1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TĂNG CƯỜNG VẬN DỤNG CÁC BÀI TOÁN CÓ NỘI DUNG THỰC TIỄN VÀO DẠY HỌC MÔN TOÁN ĐẠI SỐ NÂNG CAO 10 THPT

73 579 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 762,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với các thế hệ nhà thơ có quá trình sáng tạo nghệ thuật trước cách mạng tháng Tám: Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, Anh Thơ… đội ngũ ấy bao

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Lấ THỊ THANH PHƯƠNG

TĂNG CƯỜNG VẬN DỤNG CÁC BÀI TOÁN Cể NỘI DUNG THỰC TIỄN

VÀO DẠY HỌC MễN TOÁN ĐẠI SỐ NÂNG CAO 10 - THPT

Chuyờn ngành: Lý luận và phương phỏp dạy học

Mó Số: 60.14.10

TểM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC

THÁI NGUYấN - 2008

Công trình đ-ợc hoàn thành tại: Tr-ờng đại học SƯ PHạM

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS NGUYỄN NGỌC UY

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Luận văn sẽ đ-ợc bảo vệ tr-ớc Hội đồng chấm Luận văn:

Vào hồi: giờ ngày tháng năm 2008

Có thể tìm hiểu Luận văn tại:

Th- viện tr-ờng Đại học S- phạm

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nền thơ cách mạng Việt Nam 1945 - 1975 trải qua nhiều chặng

đường khác nhau, mỗi chặng đường thơ đều gắn liền với những sự kiện

chính trị lớn, chi phối toàn diện đời sống xã hội và đã đạt được những

thành tựu đáng ghi nhận

Nhìn lại chặng đường thơ hơn nửa thế kỷ qua, có thể nói thời kì 1954 -

1964 được đánh giá là giai đoạn chuyển tiếp, giai đoạn “bản lề” giữa thơ ca

thời kì chống Pháp và chống Mĩ Sau những năm kháng chiến chống Pháp,

thơ viết về đất nước mở ra nhiều hướng khai thác và có nhiều sáng tạo mới

mẻ Đây là giai đoạn mà thơ ca có nhiều mùa gặt bội thu Nhiều nhà thơ tìm

được cảm hứng từ hiện thực và vẻ đẹp của con người hăng say xây dựng cuộc

sống mới Thơ ca giai đoạn này là mối duyên đầu của tấm lòng nhà thơ với

chủ nghĩa xã hội Những đổi thay tốt đẹp từng ngày trong cuộc sống cùng với

những tưởng tượng về cuộc sống ngày mai tươi sáng, gần gũi đã tạo nên

những tứ thơ đẹp giàu ước mơ và chân thực Hai miền Nam Bắc tuy có những

yêu cầu khác nhau nhưng cùng chung một nhiệm vụ chiến lược: đấu tranh

thống nhất nước nhà

Có thể nói thơ ca thời kỳ này phát triển cao ở nhiều phương diện, từ lực

lượng sáng tác đến sự ra đời của ý thức nghệ thuật mới, cảm hứng mới Đa

dạng về sự tìm tòi, về cá tính sáng tạo và định hình nhiều phong cách nghệ

thuật, tạo nên sự khởi sắc cho cả một giai đoạn thơ Hầu hết các nhà thơ đều

xuất bản những tập thơ riêng có giá trị

Tố Hữu, lá cờ đầu của thơ ca cách mạng cho ra đời tập thơ Gió Lộng,

Xuân Diệu giải quyết vấn đề “riêng - chung” qua ba tập thơ: Riêng chung,

và dựng xây bằng ba tập thơ: Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, Bài ca

thương ra cánh đồng vui” trong Ánh sáng và phù sa Tế Hanh xúc động cao

độ và xót xa thương nhớ đối với Miền Nam, tin tưởng ở miền Bắc: Gửi miền

Lưu Trọng Lư, Hoàng Trung Thông… đều có những tập thơ của riêng mình được bạn đọc yêu thích

Thực tế sáng tác, số lượng và chất lượng thơ thời kỳ 1954 – 1964 đã tạo nên phẩm chất mới cho thơ: cảm xúc thơ phong phú, nhuần nhị, nghệ thuật thơ có nhiều tìm tòi khám phá, đội ngũ sáng tác đông, có trình độ vốn sống vững vàng

Qua tìm hiểu thơ Việt Nam 1954 - 1964 chúng tôi nhận thấy thơ ca thời

kì này từ trước tới nay đã được giới chuyên môn quan tâm, nhưng nhìn chung chưa được nghiên cứu một cách toàn diện về thành tựu, chất lượng chung cả

phong trào cũng như những đặc điểm nổi bật của nó Luận văn Đặc điểm thơ Việt Nam thời kỳ 1954 - 1964 của chúng tôi mong muốn bổ khuyết phần nào

sự thiếu hụt đó, góp phần đưa ra một cách nhìn có hệ thống và đầy đủ hơn về thơ Việt Nam thời kì 1954 - 1964

Đây cũng là thời kì có nhiều bài thơ được giảng ở trường phổ thông các cấp, các trường đại học, cao đẳng Việc chọn đề tài này giúp cho người viết có cái nhìn sâu rộng hơn nhằm phục vụ cho việc giảng dạy của mình đồng thời cũng qua đây hy vọng đóng góp phần nào cho quá trình tiếp cận giảng dạy văn học sử trong nhà trường phổ thông

2 Lịch sử vấn đề

Thơ ca giai đoạn 1954 - 1964 là một bộ phận cấu thành nên thơ ca hiện đại Việt Nam từ sau cách mạng tháng tám năm 1945 đến nay Bởi vậy, việc nghiên cứu đặc điểm của thơ ca giai đoạn này gắn liền với việc nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của cả nền thơ Việt Nam sau Cách mạng

Trang 3

tháng Tám Nhìn chung, có thể chia lịch sử nghiên cứu thơ thời kỳ 1954 -

1964 theo những mảng chính như sau:

2.1 Những công trình bàn trực tiếp về thơ thời kỳ 1954 - 1964

Trước hết là các công trình nghiên cứu thể hiện trong các giáo trình Đại

học ngành Ngữ văn Ngay từ năm 1961, GS Hoàng Như Mai đã dành

Chương XXI trong cuốn Văn học Việt Nam thời hiện đại (1945 - 1960) để

trình bày về “Thơ ca hoà bình lập lại” Trong khi đánh giá chung về sự phát

triển và thành tựu của thơ ca trong vòng 6 năm sau ngày hoà bình (1954),

Giáo sư cũng đã bước đầu chỉ ra một số đóng góp của các nhà thơ tiêu biểu

như Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh…

Đồng thời, năm 1962 Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cũng cho ra đời

cuốn Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam tập VI (1945- 1960) của PGS

Huỳnh Lý và Trần Văn Hối Trong đó, các tác giả đã nêu ra ba đặc điểm của

thơ ca giai đoạn này là: thơ đi vào hai loại đề tài là đấu tranh thống nhất nước

nhà và lao động kiến thiết xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc Những năm về sau

trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả của hai trường Đại học

(Sư phạm và Tổng hợp) tiếp tục có Chương, Mục đánh giá về thơ giai đoạn

1954 - 1964 như Văn học Việt Nam 1954 - 1964 của Mã Giang Lân- Lê Đắc

Đô (1990) Văn học Việt Nam 1945 -1975, tập I của GS Nguyễn Đăng Mạnh

và PGS Nguyễn Trác, PGS Trần Hữu Tá GS Mã Giang Lân cho rằng: “Thơ

giai đoạn này đã vượt qua những kể lể mộc mạc của giai đoạn trước, cố gắng

khám phá ra vẻ đẹp bên trong của cuộc sống, khái quát tạo ra những hình

tượng thơ có tính chất điển hình Thơ không chịu nằm lỳ trong những thể loại

đã định hình từ trước mà nó luôn tìm tòi sáng tạo”

Năm 1979, trong bộ sách “Nhà văn Việt Nam (1945 - 1975)” viết

cùng giáo sư Phan Cư Đệ, giáo sư Hà Minh Đức có nhận định về “Thơ ca

nước anh hùng, về tổ quốc xã hội chủ nghĩa giàu đẹp vẫn là cảm hứng chủ

đạo trong thơ ca suốt một giai đoạn mới Trong thơ ca có tiếng nói da diết nhớ thương về tình cảnh đất nước còn bị chia cắt hai miền Nhưng trước hết bài ca

về đất nước là bài ca thắng lợi, bài ca xây dựng”

Năm 2003, trong cuốn Văn học Việt Nam trong thời đại mới, PGS

Nguyễn Văn Long cũng đưa ra những nhận định của mình về thơ trong 10 năm hòa bình sau cuộc kháng chiến chống Pháp: “Thơ trong khoảng 10 năm từ

1955 - 1964 đã có bước phát triển mới phong phú đa dạng và vững chắc, trên

cơ sở những thành tựu và phương hướng mà thơ ca kháng chiến đã đạt được” Bên cạnh những công trình khái quát về một giai đoạn thơ ca nói trên còn có nhiều bài viết đánh giá chung về tình hình phát triển của văn học qua các chặng đường Trong đó có thành tựu của giai đoạn 1954 - 1960 hoặc1954

- 1964 Đáng chú ý có bài viết của Xuân Diệu Mười lăm năm thơ Việt Nam

Mặc dù ở điểm nhìn trong khoảng 5 năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ

nhưng Xuân Diệu đã nhận ra rằng: “…thơ của ta, những năm gần đây 1958,

1959, 1960 có một bước nhảy quan trọng về chất lượng”

Nhân kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh (1960), Hồ Tuấn

Niêm có bài trên Tạp chí Nghiên cứu văn học “Mười lăm năm văn học Việt

giai đoạn sau 1954 qua một số tác giả tiêu biểu

2.2 Những bài nghiên cứu về tác giả, tác phẩm

Đánh giá thành tựu về thơ của một giai đoạn, không thể tách rời phong trào sáng tác nói chung với các đỉnh cao của nó Rất nhiều các bài nghiên cứu, phê bình về các tập thơ, bài thơ của các tác giả ra đời trong thời kỳ 1954 -

1964 đã giúp người đọc có cái nhìn đầy đủ hơn diện mạo của thơ Việt Nam giai đoạn này

Có thể kể đến các bài của Hoài Thanh, Hà Xuân Trường, Bảo Định

Giang, Lê Đình Kỵ viết về tập Gió Lộng (1961) của Tố Hữu Các bài của Xuân

Trang 4

Diệu, Lê Đình Kỵ, Hà Minh Đức viết về tập thơ Ánh sáng và phù sa (1960)

của Chế Lan Viên Các bài của Phan Cự Đệ, Lê Nhuệ Giang, Vũ Đức Phúc viết

về các tập thơ Riêng chung (1960), Một khối hồng (1964) của Xuân Diệu Các

bài của Chế Lan Viên, Lê Đình Kỵ, Đào Xuân Quý, Nguyễn Hoành Khung viết

về các tập Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời

(1963) của Huy Cận Các bài của Lê Đình Kỵ, Đỗ Hữu Tấn, Nguyễn Đình,

Hoàng Minh Châu, Thiếu Mai viết về các tập thơ Gửi miền Bắc (1958), Tiếng

Nhìn chung, các bài viết về từng tập thơ thường hướng theo phân tích

tác phẩm, nghiêng về khẳng định những thành công và đóng góp của tập thơ,

khẳng định vị trí của tập thơ trong quá trình sáng tác của tác giả Các ý kiến

đó thường nghiêng về sự biểu dương các thành tựu của cả phong trào cũng

như đặc điểm phong cách nhà văn Tuy nhiên nó thường được nhìn nhận một

cách riêng lẻ (nhất là các bài viết về từng tập thơ)

Đó là chưa kể nhiều bài viết giới thiệu các nhà thơ có tác phẩm ra đời

vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước, thời điểm được mệnh danh là “mùa

gặt” của văn học ta nói chung và thơ ca nói riêng

Với sự xuất hiện của tuyển tập thơ: Tiếng hát miền Nam, Sức mới

(Tập thơ bạn trẻ)… cũng có những bài phê bình giới thiệu kịp thời Trong bài

Tựa tập thơ Sức mới, Chế Lan Viên khẳng định sự phát triển của phong trào

thơ, thành công của một hướng đi: từ cuộc sống gắn bó với cuộc sống “nồng

ấm hơi thở cuộc sống”, tuy còn hạn chế không nhỏ “còn chọn lọc cuộc sống

theo một quan niệm “thi vị hoá” khá lỗi thời” “còn lên gân, nhồi nhét các chữ

ầm ĩ, ồn ào trong lời văn tụng ca cuộc sống”, phải làm sao cho “ngọn lửa lí

tưởng trong thơ của thế hệ trẻ bừng cháy thêm” “chất thép sắc nhọn thêm”,

“mỗi ngày càng thêm có màu sắc dân tộc” Dẫu còn sơ lược và chỉ dừng ở

phạm vi thơ trẻ nhưng ít nhiều bài viết của Chế Lan Viên đã mang tính chất đánh giá phong trào của một thời kỳ thơ

2.3. Các công trình nghiên cứu toàn bộ sự nghiệp của các nhà thơ, trong đó có

chặng đường 1954 - 1964 Tiêu biểu là các công trình; Nhà thơ Việt Nam

chung giới thiệu quá trình sáng tác, những nét riêng trong phong cách, cá tính sáng tạo, sự trưởng thành trên con đường nghệ thuật của các nhà thơ tiêu biểu trong nền thơ Cách mạng như: Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận,

Tế Hanh, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Bính, Anh Thơ, Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Thu Bồn, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật… Ở những công trình này, các bài viết chú trọng tới việc dựng chân dung tổng quát về từng nhà thơ, khẳng định phần đóng góp và vị trí của từng nhà thơ trong nền thơ dân tộc, mà không tiếp cận ở góc độ văn học sử - dựng diện mạo của giai đoạn thơ

Nhìn lại lịch sử nghiên cứu thơ 1954 - 1964 ta có thể thấy

- Đây là một thời kỳ phát triển mới giàu thành tựu (xét trên nhiều phương diện từ đội ngũ sáng tác, số lượng tác phẩm, phẩm chất thơ, phong cách sáng tạo…) trong tiến trình của nền thơ Cách mạng Việt Nam Tuy nhiên việc tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá này còn chưa tương xứng với vị trí, thành tựu và những đóng góp của nó Phần lớn các công trình, các bài viết, các bài nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở những tác phẩm, những tác giả riêng lẻ biệt lập hoặc được nhắc tới khi nghiên cứu về cả tiến trình chung của thơ Cách mạng Việt Nam mà chưa xem xét và đặt nó như một đối tượng nghiên cứu riêng biệt, cũng chưa đi sâu vào khảo sát, nghiên cứu một cách kỹ lưỡng toàn diện Với luận văn này, trên cơ sở tiếp thu kế thừa những giáo trình, những bài viết, những nhận định, đánh giá mà các nhà nghiên cứu đưa ra thật sự có giá trị Đó

Trang 5

là những tư liệu định hướng, gợi ý đối với chúng tôi trong quá trình triển khai

đề tài này

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu đặc điểm thơ thời kỳ 1954 -

1964 trong tiến trình thơ VNHĐ, từ phương diện cảm hứng và các xu hướng

khám phá thể hiện Trên cơ sở đó đánh giá, khẳng định thành tựu nổi bật của

thơ thời kỳ này

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thơ thời kỳ 1954 - 1964, chủ yếu

là phong trào sáng tác thơ của ba lực lượng: Thơ của các nhà thơ có sáng tác

từ trước Cách mạng tháng Tám, thơ của các nhà thơ trưởng thành trong kháng

chiến chống Pháp và thơ của các nhà thơ trẻ xuất hiện sau 1954

Chủ yếu khảo sát những bài thơ có giá trị về nội dung tư tưởng và nghệ

thuật và một số tập thơ của các nhà thơ tiêu biểu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các tác phẩm thơ của các tác giả

tiêu biểu từ 1954 - 1964 với trọng tâm là thơ Cách mạng, thơ kháng chiến

Luận văn chưa có điều kiện đề cập tới mảng thơ ở các đô thị miền Nam được

sáng tác theo những cảm hứng nội dung tư tưởng khác Bên cạnh đó để làm rõ

các đặc điểm thơ Việt Nam thời kỳ 1954 - 1964 luận văn lấy các tác phẩm

tiêu biểu trong thơ các giai đoạn khác để tiến hành so sánh

5 Những đóng góp của luận văn

Luận văn đóng góp một cách nhìn toàn diện, có hệ thống về thơ thời kỳ

1954 - 1964 Nêu lên những nhận định bước đầu, có tính chất khái quát mà trước

đây chỉ mới được phác qua về những tác phẩm cụ thể, những khía cạnh riêng lẻ

Phác thảo diện mạo chung của đội ngũ, nêu lên những đường nét cơ

bản về sự vận động và phát triển của lực lượng sáng tác, ý thức nghệ thuật,

phong cách nghệ thuật tiêu biểu và các xu hướng vận động phát triển của thơ

Mở rộng phạm vi đề tài, xu hướng khái quát, tổng hợp, triết lí, suy tưởng và

xu hướng tự do hoá hình thức thơ

Qua đó nhằm góp phần khẳng định vai trò - vị trí của giai đoạn thơ

1954 - 1964 trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp so sánh - lịch sử: phương pháp này nhằm so sánh tìm ra những đặc điểm tiêu biểu của thơ thời kỳ 1954 - 1964 trong tương quan với đặc điểm thơ các giai đoạn khác

- Phương pháp hệ thống - phân loại: phương pháp này nhằm tìm kiếm sắp xếp các yếu tố, có cùng tính chất để phân tích, đánh giá, tổng kết vấn đề

- Phương pháp phân tích tổng hợp: làm nổi lên giá trị của các tác phẩm thơ, kết cấu văn bản thơ ở từng đơn vị và trong hệ thống vận động của thể loại

7 Cấu trúc luận văn Phần mở đầu Phần nội dung: Gồm 3 chương :

- Chương 1: Thơ thời kỳ 1954 - 1964 trong tiến trình thơ Việt Nam

Trang 6

Chương 1 THƠ THỜI KÌ 1954 - 1964 TRONG TIẾN TRÌNH THƠ

VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

1.1 ĐỘI NGŨ SÁNG TÁC VÀ SỰ TRƯỞNG THÀNH CỦA Ý THỨC NGHỆ

THUẬT MỚI

1.1.1 Đội ngũ các nhà thơ

Như một sự tất yếu của mỗi thời kì lịch sử, mỗi giai đoạn văn học, đều

cần có một đội ngũ sáng tác văn học của mình

Hợp thành đội ngũ thơ 1954 - 1964 là ba lực lượng chính: Thế hệ các

nhà thơ tiền chiến được rèn luyện thử thách và “lột xác” từ trong lò lửa của

cuộc kháng chiến chín năm, những nhà thơ trưởng thành trong phong trào thơ

ca kháng chiến chống Pháp và đáng chú ý là lớp nhà thơ mới xuất hiện, được

nuôi dưỡng và trưởng thành sau hoà bình (1954)

Đối với các thế hệ nhà thơ có quá trình sáng tạo nghệ thuật trước cách

mạng tháng Tám: Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh, Thế Lữ, Lưu

