu cầu cơ bản hàng ngày của cuộc sống, thiếu tài sản để tiêu dùng lúc bất trắc xảy ra và dễ bị tổn thương trước những mất mát
Bản thân khái niệm nghèo cũng bao hàm các mức độ khác nhau, vì trong các nhóm dân cư có người thuộc nhóm nghèo nhưng chưa bị rơi vào tình trạng đói kém Mức nghèo còn là tình trạng đe dọa bị mất những phẩm chất quý giá,
đó là lòng tin và lòng tự trọng Do đó, với cách tiếp cận khác nhau về tình trạng thiếu thốn sẽ phân biệt ngưỡng nghèo khác nhau Thước đo các tiêu chuẩn về nghèo thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian
Ví dụ, Tổ chức Y tế Thế giới (world health organization: WHO) định nghĩa nghèo theo thu nhập Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm
ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia
Một cách tiếp cận khác về nghèo dựa trên tình trạng sống, trong đó lưu ý đến những khía cạnh khác ngoài thu nhập khi định nghĩa “nghèo con người”, thí
dụ như cơ hội đào tạo, mức sống, quyền tự quyết định, ổn định về luật lệ, khả năng ảnh hưởng đến những quyết định chính trị và nhiều khía cạnh khác Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc cũng đã đưa ra chỉ số phát triển con người (tiếng Anh: human development index–HDI) Các chỉ báo của HDI bao gồm tuổi thọ dự tính vào lúc mới sinh, tỷ lệ mù chữ, trình độ học vấn, sức mua thực trên đầu người và nhiều chỉ báo khác Trong “Báo cáo phát triển thế giới 2000” của Ngân hàng Thế giới (World Bank: WB) đã đưa ra bên cạnh các yếu tố quyết định khách quan cho sự nghèo là những yếu tố chủ quan như phẩm chất và tự trọng
Tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu á - Thái Bình Dương do Ủy ban kinh tế xã hội châu Á – Thái Bình Dương (Economic and Social
Trang 2Commission for Asia and the Pacific: ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan vào tháng 9/1993, các nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách lại cho rằng: ”Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương” Rõ ràng là nội hàm của khái niệm nghèo được thừa nhận ở đây đã có
sự mở rộng so với khái niệm của WHO, nó không chỉ đơn thuần là thu nhập mà được thể hiện ở giác độ rộng lớn hơn, đó là việc thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người bao gồm cả ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, chăm sóc sức khỏe… Hiện nay ở các nước khu vực châu Á và Việt Nam đều thống nhất thừa nhận khái niệm nghèo theo định nghĩa do ESCAP đưa ra Vì vậy, khái niệm nghèo sử dụng trong nghiên cứu này đựa hiểu theo nghĩa cụ thể trên
Để nghiên cứu về hiện tượng nghèo, người ta nhận diện chúng trên các khía cạnh: nghèo đói tuyệt đối, nghèo đói tương đối và nghèo đa chiều
- Nghèo tuyệt đối (Absolute Poverty)
Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 USD/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với sức mua của USD trên thế giới để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối Trên cơ sở chuẩn chung của WB, Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (1997) đã đưa ra các chuẩn nghèo tuyệt đối cho từng khu vực hay từng vùng lãnh thỏ trên thế giới như sau: 02 USD cho khu vực Mỹ La tinh và Carribean; 04 USD cho những nước Đông Âu và 14,40 USD cho những nước công nghiệp phát triển (G7)…Đối với Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đã 6 lần nâng mức chuẩn nghèo trong thời gian từ 1993 đến đầu năm 2016
Đến cuối năm 2015, nước ta đang áp dụng Chuẩn nghèo theo Chỉ thị số 1752/CT-TTg ngày 21-9-2010 của Thủ tướng Chính phủ cho giai đoạn 2011 –
2015, theo đó mức chuẩn nghèo và cận nghèo được xác định, những hộ có thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo (khu vực nông thôn), đối với khu vực thành thị hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân 500.000 đồng/người/tháng; Hộ cận nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng (khu vực nông thôn), đối với khu vực thành thị là từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng
Trang 3- Nghèo tương đối (Relative Poverty)
Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các điều kiện vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với các điều kiện được xem là sung túc của chính xã hội đó
Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan Bên cạnh sự thiếu thốn trong việc đảm bảo điều kiện vật chất, việc thiếu thốn các tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn đối với tình trạng nghèo tương đối Việc nghèo đi về văn hóa - xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính được các nhà xã hội học xem là một thách thức xã hội nghiêm trọng hiện nay
- Nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty)
Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để
tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn,
đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh”1
Chuẩn nghèo đa chiều có thể có thể có một chỉ số không liên quan đến mức thu nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (Oxfam và ActionAid, 2010: 11) Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index) của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y-tế, giáo dục và điều kiện sống, hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập
Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả với quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần
được chú ý nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ
1
PGS.TS Đặng Nguyên Anh (2015), “Nghèo đa chiều ở Việt Nam: Một số vấn đề chính sách và thực
tiễn” https://vass.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/KhoaHocCongNghe/View_Detail.aspx?ItemID=21#_ftn2
Trang 4bản của con người Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.
Ngày 19/11/2015, Thủ tưởng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg quy định tiêu chuẩn nghèo đa chiều áp dụng ở Việt Nam từ ngày 01/01/2016 cho giai đoạn 2016 – 2020 như sau:
+ Các tiêu chí về thu nhập: Chuẩn nghèo: 700.000 đ/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị Chuẩn cận nghèo: 1.000.000 đ/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị
+ Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng
đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin
1.1.2 Khái niệm sinh kế và sinh kế bền vững
a.Khái niệm sinh kế
“Sinh kế” là một khái niệm rộng bao gồm các phương tiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội và văn hóa mà các cá nhân, hộ gia đình, hoặc nhóm xã hội sở hữu có thể tạo ra thu nhập hoặc có thể được sử dụng, trao đổi để đáp ứng nhu cầu của họ.Tập hợp tất cả các nguồn lực và khả năng mà con người có được, kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như
để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ
Các nguồn lực mà con người có được bao gồm: (1) Vốn con người; (2) Vốn vật chất; (3) Vốn tự nhiên; (5) vốn tài chính; (6) Vốn xã hội, cụ thể:
- Vốn con người: Bao gồm sức mạnh thể lực, năng lực trí tuệ biểu hiện ở
kỹ năng, kiến thức làm kinh tế, khả năng quản lý gia đình của người dân Có thể người dân cố gắng làm việc siêng năng nhưng do sức khỏe không đảm bảo, năng lực hạn chế nên không có khả năng tạo ra thu nhập để đảm bảo cuộc sống do năng suất lao động thấp Đối với người nghèo, do đời sống khó khăn, cô lập với bên ngoài nên trình độ học vấn thường rất hạn chế Cụ thể:
• Tỷ lệ người sống phụ thuộc cao
• Trình độ học vấn thấp
Trang 5• Sức khoẻ không đảm bảo, hay bị ốm đau
• Năng lực quản lí thấp
• Quĩ thời gian lớn nhưng sử dụng không có có hiệu quả
• Phân công lao động chưa hợp lý, thiếu cân bằng về giới
- Vốn xã hội: Thể hiện thông qua các mối quan hệ xã hội có ý nghĩa trong
việc đảm bảo phần nào những điều kiện cần thiết cho cuộc sống của hộ gia đình Tình làng, nghĩa xóm được thể hiện thông qua việc thúc đẩy sự hợp tác trong sản xuất Việc phát huy hiệu quả vai trò của các tổ chức xã hội truyền thống cũng như các tổ chức đoàn thể xã hội hiện đại ngày nay là điều kiện quan trọng
để gia tăng nguồn vốn xã hội, phục vụ cho sinh kế của người dân Cụ thể:
• Các mạng lưới hỗ trợ từ bạn bè, họ hàng, láng giềng
• Cơ chế hợp tác trong sản xuất, mua bán sản phẩm, các nhóm tiết kiệm, tín dụng
• Các qui định, hành vi ứng xử của làng bản, khu phố…
• Mức độ gắn kết trong tín ngưỡng của làng bản, khu phố, cộng đồng
• Cơ hội tham gia ý kiến với các cơ quan, tổ chức ở địa phương của các thành viên trong cộng đồng
• Cơ chế hoà giải mâu thuẫn trong địa phương
- Vốn tự nhiên: Khả năng cung ứng quỹ đất sản xuất, sông biển ao hồ có
thể sử dụng để sản xuất của hộ gia đình cũng như cộng đồng cùng với điều kiện thuận lợi hay khó khăn của việc khai thác các nguồn lực ấy là nguồn vốn tự nhiên Cụ thể:
• Các nguồn lực đất đai của hộ gia đình
• Nguồn lực rừng, biển, cảnh vật thiên nhiên
• Các nguồn giống cây, con từ tự nhiên
• Bãi chăn thả gia súc và nguồn thức ăn cho gia súc
• Hệ thống mặt nước tiềm năng dùng cho nước sinh hoạt, thuỷ lợi, nuôi trồng thủy bản, đánh bắt cá tôm cũng như các lợi ích khác
- Vốn tài chính: Vốn tài chính được thể hiện bằng khả năng tạo ra dòng
tiền cho hộ gia đình Nguồn tiền đó thường có được do tiết kiệm, đi làm thuê, bán sản phẩm hoặc từ các hỗ trợ của chính phủ, của các tổ chức xã hội khác Ngoài ra, việc tiếp cận được các nguồn vốn vay của các hộ nghèo là điều kiện rất quan trọng để đảm bảo nguồn vốn tài chính cho họ
Trang 6- Vốn vật chất: Thể hiện ở các tài sản vật chất đảm bảo cho cuộc sống, sinh
hoạt cũng như làm ăn của người dân như hệ thống đường sá, điện nước, chợ búa, trường học, thông tin liên lạc cùng các tài sản sinh hoạt như tivi, xe máy và các vật dụng cần thiết khác trong gia đình như giường, tủ, bàn được xem là nguồn vốn vật chất Tuy nhiên, đối với các hộ nghèo, những vật dụng này vẫn đang là đồ xa xỉ
đình đó là: “Một sinh kế bền vững có thể đối phó với những rủi ro và những cú
sốc, duy trì và tăng cường khả năng và tài sản; đồng thời cung cấp các cơ hội sinh
kế bền vững cho thế hệ sau góp phần tạo ra lợi ích cho cộng đồng, địa phương
và toàn cầu và trong ngắn hạn và dài hạn Sinh kế bền vững cung cấp một phương pháp tiếp cận tích hợp chặt chẽ hơn với vấn đề nghèo đói”
Theo các tác giả trên, sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội Sinh kế bền vững khi
nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai
Nội hàm của sinh kế bền vững, đồng thời cũng là tiêu chí quan trọng nhất cần hướng đến của sinh kế bền vững là giải quyết các yêu cầu sau đây:
• Sinh kế của cá nhân, gia đình hoặc cộng đồng phải có khả năng tạo ra thu nhập, của cải đáp ứng nhu cầu cuộc sống ngày càng tốt hơn cho con người trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn
• Sinh kế của cá nhân, hộ gia đình hay cộng đồng phải có khả năng giúp con người vượt qua những biến động trong cuộc sống do thiên tai, dịch bệnh, hoặc khủng hoảng kinh tế gây ra
Trang 7• Sinh kế của cá nhân, gia đình hoặc cộng đồng phải có khả năng phát triển hơn nguồn tài sản hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến nguồn tài nguyên thiên nhiên trong tương lai.
1.1.3.Những đặc điểm sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số
a Khái niệm dân tộc thiểu số
Dân tộc thiểu số (DTTS) là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay Đó là khái niệm được dùng để chỉ các nhóm người
có những sự khác biệt về một phương diện nào đó với cộng đồng người chung trong xã hội Họ có thể khác biệt với nhóm người đa số về phương diện ngôn ngữ và văn hoá; khác biệt về nhận thức và tôn giáo, về hoàn cảnh kinh tế, điều kiện sống và thu nhập v.v và đi kèm theo đó là sự khác biệt về phương thức ứng xử của cộng đồng đối với chính họ
Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít Trong một số trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa “dân tộc thiểu số” với “dân tộc lạc hậu”, “dân tộc chậm tiến”, “dân tộc kém phát triển”, “dân tộc chậm phát triển”… Tuy nhiên, theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì khái niệm “dân tộc thiểu số” không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc
Ở nước ta hiện nay, khái niệm DTTS được sử dụng chính thức trong các
tài liệu chính thức của Nhà nước đó là: “Những dân tộc có số dân ít hơn so với
dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”2 Đây là khái niệm chính thức được sử dụng trong nghiên cứu này
b.Đặc điểm sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên
Do có dân số ít, phân bố khu vực cư trú của các cộng đồng DTTS Tây Nguyên khá biệt lập với cộng đồng người Kinh, trình độ sản xuất và trình độ văn hóa của các DTTS có nhiều nét đặc thù, điều này đã làm cho hoạt động sinh
kế của đồng bào DTTS có một số đặc điểm sau:
- Hoạt động sinh kế lệ thuộc vào tự nhiên, chưa quen với sản xuất kinh tế hàng hóa Do đặc điểm sống của đồng bào DTTS là cố kết cộng đồng, gắn với những luật tục theo kiểu bộ tộc, khép kín Hoạt động sinh kế chính của họ là sản xuất nông nghiệp truyền thống tự cấp tụ túc gắn với tự nhiên với trình độ sản xuất rất thấp Việc sản xuất chỉ để đáp ứng cho nhu cầu cuộc sống đơn giản
2 Nghị định số: 05/2011/NĐ-CP
Trang 8hàng ngày của gia đình, không có ý thức sản xuất để bán do đó trình độ tiếp cận với kinh tế thị trường vẫn còn rất thấp.
