1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Một số vấn đề về văn học và ngôn ngữ

667 680 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 667
Dung lượng 3,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là cuốn sách tổng hợp những bài nghiên cứu chuyên sâu của các giáo sư, tiến sĩ hàng đầu của Việt Nam về những vấn đề văn học và ngôn ngữ, khu vực học dựa trên các quan điểm khác nhau sẽ cho chúng ta những hiểu biết mới về tri thức văn chương.

Trang 1

CẤP THIẾT VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN(1)

Phan Đăng Nhật*

Bản sử thi Việt Nam được công bố đầu tiên là Đăm Xăn, của dân tộc Êđê,

do Léopold Sabatier sưu tầm dịch ra tiếng Pháp và xuất bản ở Paris Tác phẩmnày do Pierre Pasquier đề tựa ghi tháng 5-1929 và Roland Dorgelès viết giớithiệu(2) Lúc bấy giờ, các soạn giả tin là người Tây Nguyên không thể có một sửthi thứ hai nữa, nên đã viết: “Nhưng mỉa mai cay đắng thay, bằng chứng đầu tiênnày về văn chương của người Mọi (tên gọi miệt thị người Tây Nguyên hiện naykhông thích hợp nữa) cũng là cái cuối cùng” (Mais quelle amère dérision que cepremier témoignage littéraire des Mois soit aussi le dernier”(3)

Bảy mươi lăm năm qua, nhiều dân tộc được phát hiện có sử thi: Mường, Thái,

Chăm Đặc biệt sau khi thực hiện Chương trình sưu tầm sử thi Tây Nguyên cấp

Nhà nước, một danh mục hàng trăm sử thi được đưa ra

Như vậy, tình hình đã khác hẳn Nhiều vấn đề cần đặt ra về lý luận và thựctiễn Bài này sẽ nêu lên một số trong các vấn đề đó

I TÓM TẮT ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA SỬ THI VIỆT NAM

Theo chúng tôi, Việt Nam có 2 tiểu loại sử thi: sử thi sáng thế và sử thi thiếtchế xã hội (các thuật ngữ này đang cần được thảo luận) Hai tiểu loại đó cónhững điểm khác nhau, chủ yếu là về nội dung phản ánh Tuy nhiên, chúng đềucó những đặc điểm chung:

1 Xét về mặt cơ sở xã hội ra đời, hầu hết là sử thi cổ sơ (archaic epic) và chưa có sử thi cổ đại (antique epic)(4)

Hầu hết sử thi đều ra đời vào thời kỳ mà các dân tộc chủ nhân chưa hình thành nhà nước Điều này khiến cho sử thi Việt Nam khác với các sử

thi cổ đại của một số quốc gia khác như Iliade, Odisée, Mahabharata, Ramayana.

2 Xét về mặt sáng tạo và lưu truyền, sử thi Việt Nam là sử thi sống(5)

Ở nhiều vùng trên đất nước, nhân dân Việt Nam đang xướng mo, khắp chương, kể khan, kể h’mon.

Có loại sinh hoạt sử thi không gắn với nghi lễ, như khan h’mon, hri, otnrong Mo Đẻ đất đẻ nước và Ẳm ẹt luông lại được xướng trong lễ tang Bố

* Giáo sư, Tiến sĩ, Viện Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam.

Trang 2

mo mặc lễ phục, đội mũ cúng, tay cầm quạt lông công và chuông nhỏ Mo đượchát kể kèm theo tiếng cồng chiêng và kèn đám ma, lời kể có chuông nhỏ giữnhịp Tất cả chan hòa trong không khí linh thiêng và xúc động của lễ tang, tronglúc quan tài với thi hài người thân mới qua đời đang đặt giữa nhà, con cháu mặctang phục đang khóc lóc kể lể(6).

3 Xét về địa bàn lưu truyền và tồn tại, sử thi Việt Nam đã hình thành vùng thể loại, tiêu biểu là vùng sử thi Tây Nguyên(7)

Ở đây có một khối lượng lớn sử thi, tồn tại với một mật độ khá dày đặc,với những đặc điểm chung về môi trường diễn xướng và nội dung đề tài.Môi trường diễn xướng của sử thi Tây Nguyên là môi trường văn hóa nghệthuật, không phải môi trường tôn giáo tín ngưỡng Sử thi Tây Nguyên là mộthệ thống với ba đề tài chính: lấy vợ, làm lụng và đánh giặc Trong đó trungtâm là đánh giặc

Những đề tài được phản ánh trong sử thi Tây Nguyên chính là những thựctế lịch sử - xã hội của các dân tộc Tây Nguyên được nghệ thuật hoá với tính hàohùng và kỳ vĩ, thuộc phạm trù thẩm mỹ “cái hùng”

Phạm trù thẩm mỹ này, lại chính là bắt nguồn từ đời sống tinh thần của người

Tây Nguyên, là niềm tin về một hiện thực huyền ảo được gọi là yang và tinh

thần hòa hợp đoàn kết, thân ái, tương trợ trong các cộng đồng người Tây Nguyên.Tóm lại, vùng đất, con người Tây Nguyên và lịch sử Tây Nguyên đã chỉ rahướng giải quyết vấn đề cho đề tài sử thi Tây Nguyên; Đồng thời đã thổi vàođây linh hồn của sử thi tính hào hùng kỳ vĩ Và như vậy hình thành một vùngsử thi Tây Nguyên có những nét riêng biệt so với sử thi vùng miền khác(8)

3 Xét về mặt cấu tạo tác phẩm, có một số sử thi phổ hệ(9)

Sử thi phổ hệ (genealogical epic, épopée généalogique) là một thuật ngữ quốctế dùng để chỉ những sử thi kể về nhiều thế hệ nhân vật anh hùng Tiêu biểu

cho loại sử thi này là Manas của người Kirghis, dài hơn 1 triệu câu thơ kể về 3

thế hệ: Manas, con và cháu của ông

Cho đến nay, có thể kết luận rằng sử thi Khinh Dú (Êđê), sử thi otnrong (Mơnông), sử thi Đăm Duông (Xêđăng) và sử thi nrong (Stiêng) là sử thi phổ hệ

(có người gọi là sử thi liên hoàn)

Các sử thi trên lúc đầu thường được sưu tầm và coi như một sử thi đơn thểlà một tác phẩm hoàn chỉnh Ví dụ như sử thi Mơnông được liệt kê 139 tác phẩm,

số 1 là Tiăng sinh ra, số 2: Tiăng chết, số 139: Đại hồng thuỷ Về sau các nhà

khoa học dần dần nhận thức ra có nhiều sử thi liên kết với nhau thành một bộsử thi thống nhất Hàng trăm sử thi Mơnông có một hệ thống nhân vật thốngnhất Từng nhân vật có đặc điểm, lịch sử và công trạng nhất quán trong toàn bộhàng trăm sử thi đơn thể Họ là Lêng Kon Rung, Mbong Kon Tiăng, Sơm KonPhan, Sơ Kon Phan, Yang Kon Rung Tất cả đều phục tùng người anh hùng số

Trang 3

1 là Tiăng Kon Rong Các thần linh cũng là những nhân vật nhất quán Lết, Mailà thần hộ mệnh của Tiăng Kon Rong; Grông, Grăng là thần hộ mệnh của Yang;Ôt, Ang là thần của Ndu; Nkur, Klot là của Mbong,

Trung tâm của toàn bộ các sử thi là Bon Tiăng Các địa danh chung thườnggặp là: sông Rlai (Mê Kông), sông Rmứt (Cửu Long), Bon Drôn, Bon Srai (vùngCampuchia), Bon Nhuăn (vùng Kinh),

Tóm lại, với một hệ thống nhân vật chung, do một anh hùng đứng đầu, một

trung tâm hoạt động chung và nhiều địa bàn chung, hàng trăm sử thi otnrong đơn thể là cùng thuộc về một tác phẩm sử thi phổ hệ lớn của người Mơnông(10), (11)

Sử thi Đăm Duông của người Xê Đăng bước đầu phát hiện 30 tác phẩm đơn

thể, được chứng minh là thuộc về một bộ sử thi lớn cùng tên(12)

Tuy với khối lượng không lớn lắm, sử thi Khinh Dú (Êđê) là một sử thi phổ

hệ, kể về 3 thế hệ anh hùng: Khinh Dú, Trong Đăn và Đăm Thí

Theo chúng tôi, ngoài những sử thi trên, sử thi Bana có thể cùng là một bộ

sử thi phổ hệ lấy nhân vật Diông làm trung tâm và có tên là Diông; sử thi nrong

của người Stiêng cũng có thể như vậy

Tóm lại, sử thi phổ hệ không phải là một hiện tượng đơn lẻ và trở thành một đặc điểm của sử thi Việt Nam, cụ thể là sử thi Tây Nguyên Đặc điểm này liên

quan đến vấn đề được đề cập ở mục II sắp tới: Vấn đề số lượng sử thi

II SỐ LƯỢNG SỬ THI - GIẢI ĐÁP VÀ ỨNG XỬ

Ngày 14-3-2001, Chính phủ cho phép tiến hành thực hiện Dự án điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên, với kinh phí

dự kiến khoảng trên 20 tỷ VND

Năm 2002, sau khi thực hiện Dự án được một năm, Ban Điều hành ra Thông báo báo chí về kết quả sưu tầm bước đầu là 191 tác phẩm sử thi.

Từ đó, dư luận thắc mắc về số lượng sử thi, liệu có thực là nhiều như vậy

không? Báo Lao động đăng bài của Đặng Bá Tiến “Sử thi đâu phải là củ mì”(13)

Báo Văn nghệ Công an số tháng 3 - 2004, bài của Nguyệt Hà “Chuyện của những

người đi tìm sử thi”, viết: “Con số trường ca tìm thấy trên cao nguyên được cho làsử thi này khiến nhiều người quan tâm bị bất ngờ: 400 sử thi! Ban đầu, khi lập dựán, số lượng dự kiến là khoảng 150, nhiều người đã kêu lên “Ở đâu ra mà nhiềuthế? Các nhà nghiên cứu cho rằng, vẫn còn khoảng 100 sử thi nữa Con số nàykhiến nhiều người đặt câu hỏi, trữ lượng sử thi Tây Nguyên liệu có nhiều đến thế?”.Các bài báo trên đặt ra những vấn đề cần giải đáp mà sau đây là ý kiến củachúng tôi:

1 Cảm nghĩ đầu tiên của một số người là có thể việc sưu tầm chưa chặt chẽ,thu thập cả những sản phẩm không phải sử thi

Điều này cũng có thể xảy ra Trong thực tế, những ấn phẩm đã công bố rộng

rãi đã từng có sự lẫn lộn này Y Ban trong tập Trường ca Tây Nguyên do Y Điêng,

Trang 4

Y Yung, Kơxo Blêu, Ngọc Anh dịch, Nxb Văn Học, 1963 là một trường hợp tiêubiểu Tác phẩm này là một truyện kể về tội ác của địa chủ đối với nông dân ởmiền xuôi được đưa lên Tây Nguyên và viết dưới dạng sử thi.

Nàng Hơbia Đơrang, Nxb Văn hóa Dân Tộc, 1987 có phụ đề là sử thi Giarai Thực ra đây là dạng truyện cổ có môtíp người trần lấy vợ tiên.

Đăm kteh Mlan, trường ca Êđê, Nxb Văn hóa, 1983, có hình thức ngôn từ và diễn

xướng của sử thi Nhưng thực chất là một bản thơ ca nói về bi kịch của tình yêu chị

em con dì, mà người Êđê cho là loạn luân Đăm kteh Mlan không phải là sử thi mặc

dầu đã gây xúc động thương tâm mạnh cho người nghe

Sở dĩ có sự lẫn lộn trên là do thời gian trước đây chưa xây dựng tiêu chí củasử thi Trên cơ sở một nhận thức đầy đủ về thuộc tính cơ bản của sử thi, tôi đềnghị có hội thảo về vấn đề này

Một nhà báo đã viết: “Nội tình những người tham gia Dự án này cũng “cònnhững điểm vênh nhau” Nếu những người chủ trì Dự án không có biện phápnâng cao chất lượng, trình độ cho đội ngũ cán bộ tham gia sưu tầm (nhất là ởcác tỉnh), không thống nhất được những tiêu chí cụ thể trong khi làm việc thìrồi chất lượng thực hiện Dự án sẽ không cao, sẽ xảy ra tốn kém, lãng phí tiềnbạc của Nhà nước”(14)

Kinh nghiệm là khi làm một việc lớn như Dự án sử thi Tây Nguyên, việcthống nhất khái niệm cần đi trước một bước Việc này ở Việt Nam đã có làm(hội nghị Đà Lạt), nhưng chưa đi đến thống nhất Nay cần phải tiếp tục, có thểtiến hành nhiều lần

Gần đây, để phục vụ cho công cuộc mở rộng sưu tầm nghiên cứu sử thi,

chúng tôi đã mạnh dạn tổng hợp sử thi trong nước và thế giới viết nên bài Thuộc tính cơ bản của sử thi(15) và tiêu chí hóa nội dung trên, vận dụng kinh nghiệm

đã trải qua để viết bài Kinh nghiệm nhận diện sử thi(16) Mong các bài đó đượcđóng góp cho công việc chung

2 Trên đây là một biện pháp để xác định số lượng và cũng chính là nâng caochất lượng sưu tầm sử thi, biện pháp hành động Tiếp theo là biện pháp nhận thức.Phần trên đã nói, sử thi phổ hệ là một đặc điểm của sử thi Việt Nam, đặcbiệt là Tây Nguyên Không ít nhà khoa học đã thống nhất ý kiến trên:

- TS Đỗ Hồng Kỳ: “Qua điều tra khảo sát, sưu tầm hiện nay chúng ta đượcbiết sử thi Mơnông có khoảng trên 100 tác phẩm Những tác phẩm này ít nhiềuliên kết với nhau theo kiểu liên hoàn”(17)

- PGS TS Võ Quang Trọng: “Cho đến nay, qua việc điều tra, sưu tầm, chúngtôi đã thống kê, lập danh sách trên 30 tác phẩm sử thi của người Xê Đăng, nhómTơđrá Đó là những tác phẩm sử thi độc lập, có chủ đề riêng nhưng đều liên quanđến nhân vật Duông Có thể coi các sử thi tồn tại độc lập này nằm trong một bộsử thi lớn, sử thi liên hoàn của người Xê Đăng”(18)

- Ths Tô Đông Hải: “Chúng tôi đã có thể khẳng định, Nrong là bộ sử thi liên

hoàn có khối lượng vào loại hàng đầu trong số các sử thi đã được phát hiện trênthế giới”(19) (Theo thiển ý, chưa nên xếp vào loại hàng đầu thế giới - PĐN)

Trang 5

Người viết bài này hoàn toàn nhất trí với các đồng nghiệp và năm 1998 đã

viết bài: “Otnrong, một bộ sử thi phổ hệ đồ sộ mới được phát hiện” Chúng tôi chỉ

khác nhau thuật ngữ: phổ hệ và liên hoàn Điều này không lớn lắm, xin được traođổi sau Từ sự thống nhất này đề nghị một cách quan niệm Nên coi sử thi phổ

hệ (hoặc liên hoàn) gồm một tác phẩm tổng thể, một bộ sử thi, trong đó bao gồm rất nhiều sử thi đơn thể Như vậy, cho đến nay chúng ta có: một bộ sử thi Otnrong

- Mơnông, một bộ sử thi Đăm Duông - Xê Đăng; có thể có một bộ sử thi Dyong

- Bana Điều này phù hợp với quan niệm thế giới về sử thi phổ hệ Manas - Kirghis.Tóm lại, với hai cách giải quyết trên đây, chúng ta sẽ cố gắng sưu tầm đượcsử thi đích thực và với số lượng hợp lý

III ĐƯA LẠI SỬ THI VỀ CHO CÁC DÂN TỘC GÌN GIỮ VÀ PHÁT HUY TRONG ĐỜI SỐNG, TRONG SINH HOẠT(20)

Rồi đây, khi công việc của Dự án sử thi Tây Nguyên hoàn thành, chúng tasẽ thu thập bỏ kho lưu trữ một khối lượng khổng lồ tư liệu sử thi dưới dạng vănbản, băng ghi âm, ghi hình, CD-ROOM, ảnh, Chúng ta sẽ nghiên cứu, hội thảokhoa học, xuất bản, nhân bản trong và ngoài nước Tất cả những công việctrên đây đều rất cần thiết và có ý nghĩa về các mặt khoa học, văn hóa, chínhtrị, kinh tế, công ăn việc làm Tuy nhiên, sẽ không trọn vẹn nếu chúng ta khôngnghĩ đến nhân dân các dân tộc, vùng xa xôi hẻo lánh, sau khi chúng ta đã hoàntất việc sưu tầm khai thác vốn sử thi của họ

Chục năm qua, hoàn cảnh có thể thay đổi, nhưng tấm lòng, ngưỡng vọng củacác dân tộc đối với sử thi của mình chưa thể đổi thay Nhân dân sẽ sung sướnghoan hỷ, biết ơn Đảng và Chính quyền xiết bao nếu như đồng thời với việc sưutầm đem đi nghiên cứu, chúng ta còn biết cách trao lại cho nhân dân kho tàngsử thi mà từ ông bà xưa đã bao đời gìn giữ; và hơn nữa còn khơi dòng chảy sửthi tiếp nối với thời “ông bà của ta xưa”

Vả lại, gửi cho nhân dân gìn giữ kho báu sử thi của họ cũng có sự vữngchắc và an toàn riêng, so với một số cách bảo quản khác, và quan trọng hơnlà chúng ta đã thổi thêm sức sống cho nguồn sử thi vô tận của nhân dân

Tóm lại, bên cạnh việc sưu tầm, bảo quản trên mặt giấy và trong kho lưu trữ, chúng ta cần tổ chức lập lại cuộc sống thực của sử thi trong môi trường sinh hoạt văn hoá dân gian của nhân dân(21)

Để thực hiện chủ trương trên đây, chúng tôi xin gợi ý một số biện pháp chính:

- Tặng lại nghệ nhân băng ghi âm và tư liệu thành văn về tác phẩm sử thi mà họ đã cung cấp Chúng tôi đã từng làm việc này, không những gia đình mà

cả cộng đồng đều rất trân trọng sản phẩm trên, hơn cả các quà tặng khác Vàchính nó đã tạo điều kiện cho con cháu và láng giềng nghệ nhân kế truyền sửthi, khi người thân quen của mình không còn nữa

- Khuyến khích việc bồi dưỡng trao truyền sử thi cho thế hệ trẻ, tạo nên 3 thế

hệ biết sử thi trong một gia đình Như vậy sử thi sẽ tồn tại và phát triển lâu dài.Có thể lấy Quan họ (Bắc Ninh) làm điển hình Trong lúc nhiều vùng dân ca khác

Trang 6

bị mai một thì Quan họ luôn phát triển và còn phát huy trên toàn quốc và thếgiới Một trong những nguyên nhân giúp cho Quan họ phát triển lâu dài là, trongcả vùng Quan họ, các thế hệ ông bà, cha mẹ, con cháu đều say sưa truyền dạyvà học tập Quan họ.