Trọng Lư, Nguyễn Bính, Anh Thơ… đội ngũ ấy bao gồm những nhà thơ đã

trải qua cuộc đời nô lệ của người dân mất nước, hồ hởi đến với cách mạng

“Như chờ vang tiếng sét giữa trời mây” (Chế Lan Viên), đây là giai đoạn

phát triển đến đỉnh cao trên nhiều phương diện: Ý thức nghệ thuật, cá tính

sáng tạo và thành tựu thơ

Đến với Tố Hữu - một thi sĩ có “tầm cỡ khai sáng cho cả nền thơ trữ

tình cách mạng” [45,280], con chim đầu đàn vạch hướng cho cả một nền

thơ, là người “mở đường” và tiêu biểu nhất cho nền thơ cách mạng Ngay từ

tiếng nói thơ ca đầu (trước cách mạng), Tố Hữu đã thể hiện rõ một con đường

đi, một hướng sáng tạo Bởi vậy ngay từ đầu Tố Hữu đã chín với chất sống

mới chất đời mới “Ông không chịu chung quy luật chín lại với thực tế mới của một số nhà thơ lớp trước và đã vượt qua được bước sôi nổi ban đầu nhưng còn chưa vững chắc của lớp nhà thơ mới lớn lên với cách mạng tháng Tám” [22, 134] Là người cùng thế hệ với nhiều nhà Thơ mới, Tố Hữu trước khi giác ngộ lí tưởng cách mạng cũng tìm thấy ở họ những tâm trạng gần gũi với

mình trong lúc đang “Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời” Nhưng con đường thơ

Tố Hữu đã khác hẳn những con đường của các nhà thơ mới, vì nó gắn liền với

lí tưởng cộng sản và cuộc đấu tranh cách mạng Sau chặng đường 10 năm hoạt động sôi nổi, say mê từ giác ngộ qua thử thách đến trưởng thành của

người thanh niên cách mạng qua tập thơ Từ ấy Tập thơ Việt Bắc bản hùng ca

của cuộc kháng chiến chống Pháp, phản ánh những chặng đường gian lao, anh dũng và những bước đi lên của cuộc kháng chiến cho đến ngày thắng lợi Đến

đáng kể của thơ ông: một tâm hồn thơ lớn, một nghệ thuật biểu hiện “già dặn”

và “nhuần nhị” hơn Trong thơ ở chặng đường này đáng chú ý nhất về mặt đội ngũ tác giả là sự tự khẳng định trở lại của nhiều nhà thơ thuộc thế hệ Thơ mới Qua mười năm đến với cách mạng, với nhân dân và kinh qua cuộc kháng chiến đầy gian lao thử thách, nhiều nhà thơ của thế hệ thơ này đã thực sự đổi mới tư tưởng và cảm xúc Họ đã vượt qua được những khó khăn của cuộc

“nhận đường”, “lột xác”, trải qua cuộc đời nô lệ của người dân mất nước, hồ

hởi đến với cách mạng như từ Thung lũng đau thương đến cánh đồng vui, trải qua một cuộc đấu tranh để “…phá cô đơn - Ta hoà hợp với người” tìm ra mái

ấm cho tâm hồn mình: “Tôi cùng xương thịt với nhân dân tôi - Cùng đổ mồ

hôi, cùng sôi giọt máu” Các nhà Thơ mới đã xác định được con đường nghệ

thuật mới và tìm được tiếng nói nghệ thuật của mình, phù hợp với yêu cầu của

thời đại Nhà thơ Tế Hanh đã Tâm sự :

Trang 7

Hỡi người bạn! Hãy nhập vào đại chúng Cuộc đời riêng hoà với cuộc đời chung

Như con sông dặm ngàn tìm lẽ sống Vào đại dương cho thoả chí vô cùng

Ta là một, ta vừa là tất cả Nhập vào đời, ta ấy “Tôi” hơn

(Tâm sự - Tế Hanh)

Sự chuyển hướng của nhà thơ lãng mạn sang thơ hiện thực, lấy sự gắn

bó với cuộc sống, cuộc kháng chiến cứu nước làm cốt lõi của thơ, là đáp ứng

một đòi hỏi có tính quy luật, một điều không cưỡng lại được Con đường đi

đến với cách mạng của những nhà thơ lớp trước khá vất vả, không phải là một

vài năm mà hàng chục năm Đó không chỉ là sự giác ngộ về lí trí mà quan

trọng là ở sự rung động thực sự về tình cảm Một cuộc tìm đường “trầy trật”

để đến với phương hướng mới, từ một cái tôi cá nhân cô đơn luôn ước ao

“vun hết là vàng để chắn nẻo xuân sang”(Chế Lan Viên) Luôn cho mình là

“Ta là một, là riêng là thứ nhất”(Xuân Diệu), luôn bơ vơ rợn ngợp giữa cô

đơn “Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề” đến với cái tôi công dân, cái ta chung

rộng lớn của cả cộng đồng, hướng về những tình cảm những ý nguyện của cả

cộng đồng, hướng vào khai thác những chất thơ của đời sống kháng chiến

Các nhà thơ của thế hệ Thơ mới phải trải qua hàng chục năm đi với cách

mạng và nhân dân Đến thời kì này thực sự tìm lại được cái “tôi” của mình

trong sự hoà hợp, thống nhất với cuộc đời chung với nhân dân và xã hội, niềm

hạnh phúc trong sự hoà hợp giữa cái riêng và cái chung: “Bốn mùa vây quanh,

Con người ở giữa, Tôi ở giữa người” Nhờ thế, các nhà Thơ mới bước đầu đã

có những đóng góp quý vào nền thơ kháng chiến Do vậy, xét về mặt hiệu quả

nghệ thuật, quá trình đóng góp, tìm tòi để đổi mới hồn thơ của các nhà Thơ

mới trong kháng chiến chống Pháp còn rất hạn chế Cái tôi trữ tình của nhà thơ thường vẫn bị khuất lấp sau hiện thực và đối tượng miêu tả Thành quả chưa nhiều nhưng mỗi nhà thơ đều có những bài thơ ý nghĩa “đánh dấu” sự chuyển biến của nhận thức, xúc cảm và bút pháp góp phần vào thành tựu chung Chỉ từ sau hoà bình (1954) các nhà thơ mới được rèn luyện, thử thách

và “lột xác” từ trong lò lửa của cuộc kháng chiến chín năm Giờ đây sau những ngày bám rễ vào cuộc sống thực tế, họ càng trở nên chín chắn, đồng thời lại có điều kiện đi sâu thâm nhập vào đời sống, đã “chín” lại với thực tế đời sống chiến đấu, lao động đông đảo của quần chúng - đã “chín” lại trong một quan niệm nghệ thuật mới - nghệ thuật gắn bó với đời sống phục vụ cuộc sống và con người Các nhà thơ mới bước vào một giai đoạn sáng tác mới, với tâm thế thanh thản, tự tin, mạnh dạn tìm tòi khám phá và sáng tạo Mảnh đất màu mỡ đã làm nảy nở những hạt giống mới một cách nhiệm màu, tâm hồn các nhà thơ như trẻ lại, tài năng như thực sự được hồi sinh họ như tìm thấy chính mình giữa cuộc đời rộng lớn, cuộc đời cách mạng, hoà nhịp đập trái tim nhiệt huyết của mình vào trong niềm vui xây dựng cuộc sống Chặng đường thơ từ sau 1954, đã đem lại cho phong cách nghệ thuật của các nhà thơ những nét mới, những biến đổi mà nguồn gốc sâu xa là từ sự biến đổi trong tư tưởng

và cảm xúc cùng với sự trải nghiệm đời sống của họ đã tạo nên cái nhìn và giọng điệu riêng của mỗi nhà thơ

Người đọc có thể nhận ra sức mạnh của cảm xúc, những cảm giác tinh

tế tạo nên cách cảm nhận thế giới nghiêng về trực giác, trực cảm của Xuân

Diệu qua: Riêng chung (1960), Mũi cà mau - Cầm tay (1962), Một khối

Huy Cận, xúc động cao độ và thực tế nỗi xót xa, lòng thương nhớ, niềm tin

Trang 8

tưởng của miền Bắc đối với Lòng miền Nam (1956), Gửi miền Bắc (1958),

của Tế Hanh, Đồng tháp mười (1955), Gửi người vợ Miền Nam (1955),

Bên cạnh đội ngũ sáng tác có tên tuổi trước cách mạng, là lớp nhà thơ

trưởng thành trong phong trào thơ ca kháng chiến chống Pháp, đến đây vẫn

tiếp tục phát huy tài năng của mình Mặc dù ở họ có những thành công khác

nhau, nhưng ở mỗi nhà thơ có những nét riêng với những vần thơ giản dị chân

thành, hồn hậu, đậm đà tình cảm thực của quần chúng Họ đã hợp thành

khuôn mặt chung của lớp người cầm bút, khoẻ khoắn và nồng nhiệt: Nguyễn

Đình Thi, Chính Hữu, Vũ Cao, Hoàng Trung Thông, Quang Dũng, Hoàng

Cầm, Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Trần Hữu Thung…

Những con người này họ được rèn luyện và trưởng thành từ những

công tác kháng chiến, từ phong trào văn nghệ quần chúng Thực tế lớn lao của

kháng chiến, đã thôi thúc họ cầm bút, họ tạc được những nét chắc khoẻ của

hình ảnh kháng chiến, dồi dào những cảm xúc tươi mới của đời sống Nếu

như chín năm kháng chiến chống Pháp đã tạo sự quyết định trong tư tưởng

tình cảm của các nhà thơ, thì hiện thực những năm xây dựng hoà bình và đấu

tranh thống nhất đã bồi đắp vững chắc cho tư tưởng, tình cảm và mở rộng

nguồn cảm xúc Họ đạt đến một độ “chín” thực sự xét trên cả hai phương

diện: cảm hứng sáng tạo và nghệ thuật thơ, đặc biệt đạt đến sự hài hoà, nhuần

nhị giữa hiện thực đời sống và hiện thực tâm trạng, một số nhà thơ đã xuất

bản những tập thơ có giá trị riêng, tiêu biểu như: Nguyễn Đình Thi với Người

tục ba tập thơ: Đồng tháng tám (1955), Ngày thu ấy (1957), Gió nam (1962),

Nguyễn Xuân Sanh hết nghe Tiếng quê ta (1955) lại Lắng nghe bước xuân

về (1961) Nông Quốc Chấn nhà thơ Tày, năm 1943 đã kể chuyện Việt Bắc

đánh giặc nay hoà bình được hân hoan với Tiếng ca người Việt Bắc (1962)

và Người núi hoa (1961)…

Sự bổ sung, tiếp nối các thế hệ nhà thơ là quy luật tự nhiên, tất yếu của mỗi nền thơ Đến giai đoạn thơ 1954 - 1964, cùng với hai lực lượng chủ đạo: các nhà thơ trước cách mạng tháng Tám và các nhà thơ xuất hiện trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp đã có sự bổ sung đáng quý của một lực lượng sáng tác trẻ xuất hiện từ sau hoà bình: Nguyễn Bao, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Ngô Văn Phú, Võ Văn Trực, Ca Lê Hiến (Lê Anh Xuân), Bùi Minh Quốc, Phạm Tiến Duật, Vân Long… Lực lượng thơ trẻ dào dạt bay bổng trong cảm hứng về cuộc sống mới, họ nói được một cách tự nhiên, đằm thắm lí tưởng mới con người mới, họ mang đến cho thơ hơi thở nồng ấm của của cuộc sống dựng xây náo nức trên miền Bắc sau hoà bình “Họ ở trong nhiều ngành nghề, địa phương khác nhau, đứng từ nhiều góc độ khác nhau để nhìn cuộc sống Do đó, gộp tất cả các cái nhìn riêng của họ lại, ta có một số thành không đơn điệu, một cái nhìn chung khá phong phú về cuộc đời [59,6] Và đây, chính là đội ngũ chủ lực của thơ chống Mỹ Thời kì này, thơ còn được tiếp sức bằng một đội ngũ các nhà thơ trực tiếp sống trong cuộc chiến đấu gian khổ ở

miền Nam Lực lượng này sẽ mang đến cho thơ những Tiếng hát miền Nam với

âm hưởng riêng, đau thương nhưng vô cùng anh dũng, thuỷ chung

Sự phát triển vững chãi về lực lượng sáng tác này là cơ sở chắc chắn để tạo nên những thành tựu xuất sắc của thơ giai đoạn 1954 - 1964

1.1.2 Sự trưởng thành của ý thức nghệ thuật mới

Năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng đem lại sự biến đổi kì diệu cho con người Các nhà thơ hoà nhịp đập của trái tim mình trước hiện thực cuộc sống mới Khi mà tình cảm thẩm mĩ đã cùng nhịp đập với lí tưởng cách mạng, họ đi sâu xâm nhập vào đời sống lao động sản xuất và chiến đấu,

họ đã tìm thấy cho mình một mảnh đất riêng để khám phá, để bộc lộ

Trang 9

1.1.2.1 Trưởng thành trong nhận thức về bản chất chức năng của thơ ca

Có thể nói, thơ ca thời kì 1954 - 1964 đã mang những dấu ấn đặc sắc

riêng của nó khó trộn lẫn với bất cứ giai đoạn nào khác trong lịch sử thơ ca

hiện đại Trước hết, đó là sự đổi mới trong quan niệm về bản chất và chức

năng thơ ca “Thơ lúc này không còn là ngôi đền thiêng cách biệt của cái tôi

cô đơn, thu về trong cái vỏ cá nhân với nỗi buồn uỷ mị chán chường mà chỉ

các thi nhân bước vào mà thơ thuộc về quần chúng, về mọi người cả trong

sáng tác cũng như tiếp nhận” [61] Nếu như thơ ca giai đoạn kháng chiến

chống Pháp, nằm trong yêu cầu phục vụ kháng chiến đã xác định được nhiệm

vụ chức năng thơ ca “Thơ ca phải thể hiện tính chiến đấu cách mạng, trở

thành một vũ khí tinh thần góp phần giáo dục động viên quần chúng kháng

chiến” [61,162), “Thơ ca phải phục vụ trực tiếp công cuộc cách mạng và

kháng chiến, vai trò công dân - chiến sĩ - nghệ sĩ của nhà thơ, thơ phải bám

chắc đời sống hiện thực, phải trả về cho quần chúng và hướng tới quần

chúng” Vì vậy, thơ ca giai đoạn chống Pháp không quan tâm nhiều đến sự

tìm tòi hình thức thể hiện ngoại trừ mối quan tâm lớn là “hình thức ấy phải

rộng rãi và đại chúng” [68,28] Thơ phải nói tiếng nói đại chúng, thơ phải dễ

đọc dễ nhớ, dễ thuộc, dễ phổ biến Với quá trình tìm tòi, mò mẫm từ bước

nhận đường qua chặng quá độ để đến được sự định hình khuôn mặt nền thơ ca

mới, để đạt tới sự chân thực nghệ thuật Như giáo sư Hà Minh Đức đã nhận

xét: Thơ ca kháng chiến có một vẻ đẹp chân thực, giản dị, hồn nhiên, nhưng

chưa phong phú, đa dạng Phong trào thơ có chiều rộng nhưng chưa có chiều

sâu, có thành tựu đáng kể nhưng chưa đều Hình thức trong thơ nhiều lúc còn

đơn giản sơ lược [22.144] Đến giai đoạn này (Giai đoạn 1954 - 1964) cùng

với những chuyển đổi nội dung, các nhà thơ đã thật sự quan tâm tìm đến một

hướng tìm tòi hình thức vận động nội tại của thơ Cùng với cuộc sống xây

dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất nước nhà tiến không ngừng lên

một mức độ cao, đặt cho thơ một nhiệm vụ lớn và sâu, đòi hỏi các thi sĩ phải làm thơ hay hơn nữa, “tức là đưa thêm cái phần lãng mạn bay bổng kết bạn khăng khít với cái phần hiện thực vững vàng…tăng cường chất thơ, chất suy nghĩ hình tượng, chất cảm xúc, chất nhạc điệu” [13.172] “Những con ong hút nhuỵ từ những bông hoa của đời sống” [20,169] đã ý thức rõ ràng và sâu sắc hơn về tính chất “chuyên nghiệp” của cả một nền thơ “Nói cho cùng thơ là kết quả của sự nhập tâm” đời sống trí tuệ, tài năng của nhân dân, nhập tâm được bao nhiêu là nhờ ở cuộc đời của mình gắn bó được bao nhiêu với nhân dân mình Nhập tâm từ tâm hồn, tình cảm, đến dáng đi, giọng nói, tiếng khóc, tiếng cười Nhập tâm đến một mức độ nào đó thì thơ ấy hình thành Có thể nói thơ chỉ tràn ra khi con tim ta cuộc sống đã thật đầy [42,439]

Có thể nói đến giai đoạn thơ này những vấn đề rất cơ bản: Tính dân tộc

và hiện đại, hiện thực và lãng mạn, mối quan hệ giữa nội dung và hình thức

đã được đặt ra khẩn thiết và nghiêm túc Trên định hướng lớn về đường lối và văn nghệ mà Đại hội Đảng Việt Nam lần thứ ba (1960) đã vạch ra: “Phát triển nền văn nghệ mới với nội dung xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc, có tính Đảng

và tính nhân dân sâu sắc Nắm vững phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, phấn đấu để có thêm nhiều tác phẩm phản ánh chân thật cuộc sống mới, con người mới góp phần giáo dục và động viên nhân dân đấu tranh cho cách mạng

xã hội chủ nghĩa và cho sự nghiệp thống nhất nước nhà” Các văn nghệ sĩ đã

nỗ lực không ngừng “đi lên hàng đầu của cuộc sống, học tập và sáng tạo không ngừng để có nhiều hơn nữa những tác phẩm sâu sắc về nội dung đẹp đẽ

về nghệ thuật nhằm đưa mức tư tưởng của thơ cao hơn nữa” [52, 409] Thư của ban chấp hành Trung ương gửi Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai (1957) cũng nhấn mạnh: “Giá trị của tác phẩm không phải chỉ ở nội dung tư tưởng mà còn ở phẩm chất nghệ thuật” Đến giai đoạn này vấn đề cơ bản được đặt ra: Các văn nghệ sỹ cần chú trọng nâng cao chất lượng nghệ thuật

Trang 10

Khi thơ mở rộng hướng cảm xúc ôm trùm mọi vấn đề trong cuộc sống

hiện thực thì tất yếu phải mở rộng khả năng diễn đạt biểu hiện của thơ Thơ

phải vừa hiện thực vừa hàm súc, vừa bao quát cụ thể, vừa “thực” lại cũng phải

“say”, phải huyền ảo, trữ tình Và Chế Lan Viên đã đưa ra quan niệm về sự

chuyển đổi tính chất của thơ:

Thơ xưa hát mà bây giờ tập nói Chỉ nói thôi mới nói hết được đời

Thơ xưa “hát” nhưng thơ nay phải “nói”, phải “nói” mới mong “nói hết

được đời” Nói như Xuân Diệu: “Nói bao nhiêu cũng còn chưa đủ, Nói mãi

mãi vẫn là chưa hết, Nói đến chết cũng hãy đang còn” Trên con đường lớn đi

sâu vào hiện thực, thơ cũng trăn trở tìm một tiếng nói một giọng điệu phù

hợp, đòi hỏi những cách nhìn cách nghe và những cách biểu hiện mới Cách

biểu hiện ở đây không chỉ có một cách nói, mà trái lại tìm về cuộc sống thực

thơ cũng tìm ra nhiều cách nói của cuộc đời Ở Tố Hữu, ngày càng quan tâm

sâu sắc hơn đến nghệ thuật thơ Ông đòi hỏi tình cảm trong thơ phải bộc lộ

hết vẻ đẹp của nó “Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn trước cuộc