- Cách tổ chức sản xuất lệ thuộc nhiều vào thiết chế tự quản: buôn làng của đồng bào DTTS Tây Nguyên thường là những đơn vị cơ sở xã hội duy nhất và cao nhất, gắn liền vơi nơi cư trú và nơi canh tác Do đó, hoạt động sinh kế truyền thống của đồng bào DTTS thường gắn chặt với thiết chế buôn, làng đó, hầu như ít có hoạt động sinh kế truyền thống vượt ra khỏi khuôn khổ này
- Hoạt động sinh kế phụ thuộc nhiều vào các luật tục: Đây là một dạng thức văn hóa pháp luật có tính lịch sử nhất định nhưng cho đến nay vẫn còn giá trị, nó thấm đẫm trong mọi hành xử của cả cộng đồng của đồng bào DTTS Tây Nguyên Trong xã hội cổ truyền thì luật tục có hiệu lực như một sức mạnh để chế ước xã hội Mọi hoạt động sinh kế của người dân như trồng tỉa, chăn nuôi, săn bắt… đều phải tuân thủ nghiêm ngặt các luật tục đó
- Tập quán du canh, du cư: Mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực của Chính phủ trong việc định canh, định cư cho đồng bào DTTS Tuy nhiên thực tế hiện nay vẫn chưa hoàn toàn xóa bỏ tập quán này của đồng bào ở Đắk Nông, đặc biệt là ở những vùng xa trung tâm Việc du canh dẫn đến mỗi hộ gia đình chiếm hữu một
số lượng lớn đất đai, nhưng do thiếu đầu tư thâm canh nên năng suất canh tác thấp, không tạo ra đủ thu nhập để đảm bảo cuộc sống
- Vai trò của người già và phụ nữ trong các quyết định sinh kế: Các DTTS Tây Nguyên có đặc điểm là coi trọng kinh nghiệm nên vai trò người già rất được tôn trọng Hầu hết mọi quyết định quan trọng trong cuộc sống và sinh kế đều phải tham khảo ý kiến của người già Điều này rất quan trọng trong hoạt động sinh kế truyền thống của xã hội cộng đồng nguyên thủy, tự túc tự cấp gắn với tự nhiên vì nó giúp loại bỏ các rủi ro thường có tính quy luật đã được cộng đồng rút tỉa thông qua quá trình sống Mặt khác, các cộng đồng dân tộc thiểu số hiện nay vẫn còn theo chế độ mẫu hệ, do đó vai trò quyết định của người phụ nữ trong các hoạt động sinh kế là rất lớn Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập hiện nay, các giá trị truyền thống trên đang có chiều hướng suy giảm vì không còn thích hợp…
- Hiện nay đang xuất hiện tư tưởng ỷ lại vì các cộng đồng DTTS nằm trong nhóm các đối tượng dễ bị tổn thương của xã hội, đây là đối tượng để Nhà nước, cộng đồng quan tâm đầu tiên trong công tác an sinh xã hội Tuy nhiên do trình độ văn hóa thấp, khả năng thực hiện các giải pháp sinh kế kém hiệu quả
Trang 9nên chính quyền thường sử dụng các biện pháp khẩn cấp để hỗ trợ Điều này làm cho người dân có thói quen chờ nhận hỗ trợ, có tư tưởng ỷ lại , giảm động lực phấn đầu tự vươn lên…
1.1.4.Yêu cầu của sinh kế bền vững đối với hộ gia đình dân tộc thiểu số
a Phải gắn kết được lịch sử, truyền thống kinh tế, văn hoá
Tính ổn định, bền vững của sinh kế của đồng bào DTTS phải được đánh giá thông qua việc sinh kế đó có giúp gắn kết được lịch sử truyền thống kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán của người dân và cộng đồng dân tộc bản địa hay không
Sự gắn kết với văn hóa, lịch sử là chất keo kết nối người dân với nhau và đã thể hiện sự vững chắc qua nhiều thế hệ trong suốt quá trình lịch sử Chính nó là một nhân tố để duy trì tính ổn định của xã hội, tiền đề cho việc ổn định về kinh tế Tất nhiên, điều này không có nghĩa là bảo thủ, chỉ nhăm nhăm giữ lấy những truyền thống cũ vốn đã lạc hậu, nhiều khi là nguyên nhân dẫn đến nghèo đói Nhưng nếu chỉ quan tâm đến sự cách tân, sự đổi mới mà tiến hành thay đổi toàn diện các truyền thống văn hóa, lịch sử cũng sẽ dẫn đến người dân nghèo, vốn dĩ khả năng thích ứng kém có thể bị sốc, làm tổn hại bến tính bền vững của sinh kế
b Kết nối được với hoạt động kinh tế của cộng đồng
Việc khu trú hóa, cục bộ hóa trong kinh tế theo hướng tự cấp, tự túc mặc
dù là cách tốt để bảo đảm sinh kế ổn định cho người nghèo, ngăn chặn các tác động tiêu cực từ bên ngoài Tuy nhiên, cách tiếp cận này chỉ đúng trong điều kiện nền kinh tế nguyên thủy, khi nhu cầu cho cuộc sống không cao, khi nguồn tài nguyên thiên nhiên còn phong phú và không bị cạnh tranh Ngược lại, trong điều kiện nền kinh tế thị trường dưới tác động của toàn cầu hóa hiện nay thì việc
ổn định sinh kế của người dân nghèo cần phải được đánh giá qua khả năng kết nối thành công của nó với hoạt động kinh tế của cộng đồng Chính điều này giúp cho người nghèo nhận được hơi ấm của cộng đồng, nhận được lợi ích từ sức mạnh cộng đồng, giảm được rủi ro bất trắc đồng thời rèn luyện, học tập được từ kinh nghiệm của người khác Sự khác biệt hóa là tốt, tuy nhiên nó có vẻ không phải là lựa chọn tốt cho mục tiêu sinh kế bền vững
c.Phải thích ứng với điều kiện trình độ của người nghèo
Như đã phân tích ở phần trên, có nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo, trong đó
có nhiều lý do nội tại của chính hộ gia đình đó là do thiếu nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, thiếu kiến thức, thiếu sự hỗ trợ của cộng đồng Vì vậy, một
mô hình sinh kế bền vững cho người nghèo cần phải tương thích với những điều
Trang 10kiện cụ thể đó Cùng với sự quan tâm của cộng đồng, của chính phủ, các nguồn lực sinh kế của hộ gia đình có khả năng được cải thiện theo thời gian Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất thường gặp phải của hộ nghèo là thiếu kiến thức nên việc khắc phục nhược điểm này đòi hỏi rất lâu dài và khó khăn Vì vậy, một mô hình sinh kế tốt đối với hộ nghèo là phải có khả năng thích ứng với trình độ, năng lực thực tế của
họ Có như vậy, họ mới có thể làm chủ được sinh kế, mới có thể phát huy được các nguồn lực để đảm bảo sinh kế bền vững cho gia đình Kinh nghiệm cho thấy, rất nhiều mô hình sinh kế rất thành công ở các nơi, song khi áp dụng cho người nghèo thì lại không thành công chính là vì không đáp ứng được điều kiện này
d.Phải cho phép phát huy được các nguồn lực tại chỗ
Sinh kế bền vững gắn liền với cuộc mưu sinh của người dân qua nhiều thế
hệ, nó chỉ có thể được duy trì sự ổn định lâu dài nều nó cho phép khai thác và phát huy được các nguồn lực tại chỗ (lao động, đất đai, nguồn tài nguyên thiên nhiên ) để tạo ra nguồn thu nhập cho người dân Nếu việc xây dựng sinh kế chỉ hoàn toàn dựa vào các nguồn lực ngoại tác thì việc ổn định đời sống lâu dài cho người dân chắc chắn rất khó Bởi vì khi các nguồn lực bên ngoài không còn được duy trì thì sự thịnh vượng cũng biến mất và khi đó người nghèo lại hoàn người nghèo Kinh nghiệm của người dân tại một số địa phương ở Đồng bằng Sông Cửu Long cho Trung Quốc thuê đất trồng khoai lang trong các năm qua là một ví dụ điển hình cho việc này Sinh kế bền vững phải cho phép phát triển hơn nguồn tài sản hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên
e Phải tạo được nguồn sống đều đặn, ổn định cho hộ gia đình
Sinh kế hiểu theo nghĩa hẹp là kế sinh nhai của người dân, do đó một mô
hình sinh kế tốt trước hết phải là một mô hình mà từ hoạt động của nó có thể tạo
ra được các của cải có tính liên tục, đáp ứng được yêu cầu cuộc sống bình thường của mọi thành viên trong hộ gia đình Điều quan trọng nhất của mô hình sinh kế bền vững cho hộ nghèo là nó giúp cho họ thoát ra được tình trạng nghèo đói hiện tại thông qua việc tạo ra và duy trì được dòng chảy của cải liên tục, đáp ứng yêu cầu cuộc sống trên mức nghèo đói của họ Nói cách khác, một mô hình sinh kế bền vững đối với hộ gia đình nghèo phải có khả năng tạo ra được nguồn thu nhập đều đặn có khả năng duy trì được cuộc sống cho các thành viên của gia đình suốt trong cả năm Vì vậy, khi đánh giá một mô hình sinh kế phù hợp hay không trước hết ta phải xem xét khả năng này của mô hình
Trang 11f.Phải có khả năng chống chọi được với các “cú sốc” bất lợi từ môi trường
Muốn cấu trúc xã hội ổn định, bền vững thì trước hết cấu trúc của mỗi gia đình (tế bào của xã hội) cũng phải có được thuộc tính đó Trong cấu trúc hộ gia đình, cấu trúc kinh tế đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc duy trì tính ổn định của nó Mô hình sinh kế quyết định cấu trúc kinh tế vì nó bao hàm các nguồn lực kinh tế và năng lực dòng chảy của cải của hộ gia đình đó Trong điều kiện nền kinh tế luôn chịu sự tác động của rất nhiều biến số ảnh hưởng bên ngoài khó kiểm soát dẫn đến xuất hiện các cú sốc bất lợi từ môi trường như thiên tai, dịch bệnh, biến động của thị trường làm cho hoạt động sinh kế của gia đình bị ảnh hưởng tiêu cực Một mô hình sinh kế tốt phải là một mô hình sinh kế có khả năng chống chịu trước các cú sốc đó Tức là vẫn có khả năng tạo
ra được thu nhập hoặc huy động từ các nguồn bù đắp khác để duy trì cuộc sống của gia đình trong những khoảng thời gian nhất định
g Phải gắn kết được với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng chung của đất nước
Kinh tế của hộ gia đình muốn bền vững thường phải có khả năng thích ứng với sự thay đổi của nền kinh tế nói chung Sự thích ứng này có thể thuận chiều hay nghịch chiều Tuy nhiên, nều một người dân không có được khả năng thích ứng này, tức là không gắn kết được với xu hướng phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương và đất nước thì chắc chắn nó sẽ gặp rất nhiều rủi ro vì không được hưởng lợi từ các chính sách của Nhà nước, một điều kiện rất cần thiết để ổn định sinh kế cho người nghèo Ngược lại, sinh kế cho người nghèo mà không gắn với yêu cầu chung của phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương thì nhà nước cũng rất khó để hỗ trợ vì không thể xây dựng chính sách riêng cho một vài cá nhân
1.1.5.Vai trò của hoạt động sinh kế bền vững trong xóa đói giảm nghèo
a.Đảm bảo nguồn sống cho hộ gia đình
Sinh kế hiểu theo nghĩa hẹp là kế sinh nhai của người dân, do đó một mô
hình sinh kế tốt trước hết phải là một mô hình mà từ hoạt động của nó có thể tạo
ra được các của cải có tính liên tục, đáp ứng được yêu cầu cuộc sống bình thường của mọi thành viên trong hộ gia đình Điều quan trọng nhất của mô hình sinh kế bền vững cho hộ nghèo là nó giúp cho họ thoát ra được tình trạng nghèo đói hiện tại thông qua việc tạo ra và duy trì được dòng chảy của cải liên tục, đáp ứng yêu cầu cuộc sống trên mức nghèo đói của họ Vì vậy, khi một mô hình sinh
Trang 12kế phù hợp sẽ đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo xóa nghèo bền vững cho người dân
b.Giúp người nghèo nâng cao khả năng chống chọi được với các “cú sốc” bất lợi từ môi trường
Muốn cấu trúc xã hội ổn định, bền vững thì trước hết cấu trúc của mỗi gia đình (tế bào của xã hội) cũng phải có được thuộc tính đó Trong cấu trúc hộ gia đình, cấu trúc kinh tế đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc duy trì tính ổn định chung Mô hình sinh kế quyết định cấu trúc kinh tế vì nó bao hàm các nguồn lực kinh tế và năng lực tạo ra dòng chảy của cải của hộ gia đình đó Trong điều kiện nền kinh tế luôn chịu sự tác động của rất nhiều biến số ảnh hưởng bên ngoài khó kiểm soát dẫn đến xuất hiện các cú sốc bất lợi từ môi trường như thiên tai, dịch bệnh, biến động của thị trường làm cho hoạt động sinh kế của gia đình bị ảnh hưởng tiêu cực Mô hình sinh kế bền vững là công cụ giúp cho người nghèo chống lại các cú sốc đó Nó đảm bảo tạo ra được thu nhập hoặc huy động từ các nguồn bù đắp khác để duy trì cuộc sống của gia đình trong những khoảng thời gian gặp khó khăn
c.Sinh kế bền vững giúp người nghèo khai thác tốt nhất các nguồn lực hiện
có để tạo ra thu nhập
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo, trong đó lý do quan trọng là thiếu nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, thiếu kiến thức, thiếu sự nỗ lực vươn lên Vì vậy, một mô hình sinh kế bền vững cho người nghèo cần phải tương thích với các điều kiện cụ thể đó Cùng với sự quan tâm của cộng đồng, của chính phủ, các nguồn lực sinh kế của hộ gia đình có khả năng được cải thiện theo thời gian Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất thường gặp phải của người DTTS là thiếu kiến thức nên việc khắc phục nhược điểm này đòi hỏi rất lâu dài và khó khăn Do đó, một mô hình sinh kế tốt sẽ tạo ra khả năng giúp hộ nghèo thích ứng tốt hơn với trình độ, năng lực thực tế của người chủ gia đình và các thành viên Nhờ đó, giúp cho họ làm chủ được sinh kế, phát huy được các nguồn lực
để đảm bảo nguồn sống ổn định cho gia đình Kinh nghiệm cho thấy, rất nhiều
mô hình sinh kế rất thành công ở các nơi, song khi áp dụng cho người nghèo thì lại không thành công chính là vì không phát huy được vai trò này
d.Giúp khai thác được các nguồn lực hỗ trợ của xã hội
Giải quyết vấn đề đói nghèo ở Việt Nam là trách nhiệm, là nghĩa vụ của cả cộng đồng chứ không chỉ riêng của người nghèo Tuy nhiên, việc huy động
Trang 13nguồn lực của cộng đồng sẽ rất khó nếu họ không biết được nguồn lực mà họ đóng góp sẽ được sử dụng vào việc gì? Việc sử dụng liệu có hiệu quả hay không? Lúc này việc xây dựng được các mô hình sinh kế bền vững cho người nghèo sẽ là minh chứng quan trọng cho tính hiệu quả mà những nỗ lực của cộng đồng nên hướng đến Vì vậy, việc xây dựng mô hình sinh kế bền vững có vai trò trong việc định hướng và tập hợp các nguồn lực xã hội để thực hiện mục tiêu xóa đói nghèo cho người dân.