Đối với những sử thi như Khun Chương (Thái), có cả hình thức chữ viết cổ,

hát Chương, múa Chương và khóc Chương, thì việc truyền dạy cần thực hiện đầyđủ 4 hình thức trên

- Tổ chức thi trình diễn sử thi hằng năm vào ngày hội văn hóa của các địa

phương, các vùng, có động viên khen thưởng Chúng ta đã có kinh nghiệm vềviệc thi cồng chiêng Tây Nguyên, có thể áp dụng cho sử thi Tuy nhiên cần phảiphân biệt đặc điểm của 2 thể loại để có những biện pháp thích hợp

- Lập hồ sơ khoa học cho sử thi Kỳ họp khóa 9 lần thứ X đã thông qua Luật

di sản văn hóa, trong đó di sản văn hóa phi vật thể được quan tâm đúng mức.

Đặc biệt việc quy định lập hồ sơ khoa học là một chủ trương quan trọng, là một

cơ sở pháp lý tạo nên tính hiệu lực cao cho việc bảo vệ và phát huy di sản vănhóa phi vật thể mà ở đây chúng ta đang bàn đến là sử thi

- Đăng ký kiệt tác của nhân loại về di sản truyền miệng và phi vật thể Tại

các cuộc họp vào các năm 1997, 1998, UNESCO đã ban hành, tuyên bố và hướngdẫn việc đăng ký kiệt tác của nhân loại về di sản truyền miệng và phi vật thể.Sử thi của các dân tộc nước ta xứng đáng được đưa vào danh sách các kiệt táctrên Chúng ta cần kịp thời tiến hành các thủ tục đăng ký(22)

IV PHỐI HỢP VỚI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á SƯU TẦM NGHIÊN CỨU SỬ THI(23)

Ở Việt Nam có dân tộc Việt và 53 tộc người thiểu số Họ thuộc các ngữ hệViệt - Mường, Tày - Thái, Tạng Miến, Nam Á, Nam Đảo Với các ngữ hệ khácnhau trên đây, người Việt Nam có mối quan hệ về văn hóa rộng rãi đến nhiềudân tộc trên thế giới Sử thi là một sản phẩm tinh thần quan trọng của các nềnvăn hóa Do đó, sử thi các dân tộc Việt Nam cũng có mối quan hệ vượt ra ngoàibiên giới của quốc gia

Cho đến nay, chúng ta đã biết có những mối quan hệ sau:

1 Quan hệt Việt - Ấn

Cách đây khoảng 5 thế kỷ, sử thi Ấn Độ Ramayana được các nhà nho ghi

tóm tắt vào cuốn sách sưu tập truyện thần kỳ ở Việt Nam Sách này có tên là

Lĩnh Nam chích quái (lượm lặt những truyện thần kỳ ở đất Lĩnh Nam) Trong sách có Truyện Dạ Thoa vương hoặc là Truyện Chiêm Thành chính là Ramayana được

Trang 7

2 Quan hệ Việt Nam - Malayxia

“Đêwa Mưnô đã được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, luôn luôn

được đánh giá cao và được người Chăm liên tục chép lại”(25)

“Người Chăm say Đêwa Mưnô, nói Đêwa Mưnô, phân tích Đêwa Mưnô vàngâm Đêwa Mưnô với một giọng ngâm đặc chất Đêwa Mưnô”(26) Tác phẩm nàyban đầu không xuất hiện ở đất nước Champa mà vốn sinh ra từ Malayxia rồi lưutruyền đến vùng Champa vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII (theo G.Moussay)

Nhà nghiên cứu này đã làm một sự so sánh khá tỉ mỉ giữa văn bản Đêwa Mưnô

ở Champa và văn bản Dêwa Mandu ở Malayxia để rút ra kết luận trên(27)

3 Quan hệ Việt - Lào, Việt - Thái Lan

Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam có sử thi nổi tiếng Chương Han(28)

Ở Lào và Thái Lan có bản sử thi Thạo Hùng - Thạo Chương có nội dung gần với Chương Han Thạo Hùng - Thạo Chương gần gũi với Chương Han về nhiều mặt:

Các nhân vật chính: Chương Han và Thạo Hùng - Thạo Chương, Eng Ka, PhạHuồn, Ngọm Muôn là những tên cùng có trong hai tác phẩm; Tao Quạ - ThạoQuà, An Khái - Am Khai, Hun Văng - Hun Băng, Ải Quang - Ải Khoàng, NgânGiang - Ngơn Nhang, Tum Hoàng - Tum Vàng là cùng một nhân vật mà tên phátâm chệch đi do sự biến âm của tiếng Thái ở các địa phương khác nhau

Chủ đề và nội dung chính đều là những cuộc chiến tranh của các nhân vậtanh hùng Trận địa được diễn ra ở trần gian Ở đây, Chương Han - Thạo Chươngđánh thắng gần hết các kẻ thù, cuối cùng bị thua Ma Mèn một mắt và lên trờichiến thắng rồi ngự trị ở mường Trời(29)

Có thể nói, Chương Han và Thạo Hùng - Thạo Chương là hai sử thi cùng

có một nguồn gốc và cùng ra đời từ một nền văn hoá: nền văn hoá Thái VõQuang Nhơn có nhận xét tương tự như vậy: “Truyện Chương Han vốn là mộttruyền thuyết lịch sử đã được các nghệ nhân Lào và Thái tiếp thu”(30)

4 Quan hệ Việt - Trung

Các sử thi lưu truyền ở các dân tộc thiểu số miền Nam Trung Quốc như Lang Chính bắn mặt trời, Đặc Lộc bắn mặt trời, Đính Lạc, Mật lạc đà, Khai thiên lập địa ca có liên quan chặt chẽ với sử thi Đẻ đất đẻ nước (Mường - Việt) và Ẳm ệt luông (Thái).

Các sử thi này được lưu truyền ở địa bàn mà xưa kia thuộc về vùng văn hóaBách Việt(31)

Tóm lại, sử thi với giá trị là tác phẩm hàng đầu của văn hoá dân gian, vừalà giá trị tiêu biểu của nền văn hoá các quốc gia, vừa là mối dây liên kết chặtchẽ các nền văn hoá này Mối quan hệ trên có được là do cùng cội nguồn hoặccó sự giao lưu văn hoá lâu đời giữa các dân tộc Rất cần có sự phối hợp sưu tầm,nghiên cứu sử thi giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á(32)

Trang 8

CHÚ THÍCH

1 Trong Hội thảo này, tôi có đóng góp vào hai báo cáo khoa học:

- Bài “Ritual transformations around a spirit medium in the northern highlands of Vietnam” Bài này PGS.

TS Oscar Salemink là chủ.

- Bài “Sử thi Việt Nam - một số vấn đề cấp thiết về lý luận và thực tiễn” Bài này tôi là chủ

2 La chanson de Dam San, Légende radé du XVIe siècle, receuillie et transcrite en Français par M Léopold Sabatier, Le Blanc et Trautman, édilèurs, Paris, 1927

3 Bài tựa: Bài ca cuối cùng của người Mọi, của Roland Dorgelès, trong sách La chanson de Dam San, vừa

dẫn tr 9.

4 Xem: Phan Đăng Nhật, Sử thi Êđê, Nxb Khoa học Xã hội, 1991

5 Xem: Phan Đăng Nhật:

+ Sử thi Việt Nam trong mối quan hệ với sử thi nước ngoài, Việt Nam học, Kỷ yếu hội thảo quốc tế lần thứ

nhất, Hà Nội, 1998, tập 2 Nxb Thế giới, 2000, tr.356.

+ Des épopées toujours vivantes, Oscas Salemink, Directeur de la publicationDiversité culturelle au Vietnam,

Edilions UNESCO, 2001

6 Xem: Ngô Đức Thịnh, Sử thi Tây Nguyên phát hiện và các vấn đề, Tạp chí Văn hoá Dân gian số 4, 2002, tr.13.

7 Xem: Phan Đăng Nhật, Đề tài cấp Bộ Vùng sử thi Tây Nguyên, bắt đầu tháng 8 năm 1995, kết thúc tháng

8 năm 1998, sách Vùng sử thi Tây Nguyên ra đời 1999, Nxb Khoa học Xã hội

8 Xem: Ngô Đức Thịnh, Sử thi Tây Nguyên, phát hiện và các vấn đề, Tạp chí Văn hoá Dân gian, số 4,

2002, tr.13

9 Phan Đăng Nhật, Otnrong, một bộ sử thi phổ hệ Mơnông đồ sộ mới được phát hiện, Tạp chí Văn hoá Dân

gian, số 3, 1998

10 Xem thêm: Đỗ Hồng Kỳ, Sử thi của người Mơnông, Tạp chí Văn hoá Dân gian, số 4, 2002, tr.19

11 Tô Đông Hải Những phát hiện mới xung quanh sử thi Nrong, Tạp chí Văn hoá Dân gian, số 4, 2002, tr

12 Võ Quang Trọng “Đăm Duông” - bộ sử thi liên hoàn của người Xê Đăng, Tạp chí Văn hoá Dân gian,

số 4, 2002

13 Đặng Bá Tiến Sử thi đâu phải củ mì, Báo Lao động, số 206, ngày 10-5-2003

14 Đặng Bá Tiến Bài đã dẫn

15 Phan Đăng Nhật Thuộc tính cơ bản của sử thi, Tạp chí Văn hoá Dân gian, số 5, 2003, tr.3-23

16 Phan Đăng Nhật, Báo cáo tại hội nghị tổng kết dự án sử thi Tây Nguyên, năm 2003, tại Pleiku

17 Đỗ Hồng Kỳ, Sử thi của người Mơnông, Tạp chí Văn hoá Dân gian, số 4, 2002, tr.19

18 Võ Quang Trọng, “Đăm Duông” - bộ sử thi liên hoàn của người Xê Đăng, Tạp chí Văn hoá Dân gian,

số 4, 2003, tr.17

19 Tô Đông Hải, Những phát hiện mới xung quanh sử thi Nrong, Tạp chí Văn hoá Dân gian, số 4, 2002

20 Phan Đăng Nhật:

+ Sử thi Việt Nam, một giá trị văn hoá đặc sắc Tạp chí Cộng sản, số 8 năm 1999, tr.39-43.

+ Cần lập lại sinh hoạt văn hoá phi vật thể trong sử thi Tạp chí Di sản Văn hoá, số 5, 2003

21 Ngô Đức Thịnh, Sử thi Tây Nguyên - phát hiện và các vấn đề, Tạp chí Văn hoá Dân gian, số 4, 2002

22 Phan Đăng Nhật, Des épopées toujours vivantes, Diversité culturelle au Vietnam, Oscar Salemenk,

Directeur de la publication, Editions UNESCO, 2001

23 Phan Đăng Nhật, Sử thi Việt Nam trong mối quan hệ với sử thi nước ngoài, Việt Nam học, Kỷ yếu Hội

thảo Quốc tế lần thứ nhất, Hà Nội, 1998, Nxb Thế giới, 2000, tr.356

24 Xem: Phan Đăng Nhật, Sử thi Ramayana có ở Việt Nam cách đây khoảng 5 thế kỷ, Tạp chí Khoa học,

Tp Hồ Chí Minh, số 32 quý II, 1997, tr.62, 63

25 G.Moussay, Akayet Dêwa Mưnô Trường Viễn Đông bác cổ Pháp, Kuala, 1989, tr.25 (tiếng Pháp)

26 Inrasara, Văn học Chăm, khái luận - văn tuyển, tập I Nxb Văn hoá Dân tộc, 1994, tr.114

27 G.Moussay, sách đã dẫn

28 Phan Đăng Nhật, Nguyễn Ngọc Tuấn (đồng chủ biên) Chương Han - sử thi Thái, Nxb Khoa học Xã

hội, H, 2003

29 Phan Đăng Nhật, Mối quan hệ giữa sử thi Chương Han và sử thi Thạo Hùng - Thạo Chương Tạp chí

Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1, 2003

30 Võ Quang Nhơn, Văn hoá dân gian các dân tộc ít người Việt Nam Nxb Đại học và Trung học chuyên

nghiệp, 1983, tr.373.

31 Nông Quán Phẩm, Luận tập văn hoá dân tộc, Nxb Giáo dục Quảng Tây, 1993.

32 Ngô Đức Thịnh, Sử thi Tây Nguyên - phát hiện và các vấn đề, Tạp chí Văn hoá Dân gian, số 4, 2002.

Trang 9

CỦA LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT NAM

Nguyễn Đình Chú*

I Đây là vấn đề cơ bản và có ý nghĩa phương pháp luận, bởi nhận thức bất

cứ sự vật, hiện tượng nào, trước hết vẫn phải bắt đầu từ nhận thức cấu trúc tổngthể để từ đó đi dần vào việc nhận thức các bộ phân của nó Tựa như khi đếnmột thành phố mới lạ thì điều cần thiết nhất là phải có một bản đồ để biếtnhững đại lộ trước khi đi vào các khu phố Công tác văn học sử cũng vậy,dùlà phải tiến hành song song hai yêu cầu nhận thức, khám phá vừa về bộ phậnvừa về cấu trúc – tổng thể, nhưng vẫn phải lấy nhận thức cấu trúc tổng thể đểchỉ đạo việc nhận thức bộ phận Riêng với người tiếp nhận thì lại cần bắt đầutừ việc nhận thức cấu trúc tổng thể mà đi đến nhận thức bộ phận Việc cáccông trình văn học sử đều bắt đầu bằng bài Đại cương hoặc khái quát về lịchsử văn học chính là nhằm đáp ứng yêu cầu đó của người tiếp nhận Chỉ có điềulà cách viết đại cương trong đó có việc nhìn nhận cấu trúc tổng thể nhìn chungcòn quá đơn giản, chưa đủ hình dung được độ phong phú bề thế của kho tàngvăn học dân tộc

II Cần có một cách nhìn mới về cấu trúc tổng thể của lịch sử văn học Việt

Nam Cách nhìn cũ bị han chế là bởi nó chỉ nhìn trên một bình diện là phươngthức tồn tại của văn học bao gồm hai bộ phận: văn học dân gian truyền miệngvà văn học viết mà với hầu hết các công trình văn học sử ra đời trong một thờigian khá dài lại đã chỉ nói về văn học người Kinh Cách nhìn mới là cách nhìn,ngoài phương thức tồn tại (truyền miệng và thành văn) còn là như sau:

1 Lịch sử văn học Việt Nam là sản phẩm của một quốc gia gồm 54 dân tộc

cùng chung sống trong đó dân tộc Kinh chiếm đại đa số Do đó, trong cấu trúc

- tổng thể của lịch sử văn học Việt Nam, ngoài văn học của người Kinh đángđược coi là chủ thể, còn có văn học của các dân tộc ít người Văn học dân tộc ít người được nói ở đây chủ yếu là thuộc văn học truyềnmiệng truyền thống Không phải dân tộc ít người nào cũng có thành tưụ vănhọc lớn Nhưng có một số dân tộc đã có những thành tựu rất qui mô và độcđáo Ví như: các dân tộc Tây nguyên có thể loại trường ca sử thi, theo con sốđược công bố gần đây trên vô tuyến truyền hình Việt Nam là tới 500 bản, ngoài

các tác phẩm đã được dịch phổ biến trước đây như Đăm săn, Xinh nhã sắp

tới sẽ dịch in 27 tác phẩm nữa Đó là một hiện tượng hiếm có trong khu vực

* Giáo sư, Khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội Việt Nam.

Trang 10

đã đành mà còn là trên thế giới Dân tộc Mường ở Thanh Hóa và Hòa Bình cóthể loại mo trước đây do quan niệm ấu trĩ chỉ coi đó là văn nghi lễ, không phảilà văn học, nay với quan niệm đúng đắn thì chính đó là một thể loại phôncờ-

lo ra đời trên cơ sở hợp lưu giữa tín ngưỡng dân gian với văn học dân gian

Tiêu biểu là mo Đẻ đất đẻ nước, bản đươc ghi nhiều nhất gồm 8503 câu Các

dân tộc ít người ở Tây Bắc và Việt Bắc có thể loại truyện thơ, tiểu biểu như:

Xóng chụ xôn xao (Tiễn dặn người yêu), Ăm ệt luông, Vượt biển, Tiếng hát làm dâu, Nam kim - Thi đan

Sức hấp dẫn của những tác phẩm vừa kể trên đây thuộc văn học dân tộc ítngười là xuất phát từ một kiểu tư duy có phẩm chất nghệ thuật cao siêu trongđó bao gồm một khả năng tưởng tượng và môt khả năng liên tưởng phi thường,từ đó mà có những hình tượng nghệ thuật hoành tráng mang tính chất huyềnthoại ít thấy trong văn học người Kinh Cứ so sánh hình tượng mặt trời trong văn

học người Kinh với hình tượng mặt trời trong trường ca Đăm săn đã thành nữ thần để Đăm săn đi bắt làm vợ, với hình tượng mặt trời trong Tiễn dặn người yêu; cứ so sánh hình tượng cơn mưa trong thơ Lưu Trọng Lư, thơ Tố Hữu với hình tượng cơn mưa trong mo Đẻ đất đẻ nước; chúng ta thấy rõ sự khác nhau về

hình tượng cũng là sự khác nhau về tư duy nghệ thuật

Để hiểu rõ hơn giá trị nghệ thuật độc đáo của văn học dân tộc ít người, cầnnhận thức hai qui luật quan trọng sau đây:

a) Qui luật phát triển không đồng đều giữa kinh tế xã hội văn hoá văn minhvới văn học nghệ thuật Các dân tộc ít người rõ ràng về đời sống kinh tế xãhội văn hóa văn minh thấp hơn nhiều lần so với người dân ở các đô thị miềnxuôi nhưng họ có những sản phẩm văn học độc đáo, có dân ca hấp dẫn mà ởcác đô thị miền xuôi không có Tất nhiên không thể tuyệt đối hoá qui luât này.b) Qui luật về cơ sở kết tinh của nghệ thuật: có nhiều cơ sở cho sự kết tinh nghệthuật ví như lý tưởng xã hội cao đẹp, lòng nhân ái bao la, quan điểm nghệ thuậtchân chính, tài năng trác lạc nhưng không thể quên sự hồn nhiên của ngườinghệ sĩ, điều mà Karl Mark đã nói đến trong khi bàn về nguồn gốc giá trị củathần thoại Hy Lạp: sự hồn nhiên trong tuổi thơ một đi không trở lại của nhânloại Rõ ràng các dân tộc thiểu số, xét trên nhiều phương diện của cuộc sốngđều thấp hơn nhiều so với dân tộc Kinh, nhưng riêng về độ hồn nhiên của tâmhồn nhờ có cuộc sống gần gũi với đất trời sông núi, với cây cỏ, chim muông, thìchắc chắn là dân tộc Kinh khó bằng Nói văn học dân tộc ít người kết tinh từsự hồn nhiên để có kiểu tư duy nghệ thuật độc đáo dẫn đến thành tựu văn họchấp dẫn chính là căn cứ vào qui luật đó