đời nhưng không phải lẽ tự nhiên”: “Thơ ta cần “say”mới thích… Tôi rất

thèm trong thơ một chất lãng mạn mới, một chất men mới làm sao cho thơ

bay bay” Cái “chất mem mới” là những cảm xúc chín ngọt đủ sức để “đốt

cháy hiện thực thành những vần thơ óng ánh” (Tế Hanh) Những phẩm chất

trên của thơ cũng đòi hỏi một tư duy thơ ca phù hợp Thơ vẫn đi theo đường

lối văn nghệ cách mạng của Đảng “Nền văn nghệ ta là nền văn nghệ của nhân

dân lao động Văn nghệ sĩ chúng ta phải là người nói lên cuộc đời và tâm

trạng của công nông, trả lời được những vấn đề của cuộc sống cách mạng đặt

ra” [42.31] Bởi, “Văn học là cuộc đời”… “Cuộc đời ấy là trái tim của mình

của người nghệ sĩ” Trái tim ấy nó gắn liền với với tiếng nói yêu thương, với

lời ca tranh đấu, giàu ước mơ và khát vọng, gắn liền với lí tưởng bay bổng,

phần cao đẹp của tâm hồn và kết tinh lại ở những cảm xúc trong sáng, những suy nghĩ cao đẹp tích cực nhất của người nghệ sĩ

Tế Hanh cũng đã nêu cho mình phương châm sáng tạo qua suy nghĩ:

“Câu thơ đẹp là câu thơ có ích - Uống tự nguồn những suối ban mai”

Câu thơ “đẹp”, những câu thơ “có ích” với cuộc sống cũng đã được đặt

ra từ thời kì kháng chiến chống Pháp Đến thời kì này thơ với cuộc sống lại được quan niệm một cách rõ ràng và sâu sắc hơn, gắn với yêu cầu hết sức lớn lao của thời đại, thơ đã được mở rộng cảm xúc theo hướng phong phú, đa dạng để có thể bao quát được từ những vấn đề chung lớn lao để hoà với những nhịp sống chung gần gặn nhất của mỗi con người Thơ không thể không đi vào cuộc sống, sống trong cuộc sống bởi nếu tách khỏi nó thì thơ ca

sẽ như “cây nhổ khỏi đất ”, “cá ra ngoài nước” “Thơ là sự thể hiện con người

và thời đại một cách cao đẹp Thơ không chỉ nói lên tình cảm riêng của nhà thơ mà nhiều khi thông qua tình cảm đó nói lên… ước mơ của nhân dân, vẽ lên những nhịp đập của trái tim quần chúng”(Sóng Hồng).Các nhà thơ quan niệm thơ không chỉ là những “hầm chông giết giặc”, “những dòng thơ lửa cháy” mà thơ còn là những “dòng thơ tươi xanh” là “nhành hoa mát mặt cho đời” như “thơ giữa cuộc đời” như “hoa giữa nắng”, làm sao cho “Mỗi câu thơ che một trận tuyến tâm tình” Nhà thơ phải làm sao cho thơ mình thật sự

“mang cánh lửa” bay hoà vào cuộc sống chung

Các nhà thơ đã suy nghĩ và thể hiện một cách nghiêm túc và sâu sắc nhất về mục đích và nhiệm vụ của thơ ca thời kì này Với suy nghĩ đó, đã

khiến cho hồn thơ ảo não bậc nhất thơ mới của Huy Cận đã nhìn thấy Trời

vật lộn chuyển đổi bản thân thấy Ánh sáng và phù sa kết tụ Xuận Diệu thấy

sự hài hoà Riêng chung trong nhịp đập Một khối hồng của trái tim dân tộc

Tố Hữu thênh thang trong Gió lộng với cảm xúc “Gió lộng đường khơi rộng

Trang 11

đất trời” Tế Hanh đau đáu Nhớ con sông quê hương xanh biếc Hoàng

Trung Thông thì tự hào: Bàn tay ta làm nên tất cả…Và cũng chính vì thế ở

giai đoạn này mỗi nhà thơ đều có chung tâm sự:

Tôi đâu dám tủi buồn quên nhiệm vụ Mỗi câu thơ đều phải vượt lên mình

(Chế Lan Viên)

Sau hoà bình, miền Bắc bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội nhà thơ

Tố Hữu đã đặt nhiệm vụ cho thơ ca:

Thơ ta ơi hãy cất cao tiếng hót

Ca ngợi trăm lần tổ quốc chúng ta

Phải ngợi ca những thành quả tổ quốc ta, nhân dân ta đã đạt được Để

cất cao được những tiếng hát ngợi ca mỗi người nghệ sĩ phải gắn mình với

cuộc đời, với con người và đó cũng là cái đích hướng tới:

Bốn mùa vây quanh Con người ở giữa Tôi ở giữa người

(Chế Lan Viên)

Có lẽ vì thế mà về với Tây Bắc về với nhân dân, Chế Lan Viên mới tìm

thấy niềm tin nhân hậu, mới bắt gặp niềm vui mới được hưởng hạnh phúc và

đón nhận sự chở che nâng cánh của con người:

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

Với nhà thơ Xuân Diệu bằng nỗ lực của tinh thần chủ động sáng tạo lại

luôn được sự cổ vũ của đường lối văn nghệ của Đảng và nhiệt tình của quần

chúng cách mạng, nhà thơ đã xác định được chỗ đứng vững chắc của mình trong lòng quần chúng:

Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu, Tôi sống với cuộc đời chiến đấu Của triệu người yêu dấu gian lao

Cùng yêu thương, gắn bó với con người như “ruột thịt”:

Những người ấy với tôi là ruột thịt Trong lời thơ tôi gửi hết yêu thương

(Tiếng sóng - Tế Hanh)

Vấn đề đặt ra ở đây là thơ ở đây không chỉ đơn thuần là miêu tả tâm tư tình cảm mà còn muốn qua thơ ca thấy một cách đặt và giải quyết những vấn

đề căn bản, lớn lao, bức thiết của đời sống xã hội, đời sống cá nhân con người:

“Thơ xưa chỉ hay than mà không biết hỏi Đảng dạy ta: Thơ phải trả lời”

(Nghĩ về thơ - Chế Lan Viên)

Xác định được mục đích và nhiệm vụ cho thơ ca thời kì này các nhà thơ đã hát lên tiếng lòng của mình với cuộc sống với thái độ chân tình, thấm thía, với những suy tư đầy trăn trở sâu sắc và trách nhiệm Một khi người nghệ sĩ đã có được quan niệm rõ ràng về thơ ca, có được sự chín muồi trong ý thức nghệ thuật là cơ sở để đánh dấu sự trưởng thành của một nền thơ

1.1.2.2 Đổi mới trong ý thức nghệ thuật

Đất nước hồi sinh đã tạo ra nguồn cảm hứng lớn cho thơ, quyết định đến sự chuyển biến tư tưởng của nhà thơ Khơi gợi những tình cảm tốt đẹp, những nhận thúc đúng đắn và cách cảm cách nghĩ về đối tượng của văn học Thực tế, ngay sau Cách mạng tháng Tám và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, hiện thực cuộc sống đã cuốn hút các nhà thơ, thực sự đã đưa các nhà

Trang 12

thơ nói chung và thơ nói riêng vào quỹ đạo mới của đời sống xã hội, của sáng

tạo nghệ thuật “Từ chân trời của một người đến chân trời của mọi người” là

con đường phải trải qua nhiền gian khổ của nhiều nhà thơ Không phải là một

vài năm mà hàng chục năm Không phải là sự giác ngộ lí trí mà quan trọng

hơn là ở sự rung động thực sự về tình cảm Nhà thơ bắt đầu cuộc hành trình

ấy khi tiếp nhận ánh sáng Cách mạng Thật may mắn cho những ai giác ngộ

được chân lý đó ngay từ thời điểm bắt đầu cuộc đời sáng tạo, còn với những

tiếng nói thơ ca đã một lần chín trong thế giới riêng tư, cuộc đời thơ đã trải

qua một “mùa gặt” với nhiều ấn tượng và nhiều kỉ niệm thì với họ sự đổi thay

không hề đơn giản Sự đổi thay của một cách nhìn cách cảm trong sáng tạo

nghệ thuật là quá trình nhiều trăn trở, đấu tranh nhưng cuộc đời mới đang dần

thay da đổi thịt, những tấm gương những hành động, những tâm trạng mà nhà

thơ bắt gặp trong hiện thực tươi mới, quyết liệt sẽ dần dà làm chín lại cảm

hứng sáng tạo Cách mạng tạo nên một sự đổi thay kì diệu với sức mạnh tái

tạo hồi sinh, đã mở rộng cánh của căn phòng cá nhân để đón lấy ngọn gió của

thời đại “mỗi người không còn là một cái buồng kín” như Pie Rêvecđi quan

niệm mà mở ra một thời đại “lộng hương, lộng sắc” chắp cánh cho những ước

mơ của tâm hồn nghệ sĩ Một thời đại mà “dưới thời Pháp thuộc đau thương

có thừa, nước mắt có thừa, thậm chí nỗi đau thắt ruột nước mắt tràn mi mà họ

không khóc nổi, khóc không ra tiếng thậm chí còn đâu nữa nước mắt mà

khóc Đôi lúc họ lại cười gượng, nhưng rồi họ đến với chân trời của niềm vui

thật sự niềm vui cách mạng, họ đến với cách mạng bằng cả tấm lòng, không

hề gượng cười, gượng vui mà là cười thật sự” [71,164]

Từ quỹ đạo nghệ thuật cũ đến với một quỹ đạo nghệ thuật mới, các nhà

thơ mới chưa kịp chuyển phương pháp sáng tác cũng chưa đủ thời gian và

điều kiện để có được sự chuyển đổi “nhuần nhị” trong ý thức nghệ thuật của

mình để cất cao tiếng nói trữ tình của thời đại mới Nói như nhà thơ Tế Hanh:

“Từ cuộc sống ngày trước như dòng sông lờ đờ chảy, cuộc cách mạng và kháng chiến, đời sống của dân tộc thay đổi nhanh chóng đến nỗi người nghệ

sĩ cảm thấy như “không sống kịp” và “bỡ ngỡ”, hoặc không viết nổi, hoặc viết

mà không cảm thấy hài lòng” [29] “Trong cái thế giới xúc cảm của tôi lúc bấy giờ chưa thật nảy nở những yếu tố cảm xúc mới Mà trong việc sáng tác thơ thì tư tưởng phải nhào nặn với cảm xúc thành một trạng thái tâm hồn duy nhất, thôi thúc thì mới sinh ra tác phẩm được [29] Chính vì vậy khi đi vào cuộc kháng chiến chống Pháp, hoà nhập vào dòng thác cách mạng các nhà thơ

“tiền chiến” còn không ít những điều “bất ổn”, kìm hãm sức sáng tạo nghệ thuật Ở họ đã mang khuynh hướng nghệ thuật khác nhau, quan niệm thơ khác nhau thậm chí đối lập nhau Nếu như các nhà thơ cách mạng quan niệm: “Thơ

và cách mạng không thể tách rời”, “thơ là vũ khí đấu tranh cách mạng”, thì các nhà thơ mới lại quan niệm cực đoan “Nghệ thuật vị nghệ thuật”, nhà thơ

chỉ “Là con chim đến từ núi lạ - Ngứa cổ hót chơi” (Xuân Diệu) Dường như

họ chưa thoát ra khỏi quỹ đạo của cái tôi, bởi cái tôi xưa cũ đã trở thành một thói quen, một vật sở hữu riêng tư, gạt bỏ nó quả là điều không dễ dàng Bởi,

“Cái chất hưởng thụ cầu an tích luỹ trong thể xác và tâm trí… hàng mấy chục năm, nay làm thành sức ỳ khó lay chuyển” [71,72] Chịu đựng, thử thách và vượt qua những trạng thái tình cảm đó sẽ tiếp cận và gặp gỡ được với niềm vui rộng rãi, bao la, ấm áp nồng hậu của tập thể Tế Hanh đã nói lên cảnh phân li với con người cũ:

Sang bờ tư tưởng ta lìa ta Một tiếng gà lên tiễn nguyệt tà

Bước chuyển biến ấy diễn ra và kéo dài suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp Phải làm sao để có sự ăn nhập với cuộc sống mới, tâm tình chung của nhà thơ phù hợp với tâm tình chung của quần chúng cách mạng Chế Lan Viên

đã nói lên chân thực những băn khoăn của lớp nhà thơ lớp trước khi đi theo

Trang 13

cách mạng: “Nhớ những ngày mới cách mạng rồi trải qua những năm tháng

đầu kháng chiến nữa, gần như có một sự chuệch choạc, một khoảng cách gần

không ra gần, xa chẳng ra xa giữa bạn đọc với tâm hồn tác giả và ngay trong

tâm hồn tác giả giữa cái phần này và phần khác của mình” [21,100]

Nhưng cuộc sống đã giúp họ “trồng cây thơ vào đất”, giúp họ diễn đạt

hiện thực cuộc sống với những màu tươi sáng những âm thanh tưng bừng

hứng khởi hơn Hiện thực đời sống đã cho họ có điều kiện nhìn lại “Bước

đường tư tưởng” của mình, các nhà thơ mới với nhận thức khá rõ và đã lí giải

một cách sâu sắc, thấm thía những hạn hẹp thô sượng trong ý thức của họ thời

thơ chống Pháp Nhà thơ Xuân Diệu đã thành thực trong suốt quá trình

chuyển đổi dai dẳng, vật vã của mình: “Cái đau trong cõi tinh thần - Đã đau

một lúc dần dần lại đau” Ông nhận thấy: “Tôi rộng mở bước vào kháng

chiến trường kỳ và tư tưởng của tôi còn gặp gỡ, trải qua nhiều chặng lên

xuống không phải là đơn giản” [71,71] Ông tự ý thức “Con đường có rất

nhiều đau đớn, nhưng không qua đó thì không đi được tới đâu” Vì vậy, ông

đến với cách mạng đến với kháng chiến bằng một niềm vui lớn, đó là “tự nhấc

ra được khỏi một hệ thống chết, mà vào hệ thống sống, nghĩa là tự cứu được

mình” [71,71] Tuy nhiên, ông “cũng mới chỉ giác ngộ trên lí thuyết” ở “một

mặt khác nữa, càng đi sâu vào cách mạng sự sáng tác càng gian nan… Sáng

tác cái mới thường thường bị thất bại, tôi quay về tựa lưng với thứ “của

chìm”: tác phẩm ngày trước của mình Kỳ tình tôi vẫn biết đứng chỗ cũ không

thể được nữa, tuy nhiên, lại ngại sang đứng chỗ mới; tâm trạng tôi như người

bị chẹt, tinh thần bất ổn, vẫn gần với quá khứ, vẫn xa vợi với tương lai Cứ

chạy sang bên này rồi chạy sang bên kia, thật là đau đớn”[71,72] Những năm

đầu đi với cách mạng, tâm trạng của nhà thơ là thế

Từ dĩ vãng trở về hiện tại, từ mộng ảo trở về hiện thực, từ chán nản rã

rời đi đến niềm tin và ý chí chiến đấu, Chế Lan Viên tự nhận định: “Đi xa về

hoá chậm - Biết bao là nhiêu khê” đó là những trăn trở trong đời sống tư

tưởng tình cảm, trong quan niệm nghệ thuật của buổi đầu đi với Cách mạng

“Như một lữ hành đơn độc, Chế Lan Viên đã lầm lũi vượt qua sa mạc siêu hình, đi từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui Ra đến cánh đồng vui rồi, sao đôi lúc gương mặt ông vẫn đầm đìa giọt khóc Và thơ ông, kì lạ thay vẫn bàng bạc một nỗi đau” [60,215,214] Bước đường “nhận đường” và bước chuyển cơ bản trong ý thức nghệ thuật, trong quan niệm thơ ca trước một thực

tế lớn lao, phức tạp không phải là dễ dàng, nhất là những nhà thơ có nhiều

“duyên nợ” với cuộc sống cũ, thì lại là những gian khổ của một quá trình đấu tranh, đầy day dứt và cũng đầy quyết tâm Sau cách mạng kháng chiến chống Pháp, Chế Lan Viên đã hỏi một bạn thơ trẻ hơn mình: “Ông đọc thơ mình xem mình có viết được nữa không?” Điều đó cho thấy Chế Lan Viên đã chuyển mình từ biển thơ siêu hình sang thơ cách mạng khó khăn và vất vả

biết nhường nào.Bởi, “Muốn đến được nắng vàng đất mật - Phải trên lòng

bao trận gió mưa qua” Cách mạng đến “Dĩ vãng đau thương” vẫn trở về

“cắm lá cờ đen”, vẫn ám ảnh nhà thơ suốt chặng đường dài hoà nhập với cách

mạng, với dòng thơ cách mạng Ông hiểu rõ lắm tâm hồn mình: “Hồn tôi là

một cánh đồng lẩn khuất - Đau bên Đoài nên gió thổi bên Đông” Nhìn lại

quá khứ nhà thơ đã phân tích một cách sâu sắc bằng một cái nhìn sáng tỏ, triệt

để, “ngoảnh lại mười lăm năm” nhà thơ đã tâm sự:

Chớ bao giờ quên nỗi chua cay của một thời thơ ấy

Tổ quốc trong lòng ta mà có cũng như không Nhân dân ở quanh ta mà chẳng thấy Thơ xuôi tay như nước chảy xuôi dòng!