e.Giúp Nhà nước hoạch định các chính sách hỗ trợ hợp lý
Nhà nước, với tư cách là người bảo trợ xã hội Là người giữ trọng trách quan trọng nhất trong sứ mệnh xóa đói giảm nghèo, trong sứ mệnh đảm bảo công bằng xã hội với công cụ mạnh mẽ đó là chi ngân sách Tuy nhiên, ngân sách mặc dù to lớn nhưng không phải là vô đáy, hơn nữa nó là tiền của nhân dân nên việc sử dụng nó phải được giám sát chặt chẽ Mô hình sinh kế bền vững cho người nghèo sẽ giúp Chính phủ thuận lợi trong việc triển khai các chính sách hỗ trợ người nghèo có hiệu quả theo nguyên tắc “cung cấp cần câu, không cung cấp cá” nhằm gắn trách nhiệm của người nghèo với sự nỗ lực của xã hội
1.2.CẤU TRÚC CÁC MÔ HÌNH SINH KẾ BỀN VỮNG CỦA CÁC
HỘ GIA ĐÌNH NGHÈO
1.2.1 Cấu trúc sinh kế hộ nghèo theo cách tiếp cận của CARE
Từ năm 1994, CARE đã sử dụng hệ thống “Bảo đảm sinh kế hộ gia đình”
(Household Livelihood Security) như một khuôn khổ để phân tích, thiết kế, quản
lý và đánh giá chương trình
Khái niệm “Bảo đảm sinh kế hộ gia đình” kế thừa khái niệm cổ điển về sinh
kế của Chambers và Conway (1992), bao gồm 03 đặc trưng cơ bản: (1) khả năng của con người (như giáo dục, kỹ năng, sức khỏe, định hướng tâm lý), (2) khả năng tiếp cận đến các tài sản hữu hình và vô hình, và (3) sự tồn tại của các hoạt động kinh tế Sự tác động qua lại giữa 03 đặc trưng này sẽ xác định chiến lược sinh kế mà hộ gia đình sẽ theo đuổi
CARE cũng đã đặc biệt nhấn mạnh đến việc tăng cường năng lực của người nghèo nhằm thúc đẩy họ có thể thực hiện các sáng kiến và đảm bảo sinh kế của riêng mình; và do đó nhấn mạnh đến việc trao quyền như là một khía cạnh cơ bản trong cách tiếp cận sinh kế bền vững của CARE (xem Hình 1.1)
Trang 14Hình 1.1 Mô hình sinh kế bền vững của CARE
Nguồn: CARE
1.2.2 Cấu trúc sinh kế hộ nghèo theo cách tiếp cận của UNDP
Tiếp cận sinh kế bền vững của UNDP là một khung chương trình nhằm đưa ra tập hợp các hoạt động được lồng ghép với nhau để cải thiện sự bền vững của sinh kế cho nhóm người nghèo và dễ bị tổn thương trong xã hội thông qua việc tăng cường khả năng ứng phó, phục hồi và chiến lược thích ứng của họ (xem Hình 1.2)
Hình 1.2 Cách tiếp cận sinh kế bền vững của UNDP
Nguồn: Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP)
Tài sản Xã hội (Nhu cầu và Tiếp cận)
Nguồn vốn kinh tế (Dự trữ và nguồn lực)
Các hoạt động
sx và thu nhập
Các hoạt động tiêu dùng
Hộ gia đình
Các hoạt động chế biến và trao đổi
Sự an toàn của cá nhân
Các khả năng sinh kế
Các khả năng
sinh kế
Các khả năng sinh kế Sinh kế
CON NGƯỜI
Trang 15Mặc dù nguyên tắc này nhấn mạnh đến việc ứng dụng các công nghệ cải tiến cũng như tăng cường đầu tư cho kinh tế và xã hội Các vấn đề về chính sách
và quản lý có ảnh hưởng đến sinh kế cũng phải được giải quyết Các hoạt động
hỗ trợ khác nhau được tổ chức và thực hiện ở cấp quận, huyện, hệ thống các cơ sở ở cấp cộng đồng và hộ gia đình
1.2.3 Cấu trúc sinh kế hộ nghèo theo cách tiếp cận của DFID
Năm 1997, DFID đưa ra khái niệm sinh kế dựa trên việc phát triển khái niệm sinh kế của IDS: Sinh kế bao gồm khả năng, tài sản (kể cả nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội), và các hoạt động cần thiết cho cuộc sống Một sinh kế được xem
là bền vững khi nó có thể đối phó và tự hồi phục trước những cú sốc hay khủng hoảng và có khả năng duy trì hay tăng cường khả năng kinh tế và tài sản trong hiện tại cũng như tương lai mà không làm suy giảm các nguồn lực tự nhiên
Hình 1.3 Khung sinh kế bền vững của DFID
Nguồn: Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID)
Cách tiếp cận sinh kế bền vững của DFID với mục đích nhằm tăng cường tính hiệu quả của các tổ chức trong giảm nghèo theo 02 cách sau:
Thứ nhất, là thông qua cách lồng ghép, tập hợp các nguyên tắc cốt lõi nhằm
xác định hoạt động phát triển tập trung vào đối tượng nghèo nên được thực hiện
Bối cảnh gây tổn
thương
- Các cú sốc
- Tính thời vụ
- Xu hướng chính
Tài sản sinh kế
Nhân lực
Tài nguyên
Tài chính Vật chất
Đầu ra sinh kế
- Tăng thu nhập
- Cải thiện phúc lợi
- Giảm tình trạng dễ bị tổn thương
- Cải thiện an ninh lương thực-thực phẩm
- Sử dụng tài nguyên bền vững
Chiến lược sinh kế
Trang 16bằng cách lấy con người làm trung tâm, có sự tham gia và phản hồi liên quan đến nhiều cấp, được tiến hành một cách hợp tác, bền vững và năng động
Thứ hai, cần phải sử dụng quan điểm tổng thể trong việc đưa ra các chương
trình hành động hỗ trợ nhằm đảm bảo rằng những hoạt động này phù hợp với các vấn đề hay các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến cải thiện sinh kế cho người nghèo Yếu tố trọng tâm trong cách tiếp cận sinh kế bền vững của DFID là khung sinh kế bền vững - một cấu trúc phân tích tạo thuận lợi cho sự hiểu biết sâu rộng
và có hệ thống đối với các nhân tố khác nhau mà nó hạn chế hoặc thúc đẩy các cơ hội sinh kế và chỉ ra mối quan hệ giữa các nhân tố này (xem Hình 1.3)
- Khả năng dễ bị tổn thương: Khung hoàn cảnh gây ra tình trạng dễ bị tổn
thương là sự thay đổi của môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến sinh kế và các tài sản sẵn có của người nghèo, bởi những xu hướng, sự thay đổi đột ngột hoặc tính mùa vụ mà người nghèo có thể hạn chế được hoặc không thể nào kiểm soát được (xem Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Các yếu tố, hoàn cảnh gây ra tình trạng dễ bị tổn thương
Xung đột
Giá cả
Sản xuất Chăm sóc y tế
Cơ hội việc làm
- Tài sản kế bao gồm: Vốn tài nguyên (đất đai, nguồn nước và thủy sản,
rừng và lâm sản, sự đa dạng sinh học); Vốn nhân lực (sức khỏe, dinh dưỡng, kiến thức và kỹ năng, khả năng làm việc và khả năng thích ứng); Vốn tài chính (tiết kiệm, tín dụng, tiền lương, tiền chuyển); Vốn vật chất (cơ sở hạ tầng, công cụ, dụng cụ, công nghệ sản xuất); Vốn xã hội (hệ thống mạng lưới và quan hệ xã hội, sự tin cậy, hỗ trợ và thấu hiểu lẫn nhau, các nhóm chính thức và phi chính thức, các giá trị và hành vi được chia sẻ, các phong tục và qui tắc chung, cơ chế tham gia vào quá trình quyết định)
- Chiến lược sinh kế: Các kế hoạch hoạt động, sản xuất - kinh doanh dài hạn
của cộng đồng để kiếm sống Nó thể hiện sự đa dạng và kết hợp nhiều hoạt động
và lựa chọn mà con người tiến hành nhằm đạt được mục tiêu sinh kế của mình
Trang 17- Kết quả sinh kế: Là những thay đổi có lợi cho sinh kế của người dân,
cộng đồng, nhờ các chiến lược sinh kế mang lại, cụ thể là thu nhập cao hơn, cuộc sống ổn định hơn, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn an toàn thực phẩm, và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên
1.2.4 Khung sinh kế bền vững của IFAD
Trên cơ sở khung phân tích sinh kế bền vững được giới thiệu của DFID,
Quỹ phát triển nông nghiệp Liên hiệp quốc (IFAD: International Fund for
Agricultural Development) đã phát triển sơ đồ mới về phân tích sinh kế Trong
quá trình phân tích, những người tham gia phát hiện ra rằng cách xây dựng khung logic vô cùng quan trọng: bắt đầu bằng chính người nghèo và các nguồn vốn sinh kế của họ là điều cần thiết khi họ tham gia vào việc phân tích lấy “con người làm trung tâm” Tuy nhiên, cách xây dựng khung sinh kế bền vững ban đầu không đưa ra cách tiếp cận này Bản thân người nghèo có xu hướng dễ bị mất 05 nguồn sinh kế trong đời sống; mặt khác, khi nhìn vào khung phân tích, người tham gia nhiều khi tập trung quá vào các tài sản và các yếu tố khác hơn là bản thân những người nghèo Do chưa đặt người nghèo làm trung tâm của khung sinh kế, các yếu tố quan trọng trong sinh kế của họ, chẳng hạn như nguyện vọng của họ; những cơ hội để họ nhận thức sự thay đổi…cũng là một yếu tố tiềm ẩn quan trọng nhằm xác định các lĩnh vực để can thiệp và thay đổi
Đó là một trong những vấn đề mà những người tham gia nhận thấy từ khung sinh kế bền vững cũ IFAD đã nỗ lực phát triển và kết hợp một số thay đổi so với khung sinh kế bền vững của DFID, cụ thể như sau:
- Ít “tuần tự” hơn: Sự sắp xếp hàng ngang trong khung sinh kế bền vững
DFID tạo ra sự liên tiếp tuần tự và làm cho mối liên kết quan trọng giữa các yếu
tố trong khung sinh kế ít rõ ràng, khó thể hiện được tầm quan trọng cũng như mức độ tác động khác nhau của các yếu tố Bằng cách sắp xếp lại các yếu tố trong khung phân tích, mối quan hệ giữa chúng trở nên rõ ràng hơn
- Đặt người nghèo làm trung tâm: Mặc dù việc tiếp cận sinh kế bền vững
phần lớn được phát triển như là một công cụ để hỗ trợ cộng đồng đạt các mục tiêu xóa nghèo đói thiên niên kỉ Tuy nhiên sự thất bại của khung sinh kế này được thừa nhận đó là nó nhấn mạnh đến nguồn lực hơn đến con người Khung sinh kế mới cố gắng giải quyết điều này bằng việc đặt người nghèo làm trung tâm của sơ đồ và sắp xếp các yếu tố khác trong khuôn khổ mối quan hệ với họ
Trang 18- Nhấn mạnh yếu tố đời sống tinh thần trong sinh kế: Trong quá trình tiếp
xúc và nghiên cứu, người ta nhận thấy rằng các nguồn vốn sinh kế không chỉ là những yếu tố nhìn thấy được mà còn chịu tác động nhiều bởi đời sống tinh thần của người dân Điều này mang tầm quan trọng thiết yếu và ảnh hưởng tới mong muốn và hành động của họ như một thứ tài sản về “tôn giáo” hay “tinh thần” Các yếu tố như giới tính, tuổi tác, đẳng cấp, trình độ, dân tộc, tôn giáo được đặt cạnh trung tâm là người nghèo như những yếu tố ảnh hưởng tới quan hệ của người nghèo các yếu tố khác trong khung sinh kế
- Kết hợp nguồn vốn cá nhân: Yếu tố “cá nhân” được bổ sung vào trong
các nguồn vốn sinh kế của khung sinh kế bền vững Điều này cho thấy rằng đây
là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn sinh kế của cá nhân và gia đình Nó được thiết kế nhằm nhấn mạnh nội lực của người dân thúc đẩy đến những hành động và sự thay đổi sinh kế
- Các yếu tố như chính sách thể chế, văn hóa, thị trường: Các yếu tố