2 Trên bình diện chữ viết (văn tự): theo các công trình văn học sử hiện có

thì lịch sử văn học Việt Nam cho đến nay đã được viết bằng ba hình thức văntự: chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ Nhưng còn phải nói thêm một số vấn đềnhư sau:

a) Ở Việt Nam, trước khi có chữ Hán đã có hình thức chữ viết nào khác chưa?Nếu đã có thì có một thứ văn học nào gắn với hình thức chữ viết đó không? Quả

là trong cuốn Thanh Hóa quan phong của Vương Duy Trinh in năm 1905, tác giả

Trang 11

có công bố một văn bản chữ viết sưu tầm được ở thượng du tỉnh Thanh và cho

là chữ viết của người Việt cổ Sau đó, đến năm 1942, trong sách Việt nam cổ văn học sử, Nguyễn Đổng Chi cũng cho đó là chữ viết cổ nhất của dân tộc Tiếp nữa,

vào khoảng đầu những năm 70 của thế kỷ XX, hai ông Bùi Văn Nguyên, Lê TrọngKhánh cũng nói đến chữ viết thời Hùng Vương Có thể nói những tìm tòi trên đâychưa đủ cho một kết luận rằng dân tộc đã có chữ viết thực sự trước khi sử dụngchữ Hán của Trung Hoa để sáng tác văn học Hoặc giả cứ cho đó là chữ viết củadân tộc đi thì vẫn chưa có văn học nào của thứ chữ viết đó

b) Vấn đề đáng nói là ngoài văn học được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm vàchữ Quốc ngữ, còn có văn học viết bằng chữ Pháp, chữ Anh của người ViệtNam hoặc ở trong nước hoặc ở ngoài nước Ví như về tiếng Pháp, đã có nhữngtên tuổi như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phạm Duy Khiêm, Nguyễn TiếnLãng, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Đức Bính, Trần Đức Thảo, Nguyễn KhắcViện, Phạm Văn Ký đặc biệt Nguyễn Ái Quốc với những tác phẩm sáng giáđã được khoa văn học sử đón nhận nồng nhiệt Nhưng vấn đề đặt ra là vớinhững trường hợp khác thì sao? Quả đây còn là món nợ mà khoa văn học sửViệt Nam còn phải trả Cần thấy thêm rằng đây là hiện tượng văn học thuộcsản phẩm của thời hiện đại một khi qui luật giao lưu văn hóa mang tính chấttoàn cầu đã là hiện thực Cứ xem tình hình văn học của nhiều nước trong khuvực sẽ thấy đa ngữ là hiện tượng mang tính qui luật phổ biến Đã đến lúc khoavăn học sử Việt Nam không thể để ra ngoài loại văn học của người Việt viếtbằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh dù ở trong nước hay ở ngoài nước miễn là thểhiện phẩm chất, tâm hồn Việt Nam và có giá trị nghệ thuật Cần nói thêm: quiluật của văn hóa trong đó có văn học liên quan đến qui luật của địa lý chínhtrị nhưng không đồng nhất với chúng Cách chúng ta đã đối xử với văn học chữHán cũng là vậy chứ khác gì

3 Những bộ phận văn học chưa được khám phá đầy đủ hoặc còn bị bỏ ngoài

đối tượng nghiên cứu Đó là:

a) Những mầm mống văn học viết ở thời Bắc thuộc: Nguyễn Đổng Chi trong

Việt Nam cổ văn học sử đã nói đến văn học từ thời Sĩ Nhiếp (?-226) Nghiêm Toản trong Việt nam văn học sử trích yếu cũng cho rằng văn học Việt Nam có từ

thế kỷ II Nhưng cả hai ông chưa có tư liệu gì đáng kể về văn học thời Bắc thuộcđó Có lẽ vì thế mà các công trình văn học sử về sau đều cho rằng văn học viếtViệt Nam chỉ ra đời từ thế kỷ XIII, hoặc XI, hoặc X Trong khi đó thì một số nhànghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam đã nói đến Phật giáo Việt Nam ở thời Bắcthuộc từ thế kỷ thứ II trở đi trên cơ sở nhiều tư liệu văn học Phật giáo mà họphát hiện được Đọc một số công trình của nhà nghiên cứu Phât học Lê Mạnh

Thát như: Sơ thảo lịch sử Phật giáo Việt Nam tập I (in ronéo, tu thư Phật học Vạn Hạnh,thành phố HCM,1976), Nghiên cứu về Mâu tử (tâp I, II, tu thư Phật học Vạn Hạnh, 1982), Khương Tăng Hội toàn tập (I và II, tu thư Phật học Vạn Hạnh,

1994), chúng ta sẽ được cung cấp một lượng thư tịch so vơí trước phong phú hơnrõ rệt Mà ở đây nói văn học Phật giáo cũng là nói văn học Việt Nam Trongcông cuộc tìm kiếm lại những mầm mống văn học thời Bắc thuộc, cần ghi thêm

công của nhà nghiên cứu Trần Nghĩa qua hai bài viết “Một số tác phẩm mới phát

Trang 12

hiện có liên quan tới dòng văn học viết bằng chữ Hán của người Việt thời Bắc thuộc” (Tạp chí Văn học số 4-1975), “Sáu bức thư hay cuộc tranh luận sôi nổi giữa Đạo Cao Pháp Minh với Lý Miễu về việc không thấy chân hình của Phật” (Tạp chí Hán Nôm số 2 - 1995) Nguyễn Công Lý trong công trình Văn học Phật giáo thời Lý Trần: diện mạo và đặc điểm (Nhà xuất bản ĐHQG thành phố HCM, 2003) qua tiểu mục “Vài nét về diễn trình và đặc điểm của văn học Phật giáo ở Giao Châu trước thời đại Lý Trần” cũng đã cho người đọc thấy khá đầy đủ hệ

thống thư tịch thuộc văn học Phật giáo và như đã nói cũng là văn học Việt Namthời Bắc thuộc Hy vọng trong công trình văn học sử mà viện Văn Học đang trênđường tổ chức biên soạn sẽ quan tâm tới bộ phận mầm mống này để người đọcthấy rõ thêm diện mạo cấu trúc - tổng thể của lịch sử văn học dân tộc

b) Nền văn học chữ Hán của chúng ta quả thật là rất phong phú Từ đầu thếkỷ XX, đặc biệt từ hạ bán thế kỷ XX đến nay, công tác sưu tầm dịch thuật đãcó những thành tựu rất đáng kể.Tuy nhiên so với những gì nó có thì vẫn là mộtkhoảng cách không nhỏ Còn rất nhiều tác gia tác phẩm chữ Hán vẫn nằm yêntrong thư viện Hán Nôm, đặc biệt là với các tác gia triều Nguyễn Nhìn lại những

gì đã đươc dịch đối với văn thơ Cao Bá Quát, Miên Thẩm Tùng Thiện vương,Tuy Lý vương, Nguyễn Văn Siêu, Mai Am nữ sĩ, Huệ Phố nữ sĩ mấy vị vua MinhMạng, Thiệu Trị, Tự Đức và nhiều tác giả khác nữa, hẳn là chúng ta không khỏisốt ruột Đúng là công tác nghiên cứu văn học nói chung, khoa văn học sử nóiriêng đang còn nợ nhiều với bộ phận văn học chữ Hán mà xem ra khả năngthanh toán còn quá chậm chạp

c) Với văn học ở miền Nam sau 1954 trước 1975: không ai có thể chối cãiđược rằng ở miền Nam, đặc biệt ở một số thành phố, nhất là Sài Gòn trongthời gian này đã tồn tại một nền văn học Chưa nói về chất lượng của nó là

gì Riêng về số lượng, chắc gì nó đã thua nền văn học miền Bắc Vậy mà côngviệc nghiên cứu đã có với nó như thế nào? Quả là trong thời chống Mỹ, xuấtphát từ yêu cầu chống lại nền văn hóa thực dân mới, chúng ta đã tổ chức việcnghiên cứu văn học đô thị miền Nam Đó là việc làm cần thiết nhưng về cơbản chưa phải là việc làm của nhà văn học sử

Thiết tưởng đã đến lúc phải đặt vấn đề nghiên cứu bộ phận văn học nàymột cách công phu, thấu đáo, khách quan, công bằng để với những gì là rácrưởi thì quét sạch nó đi nhưng những gì là nhân bản, là văn học đích thựcthì phải sớm thu gom về cho kho tàng văn học dân tộc Chúng ta tin rằngtrong thế giới văn chương ở miền Nam sau 1954 trước 1975, không phải cái

gì cũng thuộc văn hóa thực dân mới Quá trình và cũng là kinh nghiệm đánhgiá văn học công khai hợp pháp thời kỳ trước 1945 hẳn sẽ giúp các nhànghiên cứu nhiều điều bổ ích Đất nước đang thiết tha củng cố khối đoàn kếttoàn dân phất cao ngọn cờ hòa hợp dân tộc Khẩn trương nghiên cứu đánhgiá chính xác công bằng đối với nền văn học miền Nam thời kỳ 1954-I975 sẽgóp phần tích cực thực hiện mục tiêu chính trị xã hội đó Cần ghi thêm mộtsự thật: trên thị trường sách báo gần đây, không ít sách của miền Nam thờikỳ 1954-1975 đã được tái bản và có độc giả Chả nhẽ các nhà văn học sử lạithờ ơ trước sự thật đó sao?

Trang 13

d) Với văn học hải ngoại: cũng có một sự thật là từ giữa thế kỷ XX, đặcbiệt từ sau 1975, vì hoàn cảnh này nọ, có nhiều người Việt phải ra sinh sống

ở nước ngoài và trong số đó, không ít người vẫn không rời bỏ nghiệp vănchương thơ phú Do đó mà có thứ văn học từng được đặt tên là văn học hảingoại Vậy mà chúng ta đã đối xử với nó như thế nào? Xin được nói thật làchưa thoả đáng Hình như đâu đó đã có khuynh hướng cho rằng cái gọi là vănhọc hải ngoại chỉ là thứ quái thai mượn văn chương để chống phá tổ quốc củanhững thế lực phản động sau 1975 trốn ra nước ngoài mà không chịu từ bỏhận thù với cách mạng Quả có thứ quái thai đó mà những người chân chínhkhông ai không công phẫn Mà phải nói ngay rằng cái thứ đó không đáng gọilà văn chương Nhưng vấn đề là trong cái gọi là văn chương hải ngoại, đâu chỉcó thứ quái thai Không chừng phần lớn lại thuộc về những tiếng nói đáng quí,đáng thương, đáng trân trọng, đáng thu gom về cho kho tàng văn học dân tộc.Đó là những trang văn trang thơ cất lên từ nỗi nhớ nước nhớ nhà nhớ quê chađất tổ, nhớ tình xưa nghĩa cũ nơi chôn rau cắt rốn, nơi mô mả tổ tiên ông bàmình còn đó gọi chung là nỗi đau xa xứ, nỗi đau ly hương Và bên cạnh cáichủ đề gần như là chính đó còn có bao nhiều điều thuộc về đời sống tinh thần,tình cảm của những người xa xứ Chúng ta những người được hưởng hạnh phúcsống trên đất nước quê hương nỡ lòng nào quên những người xa nước Mà cáigọi là văn học hải ngoại đâu chỉ là chuyện của đời nay Chỉ nói tới mấy chútvăn phẩm của Lý Tiến, Lý Cầm, Khương Công Phụ từ thời Bắc thuộc một khicác vị đó cũng rời đất nước sang học hành làm quan bên nước Tàu và làm thơmà ngày nay nhiều công trình văn học sử vẫn nhắc đến Rồi cả văn thơ củaPhan Bội Châu cũng như các chí sĩ cách mạng đầu thế kỷ XX viết trên đấtNhật Bản, Trung Hoa, Thái Lan cũng như của Nguyễn Ái Quốc viết trên đấtPháp thực tế cũng là văn học hải ngoại mà chúng ta đã đón nhận nồng nhiệtthì không lý do gì lại để ra ngoài những trường hợp khác Vấn đề là có giá trịhay không thôi Chính sách Việt kiều của nhà nước ta đang được ngày mộtkiện toàn Đặc biệt chỉ thị của Bộ chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam gầnđây về công tác Việt kiều đã thể hiện một tinh thần rất cởi mở hẳn sẽ tạothuận lợi cho việc nghiên cứu văn học hải ngoại Nếu làm tốt được việc nàysẽ có nhiều điều lợi trong đó có sự làm giàu thêm kho tàng văn học Việt Nam

*

* *Dân tộc Việt Nam có một kho tàng văn học nghệ thuật lâu đời bao gồm âmnhạc, hội họa, kiến trúc, điêu khắc và văn học Nhưng phải nói rằng trước thờiđại cách mạng, văn học vẫn là hình thức nghệ thuật có thành tựu nổi trội hơnhẳn so với các ngành nghệ thuật khác Điều này hoàn toàn có thể giải thíchđược Nhiệm vụ của chúng ta là phải làm sao để tái hiện làm sống lại đầy đủkho báu văn học đó Vấn đề cấu trúc - tổng thể được nêu lên như trên chính làgóp phần tạo thêm cơ sở cho việc nhận thức đầy đủ hơn về kho báu đó

Trang 14

XÃ HỘI THỜI LÊ TRỊNH XVII - XVIII

Đinh Khắc Thuân*

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Nói đến chúa Trịnh là nói đến thời kỳ nhà Trịnh lập ra phủ chúa bên cạnhtriều đình nhà Lê để cai quản đất nước Thời kỳ đó được gọi là thời Lê Trịnh thếkỷ XVII-XVIII, đặc biệt là dưới thời chúa Trịnh Căn (1682-1709) và Trịnh Cương(1709-1729), thời kỳ hưng trị nhất của nhà Trịnh Thời gian này tương đương niênhiệu Chính Hòa (1680-1705) của vua Lê Hy Tông, niên hiệu Vĩnh Thịnh (1705-1719) và Bảo Thái (1720-1729) của vua Lê Dụ Tông

Lịch sử Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII là thời kỳ pháttriển rực rỡ nhất về nghệ thuật và văn học dân gian, trong đó có sự đóng góp đángkể của những sáng tác văn học bằng chữ Nôm Chính Trịnh Căn và Trịnh Cươnglà những vị chúa tài hoa thích thơ phú, từng sáng tác rất nhiều thơ Nôm Tuy nhiên,những sáng tác của các chúa Trịnh hầu như chưa được giới thiệu, nghiên cứu; nếucó thì thường được gán cho vua Lê, bởi phần lớn lạc khoản của các bài thơ đó đềumang niên hiệu nhà Lê Mặt khác, nội dung những tác phẩm Nôm này phản ánhnhiều mặt về xã hội thời Lê Trịnh cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, mà cụ thể lànhững nét đặc sắc về cuộc sống thăng bình, thịnh trị của đất nước; qua đó chothấy vai trò của chúa Trịnh trong việc phát triển văn hóa dân tộc

II NGUỒN TƯ LIỆU

Nguồn tư liệu về các tác phẩm thơ Nôm chúa Trịnh, mà trước hết là của TrịnhCăn và Trịnh Cương, hiện nằm trong một số sách gia phả họ Trịnh và các đạitộc khác, ở sưu tập sách Hán Nôm và đặc biệt là được lưu lại trên bia đá, biểngỗ ở các danh tích Chúng tôi giới thiệu một số sáng tác chữ Nôm của Trịnh Cănvà Trịnh Cương hiện thấy khắc trên biển gỗ và được chép chung trong một sốsách Hán Nôm khác

1 Thơ Nôm chúa Trịnh được khắc trên biển gỗ

Hiện biết 2 bài thơ Nôm của Trịnh Căn khắc trên biển gỗ (một bài khắc trênbiển gỗ treo tại nhà Thái học Văn miếu Hà Nội đề năm Ất Hợi quý đông, mộtbài khắc trên biển gỗ chùa Đậu, tức chùa Pháp Vũ, xã Gia Phúc, huyện ThườngTín, tỉnh Hà Tây có ghi niên đại là Chính Hòa Mậu Dần 1698); và 2 bài của

* Tiến sĩ, Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam.

Trang 15

Trịnh Cương (một bài cũng khắc trên chùa Pháp Vũ, xã Gia Phúc, huyện ThườngTín, tỉnh Hà Tây có niên đại là Vĩnh Thịnh 14: 1718(1), một bài khác khắc trênbiển gỗ chùa Nhạc Lâm, xã Tiên Lữ, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây có niên đạilà Vĩnh Thịnh 13: 1717)(2).

Các bài thơ trên không ghi tên tác giả, mà chỉ ghi niên đại Các niên đại nàyđều thuộc vào đời vua Lê Hy Tông (1676-1680) và Lê Dụ Tông (1705-1729) cùngthời với chúa Trịnh Căn và Trịnh Cương Bài thơ ở chùa Đậu đề năm Vĩnh Thịnh

14 (1718) được ghi rõ là thơ Ngự đề Chữ Ngự đề thời Lê Trịnh không chỉ dùngriêng cho vua Lê mà cả cho chúa Trịnh nữa Thực tế không thấy tài liệu thư tịchghi chép về việc vua Lê Hy Tông và Lê Dụ Tông làm thơ Nôm, trong khi đó lạicó không ít tư liệu thư tịch cho biết chúa Trịnh Căn và Trịnh Cương đã làm khánhiều thơ Nôm và từng được người đời khâm phục, ngợi khen Hơn nữa, bài thơđề năm Vĩnh Thịnh 14 (1718) không thể là thơ của vua Lê Dụ Tông được bởinăm này nhà Lê làm lễ đại tường (lễ giỗ hết) cho vua cha là Lê Hy Tông, nênkhó có chuyện nhà vua đi du ngoạn đề thơ

Tài liệu thư tịch cho biết Trịnh Cương không chỉ thường làm thơ Nôm đề tặng

ở các danh tích, mà còn để thù tạc, như 2 bài thơ Nôm thù tạc khác cũng đề tặng

năm 1718 được chép trong Lịch triều tạp kỷ: một bài tặng sứ thần là Bồi tụng

Nguyễn Công Hãng (1680-1730) và Phụng Thiên phủ doãn Nguyễn Bá Tông (?) đisứ nhà Thanh về, một bài khác tặng Đặng Đình Tướng (1649-1736) khi viên quanhọ Đặng này xin trí sĩ(3) Do vậy, hai bài thơ Nôm đề ở chùa Đậu và chùa NhạcLâm nêu trên hoàn toàn là của Trịnh Cương, chứ không phải của vua Lê Dụ Tông

Bài thơ đề ở Văn miếu cũng thấy chép trong tập thơ Nôm chúa Trịnh Khâm định thăng bình bách vịnh tập Tài liệu thư tịch cho biết “tháng 10 mùa đông năm

Giáp Tuất (1694) Trịnh Căn đến nhà Thái học, làm lễ bái yết Tiên Thánh, chínhnhà Chúa làm bài thơ ca tụng đạo đức của Thánh nhân, khắc vào bia dựng ở nhàThái học”(4) Bài thơ Nôm ở nhà Thái học hiện nay có lời tựa viết bằng chữ Háncũng có ý như vậy Do đó, bài thơ khắc trên biển gỗ ở nhà Thái học hiện nay làcủa Trịnh Căn và được khắc lại về sau, bởi trước đó vốn được khắc trên bia đá Chonên, năm Ất Hợi được ghi ở đây có thể là được khắc lại vào năm sau - năm 1695,hoặc là năm Ất Hợi khác sau này, cũng có thể là do khắc lầm từ “mùa đông nămGiáp Tuất” (1694), thành “mùa đông năm Ất Hợi”, trong lần khắc lại lên gỗ về sau Bài thơ khác khắc trên biển gỗ chùa Đậu năm Chính Hoà Mậu Dần (1698)

cũng thấy chép trong sách Khâm định thăng bình bách vịnh tập, tập thơ quốc

âm của chúa Trịnh Do vậy, đây chính là bài thơ của Trịnh Căn làm khi đếnthăm ngôi chùa này, ngôi chùa được suy tôn là danh lam bậc nhất trong nước(hiện còn 2 tượng nhà sư ướp xác)

2 Thơ Nôm chúa Trịnh được chép trong các sưu tập thơ Nôm khác, tiêu biểu

là trong Khâm định thăng bình bách vịnh tập và Lê triều ngự chế quốc âm thi Sách Khâm định thăng bình bách vịnh tập hiện ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm kí hiệu AB 587, được Thư mục đề yếu giới thiệu là tập thơ gồm 90 bài

của Trịnh Tùng đề vịnh về đền chùa, danh lam thắng cảnh, thiên văn, địa lí, thờitiết ”(5) Sở dĩ Thư mục đề yếu giới thiệu tập sách này là của Trịnh Tùng (1570-

Trang 16

1622) bởi lẽ ở cuối sách có dòng chữ “Lê triều Đại nguyên súy tổng quốc chínhThái sư Thượng phụ Bình An Vương ngự đề”, nghĩa là vị “Đại nguyên súy tổngquốc chính Thái sư Thượng phụ Bình An Vương triều Lê đề thơ” Tuy nhiên, cũng

ở dòng chữ Hán trong sách này, bên cạnh chữ An (Bình An vương) được sửa thànhchữ Định tức Định vương Trịnh Căn Do vậy, rất có thể đã có một số bài thơ Nômcủa Trịnh Tùng, nhưng không thể tất cả là sưu tập thơ Nôm của Trịnh Tùng được.Một thực tế nữa là 2 bài thơ khắc gỗ nêu trên của Trịnh Căn cũng được chép trong

sách Khâm định thăng bình bách vịnh tập này Rõ ràng là nếu tập sách này không

phải hoàn toàn của Trịnh Căn thì cũng có khá nhiều bài của Trịnh Căn

Còn sách Lê triều ngự chế quốc âm thi, kí hiệu A.8, Thư mục đề yếu ghi: “1

bản viết, 72 tr., gồm 40 bài ca Nôm và 46 bài thơ Nôm của vua Lê vịnh phongcảnh và danh thắng trong lúc đi tuần du các địa phương: Cảnh Bồ Đề, chùa ThápNhạn, Bến Lai Triều, chùa Thiên Phúc, núi Dục Thuý ”(6) Sách này được saochép về sau và đầu đề sách do người sưu tập đặt ra, nhưng lại là hợp các thơ,

khúc của Trịnh Cương với tiêu đề là Tuần tỉnh ký trình khúc.