(Người thay đổi thơ tôi, Người thay đổi đời tôi)

Đó là thời điểm mà nhà thơ “…Đi giữa lòng mình, mà mình không hiểu nữa” Và nhà thơ Tế Hanh cũng không tránh khỏi cái không khí chung ấy: “Tôi đi từ lệch lạc này qua lệch lạc khác” Từ chỗ chỉ nói đến tâm tình mình, đến cái “Tôi” của mình, đến chỗ chỉ nói đến người việc chung quanh

Trang 14

và cho đó là khách quan, là có cái nhìn hiện thực hơn… Khi lòng ta hoà hợp,

gắn bó ước mơ với quảng đại quần chúng thì có nói đến lòng mình cũng

ngân vang trong lòng mọi người và có nói đến người khác thì cũng có lòng

mình trong đó” [30,7] Nhà thơ Tế Hanh phản ảnh hiện thực thông qua tâm

trạng cảm xúc của mình: “Cái lòng say mê sự sống cái nhiệt tình cách mạng

của tôi nhiều khi không đủ lửa để đốt cháy cảm xúc của mình thành những

câu thơ óng ánh Nhiều khi tôi đã làm thơ, làm cho có, làm thơ không thấy

thiết tha và cần cho lắm” [30.7]

Phải sau 1954 - thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, Hoà bình

lập lại tạo nên một sự thay đổi kì diệu đã thổi một luồng gió mới tràn đầy hào

khí cách mạng thổi vào những trang thơ, làm chín lại những cảm hứng sáng

tạo Từ chỗ là những thi sĩ say sưa trong Đài thơ riêng biệt, họ lại trở thành

chiến sĩ đam mê trên mặt trận văn hóa, mang ba lô đi theo các đoàn dân công,

bộ đội ra tiền phương Có khi theo sát từng chiến dịch lớn, từng trận công đồn

nhỏ, quan sát từng chiếc lô cốt, từng ụ súng đơn sơ, thì giờ đây họ lại được

hoà mình vào cuộc sống mới, gắn bó thiết tha với cuộc sống mới, con người

mới được thâm nhập vào đời sống, lao động sản xuất làm cho nhà thơ thấy rõ

hơn bước đi của lịch sử, sức mạnh của quần chúng Đi lâu dài kiên nhẫn với

nhân dân, với kháng chiến, các nhà thơ mới có được sự chín muồi thực sự

trong ý thức nghệ thuật Các nhà thơ sau bước đường tư tưởng đã nhìn nhận

lại một cách nghiêm túc một thời thơ, buồn chán, cô đơn xa cách với cuộc

đời, nay đã xác định chỗ đứng và hướng đi trong cả đời và trong thơ “Khi

cuộc đời rõ hướng… Khi mặt trời tư tưởng rọi hang sâu” các nhà thơ đã

khẳng định lại một lần nữa quyết tâm, quyết liệt dứt bỏ ám ảnh: “Cắt cái bùi

ngùi, Vứt nó xuống sông Chặt cái bùi ngùi, Ném nó dưới chân” (Xuân Diệu),

để gắn bó với Đảng, với dân tộc xây dựng một nền thơ cách mạng Một nền

thơ “Trước hết vượt qua cái tôi cá nhân để xây dựng một nhân vật trữ tình mới mang tinh thần quần chúng tập thể và thời đại đậm đà sắc thái dân tộc Thứ hai, nền thơ này hướng về học tập và các giá trị truyền thống Thứ ba, nền thơ này hướng về hiện thực đời sống xã hội và chiến đấu” Các nhà thơ đã trả lời, đã dứt khoát trong sự lựa chọn và đã xác định: Sứ mệnh thiêng liêng của thơ ca vời đời sống Thơ trước hết phải hướng về đời sống phục vụ quần chúng cách mạng:

Tôi viết cho ai? Cho cả mọi người Nhưng rất gần cho những đứa em tôi Cho ai cũ thơ tôi làm ướt áo Nay họ về sưởi ấm dưới thơ tôi

(Chế Lan Viên)

Để xây dựng nền văn nghệ nói chung và nền thơ Cách mạng nói riêng, mỗi người nghệ sĩ phải biết “Nối cuộc đời mình với những đau khổ, vui sướng, căm thù mong ước của nhân dân” [42,31] để hoà vào dòng đời và sống hết lòng với cuộc sống bởi: “Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta khi cuộc sống đã

thật đầy”(Tố Hữu) và biết “nhìn đời bằng đôi mắt xanh non”, biết “Hái những

sắc trời xa viễn vọng - Những biển cồn hãy mang đến cho thơ” để “Dòng thơ… lấp lánh những ánh trời hi vọng” (Chế Lan Viên) Có thể nói, các nhà

thơ qua thơ đã thể hiện sâu sắc quan niệm cách mạng của mình về thơ Hiện thực của cuộc đời mới với sự phong phú và hấp dẫn riêng của nó đã thu hút các nhà thơ.Và đến lúc này, “Từ sự hoà tan vào cộng đồng, chủ thể trữ tình đã trở về với chính nó, xác định lại vị thế của nó như khởi nguyên của tồn tại và sáng tạo để từ đó, đủ bản lĩnh và tư thế đi vào cuộc sống với tinh thần nhập cuộc tích cực Sau lần nhập cuộc thứ nhất với tư cách cái tôi công dân đây là

sự hoà nhập mới của cái tôi - nghệ sĩ vào thực tiễn cách mạng” [2.90] Qua đi trình độ trữ tình hồn nhiên, tự ca hát để đến với giai đoạn sáng tạo, có ý thức,

Trang 15

dựa trên nền tảng của mỗi cá nhân - nghệ sĩ, dựa trên sự thống nhất cộng

hưởng thực sự trong một quan niệm chín muồi về nghệ thuật, về thơ Đó cũng

chính là cơ sở để tạo nên sự biến đổi cơ bản về “chất” trong sáng tạo thơ ca và

cũng là vấn đề cơ bản trong ý thức nghệ thuật

1.2 THÀNH TỰU THƠ CA THỜI KÌ 1954 - 1964

Nếu như thành tựu của thơ ca kháng chiến chống Pháp không được tính

bằng những tập thơ, sự độc đáo của nhiều phong cách, của nhiều cá tính sáng

tạo Khuôn mặt các tác giả chưa đủ thời gian định hình, đang chuyển đổi đang

trong quá trình tìm ra mình Mặc dù thành tựu của thơ kháng chiến không ít

nhưng được ghép lại bởi thành công của những bài riêng lẻ Phần lớn các tác

giả chỉ ghi nhận những thành công trên đôi ba bài thơ thậm chí tên mỗi tác giả

chỉ gắn với một bài thơ được ghi nhớ Đến giai đoạn này, sau những năm tháng

chiến tranh đất nước hồi sinh, chan hoà với cuộc đời mới, cảm hứng đẹp đẽ về

chủ nghĩa xã hội đã mở ra cho thơ thời kì này những dáng vẻ phong phú và

chiều sâu của nó Từ cuộc sống mới, thơ đã phát triển, nảy nở nhiều hương sắc,

nhiều cách biểu hiện đa dạng về sự tìm tòi và định hình nhiều phong cách

Trong cuốn Dao có mài mới sắc nhà thơ Xuân Diệu đã nhận định:

“Giữa cái đà thơ của kháng chiến và phấn đấu lao động liên tục, thơ của ta

những năm gần đây có một bước nhảy quan trọng về chất lượng Các thi sĩ đã

thấy trong tài thơ của mình, cái kết quả của sự tích luỹ tư tưởng, tình cảm

cách mạng trong hơn 10 năm Chế độ ta giúp các nhà thơ tích luỹ và đi đến

thành tựu Sự tiến bộ chung của cả một phong trào thơ, đến một lúc nào đó

cũng tích luỹ, kết lại trong một số nhà thơ Các hiện tượng sáng tác tập trung

và với nhiều thành tựu của một số thi sĩ hiện nay là chứng tỏ thơ ta trưởng

thành và nảy nở rỡ ràng vì có cái rộng của nhiều người và có cái sâu của

những cá thể thi sĩ Thơ đạt đến mức độ nhuần nhuyễn: đó là sự thoải mái như

cuộc sống cách mạng đã thành xương thành thịt của thi nhân” [13,166]

Với đội ngũ nhà thơ đông đảo, trưởng thành nhanh chóng với ba thế hệ nối tiếp nhau: Thế hệ nhà thơ Tiền chiến được rèn luyện, thử thách nay như được “hồi xuân” sung sức, sáng tác nhiều, đều và có chất lượng cao Lớp nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp đã định hình, tiếp tục phát huy tài năng Hai lớp nhà thơ này đã tạo nên những phong cách và là lực lượng nòng cốt của phong trào sáng tác thơ ca và sẽ tạo nên gương mặt mới của thơ Lớp nhà thơ trẻ mới hình thành được nuôi dưỡng và trưởng thành trong hoà bình, họ xông xáo, tươi trẻ họ là những cây bút có khả năng, nhạy bén với những vấn đề của cuộc sống hiện tại và sẽ tạo nên những gương mặt mới của thơ ca thời kì chống Mĩ sau này

Đề tài chủ đề thơ phong phú đa dạng, “Chủ nghĩa xã hội đã mở ra cho thơ một đối tượng và khả năng phản ánh rộng hơn, dồi dào, không chỉ quẩn quanh hạn chế trong một dải đất, một quê hương quen thuộc mà đưa thơ đến mọi chân trời” [47,83] Thơ viết về kháng chiến chống thực dân Pháp, về lao động xây dựng cuộc sống xã hội chủ nghĩa Những bài thơ hay ở thời kì này nằm trong mạch thơ ca ngợi đất nước giàu đẹp sau những năm tháng vất vả gian nan Song niềm vui chưa trọn vẹn, đất nước chưa thống nhất, miền Nam còn trong tình trạng nước sôi lửa bỏng dưới ách bọn Mĩ - Nguỵ Có thơ viết

về đất nước về Đảng, Bác về tình cảm bạn bè quốc tế, có thơ viết về niềm vui nỗi buồn, những ăn năn sám hối rất chân tình

Bên cạnh việc coi trọng những chất liệu, hình ảnh được khai thác trực tiếp từ đời sống hiện thực Các nhà thơ ở thời kì này còn chú ý đến việc sáng tạo những hình ảnh khái quát, tượng trưng, hình ảnh kì ảo được sáng tạo bằng tưởng tượng phong phú táo bạo Cùng với việc coi trọng vai trò của xúc cảm, tình cảm thì khái quát, suy tưởng, liên tưởng, tưởng tượng đã có vị trí trong thơ ca thời kì này

Trang 16

Thơ giai đoạn này vừa coi trọng việc kế thừa những kinh nghiệm nghệ

thuật của thơ ca giai đoạn trước, vừa có những tìm tòi, sáng tạo theo hướng

mở rộng sự tự do hoá hình thức thơ Về thể loại cũng có nhiều cách tân táo

bạo, các thể thơ dân tộc được sử dụng và có những đổi mới Thơ tự do phát

triển mạnh tiến đến thơ văn xuôi Và thơ dài đều được nhiều nhà thơ sử dụng:

Tố Hữu, Ba mươi năm đời ta có Đảng - 1960; Huy Cận, Người thợ ảnh -

1962; Tế Hanh, Câu chuyện quê hương - 1963

Trong mười năm này, thơ đã có những biến đổi rõ rệt Người sáng tác

có nhu cầu đổi mới nâng cao chất lượng thơ, vừa đáp ứng được yêu cầu khách

quan vừa làm cho thơ hoà vào mặt bằng thơ thế giới Người đọc cũng muốn

thơ, không phải chỉ đúng mà còn phải hay, phải mới mẻ độc đáo Thơ đã vượt

qua những kể lể mộc mạc, những chi tiết bề bộn của giai đoạn trước, cố gắng

khám phá vẻ đẹp bên trong của cuộc sống, tăng thêm tính khái quát tạo ra

những hình tượng thơ cô đúc có sức lay động mạnh Các nhà thơ ra đời và lớn

lên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp như: Nguyễn Đình Thi ,

Hoàng Trung Thông, Trần Hữu Thung, Trinh Đường, Phạm Hổ, các nhà thơ

trẻ xuất hiện trong những năm hoà bình như Nguyễn Bao, Xuân Quỳnh, Bằng

Việt, Ngô Văn Phú, Võ Văn Trực, Ca Lê Hiến (Lê Anh Xuân)… đưa vào thơ

chất khoẻ khoắn, tươi vui cho cuộc sống Các nhà thơ có quá trình sáng tác từ

trước Cách mạng tháng Tám đến lúc này lại sung sức, mở rộng đề tài, tìm tòi

cách thể hiện Ngay cả ở các bài thơ sử dụng thể cách luật dân tộc, cũng đã

biến hoá đi nhiều nhất là trong cách nhắt câu, ngắt nhịp, tạo không khí cho

phù hợp với hiện thực cuộc sống Thơ tự do lại tiếp tục “phá” để chứa đựng

được nhiều chi tiết, ôm sát thực tại hơn và nhờ vậy thơ cũng thực hơn Trước

đấy thơ tự do dù phát triển mạnh, phù hợp với việc thể hiện nội dung, nhưng

thành công và được quần chúng yêu thích là những bài thơ ở dạng hợp thể và

biến thể Đến giai đoạn này (1954-1964) thơ tự do lại tiến thêm một bước

mới: phá thể Có nhiều bài thơ phóng túng mà nhuần nhị, có chất lượng cao:

Một số bài thơ văn xuôi xuất hiện: Lúa mới, Irắc ơi!, Gửi người bạn

ba bài thơ: Cành phong lan bể, Tàu đến, Tàu đi gọi chung là văn xuôi về

một vùng thơ… Và thơ dài đã bộc lộ được nhiều vấn đề ôm chứa được nhiều mặt cuộc sống, thể hiện khả năng bao quát và tài nghệ vững vàng của các nhà

thơ: Ba mươi năm đời ta có Đảng (Tố Hữu), Người thợ ảnh (Huy Cận), Đi

Cùng với việc đổi mới thể loại, ngôn ngữ thơ thực sự là tiếng nói đời sống khoẻ khoắn, sinh động Những bài thơ của Tố Hữu khẳng định bước phát triển mới của ngôn ngữ thơ ca dân tộc Ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên sắc sảo trong cách vận dụng liên tưởng so sánh Huy Cận sâu lắng, đậm đà Xuân Diệu sống động nhiều biến hoá Ngôn ngữ thơ Nguyễn Đình Thi tự nhiên, gần với tiếng nói hàng ngày Các nhà thơ trẻ có ngôn ngữ thơ góc cạnh hơn, với nhiều màu sắc và khả năng tạo hình, liên tưởng phóng túng Trên cơ sở truyền thống thơ trẻ luôn

có ý thức tìm tòi, hiện đại hoá ngôn ngữ thơ Tính đa dạng của ngôn ngữ thơ đủ sức để tâm tình, trò chuyện, sôi nổi chính luận hay trầm tư triết lý

Đặc biệt trong thơ thời kì này đã định hình nhiều phong cách sáng tạo Những năm kháng chiến trước đây thơ có phong trào, có mặt bằng, nhưng ít

có đỉnh, có phong cách Lúc này phong trào thơ sôi nổi, rộng khắp và trên nền thơ ấy đã in dấu ấn những cá tính sáng tạo độc đáo tạo nên những nét riêng cơ bản nhất ở mỗi nhà thơ Hầu hết các nhà thơ đều xuất bản những tập thơ riêng của mình có những tác giả in hai đến ba tập

Từ thực tế sáng tác, với số lượng lớn tác phẩm có nội dung phong phú,

có cách nắm bắt thực tế khác nhau, cách tư duy nghệ thuật và phương pháp

Trang 17

xây dựng hình tượng thơ không giống nhau, mức độ cảm xúc không đồng

đều… đã làm nên phong cách riêng của nhà văn Vì vậy trong dàn hợp xướng

thơ ca 1954 - 1964, chúng tôi muốn nêu lên một số gương mặt, giọng điệu của

một số nhà thơ đã tạo cho mình những nét riêng độc đáo đồng thời cũng góp

phần làm nên thành tựu thơ ca thời kì này

Từ tập Việt Bắc (1954) đến tập thơ Gió lộng (1961), cho thấy thơ Tố

Hữu có bước phát triển quan trọng, chứng tỏ nhà thơ vẫn sáng tạo không

ngừng Ở Việt Bắc cuộc sống trở lên phong phú, dựng cảnh, dựng người, tả

tình tinh tế, tình cảm dần dần đa tuyến Các bài thơ cuối tập như Việt Bắc, Ta

đạo gắn liền với sự kiện tiêu biểu trong đời sống dân tộc Tập thơ phản ánh

cuộc đấu tranh gian khổ của nhân dân ta để xây dựng miền Bắc, giải phóng

miền Nam và biểu hiện một cách sâu sắc chủ nghĩa yêu nước, anh hùng của

dân tộc ta trong thời kỳ mới

Tố Hữu đề cập đến hầu hết những vấn đề lớn của thời đại trên tinh thần

trách nhiện và bản lĩnh nghệ thuật vững vàng Mở đầu thời giai đoạn mới của

đất nước “Xưa là rừng núi là đêm - giờ thêm sông biển lại thêm ban ngày”

Nhiều bài thơ vươn tới chiều cao của niềm vui của nhà thơ và cũng là của

nhân dân ta trong không khí nhộn nhịp bước đầu công nghiệp hoá xã hội chủ

nghĩa, có khó khăn nhưng hào hứng Những bài thơ nói đến miền Nam thực

sự da diết: có đau xót căm thù bọn giặc, có tự hào khâm phục nhân dân

Những vấn đề của dân tộc, của thời đại được cảm nhận, đúc kết bình giá

và nâng lên thành tư tưởng, vì vậy nét đặc sắc trong phong cách thơ Tố Hữu là

có thiên hướng khái quát tổng hợp những sự kiện lớn của hiện thực cách mạng

Khái quát, tổng hợp thể hiện ở cách xây dựng hình tượng thơ, ở câu chữ,

hình ảnh và âm hưởng chung của toàn bài Trường hợp này tạo nên những bài

thơ có dáng dấp sử thi như Thù muôn đời muôn kiếp không tan, Ba mươi năm

quát về dân tộc, về Tổ quốc, về lẽ sống chết, về nhân tình, về thời đại:

Một ngôi sao, chẳng sáng đêm Một thân lúa chín, chẳng nên mùa vàng Một người - đâu phải nhân gian?

Sống chăng, một đốm lửa tàn mà thôi!