này được đặt như những yếu tố có tác động qua lại với yếu tố trung tâm là người nghèo và các nguồn vốn sinh kế Quy trình này phân biệt giữa “những người có thẩm quyền”, “các nhà cung cấp dịch vụ” và “những người sử dụng”, xem xét mối quan hệ nào tồn tại giữa các nhóm khác nhau và những yếu tố ảnh hưởng nào đến những mối quan hệ đó nhằm giúp người tham gia đánh giá hiểu rõ những phức tạp xung quanh các chính sách và các tổ chức và nhận ra những gì
mà họ đang cần Mô hình này tập trung vào vai trò tổ chức, và các mối quan hệ giữa các tổ chức khác nhau và người nghèo
Trong mô hình này, nhân tố thị trường được đề cập đến vì tầm quan trọng của nó trong việc chỉ ra cách thức mà người nghèo chuyển đổi các nguồn lực họ định bỏ qua vào các tài sản sinh kế Sự tham gia của các thể chế thị trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xác định các cơ hội đối với chiến lược sinh
kế mà người nghèo tạo ra, mức độ mà họ có khả năng thực hiện
Văn hóa cũng là một yếu tố được nhấn mạnh trong mô hình Văn hóa bao gồm một loạt các “quy tắc của trò chơi”, chuẩn mực xã hội và văn hóa có khả năng ảnh hưởng mạnh mẽ đến cách người nghèo có thể tiếp xúc với các tổ chức
có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ
Trang 19Quyền để người nghèo được lựa chọn người đại diện là rất quan trọng, nó được thực hiện tùy thuộc môi trường thể chế gắn với một cấu trúc chính trị và xã hội của một quốc gia cụ thể
Tất cả các ảnh hưởng này có thể gây khó khăn cho bản thân người nghèo
để thực hiện các hoạt động, nhưng chúng không phải là bất biến và cần phải được phân biệt với những yếu tố đại diện cho bối cảnh “dễ bị tổn thương”, đó là khó khăn hoặc là không thể để thay đổi và phải được “đối phó” để thay thế
Khung phân tích sinh kế bền vững mới được IFAD đưa ra với đầy đủ các yếu tố hơn và thể hiện chặt chẽ hơn mối quan hệ của các yếu tố trong đó lấy người nghèo làm trung tâm
Hạn chế của IFAD đó là cách tiếp cận này định hướng thực hành, nó hướng vào nhận thức và thay đổi hành vi của hộ nghèo, song rất khó để có thể
đo lường, lượng hóa được các yếu tố liên quan đến quy tắc, chuẩn mực vốn có tính chất ước định rất cao, khó áp dụng để nghiên cứu khoa học
Vì vậy, trên cơ sở phân tích, đánh giá ưu, nhược điểm của các cách tiếp cận về sinh kế khác nhau, trong nghiên cứu này tác giả lựa chọn khung phân tích của DFID có điều chỉnh một số nội dung theo IFAD như bổ sung vào khung phân tích các yếu tố: tinh thần, văn hóa, chính sách thể chế, thị trường… cho phù hợp với đặc điểm nghiên cứu của đề tài khoa học Để khắc phục hạn chế của khung logic trong cách tiếp cận của DFID, khi xây dựng khung phân tích và triển khai các mô hình sinh kế trong nghiên cứu, tác giả đã tiến hành khảo sát ý kiến của người dân và cũng đã xây dựng quy trình thực hiện dựa vào cộng đồng
1.3.CÁC YẾU TỔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔ HÌNH SINH KẾ CỦA
HỘ GIA ĐÌNH ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.3.1 Khả năng nhận thức và kiểm soát sự thay đổi của môi trường sinh kế
Môi trường sinh kế có vai trò quan trọng vì nó tác động trực tiếp lên tài sản và những lựa chọn của người dân trong việc mưu cầu về lợi ích đầu ra của sinh kế Cụ thể:
Những cú sốc từ môi trường có thể phá hủy tài sản một cách trực tiếp, nó còn có thể buộc mọi người phải từ bỏ tài sản và cả nơi sinh sống của mình Ví
dụ như người dân bị chính quyền thu hồi đất để xây dựng các đập thủy điện, để
Trang 20xây dựng các khu cụm công nghiệp, để phát triển đô thị và nhiều lý do khác Ngoài ra, nó cũng có thể là do các nguyên nhân khác như nạn lở đất, sụt lún đất… dẫn đến việc người dân không thể sinh sống ở nơi cũ Những tác động trên
đã tạo ra các cú sốc khiến gia đình họ phải di dời đi nơi khác, nhà cửa bị phá hủy, đất đai bị thu hồi, sinh kế bị đảo lộn
Những dự đoán của con người về trạng thái tương lai của môi trường sống
có ảnh hưởng đặc biệt đến việc lựa chọn chiến lược sinh kế của người dân Đối với người dân nghèo, tương lai môi trường sống thường bị tác động của rất nhiều yếu tố không kiểm soát được nên việc lựa chọn chiến lược sinh kế đúng đắn không phải là chuyện dễ dàng
Vấn đề biến động về giá cả, cơ hội việc làm và nguồn lương thực, thực phẩm theo mùa vụ là một trong những nguyên nhân có ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh kế của người dân, đặc biệt là dân nghèo
Chính vì vậy, việc tăng cường khả năng nhận thức và kiểm soát sự thay đổi của môi trường sinh kế của người dân sẽ góp phần không nhỏ trong việc đảm bảo được nguồn tài sản cũng như giảm bớt sự bấp bênh trong mô hình sinh
- Trong bối cảnh tổn thương, nguồn lực sinh kế có thể bị phá hủy hoặc được tạo ra bởi những xu hướng, những cú sốc hoặc tính thời vụ
- Đối với thể chế và chính sách có ảnh hưởng sâu sắc đến khả năng tiếp cận các nguồn vốn sinh kế của người dân như: tạo ra nguồn vốn (chính phủ đầu
tư cơ sở hạ tầng); khả năng tiếp cận nguồn vốn (các chính sách cho phép hoặc
Trang 21hạn chế sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên); ảnh hưởng đến tỷ lệ tích lũy tài sản của người dân (thuế, tỷ lệ lãi suất…).
- Đối với chiến lược sinh kế, những người có nguồn vốn lớn thì có nhiều
cơ hội lựa chọn những chiến lược sinh kế phù hợp nhất nhằm đạt được kết quả sinh kế đã đề ra và ngược lại
- Đối với kết quả sinh kế: đối với người dân ở từng khu vực với những mục tiêu sinh kế khác nhau thì cần những nguồn vốn khác nhau
Sinh kế của con người phụ thuộc vào khối lượng và chất lượng của những nguồn vốn mà họ có hoặc có thể tiếp cận Sự thành công của các chiến lược và hoạt động sinh kế tùy thuộc vào mức độ hợp lý mà con người có thể kết hợp cũng như quản lý những nguồn lực mà họ có
1.3.3 Chiến lược sinh kế đúng đắn và hợp lý
Chiến lược sinh kế là khái niệm dùng để chỉ cách thức mà người dân sử dụng các nguồn lực sinh kế của họ vào sản xuất, dưới tác động của các yếu tố nội tại (chính sách và dịch vụ hỗ trợ), và tác động của yếu tố bên ngoài (nguy cơ
đe dọa từ môi trường) nơi họ sinh sống Một chiến lược sinh kế đúng đắn và hợp
lý sẽ giúp các hộ dân phát huy một cách tốt nhất các tác động tích cực của yếu tố nội tại và yếu tố bên ngoài đến hoạt động sinh kế của mình trên cơ sở các nguồn lực mà họ có Điều quan trọng nhất khi xác định chiến lược sinh kế hiệu quả đó
là làm sao cho để các hộ gia đình phát huy được cao nhất những lợi thế có thể có
về nguồn lực nội tại để nắm bắt các cơ hội và hạn chế tối đa các rủi ro, bất lợi Tuy nhiên, trong thực tế do sự yếu kém về năng lực, sự hạn chế về tài nguyên nên các hộ gia đình nghèo thường khó có thể đưa ra được chiến lược sinh kế hợp
lý nều không có sự hỗ trợ từ bên ngoài
1.3.4 Hệ thống các chính sách, thể chế của Nhà nước
Chính sách và thể chế không những tạo ra cơ hội nhằm giúp cho mỗi người dân và cả cộng đồng thực hiện các mục tiêu đã xác định để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống trong sinh kế mà còn là cơ hội, là cứu cánh cho người dân và cộng đồng giảm thiểu được các tổn thương và sử dụng hợp lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên
Tuy nhiên, nếu chỉ có chính sách và thể chế thì chưa thể có một sinh kế bền vững mà điều kiện quan trọng là khả năng chuyển tải của các chính sách, thể chế này đến người dân, và khả năng tiếp cận các cơ hội đó của người dân Vì
Trang 22vậy, cần khuyến khích, vận động được người dân tích cực tham gia vào mọi quá trình phát triển, đồng thời huy động sự tích cực tham gia của nhiều bên có liên quan từ chính quyền các cấp, các tổ chức, các đoàn thể xã hội
1.3.5 Sự nỗ lực vươn lên của bản thân hộ gia đình
Khi có những biến động xảy ra phải thay đổi chỗ ở cũng như điều kiện sản xuất thì cũng có nghĩa là có một biến động to lớn đến hoạt động sinh kế của hộ dân cũng như của cộng đồng bị ảnh hưởng Việc xáo trộn sẽ làm thay đổi môi trường sống, tác động mạnh mẽ đến lối sống, điều kiện sản xuất, sinh hoạt và các nguồn lực, tài sản khác của hộ gia đình và cộng đồng Do đó, để tồn tại, người dân cũng như cộng đồng đó sẽ phải có những nỗ lực để duy trì những hoạt động sinh kế cũ cũng như cố gắng tiếp nhận những cách thức hoạt động sinh kế mới phù hợp với nơi ở mới, đó là những hoạt động khôi phục sinh kế Để khôi phục sinh kế, bản thân hộ gia đình phải đặt ra chiến lược sinh kế riêng cho mình phù hợp với chiến lược sinh kế chung của cả cộng đồng đã bị ảnh hưởng
Tất cả những yếu tố trên đều nhằm đạt được mục tiêu sinh kế, đảm bảo đời sống của cá nhân cũng như của cả hộ gia đình và cao hơn là của cả cộng đồng
Và mọi nỗ lực cố gắng đều phải có yếu tố con người và sự nỗ lực vươn lên của chính bản thân những hộ gia đình bị biến động Do đó có thể khẳng định một điều rằng, sự nỗ lực vươn lên của con người luôn là yếu tố then chốt để góp phần cho sự thành công của bất kỳ mô hình sinh kế nào
1.3.6 Các nhân tố ngoại sinh khác
Trên thực tế, sự thành công của mô hình sinh kế còn phụ thuộc vào một vài yếu tố khác, đó là những yếu tố ngoại sinh như:
- Sự chủ quan của con người tham gia vào quá trình phân tích mô hình sinh
kế Vì việc lựa chọn và quyết định mô hình sinh kế thuộc về thẩm quyền quyết định của chủ gia đình, song việc quyết định này thường hàm chứa rất nhiều yếu tố chủ quan Đặc biệt là các hộ nghèo, khi mà trình độ nhận thức, khả năng nắm bắt thời cơ, khả năng về nguồn lực sinh kế yếu kém nên việc quyết định của họ thường hàm chứa rủi ro, bất định cao
- Độ trễ của các chính sách trước những biến động của môi trường bên ngoài Việc cải thiện sinh kế cho hộ nghèo phụ thuộc rất lớn vào các chính sách
và giải pháp hỗ trợ của chính phủ Tuy nhiên, một chính sách hỗ trợ có thể rất tốt song không có nghĩa là khi áp dụng nó sẽ phát huy tác dụng ngay Nhiều
Trang 23trường hợp việc phát huy tác dụng chỉ có thể thấy rõ trong thời gian dài, mà người ta thường gọi nó là “độ trễ chính sách” Sự nóng vội trong việc điều chỉnh chính sách trong khi chưa đánh giá hết tác động của độ trễ đầu tư sẽ làm cho hiệu quả hỗ trợ giảm sút, ảnh hưởng đến việc cải thiện sinh kế cho người nghèo.