III NỘI DUNG VĂN BẢN

Chúng tôi giới thiệu ở đây 2 sưu tập thơ Nôm của Trịnh Căn và TrịnhCương với sự nghiên cứu bước đầu về văn bản học, cũng như nội dung vănbản của chúng

1 Về thơ Nôm của Trịnh Căn

Trịnh Căn có 2 bài thơ Nôm khắc trên biển gỗ và cũng được chép trong Khâm định thăng bình bách vịnh tập Đối chiếu văn bản hai bài thơ này giữa bản khắc

gỗ và bản chép trong sách, thấy không có nhiều khác biệt Tuy chỉ có chút ít khácbiệt, song lại hết sức quan trọng Đó là sự khác biệt về tự dạng một số chữ Nôm.Chẳng hạn trong bài thơ ở nhà Thái học, chữ “gấp” trong bản khắc gỗ dùngchữ “cấp”, còn trong sách thì cũng dùng chữ “cấp”, song bên cạnh có thêm dấu

“cá” để phân biệt âm; chữ “mẽ” trong bản khắc mượn âm chữ “mỹ”, còn trongsách thì thêm dấu “cá” bên cạnh chữ “mỹ” Trong bài thơ chùa Pháp Vũ, chữ

“vẹn” trong bản khắc mượn chữ “viện”, còn trong sách thì cũng dùng chữ “viện”,nhưng có thêm dấu “cá”; chữ “lanh’ trong bản khắc là chữ “linh” còn trong sáchcũng thêm dấu “cá” Có nghĩa là văn bản trong sách được chép muộn hơn màcụ thể là vào thời Nguyễn, nên hầu hết những chữ đọc chệch âm, đều có thêmdấu “cá” để phân biệt âm đọc, trái lại văn bản khắc gỗ là văn bản đích thực thờiLê thế kỉ XVII, chưa có đầy đủ bộ phận chỉ âm và chỉ nghĩa

âm Nôm mã chữ trên biển gỗ mã chữ trong sách

Trang 17

Sách Khâm định thăng bình bách vịnh tập, gồm cả thảy 89 bài thơ chữ Nôm

(và 1 bài thơ chữ Hán), trong đó tuyệt đại đa số bài thơ này có thêm lời tựa.Phần lớn trong số bài thơ trên có liên quan đến sinh hoạt của các bậc đế vươngvà nơi cung cấm như những bài vịnh cung miếu, văn miếu, vịnh cảnh thái bình,lầu vua, kiệu hoa, kiệu rồng, xe loan, võng đào, tán che, cờ, ngựa, voi, thuyền,súng, nỏ, cung, kiếm, quản giáp, đào nương, ô để, đàn tranh, Số khác vịnh trờiđất, bốn mùa, 12 tháng trong năm cùng cây cảnh biểu trưng mà bậc quân tửthường dùng như tùng, trúc, mai Một số lớn khác là thơ đề vịnh các danh tíchtrong dân gian như chùa Khán Sơn, chùa Phật Tích, núi Yên Tử, chùa Pháp Vũ,chùa Phổ Lại, chùa Thanh Mai, quán Chân (Trấn) Vũ

Thơ Trịnh Căn đậm triết lí phương Đông, ca tụng Thiên - Địa - Nhân đất-người) đề cao công đức thánh hiền, vịnh cảnh trí thiên nhiên; ngợi ca cuộcsống thái bình, khen nghệ sĩ đàn hát, tụng ca công trình kiến trúc, bình phẩmbút nghiên, cung, kiếm, cờ quạt, voi, ngựa toát lên khẩu khí bậc vương giả Bàithơ “Thiên” (trời) có thể xem như một ví dụ tiêu biểu:

(trời-Nghiệm trước hồn nhiên nẻo triệu thành Nhưng nhưng gồm được khí khinh thanh Ngàn trùng xa thẳm hằng chư phú Tám tiết xoay vần vốn kiện hành Đức cả gội nhuần nhuần vạn vật

Ơn nhiều dường khắp khắp quần sinh.

Bài thơ viết về trời, cũng là về đế vương, về thời thịnh trị với quan niệm trờiche chở cho vạn vật được sinh trưởng phát triển, muôn loài được nuôi dưỡng,trưởng thành, vạn dân được nhuần ban ân huệ mà từ đó phát sinh tình cảm, tháiđộ tôn trọng cung kính Những ý thơ như ở bài này, nhất là ở 2 câu cuối, gặpnhiều trong thơ Nôm của Trịnh Căn, tuy cũng là khuôn sáo, song chỉ trong khungcảnh đất nước hưng thịnh thái bình mới có được những ý thơ như vậy Đó chínhlà tư tưởng chủ đạo trong tập thơ Thăng bình bách vịnh này

2 Về tác phẩm Nôm của Trịnh Cương

Ngoài 2 bài thơ đề tặng cùng trong năm 1718 như đã nêu ở trên, các sáng

tác của Trịnh Cương được tập hợp trong sách Lê triều ngự chế quốc âm thi Ngay

sau tên sách có dòng “Tiên triều ngự chế quốc âm khúc ký thi quyển”, tức là

“Sách về khúc, kí, thơ quốc âm của vua triều trước” Rõ ràng đây là văn bản đượcsưu tập vào thời Nguyễn, mà cụ thể là vào niên hiệu Tự Đức vì trong sách cóchữ Hoa (trang 21) được viết theo lối kiêng huý mẹ vua Thiệu Trị được ban bốvào năm Tự Đức 14 (1861)(7) Vì lẽ đó mà người sưu tập mới ghi là vua triềutrước, lại có chữ “ngự đề” nên người sưu tập ghi là của vua Lê (Lê triều) Đó làđiều nhầm lẫn dễ hiểu, bởi dưới con mắt của các nhà Nho triều Nguyễn, thì chỉcó duy nhất triều đình nhà Lê, còn nhà Trịnh là bề tôi lộng quyền đáng bị lênán Song lẽ thực tế đây lại là một sưu tập về tác phẩm Nôm của Trịnh Cương.Trịnh Cương có rất nhiều tác phẩm được sáng tác bằng chữ Nôm, song hầu như

Trang 18

không được sưu tập đầy đủ Và như vậy tập Lê triều ngự chế quốc âm thi này là

một sưu tập quý về tác phẩm Nôm của Trịnh Cương còn lại

Tiếp theo tên sách là tên tác phẩm được ghi là “Tuần tỉnh ký trình khúc, GiápNgọ niên thất nguyệt nhật” tức là “Khúc ca ghi việc đi tuần tỉnh, được làm tháng

7 năm Giáp Ngọ” Tuần tỉnh là việc của đế vương đi thăm thú thiên hạ để banbố quyết sách Do vậy năm Giáp Ngọ có thể là năm 1714, năm mà Trịnh Cương

vừa được phong làm Đại nguyên súy tổng đốc chính Thượng sư An vương(8) Cóchức vị này, Trịnh Cương trở thành người thực quyền điều hành bộ máy của triềuđình Lê - Trịnh, nên mới có thể ghi lại việc đi tuần tỉnh của mình được Chínhkhổ thứ hai trong khúc tuần tỉnh này cũng đã cho biết khá rõ điều này:

“Tuân Tiên vương giữ lề tuần tỉnh

Mặc tiện đường phát chính thi nhân

Dung bình vừa tiết thượng tuần

Hoàng long muôn đội mới nhân tiến trình”.

Có nghĩa là “Noi theo bậc Tiên đế mà giữ lấy lệ đi tuần tỉnh, để mở đườngban hành chính sách nhân đức Nhân tiết thượng tuần mùa thu được ban áo rồng(chỉ phong vương) nên khởi hành tuần tỉnh”

Chúng ta biết rằng, “khúc” là một thể loại thơ ca dân gian làm theo thể Songthất lục bát, tức là hai câu 7 và câu 6, 8 Tác phẩm song thất lục bát sớm nhất

ở Việt Nam thường được cho là tác phẩm Nghĩ hộ tám giáp giải thưởng hát ả đào

(khoảng cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI) được soạn để hát cửa đình làng ĐôngNgạc (Từ Liêm, Hà Nội)(9), tiếp đó là Tứ thời khúc của Hoàng Sĩ Khải (khoảng

cuối thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVII) Sang thế kỉ XVII, nhất là từ nửa cuối thế kỉXVII trở đi, và đầu thế kỉ XVIII, thể loại Song thất lục bát phát triển rực rỡ với

hàng loạt tác phẩm nổi danh như Thiên Nam minh giám, Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc, Tuy vậy, tác phẩm Tuần tỉnh khúc của Trịnh Cương làm

vào đầu thế kỉ XVII có thể xem như một trong số ít tác phẩm thể loại Song thấtlục bát hiện còn ở Việt Nam và là cầu nối giữa những tác phẩm ít ỏi ở giai đoạnkhởi đầu của thể loại thơ ca này (thế kỉ XV-XVI) với giai đoạn nở rộ ở giai đoạnsau XVIII

Tuần tỉnh khúc của Trịnh Cương bao gồm 37 khổ thơ, mỗi khổ thơ có 2 câu

thất, 1 câu lục và 1 câu bát Cấu trúc âm luật theo quy cách sau:

Trang 19

Những ô không ghi là tiếng tự do, chỗ ghi bắt buộc và mũi tên chỉ phải hiệpvận(10) Ví dụ 4 khổ đầu bài khúc như sau:

IVận trùng quang đương dương đỉnh thịnh

Phủ trị lành quốc chính dân an

Vạn cơ trong thuở dư nhàn

Muốn cho phương thổ giang san chu tường

II

Tuân Tiên vương giữ lề tuần tỉnh

Mặc tiện đường phát chính thi nhân

Dung bình vừa tiết thượng tuần Hoàng long muôn đội mới nhân tiến trình

Xen giữa các khổ thơ này là 15 bài thơ bát cú cũng bằng chữ Nôm đều làthơ đề vịnh phong cảnh và thù tạc, như vịnh thắng cảnh chùa Bồ Đề, thơ đềchùa Nhạn Tháp, chùa Tiên Tích, chùa Phúc Long, chùa Phả Lại, chùa HưngLong, thơ đề vạn Lai Triều, thơ vịnh Lã Côi, vịnh Như Kinh, Đáp hoài vọng thi,

Nội dung của Tuần tỉnh khúc này như một nhật ký ghi lại việc tuần du

thăm thú đất nước, vãn cảnh thiên nhiên, danh thắng Qua đó như vẽ lên bứctranh sinh động về đất nước trong buổi thanh bình, hưng thịnh “Vui thay nhânquảng ân thi, Nhu hoài vốn những vỗ về gần xa” (khổ 27), nghĩa là: “Vui thaynhiều người được ban ân huệ, nhờ chính sách mềm dẻo mà vỗ về khắp chúngdân xa gần”

* Cũng như Trịnh Căn, Trịnh Cương thường đi tuần du, thăm thú cảnh vậtthiên nhiên, vãn cảnh chùa, mến mộ đạo Phật Chính các thành viên tronggia đình chúa Trịnh đã bỏ nhiều tiền của, công sức tu sửa, xây dựng chùaPhật Hiện có khá nhiều tư liệu văn bia ghi lại các hoạt động này của gia đìnhhọ Trịnh Thực tế đã có khá nhiều chùa, quán thế kỉ XVII, XVIII được xâydựng và tu bổ với sự đóng góp to lớn của các vị trong phủ Chúa, như gia đìnhchúa Trịnh, các quận chúa, cung tần , như chùa Bút Tháp (Bắc Ninh) doQuận chúa Trịnh Thị Ngọc Trúc xây dựng vào thế kỉ XVII, chùa Tây Phương

do Trịnh Tráng tu sửa năm 1660, đền Quán Thánh do chúa Trịnh Tạc dựngvà đúc pho tượng đồng lớn năm 1677,

* Tiếp theo Trịnh Căn, Trịnh Cương là người có khiếu làm thơ chữ Nôm, nhấtlà Trịnh Cương từng chủ trương cho thi bằng chữ Nôm Ngay tờ dụ của triềuđình ban hành năm 1720 cũng được chúa Trịnh Cương dịch ra quốc âm rồi chogọi quần thần vào răn dạy Mặt khác, hai vị hay làm thơ thù tạc, vì thế mà tạo

ra đội ngũ sáng tác thơ Nôm ngày một đông đảo, mở ra thế kỷ phát triển rựcrỡ nhất sáng tác văn học bằng chữ Nôm- thế kỉ XVIII Trong các sáng tác bằngchữ Nôm ở thời chúa Trịnh có một mốc hết sức quan trọng là xuất hiện lần đầu

Trang 20

tiên một cuốn từ điển song ngữ Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, được in lại vào

năm Cảnh Hưng 22 (1761) Hàng loạt truyện Nôm khuyết danh ra đời ở thời kỳnày, trong đó có tập diễn Nôm sự tích Nguyên phi Ỷ Lan theo thể lục bát cótới 606 câu, tương truyền là tác phẩm của bà Trương Thị Ngọc Trong, phi của

An vương Trịnh Cương Đây là sự đóng góp vào quá trình hoàn thiện thể truyệnthơ lục bát mà đỉnh cao là Truyện Kiều của Nguyễn Du ở cuối thể kỉ XVIII -đầu thế kỷ XIX

Tóm lại, Trịnh Căn và Trịnh Cương là hai vị chúa có vai trò hết sức to lớngóp phần hưng thịnh đất nước trong nhiều lĩnh vực, nhất là văn hóa Đây cũnglà thời kỳ phát triển rực rỡ nhất nghệ thuật điêu khắc dân gian, với hàng loạtngôi đình, chùa làng được dựng lên đồ sộ, lộng lẫy như những lâu đài kiếntrúc dân gian đặc sắc nhất của làng quê người Việt Đây cũng là thời kỳ pháttriển của văn học dân gian, nhất là văn học chữ Nôm Chính hai vị chúa nàyđã đặt móng xây nền cho sự nở rộ tác phẩm Nôm vào giai đoạn nửa cuối thếkỷ XVIII Tuy nhiên, sự sưu tập và nghiên cứu về sáng tác thơ văn bằng chữNôm của hai ông hiện còn nhiều hạn chế Bài viết này xem như sự đặt vấnđề cho việc nghiên cứu và đánh giá lại vị thế của hai vị chúa này trong vănhọc chữ Nôm thời Lê - Trịnh

3 Lịch triều tạp kỷ, (bản dịch), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr 245, 268.

4 Lịch triều tạp kỷ, Sđd tr 130.

5 Trần Nghĩa-Francois Gros, Di sản Hán Nôm thư mục đề yếu, t 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993,

tr.23.

6 Di sản Hán Nôm , Sđd, tr 156.

7 Ngô Đức Thọ, Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1997, tr 156.

8 Lịch triều tạp kỉ, Sđd, tr 192.

9 Nguyễn Xuân Diện, Góp phần tìm hiểu lịch sử ca trù, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr.133.

10 Lã Minh Hằng, “Trịnh Cương với khúc ca ghi việc đi tuần tỉnh”, Tạp chí Hán Nôm, 2/2003, tr 25-32.

Trang 21

MỘT NỀN QUỐC VĂN MỚI Ở VIỆT NAM

VÀO NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

Phong Lê*

Chuyển sang thế kỷ XX, chữ Quốc ngữ trở thành đối tượng quan tâm hàngđầu cho các cuộc vận động canh tân - yêu nước, và được vận dụng trên cáchoạt động báo chí, xuất bản liên tục ngay từ thập niên đầu thế kỷ

Cố nhiên, việc sáng tác văn thơ bằng chữ Quốc ngữ - để thay cho chữ Hánvà chữ Nôm - còn phải trải ngót 20 năm trong các thử nghiệm cả về hai phía:người viết và người đọc Hàng nghìn năm nền văn hóa cổ truyền đã tạo nên mộtmô hình ổn định cho sáng tác và tiếp nhận, trong đó cả chữ Hán và chữ Nômđều đã có đời sống riêng gần như không mấy thay đổi Thế mà không đầy haithập niên đầu thế kỷ XX, trong những thức nhận mới của đất nước, nền vănchương - học thuật của dân tộc bỗng chuyển sang một mô hình khác - mô hìnhQuốc ngữ, với sức chuyên chở và phổ cập được trao cho phong trào báo chí,xuất bản, bỗng lần đầu tiên xuất hiện và sớm trở nên sôi nổi như chưa bao giờcó trong ngót nghìn năm nền văn chương học thuật cổ truyền

Lớp người đảm lĩnh trách nhiệm đón nhận và chuyển tải, phổ biến nàyvẫn là một thế hệ các nhà Nho, tiếp ngay sau thế hệ các chí sĩ yêu nước trongphong trào Cần Vương, đứng đầu là hai cụ Phan - Phan Bội Châu (1867-1940)và Phan Chu Trinh (1872-1926), và những người sáng lập Đông Kinh NghĩaThục Một thế hệ chủ yếu vẫn thuộc lớp người được đào tạo trong nền Hánhọc, nhưng đã sớm giác ngộ sự cần thiết phải có cái vốn Tây học, để tiếpxúc với văn minh Phương Tây; mong qua sự tiếp xúc ấy mà tìm ra lời giải vàcách thức giải quyết các vấn đề bức xúc của dân tộc, về mặt văn hoá, tinhthần Họ là lớp người chưa kịp tham gia hoặc tránh được sự đàn áp của chínhquyền thực dân vào những năm Mậu Thân, năm Kỷ Dậu (1908-1909), rồi cóhoàn cảnh tiếp nhận cái vốn học thuật Phương Tây - hoặc qua Tân Thư củaTrung Hoa, hoặc trực tiếp qua nền giáo dục Pháp - Việt Lớp người này đãgóp phần quan trọng tạo nên diện mạo văn chương - học thuật trong một cuộcchuyển giao từ văn hóa cổ truyền sang nền học thuật mới, trong hai thập niênđầu thế kỷ XX

Đây là thời kỳ nền kinh tế thuộc địa và đời sống đô thị dần dần được hìnhthành; nền văn hóa Pháp bước đầu thâm nhập; nền giáo dục Hán - Việt còn

* Giáo sư, Viện Văn học Việt Nam.

Trang 22

song song tồn tại cho đến năm 1919 là năm khoa thi chữ Hán cuối cùng bị bãibỏ Một thời kì giao thoa giữa hai nền học cũ - mới diễn ra vừa êm thấm vừagay gắt, vừa có mặt cưỡng chế vừa có phần tự nguyện.

Trách nhiệm tạo thật sự những chuyển động và đưa lên đường ray hiện đại mộtnền Quốc văn mới, rồi sẽ đặt lên vai một thế hệ người viết xuất hiện vào nhữngnăm 20, với Tản Đà (1889-1939) - người tiền trạm của Phong trào Thơ mới, với

Hoàng Ngọc Phách (1896-1973) - tác giả Tố Tâm, người khai sinh nền tiểu thuyết

mới và trào lưu lãng mạn trong văn xuôi Thế nhưng, công việc chuẩn bị cho sựnghiệp sáng tác nằm trong các hoạt động sưu tầm, biên khảo, dịch thuật thì đãđược chuẩn bị sớm hơn - kể từ Nguyễn Bá Học (1857-1921), Nguyễn Đỗ Mục (1866-

?), Nguyễn Hữu Tiến (1874-1941), Phan Kế Bính (1875-1921), Nguyễn Can Mộng(1875-1953), Hoàng Tăng Bí (1883-1939), Phạm Duy Tốn (1883-1927), NguyễnTrọng Thuật (1883-1940), Hồ Biểu Chánh (1885-1958), Nguyễn Tử Siêu (1887-1965),Trần Trọng Kim (1887-1953), Phan Khôi (1887-1959), Bùi Kỷ (1887-1960), NguyễnVăn Tố (1889-1947), Nguyễn Văn Ngọc (1890-1942), Phạm Quỳnh (1890-1945), LêThước (1891-1975), Ngô Tất Tố (1894-1951), Dương Quảng Hàm (1898-1947) Đây là lớp người có vốn kiến thức sâu về văn hóa Phương Đông, nhưng cũng

không hoàn toàn xa lạ với văn hoá Phương Tây Phan Kế Bính, tác giả Việt Hán văn khảo và Việt Nam phong tục, chuyên giữ mục Hán văn cho Đông Dương tạp chí, nhưng theo Vũ Ngọc Phan, người đọc vẫn cứ nghĩ ông là nhà Tây học kiêm

Hán học

Công việc sưu tầm, biên khảo, dịch thuật ở buổi đầu tiếp xúc văn hóa Đông

- Tây đã được đặt lên vai thế hệ các nhà Nho có ít nhiều vốn Tây học này, bắt

đầu từ trong và sau Thế chiến I, chủ yếu chung quanh hai tờ Đông Dương tạp chí (1913-1917) và Nam Phong tạp chí (1917-1934).

Hoạt động của hai tờ Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí, trong hiệu

quả khách quan của nó, đã góp phần giới thiệu di sản văn hóa cổ, bao gồm vốnvăn hóa dân gian và văn học cổ điển dân tộc; đồng thời qua dịch thuật và giớithiệu cũng góp phần thúc đẩy quá trình tiếp xúc với văn học Phương Tây, giúphướng tới và đẩy nhanh con đường hiện đại hóa văn học dân tộc(1)

Trong thế hệ các nhà Nho - học giả này có nhiều tên tuổi rất đáng kính nể.Nguyễn Văn Tố (1889-1947) - phụ trách Trường Viễn Đông Bác Cổ, người luôn

luôn mặc quốc phục, đầu để búi tó, đối tượng chế riễu của nhóm Phong hóa, là

người am hiểu sâu cả hai nền văn hóa Đông - Tây Theo Hoàng Ngọc Phách,ông là nhà “bác học Việt Nam”, là người còn giỏi Pháp văn hơn cả nhiều thầyTây ở trường Bưởi Bùi Kỷ (1887-1960) đậu Cử nhân, rồi Phó bảng, có mấy năm

du học ở Pháp, theo Đặng Thai Mai, được người đương thời xem là “Hán - Pháptinh thông” “Cụ Bùi hồi này, cùng với Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh là ba nhàtrí thức cỡ lớn ở thủ đô”(2) Ở tư cách nhà giáo - học giả, lớp thầy học của thếhệ Đặng Thai Mai, ngoài Bùi Kỷ, còn phải nhắc đến Võ Liêm Sơn (1888-1949),

tác giả Hài văn và Cô lâu mộng có cả bằng Thành chung Tây học và Cử nhân

Hán học trong hai năm 1911 và 1912; và Lê Thước (1891-1975), người mẫu mựcvề cả hai phương diện: tri thức Đông - Tây và khoa sư phạm

Trang 23

Sau thế hệ những tên tuổi đã kể trên là một lớp trí thức trẻ hơn được đàotạo ở các bậc Trung học và Cao học Pháp - Việt Nền thi cử bằng chữ Hán bịbãi bỏ từ năm 1919, nên vốn Hán học ở lớp người này có mỏng dần đi, mỏng

đi nhưng họ vẫn còn có Có thể nói, họ là lớp Tây học đầu tiên có ít nhiều vốnNho học Hướng hẳn về phía Tây học, họ tìm đến chủ nghĩa cá nhân và conđường giải phóng cá nhân trong Chủ nghĩa Lãng mạn Pháp thế kỷ XIX, gồm cảLamartin và Victor Hugo, cùng các học thuyết triết học của Aristote, Socrate,Platon Kể từ thế hệ này, sự lập thân và tu dưỡng nghề nghiệp của họ vừa dựatrên các kết quả hạn chế ở học đường, vừa là sự ráo riết mở rộng cái vốn đọcvà học văn hóa Phương Tây - qua Pháp ngữ Cũng cần nói thêm, từ đầu nhữngnăm 20, nền giáo dục ở học đường Pháp - Việt là hoàn toàn chuyên dành chongôn ngữ Pháp và văn học Pháp Lớp sinh viên Cao đẳng Sư phạm, bằng conđường vừa học ở trường, vừa tự học, kể từ Hoàng Ngọc Phách, Đặng Trần Phất,Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Đông Hồ, NamXương, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thế Lữ, Nguyễn Mạnh Tường, Thiếu Sơn, HoàiThanh, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Khắc Viện sẽ qua tiếngPháp mà trực tiếp đến với lịch sử văn hóa và văn học Pháp, kể từ thế kỷ XVIIcho đến đầu thế kỷ XX Chữ Quốc ngữ sau hai thập niên vận động đã có thểtạo được một lớp công chúng thành thị cho văn học, lúc này đã có một đời sốngthị trường khá nhộn nhịp ở Hàng Trống, Hàng Gai, Hàng Bông, Tràng Tiền,không kể thị trường Sài Gòn đã có sớm hơn; thứ chữ Quốc ngữ đó giờ đây chỉcòn co lại một vị trí rất ít ỏi trong ba năm đầu Chương trình Tiểu học; còn chữHán chỉ được một giờ trong tuần ở Chương trình Cao đẳng

Giáo dục học đường là như vậy, nhưng đời sống văn hóa tinh thần trong kếtquả của cuộc vận động phổ biến chữ Quốc ngữ và văn học Quốc ngữ nơi sốđông công chúng thành thị thì chắc chắn còn được mở rộng hơn, ngoài ý muốncủa chính quyền thực dân

Cố nhiên, mục tiêu và khả năng trang bị của nền giáo dục Pháp - Việt lànhằm đào tạo những người thừa hành trong bộ máy hành chính của chế độ thuộcđịa Nhưng có sự thực là bên cạnh số ít ỏi những “ông Tây An Nam”, rất nhiềutrí thức đều có tinh thần dân tộc và có ý thức tự học, tự lập rất cao để trở thành

không phải trí thức thuộc địa như chính quyền thực dân mong muốn, mà là trí thức dân tộc với các tên tuổi thuộc các thế hệ như đã kể trên Số lớn trong họ

đều hướng về những nghề tương đối tự do như làm thầy giáo, làm báo, hoạtđộng khoa học, kĩ thuật hoặc nghiên cứu học thuật, viết văn Đó là những nghềkhông nhằm vào sự giàu sang, vinh thân phì gia; càng không chịu thân phậncông chức nô lệ Cái định hướng chọn loại nghề tự do này cũng nói lên phầnnào ý thức dân tộc, lòng tự trọng, niềm mong muốn tự do của người trí thức ViệtNam; và mặt khác cũng chứng minh sự nhạy cảm của các thế hệ trí thức trướcnhu cầu canh tân, đổi mới đất nước Họ đã không thể đi con đường của các vănthân - sĩ phu trước đó hoặc của những người cộng sản đồng thời - là con đườngđầy chông gai và nguy hiểm; không thể hoặc phải tránh những con đường đó,họ phải chọn con đường xây dựng nền văn hóa dân tộc theo xu thế hiện đại,để cho kịp người và bằng người

Trang 24

Vậy là, qua hoạt động khá liên tục của mấy thế hệ học giả, mà hai phươngdiện của văn chương - học thuật là di sản dân gian và cổ điển của dân tộc vàtinh hoa của văn hóa nước ngoài để phổ cập cho công chúng rộng rãi đã đượcsưu tầm, phát hiện, tuyển chọn, phiên âm, phiên dịch, chú giải, giới thiệu, trongsuốt hai thập niên đầu thế kỷ XX, ở tư cách cá nhân, hoặc thông qua các nhóm,chung quanh một tờ báo, một văn đoàn, một ông chủ xuất bản.

Cố nhiên, sự chuẩn bị và những khởi động đầu tiên cho công việc này đãđược tiến hành vào nửa sau thế kỷ XIX ở Nam Kỳ - do là đất thuộc địa nên chữQuốc ngữ có điều kiện và cần được phổ cập sớm hơn Và người có công đầutiên trên lĩnh vực này là Trương Vĩnh Ký (1837-1898) - nhà bác học biết rất nhiềuthứ tiếng, nhưng vẫn dành phần tâm huyết cho việc phiên âm các văn bản văn

chương cổ điển và biên soạn văn học dân gian bằng Quốc ngữ như Kim Vân Kiều của Nguyễn Du (1875), Đại Nam Quốc sử diễn ca (1887), Lục súc tranh công (1889), Phan Trần truyện (1889), Lục Vân Tiên truyện (in lần đầu 1889, lần thứ

tư 1897)

*

* *Một nhận thức tổng quan về lịch sử văn chương - học thuật dân tộc là rấtcần cho việc xây dựng một nền sáng tác đương đại Hiểu tình hình trên đểthấy công việc sưu tầm, phiên âm, phiên dịch di sản cổ nơi nguyên bản HánNôm ra văn bản Quốc ngữ, trong hoạt động âm thầm của mấy thế hệ trí thức,vào những năm mười, rồi hai mươi, để thông qua các phương tiện in ấn màphổ cập cho công chúng rộng rãi những người có chữ và ham học, ham đọclà một bước ngoặt rất quyết định cho kho tàng văn học cổ trở thành món ăntinh thần của nhân dân, và khiến cho văn học cổ tham gia được vào đời sốngvăn học đương đại

Đó là các văn bản Truyện Kiều bằng Quốc ngữ của Trương Vĩnh Ký và Nguyễn Văn Vĩnh trên cơ sở hai bản Phường và Kinh; rồi văn bản Truyện Thúy Kiều của Trần Trọng Kim.

Đó là Chinh phụ ngâm mà vấn đề tác giả là Đoàn Thị Điểm hoặc Phan Huy

Ích đã được đặt ra

Là việc phiên âm, phiên dịch và giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu trong

vốn cổ dân tộc kể từ thời Lý - Trần Trên Đông Dương tạp chí, Phan Kế Bính trích dịch Lê Quý Đôn, dịch Đại Nam nhất thống chí; Nguyễn Đỗ Mục biên tập Chinh phụ ngâm khúc dẫn giải Trên Nam Phong tạp chí, Nguyễn Hữu Tiến dịch Vũ trung tùy bút, Lĩnh Nam dật sử, lược dịch Đại Nam liệt truyện, biên dịch Giai nhân di mặc, biên tập thơ cổ trong Cổ súy nguyên âm rồi Nam âm thi văn khảo biện, soạn Việt văn hợp tuyển giảng nghĩa, và tuồng Đông A song phụng; Nguyễn Trọng Thuật dịch Thượng Kinh kí sự và viết tiểu thuyết Quả dưa đỏ.

Ưu Thiên Bùi Kỷ nghiên cứu các lối văn và thể văn dân tộc trong Quốc văn cụ thể, biên khảo Trê Cóc và Truyện Thúy Kiều của Trần Trọng Kim Sở Cuồng

Trang 25

Lê Dư soạn Nam quốc nữ lưu, Nữ lưu văn học sử, Bạch Vân am thi văn tập, Vị Xuyên thi văn tập, Phổ Chiêu thiền sư thi văn tập.

Một loạt các truyện Nôm được phiên âm ra Quốc ngữ và bày bán rẻ trên các

vỉa hè, đường phố Hàng Đào, Hàng Gai như Phan Trần, Phạm Tải Ngọc Hoa, Phạm Công Cúc Hoa, Nhị độ mai, Thạch Sanh, Hoàng Trừu

Và về kho tàng văn học dân gian, trên hai thể loại tiêu biểu là truyện cổ và

ca dao, với công khai phá đầu tiên của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, là người, chỉtrong khoảng thời gian dưới 10 năm, từ 1927 - 1936, đã biên soạn và cho ấn hành

khoảng 10 bộ sách gồm Đông Tây ngụ ngôn - 2 quyển, Nhi đồng lạc viên, Truyện cổ nước Nam - 2 quyển, Câu đối, Đào nương ca, Cổ học tinh hoa, Tục ngữ phong dao, Để mua vui

Những khai phá ban đầu này rất đáng trân trọng, bởi đó chính là sự hưởngứng và bổ sung cho nhau trong ý thức hoàn thiện diện mạo văn học dân tộc,và trên một nhận thức khoa học về đối tượng - do người tiến hành là các thếhệ tác giả nhận được ít nhiều ảnh hưởng lối tư duy Thái Tây, của văn hóaPhương Tây

Các hoạt động đó, theo tôi nghĩ, không phải ngẫu nhiên Nó nằm trong ý

thức về sự phục hưng văn hóa dân tộc Có thể nói đến một cuộc phục hưng văn

hóa như thế, có phần âm thầm nhưng không ít sôi nổi bên trong; và cố nhiên,khác với mọi cuộc phục hưng có quy mô rộng lớn, và có tầm nhân loại như thờikỳ Phục hưng (Renaissance) của Phương Tây, đây là cuộc phục hưng dưới sựkiểm soát của chính quyền thực dân và trong khuôn khổ chế độ thuộc địa Mộtcuộc phục hưng trên cơ sở của ý thức dân tộc, trên mong muốn gây một niềmtự tôn: Việt Nam có một nền văn hóa riêng, không những lâu đời mà còn mangđặc trưng riêng, qua các tác gia thành văn và qua một nền văn chương bình dân,được xây dựng chính trên tiếng nói dân tộc và một tâm thức rất giàu bản sắcdân tộc Nền văn học đó quả có chịu ảnh hưởng sâu văn hóa Trung Hoa trongmột bộ phận viết bằng chữ Hán; nhưng ở bộ phận chữ Nôm và loại hình vănhóa dân gian lại là nơi bảo lưu rất rõ cốt tính dân tộc

Sau việc sưu tập, phiên âm, phiên dịch, biên soạn là việc phân tích, khảo sát,đánh giá vốn di sản văn chương học thuật dân tộc Câu chuyện này sẽ được đặt

ra vào những năm 20 và 30, chung quanh câu hỏi: Chúng ta đã có một nền Quốc học chưa trong so sánh với văn minh Trung Hoa? giữa những người tham gia là

Ngô Đức Kế, Trịnh Đình Rư, Phan Khôi, Phạm Quỳnh, Lê Dư, Huỳnh ThúcKháng, Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh Đây là vấn đề có tầm học thuật khá rộng,chúng tôi xin được bàn vào một dịp khác

Nhân vấn đề chữ Nôm và chữ Quốc ngữ, mà vấn đề ngôn ngữ dân tộc nóichung cũng được quan tâm Do tiếp xúc với một ngôn ngữ sáng sủa, khoa học

như ngôn ngữ Pháp nên yêu cầu khoa học hóa tiếng Việt, để nhanh chóng nâng cao hiệu quả sử dụng và phổ cập của nó cũng sớm được đặt ra, kể từ Việt văn tinh nghĩa (1928) của Nguyễn Trọng Thuật đến Việt Nam văn phạm (1943) của

Trần Trọng Kim Cố nhiên, ở khu vực này thì giới nghiên cứu ngôn ngữ hôm naycủa chúng ta đã có thể tiến rất xa Nhưng trong những khởi động ban đầu ấy,

Trang 26

điều không thể phủ nhận là một yêu cầu khoa học hóa tiếng Việt cùng một niềm yêu mến đến thiết tha tiếng Việt trải mấy thế hệ - từ Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm

Quỳnh đến Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh, Nguyễn Tuân, Thạch Lam - nóchính là một trong các động lực quan trọng thúc đẩy quá trình hiện đại hóa ngônngữ văn chương và đưa lại những thành tựu rạng rỡ trong văn xuôi và thơ.Điều dễ thấy là có một khoảng thời gian ngót 10 năm, vào những năm 30,hoạt động học thuật dường như có thưa đi mà nhường sự sôi nổi cho phong tràosáng tác và phê bình Những năm văn đàn xuất hiện dồn dập các tác phẩm tiêubiểu trên cả hai thể loại lớn là văn xuôi và thơ Những năm xuất hiện nhiều têntuổi tác gia, tác phẩm trên cả ba trào lưu: lãng mạn, hiện thực và cách mạng, có

ý nghĩa kết tinh và hoàn thiện diện mạo hiện đại của nền văn học dân tộc.Những kết quả gặt hái được trong phong trào sáng tác những năm 30 khôngthể nói là không có nguyên cớ trong sự phát triển của đời sống học thuật 30 nămtrước đó, nó là kết quả mài miệt khổ công của vài ba thế hệ

Khi phong trào sáng tác lên ngôi thì hoạt động học thuật bao gồm sưu tầm, biênkhảo, dịch thuật dường như là chững lại Chỉ có phê bình là cùng tồn tại với sángtác Có lúc phê bình trở nên sôi động chung quanh những cuộc tranh luận về họcthuật như hồi 1935-1939 giữa hai phái nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vịnhân sinh; không ít cuốn sách vừa ra đời đã gây nên sự phân tuyến rất quyết liệt

trong khen - chê như Đoạn tuyệt và Lạnh lùng của Nhất Linh, Kép Tư Bền và Cô giáo Minh của Nguyễn Công Hoan, Làm đĩ của Vũ TRọng Phụng, Và người thực

hiện sứ mệnh phê bình, ở tư cách một tác gia tiêu biểu, cùng song hành, có cùng

uy tín như các tác gia văn thơ, đó là Thiếu Sơn, với tác phẩm khai mạc nền phê

bình văn học hiện đại: Phê bình và Cảo luận (1933) Và Hoài Thanh, với tác phẩm có thể xem là sự tạm kết thúc một thời đại của thi ca: Thi nhân Việt Nam (1943).

*

* *Trở lại 30 năm hoạt động học thuật trên các lĩnh vực sưu tầm, biên khảo,dịch thuật, nghị luận, phê bình toàn bộ các hoạt động đó dường như đều hướngtới một sự quy tụ một điểm nhìn Đó là diện mạo lịch sử văn chương- học thuậtdân tộc cùng vấn đề tiếng Việt - Quốc ngữ trong bối cảnh đất nước đứng trướcnhu cầu canh tân hóa, hiện đại hóa Một nền văn học mới ra đời, dẫu muốn hoặckhông, cũng cần phải tìm điểm tựa của nó trong truyền thống Truyền thống đó,nền văn học cổ điển của dân tộc trên cả hai hệ thống Hán, Nôm và văn hóadân gian đều có thành tựu Truyền thống đó đang chuyển động để hướng tớinhững mục tiêu mới, trong bối cảnh các mối giao lưu đã được mở ra, từ Đông

sang Tây Ba mươi năm kể từ đầu Thế chiến I, khi khai mở Đông Dương tạp chí,

với đóng góp của nhiều thế hệ trong công việc sưu tầm, khảo chứng, biên soạnvăn học dân tộc đã có thể đi tới sự kết tinh trong một loạt tác phẩm ra đời khá

dồn dập vào những năm cuối 30 đầu 40, như Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh, Văn học đời Lý và Văn học đời Trần của Ngô Tất Tố, Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh

Trang 27

và Hoài Chân, Văn học khái luận của Đặng Thai Mai Đấy là những tác phẩm

xây dựng trên sức vóc của một người mà sau nửa thế kỷ nhìn lại vẫn thấy bảolưu được các giá trị học thuật - những giá trị mà nhiều người trong giới nghiêncứu sau năm 1945 từng theo đuổi, nhưng không dễ ai cũng đạt được

Đoạn văn sau đây nằm trong phần cuối sách Việt Nam văn học sử yếu của

Dương Quảng Hàm là một tổng kết có giá trị khái quát về sức sống của dân tộcvà văn hóa dân tộc, và về tương lai của văn hóa, văn chương, học thuật ViệtNam: “ dân tộc ta vốn là một dân tộc có sức sinh tồn rất mạnh, trải mấy thế kỷnội thuộc nước Tàu mà không hề bị đồng hóa, lại biết nhờ cái văn hóa ngườiTàu để tổ chức thành một xã hội có trật tự, gây dựng nên một nền văn học, tuykhông phong phú, rực rỡ, nhưng cũng có chỗ khả quan, có phần đặc sắc, thìchắc rằng sau này dân tộc ta cũng sẽ biết tìm thấy trong nền văn học của nướcPháp những điều sở trường để bổ sung những chỗ thiếu thốn của mình, thứ nhấtlà biết mượn các phương pháp khoa học của Tây phương mà nghiên cứu các vấnđề có liên lạc đến nền văn hóa của nước mình, đến cuộc sinh hoạt của dân mình,thâu thái lấy cái tinh hoa của nền văn minh nước Pháp mà làm cho cái tinh thầndân tộc được mạnh lên để gây lấy một nền văn học vừa hợp với cái hoàn cảnhhiện thời, vừa giữ được cái cốt cách cổ truyền”(3)

*

* *Sau 1000 năm Bắc thuộc và ngót 10 thế kỷ độc lập tự chủ, dưới sức ép vàluôn luôn chịu sự uy hiếp của các triều đại phong kiến Phương Bắc, dân tộc vàvăn hóa dân tộc vẫn giữ được một bản lĩnh riêng, một cốt cách riêng để khẳngđịnh sự tồn tại và phát triển

Sau hơn một nửa thế kỷ bị chủ nghĩa thực dân Phương Tây xâm lược, dântộc và văn hóa dân tộc lại biết cách thu hút và tiếp nhận những giá trị mới nhằmtạo nên một diện mạo mới trong sinh hoạt tinh thần của mình để không lạc hậutrước thời đại

Đó là tình hình mới trong một cuộc chuyển giao thời đại (từ Trung đại sangHiện đại) đã có thể được nhận diện, phân tích và tổng kết chỉ trong ba thậpniên nửa đầu thế kỷ XX, khi dân tộc đứng trước bước ngoặt lịch sử: Cách mạngtháng Tám năm 1945

CHÚ THÍCH

1 Năm 1972, trong hồi kí Nhớ nghĩ chiều hôm, Đào Duy Anh viết: “Tôi tự học văn học Việt Nam và biết viết Quốc văn phải nói thực một phần không ít là nhờ chuyên đọc Tạp chí Nam Phong Trong khi

dạy học ở Đồng Hới, đồng thời với việc học thêm chữ Pháp theo một chương trình nhất định, tôi

không bỏ việc nghiên cứu Quốc văn và Hán văn, vẫn lấy Tạp chí Nam Phong làm công cụ chính”;

Bản in của Nxb Trẻ, 1989, tr.19.

2 Đặng Thai Mai, Hồi ký Nxb Tác phẩm mới, H,1985; tr.297.

3 Bộ Giáo dục - Trung tâm Học liệu xuất bản, Sài Gòn, in lần thứ mười, 1968, tr.461.

Trang 28

VAI TRÒ TIÊN PHONG CỦA FRANCISCO

DE PINA VÀ VỊ TRÍ QUAN TRỌNG

CỦA NGƯỜI VIỆT

Nguyễn Phước Tương*

Để khuếch trương công lao khai hóa Đông Dương của thực dân Pháp, năm

1912, trong hội thảo tổ chức tại Paris, nhà phương Đông học Linh mục Le Nopold

Cadiere đã tuyên bố: “Sự phát minh chữ Quốc ngữ là công lao của người Pháp và là công lao của Giám mục De Rhodes”.

Người Pháp cũng đã dạy cho học sinh ta từ cấp tiểu học rằng “ Các ông cố đạo ở châu Âu sang nước Việt Nam lấy chữ cái vần Latinh mà đặt ra chữ “Quốc ngữ” và nhất là cố Alexandre de Rhodes có công trong việc đặt ra lối chữ ấy lắm Ông viết nhiều sách về nước Nam, nhất là quyển “Lịch sử đất Bắc Việt” và một từ điển tiếng ta dịch ra tiếng La Tinh và Bồ Đào Nha Các sách của ông là những sách in đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ” (1; tr 161).

Gần một thế kỷ, cùng một lúc do thiếu thông tin cũng như thiếu các công

trình Latinh hóa tiếng Việt của các giáo sĩ Phương Tây khác ngoài “Từ điển

An Nam - Bồ Đào Nha - Latinh” và “Phép giảng tám ngày” của A.de Rhodes,

đã làm cho nhiều nhà nghiên cứu nước ta cũng cho rằng sự sáng tạo chữ Quốcngữ là một trong những công trình tập thể của các giáo sĩ Phương Tây màA.de Rhodes là người có công đầu và điều này đã được truyền đạt cho cácthế hệ học sinh ở nước ta trong một thế kỷ qua

I NHỮNG QUAN ĐIỂM ĐỐI LẬP SAU 400 NĂM PHÁT MINH CHỮ QUỐC NGỮ

Tuy nhiên, cũng có một số nhà nghiên cứu ở nước ta lại cho rằng không hẳnA.de Rhodes là nguời đi tiên phong trong sự sáng tạo ra chữ Quốc ngữ và khônghẳn các giáo sĩ Phương Tây có vai trò độc tôn trong phát minh này mà khôngcó sự tham gia và cộng tác của người Việt

Những tác giả cho rằng A.de Rhodes có công đầu gồm có học giả Dương

Quảng Hàm (1950 với cụm từ “người có công nhất”; 2; tr 183); Giáo sư Lê Văn Hảo (1985, với cụm từ “người đầu tiên”; 3; tr.4); học giả Vũ Ngọc Phan (1989, với cụm từ “có công đầu”; 3; ); tác giả Hoàng Tiến (1994, với cụm từ “người đại

* Nhà nghiên cứu, Thành phố Đà Nẵng Việt Nam.

Trang 29

diện và giữ công đầu”; 5; tr 44); Minh Hiền (1994, với cụm từ “những việc mà A.de Rhodes đã đem lại cho xã hội Việt Nam là vô giá”; 6; tr 89)

Người bảo vệ gay gắt nhất cho quan điểm này là Tiến sĩ Thần học Hồng Nhuệ

Nguyễn Khắc Xuyên với ý kiến cho rằng: “Thật là đểu giả Đắc Lộ ở đây được coi như là một kẻ xúi giục ngoại quốc tới xâm lược, chứ không phải là một trong những người trọng yếu nhất đã làm ra chữ Quốc ngữ với ba tác phẩm của ông: cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt”, cuốn “Từ điển Việt- Bồ- La” và cuốn “Phép giảng tám ngày”, cả ba đều ấn hành tại Roma năm 1651” (7; tr 96).

Ngược lại với quan điểm trên, ngay dưới thời Pháp thuộc, đã có những đánhgiá ngược lại cho rằng không hẳn A.de Rhodes có vai trò hàng đầu trong phátminh chữ Quốc ngữ

Ngay từ 1927, học giả Phạm Quỳnh đã viết: “Chữ Quốc ngữ là do các cố Tây sang giảng đạo bên Việt Nam đặt ra vào thế kỷ 17…, chắc cùng nhau nghĩ đặt, châm chước, sửa sang trong lâu năm, chứ không phải một người nào làm ra một mình vậy” (8).

Giáo sư Đào Duy Anh, có lẽ vào trước năm 1945, cũng đã viết: “Thứ chữ này nguyên do các nhà truyền giáo Gia Tô đặt ra…, sau do hai nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha, rồi sau đến cố A.de Rhodes người Pháp tổ chức lại thành một thứ chữ thông dụng trong truyền giáo hội, tức là thủy tổ chữ quốc ngữ ngày nay” (9).

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, các nhà sử học nước ta đã viết một cách

đúng đắn rằng: “Sáng chế ra chữ Quốc ngữ bằng cách La tinh hóa chữ viết của

ta là một quá trình và là một công trình của nhiều giáo sĩ Phương Tây, trong đó tất nhiên phải có sự tham gia và hợp tác của nhiều người Việt Nam” (10, tr 305).

Tác giả Pháp Georges Taboulet, trong cuốn sách viết về công trạng của ngườiPháp đối với Đông Dương, xuất bản năm 1951, cũng đã đánh giá về sự phát

minh chữ Quốc ngữ khác với quan điểm của Leopold Cadiere trước đây: “Việc phiên âm tiếng Việt bằng chữ Latinh, điểm thêm các dấu quy ước, là một công lao tập thể mà sự đóng góp chủ yếu là Linh mục De Pina, Borri, Gaspar do Amaral, Antonio Barbosa, nhưng Linh mục De Rhodes thì có công hệ thống hóa, chỉnh lý và phổ biến văn tự này” (11; tr 12-13).

Năm 1965, Linh mục Phan Phát Huồn cũng đã viết: “Cha Đắc Lộ không phải là người đầu tiên sáng chế ra Việt ngữ, nhưng đây là người có công nhất trong việc tu sửa thứ chữ này trong thời kỳ phôi thai” (12).

Giáo sư Hoàng Cơ Thụy ở Pháp, khi nghiên cứu vấn đề này năm 1989

cũng đã viết: “Nói tóm lại, Linh mục Đắc Lộ không phải là người đầu tiên sáng tạo ra chữ Quốc ngữ Ông chỉ có công phổ biến rộng rãi chữ Quốc ngữ với sự giúp đỡ vật chất rất đầy đủ của Bộ Truyền giáo tại La Mã năm 1651” (13).

Nhà sử học Mỹ Joseph Buttinger cũng đánh giá vấn đề này một cách tương

tự: “Chữ Quốc ngữ không phải do Alexandre de Rhodes sáng chế ra như nhiều tác giả đã nói đến, trong khi đó có hai giáo sĩ Gaspar do Amaral và Antonio

Trang 30

Barbosa là hai tác giả đầu tiên của cuốn Từ điển Bồ – Việt Alexandre de Rhodes đã hoàn tất hệ thống bản sao Việc đó không phải dễ làm ” (14).

Vào ngày 31-1-1993, Giáo sư Hoàng Tuệ, lúc đó là Viện trưởng Viện Ngôn ngữ

học Việt Nam đã viết trên báo Tuổi Trẻ Chủ nhật: “Gần đây, Alexandre de Rhodes được nhắc đến khá nhiều trên báo với lời lẽ nồng nhiệt ca ngợi công lao của ông trong sự sáng chế chữ Quốc ngữ Nhưng sự thật ai làm ra chữ Quốc ngữ vẫn còn là câu hỏi Có giả thuyết cho rằng chữ Quốc ngữ là công trình không phải của duy nhất ai, đặc biệt của riêng De Rhodes, mà là của nhiều người Giả thuyết này không vu vơ, mà nó có căn cứ Còn có câu hỏi: người bản xứ có ai trực tiếp tham gia vào sự sáng chế chữ Quốc ngữ không? Cũng có những lời khẳng định rằng làm ra chữ Quốc ngữ là tín đồ bản xứ, có khi đưa ra cả họ tên ” (15; tr 14).

Bài báo trên đã gây một phản ứng bút chiến từ phía Tiến sĩ Thần học Linhmục Nguyễn Khắc Xuyên với những lời lẽ gay gắt, khiếm nhã ở những bài viết:

“Gửi Giáo sư Hoàng Tuệ bàn về chữ Quốc ngữ trên tờ Tuổi trẻ” (7) và bài viết

“Trả lời Giáo sư Hoàng Tuệ về chữ Quốc ngữ, nhân kỷ niệm 400 năm sinh nhật Đắc Lộ” (16) đăng ở nước ngoài mà trong đó không nêu lên được chứng cứ khoa

học vững chắc để bảo vệ cho quan điểm của mình, như một đoạn mà chúng tôiđã nêu trên

Những bài viết của Tiến sĩ Thần học Linh mục Nguyễn Khắc Xuyên đã bị

những tác giả Việt kiều ở Mỹ phê phán Tác giả Nguyễn Kha đã nhận xét: “Tiến

sĩ này có những lời lẽ thiếu văn hóa lúc viết một vấn đề văn hóa Tiến sĩ Nguyễn Khắc Xuyên có vẻ chỉ muốn “đối đầu” một cách phỉ báng, chứ không muốn “đối thoại” một cách nghiêm túc” (17; tr 32-33).

Tác giả Bùi Phước đã thẳng thắn lên án: “ Nguyễn Khắc Xuyên lớn tiếng mạt sát Giáo sư Hoàng Tuệ là “ngu ngốc”, “ngu dốt”, “ngu xuẩn”, “dốt” đến 15 lần trong bài viết “Gửi Giáo sư Hoàng Tuệ bàn chữ Quốc ngữ trên tờ Tuổi trẻ”

Căn cứ vào tư liệu của Lịch sử truyền giáo ở nước ta và những tư liệu về

phát minh chữ Quốc ngữ gần đây của Roland Jacques “Loeuvre de quelques nniers portugais dans le domaine de la linguistique vietnamienne jusqu’en 1650” (1995) và “Portuguese pionneers of vietnamese linguistics – Pionniers portugais

pio-de la linguistique vietnamienne” (2002), trong khoảng 30 giáo sĩ Dòng Tên thay

nhau đến truyền đạo ở Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài của Đại Việt vào đầu thếkỷ XVII chỉ có 7- 8 người biết tiếng Việt ở trình độ khác nhau, trong đó chính

Trang 31

A.de Rhodes là người bị đồng nghiệp dị nghị về sự hiểu biết tiếng Việt (20; tr.

38 và 19; tr 39)

Có thể xếp các giáo sĩ Phương Tây theo thứ tự tinh thông tiếng Việt như sau:

Francisco de Pina (1585-1625), người Bồ, thầy dạy A.de Rhodes và Antonio Fontes tiếng Việt, biên soạn sách “Từ vựng và các thanh tiếng An Nam” và “Ngữ pháp tiếng An Nam” trước khi A.de Rhodes đến Đàng Trong; Gaspar do Amaral (1594-1645), người Bồ, biên soạn “Từ điển Việt – Bồ” khoảng 1631-1645; Antonio Barbosa (1594-1647), người Bồ, biên soạn “Từ điển Bồ- Việt ” từ 1636-1645; Girolarmo Maiorica (1591-1656), người Ý, có nhiều công trình phiên âm giáo lý bằng chữ Nôm; Cristoforo Borri (1583-1632), người Ý, có công trình nghiên cứu phôi thai về ngữ pháp tiếng Việt, Onofre Borges (1614-1663), người Thụy Sĩ gốc Đức, biên soạn “Nhập môn tiếng Đàng Ngoài” từ 1645-1658 và A lexandre de Rhodes (1593-1660) (21; tr 10 và 28).

Trong tác phẩm của mình nêu ở trên, Roland Jacques đã nêu lên một sự kiệnđáng chú ý liên quan đến trình độ hiểu biết tiếng Việt của A.de Rhodes Tronghồ sơ lưu trữ ở Roma có một bức thư viết tay bằng tiếng Ý của Giáo sĩ GiovanniFilippo Marini viết tại Đàng Ngoài ngày 1-6-1655 (nghĩa là sau khi cuốn từ điểnViệt - Bồ- La của A.de Rhodes đã được xuất bản năm 1651) gửi cho cha bề trên

ở Roma thời đó, báo cáo về một cuộc tranh luận giữa các giáo sĩ về những lời

thánh lễ dịch ra tiếng Việt năm 1645, đã “chứng kiến sự kém tín nhiệm của một số giáo sĩ Dòng Tên đối với đồng nghiệp A.de Rhodes về sự nắm vững tinh thông ngôn ngữ tiếng Việt” (19; tr 39).