Âm điệu chủ đạo của thơ Tố Hữu là tâm tình, tha thiết Có khi tố cáo tội

ác của giặc, có lúc ca ngợi chiến công… tâm tình vẫn nhất quán trong phong

cách thơ Tố Hữu Rõ nhất là bài Người con gái Việt Nam: “Em là ai? Cô gái

hay nàng tiên - Em có tuổi hay không có tuổi?” Vạch trần những hành động dã

man của kẻ thù, nhà thơ dùng hình thức như người vợ gửi chồng “Anh ạ, từ

hôm Tết tới nay - Giặc đi ruồng bố suốt đêm ngày” (Lá thư Bến Tre) Nhớ

Huế, nhớ mẹ, xót xa vời vợi giọng thơ bùi ngùi: “Mây núi hiu hiu, chiều lặng

lặng - Mưa nguồn gió biển, nắng xa khơi…” mà vượt nghìn dặm đến bạn bè,

tiếng thơ vẫn là tiếng nhạc du dương: “Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan - Đường

bạch dương sương trắng nắng tràn” giàu yêu thương, tình nghĩa, ngọt ngào

Trang 18

Cho nên cái căm thù được dồn nén lại ở bên trong không ồn ào nhưng day dứt,

giục giã hành động, cái nhiệt tình sôi nổi lại hiện ra ở giọng trầm, dõng dạc,

Trong cuộc sống nhiều điều sâu sắc chỉ có thể nói bằng giọng tâm tình, ân

nghĩa Nhớ ơn người làm đẹp cuộc sống cho mình, Tố Hữu nhắc nhở: “Nhớ

nghe hoa”, “nhớ nghe em”… cái ý này nhà thơ nhắc đi nhắc lại nhiều lần:

Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay

Ra sông nhớ suối, có ngày nhớ đêm

Đó là những lời tâm tình chứa chan tình nghĩa Giọng tâm tình này có liên

quan đến quan niệm của Tố Hữu về thơ: “Thơ là chuyện đồng điệu Nó là tiếng

nói của một người nào đó đến với những người nào đó có sự cảm thông chung

dựa trên cơ sở đồng ý đồng tình (…) thơ là tiếng nói đồng ý đồng tình, tiếng nói

đồng chí” (Trả lời phỏng vấn về thơ Tạp chí Văn nghệ số 48 tháng 5 năm 1961)

Tố Hữu có nhiều bài thơ hay theo thể thơ 7 chữ: Quê mẹ, Mẹ Tơm, Em

thuộc với dân tộc, những so sánh ví von truyền thống nhưng lại có khả năng

biểu hiện nội dung mới của thời đại Các từ láy, cách phối hợp âm thanh, nhịp

điệu, vần, tạo nên chất nhạc phong phú chứa đựng được cảm xúc dân tộc, tâm

hồn dân tộc

Như vậy, phong cách thơ Tố Hữu rất đa dạng, kế thừa được truyền

thống thơ ca dân tộc, kết hợp một cách nhuần nhị hai yếu tố cách mạng và dân

tộc trong nghệ thuật Sức thu hút của thơ Tố Hữu chính là ở niềm say mê lý

tưởng và bản sắc dân tộc đậm đà

Từ năm 1960 đến 1964, Xuân Diệu xuất bản liên tiếp 3 tập thơ Riêng

Nét xuyên suốt trong cả quá trình sáng tạo của Xuân Diệu là sôi nổi,

bộc trực, trẻ trung, một năng lực cảm thụ tinh tế dồi dào Với Riêng chung

ông muốn nói lên mối thống nhất giữa cái riêng của tác giả và những cái chung của chế độ Cá nhân hoà nhập với tập thể, tập thể tạo điều kiện cho cá

nhân phát triển Mũi Cà Mau - Cầm tay hai chùm thơ đấu tranh thống nhất

đất nước và tình yêu nối liền với nhau trên một cơ sở tư tưởng căm thù và tràn

ngập yêu thương Và Một khối hồng viết về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở

miền Bắc Thơ có lời thơ khoẻ khoắn của lao động đấu tranh và bóng dáng con người mới, xã hội mới khẩn trương nhộn nhịp:

Khắp nơi trên những đường tôi đi, Tôi đã nghe xao xuyến rì rầm

Ngói mới Trên những đường tôi dạo, tôi qua Tôi đã nghe nhiều, những khúc ca

Ngói mới

(Ngói mới)

Trong những năm này, Xuân Diệu đi nhiều, chịu khó quan sát lắng nghe Thơ ông giàu chất sống, qua cái cảm, cái nghe, cái thấy và muốn chiếm lĩnh thực tại rộng lớn Trong nhiều bài thơ ông muốn đưa cái hàng ngày vào làm cho lời thơ gần gũi với tiếng nói hàng ngày Năng lực quan sát, lắng nghe, đi sâu vào quần chúng, hoà nhập với cuộc sống, lấy hiện thực là thước

đo giá trị tác phẩm, nhà thơ tạo nên những hình tượng thơ độc đáo, mà hình ảnh nhịp điệu có sẵn trong thực tế:

Lối cũ ngựa thồ đường tức ngực Mười một chữ chi quanh quất liền Được một đoạn bằng chưa kịp thở Mười một chữ chi quần, lại lên

(Mã Pí Lèng - Xuân Diệu )

Xuân Diệu là nhà thơ có ý thức đổi mới câu thơ, thể thơ nhất là trong cách ngắt câu, hiệp vần Nhiều trường hợp thú vị biến hoá tài tình Ông tiếp

Trang 19

thu sáng tạo nghệ thuật dân gian, nâng tiếng nói nhân dân thành tiếng nói thơ

ca mộc mạc mà tinh tế:

Ai làm cách trở đôi ta

Vì anh vụng ngượng, hay là vì em?

Trăng còn đợi gió chưa lên

Hay là trăng đã tròn trên mái rồi?

Là trên đỉnh chót tình người yêu nhau

(Trên đỉnh non cao)

Cách chọn chữ gieo vần trong thơ Xuân Diệu có nhiều tìm tòi, và sự

tìm tòi đã tạo nên hiệu quả nghệ thuật:

Khách nghỉ mát về rồi Anh vẫn ngồi trên bãi Gió vô hạn, vô hồi

Tự trên trời xuống mãi

(Trên bãi biển Trà Cổ)

Thực ra phong cách thơ Xuân Diệu lúc này so với trước đây, đặc biệt là

những năm trước cách mạng tháng Tám đã có nhiều biến đổi Về thi đề, những

mơ mộng, tình yêu cá nhân, thiên nhiên đẹp, buồn được thay bằng cuộc sống

lớn của nhân dân lao động, đất nước dựng xây (Ngói mới, Cao, Ba năm cửa

của nhà thơ trước cuộc sống (Gánh, Đầu tranh, Lệ, Mười lăm năm, Đi với

nhất trong các nhà thơ mới”, một nhà thơ ham sống, ham yêu, sống và yêu đều sôi nổi mãnh liệt thì đề tài tình yêu không dễ gì sao nhãng Sau cách mạng, kháng chiến chống thực dân Pháp, nhất là đến những ngày miền Bắc hoà bình, xây dựng cuộc sống mới, tình yêu vẫn là một thi đề đắc địa trong thơ Xuân

Diệu Và thực sự Xuân Diệu đã viết nhiều bài thơ hay về tình yêu (Hỏi, Tình

yêu san sẻ, Mưa, Hoa nở sớm, Tình yêu muốn hoá vô biên, Nguyện, Áo em, Biển…) nhưng là tình yêu trên nền tư tưởng mới, tình yêu lứa đôi hoà cùng niềm vui, lo toan của xã hội, có ý thức trước cuộc đấu tranh của xã hội, tình yêu hoà với mọi người chứ không phải chỉ của hai cá thể

Cũng có thể thấy rõ khi đi vào cuộc sống lớn, cảm hứng chủ đạo của nhà thơ thay đổi thì ngôn ngữ là ngôn ngữ quần chúng khoẻ khoắn, sống động:

Anh lên lần trước, uống nước sông xanh Anh lên lần này, nấu cơm nước đỏ

(Trên bến phà Thia)

Cùng với thời gian, phong cách thơ Xuân Diệu có những phần ổn định,

có những nét biến đổi Thơ Xuân Diệu muốn miêu tả cái phong phú của cuộc sống đời thường từ nhiều phía, nhiều góc độ khác nhau Để bộc lộ mình, khẳng định mình, ông đã có mặt tại mọi nơi, mọi lúc trong thời điểm khi cả đất nước đang náo nức lao động xây dựng và miền Nam đang trực tiếp chống Mỹ nguỵ

hành trình tâm trạng của nhà thơ để hoà vào cuộc hành trình chung của cả dân tộc trong quá trình phát triển đi lên Nhờ vậy nghệ thuật cũng trở nên phóng khoáng, đa dạng Câu thơ có thêm cái gân guốc, xốc vác của cuộc đời thực, ngôn ngữ thơ gần với ngôn ngữ quần chúng, hồn nhiên trong sáng hơn Đề tài thơ được mở mang đến nhiều vấn đề của cuộc sống đang đặt ra Tình yêu đất nước có khi là cảm xúc mạnh mẽ toát lên từ những tứ thơ phóng khoáng,

Trang 20

dòng thơ trải rộng (Văn xuôi về một vùng thơ) có lúc là tiếng nói thầm thì

quyến luyến (Kết nạp Đảng trên quê mẹ, Tiếng hát con tàu) Đất nước được

nhìn nhận ở nhiều khía cạnh: từ những cơn đá cộc, cây cằn đến những nơi hoa

lá xanh tươi, rừng vàng biển bạc, từ những cảnh quen thuộc đến những ước

mơ về chốn xa xôi Những kỉ niệm sâu sắc của những ngày kháng chiến: từ

hình ảnh người du kích rất cảm mến đến hình ảnh bà mế già… Đó là một tâm

hồm thơ đa dạng, giàu liên tưởng, kết hợp nhiều hình thức biểu hiện tứ thơ

phong phú, hình ảnh đẹp, hình tượng thơ nhiều tầng, nhiều ý nghĩa, câu thơ

nhiều màu sắc Có bài cổ kính cả tứ lẫn lời như Thư mùa nước lũ, Nhớ Việt

có những bài chở nặng tâm tư như Nhật ký một người chữa bệnh, Ngoảnh

Thơ Chế Lan Viên nghiêng về thế giới nội tâm, có chút ngậm ngùi, xót

xa ân hận nhưng khẳng định cái mới, cái thực tại rộn ràng nhiều mơ ước,

đồng thời đấu tranh đẩy lùi cái cũ, cái “dĩ vãng buồn thương” vẫn quẩn quanh

ám ảnh Đó là một nỗ lực vượt qua bản thân mình để tìm đến chân lý, khép lại

quá khứ hướng tới tương lai, đưa thơ ca “từ thung lũng đau thương ra cánh

đồng vui” Trên cơ sở một phong cách - phong cách triết lý, thể hiện nhiều

khía cạnh tìm tòi Và đến lúc này tài năng thơ ông bộc lộ ra nhiều vẻ đẹp

Trong thơ Chế Lan Viên, tính triết lý nổi bật tạo ra vẻ riêng của ông

Nhà thơ chủ yếu là con người của tình cảm và tưởng tượng Gọi là nhà thơ

triết lý, bởi bằng những tổ chức ngôn ngữ những biện pháp nghệ thuật tu từ,

Chế Lan Viên đã làm hiện lên những triết lý gợi trí tò mò ở người đọc để thoả

mãn nhận thức Ông kết hợp tình cảm và lý trí để xây dựng những hình ảnh,

những tâm trạng chân thật của cuộc sống có tính triết lý, nhưng yếu tố trữ tình

gợi cảm vẫn là nền tảng Đó là thi pháp riêng của ông Ông chú trọng, trước

hết, chất thơ và hình thức thích hợp để chứa đựng tư tưởng triết lý Từ đó đưa lại cho người đọc rung động và suy nghĩa một cách say mê

Chế Lan Viên có nhiều suy nghĩ sâu sắc và khái quát lên thành những vấn đề có ý nghĩa đối với cuộc sống hiện tại Ông ca ngợi quần chúng anh

hùng đã làm nên sự nghiệp lớn lao của dân tộc “Thần chiến thắng là những

người áo vải”, ông vạch mặt kẻ thù ở phần bản chất nhất của sự giả dối: “Mặt

kẻ thù là gương mặt hay cười”, ông khẳng định cuộc chiến đấu của nhân dân

ta là con đường tìm ra lẽ sống, từ xiềng xích nô lệ giành lấy tự do, từ đau thương làm nên chiến thắng diệu kỳ:

Ở đâu? Ở đâu? Có sự diệu kỳ

Ta xé vải chôn ta để may cờ chiến thắng?

Những vết thương đỏ chói sắc quân kỳ

Ta nấu xích xiềng ta làm súng đạn

(Ở đâu? Ở đâu? Ở đất anh hùng )

Trong thơ Chế Lan Viên chú ý đến nhiều yếu tố trí tuệ, trữ tình, triết học, cùng với yếu tố đời sống, hàng ngày như ông đã từng tâm sự Thơ ông không tả, không kể, mà là nghĩ, là luận, là phát hiện Từ những tâm trạng cảm xúc thật ban đầu, ông liên tưởng, suy tưởng thấm sâu mở ra những triết lý về những vấn đề phong phú của cuộc sống và cũng chính từ đó quy định sự lựa chọn hình ảnh, từ ngữ, sử dụng các biện pháp nghệ thuật tu từ, xây dựng ý thơ Thơ Chế Lan Viên mang đậm phong cách triết lý độc đáo Nhiều câu thơ, hình ảnh thơ có giá trị như những định nghĩa, châm ngôn về cuộc đời, tình yêu, nghệ thuật… được khái quát cô đúc từ những vấn đề mà mọi người

đã quen thuộc, có khi là những phát hiện mới lạ của nhà thơ trong quá trình sống, lao động và chiêm nghiệm Tất nhiên, triết lý trong thơ Chế Lan Viên nhiều khi là những điều bất khả giải, phi lý nhưng vẫn hấp dẫn bởi cách nói,

Trang 21

cách dùng hình ảnh buộc người đọc phải suy nghĩ, liên hệ, tưởng tượng, suy

đoán, có khi lại phải biện luận, suy nghĩ và tìm lời giải đáp

đời mới bằng niềm vui và tin tưởng: Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở

hoa (1960) và Bài thơ cuộc đời (1963) là ba tập thơ nói lên nhiều ý nghĩa:

ông viết nhiều, viết khỏe, có thành tựu Và cũng chứng tỏ ông gắn bó với

người với đời thắm thiết Trong thơ Huy Cận cảm hứng nổi bật là lạc quan

phơi phới Hiện thực cuộc sống được miêu tả chi tiết nhưng tinh tế Đặc biệt

cái hiện thực ấy thường được chắp đôi cánh lãng mạn, nên thơ ông gần gũi

với đời mà lại giàu ước mơ Thơ có xu hướng chan hoà tâm hồn và cảnh vật,

hình ảnh thơ mộng, lộng lẫy, mầu sắc, gợi cảm Cuộc sống lao động và thiên

nhiên đẹp, hùng vĩ đã gây nhiều cảm hứng cho thơ ông: Mưa xuân trên biển,

buồn, cơ cực thì cũng là một cách tô đậm lòng yêu đời, yêu cuộc sống mới

Đến Bài thơ cuộc đời, tâm tư, nội cảm càng lộ rõ trong thơ Huy Cận Ông

chú ý khai thác và nghĩ về con người, về cuộc đời xưa và nay, về thế kỷ, vũ

trụ… Tạo nên một mạch trầm tư suy tưởng trong thơ, nhiều vấn đề được đặt

ra và giải quyết trong cách nhìn nhận mới Các vị la hán chùa Tây Phương

kích thích nhiều suy nghĩ Cha ông xưa đau khổ tưởng thoát ra khỏi trầm luân

tục luỵ, nhưng với trĩu nặng tâm tư: “Một câu hỏi lớn không lời đáp - Cho đến

bây giờ mặt vẫn chau” Trò chuyện với Kim tự tháp, nhà thơ nêu lên vấn đề

muôn thủa của cuộc đời: cái sống và cái chết Giải quyết vấn đề trên quan

điểm nhân dân nhưng theo cách riêng của Huy Cận

Trước cách mạng, thơ Huy Cận hướng vào nội tâm, bộc lộ tâm trạng cá

nhân mình Đến lúc này thơ ông mở rộng cảm xúc hoà vào cuộc sống khách

quan vừa sâu lắng biểu hiện vừa miêu tả thực tế Kết hợp cả hai phương thức tự

sự và trữ tình, đó là nét mới trong phong cách thơ Huy Cận Thơ ông có sự chân

thật của chi tiết, thêm vào đó là nghệ thuật kể tự nhiên dung dị mà hấp dẫn, ngôn

ngữ trong sáng, lớp lang rõ ràng… Anh Tài Lạc, Chuyện anh Phòng đấu

công phu, nghiêm túc Thế nhưng, cái mạch ngầm tạo nên ấn tượng ở người đọc

xuyên suốt thơ Huy Cận là tư thế, giọng điệu trữ tình trầm tư, suy tưởng

Mạch suy tưởng trong thơ Huy Cận phong phú, khi lộ, khi chìm, lúc dữ dội lúc bình dị yên ả Cuộc sống thanh bình cứ chìm khuất trong màn mưa giăng mắc thơ mộng Cả bài thơ tĩnh lặng mà không buồn bởi những nét động chấm phá, gợi suy nghĩ:

Em bé thuyền ai ra dỡn nước Mưa xuân tươi tốt cả cây buồm

(Mưa xuân trên biển)

Huy cận đã khẳng định: “Cảm xúc thơ bao gồm cả cảm và nghĩ Cố nhiên sự suy nghĩ mà xã hội nói ở đây là suy nghĩ thực sự bắt nguồn từ cuộc sống sống động dào dạt và suy nghĩ bằng cảm xúc, bằng hình tượng, suy nghĩ

ở đây như hoa thắm lá tươi, nở ra từ nhựa sống, khác hẳn với lối suy nghĩ trên sách, tách rời cuộc sống Vì thế hướng suy nghĩ trong thơ phải gắn chặt với cảm xúc và xuất phát từ sự thực của đời sống” Đúng là như thế, những suy nghĩ, suy tưởng trong thơ Huy Cận đều thấm đẫm cảm xúc và được gợi hứng

từ sự thực của đời sống sinh động, Nhà thơ nhớ lại, ngày nhỏ, cùng bạn lên chùa, vào phía trong hậu tự xem cảnh thiên đường, địa ngục Đằng sau những triết lý cao siêu có phần huyễn hoặc là suy tưởng của nhà thơ mang nặng tấm lòng nhân hậu ấm áp, cảm thông sâu sắc với nhân dân lao động:

Bạn tôi nhìn kỹ mới hay rằng

Họ giống bà con trong xóm làng Cũng áo quần nâu, gầy guộc mặt

Ở đây không thấy kể giàu sang

(Cảnh địa ngục)

Trang 22

Huy Cận đã sáng tạo nhiều câu thơ theo lối thơ văn xuôi Câu thơ kéo

dài theo chiều ngang mở rộng khả năng biểu cảm, gợi ra những liên tưởng

rộng dài Chính cái giọng thơ, dòng thơ như thế rất thích hợp cho nhà thơ suy

tưởng Câu thơ giàu hình tượng, ngôn ngữ nhuần nhị, có chọn lọc

Và mắt của anh - tôi nhìn trong ảnh - vẫn chưa nguôi

Đau, ôi thật đau những hoài vọng của con người

Chưa nói hết

Trong sâu lắng của đất, trong sâu thẳm của lòng người, cuộc sống vẫn

cuộn trào sức sống bất diệt:

Trong lòng sâu của đất mặt trời triệu năm đã lắng đọng

thành dầu trong tinh khiết

Trong sâu thẳm của anh, Irắc ơi! cuộc sống đang ủ mầm

bất diệt

(Irắc ơi!)