- Sự phối hợp hỗ trợ giữa các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội với chính bản thân những hộ nghèo Hộ nghèo thường có hoàn cảnh đặc biệt, năng lực nhận thức không cao, nguồn lực hạn chế, khả năng kiểm soát sự thay đổi kém…
Vì vậy, để cải thiện hoạt động sinh kế cho họ, thường phải có sự tham gia hỗ trợ của các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội ngay tại địa phương họ sinh sống Tuy nhiên để việc hỗ trợ giúp đỡ này hiệu quả, trước hết cần phải có sự phối hợp tốt giữa các tổ chức này với hộ gia đình Trong đó tiếng nói của hộ gia đình phải được tôn trọng, phải nghiên cứu tìm hiểu đặc điểm của gia đình, khả năng và mong muốn của họ để có hoạt động hỗ trợ phù hợp, tránh gượng ép, râp khuôn
1.4 VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG VIỆC TẠO ĐIỀU KIỆN CẢI THIỆN MÔ HÌNH SINH KẾ CHO NGƯỜI NGHÈO
1.4.1.Vai trò kết nối người nghèo với xã hội
Người nghèo thường bị hạn chế về năng lực, về tài chính và đặc biệt là thiếu tự tin khi tham gia vào các mối quan hệ xã hội, đặc biệt là các mối quan hệ kinh tế với các chương trình, dự án của chính phủ mà ở đó có khả năng cải thiện lực nguồn sinh kế cho gia đình họ Lúc này, chính mối quan hệ cộng đồng (người dân trong khu vực, các tổ chức đoàn thể xã hội, các tổ chức tôn giáo…) được hình thành một cách tích cực, có trách nhiệm và thân thiện sẽ đóng vai trò
là cầu nối giúp người nghèo kết nối thành công với các nguồn lực đó Trong thực tế, vì không nhận được sự hỗ trợ của cộng đồng nên nhiều người nghèo đã phải dựa vào một số thế lực khác như “cò” hoặc các “đầu nậu”, thậm chí là các băng đảng “xã hội đen” cho vay nặng lãi khi cần tiếp cận với nguồn lực tài chính, việc làm hoặc tiêu thụ nông sản… Qua đó, họ tự biến thành người lệ thuộc, bị lợi dụng và bóc lột bởi các thế lực trên khiến cho việc xóa đói giảm nghèo càng trở nên khó khăn
Ngoài ra, chính vai trò tích cực của cộng đồng sẽ giúp người nghèo có đủ
sự tự tin để hội nhập tốt hơn với các hoạt động khác của xã hội; giúp họ tự tin có
Trang 24tiếng nói khi tham gia bàn thảo về các chính sách, chương trình mà chính phủ triển khai để hỗ trợ họ.
Tuy nhiên, để làm được việc này tại các khu vực khó khăn khi trình độ văn minh chưa cao không phải là việc dễ dàng, nó đòi hỏi phải có sự nỗ lực rất lớn của các cấp chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể xã hội và quyết tâm rất lớn của cộng đồng
1.4.2 Vai trò giám sát thực thi các chính sách xã hội
Các nguồn lực xã hội dánh cho các hoạt động giảm nghèo thường rất lớn, nhưng làm sao để đạt được hiệu quả là điều đáng quan tâm Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy, các cơ quan cứu trợ xã hội của chính phủ hoặc các tổ chức tương tự thường hoạt động kém hiệu quả Sự lãng phí, việc sử dụng các nguồn lực giảm nghèo không đúng đối tượng, tình trạng tham ô, tham nhũng, thiếu trách nhiệm… diễn ra rất phổ biến Song người nghèo, với năng lực hạn chế của mình, họ khó có thể biết và kiểm soát được vấn đề này Lúc này vai trò giám sát của cộng đồng xã hội là quan trọng Cộng đồng xã hội cần được tham gia vào công tác hoạch định, tổ chức thực hiện và kiểm tra giám sát việc thực thi các chính sách, các chương trình, dự án liên quan đến người nghèo Phát huy vai trò giám sát cộng đồng, giao phó trọng trách thực thi các dự án, chương trình xóa đói giảm nghèo cho cộng đồng người dân địa phương là ưu tiên quan trọng trong việc cải tiến phương thức thực thi chính sách xóa đói giảm nghèo trong điều kiện hiện nay
Vấn đề quan trọng đó là phát huy vai trò tham gia đóng góp ý kiến, vai trò phản biện và giám sát của người dân thông qua cơ chế phát huy dân chủ tại cơ
sở một cách hữu hiệu Tránh trường hợp thay vì giao cho các cơ quan quản lý nhà nước cấp trên, lại giao cho cơ quan quản lý nhà nước địa phương thực hiện
mà không đi kèm với hệ thống giám sát cộng đồng thì các hạn chế, nhược điểm
có thể không được khắc phục mà còn trầm trọng thêm
1.4.3 Vai trò bổ sung nguồn lực
Ngân sách nhà nước là có giới hạn, nhà nước còn phải đảm bảo ngân sách cho rất nhiều hoạt động quan trọng khác để đảm bảo các mục tiêu phát triển đất nước, giữ gìn an ninh quốc gia Trong khi đó, chi phí cho hoạt động xóa đói giảm nghèo là rất đắt đỏ vì “chi phí cận biên” thường rất cao do người nghèo chủ yếu tập trung ở những khu vực khó khăn và bản thân họ bị hạn chế về nguồn
Trang 25lực Mặt khác, do nước ta thường xuyên gánh chịu thiên tai bão lũ, nền kinh tế lại chưa phát triển bền vững, thường xảy ra các biến động bất lợi cho người dân khiến cho việc đảm bảo sinh kế ổn định cho người dân càng khó khăn, tình trạng tái nghèo diễn ra rất phổ biến Trong Báo cáo trước Ban chỉ đạo Trung ương về giảm nghèo bền vững, Bộ trưởng Lao động, Thương binh và Xã hội Phạm Thị
Hải Chuyền cho hay: “Bình quân cứ 3 hộ thoát nghèo thì có một hộ tái nghèo,
phát sinh nghèo”[2] Để đảm bảo duy trì các nguồn hỗ trợ lâu dài nhằm giảm áp lực cho ngân sách chính phủ, việc lôi kéo cộng đồng tham gia vào các hoạt động này nhằm thu hút các nguồn lực to lớn của toàn xã hội để cùng chung tay trong
sự nghiệp xóa đói giảm nghèo là vô cùng cần thiết Tuy nhiên, do các nguồn lực này thường không thường xuyên nên nó chỉ đóng vai trò là nguồn lực bổ sung Điều quan trọng là cần phải có cơ chế, giải pháp phù hợp để khai thác, quản lý
và sử dụng hiệu quả các nguồn lực này, tránh tình trạng chạy theo phong trào
1.4.4 Vai trò cứu cánh
Nghèo đói và tổn thương bởi rủi ro thường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Người nghèo thường yếu thế nên rất dễ bị tổn thương bởi các biến cố bất ngờ như thiên tai bão lũ, hạn hán mất mùa hoặc đau ốm, hoạn nạn…khiến cho tình trạng đói nghèo càng trở nên trầm trọng Thậm chí ngay cả các hộ gia đình
đã thoát nghèo, cận nghèo cũng khó chống đỡ với các “cú sốc” này và dễ dàng đưa họ quay lại với nghèo đói Lúc này, các quỹ cứu trợ xã hội cần phải phát huy tác dụng tức thời trước khi những nỗ lực của nhà nước được thực thi Chính mối quan hệ cộng đồng, trách nhiệm cộng đồng sẽ giúp giải quyết hiệu quả vấn
đề này Nhường cơm xẻ áo, là lành đùm lá rách là đạo lý truyền thống tốt đẹp của nhân dân Việt Nam Vì vậy, việc xác lập môi trường mà trong đó lôi kéo được cộng đồng xã hội tích cực tham gia vào hoạt động cứu trợ xã hội sẽ là công
cụ hữu hiệu để thực hiện vai trò “cứu cánh” trong việc hỗ trợ cho người nghèo, giúp khắc phục tức thời các tổn thương dó các cú sốc gây ra
Tất nhiên, vai trò này chỉ có tác dụng nhất thời, ngắn hạn vì khả năng nguồn lực tại chỗ của cộng đồng có hạn do đa phần người dân tại các khu vực có
tỷ lệ hộ nghèo cao cũng khó khăn
1.4.5 Vai trò tấm gương
[ 2]
Nguyễn Hưng “Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhưng không vững chắc”,
http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/ty-le-ho-ngheo-giam-nhung-khong-vung-chac-2954207.html, Ngày 20/2/2014
Trang 26Tình trạng nghèo một mặt do nguồn lực sinh kế hạn chế, tuy nhiên quan trọng nhất vẫn là do chiến lược sinh kế của họ kém hiệu quả Song bản thân người nghèo khó nhận ra điều này, do đó rất khó để họ thay đổi Vì vậy, họ cần phải có các hình mẫu, các tấm gương, các mô hình thành công để họ học tập, noi theo và thậm chí là làm theo dựa trên “cầm tay, chỉ việc” Thực tế trong những năm qua, các chương trình dự án xóa đói giảm nghèo cũng đã đầu tư rất nhiều tiền của và sức lực để xây dựng vô số các mô hình giảm nghèo, trong số đó có không ít các mô hình đã thành công Thế nhưng, khi triển khai nhân rộng các mô hình đó thường lại không thành công, nhất là khi dự án kết thúc thì nhiều mô hình cũng bị sụp đổ Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do khi thiết
kế, triển khai thực hiện các chương trình, dự án giảm nghèo thời gian qua chỉ mới tập trung vào một số mô hình phổ biến, song mức đầu tư hỗ trợ cho các bên còn thấp Theo như ông Ngô Trường Thi, Vụ trưởng - Chánh Văn phòng giảm
nghèo quốc gia thuộc Bộ LĐ-TB&XH thì: “do khi thiết kế, triển khai thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 mới chỉ tập trung vào 2 dạng mô hình mang tính phổ biến: Mô hình do xã tự chủ và mô hình giảm nghèo có sự liên kết của các doanh nghiệp, ngân hàng Tuy nhiên, chương trình lại chưa có cơ chế hỗ trợ cho chính các tổ chức này, mới dừng ở việc tập trung hỗ trợ một số doanh nghiệp lớn, nguồn kinh phí cũng hạn hẹp”[3]
Ngoài ra, một hạn chế khác cũng rất quan trọng làm giảm hiệu quả trong việc phát huy vai trò của các mô hình sinh kế đã được nghiên cứu trong xóa đói giảm nghèo đó là khả năng để nhân rộng mô hình ra cộng đồng Về nguyên tắc, việc nhân rộng mô hình giảm nghèo phải bắt đầu từ nhận thức đa chiều của người dân về giảm nghèo Hiện nay, đồng bào nghèo tại các địa phương đã có trình độ phát triển cao hơn so với trước đây nên nhu cầu của họ không chỉ là tăng thu nhập, mà còn là thụ hưởng văn hóa, giáo dục, y tế có chất lượng hướng tới chất lượng cuộc sống tốt hơn Vì vậy, việc nhân rộng mô hình giảm nghèo bền vững đó chính là việc nhân rộng những phương pháp tiếp cận, qui trình sản xuất dựa trên sự tôn trọng, đa dạng văn hóa và phát huy tính chủ thể tích cực của
họ ở mỗi thôn bản Do đó, khi triển khai áp dụng mô hình vào một địa phương, một cộng đồng dân cư trước tiên cần phải có những hộ gia đình mang tính tiên phong, dám thay đổi, dám làm, dám chấp nhận rủi ro… để tiếp nhận chuyển [3]Thanh Phúc “Mô hình giảm nghèo bền vững: Thay đổi phương thức vận hành chính sách giảm nghèo”
http://daidoanket.vn/index.aspx?, Ngày 13/10/2013
Trang 27giao mô hình Trong thực tế để tìm được một hộ gia đình có đầy đủ những tiêu chuẩn nhận chuyển giao trong số các hộ nghèo thường rất khó và xu hướng ngày càng khó hơn Thế nên việc lựa chọn này không nhất thiết là hộ nghèo mà có thể
là các hộ khá giả, thậm chí là gia đình cán bộ xã, thôn, bản để đảm bảo cho việc tiếp nhận chuyển giao thành công sau đó làm tấm gương để nhân rộng cách làm
ra cho toàn cộng đồng trong đó có người nghèo Cộng đồng người dân được tham gia tiếp cận các chương trình, dự án ngay từ đầu, trao quyền để họ tự quyết định phương thức đầu tư, vận hành các dự án, các cấp chính quyền chỉ tham gia với vai trò hỗ trợ, điều phối chung Chính sự thành công của cộng đồng, trong
đó quan trọng là các hộ tiên phong vì họ sẽ là tấm gương để các hộ gia đình nghèo noi theo
1.5 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH SINH KẾ BỀN VỮNG CHO HỘ NGHÈO LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRỀN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
1.5.1.Kinh nghiệm trên thế giới
a.Mô hình sinh kế “Gắn du lịch bền vững” với xóa đói giảm nghèo cho cộng đồng
Với mục tiêu hướng tới xóa đói giảm nghèo cùng cực của Liên Hiệp quốc,
Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã đưa ra Sáng kiến ST-EP (Sustainable Tourism - Eliminating Poverty Initiative - Du lịch bền vững - xóa đói giảm nghèo), công bố tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển Bền vững tại Johannesburg năm 2002 Đây là một Chương trình quan trọng trong những năm qua nhằm hướng dẫn các nước thành viên về các giải pháp thực hiện xóa đói giảm nghèo thông qua hỗ trợ cộng đồng phát triển du lịch
Dự án bắt đầu triển khai vào cuối năm 2005 với một chương trình đào tạo hướng dẫn viên du lịch địa phương cho ngôi làng Ebogo ở Camerun Kể từ đó, danh mục đầu tư của dự án nhanh cho chóng được mở rộng, hiện nay, nó bao gồm hơn 100 dự án nhỏ tại 30 quốc gia đang phát triển với nhiều hoạt động khác
nhau từ phát triển sản phẩm du lịch sinh thái cộng đồng địa phương ở Guatemala, cho đến việc phát triển và quảng bá Đường mòn Himalaya vĩ đại tại
Nepal với hướng tiếp cận nâng cao nhân tố kinh tế thông qua du lịch tại các quốc gia này Các dự án có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan du lịch quốc
Trang 28gia, chính phủ địa phương, các tổ chức chính phủ, các tổ chức phát triển và doanh nghiệp du lịch tại các nước thụ hưởng.
Để mang đến những lợi ích thiết thực cho người nghèo, đặc biệt là người dân tộc thiểu số tại các khu vực kém phát triển, nhưng giàu tài nguyên du lịch về văn hóa và thiên nhiên cần thiết phải có hệ thống thông tin rõ ràng nhằm tác động đến việc khuyến khích chi tiêu của khách du lịch, đây cũng là việc đầu tư
để cải thiện thu nhập và chất lượng sống cho người dân ở vùng nghèo đói, đồng thời đảm bảo mọi khả năng về vật chất và nhân lực tại địa phương đều được xem xét và sử dụng cho du lịch, đem lại lợi ích kinh tế vùng miền
Sáng kiến ST- EP đã đề ra 07 cơ chế khác nhau, trong đó, người nghèo có thể được hưởng lợi ích từ ngành du lịch Các cơ chế như sau:
- Tạo việc làm cho người nghèo trong các doanh nghiệp du lịch;
- Người nghèo hay các tổ chức kinh tế của họ cung cấp hàng hóa và dịch
vụ cho các doanh nghiệp du lịch;
- Người nghèo trực tiếp cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho du khách (hoạt động kinh doanh không chuyên);
- Thành lập và đưa vào hoạt động các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ hoặc các tổ chức liên doanh bởi người nghèo (kinh doanh chuyên nghiệp);
- Phân phối lại số tiền thu được từ thuế hay các khoản phí từ khách du lịch hoặc các doanh nghiệp kinh doanh du lịch;
- Du khách và các tổ chức kinh doanh du lịch tự nguyện ủng hộ, giúp đỡ người dân tại các địa phương;
- Đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng thông qua du lịch, đồng thời đem lại lợi ích cho người nghèo ở địa phương, trực tiếp hoặc thông qua sự hỗ trợ của các lĩnh vực khác
b Mô hình sinh kế cho người dân nghèo là dân tộc thiểu số tại các khu vực tái định cư
Việc triển khai các hoạt động đầu tư lớn đã dẫn đến tình trạng phải di dời
và tái định cư một số lượng lớn người dân, chủ yếu là người nghèo tại các khu vực kém phát triển của đất nước Điều này dẫn đến sinh kế vốn không chắc chắn của người nghèo là người DTTS lại bị phá vỡ, gây “sốc” đối với cuộc sống của nhiều gia đình Việc giải quyết sinh kế cho các đối tượng này có ý nghĩa rất lớn trong việc giải quyết tình trạng đói nghèo cho người dân
Trang 29- Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc đã được coi là một trong những nước có chính sách tái định
cư tốt và phù hợp với đa số các yêu cầu của các tổ chức cho vay vốn, đặc biệt trong các nỗ lực nhằm khôi phục cuộc sống và nguồn thu nhập cho các hộ gia đình DTTS bị ảnh hưởng Từ năm 1950 – 1990, Trung Quốc có tới 10,2 triệu người di dời, trong đó riêng dự án đập Tam Hiệp phải di dời 1,3 triệu người, tro
đó đa số là người DTTS
Để tạo ổn định cuộc sống cho người dân trong diện tái định cư, điều quan trọng là tạo việc làm cho họ tại nơi tái định cư Bên cạnh đó, việc cấp tiền bồi thường cho người dân, Trung Quốc đặc biệt chú trọng đến việc tạo công ăn việc làm cho người tái định cư thông qua việc quy hoạch lại các ngành nghề, gắn kết giữa sản xuất nông nghiệp với sản xuất công nghiệp, tạo điều kiện cho người dân tái định cư mà phần lớn là nông dân có thể tìm được việc làm phù hợp Một kinh nghiệm rất đáng tham khảo đó là sự phối hơp hỗ trợ giữa chính quyền sở tại với đóng góp kinh phí của chính người dân tái định cư
Kinh nghiệm thành công của Trung Quốc trong công tác tái định cư cho người DTTS là do họ đã xây dựng chính sách và thủ tục rất chi tiết, ràng buộc đối với các hoạt động tái định cư trong các lĩnh vực khác nhau với chuyển đổi sinh kế phù hợp Bên cạnh việc có chính sách tốt thì nhân tố quan trọng thứ hai khiến hoạt động tái định cư ở Trung Quốc thành công là năng lực thể chế mạnh
mẽ của các chính quyền địa phương Chính quyền cấp tỉnh chịu hoàn toàn trách nhiệm trong việc thực hiện chương trình tái định cư
- Kinh nghiệm của Thái Lan và Malaysia
Đối với Thái Lan và Malaysia, việc tổ chức thực hiện công tác di dân tái định cư đối với đồng bào DTTS trong các dự án đầu tư của ngành điện ở cả 02 nước tỏ ra rất hiệu quả Trong dự án thủy diện BatangAi ở Malaysia, các chính sách và kế hoạch di chuyển người bản địa được nghiên cứu và chuẩn bị kỹ càng
Cơ quan sản xuất điện ở Thái Lan, khu vực Nhà Nước, đã liên tục cải tiến các hoạt động tái định cư ngay từ khi thành lập (năm 1968) Chính sách tái định cư cho mỗi dự án đều dựa trên các bài học từ các dự án trước Chiến lược tái định
cư của nhà cầm quyền dựa trên cơ sở thương lượng trực tiếp với chính cộng đồng bị ảnh hưởng và đền bù trọn gói Cơ quan điện lực Thái Lan là nơi có nhiều dự án tái định cư lớn nhất nước đã có chính sách riêng về đền bù và tái
Trang 30định cư với mục tiêu: “đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng có một mức sống tốt hơn” thông qua việc cung cấp cơ sở hạ tầng nhiều hơn và tốt hơn, đảm bảo cho người bị ảnh hưởng có thu nhập cao hơn và được tham gia nhiều hơn vào quá trình phát triển.
Kinh nghiệm thành công của các quốc gia này đó là có sự nghiên cứu, chuẩn bị kỹ lướng cho kế hoạch di chuyển, tái định cư cho người dân bản địa Chính sách tái định cư phải dựa trên việc thương lượng, thỏa thuận trực tiếp với chính cộng đồng bị ảnh hưởng, trọn gói theo nguyên tắc ”tốt hơn trước”
1.5.2 Kinh nghiệm trong nước
a Mô hình phát triển kinh tế vườn rừng giúp nông dân thoát nghèo
Trường Xuân là một xã miền núi của huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) người dân chủ yếu là đồng bào dân tộc Bru Vân Kiều đời sống còn gặp rất nhiều khó khăn Để xóa nghèo cho đồng bào địa phương, những năm qua dưới sự hỗ trợ tích cực của chính quyền các cấp, người dân có điều kiện tiếp cận các nguồn lực để phát triển kinh tế vườn rừng, vườn đồi Người dân nơi đây đã tốt công tác bảo vệ rừng tự nhiên, khoanh nuôi rừng tái sinh, trồng mới nhiều diện tích rừng kinh tế, kết hợp với xây dựng các mô hình kinh tế đưa nhiều giống cây, con mới vào sản xuất
Nhờ kinh tế vườn rừng ngày càng phát triển nên nền kinh tế của xã miền núi này có những bước tiến rõ rệt, đời sống của người dân dần được cải thiện, nhiều hộ gia đình thoát nghèo và vươn lên làm giàu chính đáng trên chính mảnh đất quê hương mình
Kinh nghiệm thành công của mô hình này là kết hợp sự hỗ trợ của Nhà nước với việc khai thác, sử dụng các nguồn lực tự nhiên có sẵn tại địa phương
để phát triển các hoạt động sinh kế phù hợp với trình độ của người dân
b Thoát nghèo từ mô hình kinh tế tổng hợp
Gia đình ông Nguyễn Xuân Lưu và bà Hoàng Thị Tuyết ở Thôn bản Hùa– Thị Trấn Nà Phặc (Ngân Sơn) là một trong những hộ nông dân điển hình thoát nghèo từ mô hình phát triển kinh tế tổng hợp
Những năm 2007 trở về trước, gia đình ông Lưu là một trong những hộ nghèo của thôn Bản Hùa, Thị Trấn Nà Phặc Nhờ tìm tòi, suy nghĩ về hướng phát triển kinh tế, ông bà quyết định đầu tư chăn nuôi lợn thịt, mở rộng nghề nấu rượu ngô, nuôi thêm gia cầm, đào ao thả cá, làm vườn ươm cây con giống Nhờ
Trang 31đó đến nay gia đình ông lưu đã thoát nghèo và hiện có mức thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm.
Kinh nghiệm thành công trong mô hình phát triển kinh tế của ông Lưu là
đa dạng hóa các hoạt động sản xuất dựa trên việc ứng dụng kinh nghiệm để làm tốt khâu cọn giống tốt, giống phù hợp; mạnh dạn đưa vào sản xuất các giống mới, tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh
c Thoát nghèo ở vùng cao nhờ lựa chọn cây trồng phù hợp
Xã vùng cao Tri Lễ, Quế Phong (Nghệ An) đã phát triển khá thành công
mô hình trồng cây chanh leo giúp xóa nghèo cho các hộ đồng bào DTTS trong
xã Ban đầu khi đưa mô hình trồng chanh leo về, vận động bà con làm rất khó khăn vì người dân không tin Tuy nhiên, nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo
xã và huyện trong việc vận động, thuyết phục người dân tham gia; tập huấn kỹ cho đồng bào, hỗ trợ ban đầu cho các hộ cọc, dây thép để làm dàn bà con bắt đầu tin tưởng tham gia Đến nay cây chanh leo ở các hộ tham gia dự án đã phát triển xanh tốt, bước đầu thu có thu nhập cao, ổn định hứa hẹn giúp ngời dân thoát nghèo Để ổn định đầu ra cho người dân, xã đã ký hợp đồng với Nhà máy nước dứa cô đặc tại Nghệ An để bao tiêu sản phẩm Với điều kiện khí hậu mát
mẻ lại không hề bị ảnh hưởng của gió Lào, phù hợp với giống cây chanh dây nên hứa hẹn cho năng suất rất cao (17-18 tấn/ha) Đây là mô hình sản xuất giúp thoát nghèo cho người dân địa phương
Kinh nghiệm thành công của mô hình này đó là chính quyền nghiên cứu, lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện địa phương; tiến hành vận động động, hỗ trợ và tư vấn kỹ thuật để lôi kéo người dân tham gia sản xuất Điều quan trọng là phải kiên trì vận động, lấy kết quả thực hiện làm minh chứng thuyết phục đồng bào; phải đảm bảo ổn định đầu ra cho dân, nhất là các sản phẩm mới, sản phẩm mang tính chất hàng hóa cao
d Mô hình trồng chuối của người dân xã Hồng Thủy, huyện A Lưới tỉnh Thừa Thiên Huế
Những năm gần đây, đồng bào các dân tộc nơi đây được Nhà nước hỗ trợ vốn, cây giống, con giống, phân bón nhưng một số người có tư tưởng ỷ lại, hơn nữa do thói quen chăn nuôi, trồng trọt lạc hậu, nên làm ăn thất bát Để khắc phục tình trạng này, Trung tâm khuyến nông, khuyến lâm huyện A Lưới đã hỗ trợ giống, phân bón và hướng dẫn trực tiếp cách chăm sóc để tăng năng suất, chất
Trang 32lượng cây trồng Bên cạnh đó, Trung tâm Nghiên cứu nông lâm nghiệp (thuộc Trường đại học Nông lâm Huế) trực tiếp hỗ trợ và đã đầu tư thực hiện mô hình trình diễn 01 ha chuối ở một nhà dân để bà con học tập Nhờ đó, hơn 90% số hộ dân trong xã đã chuyển từ trồng các loại cây dứa, quế, tràm sang trồng cây chuối
ba lùn Do lựa chọn đúng giống cây chuối thích hợp với khi hậu, thổ nhưỡng ở A Lưới, ít dịch bệnh lại có giá trị kinh tế cao nên được người dân tích cực tham gia
Mô hình trồng chuối cũng được thực hiện thành công ở các bản Cổ Tràng, Bến Đường và Đá Chát (xã Trường Sơn, Quảng Bình) Đến nay, bà con dân tộc Vân Kiều cũng đã thu hoạch chuối và cho thu nhập ổn định Nhờ có vườn chuối
mà nhiều gia đình nghèo người Vân Kiều tại địa phương đã cải thiện cuộc sống, dần thoát nghèo Ngoài ra, các gia đình nghèo còn đầu tư chăn nuôi gà, lợn và trồng các loại cây ăn quả, rau màu trong vườn nhà góp phần cải thiện đời sống Kinh nghiệm thành công của mô hình cho thấy: trước hết là lựa chọn được cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương, phù hợp với trình độ canh tác của người dân, sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường và có khả năng tiêu thu rộng rãi, vận chuyển bảo quản đơn giản Kế đến là phải có sự
hỗ trợ nguồn lực, tư vấn hướng dẫn kỹ thuật ban đầu của các tổ chức khuyến nông, lâm… Sau cùng là có sự tham gia vận động của các già làng, trưởng bản
e Mô hình sinh kế bền vững của đồng bào Nùng ở xã Đắk N’drót (Đắk Mil) tỉnh Đắk Nông
Là địa phương có đông đồng bào là dân tộc Nùng di cư đến làm ăn sinh sống, đa số là người nghèo Trước đây, việc làm ăn của người dân không thành công là do chỉ làm theo người khác, thấy người ta trồng gì thì cũng làm theo, nhưng do chọn cây giống và chăm sóc không đúng cách nên nhiều cây bị chết, khả năng sinh trưởng, phát triển kém Để khắc phục điều này, một số hộ dân đã quyết định đi học hỏi kinh nghiệm của những vườn tiêu hiệu quả, năng suất cao
ở Đắk Lắk, Bình Phước rồi về nghiên cứu địa thế đất rẫy để có cách áp dụng phù hợp nhất, nên đạt hiệu quả cao Khi đã hiểu biết cách làm, họ bắt đầu đầu tư công sức, vốn liếng vào việc trồng tiêu, cao su và thực hiện đầy đủ quy trình chăm sóc, bón phân
Các hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi còn giúp đỡ về vốn, cây giống, con giống cũng như phổ biến những kiến thức, kinh nghiệm làm ăn cho các hộ có hoàn cảnh khó khăn khác cùng phát triển kinh tế Nhờ những “hạt nhân” đi đầu
Trang 33trong việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào phát triển kinh tế gia đình, chuyển đổi cơ cấu cây trồng có hiệu quả Nhiều hộ gia đình đồng bào Nùng làm theo, họ không còn sản xuất theo kiểu may rủi như trước đây nữa mà có kế hoạch phát triển lâu dài, bài bản hẳn hoi, có tư duy về sản xuất theo thị trường trên địa bàn ngày càng
có nhiều gia đình có thu nhập ổn định từ việc phát triển kinh tế trang trại
Kinh nghiệm thành công của Đắk N’drót đó là đã phát huy được vai trò hạt
nhân, tiên phong của các hộ dân có năng lực trong cộng đồng thông qua việc học hỏi, chuyển giao kiến thức sản xuất từ các điển hình thành công khác để chuyển giao đến cho cộng đồng DTTS tại khu vực họ sinh sống
f.Mô hình thoát nghèo, làm giàu thành công ở bon Bu N’dung Lu, xã Đắk N’drung (Đắk Song)
Nhờ sớm thay đổi cách nghĩ, cách làm mà nhiều người dân M’nông ở bon
Bu N’dung Lu thoát nghèo Trước đây, đồng bào dân tộc M’nông tại địa phương thường có suy nghĩ “Cái bụng đói lắm, trồng cà phê thì không ăn được!”, do đó hoạt động sinh kế chủ yếu tập trung trồng lúa đồi, trồng bắp nhưng hiệu quả kinh tế không cao Không cam chịu đói nghèo, với quyết tâm làm giàu trên chính mảnh đất ông cha, ông Điểu Khuyết thay đổi tư duy, cùng vợ bắt tay gây dựng cơ nghiệp theo hướng mới Ngoài trồng lúa, trồng ngô làm lương thực, vợ chồng ông còn khai hoang, mở rộng diện tích đất canh tác để trồng cà phê, hồ tiêu Đến nay, ông thu về trên 400 triệu đồng mỗi năm
Tương tự là trường hợp anh Điểu Rốt nhiều hộ gia đình, ở bon Bu N’dung
Lu cũng thay đổi tư duy, chuyển sang trồng cà phê, tiêu và các loại cây trồng có
gí trị khác cho thu nhập cao, nhờ đó thoát nghèo bền vững
Nhờ thay đổi tư duy, không còn ỷ lại nhà nước đồng thời phát huy tinh thần học hỏi lẫn nhau, đến nay toàn xã đã có 117/496 hộ đạt danh hiệu sản xuất, kinh doanh giỏi người M’nông Số hộ nghèo người M’nông chỉ còn 123 hộ, chiếm 30% tổng số hộ nghèo của xã, giảm 3% so với năm 2013
Kinh nghiệm thành công của bon Bu N’dung Lu đó là từng bước thay đổi
tư duy sản xuất truyền thống tự cấp, tự túc của đồng bào sang tư duy sản xuất hàng hóa trên cơ sở đa dạng hóa cây trồng phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương
g) Mô hình thoát nghèo từ trồng chè của đồng bào DTTS ở Đắk Glong
Theo Hội Nông dân huyện Đắk Glong, mấy năm trở lại đây, nhờ thu nhập
từ cây chè nên đời sống của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số đã được cải thiện
Trang 34đáng kể Qua sự hỗ trợ ban đầu, đến nay nhiều hộ gia đình đã chủ động đầu tư thêm vốn, mở rộng diện tích, tận dụng những đồi đất còn bỏ trống để trồng bổ sung Từ khởi điểm ban đầu là 5 ha, đến nay toàn huyện Đắk Glong có 30 ha chè của hơn 100 hộ gia đình là đồng bào dân tộc thiểu số, tập trung chủ yếu ở các xã Quảng Khê, Đắk Som, Đắk P’lao và hầu hết hiện đang trong thời kỳ kinh doanh Giống chè bà con đang trồng phần lớn là giống BT14 có năng suất cao, chất lượng tốt, kháng chịu được sâu bệnh hại Do cây chè có thể thu hoạch đều các tháng trong năm và mỗi tháng thu 2 lứa, nên rất phù hợp với điều kiện kinh
tế của người dân nơi đây, nhất là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, thiếu vốn Nhờ việc đưa vào phát triển cây chè nên đã giúp cho rất nhiều gia đình đồng bào dân tộc tại các địa phương trên địa bàn Huyện thoát nghèo
Để giúp người dân đạt hiệu quả cao từ trồng chè, hàng năm, Hội Nông dân huyện đều phối hợp với các ngành chức năng tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn về kỹ thuật chăm sóc, thu hoạch cũng như tìm thị trường tiêu thụ ổn định
Từ việc trồng chè, nhiều hộ gia đình giờ đây có thu nhập ổn định, góp phần nâng cao đời sống mọi mặt, đóng góp vào sự phát triển của địa phương
Kinh nghiệm thành công của Đắk Glong đó là chọn được cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương, có khả năng tạo ra thu nhập đều đặn,
kỹ thuật sản xuất không quá khó Mặt khác, đó là có sự hỗ trợ ban đầu của chính quyền trong việc hỗ trợ vốn, hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật trồng, chăm sóc và hỗ trợ tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm của người dân
1.5.3.Các bài học kinh nghiệm
Qua nghiên cứu rất nhiều mô hình thành công trong việc phát triển sinh kế bền vững cho người nghèo cả ở trong nước và ngoài nước, người nghiên cứu nhận thấy rằng, các mô hình sinh kế giúp thoát nghèo là rất đa dạng và phong phú, ứng với mỗi điều kiện cụ thể sẽ có một mô hình thích ứng nhất định, không có mô hình chung cho tất cả mọi đối tượng, cho mọi địa phương Dù vậy, nghiên cứu cũng cho thấy một số điểm chung rút ra từ các mô hình sinh kế thành công, đó là:
- Trước hết, việc triển khai các mô hình sinh kế giúp xóa bỏ nghèo đói là rất đa dạng và phong phú, nó tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng vùng miền, từng gia đình, không thể “rập khuôn”
- Các mô hình sinh kế bền vững cho người nghèo thường hướng đến khai thác những tiềm năng lợi thế tại chỗ như đất đai, lao động, tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên du lịch để phát triển Thường nó dựa trên một vài cải tiến,
Trang 35hợp lý hóa nhất định để khắc phục nhược điểm hoặc phát huy một lợi thế nào đó nhằm tạo ra động lực cho sự phát triển Nó không đặt nặng vấn đề sử dụng vốn đầu tư lớn, phương pháp sản xuất phức tạp hay công nghệ quá hiện đại.
- Việc triển khai các mô hình sinh kế bền vững thường có vai trò đóng góp của Nhà nước, các tổ chức xã hội, các hiệp hội nghề nghiệp nhằm tạo ra môi trường thuận lợi giúp cho các hộ gia đình có thể triển khai hoạt động sinh kế của mình thuận lợi
- Liên tục cập nhật, liên tục đổi mới cách thức và biện pháp hỗ trợ người dân, đặc biệt là vấn đề thông tin thị trường, vấn đề đầu vào đầu ra cho sản xuất Không để cho việc phát triển sản xuất chạy theo phong trào gây ra tình trạng sản xuất thừa hoặc sản xuất không có địa chỉ tiêu thụ làm thiệt hại cho người dân, gây mất niềm tin làm khó khăn cho quá trình cải thiện sinh kế
- Phải làm tốt công tác khảo sát đánh giá để lựa chọn đúng hướng phát
triển sản xuất mới sao cho vừa phát huy được tập quán canh tác truyền thống, vừa phát huy được các yếu tố mới bổ sung;
- Phải lôi kéo được cộng đồng dân cư địa phương tham gia trên cơ sở sự
bàn bạc dân chủ, thuyết phục từng bước để người dân dần thay đổi tập quán theo phương thức đi từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp phù hợp với điều kiện nguồn lực sinh kế của người nghèo;
- Phải làm tốt công tác nâng cao trình độ nhận thức, trình độ canh tác của
người dân thông qua các chương trình tập huấn kỹ thuật, tham quan học hỏi từ các mô hình trình diễn, hoặc “cầm tay chỉ việc” cho người dân Khuyến khích, động viên các già làng, trưởng bản làm hạt nhận phát triển kinh tế
- Phải tạo được sự gắn kết giữa sản xuất với thị trường thông qua các giải
pháp đa dạng như lôi kéo doanh nghiệp tham gia ký hợp đồng bao tiêu; phát triển thêm các ngành nghề; mở rộng hoạt động thương mại; sản xuất gắn với nhu cấu đặc thù của thị trường…
- Phải đa dạng hóa các hoạt động sinh kế nhằm tạo ra các khoản thu nhập
bổ sung, giúp ổn định dòng thu nhập cho các hộ gia đình nghèo
Trang 36b.Về khí hậu
Khí hậu tỉnh Đắk Nông vừa mang tính chất khí hậu cao nguyên nhiệt đới
ẩm, vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng Khí hậu có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến hết tháng 10, tập trung 90% lượng mưa hàng năm nên dễ gây ra lũ quét phá hoại mùa màng, làm thiệt hại người và của Lượng mưa trung bình năm từ 2200-2400 mm, lượng mưa cao nhất 3000mm Tháng mưa nhiều nhất vào tháng 8, 9; mưa ít nhất vào tháng 1, 2 Độ ẩm không khí trung bình 84% Độ bốc hơi mùa khô 14,6-15,7 mm/ngày, mùa mưa 1,5-1,7 mm/ngày Lũ lớn thường xảy ra vào tháng 9, 10 trên các sông Krông Nô và sông Sêrêpok
Trang 37Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa không đáng kể nên dẫn đến hạn hán, dễ gây cháy rừng, thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân.
Nhiệt độ trung bình hằng năm là 22-230 C, nhiệt độ cao nhất 350C, tháng nóng nhất là tháng 4 Nhiệt độ thấp nhất 140C, tháng lạnh nhất vào tháng 12 Tổng số giờ nắng trong năm trung bình 2000-2300 giờ Tổng tích ôn cao 8.0000 rất phù hợp với phát triển các cây trồng nhiệt đới lâu năm
Hướng gió thịnh hành mùa mưa là Tây Nam, mùa khô là Đông Bắc, tốc
độ gió bình quân 2,4 -5,4 m/s, hầu như không có bão nên không gây ảnh hưởng đối với sản xuất nông nghiệp và các hoạt động kinh tế khác
c Về thủy văn và nguồn nước
Nguồn nước mặt do nguồn nước mưa cung cấp, tương đối dồi dào, thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt dân cư trên địa bàn toàn tỉnh Tuy nhiên do chịu ảnh hưởng của khí hậu cao nguyên, lại nằm ở phía Tây, cuối dãy Trường Sơn nên vào mùa khô mưa ít, nắng nóng kéo dài làm khô hạn, nhiều lúc thiếu nước gây ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của dân cư Việc phân bố nguồn nước mặt qua hệ thống sông, suối ở Đắk Nông tương đối đều khắp Đây là điều kiện thuận lợi để khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, xây dựng các công trình thủy điện phục vụ các ngành kinh tế và nhu cầu dân sinh
d.Tài nguyên đất
Theo báo cáo số liệu thống kê đất đai năm 2010, tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh có 651.561,52 ha Trong đó:
- Đất nông, lâm nghiệp Có diện tích là 587.927,92 ha, chiếm 91,01%
tổng diện tích tự nhiên Đất sản xuất nông nghiệp có diện tích 306.748,89 ha, trong đó đất trồng cây lâu năm là 200.129ha chiếm 65,2 % tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp Đất trồng cây hàng năm chủ yếu là đất trồng lúa, ngô và cây công nghiệp ngắn ngày, ngoài ra diện tích đất nương rẫy còn khá lớn
Đất lâm nghiệp tổng diện tích là 279.510,15 ha, trong đó diện tích rừng sản xuất là 212.752,74 ha, diện tích rừng phòng hộ 37.499 ha, diện tích rừng đặc dụng 29.257 ha
Trang 38- Đất phi nông nghiệp Diện tích 42.306 ha, chiếm 6,49% tổng diện tích tự
nhiên Trong đó đất ở diện tích 4.545,87 ha, đất chuyên dùng 22.320,66 ha
- Đất chưa sử dụng Diện tích còn 21.326 ha, chiếm 3,27% diện tích tự
nhiên Trong đó diện tích đất bằng chưa sử dụng 3.332,99 ha, diện tích đất đồi núi chưa sử dụng 17.993,92 ha
e.Tài nguyên rừng
Diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh là 279.510 ha, độ che phủ đạt 43% Rừng tự nhiên được phân bố đều khắp các huyện, tập trung chủ yếu ở vùng núi cao, có tác dụng phòng hộ đầu nguồn, chống xói mòn, bảo vệ môi sinh
Chia theo mục đích sử dụng: đất có rừng sản xuất (kể cả rừng tự nhiên và rừng trồng) có 212.752 ha, chiếm 76% diện tích đất lâm nghiệp, phân bố ở hầu hết các huyện trong tỉnh; đất có rừng phòng hộ 37.499 ha, chiếm 13,4%, chủ yếu tập trung ở các huyện ĐắkR'Lấp, Đắk G’long, Đắk Mil, Đắk Song; đất có rừng đặc dụng 29.257 ha, tập trung chủ yếu ở Đắk G’long, Krông Nô, đây là khu rừng được sử dụng vào mục đích bảo tồn sinh thái, khai thác du lịch Rừng trồng chủ yếu tập trung ở các vùng gò đồi và núi thấp, khu vực gần dân cư
Tuy diện tích rừng tự nhiên ở Đắk Nông đã bị suy giảm nhiều nhưng vẫn
có nhiều hệ động vật và thực vật Rừng nguyên sinh có nhiều loại gỗ quí và cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị khoa học Ngoài ra còn có các loài động vật quí hiếm như voi, gấu, hổ v.v được ghi trong sách đỏ của nước ta và sách đỏ thế giới; có nhiều loại dược liệu quí là nguồn nguyên liệu để chế thuốc chữa bệnh trong y học dân tộc Đặc biệt, khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung, Tà Đùng có những khu rừng nguyên sinh với nhiều cảnh quan, thác nước đẹp tạo nên quần thể du lịch hấp dẫn
f.Tài nguyên khoáng sản
Theo điều tra đến năm 2010, đã phát hiện trên địa bàn tỉnh Đắk Nông có
178 mỏ và điểm mỏ khoáng sản với 16 loại khoáng sản chủ yếu: bauxit, wolfram, antimoal, bazan bọt, bazan cột, bazan khối, cát xây dựng, đá bazan, đá granit, sét gạch ngói, than bùn, opal, thiếc sa khoáng, kaolin, nước khoáng thiên nhiên, saphir
Trang 39Bauxite Phân bố ở thị xã Gia Nghĩa, các huyện Đắk G’long, Đắk R'Lấp,
Đắk Song, Tuy Đức nhưng tập trung chủ yếu ở thị xã Gia Nghĩa và huyện Đắk G’long Trữ lượng dự đoán 5,4 tỉ tấn, trữ lượng thăm dò 2,6 tỉ tấn, hàm lượng Al2O3 từ 35-40% Trên bề mặt của mỏ quặng Bauxite có lớp đất bazan bao phủ, nhưng hệ thực vật kém phát triển, thuận lợi cho việc khai thác Bauxite
Khoáng sản quí hiếm Khu vực xã Trường Xuân huyện Đắk Song là nơi
có nguồn tài nguyên đặc biệt quí hiếm là vàng, đá quí ngọc bích, saphia trắng Ngoài ra còn có Wolfram, thiếc, antimoal trên địa bàn thị xã Gia Nghĩa, huyện Đắk G’long, Cư Jút
Ngoài ra còn có các tài nguyên khá phong phú là nguyên liệu cho sản xuất vật liệu xây dựng như đất sét phân bố rải rác trên địa bàn một số huyện, có thể khai thác công nghiệp, sản xuất gạch ngói phục vụ nhu cầu xây dựng các công trình kinh tế - xã hội cũng như xây dựng dân dụng cho khu vực dân cư trên địa
bàn tỉnh Sét cao lanh làm gốm sứ cao cấp phân bố tập trung ở huyện Đắk G’long,
thị xã Gia Nghĩa; puzơlan làm nguyên liệu cho xi măng, gạch ceramic; đá bazan bọt làm nguyên liệu sản xuất gạch ốp lát cách âm, cách nhiệt, sợi chịu nhiệt v.v
Nguồn nước khoáng có ở Đắk Mil được khoan thăm dò tháng 6/1983 sâu
180 m khả năng khai thác rất lớn, khoảng 570 m3/ngày đêm và khí C02 đồng hành khoảng 9,62 tấn/ngày đêm Hiện tại chỉ mới khai thác khí C02
g.Tài nguyên du lịch
Trên địa bàn tỉnh có nhiều thắng cảnh thiên nhiên đẹp như các khu rừng nguyên sinh, các thác nước và các hồ chứa nước tự nhiên và nhân tạo Các thác nước đẹp, hùng vĩ, còn nguyên sơ nằm giữa rừng già như thác Trinh Nữ, thác Dray H'Linh, Dray Sáp, thác Dray Nur, thác Diệu Thanh, thác Gấu, thác Chuông, thác Ngầm (trong lòng núi), thác Liêng Nung, Đắk Glung, thác Ba Tầng, thác Gia Long v.v Những khu du lịch sinh thái và dã ngoại trong vùng nằm giữa khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung (25.000 ha), Tà Đùng (28.000 ha)
và thảo nguyên nhỏ trảng Ba Cây rộng trên 3 km2 phục vụ du lịch thể thao, cưỡi ngựa, sắn bắn, cắm trại
Trang 40Các buôn làng đồng bào dân tộc ít người với những nét sinh hoạt văn hóa truyền thống độc đáo như hội cồng chiêng, uống rượu cần, lễ hội đâm trâu là những tiềm năng cho phát triển du lịch văn hóa, nhân văn Đặc biệt là dân tộc M'Nông có truyền thống văn hóa độc đáo, giàu bản sắc dân tộc, có các sử thi, các lễ hội Đây là yếu tố có thể khai thác phát triển du lịch
Những tiềm năng du lịch trên cho phép đẩy mạnh phát triển du lịch với các loại hình đa dạng như: du lịch sinh thái tham quan thác nước, suối, hồ, đập, vườn, rừng; du lịch vui chơi giải trí: leo núi, sắn bắn, đua ngựa; du lịch văn hóa: tham gia các lễ hội của các đồng bào dân tộc, lễ hội cồng chiêng
2.1.1.2 Đặc điểm về xã hội
a.Dân số và lao động
Đắk Nông có 08 huyện, thị xã, 71 xã và 777 thôn, bon Dân số của Tỉnh năm 2014 là 583,4 nghìn người, mật độ dân số 87 người/km2 Trên địa bàn tỉnh Đắk Nông hiện có 40 dân tộc anh em đang làm ăn, sinh sống Trong đó đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm chiếm 31,5%; DTTS tại chỗ chiếm 10,8%, DTTS khác chiếm 20,7% Đến cuối năm 2015, toàn tỉnh vẫn còn 32 xã được công nhận xã đặc biệt khó khăn3
Đắk Nông đã được công nhận phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi năm 2010; được công nhận phổ cập trung học cơ sở năm 2009 Tỷ lệ thanh thiếu niên
từ 15 đến 18 tuổi có bằng tốt nghiệp THCS là 97,62%2
Đến đầu năm 2014, số người trong độ tuổi lao động của Đắk Nông là 326.700 người, chiếm 58,64%; dân số khu vực thành thị 55.200 người, chiếm 16,9%, khu vực nông thôn 271.500 người, chiếm 83,1% Số lao động tham gia hoạt động trong nền kinh tế là 280.900 người, chiếm 52,01% dân số, trong đó lao động trong nhóm tuổi từ 15 – 34 là 177.373 người, chiếm 54,47% lực lượng lao động Tỷ lệ lao động qua đào tạo tham gia hoạt động kinh tế đạt đạt 29,53% (tăng 2,89% so với năm 2010 là 26,64%)4, trong đó số lao động qua đào tạo nghề đạt 27% Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn là 85,75%;