Với một trình độ tiếng Việt kém nhất trong số các giáo sĩ biết tiếng Việt, làmsao A.de Rhodes là người tự mình biên soạn được cuốn từ điển ba thứ tiếng AnNam - Bồ Đào Nha - Latinh mà không dựa vào các tư liệu có trước của các giáo

sĩ khác và trở thành người đi đầu trong phát minh chữ Quốc ngữ được?

Khi đọc lời “Cùng bạn đọc” của cuốn từ điển nói trên in năm 1651 do chính A.de Rhodes viết, người ta đều nghĩ rằng ông không phải là “người có công

đầu” trong phát minh chữ Quốc ngữ: “ Ngay từ đầu tôi đã học với cha Francisco de Pina người Bồ , thuộc Hội dòng Giêsu rất nhỏ bé chúng tôi, là thầy dạy tiếng, người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng này và cũng là người thứ nhất bắt đầu giảng thuyết bằng phương ngữ đó mà không dùng thông ngôn, tôi cũng sử dụng những công trình của nhiều cha khác cùng một Hội dòng, nhất là cha Gaspar do Amaral và Cha Antonio Barbosa, cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển, ông trước bắt đầu bằng tiếng An

Nam, ông sau bằng tiếng Bồ, nhưng cả hai ông đều chết sớm Sử dụng công khó của hai ông , tôi còn thêm tiếng La Tinh theo lệnh các Hồng y rất đáng tôn, vì ngoài những tiện lợi khác, nó còn giúp ích cho những người bản xứ học tiếng La Tinh ” (22; tr 3).

Về vấn đề này, Linh mục Nguyễn Hồng năm 1959 đã viết: “Trong thời kỳ ở Áo Môn (tức Ma Cao), Cha Amaral đã soạn cuốn từ điển Việt – Bồ, Cha Barbosa soạn cuốn từ điển Bồ- Việt Cha Đắc Lộ đã dùng 2 cuốn đó để soạn cuốn từ điển Việt- Bồ- La xuất bản sau này ở Roma năm 1651” (23; tr 217).

Trang 32

Giáo sư Hoàng Cơ Thụy, năm 1989, đã nói rõ sự việc này hơn: “Nên biết thêm rằng Linh mục Gaspar do Amaral có viết một quyển “Từ điển Việt- Bồ”, sau đó trao lại cho Linh mục Đắc Lộ; ông Do Amaral bị chết đuối vì đắm tàu ở gần đảo Hải Nam ngày 23.12.1645, vậy cuốn từ điển của ông được soạn khoảng 1631-

1645 và trao cho Linh mục Đắc Lộ ở Áo Môn hồi mùa đông năm 1645 và cuốn

“Từ điển Bồ – Việt” của Linh mục Antonio Barbosa chắc đã soạn thảo trong thời gian 1636-1645 chính Đắc Lộ công nhận như thế năm 1651 trong lời nói đầu cho cuốn từ điển của ông” (14, tr 27-28).

Gần đây, trong cuốn sách của mình đã được nêu ở trên, Roland Jacques cũngcho rằng sau khi giáo sĩ Francisco de Pina qua đời đột ngột tại cảng thị Hội

An vào cuối năm 1625 thì các cuốn chuyên luận về “Từ vựng và các thanh” và cuốn “Ngữ pháp” tiếng An Nam của ông cũng đã vào tay A.de Rhodes mà lúc

này ông ta đang là học trò tiếng Việt của Francisco de Pina

Khi phân tích so sánh tư liệu “Mô tả ngắn gọn tiếng An Nam hay Đàng Ngoài” (Linguae Annamiticae seu Tunckinensis brevis declaratio) của A.de Rhodes biên soạn từ 1645-1651 với cuốn Từ điển ba thứ tiếng của ông với tư liệu “Nhập môn tiếng Đàng Ngoài” (Manuductio ad Lingam tunckinensem) của Onofre Borges

biên soạn từ 1645-1658, Roland Jacques có nhận xét rằng hai tư liệu này rất giốngnhau và chúng phải bắt nguồn từ tư liệu gốc có trước mà tư liệu đầu tiên nàyphải quy cho là của giáo sĩ Bồ Đào Nha Francisco de Pina, tức là hai tư liệu nóitrên của ông

Về vấn đề này, Roland Jacques đã viết: “Công trình này (tư liệu có trước của Francisco de Pina) hình như đã mang lại những tiêu chí và những bằng chứng thỏa đáng để khẳng định rằng hai văn liệu (của A.de Rhodes và O Borges) mà từ nay người ta dễ dàng đối chiếu, phụ thuộc trực tiếp vào một văn liệu- nguồn xưa cũ hơn được biên soạn bởi những người vốn sinh ra từ Bồ Đào Nha, mà ngay từ đầu, mọi cách giải thích rất có thể phải quy cho một mình Francisco de Pina”

(19; tr 384-28; tr 123)

Tuy nhiên, Roland Jacques cũng đã đánh giá sự đóng góp của A.de Rhodes:

“Qua sự so sánh có hệ thống về sự mô tả bộ chữ cái Việt Nam thực hiện bởi văn bản này và văn bản kia, có thể nhận định được rõ ràng hơn rằng A.de Rhodes đã chịu ơn các vị tiền bối của mình và ngược lại, có sự đóng góp tài năng của bản thân ông” (19; tr 28).

Ngày nay, chúng ta có thể cho rằng để biên soạn cuốn từ điển ba thứ tiếng,A.de Rhodes trong phần từ điển học, đã sử dụng các tư liệu có trước của các

giáo sĩ Bồ Đào Nha như “Chuyên luận về từ vựng và thanh” của Francisco de Pina và các Từ điển Việt – Bồ của Gaspar do Amaral và Từ điển Bồ – Việt của Antoni Barbosa; trong phần còn lại đã sử dụng “Ngữ pháp” và các tập truyện cổ

tích và các bài viết hay nhất của Đàng Trong của Francisco de Pina để lại

Người ta cũng có quyền đặt ra nghi vấn liệu “Phép giảng tám ngày” của A.de

Rhodes cũng có thể dựa vào các bài giảng bằng tiếng Việt mà Francisco de Pinađã biên soạn trước đây để truyền đạo mà không cần phiên dịch

Trang 33

Cho đến nay, nhiều người vẫn cho rằng A.de Rhodes đã không trung thực và biết ơn các đồng nghiệp Bồ Đào Nha tiền bối, nhất là đối với người thầy đã ân cần dạy tiếng Việt cho mình, khi cuốn từ điển ba thứ tiếng chỉ có tên một tác giả và tại sao các tư liệu quý giá của họ sau khi vào tay A.de Rhodes lại bị “thất lạc” đến nay chưa tìm thấy lại được? (hay may mắn còn vùi lấp trong kho lưu

trữ của Tòa thánh Vatican?)

Những bằng chứng nói trên cho phép ngày nay chúng ta có thể khẳng định

rằng A de Rhodes không phải là nhà tiên phong sáng tạo ra chữ Quốc ngữ ,

nhưng là một trong những người đã góp sức về sau cho sự phát triển của văn tự đó

Linh mục- nhà nghiên cứu Thanh Lãng đã viết về vấn đề này: “Đắc Lộ không phải là ông tổ chữ Quốc ngữ Như vậy đã rõ ràng Đắc Lộ không phải là thuộc vào số những nhà truyền giáo đã sáng lập ra chữ Quốc ngữ mà chỉ là người có công lớn đối với chữ Quốc ngữ mà thôi Sở dĩ Đắc Lộ về sau này được lịch sử nhắc nhở đến nhiều, có lẽ không phải (vì) ông đã có công kiện toàn chữ Quốc ngữ cho bằng ông đã để lại hai quyển sách được coi như tài liệu duy nhất về chữ Quốc ngữ” (24; tr.182).

III VAI TRÒ TIÊN PHONG CỦA FRANCISCO DE PINA TRONG SÁNG TẠO CHỮ QUỐC NGỮ

Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước “Chữ Quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ XX”, 1994, Hoàng Tiến đã không nhắc đến giáo sĩ Bồ Đào Nha có vai trò hàng đầu trong phát minh chữ Quốc ngữ: đó là Francisco de Pina (1585-1625).

Francisco de Pina đến làm nhiệm vụ truyền giáo ở Đàng Trong từ đầu 1617 chođến khi qua đời đột ngột đáng tiếc tại cảng thị Hội An ngày 16-12-1625 trong mộttai nạn đắm thuyền khi đang làm nhiệm vụ Trong thời gian đó, ông sống lâu nhấttại Hội An liên tục từ đầu năm 1621 đến đầu năm 1625 (29) Ông là giáo sĩ đầu tiêntự mình ra sức học tiếng Việt để làm nhiệm vụ truyền đạo tốt hơn Giáo sĩ Gaspar

Luis, trong một bức thư gửi cho Tổng Giám mục, đã viết: “Linh mục De Pina đến Đàng Trong năm 1617 Đó là Giáo sĩ đầu tiên miệt mài học tiếng nói” (25; tr 410) và “ Linh mục Francisco de Pina rất giỏi tiếng An Nam thì chăm lo cho người An Nam” (25; tr 412).

Khi A.de Rhodes đến Đàng Trong cuối năm 1624 đã thấy giáo sĩ này rất thành

thạo tiếng Việt và đã viết: “Tôi thấy Linh mục Fernandez và Linh mục Buzomi phải dùng phiên dịch để truyền giáo, chỉ có Linh mục De Pina là không phải phiên dịch vì nói rất thạo” (30; tr 91).

Trong một bức thư gửi cho Cha Khâm sai ở Ma Cao là Jeromino Rodriguez

vào đầu năm 1623 từ Hội An, F de Pina đã viết: “Đối với tôi, ở dinh này (dinh Quảng Nam), tôi không thể nhởn nhơ giữa việc bắt đầu rèn luyện tiếng nói với việc dạy giáo lý, đơn giản là vì chẳng có ai để đỡ bớt gánh nặng cho tôi Còn về tiếng nói, tôi biết nó bằng những nỗ lực của chính bản thân mình” (19; tr 45).

Một số nhà nghiên cứu nước ta, chắc chắn trong đó có cố Giáo sư HoàngTuệ, có cảm nghĩ rằng một giáo sĩ tinh thông nhất tiếng Việt như Francisco de

Trang 34

Pina lại không để lại một công trình nào của mình liên quan đến phát minh chữQuốc ngữ như người học trò của mình hay sao? Đồng cảm với ý nghĩ đúng đắnđó, nhà ngôn ngữ học Pháp Roland Jacques đã dành hàng chục năm để nghiêncứu vấn đề này và may mắn trong khối tư liệu hàng vạn trang liên quan đến Đại

Việt ở thế kỷ XVII- XVIII được bảo quản trong Thư viện Ajuda của Cung điện Hoàng gia ở Lisbonne, Bồ Đào Nha, ông đã phát hiện được bản sao bức thư viết dở dài bảy trang gửi cho Cha Khâm sai ở Ma Cao Jeromino Rodriguez viết tại cảng thị Hội An vào đầu năm 1623 của Francisco de Pina.

Qua bức thư đó, người ta thấy giáo sĩ Bồ Đào Nha này đã nghiên cứu ngữ âmtiếng Việt và đã biên soạn những công trình Latinh hóa tiếng Việt trong nhữngnăm 1621-1622, trước khi A.de Rhodes đến Đàng Trong vào cuối năm 1624.Dưới đây chúng tôi xin trích đoạn của bức thư đó có liên quan đến phát

minh chữ Quốc ngữ của Francisco de Pina: “Tiếng nói này là một tiếng nói có thanh, giống như một sự xướng âm và trước hết là phải biết xướng âm nó đã, sau đó người ta mới học các chữ”… “Đối với việc nghiên cứu tiếng nói, Kẻ Chiêm (tức dinh trấn Thanh Chiêm) vẫn là một nơi tốt nhất với tư cách là trung tâm của Triều đình: ở đây người ta nói rất hay”… “Về phần tôi, tôi đã biên soạn một chuyên luận nhỏ về từ vựng và các thanh của ngôn ngữ này và tôi đang bắt tay viết về ngữ pháp Tuy nhiên, tôi đã tập hợp được những chuyện cổ tích thuộc nhiều loại khác nhau nhằm cung cấp các trích dẫn của các tác giả để xác minh nghĩa của các từ và quy tắc của ngữ pháp, cho đến nay, tôi có thể yêu cầu một người nào đó đọc chúng để phiên các chữ Bồ Đào Nha (tức chữ Latinh)… Ngoài ra tôi đã có ba bốn tập hợp các bài viết có lý luận trong số các bài viết hay nhất mà tôi tìm thấy được ở Vương quốc này” (19; tr.178-2002 và

20; tr 43-45)

Tiếc rằng đến nay các chuyên luận về từ vựng và các thanh, cuốn ngữ pháptiếng An Nam cũng như các chuyện cổ tích, các bài viết hay ở Đàng Trong màFrancisco đã Latinh hóa đã không tìm lại được Nhưng nhà ngôn ngữ học PhápRoland Jacques đã cho rằng các tư liệu đầu tiên về phát minh chữ Quốc ngữ đóđã vào tay người học trò khi người thầy đột ngột qua đời năm 1625 Ông đã viết:

“Người ta có thể nghĩ rằng những công trình của người thầy đáng tiếc không được người học trò A.de Rhodes mang theo ra Đàng Ngoài năm 1627 hay sao? Đối với chúng ta, cần phải chấp nhận sự liên tục và cần phải quy cho ông tổ đầu tiên Bồ Đào Nha Pina” (19; tr 36).

Về vai trò tiên phong trong phát minh chữ Quốc ngữ của F.de Pina, Roland

Jacques viết tiếp: “Nhưng đó là vấn đề mang lại sự công bằng cho công trình âm thầm của thế hệ trước Rhodes, thế hệ của Francisco de Pina, được sửa chữa phát triển và bổ sung bởi các đồng nghiệp mà đứng đầu chắc chắn là Gaspar do

Amaral Chính trong nhóm đó mà Rhodes là người bị dị nghị và Borges là một

học trò bình thường mà chữ Quốc ngữ đạt được sự chín muồi, sự gắn bó và sức sống cho phép nó trải qua hàng thế kỷ” (19; tr 39).

Như vậy, Francisco de Pina là người đầu tiên tạo ra các công trình

Latinh hóa tiếng Việt, chậm nhất vào năm 1622, trước bất cứ một giáo sĩ

Trang 35

phương Tây nào có mặt ở Đàng Trong và Đàng Ngoài Đại Việt vào đầu thế kỷXVII, điều đó buộc người ta phải thừa nhận tính có trước về thời gian của các

công trình đó, đồng nghĩa thừa nhận ông là nhà tiên phong phát minh ra chữ

Quốc ngữ.

Nhà ngôn ngữ học Roland Jacques khi phân tích cấu trúc của ngữ âm chữ

Quốc ngữ, đã cho biết rằng nhiều nhà nghiên cứu đã không nắm được chính xác vai trò của ngôn ngữ Bồ Đào Nha và các giáo sĩ Bồ Đào Nha trong sự Latinh hóa tiếng Việt Một sự hiểu biết sơ đẳng tiếng Bồ Đào Nha đủ cho phép xác định

rằng những nguyên tắc của hệ thống ghi âm của ngôn ngữ Bồ Đào Nha đã được vận dụng chủ yếu trong việc ghi âm phức tạp của tiếng Việt trong quá trình Latinh hóa.

Về vấn đề này, Roland Jacques đã viết: “Sự lựa chọn cơ bản bởi Pina và những người kế tục của ông là xuất phát từ một hệ thống ký pháp chữ viết đang

hình thành lúc đó trong tiếng Bồ Đào Nha, nói một cách khác chính là ngữ âm Bồ Đào Nha đã được sử dụng làm công cụ phân tích và tham cứu chủ yếu đối với tiếng Việt (19; tr 58) và “Bước chuyển từ tiếng Bồ Đào Nha viết qua chữ Quốc ngữ thông qua những người thợ Bồ Đào Nha đầu tiên là trực tiếp và không có vấn đề” (19; tr 111).

Những nghiên cứu nhiều năm trong vấn đề này đã cho phép Roland Jacques đi

đến những kết luận: “Một sự nghiên cứu chẳng tiên niệm chữ Quốc ngữ đã làm xuất hiện ngay tức khắc đó không phải chính xác là thành quả của một sự gặp gỡ giữa nền văn hóa hàng ngàn năm của Việt Nam và nền văn hóa Pháp, mặc dù Alexandre

de Rhodes là người đưa tới” (19; tr 7) Ông cũng viết: “Ngay cả, mặc dù mọi nhận xét cho là do sự nghiệp của cá nhân Alexandre de Rhodes, người duy nhất của nền văn hóa Pháp tham gia vào công việc này thì cũng phải nói rằng chữ Quốc ngữ không hàm ơn gì hết đối với tiếng Pháp, vả lại Alexandre de Rhodes không hề làm một tham cứu nào từ tiếng mẹ đẻ của mình trong sự mô tả ngữ âm mà ông đã xuất

bản” (19; tr 54) Roland Jacques khẳng định: “Trước hết cần thừa nhận tính có trước của công trình ngôn ngữ học thực hiện bởi người Bồ Đào Nha F.de Pina Sự ra đời của chữ Quốc ngữ trước hết là thành quả của một cuộc gặp gỡ lịch sử giữa ngôn ngữ Việt Nam và ngôn ngữ Bồ Đào Nha ” (19; tr 46).

Những ý kiến quan trọng ở trên của Roland Jacques, một lần nữa buộc chúng

ta phải thừa nhận giáo sĩ Bồ Đào Nha Francisco de Pina là nhà tiên phong trongsáng tạo chữ Quốc ngữ chứ không phải giáo sĩ Pháp Alexandre de Rhodes nhưthường được nói đến trước đây

IV VỊ TRÍ QUAN TRỌNG CỦA NGƯỜI VIỆT TRONG PHÁT MINH CHỮ QUỐC NGỮ

Như trên đã nói, đã từ lâu các nhà sử học nước ta đã khẳng định vai trò củangười Việt trong phát minh chữ Quốc ngữ và điều này được Giáo sư Hoàng Tụênêu lên lại vào năm 1993

Ngay từ buổi bình minh của sự sáng tạo chữ Quốc ngữ, người Việt ở cảng thịHội An và dinh trấn Thanh Chiêm (tỉnh Quảng Nam ngày nay) đã cộng tác với

F de Pina trong việc Latinh hóa tiếng Việt

Trang 36

Những người Việt bản địa cộng tác và hợp tác với giáo sĩ này gồm hai nhóm

người: thứ nhất là giới trí thức gồm các thầy đồ, sư sãi, trưởng tông phái (đạo Lão, đạo Nho…), quan lại hưu trí và sĩ tử, là những người am hiểu tiếng mẹ đẻ và nền văn hoá dân tộc; thứ hai là các phiên dịch ở các nhà đạo, được học tiếng

Bồ, tiếng Latinh, giúp các giáo sĩ truyền đạo Và số người Việt này phải đônghơn các giáo sĩ Phương Tây

Trong bức thư bảy trang viết dở để lại, F de Pina đã nói đến việc ông cộngtác với người Việt bản địa để Latinh hoá tiếng Việt hay phiên dịch sang tiếng

Bồ Ông đã viết “Cho đến nay tôi có thể yêu cầu một người nào đó đọc chúng [truyện cổ tích] để phiên sang chữ Bồ để người Bồ chúng ta có thể đọc và học thuộc được chúng như đối với Cicero và Vergillus” (luật sư, chính khách và nhà

thơ La Mã cổ đại) (19; tr 44)

Về vai trò không thể thiếu của người Việt trong phát minh chữ Quốc ngữ,

Roland Jacques đã phát biểu: “Để phiên âm các bài viết bằng các chữ của bộ chữ cái, Pina đã nhờ các trí thức đọc và phát âm để viết”… “Những hoàn cảnh cụ thể mà trong đó F.de Pina và các đồng nghiệp của ông đã sống, góp phần để hiểu biết hơn rằng sự sáng tạo chữ Quốc ngữ không phải là một công trình của phòng thí nghiệm mà có rất nhiều người dấn thân vào [tức người Việt] với một nhiệt tình nào đó trong hành động” (25; tr 21) Và “Chính cả ông [tức F.de Pina] và các đồng nghiệp đã tập hợp được những sự hợp tác có chất lượng mà nếu không có chúng, mọi công trình ngôn ngữ học nghiêm túc sẽ không thể có được”

(19; tr 78)

Đối với các trí thức hợp tác với F de Pina trong phát minh chữ Quốc ngữ,

Roland Jacques đã đánh giá: “Cần phải nghĩ rằng các nhà sư đó là những người có trình độ tương đối cao, có khả năng sử dụng các tư liệu tham cứu viết”… “Ở đây nữa, các thầy đồ đó, một khi đã trở thành giáo dân, đã có thể mang lại một sự đóng góp quyết định Ngoài công việc hoàn toàn kỹ thuật về cách đọc và diễn đạt đó ra, họ có thể giỏi hơn người khác, giúp giáo sĩ nắm được những liên can văn hóa và tư tưởng của các bài viết và rút ra từ bài viết đó những bài học về hệ

tư tưởng và phương pháp luận được nghiên cứu” (19; tr 87).