Từ sự quan sát tỉ mỉ và xuất phát từ những cảm xúc về cuộc sống, Huy

Cận viết bài thơ Lúa mới với nhiều suy tưởng Cấu trúc câu thơ mở rộng, tầng

tầng lớp lớp đầy sức gợi về cuộc đời đầm ấm:

Như cánh mũi em bé phập phồng thở sữa mẹ khi bình minh ngủ dậy

Lúa lao xao như nói chuyện thì thầm, lúa như đàn ong vàng đậu thành

từng cụm

Lúa, hay chính là “những hạt đời, những ngón tay người nhuần nhị”

đang góp phần xây dựng cuộc sống mới

Từ thế giới thơ Huy Cận, ta thấy hiện lên hình ảnh một con người bằng

vốn văn hoá, bằng sự tinh nhạy cảm xúc, bằng năng lực tư duy dồi dào đang

trầm tư suy tưởng, đang sống hết mình với cuộc sống nhân dân

là ba tập thơ được sáng tác từ sau hoà bình 1954, đã kết hợp được một cách thuần thục giữa chất tự sự và chất trữ tình Thể hiện một hồn thơ chân tình, trong sáng, giản dị mà rung động tinh tế Nhiều bài thơ hay của Tế Hanh là nhờ sự việc, câu chuyện được dẫn dắt bằng tình cảm tha thiết dưới ánh sáng của trí tuệ, là sự hài hoà giữa mô tả và biểu hiện, giữa kể và tâm tình

Ở ba tập thơ này, chủ đề trung tâm, nổi trội là chủ để đấu tranh thống nhất đất nước Tế Hanh tìm được sự hoà hợp của hồn mình với chất thơ của

đời sống Chiêm bao, Nhớ con sông quê hương, Vườn xưa, Em chờ anh…

chứa chan tình cảm nhớ thương thấm thía đến xót xa

Và như vậy, hồi tưởng là âm điệu chủ đạo Hồi tưởng về miền Nam xa

cách, về những con người và cảnh vật quê hương Ông chú ý nhiều đến những người lao động miền biển, những con người đã “lớn lên cùng cách mạng”, quả cảm “xây cái sống nơi đầu gềnh cuối bãi”, những bà con dân chài vật lộn

sinh tử với thiên nhiên và quân thù để giành giật sự sống (Ngoài khơi trong

lộng ), những em thiếu nhi thà hi sinh, không chịu đầu hàng giặc (Cái chết

Những người ấy với tôi là ruột thịt Trong lời thơ tôi gửi hết yêu thương Đến những ai không quen không biết Cũng gần tôi trong hai tiếng quê hương

(Tiếng sóng)

Viết về đất nước, Tế Hanh viết nhiều về thiên nhiên Đó là sở trường là điểm mạnh của thơ ông Phong cảnh thiên nhiên được nhà thơ miêu tả bằng một sự trìu mến đặc biệt với những nét đẹp tinh tế Thơ ông tràn ngập những trời biển, mây gió, trăng hoa, chim cá… Tế Hanh nói đến mùa thu, mùa thu

Trang 23

trên đất khách, trong tâm tình “Anh xa nước nên yêu thêm nước - Anh xa em

càng nhớ thêm em” Mùa thu qua những hình ảnh tượng trưng của gió, của

mây, của nắng… có gì xao xuyến tận bên trong:

Mùa thu đã đi qua còn gửi lại Một ít vàng trong nắng trong cây Một ít buồn trong gió trong mây Một ít vui trên môi người thiếu nữ

(Bài thơ tình ở Hàng Châu)

Một mùa thu ở nông trường những ngày đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội

ở miền Bắc - một mùa thu không uỷ mị mà êm đềm duyên dáng trong những

nét mới của cuộc sống:

Mùa thu đã đến nông trường

Se se gió trở, hơi sương dịu trời Nắng vàng mây lững lờ trôi Nét xanh sóng lượn lưng đồi uốn cong

(Mùa thu ở nông trường)

Từ đó rất dễ nhận ra trong thơ Tế Hanh cảm xúc chân tình, trong trẻo,

dịu dàng Cái cảm xúc ấy hiện ra những hình ảnh dung dị, nồng nàn hơi thở

cuộc đời:

Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy Bầy chim non bơi lội trên sông

(Nhớ con sông quê hương)

Hình ảnh bên Cái giếng đầu làng

… Em đi gánh nước đôi vai mịn Đôi gánh cong cong uốn dẻo mềm

… Em múc trao anh gầu nước mát Mặt nước hoà đôi bóng chúng mình

Những hình ảnh tài hoa và tinh tế ấy đã góp phần tạo nên phong cách nghệ thuật của Tế Hanh - phong cách trữ tình trong trẻo giãy bày đến tận cùng lòng mình trên trang thơ Chủ thể trữ tình luôn hiện diện như ở giữa mọi người trực tiếp tâm sự:

- Quê hương tôi có con sông xanh biếc

- Tôi thấy đời tôi gắn liền với biển

- Tôi làm sao quên được điệu quê hương

- Tôi không muốn ngủ núi đồi trắng trong

Ngay cả những khi nói tới những đau thương mất mát, cắt chia, uất hận, căm thù, Tế Hanh vẫn tâm tình thầm thì như trò chuyện với mọi người một cách chân tình:

Tôi chảy ngày đêm không ngủ Hai bờ Nam Bắc nhìn nhau Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị Tận chân trời mây núi có chia đâu

(Nói chuyện với Hiền Lương)

Phong cách một thời của Tế Hanh, thực ra là phong cách cả đời thơ ông

từ cuối những năm 30 đến những năm cuối thể kỉ XX này Tức là một phong cách thơ tương đối bền vững đã làm nên một đời thơ, một nhà thơ trong những nhà thơ tiêu biểu của thơ ca hiện đại Việt Nam

Ngoài những phong cách sáng tạo trên, chúng ta có thể kể thêm những thành công mới những nét riêng đặc sắc của Lưu Trọng Lư, Nguyễn Xuân Sanh, Anh Thơ, Trinh Đường, Phạm Hổ, Trần Hữu Thung Đặc biệt Hoàng

Trung Thông trong Đường chúng ta đi (1960), Những cánh buồm (1964)

Trang 24

giữ được hơi thơ trẻ, khỏe, giàu chất sống Cuộc sống được chú ý khắc hoạ

trong quá trình vận động để trưởng thành Tâm hồn đôn hậu mực thước, nghệ

thuật vững vàng, chặt chẽ Và, cũng có nghĩa là ít biến hoá Nguyễn Đình Thi

từ Người chiến sĩ (1955) đến Bài thơ Hắc Hải (1959) có biến đổi: cách diễn

đạt giản dị hơn Cố gắng đưa cuộc sống bình thường vào thơ, dùng tiếng nói

hàng ngày Vẫn là phong cách sắc sảo, cảm xúc thông minh, hình ảnh chọn

lọc, câu thơ ít vần

Thời kì 1954-1964 đánh dấu sự trưởng thành của một giai đoạn thơ Đó

là kết quả của một quá trình tích luỹ chuyển biến trong mười năm cách mạng

Và sự trưởng thành này cũng chứng tỏ các nhà thơ đã có sự thay đổi về chất,

có trình độ tư tưởng cao, nghệ thuật độc đáo, có bản lĩnh trong một đội ngũ

đông đảo Một đội ngũ bao gồm các nhà thơ đã sáng tác từ trước cách mạng

tháng Tám, các nhà thơ ra đời và lớn lên trong cuộc kháng chiến chống thực

dân Pháp Các nhà thơ trẻ xuất hiện trong những năm này như: Nguyễn Bao,

Xuân Quỳnh, Ngô văn Phú, Võ Văn Trực, Ca Lê Hiến (Lê Xuân Anh)… báo

hiệu nhiều hứa hẹn nhưng chưa được khẳng định Lớp trẻ này thực sự nổi lên

và có đóng góp tích cực là khi đất nước bước vào thời kì mới: chống Mỹ cứu

nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội

Trên đây chúng tôi đã tiếp cận, tìm hiểu từ những góc độ: Đội ngũ sáng

tác, bản chất chức năng thơ ca, ý thức nghệ thuật chín muồi, và một số phong

cách nghệ thuật định hình góp phần làm nên thành tựu thơ ca thời kỳ này Với

một đội ngũ thơ đông đảo sống và viết trên mọi vùng miền của Tổ quốc, có sự

bổ sung của các thế hệ nhà thơ Họ đã xác định được bản chất chức năng thơ

ca, có được sự chín muồi trong ý thức nghệ thuật, đưa thơ về với đời sống,

gắn bó và trực tiếp “tham dự”, vào đời sống, đồng thời nỗ lực mở rộng các

khả năng biểu hiện, nâng cao chất lượng sáng tạo thơ Đánh dấu sự trưởng

thành của một giai đoạn thơ, báo hiệu nhiều hứa hẹn trong tiến trình của nền

thơ Cách mạng Việt Nam

từ trong những sự kiện long trời lở đất và cả trong những công việc ngỡ như bình thường, quen thuộc Trong thời điểm đó cảm hứng sáng tạo trở nên rộng

mở khi trực tiếp gắn chặt với hiện thực cuộc sống, hoà mình vào cuộc sống của tập thể của cộng đồng một cách tự nguyện, tự giác, cảm hứng thơ trước hết là những rung động, những cảm xúc có tính chất cộng đồng Nhà thơ trở thành người cất cao tiếng nói của quần chúng nhân dân Nền thơ xã hội chủ nghĩa đi trên con đường lớn của cách mạng, lấy cảm hứng từ trong những sự kiện lịch sử và chính trị Tuỳ theo từng giai đoạn cách mạng với những nhiệm

vụ lịch sử khác nhau cảm hứng thơ cũng có sự thay đổi Phong trào Thơ Mới nói nhiều đến quá khứ với cảm hứng lãng mạn khi tha thiết khi đắm say, khi ngậm ngùi luyến tiếc Họ phủ nhận, thoát li thực tại và đồng thời đánh mất tương lai Ngược lại, trong cảnh sống ngột ngạt tù đày nhiều nhà thơ cách mạng được vũ trang bằng “Đôi mắt thần chủ nghĩa” lại dự cảm về tương lai

Trang 25

với niềm tin lạc quan và đầy cảm hứng lãng mạn cách mạng Đến 1954, sau

“Chín năm làm một Điện Biên - Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng”, miền

Bắc đã hoàn toàn giải phóng Đất nước ta bước vào giai đoạn khẩn trương hàn

gắn vết thương chiến tranh xây dựng cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa Theo

hiệp nghị Giơnevơ, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền Cả dân tộc lại

tiếp tục đấu tranh giành thống nhất trọn vẹn non sông Tổ quốc Nhiệm vụ cách

mạng mới đặt ra cho văn học nghệ thuật nói chung và thơ nói riêng những

nhiệm vụ và những yêu cầu mới Trên nền hiện thực đó, để góp phần “trả lời

những nhu cầu cấp thiết của cuộc sống” thơ đã có những bước phát triển và

mở rộng rõ rệt Cảm hứng sáng tạo của nhà thơ đã bung mở về nhiều chiều

hướng, phản ánh hiện thực đời sống đa dạng và nóng bỏng của dân tộc của thời

đại Cảm hứng thơ ca những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội là “Cảm hứng

về đất nước anh hùng, về tổ quốc xã hội chủ nghĩa giàu đẹp là cảm hứng chủ

đạo… Trong thơ ca có tiếng nói da diết nhớ thương về tình cảnh đất nước còn

bị chia cắt hai miền Nhưng trước hết bài ca về đất nước là bài ca thắng lợi, bài

ca xây dựng ”(Hà Minh Đức) Ở chương này chúng tôi muốn đi sâu vào một số

cảm hứng sáng tạo chính

2.1 CẢM HỨNG VỀ ĐẤT NƯỚC, VỀ TỔ QUỐC THÂN YÊU

Nhìn vào tiến trình lịch sử của văn học dân tộc, văn học dân gian với

những thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ca dao - dân ca cho tới văn học thành

văn qua suốt hàng nghìn năm, người đọc không thể không quan tâm tới một

dòng chảy hết sức mạnh mẽ nhiều lúc gợi lên thành những thác ghềnh, những

khúc ngoặt của lịch sử dân tộc, dòng chảy của cảm hứng về đất nước, của

mạch cảm xúc dồi dào mãnh liệt về đất nước Viết về đất nước, trong trái tim

mỗi nhà thơ đều rung động một cách hết sức chân thực sâu xa mãnh liệt Từ

những câu ca dao “Đồng Đăng có phố kì lừa - Có nàng Tô Thị có chùa Tam

Thanh” hay “Đường vô xứ Nghệ quanh quanh - Non xanh nước biếc như

tranh hoạ đồ” cho đến “Nam quốc sơn hà”, “Bạch Đằng Giang Phú”… tới thơ hiện đại đều là niềm rung cảm tự hào của mỗi nhà thơ Đất nước là nguồn cảm hứng lớn nhất mà bất kì một thi sĩ ở một thời đại nào khai thác và hoà nhập được là đã tạo cho thơ mình một giá trị cao đẹp Bao nhiêu nhà thơ say sưa về đất nước Nó trở thành hình tượng tập trung cảm xúc của các nhà thơ Nguyễn Khuyến thường được xem là nhà thơ của làng quê nhưng trong chiều sâu chính là với non sông đất nước Những câu thơ chan chứa niềm đau thương với non sông đất nước:

Trông vời non nước cũ thật ảm đạm…

Ngước nhìn non sông khôn xiết buồn đau

Trần Tuấn Khải, từ một cảm thương về thân phận phù sinh đã khát khao cảm hứng với non sông:

Sống không duyên nợ thà không sống Văn có nước sông mới có hồn

Và cách mạng đã thu về một giang sơn đất nước do nhân dân làm chủ vận mệnh của mình “Hãy bay lên sông núi của ta rồi” niềm vui ấy không

riêng gì ở Tố Hữu mà là của cả một thế hệ Xuân Diệu viết Ngọn quốc kỳ và

nàn Tình sông núi của Trần Mai Ninh ca ngợi vẻ đẹp của Tổ quốc và từng miền đất quê hương một vẻ đẹp như chưa bao giờ từng được thấy Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Tây Tiến của

Quang Dũng… là những tác phẩm viết về tình yêu quê hương đất nước Theo

sự phát triển của thời gian và qua nhiều thử thách lớn lao của lịch sử, đất nước mang tầm vóc mới Từ hình ảnh đất nước còn nghèo khổ “Dân tộc rớt

mồ hôi thấm đất” và kiên trì trong lao động “Nhìn quanh là cả bốn bề cần

lao” (Trần Mai Ninh) Sau bao nhiêu năm “Khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt - Màu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn”, một đất nước

Trang 26

kiên cường trong chiến đấu “Nước Việt Nam từ máu lửa - Rũ bùn đứng dậy

sáng loà” (Nguyễn Đình Thi) và một đất nước thống nhất đến một hình tượng

đất nước mang tầm thời đại, tầm thế kỉ

Cảm hứng về đất nước cũng chính là cảm hứng về cuộc đời mới, về

hiện thực đất nước đang từng ngày sinh sôi nảy nở Thơ ca được khơi nguồn

từ những cuộc đời mới Đó là khi tiếng ca vui của nhân dân ta trên miền Bắc

sau khi “Giáng một trận dập đầu quỷ dữ”, hoà bình lập lại Một tiếng ca vui

đầy sức tự hào với chiến thắng “Lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”, làm

“Sáng nghìn năm lịch sử Điện Biên” dân tộc ta giành được độc lập, chủ quyền

của đất nước: “Một vùng trời đất về tay - Dẫu chưa toàn vẹn đã bay cờ

hồng”, “Hai tiếng đồng bào tổ quốc - Đến hôm nay mới thuộc về ta” (Tố

Hữu) Đất nước đẹp, xúc động, đầy cảm hứng đã mang lại những vần thơ

sảng khoái để ngợi ca đất nước hoà bình Nhà thơ Tế Hanh đã hào hứng ca lên

những: “Bài ca tha thiết - Tình yêu bất diệt - Tổ quốc chúng ta”

Lần đầu tiên trong thơ nước Việt non sông gấm vóc hiện lên thật bao

la, hùng vĩ:

Việt Nam đất nước ta ơi Mêng mông biển lúa đâu trời đẹp hơn Cánh cò bay lả dập dờn

Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều

(Bài thơ Hắc Hải - Nguyễn Đình Thi)

Với niềm vui kháng chiến thắng lợi, với không khí hào hứng, náo nức

và lòng tự hào ngợi ca Tổ quốc, nhân dân đặc biệt ý thức làm chủ - một tình

cảm thiêng liêng nhất của mọi người dân - là âm hưởng chủ đạo của những

bài thơ về đất nước giai đoạn này

Thơ ta ơi! Hãy cất cao tiếng hót

Ca ngợi trăm lần Tổ quốc chúng ta!

Mùa thu đó đã bắt đầu trái ngọt

Và bắt đầu nở rộ những vườn hoa…

(Mùa thu mới - Tố Hữu)

Cảm hứng về đất nước đã tạo thành những vần thơ da diết, giàu chất trí tuệ có sức khái quát rộng lớn ngợi ca tổ quốc:

Ôi Tổ quốc! vinh quang Tổ quốc

Ngàn muôn năm dân tộc ta ơi Việt Nam anh dũng sáng ngời Ánh gươm độc lập giữa trời soi chung

Tổ quốc vinh quang, tổ quốc độc lập đã làm nên tiếng reo vui đến ngỡ ngàng của nhà thơ Chế Lan Viên:

…Ơi độc lập!

Xanh biết mấy là trời xanh Tổ quốc Khi tự do về chói ở trên đầu

(Người đi tìm hình của nước - Chế Lan Viên)

Làm nên tiếng ca vui đầy tự tin của nhà thơ Tố Hữu:

Ngẩng đầu lên trong sáng tuyệt trần, Tháng Tám mùa thu xanh thẳm

Mây nhởn nhơ bay Hôm nay ngày đẹp lắm Mây của ta trời thắm của ta Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà!

(Ta đi tới - Tố Hữu)

Trang 27

Là giấc mộng diệu huyền của nhà thơ Chế Lan Viên:

Tôi càng thấy Tổ quốc mình giàu đẹp…

…Và hồn tôi lâng lâng trên cánh biển Thấy ngày mai trong ánh sáng say mê Chen chúc xe đi, tấp nập tàu về Nhà cửa mọc tận đồi xa đảo vắng Khúc hợp tấu trong không trung văng vẳng Của sức người cùng với sức thiên nhiên Thoáng rồng bay trong giấc mộng diệu huyền

(Giấc mộng diệu huyền - Chế Lan Viên)

Tiếng ca sảng khoái nhất trong đời làm thơ sau cách mạng tháng Tám

của nhà thơ Tố Hữu, cũng là tiếng ca sảng khoái nhất của cả dân tộc mà bài

thơ Ta đi tới đã nói hộ Cảm xúc thơ chân thành, vươn toả, ôm trùm; nhịp

điệu thơ dồn dập khoẻ khoắn; âm hưởng thơ ngân vang náo nức; Hình ảnh thơ

trong sáng, tươi ấm… dường như tất cả đã cộng hưởng để tạo nên một bài thơ

toàn bích, diễn tả được tình cảm nồng ấm, niềm vui hào sảng của dân tộc khi

“sông núi của ta rồi”, khi mà tự do đã “về chói ở trên đầu”

Có thể nói, các nhà thơ có nhiều cách thể hiện đất nước trong thơ: đi

đến với thiên nhiên, chiêm ngưỡng ca ngợi, trở về với lịch sử oai hùng của

dân tộc, khai thác tâm hồn tính cách con người, trình bày những đổi thay và

khát vọng đang hiện hình trước mặt Tất cả đều cần thiết và thơ làm nhiệm vụ

của nó như chính cuộc sống yêu cầu… Mỗi nhà thơ nhìn nhận, thấu hiểu đất

nước ở nhiều bình diện ,nhiều khả năng và sự rung động, mỗi người mỗi vẻ

làm phong phú thêm đất nước

Dưới ngòi bút Xuân Diệu, đất nước hiện ra chan chứa vui tươi và đầy

trìu mến:

Từ Lạng Sơn cho đến chót Cà Mau Qua Hải Vân sông núi ước mơ nhau Dưới sắc đỏ, đánh bản đàn hợp tấu

Những cảnh thiên nhiên trên đất nước chúng ta như rực rỡ như quấn quýt với người:

Tôi sang rú Treo thấy biếc rừng thông

Đi khúc nữa, tôi thấy đồng lúa dịu :

Ôi cái cuộc bao vây huyền diệu Những lá chè, lá mít, những hàng cau ! Những lá chòm, là xóm đẹp như nhau ! Quay bốn phía, chỉ một màu : Đất nước

Cảm hứng về một đất nước tươi đẹp, một miền quê, một ngọn núi, con sông cũng là ngọn nguồn để tạo nên những vần thơ đầy tự hào Cảm hứng về một dòng sông đã đưa nhà thơ Tế Hanh đến những dòng thơ “như từ trời xanh rót xuống”, dòng sông quê hương, dòng sông đẹp biết bao, dòng sông làm đẹp thêm đất nước:

Quê hương tôi có con sông xanh biếc Nước gương trong soi tóc những hàng tre Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè Toả nắng xuống lòng sông lấp loáng

(Nhớ con sông quê hương - Tế Hanh)

