Tìm hiểu đặc trưng thể loại của truyện ngắn nữ đương đại sẽ tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi đó, đồng thời sẽ làm sáng rõ đóng góp của các sáng tác nữ vào sự vận động và biến đổi của thể
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_
PHẠM THỊ THANH PHƯỢNG
TRUYỆN NGẮN CÁC NHÀ VĂN NỮ ĐƯƠNG ĐẠI-
TƯ DUY NGHỆ THUẬT VÀ ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
Chuyên ngành: Lý luận Văn học
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC Người hướng dẫn khoa học :PGS TS ĐOÀN ĐỨC PHƯƠNG
XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA LUẬN ÁN THEO QUYẾT NGHỊ CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Đoàn Đức Phương
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN
PGS.TS Phạm Thành Hưng
Hà Nội - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
- Luận án Tiến sĩ này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học, chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu của ai khác
- Luận án đã được tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc, cầu thị
- Kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khác đã được tiếp thu một cách trung thực, cẩn trọng trong luận án
NGHIÊN CỨU SINH
Phạm Thị Thanh Phƣợng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đoàn Đức Phương- người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn cơ sở đào tạo, các thầy cô giáo, cơ quan, bạn bè
và gia đình đã luôn động viên, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án này
NGHIÊN CỨU SINH
Phạm Thị Thanh Phƣợng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Đóng góp mới của luận án 10
6 Cấu trúc luận án 10
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 11
1.1 Một số vấn đề lí luận về tư duy nghệ thuật 11
1.1.1 Khái niệm tư duy nghệ thuật 11
1.1.2 Đặc trưng của tư duy nghệ thuật 12
1.1.3 Tư duy nghệ thuật theo thể loại văn học 14
1.2 Đặc trưng thể loại truyện ngắn 15
1.2.1 Định nghĩa truyện ngắn 16
1.2.2 Các yếu tố thi pháp đặc trưng 17
1.3 Tình hình nghiên cứu truyện ngắn nữ đương đại Việt Nam 21
1.3.1 Lí giải sự “lên ngôi” của các cây bút nữ 22
1.3.2 Tổng kết, đánh giá thành tựu của các cây bút nữ 23
1.3.3 Tiếp cận văn xuôi nữ dưới góc nhìn phê bình nữ quyền 27
Chương 2 DIỆN MẠO TRUYỆN NGẮN NỮ ĐƯƠNG ĐẠI TRONG SỰ VẬN ĐỘNG CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM THỜI KÌ ĐỔI MỚI Error! Bookmark not defined
2.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa và sự đổi mới văn họcError! Bookmark not defined
2.2 Sự “lên ngôi” và biến đổi của thể loa ̣i truyê ̣n ngắnError! Bookmark not
defined
2.2.1 Vụ “được mùa” và ưu thế cu ̉a thể loại truyê ̣n ngắnError! Bookmark not
defined
2.2.2 Như ̃ng biến đổi của thể loại truyê ̣n ngắn Error! Bookmark not defined
Trang 52.3 “Hiện tươ ̣ng” truyê ̣n ngắn nữ đương đa ̣i Error! Bookmark not defined
2.3.1 Truyê ̣n ngắn nữ trước thời kì đổi mới Error! Bookmark not defined
2.3.2 Truyê ̣n ngắn nữ thời kì đổi mới Error! Bookmark not defined 2.3.3 Sự hòa nhịp chung với văn chương nữ thế giớiError! Bookmark not defined
Chương 3 TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠIDƯỚI GÓC NHÌN TƯ DUY NGHỆ THUẬT Error! Bookmark not defined
3.1.Quan niệm sáng tác của các nhà văn nữ Việt Nam đương đại……… 56
3.2 Cảm quan mới về cuộc sống của các nhà văn nữError! Bookmark not defined
3.2.1 Hình tượng cuộc sống qua góc nhìn đạo đức, thế sựError! Bookmark not
defined
3.2.2 Yếu tố tự truyện như một phương thức tư duy nghệ thuật đặc thù của phái
nữ Error! Bookmark not defined
3.3 Thế giới nhân vật trong truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại Error!
Bookmark not defined
3.3.1 Hình tượng người phụ nữ Error! Bookmark not defined 3.3.2 Một nửa còn lại của thế giới Error! Bookmark not defined
3.4 Thế giới biểu tượng trong truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại Error!
Bookmark not defined
3.4.1 Con người dị biệt- khát vọng hướng thiện và khát vọng được cứu rỗi
Error! Bookmark not defined
3.4.2 Sex- bản năng hay là khát vọng tình yêu Error! Bookmark not defined 3.4.3 Giấc mơ- thế giới tâm linh thẳm sâu của con ngườiError! Bookmark not