Về sự hợp tác của người Việt là phiên dịch ở các nhà đạo (nơi sống chung

với giáo dân là phiên dịch với các giáo sĩ) Roland Jacques đã viết: “Một khi học được các chữ “Bồ Đào Nha” [tức chữ Latinh ] như vậy các học trò trẻ tuổi đã nhanh chóng có khả năng mang lại những đóng góp thực sự trong việc phiên âm bằng bộ chữ cái Latinh cho những bài viết mới của di sản văn học Việt Nam và trong việc hoàn thiện và hệ thống hóa của chính ngay sự phiên âm mà nó dẫn tới chữ Quốc ngữ” (19; tr 83)

Đến nay, chúng ta có quyền đề cao đúng mức vị trí của người Việt như

đồng tác giả ngang hàng với giáo sĩ Bồ Đào Nha F de Pina trong phát minh chữ Quốc ngữ Để kết thúc vấn đề này, chúng tôi xin nêu lên phát biểu

hết sức đúng đắn về sự phát minh của chữ Quốc ngữ của Roland Jacques: “Để hiểu được cuộc cách mạng (chữ viết) đó, để hiểu thấu những người đi đầu lịch sử và những người sau cùng mang tới tương lai, vậy thì cần thiết phải đặt đúng

Trang 37

đắn vị trí việc làm của cá nhân Alexandre de Rhodes trong một công trình tập

thể mà ông chỉ là một trong số nghệ nhân chủ yếu, mà trong đó những người Bồ Đào Nha và những người cạnh tranh ngang hàng Việt Nam của họ đã giữ vai trò hàng đầu ” (19; tr 10).

V CẢNG THỊ HỘI AN - DINH TRẤN THANH CHIÊM, CÁI NÔI RA ĐỜI SỚM NHẤT CỦA CHỮ QUỐC NGỮ

Như đã trình bày ở trên, F.de Pina, nhà tiên phong sáng tạo ra chữ Quốcngữ, đã sống chủ yếu ở Hội An liên tục từ 1621-1624 (trước đó ông đã sống ởđây vào giữa năm 1617 cho đến đầu năm 1618 trước khi vào Nước Mặn, QuyNhơn) Đến năm 1625, ông được cử làm Cha Bề trên ở Thanh Chiêm Ông đãdạy cho các giáo sĩ mới đến cuối năm 1624 là Alexandre de Rhodes và Antonio

de Fontes học tiếng Việt tại Hội An rồi sau đó ở Thanh Chiêm Giữa năm 1625,ông được Giáo đoàn cử ra Phủ Chúa yết kiến Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên.Sau khi quay về vào cuối năm đó và ông đột ngột mất tại Hội An do một tainạn đắm thuyền khi làm nhiệm vụ ra một chiếc tàu để nhận hàng tiếp tế của

Ma Cao ngày 16-12-1625

Qua bức thư của ông để lại, người ta thấy các công trình Latinh hóa tiếngViệt đầu tiên của ông thực hiện trong những năm 1621-1622 khi ông làm nhiệmvụ truyền giáo tại Hội An Tuy nhiên, ông đã đi lại giữa Hội An và Thanh Chiêm(cách nhau 7 km) để hợp tác với các trí thức ở đây trong việc Latinh hóa tiếngViệt Ông đã từng đánh giá “Ở Thanh Chiêm người ta nói rất hay” vì cư dân dinhtrấn gồm những người gốc Thanh Hóa ở Đàng Ngoài theo chúa Nguyễn vào lậplàng ở Đàng Trong tại đây

Như vậy, những trí thức ở cảng thị Hội An (nay là đô thị cổ Hội An và dinh trấn Thanh Chiêm (nay là làng Thanh Chiêm, xã Điện Phương, huyện Điện Bàn)

của Quảng Nam (nay thuộc tỉnh Quảng Nam) vào đầu thế kỷ XVII là những tiềnbối của chúng ta đã có công lao to lớn góp phần trong phát minh chữ Quốc ngữ(26; 21; 28)

Căn cứ vào tính có trước của các công trình Latinh hóa tiếng Việt của F dePina so với các công trình của các giáo sĩ Phương Tây khác, đặc biệt là các đồng

hương Bồ Đào Nha của ông, chúng ta có thể nói rằng Cảng thị Hội An- Dinh trấn Thanh Chiêm là cái nôi ra đời sớm nhất của chữ Quốc ngữ ở nước ta so với các

nôi khác ở Nước Mặn (nay là Quy Nhơn, tỉnh Bình Định), Cửa Bạng (nay là LạchBạng, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa) và Kẻ Chợ (nay là Hà Nội) (21, 28 và 30)Để kết luận tham luận này, chúng tôi xin nêu lên mấy kiến nghị sau đây:

- Các sách giáo khoa và giáo trình từ các cấp phổ thông cho đến các cấp caođẳng, đại học, cần có sự chỉnh lý về sự phát minh chữ Quốc ngữ cho đúng vớisự thật lịch sử và tính chính xác khoa học, góp phần giáo dục lòng tự hào dântộc (21, 26 và 28);

- Cần trả lại sự công bằng cho Francisco de Pina, nhà tiên phong sáng tạo rachữ Quốc ngữ Để tưởng niệm và tỏ lòng biết ơn ông trên đất nước ta, nơi mà

Trang 38

ông đã từng sống, cống hiến và qua đời, cần có trường học, đường phố mangtên ông (27,21, 26, 28);

- Tại Di sản Thế giới Hội An, cần xây dựng “Bảo tàng chữ Quốc ngữ” như

một dự án cấp Nhà nước, một Trung tâm tư liệu để các nhà khoa học trong nướcnghiên cứu và giới thiệu với khách du lịch nước ngoài Ở dinh trấn Thanh Chiêm

cũ, xây dựng “Đài tưởng niệm phát minh chữ Quốc ngữ” như một dự án cấp địa

phương (21, 26 và 28)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trần Trọng Kim, và những người khác, Quốc văn giáo khoa thư Lớp dự bị Nxb Thanh Niên

tái bản 2001.

2 Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu Hà Nội 1950.

3 Lê Văn Hảo, Phải chăng Hội An là cái nôi hình thành chữ Quốc ngữ ở đầu thế kỷ XVII Hội

nghị khoa học về Khu phố cổ Hội An 1985.

4 Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại Tập I Nxb Khoa học xã hội Hà Nội 1989

5 Hoàng Tiến, Chữ quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ XX Nxb Lao động Hà

Nội 1994.

6 Minh Hiền, Let’s do Justice to Alexandre de Rhodes Vietnam Social Sciences Hanoi 1994.

7 Nguyễn Khắc Xuyên, Gửi Giáo sư Hoàng Tuệ bàn về chữ Quốc ngữ trên tờ Tuổi trẻ Tạp chí

Ngày nay, Houston, Texass Mỹ, No277, ngày 1 tháng 7 năm 1993 đăng lại trong sách nhiều tác giả “Alexandre de Rhodes người đầu tiên vận động Pháp chiếm Việt Nam và chữ Quốc ngữ” Giáo điểm Mỹ 1998.

8 Phạm Quỳnh, Khảo về chữ quốc ngữ Báo Nam Phong N0 122 1927.

9 Đào Duy Anh, Việt Nam văn hoá sử cương, Nxb Sống Mới Sài Gòn (do Nguyễn Kha dẫn trong

sách “A.de Rhodes, người đầu tiên vận động Pháp chiếm Việt Nam và chữ Quốc ngữ” 1998.

10 Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, Lịch sử Việt Nam Tập I 1971.

11 Georges Taboulet, La geste francaise en Indochine Tom I Paris 1955.

12 Phan Phát Huồn, Việt Nam giáo sử Quyển I Sài Gòn, 1965.

13 Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận Tập IV Paris 1989.

14 Joseph Butlinger, The small dragon (do Nguyễn Kha dẫn trong sách “ A.d Rhodes, người

đầu tiên vận động Pháp chiếm Việt Nam và chữ Quốc ngữ” 1998).

15 Hoàng Tuệ, Ai làm ra chữ Quốc ngữ? Báo “Tuổi trẻ” Số Chủ nhật ngày 31.1.1993

16 Nguyễn Khắc Xuyên, Trả lời Giáo sư Hoàng Tuệ về chữ Quốc ngữ, nhân kỷ niệm 400 năm sinh nhật Đắc Lộ Stuttgart “Dân Chúa Âu châu” 1994.

17 Nguyễn Kha, Góp ý Giáo sư Chương Châu về vai trò của linh mục A de Rhodes và nguồn gốc chữ Quốc ngữ đăng trên sách “A.de Rhodes, người đầu tiên vận động Pháp chiếm Việt Nam và chữ Quốc ngữ” 1998.

18 Bùi Phước, Vấn đề A.de Rhodes và chữ Quốc ngữ Tạp chí Giao điểm N 0 25 tháng 12.1996 Mỹ Được đăng lại trên sách “A.de.Rhodes, người đầu tiên vận động Pháp chiếm Việt Nam và chữ Quốc ngữ” 1998.

19 Roland Jacques, L’oeuvre de quelques pionniers portugais dans le domaine de la linguistique vietnamienne jusqu’en 1650 Paris 1995.

20 Roland Jacques, Portuguese pionneers of vietnamese linguistics- Pionniers Portugais de la guistique vietnamienne Orchid Press, 2002.

Trang 39

lin-21 Nguyễn Phước Tương, Sự phát minh chữ Quốc ngữ: Vai trò tiên phong của Francisco de Pina

và vị trí quan trọng của người Việt Hội thảo khoa học Hà Nội, 5-2003.

22 Alexandre de Rhodes, Từ điển An Nam- Lusitan- La Tinh (Bản dịch của Thanh Lãng, Hoàng

Xuân Việt, Đỗ Quang Chính) Nxb Khoa học xã hội, 1991.

23 Nguyễn Hồng, Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam Quyển I Nxb Hiện tại Sài Gòn 1959.

24 Trần Văn Giàu, Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh.

Tập II Chữ Quốc ngữ trên đất Sài Gòn- Gia Định, 1998.

25 Gaspar Luis, Lettre du Pere Garpar Luis sur la Concincina Annotation par L.Cadiere BAVH 1931; N 0 3-4.

26 Nguyễn Phước Tương, Sự phát minh chữ Quốc ngữ dưới cách nhìn đổi mới Khoa học và

công nghệ Thừa Thiên Huế N 0 2001; tr.66.

27 Nguyễn Phước Tương, La creation du quoc ngu: rendre justice a Francisco de Pina Le Courrier du Vietnam N 0 Mai 2001, p.15.

28 Nguyễn Phước Tương, Sự phát minh chữ Quốc ngữ: Vai trò tiên phong của Francisco de Pina

29 Nguyễn Phước Tương, Giáo sĩ Bồ Đào Nha Francisco de Pina, nhà tiên phong tạo chữ Quốc

ngữ tại cảng thị Hội An (chưa công bố).

30 Nguyễn Phước Tương, Hội An- Thanh Chiêm và sự ra đời chữ Quốc ngữ Hội thảo khoa học.

Thị xã Tam kỳ 9.2001.

Ngày đăng: 10/03/2017, 08:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hendry, James B. 1959. Nghiên cứu về một Cộng đồng nông thôn Việt Nam: Hoạt động kinh tế. Nhóm cố vấn về Việt Nam, trường ĐH Bang Michigan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về một Cộng đồng nông thôn Việt Nam: Hoạt động kinh"tế
2. Hickey, Gerald C. 1964. Làng xã tại Việt Nam. Nơi trú mới và Luân Đôn: Trường ĐH Yale Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xã tại Việt Nam
3. Idei, Fumi 1999. “Thực tại và một số vấn đề về kinh tế nông nghiệp tại Việt nam từ chính sách Đổi mới”, Idei và Takeuchi. Cải cách và Chuyển đổi trong Nông nghiệp và Khu vực nông thôn Việt Nam., Tôkyô: Viện Phát triển Kinh tế (IDE), trang 39 – 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tại và một số vấn đề về kinh tế nông nghiệp tại Việt nam từ chínhsách Đổi mới”, Idei và Takeuchi. "Cải cách và Chuyển đổi trong Nông nghiệp và Khu vực nông"thôn Việt Nam
4. Iwai, Misaki 1996. “Chuyển đổi xã hội nông nghiệp tại miền Bắc Việt Nam từ Đổi mới”, ĐôngNam Á - Lịch sử và Văn hoá số 25, trang 83 – 114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi xã hội nông nghiệp tại miền Bắc Việt Nam từ Đổi mới”,"ĐôngNam Á - Lịch sử và Văn hoá
5. Kano, Noriyoshi 1982. “Hình thức tồn tại của hộ nông thôn ‘không có ruộng’ tại Inđônêxia”, Takigawa. Nhân dân thuộc Tầng lớp thấp trong các xã hội nông thông Đông Nam Á, Toâkyoâ:IDE, trang 77 – 114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thức tồn tại của hộ nông thôn ‘không có ruộng’ tại Inđônêxia”,Takigawa. "Nhân dân thuộc Tầng lớp thấp trong các xã hội nông thông Đông Nam Á
7. Ohno, Mikido 1998a. “Thay đổi về quyền sở hữu ruộng đất trong xã hội nông thôn ở miền Nam Việt Nam – Tác động của cải cách ruộng đất tại xã Khánh Hậu”, Đông Nam Á - Lịch sử và Văn hoá số 27, trang 3 – 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thay đổi về quyền sở hữu ruộng đất trong xã hội nông thôn ở miềnNam Việt Nam – Tác động của cải cách ruộng đất tại xã Khánh Hậu”, "Đông Nam Á - Lịch"sử và Văn hoá
8. Ohno, Mikiko 1998b. “Di cư theo nhóm từ Đổi mới tại Châu thổ sông Mêkông - Trường hợp xã Khánh Hậu, tỉnh Long An”, Nampo Bunka soá 25, trang 17 – 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di cư theo nhóm từ Đổi mới tại Châu thổ sông Mêkông - Trường hợpxã Khánh Hậu, tỉnh Long An”, "Nampo Bunka
6. Murano, Tsutomu 1999. “Châu thổ sông Mêkông theo quan sát của các nhà nghiên cứu Mỹ - Khảo sát làng xã vào cuối thập kỷ 50 tới đầu thập kỷ 70, trang 23 – 37 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức   Tập trung vào cấu - Một số vấn đề về văn học và ngôn ngữ
Hình th ức Tập trung vào cấu (Trang 99)
Bảng 4. Những chữ Hán viết đúng trong bài dễ - Một số vấn đề về văn học và ngôn ngữ
Bảng 4. Những chữ Hán viết đúng trong bài dễ (Trang 206)
Bảng 7. Các chỗ đúng của CQN trong bài dễ - Một số vấn đề về văn học và ngôn ngữ
Bảng 7. Các chỗ đúng của CQN trong bài dễ (Trang 209)
Bảng 8. Các chỗ đúng của CQN trong bài khó - Một số vấn đề về văn học và ngôn ngữ
Bảng 8. Các chỗ đúng của CQN trong bài khó (Trang 210)
Bảng 13. Đoạn đúng của CQN trong đọc miệng (bài dễ) - Một số vấn đề về văn học và ngôn ngữ
Bảng 13. Đoạn đúng của CQN trong đọc miệng (bài dễ) (Trang 221)
Bảng 14. Đoạn đúng của CQN ở đọc miệng (bài khó) - Một số vấn đề về văn học và ngôn ngữ
Bảng 14. Đoạn đúng của CQN ở đọc miệng (bài khó) (Trang 222)
Bảng 15. Thời gian cho học sinh đọc miệng (dễ và khó) - Một số vấn đề về văn học và ngôn ngữ
Bảng 15. Thời gian cho học sinh đọc miệng (dễ và khó) (Trang 222)
Bảng 1: Quá trình bảo tồn di tích lịch sử Hội An - Một số vấn đề về văn học và ngôn ngữ
Bảng 1 Quá trình bảo tồn di tích lịch sử Hội An (Trang 381)
Hình 1: Phần trình bày cuối cùng và mô hình nhà tại hội thảo lần thứ nhất - Một số vấn đề về văn học và ngôn ngữ
Hình 1 Phần trình bày cuối cùng và mô hình nhà tại hội thảo lần thứ nhất (Trang 384)
Hình 2: Các hoạt động và kết quả của hội thảo lần thứ hai - Một số vấn đề về văn học và ngôn ngữ
Hình 2 Các hoạt động và kết quả của hội thảo lần thứ hai (Trang 386)
Hình 3: Các hoạt động và kết quả của hội thảo lần thứ ba - Một số vấn đề về văn học và ngôn ngữ
Hình 3 Các hoạt động và kết quả của hội thảo lần thứ ba (Trang 387)
Bảng 3: Hình thành các mô hình - Một số vấn đề về văn học và ngôn ngữ
Bảng 3 Hình thành các mô hình (Trang 389)
Bảng 4: Sự kế tiếp mỗi phần của việc quản lý - Một số vấn đề về văn học và ngôn ngữ
Bảng 4 Sự kế tiếp mỗi phần của việc quản lý (Trang 390)
Hình 4: Sơ đồ diễn trình lịch sử làng - Một số vấn đề về văn học và ngôn ngữ
Hình 4 Sơ đồ diễn trình lịch sử làng (Trang 453)
Bảng 1. Các nước EU (15 nước) và EU mở rộng (25 nước) - Một số vấn đề về văn học và ngôn ngữ
Bảng 1. Các nước EU (15 nước) và EU mở rộng (25 nước) (Trang 550)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w