Nối tiếp mạch thơ viết về đất nước mỗi nhà thơ Huy Cận, Anh Thơ, Hoàng Trung Thông, Nông quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn… đến Lưu Trọng Lư, Phạm Hổ, Chính Hữu đều có những bài thơ hay, những vần thơ đẹp để ngợi

ca Từ vùng núi rừng Điện Biên, Thái Nguyên, Đình cả, Thác Bản Giốc, Hồ

Ba Bể: “Trời xanh xanh soi nước xanh xanh - Hai bên sừng sững núi giăng thành - Ba hồ khăng khít tình em chị - Bảy sắc hang Puông đã uốn mình” (Tế

Trang 28

Hanh) hay phong cảnh hùng tráng nên thơ trên đèo Phia Đén… cảnh núi non

hiểm trở trên đỉnh Mã Pí Lèng (Xuân Diệu)

Đến một vùng “sông vàng biển bạc” nơi Vịnh Hạ Long “biển trời lẫn sắc”

với mỏ “vàng đen” giàu có Cẩm Phả, Đèo Nai Từ “Sông Đà, sông Lô, sông Hồng,

sông Chảy” đến những vùng chót “Mũi Cà Mau” những miền quê Nam Bộ:

Mê Kông quặn đẻ Chín nhánh sông vàng Người dân Nam Bộ gối đất nằm sương

Mồ hôi vã bãi lầy thành ruộng lúa Thành những tên đọc lên nước mắt đều muốn ứa Những Hà Tiên, Gia Định, Long Châu Những Đồng Nai, Đồng Tháp, Cà Mau

(Cửu Long Giang ta ơi - Nguyên Hồng)

Có thể lập nên một bản đồ Việt Nam bằng những câu thơ, có đủ hình

sông thế núi, đất đai màu mỡ, sản vật bốn mùa với bao nhiêu đổi thay không

ngừng để phát triển Đất nước này nói như Trần Mai Ninh: “Tôi lim dim cặp

mắt - Không thấy nơi nào không đẹp - không giàu” Chính vẻ giàu đẹp ấy

khiến nhà thơ Tố Hữu phải “Ngẩn ngơ… ngắm mãi”:

Ta đứng vậy ngẩn ngơ mà ngắm mãi Quê hương ta nghe phấp phới trong lòng Đôi cánh cò trắng vẫy mênh mông

Ôi Tổ quốc đơn sơ mà lộng lẫy

(Trên đường thiên lý - Tố Hữu)

Mỗi nhà thơ khi viết về đất nước đều có cách thể hiện riêng của mình

nhưng tựu chung lại tất cả đều thể hiện tình cảm gắn bó, gần gũi yêu thương

khi trở về với mảnh đất của lòng mình Các nhà thơ đã nhận ra điều giản dị và

sâu xa này: “Đất nước ơi, ta quyện với mình chặt lắm - Nên đi rồi lòng không

thể gỡ ra” (Xuân Diệu)

Cùng với những không gian dài rộng theo hình sông, thế núi của một đất nước giàu đẹp, đã giành được độc lập, chủ quyền Thơ ca giai đoạn này thường khơi gợi đến thời gian lịch sử, truyền thông bất khuất của dân tộc Cảm hứng lịch sử và truyền thống được kết hợp nhuần nhuyễn với cảm hứng thời đại Chí khí quật cường của tổ tiên từ nghìn xưa đã đem đến cho nhân dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh một sức mạnh vô biên mà không một thế lực thù địch tàn bạo nào có thể khuất phục được Quên sao được ngày Bà

Trưng, Bà Triệu xuất quân, khi Lý Thường Kiệt viết Nam Quốc Sơn Hà trên

chiến tuyến sông Cầu - Như Nguyệt, khi Trần Quốc Tuấn bắt sống Ô Mã Nhi trên Bạch Đằng Giang, khi Liễu Thăng bị quân ta chém đầu tại Chi Lăng, khi Tôn Sĩ Nghị quăng cả ấn tín, triều phục chạy tháo thân qua biên giới,… Nhân dân ta mãi tự hào về “những buổi ngày xưa” ấy:

“…Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc, Nguyễn Du viết Kiều đất nước hoá thành văn

Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào Cửa Bắc, Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng

(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng - Chế Lan Viên)

Từ những cảm nhận về sự hữu hình của đất nước với không gian, bầu trời, cánh đồng, dòng sông, náo nức dồn dập reo vui bỗng như trầm lắng hẳn xuống, đượm vẻ thiêng liêng thành kính khi nghĩ về cái vô hình là hồn thiêng đất nước trên chiều dài của bốn nghìn năm lịch sử:

Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về

(Đất nước - Nguyễn Đình Thi)

Cảm nhận đất nước từ chiều sâu lịch sử, các nhà thơ đã tìm được các tứ thơ những cách biểu đạt, thể hiện sâu lắng và độc đáo Và nhà thơ Phạm Hổ

Trang 29

đã gửi gắm những tình cảm, những suy nghĩ sâu lắng của mình về đất nước,

về lịch sử hào hùng của cha ông Qua sông Bạch Đằng nhà thơ như thấy sóng

nghìn xưa vẫy gọi:

Sông bây giờ mới đáp tiếng mênh mông Còn đủ cả và ngày càng bất tử Những con sóng đã vỗ vào lịch sử Vào lòng dân cho dân mãi anh hùng

(Qua Bạch Đằng - Phạm Hổ)

Cảm hứng về đất nước, về Tổ quốc thân yêu là một nguồn mạch lớn

trong thơ giai đoạn 1954 - 1964, thể hiện sự đổi mới sâu sắc trong tâm hồn

người viết Không chỉ bộc lộ tình cảm yêu nước, lòng tự hào về giang sơn

gấm vóc, các nhà thơ còn cho thấy những chuyển biến lớn lao trong nhận thức

về dân tộc và thời đại Cảm hứng về sự hồi sinh của đất nước gắn liền với

cảm hứng về lao động dựng xây một cuộc sống mới đã góp phần làm nên vẻ

đẹp của thơ ca thời kỳ này

2.2 CẢM HỨNG VỀ ĐẢNG, VỀ BÁC HỒ

Vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, đã có những

bài thơ viết về Đảng nhưng phải đến giai đoạn 1954 - 1964, đặt trong mối

quan hệ với đất nước, với nhân dân những bài thơ viết về Đảng mới thực sự

tập trung và đạt tới chiều sâu khái quát và thực sự đạt được sự rung cảm sâu

sắc với những tình cảm, có sự nhuần nhị, liên tưởng phong phú và suy nghĩ

sâu xa trong tâm thế tiếp nhận của đông đảo công chúng Có thể nói, ở giai

đoạn này dường như không có nhà thơ nào không viết, không có những vần

thơ tặng Đảng Tuy nhiên, mỗi nhà thơ khi đi sâu vào khai thác lại có những

góc độ, những cách cảm, cách nghĩ, những hướng cảm xúc và phương thức

thể hiện khác nhau Bởi, viết về Đảng - một chủ đề khó trong thơ, một chủ đề

mà nhà thơ luôn tự nâng mình lên để suy nghĩ, cảm xúc sao cho vừa chân tình

trong cảm xúc, lại có chiều sâu của sự suy nghĩ, phát hiện Maiacôpxki có những ý nghĩ sáng tạo khi nói về Đảng và mối quan hệ giữa Đảng và lãnh tụ

Ý thơ: “Tôi nói Lênin là nói Đảng ; Tôi nói Đảng là nói Lênin”, ý thơ vừa mới mẻ, vừa đúc lại như một phương châm Aragông cũng chân tình và sáng tạo với ý thơ “Đảng đã cho tôi sáng mắt, sáng lòng” Các nhà thơ đã tạo nên một hình tượng đa diện, trọn vẹn về Đảng, Đảng đã tái sinh cho mỗi dân tộc, mỗi cuộc đời Tố Hữu sau những bài thơ lẻ đã giành trọn vẹn bản trường ca

thành, hoạt động của Đảng dìu dắt dân tộc đi đến chiến thắng Chế Lan Viên

xúc động chân thành khi được Kết nạp Đảng trên quê mẹ Xuân Diệu đã tìm được hình ảnh rất đẹp để nói lên cái vĩ đại lạ lùng của Đảng: Gánh, Huy Cận với Tặng Đảng, Tế Hanh với Lời dặn, Hoàng Trung Thông với Bài thơ tặng

Mỗi nhà thơ có những cách ngợi ca Đảng khác nhau, nhưng cảm hứng chủ đạo xuyên suốt các bài thơ là tấm lòng biết ơn Đảng sâu nặng, là lời ngợi ca nồng nhiệt nhất đối với Đảng Đảng đã tái sinh cho dân tộc, cho mỗi cuộc đời Trong suy nghĩ của Huy Cận, Đảng là người kế thừa truyền thống dựng nước

và giữ nước quả cảm và đầy gian khổ của cha ông:

Đảng thân yêu, Đảng tiếp tục nghìn đời Sống dũng cảm của cha ông đau khổ

Đảng thức gọi những sông Hồng thắm đỏ Làm lại địa dư cuộc sống con người

(Tặng Đảng - Huy Cận)

Với Xuân Diệu Đảng như “một người chất vạn gánh trên vai”, “ba

mươi năm hết chuyến rồi lại chuyến” ! Đảng lo từ việc lớn đến việc nhỏ, lo từ

lá rau, hạt muối đến việc chống lụt, hạn, chống nạn mù chữ…

Trang 30

Riêng với nhà thơ, công ơn của Đảng lại càng chí tình:

Đảng cho tôi xương sống của tâm hồn Một rễ xâu các tế bào rời rã Một tiếng gọi của biển người sâu cả

Đã vào làm cốt lõi của tim tôi…

Đảng đã cho tôi đứng thẳng làm người Đường Đảng tôi đi rộng mãi chân trời…

Xuân Diệu là người gắn bó với Đảng, đã đem hết sức mình làm thơ ca

ngợi Đảng Giữa nhà thơ với Đảng “đã thành xương thành thịt của nhau,

không gì tách ra được nữa” Còn nhà thơ Tế Hanh, từ khi có Đảng là “Một

cuộc đời từ đấy mới trong tôi”, nhờ Đảng, nhờ cách mạng mà thấy mình tiến

bộ và có cái nhìn sáng suốt hơn về con đường mình đi và ngày ngày anh đọc

“những dòng chân lí - Như những dòng ánh sáng soi đường” Nhà thơ đã diễn

tả đúng trạng thái tâm hồn mình trong những ngày đầu tiên gặp Đảng:

Tôi ra đi, với cái tuổi hăm lăm Thỉnh thoảng dừng chân mê mải ngắm trăng rằm Phần trong thực và hai phần trong mộng…

(Lời dặn - Tế Hanh)

Có những lúc nhà thơ tưởng chừng như chân mình thụt xuống hố cuộc

đời cũ với nếp sống lạc lõng xưa kia Nhưng sức mạnh diệu kì của Đảng

chính là ở chỗ dẫu Tế Hanh “đã nhiều phen con bóng quấn chân mình” nhưng

Đảng đã giúp nhà thơ vượt qua được và ngày càng lớn lên Ông vô cùng biết

ơn Đảng khi viết:

Nhưng cái đẹp chế độ ta là thế:

Anh muốn hại người, người chẳng để Anh muốn hại anh, anh chẳng dễ làm đâu ! Gạn đục khơi trong ôi lòng Đảng nhiệm mầu !

Bàn tay kỳ diệu của Đảng đã chỉ cho nhà thơ thấy đâu là chân lý Nhà thơ chân thành tin ở Đảng Bởi vậy, tất cả những nỗi băn khoăn, dằn vặt của mình, dù đúng dù sai nhà thơ Tế Hanh đều bộc bạch chân thành Trung thành theo lời dặn của Đảng: “muốn làm người Đảng viên phải không ngừng phấn đấu” nhà thơ đã dũng cảm vào đời và thấy mình chuyển thành con người mới Ông tự nguyện:

Tôi ra đi làm một thành viên của Đảng Như cái cây giữa rừng lớn thêm xanh Khi mùa xuân chuyển nhựa lên cành Như con sông thấy đời thêm ý nghĩa Khi lượng nước nhập vào triều nhạc bể

(Lời dặn - Tế Hanh)

Có thể nói, nhờ có Đảng, các nhà thơ đã có vị trí xứng đáng trong xã hội Đảng như có phép “cải lão hoàn đồng” cho những tâm hồn đã khô héo, khiến mảnh đất “điêu tàn” của thơ họ đỏ dần “phù sa” và chan hoà “ánh sáng” Đảng liên kết mọi người với cuộc sống cao rộng của nhân loại tiến bộ Nhờ có Đảng mà:

Ta sống thênh thang giữa nhiệt tình Bạn bè thế giới hát vây quanh

Vì không có Đảng làm sao nhỉ

- Mình vẫn lầm than nuốt lệ mình

(Đời sống chết mãi bên nhau - Xuân Miễn)

Vì thế ta thấy thêm yêu Đảng, giành cho Đảng phần nhiều:

Chào xuân đẹp! có gì vui đấy Hỡi em yêu mà má em đỏ dậy Như buổi đầu hò hẹn say mê

Trang 31

Anh nắm tay em, sôi nổi, vụng về

Mà nói vậy: “Trái tim anh đó Anh rất thật chia ba phần tươi đỏ Anh giành riêng cho Đảng phần nhiều Phần cho thơ, và phần để em yêu…”

Em xấu hổ: “ Thế cũng nhiều anh nhỉ.”

(Bài ca mùa xuân 1961 - Tố Hữu)

Trong bài thơ Ba mươi năm đời ta có Đảng của nhà thơ Tố Hữu đã có

những ý thơ sắc sảo và sáng tạo khi nói về Đảng - Bài thơ kể về một thời kì vĩ

đại của dân tộc mà mọi người đều biết, nhưng nó không phải là câu chuyện kể

mà nó là khúc hát trữ tình lớn nói lên lòng yêu mến Đảng Bài thơ thể hiện

mối tình sâu nặng với Đảng, yêu thương Đảng và gắn bó suốt đời với Đảng

Sự ra đời của Đảng ta, chưa có một hình tượng nào đẹp đẽ và thắm thiết bằng:

Đảng ta, con của phong trào

Mẹ nghèo mang nặng khổ đau khôn cầm Như đứa trẻ sinh nằm trong cỏ Không quê hương, sương gió tơi bời Đảng ta sinh ở trên đời

Một hòn máu đỏ nên người hôm nay

Đảng là niềm tin, là sức mạnh là cuộc sống thấm sâu vào tâm hồn của

mỗi cuộc đời, mỗi công việc Các bài thơ đã khai thác và khám phá ra nhiều ý

nghĩa khi suy nghĩ về Đảng Nhà thơ Tố Hữu nhận ra sức mạnh của Đảng:

Đảng ta đó, trăm tay, nghìn mắt Đảng ta đây, xương sắt, da đồng Đảng ta muôn vạn công nông Đảng ta, muôn vạn tấm lòng niềm tin

(Ba mươi năm đời ta có Đảng - Tố Hữu)

và ngợi ca công ơn của Đảng:

Đảng cho ta trái tim giàu Thẳng lưng mà bước ngẩng đầu mà bay

Viết về Đảng, nhà thơ Chế Lan Viên lại có những xúc cảm chân thành

ân tình, những tình cảm về Đảng, về quê hương, về mẹ như quyện hoà làm một Ánh sáng của Đảng đã soi chiếu tâm hồn nhà thơ Ngày vào Đảng Chế Lan Viên vô cùng sung sướng xúc động và tự hào khi đứng trên quê hương của mẹ Mẹ không còn nữa ! Nhưng cuộc đời gian khổ, đói nghèo đầy hy sinh của mẹ là con đường thầm lặng đưa nhà thơ đến với Đảng Được đứng trong hàng ngũ của Đảng là niềm hạnh phúc, là lí tưởng sống của nhà thơ:

Ngày vào Đảng đất trời như đổi khác Những vật vô tri cũng làm rưng nước mắt

Đá sỏi cây cằn, sao bỗng thấy thiêng liêng ? Giọng nói quen nghe, màu đất quen nhìn Bỗng chan chứa trăm điều chưa nói hết ! Cây cỏ trời mây, kẻ mất người còn Trong mơ hồ, trăm tiếng của quê hương…

Với Chế Lan Viên ngày vào Đảng chính là ngày sinh lại đời mình, ngày nhà thơ có quê hương thứ hai là Đảng để gắn bó yêu thương

Vừa chân tình, mộc mạc, bình dị, vừa ẩn chứa những triết lý khái quát sâu sắc về lẽ sống về cuộc đời, về tình quê hương, đất nước, tình cảm thiêng liêng đối với Đảng, bài thơ thực sự tạo được sự xúc động trong nhiều thế hệ công chúng Những tình cảm chân thực và những suy nghĩ đó của nhà thơ đối với Đảng, nhân dân, đất nước là cơ sở hình thành chiều sâu tư tưởng trong thơ ca Cùng với Đảng, Bác Hồ là nguồn cảm hứng vô tận của các nhà thơ Không một nhà thơ nào, không một tuyển tập nào không có hình ảnh Bác

Trang 32

Bác là người sáng tạo ra Đảng, là kết tinh tư tưởng, tình cảm, đạo đức cao đẹp

nhất của dân tộc, của giai cấp và của thời đại Nhà thơ Bảo Định Giang đã có

vần thơ ngợi ca: “Tháp Mười đẹp nhất bông sen - Việt Nam đẹp nhất có tên

Bác Hồ” Bác Hồ khơi nguồn dạt dào cho thơ ca - mỗi nghệ sĩ đều giành

những tình cảm thiêng liêng, yêu mến cảm phục và lòng biết ơn sâu sắc đối

với người Cả cuộc đời Bác hy sinh cho dân tộc Việt Nam Cả đời người là

bôn ba xuôi ngược, là một chuyến đi không ngừng nghỉ cho đến khi nhắm

mắt: Đi tìm chân lí, đi đến với Lê Nin, về nước xây dựng Đảng và nhen lên

ngọn lửa cách mạng, đi về xuôi giành chính quyền, rồi lại đi lại về trong

kháng chiến, đi đến với đồng bào, đồng chí, có mặt ở khắp nơi để khuyên bảo,

dặn dò… Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu nặng, người anh hùng dân

tộc, lãnh tụ Hồ Chí Minh được các nhà thơ khắc hoạ thành hình tượng người

anh hùng trong nghệ thuật Chưa bao giờ một nguyên mẫu lại gây được cảm

hứng sáng tạo bền chắc như Hồ Chí Minh Hầu hết các nhà thơ đều viết về

người, hàng nghìn bài thơ trong kháng chiến trực tiếp hoặc gián tiếp nhắc đến

người với tình cảm yêu mến, kính trọng sâu sắc Kháng chiến chống Pháp, Tố

Hữu đã có bài thơ Sáng tháng năm - một bài thơ xúc động về Bác - vị lãnh tụ

kính yêu của cả dân tộc: “Ta bên Người, Người toả sáng trong ta - Ta bỗng

lớn ở bên Người một chút” Kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, đến giai