defined
3.4.4 Thiên nhiên- dấu vết cổ mẫu và những ẩn dụ về cuộc đời con người Error!
Bookmark not defined
3.5 Không gian, thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại
Error! Bookmark not defined
3.5.1 Những cặp tương quan không gian tiêu biểu trong truyện ngắn nữ Error!
Bookmark not defined
Trang 63.5.2 Cảm thức thời gian trong truyện ngắn nữ Error! Bookmark not defined
Chương 4 ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠITRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI Error! Bookmark not defined
4.1 Người kể chuyện ngôi thứ nhất trong truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại
Error! Bookmark not defined
4.1.1 Các kiểu loại người kể chuyện ngôi thứ nhất trong truyện ngắn nữ Việt
Nam đương đại Error! Bookmark not defined
4.1.2 Đặc trưng điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ nhất trong truyện ngắn
nữ Việt Nam đương đại Error! Bookmark not defined
4.2 Nghệ thuật xây dựng tình huống Error! Bookmark not defined
4.2.1 Tình huống giàu kịch tính Error! Bookmark not defined 4.2.2 Tình huống tâm trạng Error! Bookmark not defined 4.2.3 Tình huống tự nhận thức Error! Bookmark not defined
4.3 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện Error! Bookmark not defined
4.3.1 Các loại hình cốt truyện trong truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại Error!
Bookmark not defined
4.3.2 Thủ pháp độc thoại nội tâm và “dòng ý thức”Error! Bookmark not defined
4.3.3 Xây dựng các kiểu kết truyện theo nguyên lí “đồng sáng tạo” Error!
Bookmark not defined
4.4 Những sáng tạo về mặt kết cấu Error! Bookmark not defined
4.4.1 Kết cấu đảo lộn thời gian tuyến tính Error! Bookmark not defined 4.4.2 Kết cấu vòng tròn Error! Bookmark not defined 4.4.3 Kết cấu truyện lồng trong truyện Error! Bookmark not defined 4.4.4 Kết cấu liên văn bản Error! Bookmark not defined 4.4.5 Kết cấu lắp ghép, phân mảnh Error! Bookmark not defined
4.5 Ngôn ngữ và giọng điệu Error! Bookmark not defined
4.5.1 Ngôn ngữ đa phong cách Error! Bookmark not defined 4.5.2 Giọng điệu đa sắc thái Error! Bookmark not defined
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined
Trang 7DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌCCỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO 32 PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bắt đầu từ một vài gương mặt gây ấn tượng “lạ”, “mới mẻ”, “cách tân”,từthời
kì đổi mới đến nay, số lượng các cây bút nữ viết truyện ngắn đã tăng lên “đột biến”, nhiều khi như “áp đảo” cả giới còn lại để tạo nên một thời kì “âm thịnh”đặc sắctrong đời sống văn xuôi đương đại.Sự ấn tượng không chỉ dừng lại ở những con số, mà điều quan trọng nó mang đến một giá trị, một cá tính, một bản lĩnh nghệ thuật của một
“tiềm năng” dường như đã bị “dồn nén” từ lâu Truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại thực sự là một hiện tượng độc đáo cần nhiều lời giải mã cho sự “trỗi dậy” này
Năm 1986 Đại hội Đảng VI với việc nhấn mạnh “đổi mới tư duy” đã được coi
là một cái mốc quan trọng tạo ra bước ngoặt mới cho sự phát triển của văn học Sự năng động của tư duy chính là nhân tố chìa khóa mở ra thành công của công cuộc đổi mới trên mọi lĩnh vực Trong đời sống nghiên cứu, lí luận, phê bình văn học, “tư duy nghệ thuật” cũng trở thành “điểm nóng” Nó được coi là yếu tố căn cốt tạo nên những thành tựu to lớn của văn học thời kì đổi mới Nghiên cứu truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại dưới góc độ tư duy nghệ thuật sẽ lý giải được sự “lên ngôi” của các cây bút
nữ từ chính yếu tố chủ quan- chủ thể sáng tạo nữ Qua đó chúng ta sẽ phần nào tìm ra được đặc điểm “khu biệt” trong tư duy nghệ thuật của truyện ngắn nữ so với truyện ngắn của những cây bút nam
Đa số tác giả nữ xuất hiện và thành công với truyện ngắn- sự lựa chọn thể loại này của họ hẳn không ngẫu nhiên, vô tình Liệu có một mối liên hệ nào đấy giữa giới tính- phái tính nữ với đặc trưng thể loại truyện ngắn, khiến các cây bút nữ tỏ ra rất
“vừa tay” (chữ dùng của Lý Hoài Thu) với thể loại này? Tìm hiểu đặc trưng thể loại của truyện ngắn nữ đương đại sẽ tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi đó, đồng thời sẽ làm sáng rõ đóng góp của các sáng tác nữ vào sự vận động và biến đổi của thể loại truyện ngắn trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam
Trang 9Nghiên cứu truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại qua hai góc độ: tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại, chúng tôi hi vọng sẽ khai mở được nhiều giá trị còn tiềm
ẩn trong hiện tượng độc đáo này
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích: trên cơ sở so sánh với truyện ngắn nữ giai đoạn trước và truyện
ngắn nam cùng thời, luận án muốn tìm ra chất nữ tính trong bề sâu của tư duy nghệ thuật, tạo nên những nét đặc trưng thể loại của truyện ngắn nữ đương đại- đó chính là những nét “khu biệt” làm nên giá trị, sự “thăng hoa” của truyện ngắn nữ đương đại
2.2 Nhiệm vụ:trước tiên, qua việc tổng hợp tư liệu, luận án sẽ làm sáng rõ
những vấn đề lí luận cơ bản về tư duy nghệ thuật, đặc trưng thể loại truyện ngắn, đồng thời phân tích, đánh giá các xu hướng nghiên cứu truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại
từ 1986 đến nay Tiếp theo, luận án sẽ đưa ra một cái nhìn khái quát về “hiện tượng” truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại, đặt nó trong những bối cảnh rộng lớn hơn để soi chiếu: bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, văn học thời kì đổi mới; sự “lên ngôi” và biến đổi của thể loại truyện ngắn; sự vận động của truyện ngắn- văn xuôi nữ Việt Nam từ trung đại đếnđương đại; sự “bùng nổ” của văn chương nữ thế giới đương đại Nhiệm
vụ trọng tâm của luận án được xác định trong hai nhiệm vụ tiếp theo: thứ nhất, từ việc tìm hiểu quan niệm sáng tác của các nhà văn nữ Việt Nam đương đại, luận án sẽ chỉ ra chất “nữ tính” trong bề sâu của tư duy nghệ thuật truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại (được khảo sát qua bốn phương diện: hình tượng cuộc sống, thế giới nhân vật, thế giới biểu tượng và không- thời gian nghệ thuật); thứ hai, qua việc phân tích các yếu tố cơ bản nhất làm nên đặc trưng thể loại truyện ngắn trong truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại: người kể chuyện ngôi thứ nhất, nghệ thuật xây dựng tình huống, nghệ thuật tổ chức cốt truyện, những sáng tạo về mặt kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu, luận
án muốn khẳng định đóng góp to lớn của các nhà văn nữ trong việc cách tân hình thức thể loại truyện ngắn
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Trang 10- Đối tượng: các phương diện biểu hiện của tư duy nghệ thuật và các yếu tố làm nên đặc trưng thể loại trong truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại
- Phạm vi: khái niệm “đương đại” được chúng tôi lựa chọn từ thời điểm năm 1986- năm diễn ra Đại hội Đảng VI, đánh dấu mốc thời kì văn học đổi mới- đến nay,
do đó phạm vi nghiên cứu của luận án là các truyện ngắn của các tác giả nữ Việt Nam
từ 1986 đến nay, tập trung vào những tác phẩm đăng trên các tuyển tập truyện ngắn
nữ Việt Nam đương đại và những tác phẩm tiêu biểu của các tác giả tiêu biểu (Lê Minh Khuê, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy…)
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận án, ngoài phương pháp phân tích, tổng hợp, chúng tôi kết hợp sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như sau:
- Phương pháp lịch sử- xã hội: nhằm tìm ra những tác động của hoàn cảnh lịch
sử, xã hội Việt Nam thời kì đổi mới đến sự phát triển của truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại, đồng thời đặt truyện ngắn nữ trong các tiến trình lịch sử khác nhau (tiến trình văn học dân tộc, thể loại,…) để đánh giá chính xác, khoa học đặc điểm, đóng góp của hiện tượng này
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: để phân tích yếu tố “hình thức mang tính quan niệm” (không gian- thời gian nghệ thuật) trong truyện ngắn nữ đương đại
- Phương pháp loại hình: bao quát đặc trưng thể loại truyện ngắn từ các phương diện biểu hiện cụ thể trong truyện ngắn nữ đương đại
- Phương pháp so sánh: được sử dụng thường xuyên trong sự liên hệ với truyện ngắn nữ các giai đoạn trước và truyện ngắn của các tác giả nam cùng thời để tìm ra nét đặc trưng của truyện ngắn nữ đương đại
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành (văn học với văn hóa, tâm lí học): những
mã văn hóa sẽ được vận dụng để tìm hiểu biểu tượng trong truyện ngắn nữ đương đại, còn những lí thuyết về tâm lí giới tính sẽ giúp giải mã những biểu hiện của “bản tính nữ” trong truyện ngắn nữ đương đại
Trang 11- Phương pháp tiểu sử: được sử dụng khi tìm hiểu yếu tố tự thuật như một phương thức tư duy nghệ thuật đặc thù của phái nữ
Ngoài ra, trong luận án có tiếp cận phương pháp từ lí thuyết phê bình nữ quyền
5 Đóng góp mới của luận án
- Qua việc tìm hiểu truyện ngắn nữ đương đại từ góc độ tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại, luận án bổ sung một cách nhìn, một cách đánh giá về một giai đoạn văn học dân tộc đang còn tiếp tục vận động và phát triển- giai đoạn văn học Việt Nam sau 1975
- Luận án cũng làm sáng tỏ, cụ thể hóa những lý thuyết về tư duy nghệ thuật và
về cấu trúc thể loại văn học qua một trường hợp tiêu biểu, độc đáo là truyện ngắn nữ đương đại
6 Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Diện mạo truyện ngắn nữ đương đại trong sự vận động của truyện ngắn Việt Nam thời kì đổi mới
Chương 3: Truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật Chương 4: Đặc trưng thể loại truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số vấn đề lí luận về tư duy nghệ thuật
1.1.1 Khái niệm tư duy nghệ thuật
Các nhà nghiên cứu văn học đều thống nhất nhận định rằng: công cuộc đổi mới
là trung tâm của dòng chảy văn chương Việt Nam đương đại Bắt đầu từ cái mốc này (năm 1986), diễn trình văn học nước ta có sự “gia tốc” mạnh mẽ với những biến chuyển lớn lao trên tất cả các phương diện (sáng tác, lí luận- phê bình ) Cũng bắt đầu từ thời điểm này, với yêu cầu của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương khóa
VI (thể hiện qua Nghị quyết 05) là “đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm” trong văn nghệ, vấn đề “tư duy nghệ thuật- tư duy văn học” đã trở thành một đối tượng cần được nghiên cứu Những ghi nhận nhanh nhạy của các nhà lí luận- phê bình
văn học: Mấy ghi nhận về sự đổi mới của tư duy nghệ thuật và hình tượng con người
trong văn học ta thập kỷ qua- Trần Đình Sử (1986) [78], Đôi nét về một tư duy văn học mới đang hình thành- Nguyên Ngọc (1990) [58], Đổi mới tư duy văn học và đóng góp của một số cây bút văn xuôi- Mai Hương (2006) [35] chứng tỏ vai trò “hạt
nhân” của tư duy nghệ thuật đối với sự đổi mới văn học Tuy nhiên, việc xuất phát từ những kiến thức lí luậnđể tường minh khái niệm, đặc trưng, các phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật trước khi đi vào những biểu hiện cụ thể của nó dường như chưa được chú trọng trong các bàiviết trên
Theo Từ điển tiếng Việt, tư duy là “giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi
sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí” [67, tr.1070] Trong các giáo trình triết học, theo quan điểm phép biện chứng duy vật của triết học Mác- Lênin, thuật ngữ “tư duy” xuất hiện gắn liền với thuật ngữ “tư duy trừu tượng” trong sự khái quát con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn- đó là con đường biện chứng của sự nhận
Trang 13thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” [12, tr.114].Với tư cách là một khâu trong quá trình nhận thức, tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính) là giai đoạn cao hơn (so với giai đoạn nhận thức cảm tính) của quá trình nhận thức “Đó là sự phản ánh gián tiếp, trừu tượng và khái quát những thuộc tính, những đặc điểm bản chất của sự vật, hiện tượng khách quan Đây là giai đoạn nhận thức thực hiện chức năng quan trọng nhất là tách ra và nắm lấy cái bản chất, có tính quy luật của các sự vật, hiện tượng ( ) được thực hiện thông qua ba hình thức cơ bản là: khái niệm, phán đoán và suy lý” [12, tr.117] Như vậy, qua hai định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra những khía cạnh mang tính bản chất của khái niệm “tư duy”: đó là hoạt động nhận thức lí tính của con người; mục đích là nhận thức và phản ánh thế giới khách quan;đặc trưng
là phản ánh, truy tìm các mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, của con người đối với thế giới khách quan, con người với con người, từ đó rút ra tri thức mới về sự vật, hiện tượng Dựa trên các tiêu chí khác nhau chúng ta có thể có nhiều cách phân loại tư duy Tuy nhiên, theo chúng tôi, cách phân loại căn cứ vào các tập hợp của hình thái ý thức xã hội như tác giả Nguyễn Bá Thành là khá hợp lý Theo đó, tư duy có thể được phân loại thành các nhóm lớn sau đây: tư duy khoa học, tư duy tôn giáo và tư duy nghệ thuật (xin xem thêm phần “Phân loại tư duy theo phương pháp” [86, tr.21])
Trong các sách giáo trình Lí luận văn học ([25],[50]), thay vì việc đưa ra một
định nghĩa về tư duy nghệ thuật các tác giả thường chỉ trình bày những đặc trưng của
nó Thiết nghĩ việc định hình khái niệm này bằng một định nghĩa (dẫu không thể toàn vẹn về nó) là một việc làm cần thiết để từ đó chúng ta đi sâu phân tích các khía cạnh đặc thù của kiểu tư duy này Chúng tôi đồng thuận với quan điểm của tác giả Nguyễn
Bá Thành khi ông dùng thuật ngữ “tư duy nghệ thuật” để chỉ phương thức tư duy sáng tác trong các ngành nghệ thuật như văn học, hội họa, âm nhạc, điêu khắc Và theo
đó, tư duy nghệ thuật có thể được định nghĩa “là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan” [86, tr.54]
1.1.2 Đặc trưng của tư duy nghệ thuật
Trang 14Về bản chất, tư duy nghệ thuậtcũng là một hoạt động nhận thức hiện thực cuộc sống của người nghệ sĩ Nhưng khác với tư duy khoa học lấy tư duy lôgic làm nòng cốt, kiểu tư duy đặc thù của nghệ thuật là tư duy hình tượng Trong sự đối sánh hai kiểu tư duy này (lôgic và hình tượng), chúng ta có thể rút ra được những nét đặc trưng của tư duy nghệ thuật
Tư duy lôgic là quá trình thâm nhập vào bản chất của đối tượng để tìm ra bản chất và quy luật nội tại của chúng Trong quá trình tư duy lôgic, những cái ngẫu nhiên, cá biệt từng bước bị gạt bỏ để nắm bắt cái cốt lõi, cái phổ quát, cái chung của các lớp sự vật, hiện tượng Sự trừu tượng hóa trong tư duy lôgic là quá trình phản ánh thế giới bằng các khái niệm, phán đoán, công thức, mô hình Trong khi đó, tư duy hình tượng lại phản ánh cái chung qua cái cụ thể mang tính đại diện, mang tính quy luật- sự khái quát hóa không rời bỏ mà gắn liền, thể hiện qua cái cá thể, các biểu tượng trực quan.Ở đây cần nhấn mạnh là cái cụ thể, cá thể trong tư duy nghệ thuật không phải là sự nhận thức mang tính cảm tính đơn thuần mà nó đã có sự lựa chọn, liên tưởng, là kết quả của một quá trình tổng hợp Mặt khác sự khái quát nghệ thuật để nắm bắt bản chất đối tượng không đồng nhất với sự khái quát của khoa học bởi nhận thức thực tại trong khoa học tương đối thống nhất, còn trong nghệ thuật thì vô cùng phong phú và đa dạng, có khi trái ngược nhau bởi nó chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan, nhân sinh quan và trình độ văn hóa của người sáng tạo
Nếu tư duy khoa học mang tính khách quan thì trong tư duy nghệ thuật tính chất chủ quan lại được thể hiện đậm nét Nghệ thuật không chỉ phản ánh quy luật của đời sống mà còn phản ánh cách đánh giá thẩm mĩ về đời sống– nó bao hàm thái độ của nghệ sĩ đối với hiện thực được tái hiện Yếu tố tình cảm và lí tưởng xã hội trong
tư duy nghệ thuật khiến cho nó mang tính biểu hiện cao, thể hiện được thế giới tinh thần phong phú, đa dạng của con người trong mối quan hệ với thế giới xung quanh Bên cạnh đó, sự thể nghiệm và hư cấu trong tư duy nghệ thuật cũng góp phần tạo ra nét đặc trưng của nhận thức nghệ thuật Sự “hình tượng hóa hiện thực khách quan” trong tư duy nghệ thuật không đơn giản là bằng những hình tượng nghe- nhìn mà chủ
Trang 15yếu là trên cơ sở những hình tượng tưởng tượng Quá trình tư duy nghệ thuật với sự tham gia tích cực của cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ đã tạo ra những hình tượng nghệ thuật độc đáo, giàu sức biểu cảm biểu hiện, mang tầm khái quát lớn lao, có sức sống lâu bền trong sự tiếp nhận của người thưởng thức
Tư duy nghệ thuật đòi hỏi một ngôn ngữ nghệ thuật làm “hiện thực trực tiếp” cho nó “Ngôn ngữ đó là hệ thống các kí hiệu nghệ thuật, các hình tượng, các phương tiện tạo hình và biểu hiện” [27, tr.325] Sự vận động của ngôn ngữ nghệ thuật là biểu hiện trực tiếp của quá trình tư duy Thứ ngôn ngữ ấy (của các ngành nghệ thuật như
âm nhạc, hội họa, điêu khắc, văn học, ) “dường như đã thoát khỏi thứ ngôn ngữ thường ngày mà vươn tới một hệ thống kí hiệu thẩm mĩ riêng biệt” [86, tr.56] Vì thế
tư duy nghệ thuật đã phản ánh trình độ tư duy trừu tượng và khái quát ở giai đoạn cao
1.1.3 Tư duy nghệ thuật theo thể loại văn học
Trước hết, cần nhìn nhận lại đối tượng nhận thức của văn học, bởi chúng ta đã chỉ ra rạch ròi sự khác nhau giữa tư duy nghệ thuật và tư duy khoa học (ở tính hư cấu,
lí tưởng thẩm mĩ về cuộc sống và tình cảm chủ quan của người nghệ sĩ) Nếu cùng mang bản chất là hoạt động nhận thức thế giới khách quan, cùng nhận thức một đối tượng, tại sao nhận thức khoa học không chấp nhận những đặc trưng của tư duy nghệ thuật (trong đó có tư duy văn học) như chúng ta đã chỉ ra ở trên? Giải thích điều này bằng việc chỉ ra đối tượng đặc thù của văn học: “Văn học như là tư duy về cái khả nhiên” [82], ý kiến của nhà nghiên cứu Trần Đình Sử là những gợi ý rất xác đáng giúp
ta giải thích được cơ chế nội tại của tư duy văn học Theo ông thì “tư duy chẳng phải
gì khác, mà là hành động xuyên qua hiện thực để tiến đến các khả năng bị che giấu trong đó” “Cái khả năng” có thể gọi cách khác là “cái khả nhiên”- “cái có thể như thế” “Hiện thực tồn tại trong dạng cái dĩ nhiên (cái đã có như vậy rồi) và “cái tất nhiên” (cái bắt buộc phải có theo qui luật tất yếu) Chỉ có trong văn học là có cái khả nhiên do nhà văn sáng tạo dựa trên cái khả năng của cuộc sống mà nhà văn phát hiện
ra ( ) Cái khả nhiên không phải là sự bịa đặt tùy tiện mà là sản phẩm sáng tạo trên
cơ sở cái khả năng mang ý nghĩa nhân sinh” [82, tr.10] Với đối tượng đặc thù ấy (cái
Trang 16khả nhiên), chúng ta không thể kiểm nghiệm tính chân thật của văn học bằng hiện thực, thực tiễn mà chỉ có thể kiểm nghiệm bằng kinh nghiệm, cảm giác, sự suy luận, ước muốn và tình cảm
Nói đến tư duy văn học là nói đến kiểu tư duy nghệ thuật ngôn từ Ở phần trên chúng ta đã nói thứ ngôn ngữ làm “hiện thực trực tiếp” cho tư duy nghệ thuật “là hệ thống các kí hiệu nghệ thuật, các hình tượng, các phương tiện tạo hình và biểu hiện” Trong văn học, mỗi thể loại có một phương thức biểu hiện đặc trưng để tiếp cận, nhận thức đối tượng đặc thù của mình (ví dụ trong thơ là sự thể hiện cảm xúc của nhân vật trữ tình, là vần điệu, nhịp điệu; trong thể loại tự sự là cốt truyện, nhân vật; trong kịch
là xung đột, ngôn ngữ và hành động của nhân vật; ) Do đó, xét về nội dung, đặc điểm, chất liệu của các hình tượng- công cụ của tư duy nghệ thuật, chúng ta có thể phân loại tư duy văn học theo thể loại (ví dụ tư duy thơ, tư duy tiểu thuyết, tư duy kịch, ) Tuy nhiên, trong đời sống nghiên cứu, lí luận, phê bình văn học, tư duy nghệ thuật theo thể loại văn học không chỉ dừng lại ở nghĩa hẹp của nó là tư duy văn học trong một thể loại cụ thể mà nó được mở rộng nghĩa, được dùng như một khái niệm chỉ hệ hình tư duy (ví dụ “tư duy sử thi” và “tư duy tiểu thuyết”)
Tìm hiểu tư duy nghệ thuật trong truyện ngắn nữ đương đại Việt Nam, bên cạnh việc chỉ ra những đặc điểm mang tính đặc trưng được thể hiện qua hệ thống các hình tượng nghệ thuật, chúng tôi còn muốn tìm ra sự cộng hưởng của các loại tư duy theo thể loại văn học trong tác phẩm của các nhà văn nữ
1.2 Đặc trƣng thể loại truyện ngắn
Trong thực tiễn đời sống văn học, khi tổng kết một giai đoạn, một thời kì, truyện ngắn với tư cách một thể loại bao giờ cũng được nhắc đến với một vị trí tiêu
biểu làm nên diện mạo một nền văn học (Quá trình văn học đương đại nhìn từ
phương diện thể loại- Vũ Tuấn Anh [2], Sự vận động của các thể loại văn xuôi trong văn học thời kỳ đổi mới- Lý Hoài Thu [92], Đời sống thể loại văn học sau 1975- Trần
Ngọc Dung [19], ) Tuy nhiên trên phương diện lí luận, sự tồn tại của truyện ngắn với tư cách là một thể loại độc lập không phải đã được định danh một cách thống nhất
Trang 17Biểu hiện rõ nhất cho vấn đề này là trong giáo trình Lí luận văn học do Hà Minh Đức
chủ biên [25], phần nói về “Loại thể văn học”, thể loại truyện ngắn đã không được đề cậpvới tư cách là một thể loại “quan trọng thường bắt gặp trong quá trình nghiên cứu
và thưởng thức văn học” (với mục đích “hiểu sâu đặc điểm của một số thể loại văn học chính, từ đó có thể mở rộng sự bàn luận ra các thể loại văn học khác” [25, tr.164], các tác giả chỉ đề cập đến bốn thể loại: thơ, tiểu thuyết, kịch, các thể kí văn học)
Trong chuyên luận Truyện ngắn- những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại, tác giả
Bùi Việt Thắng cũng khẳng định: “Truyện ngắn được quan niệm là một bộ phận của tiểu thuyết, vì thế trên nguyên tắc không có lí thuyết riêng cho truyện ngắn, lí thuyết của nó dựa vào lí thuyết của tiểu thuyết” [91, tr.61] Nhận diện thể loại truyện ngắn
là một nỗ lực liên tục của cả người sáng tác và giới nghiên cứu lí luận.Thiết nghĩ, nguyên tắc về tính lịch sử, tính thời đại, tính dân tộc và tínhbiến đổi của thể loại luôn luôn là những nguyên tắc khoa học giúp ta có những nhận định đúng đắn khi nghiên cứu về bất cứ thể loại văn học nào Mặc dù có nhiều quan điểm về sự ra đời cũng như khái niệm truyện ngắn, nhưng chúng tôi lựa chọn phạm vi là “truyện ngắn hiện đại” (trong sự đối sánh với “truyện ngắn trung đại”, và có thể là “truyện ngắn
cổ đại” như sự phân chia các giai đoạn phát triển thể loại truyện ngắn của một số nhà nghiên cứu) để làm điểm tựa lựa chọn các vấn đề lý thuyết nhằm xác lập nội hàm khái niệm thể loại này
1.2.1 Định nghĩa truyện ngắn
Định nghĩa truyện ngắn được hiện hữu trong các sách lí luận, từ điển về văn học, trong các ý kiến bàn luận của chính những người sáng tác (Pautôpxki, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Kiên, Nguyên Ngọc, ) Nó phong phú, đa dạng đến mức có nhiều ý kiến cho rằng không thể và không nên định nghĩa truyện ngắn, bởi đó là thể loại “nghìn mặt”, thể loại “không thể nắm bắt” (trích theo [92, tr.40]) Về nguyên tắc, chúng tôi tán đồng với quan điểm của Lê Huy Bắc khi ông cho rằng: “truyện ngắn không thể lệ thuộc vào tiểu thuyết về mặt kĩ thuật, phản ánh Nên những định nghĩa
về truyện ngắn cần phải xuất phát từ chính đặc trưng của thể loại” [9, tr.89] Theo
Trang 18chúng tôi, cách định nghĩa truyện ngắn của Phan Cự Đệ [96, tr.782]là bao gồm một hệ
thống đặc điểm nhằm phản ánh những đặc trưng về nội dung và hình thức thể loại là
khá hợp lí Theo đó, nội hàm khái niệm thể loại truyện ngắn thể hiện ở những đặc điểm sau:
Tất nhiên trên đây chỉ là những đặc điểm cơ bản mang tính khái quát nhất về thể loại truyện ngắn Trong quá trình phát triển, truyện ngắn sẽ thâu nạp thêm những đặc điểm mới do sự tác động của những thay đổi trong lịch sử xã hội và trong chính đời sống nội tại của nền văn học Nội hàm khái niệm truyện ngắn sẽ được soi rọi rõ hơn qua các yếu tố thi pháp đặc trưng của thể loại
1.2.2 Các yếu tố thi pháp đặc trưng
Thuộc loại hình tự sự nên về mặt lí thuyết, trước hết truyện ngắn phải mang những đặc trưng cốt lõi của loại hình này (trong sự phân biệt với loại hình trữ tình, kịch) Đó là “phương thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vi con người làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay về một cái gì đó Cho nên tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện Gắn liền với cốt truyện là một hệ thống nhân vật được khắc họa đầy đủ nhiều mặt hơn hẳn nhân vật trữ tình và kịch ( ) Nguyên tắc phản ánh hiện thực trong tính khách quan đã đặt trần thuật vào vị trí của nhân tố tổ chức ra thế giới nghệ thuật của tác phẩm tự sự, đòi hỏi nhà văn phải sáng
tạo ra hình tượng người trần thuật” (mục từ “Tự sự” trong Từ điển thuật ngữ văn học
[27, tr.328]) Trong sự “cạnh tranh” với các thể loại khác cùng thuộc loại hình tự sự, muốn khẳng định tính “độc lập” của mình, truyện ngắn phải “khoanh vùng” những
Trang 19đặc trưng thẩm mĩ riêng biệt Về mặt này, các nhà nghiên cứu tương đối thống nhất khi cho rằng “ngắn” là nét đặc trưng nhất, quan trọng nhất, tạo nên những quy chuẩn khu biệt thể loại này với các thể loại lân cận Sự so sánh với tiểu thuyết là thao tác thường xuyên được tiến hành khi “nhận dạng” truyện ngắn Vấn đề đặt ra là, sự khác biệt giữa hai thể loại này là về cấp độ (degree) hay về chủng loại (kind)?
Theo sự thu nhận của chúng tôi, sự khác nhau giữa truyện ngắn và tiểu thuyết không phải nằm ở dung lượng dài- ngắn, mà ở đặc trưng của nguyên tắc phản ánh.Như ở phần định nghĩa đã nêu, truyện ngắn là một hình thức hư cấu tự sự cỡ nhỏ, trong khi tiểu thuyết là hình thức hư cấu tự sự cỡ lớn Cả hai đều nằm trong khu vực tiếp xúc trực tiếp với cái hiện thực đang vận động và phát triển, đều huy động kinh nghiệm sống và từng trải của chính tác giả, đều sử dụng một thứ ngôn ngữ văn xuôi giàu chất tạo hình và đa thanh, nhưng nếu tiểu thuyết mở rộng biên độ phản ánh, việc thiết lập thường phong phú, đa diện thì truyện ngắn chọn lấy một nút thắt, đi thẳng vào trung tâm xung đột (có thể là xung đột xã hội hoặc xung đột tâm lý), từ đó bung
ra, đập mạnh vào ấn tượng người đọc “Nó cắt ra một mảnh nhỏ của hiện thực, đặt mảnh ấy vào trong những giới hạn nào đó, nhưng nhờ vậy tác phẩm sẽ bung ra như một cú nổ làm mở toang một hiện thực rộng lớn hơn rất nhiều” (Julio Cotázar, trích theo [41]) Điều đó có nghĩa là, truyện ngắn dĩ nhiên phải ngắn, nhưng không phải là một chương của tiểu thuyết, một cái sườn truyện từ đó có thể phát triển ra thành tiểu
thuyết, mà thực sự như một bài hai-kư “một sự tình vắn tắt đã tìm được hình thức vừa
vặn với mình” (Roland Barthes).Với nguyên tắc “tinh lọc”, “nén gọn”, thể loại truyện
ngắn dung nạp một hệ thống thi pháp đặc trưng để tạo nên hiệu quả riêng biệt của mình
1.2.2.1 Tình huống truyện ngắn
Có ý kiến cho rằng đây là hạt nhân của cấu trúc thể loại truyện ngắn (Chu Văn Sơn [76]) Xuất phát từ những trang viết của Hêghen về tình huống trong tác phẩm
Trang 20Mỹ học, nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng đã rút ra những kết luận chính để giúp chúng
nắm bắt trúng những tình huống cho phép phơi bày cái chủ yếu nhưng lại bị che giấu
trong muôn mặt cuộc sống hàng ngày Nhìn chung, mỗi truyện ngắn bao giờ cũng được xây dựng trên một tình huống, khai thác tình huống ấy”[23, tr.355]
Có nhiều cách phân loại tình huống Dựa theo kiểu nhân vật chính trong tác phẩm chúng ta có thể phân thành ba dạng cơ bản: tình huống giàu kịch tính, tình huống tâm trạng và tình huống tự nhận thức
1.2.2.2 Cốt truyện truyện ngắn
Như ở trên đã đề cập, về mặt lí thuyết, khi thuộc loại hình tự sự thì truyện ngắn bao giờ cũng là một câu chuyện về ai đó hay về một cái gì đó Cho nên tác phẩm truyện ngắn bao giờ cũng có cốt truyện Đó là “một hệ thống các sự kiện phản ánh những diễn biến của cuộc sống và nhất là các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các tính cách hình thành và phát triển trong những mối quan hệ qua lại của chúng nhằm làm sáng tỏ chủ đề và tư tưởng tác phẩm” [25;137] Tuy nhiên, quan niệm về đặc điểm cốt truyện trong truyện ngắn mang tính lịch sử chứ không phải là một “công thức đóng khung” bất biến theo thời gian Theo trường phái “cổ điển” mà tiêu biểu là quan niệm của Edgar Poe (thế kỉ XIX)về tính “hiệu quả duy nhất” trong
Trang 21truyện ngắn thì cốt truyện truyện ngắn phải hết sức chặt chẽ với sự phát triển giàu kịch tính của các sự kiện và đặc biệt phải chú trọng tạo ra những cái kết bất ngờ (có thể kể đại diện xuất sắc cho những sáng tác cốt truyện “kinh điển” kiểu này là O’Henry ở Mỹ, Môpatxăng ở Pháp, Nguyễn Công Hoan ở Việt Nam, ) Đến nửa sau thế kỉ XX, giới lí luận phê bình và cả những người sáng tác lại phản ứng khá gay gắt với quan niệm “kịch hóa” cốt truyện như thế Họ khẳng định những phẩm chất mới của cốt truyện,dùng những cốt truyện không có kịch tính nhưng được trình diễn bằng một lối kể tinh xảo để thay thế cho những cốt truyện giàu kịch tính- cái mà tác phẩm
đó phản ánh là suy nghĩ, cảm giác, diễn biến nội tâm của con người chứ không phải tính cách nhân vật hay những xung đột xã hội.Nhưng dù nằm trong ô phân loại nào (cốt truyện sự kiện, cốt truyện tâm lí hay sự hỗn hợp sự kiện- tâm lí) thì với đặc trưng
là ngắn gọn, muốn tạo được sự “dồn nén” trong dung lượng- khả năng phản ánh hiện thực, muốn gây được dư âm cộng hưởng trong nhận thức của người đọc, cốt truyện truyện ngắn phải đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng chi tiết và đoạn kết Đó là những yếu tố quan trọng góp phần tạo ra khả năng “bùng nổ” của hình thức hư cấu tự
- Cấp độ trần thuật (tổ chức điểm nhìn, bố cục, các thành phần của trần thuật…) Đặc trưng “hình thức hư cấu tự sự cỡ nhỏ” khiến việc sáng tác truyện ngắn được liên tưởng đến việc thực hiện một tác phẩm thủ công mĩ nghệ đòi hỏi sự tinh xảo, chính xác cao: “Gọt giũa một văn bản ngắn, làm cho nó tròn trịa, toàn bích trong phạm vi vài trang giấy là một thú vui lớn, đồng thời đòi hỏi người viết phải có nghệ