đoạn này, Bác Hồ đã trở thành nguồn cảm xúc phong phú dồi dào của thơ Tố

Hữu với Xưa nay, Cánh chim không mỏi, Chế Lan viên với Người đi tìm

Trung Thông với Đọc thơ Bác… Tố Hữu là nhà thơ viết nhiều nhất và viết

hay nhất về lãnh tụ Hồ Chí Minh Mỗi bài thơ của Tố Hữu viết về Bác Hồ là

sự nối tiếp mở rộng và khám phá những phẩm chất cách mạng cao đẹp tiềm

ẩn trong tâm hồn lãnh tụ kính yêu Tháng 10 - 1954, sau hơn 3.000 ngày khói

lửa, với chiến công Điện Biên chấn động địa cầu, miền Bắc nước ta được

hoàn toàn giải phóng Đoàn quân thắng trận tiến về Thủ đô Tổ quốc chói lọi sắc cờ và hình ảnh lãnh tụ cao đẹp:

…Trên đường ta về lại thủ đô

Cờ đỏ bay quanh tóc bạc Bác Hồ

Trong niềm vui chiến thắng, nhà thơ Tố Hữu viết bài thơ Việt Bắc nhắc

lại một kỉ niệm đẹp của một thời máu lửa “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn

nồng” Bài thơ chứa chan tình nghĩa lưu luyến bồi hồi của kẻ ở người về Tố

Hữu đã giành những vần thơ đẹp nhất, hay nhất, khắc hoạ thành công hình ảnh Bác vừa giản dị, vừa gần gũi, vừa vĩ đại, vừa lớn lao trong tình cảm thuỷ chung , son sắt của cả dân tộc:

Nhớ ông cụ mắt sáng ngời

Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường Nhớ Người những sáng tinh sương Ung dung yên ngựa trên đường suối reo Nhớ chân Người bước lên đèo Người đi rừng núi trông theo bóng người

Bác đã làm ra thời đại Hồ Chí Minh Bác là tinh hoa của non sông, Tổ quốc, ở Bác được kết tinh lại diện mạo, phong độ của dân tộc, trong quá khứ, cũng như hiện tại và tương lai Cả dân tộc Việt Nam biết ơn công lao trời biển của người:

Người đi trước nghìn sương muôn tuyết Dắt dìu dân nước Việt Nam ta Bạc phơ mái tóc người cha

Ba mươi năm Đảng nở hoa tặng người (Ba mươi năm đời ta có Đảng - Tố Hữu)

Trang 33

Đối với phần đông văn nghệ sĩ, Bác đã khơi nguồn dào dạt cho thơ ca

Trở lại, thơ ca đạt tới chiều sâu khám phá, khái quát được những phẩm chất

cao đẹp của người:

Ngục tối trái tim càng cháy lửa Xích xiềng không khoá nổi lời ca Trăm sông nghìn núi, chân không ngã Yêu nước, yêu người, yêu cỏ hoa

(Đọc thơ Bác - Hoàng Trung Thông)

Trong cảm nhận sâu xa tận đáy lòng của mỗi người dân nước Việt, đặc

biệt đối với lớp nghệ sĩ trước cách mạng, từng đã có một thời “Ngủ trong

giường chiếu hẹp” để cho “giấc mơ con đè nát cuộc đời con” Nhưng, người

đã đến, đã dẫn dắt họ đi từ “thung lũng đau thương đến cánh đồng vui”, người

là ân nhân làm “…thay đổi đời tôi… thay đổi thơ tôi” để đến với ánh sáng

cuộc đời, để lấy “phù sa” ấm nóng bồi đắp cho tâm hồn, ngòi bút bởi vậy

trong thơ họ là lòng biết ơn sâu nặng, là những ăn năn day dứt xót xa Xuân

Diệu là một trong những nhà thơ có những câu thơ viết về Bác tương đối

thành công Xuân Diệu nói lên được cái lo lắng âu yếm đối với Bác gắn liền

với nỗi xót xa vì những lầm lạc của mình, đồng thời câu thơ chân tình của

Xuân Diệu đã gói ghém trọn vẹn tình cảm đó của cả một thế hệ nhà thơ:

Trên đầu tóc Bác sương ghi Chắc đôi sợi đã bạc vì chúng con

“Cảm ơn người Hồ Chí Minh vĩ đại” (Tố Hữu) - là tình cảm sâu đậm

của mỗi người dân nước Việt Sau bao nhiêu năm “mất nước, mất nhà” nay

mới được “đứng lên người độc lập”, được “cất lời ca, tiếng cười” Đó là cốt

lõi cho những câu thơ tài hoa, mà chân thành xúc động, nghẹn ngào “Con viết

bài thơ dâng Bác”:

Con nhìn Bác nghẹn ngào không chớp mắt Bác Hồ đây cha của chúng con đây

….Con sẽ hôn lên bàn tay thân ái Gục đầu lên gối Bác, khóc như xưa Thuở đầu tiên nghe tiếng nói Bác Hồ Bác là cả trong lòng con, nửa bước!

(Con viết bài thơ dâng Bác - Giang Nam)

Hồ Chủ tịch - người mang đến cho dân tộc ánh sáng chủ nghĩa Mác -

Lê Nin, cũng là người tiêu biểu hoàn mĩ nhất cho chân lý của chủ nghĩa đó

Cả dân tộc có một tấm gương sống động để noi theo, tin tưởng và kính yêu Như một nhu cầu về tình cảm, nhà thơ Chế Lan viên đã viết nhiều bài thơ về

Bác Bài thơ Người đi tìm hình của nước viết năm 1960, trong dịp kỉ niệm

30 năm thành lập Đảng là một thành công xuất sắc của ông Bài thơ ngợi ca quá trình đi tìm đường cứu nước của Bác Hồ, từ buổi giã từ Tổ quốc ra đi cho đến ngày gặp được chủ nghĩa Mác - Lênin, nhìn thấy tương lai huy hoàng của đất nước đã mở từ ánh sáng Lênin đó Bài thơ trong cảm xúc ngợi ca đã lần dựng lại những cảnh ngộ, những tâm trạng của Bác trong những năm tháng đi

tìm “hình của nước”:

Hiểu sao hết Người đi tìm Hình của Nước?

Không phải hình một bài thơ đã tạc nên người Một góc quê hương nửa đời quen thuộc Hay một đấng vô hình sương khói xa xôi

Mà dáng hình đất nước, hoặc còn hoặc mất Sắc vàng nghìn xưa, sắc đỏ tương lai Thế đi đứng của toàn dân tộc Một cách vin hoa cho hai mươi lăm triệu con người

Như một câu chuyện kể không cốt chuyện, mà bằng những liên tưởng, suy nghĩ độc đáo, những hình ảnh thơ táo bạo, mới lạ mà hàm nghĩa theo những xúc động, tâm tư tình cảm sâu lắng của mình, nhà thơ Chế Lan Viên đã

Trang 34

tái tạo lại một cách tài tình thế giới tâm hồn Bác trong những hoàn cảnh tiêu

biểu: tình cảm lúc trái tim yêu nước quyết rời xa Tổ quốc Qua bao quốc gia,

qua bao đại dương, qua bao nỗi gian truân nơi đất khách quê người nhưng vẫn

đau đáu một lòng về đất nước thân yêu, những suy nghĩ sâu xa và ước mơ

cháy bỏng về tương lai dân tộc và niềm vui sướng tột cùng của Người khi tìm

được “thế đi đứng của toàn dân tộc”, tìm được “con đường đi cho dân tộc theo

đi” Hoà quện trong tất cả là tình cảm sâu đằm, thấm thía của nhà thơ: biết ơn,

cảm phục, kính yêu, xen lẫn ân hận day dứt

Mỗi lần Chế Lan Viên nói về Bác là nhà thơ tự liên hệ với cuộc đời cũ

của mình, và đã viết lên những vần thơ cảm động Nhà thơ hướng về Bác,

cảm hết ơn sâu của Bác Người vĩ đại - không chỉ thay đổi cả vận mệnh của

một dân tộc, mà còn thay đổi mỗi cá nhân con người Người đã: “thay đổi thơ

tôi, Người thay đổi đời tôi” Tâm hồn người toả xuống mỗi đời người, và tâm

hồn mỗi người thêm trong sáng hơn Nhà thơ Chế Lan Viên hướng về Người,

cảm hết ơn sâu của Người cũng là hướng về nhân dân, về cách mạng, càng

thấm thía với ý nghĩa và giá trị cuộc sống hiện nay:

Ôi giữa lòng ta, Bác đến tự hồi nào ? Bác vĩ đại mà chẳng làm ai kinh ngạc Một buổi sáng, nhìn lòng ta, ta thấy Bác Nước mắt ràn, ta cảm hết ơn sâu

Nhà thơ Chế Lan Viên đã diễn đạt được tấm lòng của người Việt Nam -

của tầng lớp trí thức Việt Nam đối với lãnh tụ của mình, và đã tạo nên sự đồng

điệu kì thú Với tình cảm thiết tha, một trí tuệ sắc sảo và vẻ đẹp độc đáo đã làm

nên những bông hoa đẹp quý trong vườn thơ dâng Bác góp phần không nhỏ tạo

nên nét riêng mới trong thơ viết về Bác, so với thơ giai đoạn trước

2.3 CẢM HỨNG BẮT NGUỒN TỪ CUỘC SỐNG LAO ĐỘNG XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC

Lao động xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa là một đề tài rộng lớn

mà nhà thơ hướng tới với một nhiệm vụ nặng nề Bản thân công cuộc xây dựng này có nhiều ý nghĩa Xây dựng miền Bắc vững mạnh làm hậu thuẫn cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất Bắc Nam, thành quả lao động kiến thiết đất nước sẽ là niềm khích lệ, niềm tin cho đồng bào miền Nam đang chiến đấu… Mỗi con người được phát huy hết khả năng sáng tạo của mình, đem hết sức lực ra phục vụ sự nghiệp chung… Lao động trở thành một trách nhiệm, một nghĩa vụ một niềm vui” [47,73]

Thực tế chặng đường cách mạng 1954 - 1964 là một chặng đường đặc biệt, đánh dấu một bước ngoặt trọng đại trong đời sống cách mạng của dân tộc, với nhiều mặt tương phản, đối lập với cuộc sống quá khứ, nô lệ, hoặc gian khổ trường kì kháng chiến trước đây Đối lập “cũ…mới”, “xưa …nay”,

là mô típ phổ biến trong thơ giai đoạn này:

Xưa lệ sa ta oán hận đất trời Nay lệ hoà ta lại thấy đời tươi

(Xuân Diệu)

Mưa xưa rời rạc tần ngần Mưa nay ríu rít nhân quần tiếng vang

(Huy Cận)

Xưa - nay như phân đôi cả đất trời, và cuộc đời thành hai nửa cho đến

cả giọt mưa và dòng nước mắt Mô típ cũ - mới, xưa - nay cũng là nhằm đối chứng cái hôm nay với cái hôm qua để dựng những bức tranh tương phản giữa bóng tối xưa và ánh sáng hôm nay:

…Xưa là rừng núi, là đêm Giờ thêm sông biển, lại thêm ban ngày

…Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay Qua sông nhớ suối, có ngày nhớ đêm…

Trang 35

Thơ ca ca ngợi cuộc sống đổi thay từng ngày từng giờ trên miền Bắc,

nhất là khoảng thời gian từ sau cuộc đấu tranh tư tưởng chống Nhân văn -

Giai phẩm, với sự hồi sinh của lớp nhà thơ tiền chiến với sự vươn lên của các

nhà thơ kháng chiến và sự say mê của lớp nhà thơ trẻ Người đọc được chứng

kiến một mùa bội thu của thơ Tập trung và cũng là phần thành công nhất của

mạch thơ xây dựng cuộc sống lao động trên miền Bắc ở giai đoạn này là cảm

hứng khẳng định, ngợi ca thành quả lao động xây dựng, ngợi ca không khí đời

sống mới, quan hệ sản xuất mới trên miền Bắc Các mảng hiện thực của đời

sống xã hội từ nông thôn đến thành thị, nhà máy, hầm mỏ, đi vào thơ với một

vẻ đẹp tươi nguyên của nó

Trên nền hiện thực của cuộc sống vui say, náo nức đó, thơ đã nhập

cuộc vừa kịp thời, vừa xúc động Nói như giáo sư Hoàng Như Mai: “Chủ đề

kiến thiết chủ nghĩa xã hội thật là chủ đề bao la trong không gian và mỗi ngày

qua lại mở ra những chân trời mới mẻ Đã có không ít bài thơ đạt và đó là

những bài thơ rất đẹp vì nó dâng lên một sức sống hùng mạnh, nó ngân lên

một điệu đàn hạnh phúc nhân dân ta xưa nay chưa từng biết” [52,417]

Cuộc sống xây dựng rộng lớn trên miền Bắc thực sự đã khơi nguồn

hạnh phúc, là ngọn nguồn của mọi sáng tạo nghệ thuật thơ ca Tràn ngập giữa

một không gian bao la là sức sống và niềm vui của thời đại, của hàng triệu

con người: “Khi tổ quốc bốn bề lên tiếng hát” Nhà thơ Tố Hữu đã nói đến

không khí sôi động ấy:

Sướng vui thay, miền Bắc của ta Cuộc sống tưng bừng đổi sắc thay da

Những ngày đầu hoà bình đã có một số bài thơ viết về cuộc sống mới

trên miền Bắc, nhiều bài thơ mới chỉ thể hiện cái nhiệt tình tốt đẹp của các tác

giả là cố gắng ghi chép mô tả cuộc sống con người mà chưa thực sự rung

động với đối tượng phản ánh Phải sau những năm 1956 - 1958 theo chủ

trương của Đảng văn nghệ sĩ lại được tạo điều kiện để đi vào đời sống thực tế,

từ những thâm nhập cụ thể, với thái độ, tình cảm trân trọng con người, cuộc sống, với ý thức nghề nghiệp và trách nhiệm của người cầm bút đối với nhân dân, thơ bắt đầu có không khí của nhịp độ lao động khẩn trương, của khắp nơi trên miền Bắc Chuyến đi thực tế của Huy Cận về vùng mỏ Quảng Ninh đã tìm được mạch nguồn mới dồi dào cho thơ mình, ông tâm sự: “Cuộc đi tham gia lao động ở vùng mỏ là một sự kiện quan trọng đối với tâm tư tôi, cho tôi tiếp xúc sâu với chất sống quần chúng công nhân và cũng là sự kiện như giọt nước cuối cùng làm tràn một chiếc bình đầy Cuộc thâm nhập vùng mỏ đã đẩy mạnh cả quá trình xúc cảm trước đây và đưa đến ngày khai hoa” [29] Xuân Diệu hăng say và không mệt mỏi đến với rất nhiều vùng nhiều địa phương, đưa vào thơ không chỉ có vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước mà còn cả hình ảnh những người lao động và công việc lao động với nhiều gian lao, vất vả, nặng nhọc Chế Lan Viên chưa tới được Tây Bắc nhưng cũng gửi lòng mình tới đó

theo Tiếng hát con tàu Hoàng Trung Thông với chất thơ khoẻ khoắn vốn gắn

bó với những người lao động và chiến đấu ngay từ khởi đầu của con đường thơ, thì nay hình ảnh cuộc sống lao động và con người lao động vẫn tiếp tục ở

vị trí trung tâm trong thế giới thơ của ông Những vần thơ ấm nóng hơi thở đời sống, ngợi ca khả năng lớn lao vô tận của những con người mới ở hầu khắp các nhà thơ: Yến Lan, Phạm Hổ, Khương Hữu Dụng, Anh Thơ…và các nhà thơ trẻ: Bùi Minh Quốc, Trang Nghị, Vân Long, Vũ Quần Phương, Bằng Việt… đã thực sự đem tới độc giả cảm nhận về một bức tranh toàn cảnh sáng đẹp mang đậm “hồn thời đại”

Được “Tắm gội trong biển lớn cuộc đời”, được bắt nhịp vào điệu sống mới của cuộc sống lao động khẩn trương, đặc biệt là được hoà nhập với tâm tình của những con người mới, thơ đã ôm trùm được, phản ánh được một cách sinh động, đầy hào hứng nhiều mặt nhiều dáng vẻ, đổi thay trong cuộc sống

Trang 36

trên khắp mọi miền của Tổ quốc Nhà thơ Tố Hữu đã khái quát nhịp sống

“tưng bừng đổi sắc thay da”, dựng xây “trên miền Bắc mùa xuân” và đó cũng

là âm hưởng chung “tươi nhạc tươi vần” của cả một thời thơ Trong Bài ca

mùa xuân 1961, Tố Hữu viết:

Ồ thích thật, bài thơ Miền Bắc Rất tự do nên tươi nhạc, tươi vần

Cả không gian như xích lại gần Thời gian cũng quên tuần quên tháng

Đời trẻ lại tất cả đều cách mạng !

Rũ sạch cô đơn, riêng lẻ, bần cùng Quê hương ta rộn rã cuộc vui chung

…Xuân ơi xuân, em đến mới dăm năm

Mà cuộc sống đã tưng bừng ngày hội

…Tên đất nước reo vui bao tiếng gọi

Nhà thơ đã cất cao tiếng hát ngợi ca trước những hình ảnh tươi mới,

cao đẹp của con người mới, cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa Cuộc sống như

một ngày hội lớn, nhìn vào đâu cũng thấy vui

Một buổi trưa trên bờ biển Hậu Lộc:

Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát…

Một buổi chiều ở ngoại thành Hà Nội:

Sông Hồng nắng rực bờ đê Nắng thơm rơm mới, đồng quê gặt mùa

Một con đường mới trồng cây:

Đường ngực nở Những hàng dương liễu nhỏ

Đã lên xanh như tóc tuổi mười lăm

Dường như nói bao nhiêu cũng không hết vui, nói bao nhiêu cũng không hết cái vị nồng đậm ngọt ngào của cuộc sống trên nửa đất nước chúng

ta Một niềm vui lớn một niềm vui tràn đầy “hớn hở”, “rộn rực”, “náo nức” trên bước đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Nhà thơ say sưa với hình ảnh đất

nước đang xây dựng “khắp nơi trên những đường tôi đi - Tôi đã nghe xao

xuyến rầm rì - Ngói mới” Đó là cái màu ngói mới tràn ngập khắp nơi hội tụ

lại một cách đầy ấn tượng trong thơ Xuân Diệu:

Ôi ngàn vạn ngói, nói xôn xao Như đất ta vui bỗng vọt trào Ngói mới ! Ôi ngàn muôn sức lực Trải ra thành rộng dựng thành cao

(Ngói mới - Xuân Diệu)

Tất cả như ngập tràn trong niềm vui chung dựng xây của đất nước, những nhịp sống mới, những vẻ đẹp mới đang đổi thay từng ngày từng giờ trên quê hương Những tiếng còi xe lửa “réo gọi bao la”, những “con đường tươi trẻ” với “những ga nắng hồng”, những “bè nứa nắng tràn về xuôi”, những

“ống khói vươn cao” của những “Nhà máy chị, nhà máy em”, những cảnh

“chung ruộng, chung lòng, chung mảnh trăng” của hợp tác xã; không khí rộn ràng của vùng thảo nguyên mới “Đất mở lòng tươi như ngực trẻ - Mầm non hạt mới ấm bàn tay”; đến những nông trường bát ngát - lần đầu tiên xuất hiện trong đời sống và trong thơ Tế Hanh:

Nông trường ta rộng mênh mông Trăng lên trăng lặn vẫn không ra ngoài

(Nông trường cà phê - Tế Hanh)

… một nông trường mùa thu êm đềm, duyên dáng như một thiếu nữ yêu kiều:

Mùa thu đã đến nông trường

Se se gió trở hơi sương dịu trời

Ngày đăng: 06/10/2016, 06:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm