Đây là cuốn kỷ yếu tập hợp tất cả các bài viết nghiên cứu về vấn đề kinh tế văn hóa xã hội của các chuyên gia hàng đầu Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực. Có rất nhiều bài viết trở thành giáo trình giảng dạy trong các chuyên đề dành cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh trong và ngoài nước.
Trang 2BAN TỔ CHỨC HỘI THẢO
TRƯỞNG BAN
z Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đức Cường
Viện Khoa học xã hội Việt Nam
ĐỒNG TRƯỞNG BAN
z Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Vũ Minh Giang
Đại học Quốc gia Hà Nội
ỦY VIÊN
z Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Xuân Biên
Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
z Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Trương Quang Học
Đại học Quốc gia Hà Nội
z Tiến sĩ Phạm Văn Vang
Viện Khoa học xã hội Việt Nam
z Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Xuân Hằng
Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
z Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Văn Lệ
Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
z Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thế Nghĩa
Viện Khoa học xã hội Việt Nam
z Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Nhật
Viện Khoa học xã hội Việt Nam
z Tiến sĩ Nguyễn Giang Hải
Viện Khoa học xã hội Việt Nam
z Tiến sĩ Vũ Ngọc Tú
Đại học quốc gia Hà Nội
z Bà Nguyễn Thu Nga
Đại diện lãnh đạo A25, Bộ Công an
Trang 3Tiểu ban 1: NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ
z Tiến sĩ Vũ Tuấn Anh (Việt Nam) - Trưởng tiểu ban
z Ủy viên: Viện sĩ Tiến sĩ khoa học Võ Đại Lược (Việt Nam)
z Tiến sĩ Lê Đăng Doanh (Việt Nam)
z Thư ký: Tiến sĩ Phùng Xuân Nhạ (Việt Nam)
z Marina Trigubenko (Nga)
z Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Thọ (Nhật Bản)
z Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Thị Minh Sâm (Việt Nam)
z Tiến sĩ Phùng Xuân Nhạ (Việt Nam)
z You Mingqian (Trung Quốc)
Tiểu ban 2: NHỮNG VẤN ĐỀ XÃ HỘI
z Trưởng tiểu ban: Giáo sư Phạm Xuân Nam (Việt Nam)
z Ủy viên: Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trịnh Duy Luân (Việt Nam)
z Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thị Kim Xuyến (Việt Nam)
z Thư ký: Tiến sĩ Nguyễn Đức Nhuệ (Việt Nam)
z Melanie Beresfort (Pháp)
z Irene Norlund (Đan Mạch)
z Bùi Đình Thanh (Việt Nam)
z Atsufumi Kato (Nhật Bản)
Tiểu ban 3: NHỮNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO
z Trưởng tiểu ban: Phó Giáo sư, Tiến sĩ Khổng Diễn (Việt Nam)
z Ủy viên: Phó Giáo sư, Tiến sĩ Mạc Đường (Việt Nam)
z Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Văn Lệ (Việt Nam)
Trang 4z Thư ký: Tiến sĩ Trương Huyền Chi (Việt Nam)
z Hans Schenk (Hà Lan)
z Masako Ito (Nhật Bản)
Tiểu ban 4: NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC, CON NGƯỜI
VÀ NGUỒN NHÂN LỰC
z Trưởng tiểu ban: Giáo sư Viện sĩ Phạm Minh Hạc (Việt Nam)
z Ủy viên: Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Long (Việt Nam)
z Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thế Nghĩa (Việt Nam)
z Thư ký: Tiến sĩ Phạm Hồng Tung (Việt Nam)
z Kathryn Poethig (Pháp)
z Oscar Evangelista (Philippin)
z Nolwen Henaff (Pháp)
Tiểu ban 5: LỊCH SỬ CỔ-TRUNG ĐẠI
z Trưởng tiểu ban: Giáo sư Phan Huy Lê (Việt Nam)
z Ủy viên: Phó Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Hải Kế (Việt Nam)
z Phó Giáo sư Lê Xuân Diệm (Việt Nam)
z Thư ký: Tiến sĩ Lê Trung Dũng (Việt Nam)
z Momoki Shiro (Nhật Bản)
z Yang Baoyun (Trung Quốc)
z Poliakov A.B (Nga)
z George Duton (Mỹ)
Tiểu ban 6: LỊCH SỬ CẬN-HIỆN ĐẠI
z Trưởng tiểu ban: Giáo sư Đinh Xuân Lâm (Việt Nam)
z Ủy viên: Giáo sư Văn Tạo (Việt Nam)
z Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Xuân Biên (Việt Nam)
z Thư ký: Tiến sĩ Đinh Quang Hải (Việt Nam)
Trang 5z Tiến sĩ Nguyễn - Marshall Thị Thanh Vân (Mỹ)
z Phó Giáo sư, Tiến sĩ Kolotov V N (Nga)
z Pascal Bourdeaux (Pháp)
z Pierre Asselin (Pháp)
z Jeong Nam Song (Hàn Quốc)
z Mohamed Tavakol (Iran)
Tiểu ban 7: NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN HÓA, VĂN MINH: BẢN SẮC,
HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN
z Trưởng tiểu ban: Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh (Việt Nam)
z Ủy viên: Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Sĩ Quý (Việt Nam)
z Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Trọng Đăng Đàn (Việt Nam)
z Thư ký: Tiến sĩ Hà Quang Năng (Việt Nam)
z Giáo sư, Tiến sĩ Mai Quốc Liên (Việt Nam)
z Oksana Vladimirovna Novakova (Nga)
z Shoichi Ota (Nhật Bản)
z Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Chí Bền (Việt Nam)
z Mark Chang (Nhật Bản)
Tiểu ban 8: NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN HÓA, VĂN MINH:
TRUYỀN THỐNG VÀ TÔN GIÁO
z Trưởng tiểu ban: Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Quang Hưng (Việt Nam)
z Ủy viên: Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đình Sử (Việt Nam)
z Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trịnh Khắc Mạnh (Việt Nam)
z Thư ký: Tiến sĩ Nguyễn Văn Dũng (Việt Nam)
z Giáo sư Trần Quốc Vượng (Việt Nam)
Tiểu ban 9: NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
z Trưởng tiểu ban: Giáo sư Hà Minh Đức (Việt Nam)
z Ủy viên: Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Trọng Thưởng (Việt Nam)
z Giáo sư Đoàn Thiện Thuật (Việt Nam)
z Phó Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Lý Toàn Thắng (Việt Nam)
z Phó Giáo sư Hoàng Thị Châu (Việt Nam)
z Thư ký: Tiến sĩ Lại Văn Hùng (Việt Nam)
Trang 6Tiểu ban 10: NHỮNG NGHIÊN CỨU KHU VỰC
z Trưởng tiểu ban: Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quang Ngọc (Việt Nam)
z Ủy viên: Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Vũ Minh Giang (Việt Nam)
z Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Văn Đức (Việt Nam)
z Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Lịch (Việt Nam)
z Thư ký: Tiến sĩ Nguyễn Văn Kim (Việt Nam)
z Sakurai Yumio (Nhật Bản)
z Emmanuel Poisson (Pháp)
z Đỗ Bang (Việt Nam)
Trang 7MỤC LỤC
z Lời nói đầu 15
PHẦN MỘT PHÁT BIỂU VÀ BÁO CÁO TẠI PHIÊN TOÀN THỂ
z Diễn văn khai mạc — Đào Trọng Thi 21
z Bản lĩnh Việt Nam — Trần Văn Giàu 24
z Việt Nam học trên đường phát triển và giao lưu, hợp tác quốc tế
— Phan Huy Lê 29
z Sự chuyển giao bí mật các triều đại ở Đại Việt vào đầu thế kỷ XII
— Alexei Borisovich Poliakov 38
z Để truyền thống được nối tiếp và thêm phong phú
— Trần Bạch Đằng 43
z Việt Nam trong ASEAN: chủ nghĩa đa phương
và quan hệ với các cường quốc — Carlyle A Thayer 47
z Kinh tế đối ngoại nước ta hiện nay - tình hình và các giải pháp
— Võ Đại Lược 59
z Sự biến đổi xã hội Đại Việt thế kỷ XIV quan văn khắc
— Momoki Shiro 77
z Phát biểu bế mạc — Trần Đức Cường 89
PHẦN HAI BÁO CÁO KHOA HỌC TẠI CÁC TIỂU BANCHỦ ĐỀ I - NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ
z Bối cảnh quốc tế, khu vực hiện nay tác động đến an ninh
và phát triển kinh tế Việt Nam — Nguyễn Xuân Thắng 97
z Sự biến đổi cơ cấu tổ chức kinh tế và tiêu thụ sản phẩm của
nông dân trong thời kỳ đổi mới — Shitara Sumiko 108
z Những mũi đột phá về kinh tế trước đổi mới
— Đỗ Hoài Nam - Đặng Phong 114
z Nội lực và ngoại lực trong quá trình phát triển kinh tế
— Trần Văn Thọ 142
z Đổi mới ở Việt Nam: thành tựu và những vấn đề đặt ra
— Nguyễn Duy Quý 163
Trang 8z Các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGS) ở Việt Nam:
đối chiếu với ASEAN để nhận diện rõ triển vọng và thách thức
— Trần Đình Thiên - Nguyễn Cao Đức 171
z Quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản giữa bối cảnh quốc tế mới
trong những năm gần đây và triển vọng
— Vũ Văn Hà - Trần Anh Phương 189
z Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ và tác động của nó đối với
sự phát triển của Việt Nam — Nguyễn Thiết Sơn 197
z Việc vay vốn ngân hàng và làng xã đồng bằng sông Hồng
— Okae Takashi 209
z Triển vọng hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc trong bối cảnh
hình thành khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc — Đỗ Tiến Sâm 217
z Vị thế của ASEAN và Việt Nam trong quan hệ với các tổ chức quốc tế,
khu vực và các nước lớn — Vũ Tuyết Loan 224
z Du lịch Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế: tiềm năng - cơ hội,
thách thức - giải pháp — Phan Huy Xu 236
z Ảnh hưởng của những rủi ro về khí tượng thủy văn tự nhiên đối với sự phát triển của Việt Nam kể từ sau đổi mới và tác động
của sự thay đổi khí hậu toàn cầu với những nguy cơ trong tương lai
— Tan Phạm - David Wratt - Graeme Campbell - Doug Ramsay 244
z Xuất khẩu lao động - một hướng hội nhập để phát triển của Việt Nam:
những vấn đề và giải pháp — Hoàng Minh Hà 257
z Việt Nam tiến mạnh trên con đường đổi mới — Cốc Nguyên Dương 266
z Một số vấn đề về hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam — Nguyễn Xuân Dũng 273
z Pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam trong tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế — Nguyễn Thị Quế Anh 285
z Đô la hóa ở Việt Nam — Andreas Hauskrecht - Nguyễn Thanh Hải 299
z Đấu tranh chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả -
một biện pháp góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập
và phát triển của Việt Nam — Trần Văn Luyện 319
z Phát triển kinh tế và công bằng xã hội: phân tích hộ gia đình
về kinh tế, xã hội và phân bố thời gian tại một thôn thuộc
đồng bằng sông Hồng — Noguchi Hiroshi - Chuma Shoko 334
z Nhìn lại gần 20 năm đổi mới của Việt Nam:
tăng trưởng kinh tế nhanh, nhưng nỗi lo chất lượng và
“tụt hậu xa hơn” còn đó — Trần Đình Bút 344
z Vấn đề tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng của Việt Nam
trong những năm gần đây — Trương Thị Minh Sâm 356
z Những thay đổi tiến bộ trong trồng lúa ở đồng bằng sông Hồng:
báo cáo sơ bộ về quản lý dịch hại tổng hợp ở Thái Bình
— Yunita T Winarto 364
VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ HAI
Trang 9z Công nghiệp hóa rút ngắn của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay: hiện thực hay kỳ vọng?
— Phùng Xuân Nhạ 381
z Bàn về truyền thống trong thị trường tự do: những so sánh
mang tính giao thoa văn hóa — Gerald Waite 387
z Tiến trình thúc đẩy sự hội nhập kinh tế của Việt Nam trong ASEAN và
đóng góp của Nhật Bản — Hoàng Thị Minh Hoa 397
z Hợp tác Việt - Nga các vấn đề và giải pháp — M E Trigubenko 407
z Toàn cầu hóa kinh tế và cơ may của công nghiệp hóa
rút ngắn ở Việt Nam — Bùi Tất Thắng 421
z Quá trình hội nhập quốc tế mới của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
— Nguyễn Thị Hoài Phương 437
CHỦ ĐỀ II - NHỮNG VẤN ĐỀ XÃ HỘI
z Xã hội học và chính sách xã hội — Bùi Đình Thanh 447
z Vấn đề phân tầng xã hội Việt Nam hiện nay: một số khía cạnh
phương pháp tiếp cận và nghiên cứu — Trịnh Duy Luân 460
z Cách tiếp cận “giới” hoạt động nuôi dạy trẻ ở một cộng đồng
nông dân Việt — Nguyễn Thị Thanh Bình 474
z Vẽ Hà Nội ở thời quá khứ hoàn thành: bức tranh đô thị Việt Nam
xưa và nay — Lisa Drummond 485
z Hoạt động tạo thu nhập của phụ nữ thị trấn Như Quỳnh -
huyện Văn Lâm - Hưng Yên trong quá trình đô thị hóa
— Hà Thị Thanh Vân 495
z Nỗ lực tập thể, huy động xã hội và phong trào xã hội
ở Việt Nam hiện nay — Bùi Thế Cường 503
z Bình đẳng giới trong công tác đào tạo cán bộ nữ
ở Việt Nam hiện nay — Đỗ Thị Thạch 516
z Thực trạng mối quan hệ giữa vợ và chồng trong
gia đình Việt Nam giai đoạn đổi mới — Đỗ Thị Bình 524
z Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế, năng lực cho phụ nữ
— Nguyễn Thị Kim Dung 536
z Chiến lược kiếm sống: phát triển và nghèo khổ trên con đường
hội nhập thị trường - dựa vào nghiên cứu tình huống ở Hà Nội,
Hưng Yên, Sơn La và Sóc Trăng — Irene Norlund 542
z Thực trạng và những thách thức đối với gia đình
ở Việt Nam hiện nay — Ngô Thị Ngọc Anh 556
z Trẻ vị thành niên nhập cư: quan điểm giới trong nghiên cứu
— Trần Thị Kim Xuyến - Nguyễn Thị Hòa 564
z Vấn đề kết hôn của phụ nữ Việt Nam với nam giới Đài Loan:
thực trạng - hệ quả - giải pháp — Trần Hồng Vân 584
Trang 10z Có thể làm đồng bộ điều kiện lao động thông qua bộ quy tắc
ứng xử lao động không? nhận thức đối với Việt Nam
từ một số nước Đông Nam Á — Angie Ngọc Trân 593
z Sự thay đổi về thu nhập của người lao động dư thừa Việt Nam
— Nguyễn Hoàng Giang 608
z Tư tưởng Hồ Chí Minh và sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam
— Nguyễn Thị Tình 620
z Báo chí trong đời sống cư dân đô thị
thành phố Hồ Chí Minh hiện nay — Dương Kiều Linh 627
z Nghèo và những nhân tố tác động đến nghèo ở tỉnh Lâm Đồng -
nghiên cứu từ cách tiếp cận vi mô — Mai Chiếm Hiếu 640
z Vấn đề bình đẳng giới đối với nữ doanh nhân trong quá trình
đổi mới và hội nhập nền kinh tế — Bùi Thị Kim Quỳ 653
z Mấy vấn đề bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc
và giao lưu văn hóa ở Việt Nam — Mai Quốc Liên 659
z Khởi xướng “chương trình xóa đói giảm nghèo” - một sáng tạo nổi bật
của thành phố mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh — Tô Văn Giai 664
z Mô hình hưởng thụ văn hóa của cư dân khu công nghiệp
từ điều tra định lượng — Nguyễn Tuấn Anh 668
z Giải quyết tranh chấp và hòa giải ở Việt Nam — Jenny Pitts 687
z Xóa đói giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số
tại một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam — Phùng Đức Thắng 699
z Tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp và một số thay đổi về
cơ cấu việc làm, phân công lao động của hộ gia đình nông dân:
trường hợp một cộng đồng ở Bắc Việt Nam — Nguyễn Đức Chiện 707
z Vấn đề giới và sự phát triển của nữ trí thức Việt Nam
trong thế kỷ XXI — Nguyễn Thị Bính Hà 719
z Công tác hòa giải ở nông thôn Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ
nghiên cứu văn hóa cộng đồng làng xã: trường hợp của
xã Thạch Châu, tỉnh Hà Tĩnh — TKato Atsufumi 725
z Mấy vấn đề về quá trình chuyển hóa và biến đổi
của gia đình Việt Nam hiện nay — Trịnh Thị Quang 734
z Thành phố Hồ Chí Minh và cuộc chiến chống đói nghèo (1975 - 2002)
— Mạc Đường 749
z Xu hướng văn hóa-xã hội của văn hóa trẻ Việt Nam
đương đại và vấn đề bản sắc — Lê Hương Thu 757
z Góp phần giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng dân số
và việc làm của vùng Bắc Trung bộ trong sự nghiệp
công nghiệp hiện đại hóa — Đoàn Minh Duệ 678
z Đặc trưng xã hội cơ bản của đô thị hoa ở Việt Nam
giai đoạn hiện nay — Nguyễn Hữu Minh 775
VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ HAI
Trang 11BÁO CÁO KHOA HỌC TẠI
CÁC TIỂU BAN
Phần
Hai
Trang 13CHỦ ĐỀ I NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ
Trang 15TÁC ĐỘNG ĐẾN AN NINH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM
Nguyễn Xuân Thắng*
I ĐẶC ĐIỂM MỚI CỦA BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC
Về các xu hướng lớn trong sự phát triển của thế giới kể từ đầu thập kỷ
90 của thế kỷ XX, văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và cácnghiên cứu gần đây đã chỉ rõ:
1 Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, mang tính hai mặt: tích cựcvà tiêu cực, đang lôi cuốn hầu hết mọi quốc gia, bất luận ở trình độ pháttriển nào, tham gia vào quá trình này;
2 Cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới phát triển nhanh, nền kinhtế thế giới đang trong bước chuyển sang kinh tế tri thức và xu thế này cũngkhông còn là vấn đề riêng của các nước phát triển;
3 Hòa bình hợp tác và phát triển là dòng chính, phổ biến của sự pháttriển thế giới kể từ sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, mặc dù vậy, cáccuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vẫn còn có thể xảy ra ở một số nơi,dưới nhiều hình thức khác nhau;
4 Khu vực châu Á - Thái Bình Dương vẫn tiếp tục là khu vực phát triểnnăng động của thế giới, tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong sự thay đổicục diện và trật tự kinh tế quốc tế
Tuy vậy, sau một thập kỷ nhìn lại, bối cảnh khu vực và quốc tế đã thayđổi hết sức nhanh chóng Các xu hướng chung (như đã nêu), về căn bản,vẫn là những động thái chủ yếu của sự phát triển thế giới mặc dù tần suất,phạm vi, hình thức của nó đã rất khác so với 5 năm trước đây Sự phảnứng chính sách chậm chạp của bất kỳ nước nào sẽ là nguyên nhân củaviệc đánh mất cơ hội phát triển và làm gia tăng các nguy cơ rủi ro cóphương hại đến các lợi ích quốc gia Do vậy, theo chúng tôi, cần phải làmrõ các đặc điểm mới của bối cảnh quốc tế và khu vực:
* Phó giáo sư, Tiến siõ, Viện Kinh tế chính trị thế giới Việt Nam.
Trang 16Một là, hệ thống kinh tế thế giới, mặc dù được đẩy mạnh bằng tiến
trình tự do hóa nhằm hướng tới một hệ thống kinh tế đa phương, khôngphân biệt đối xử và không khác biệt trên cơ sở xóa bỏ mọi rào cản (kểcả rào cản thể chế), trên một số phương diện, vẫn còn là một hệ thốngthiếu công bằng Vai trò dẫn dắt và chi phối của hệ thống kinh tế thế giớivẫn thuộc về các nước phát triển nhất, đứng đầu là Mỹ và vì vậy, mọisáng kiến thúc đẩy tiến trình tự do hóa và toàn cầu hóa rốt cuộc vẫn làmang lại nhiều lợi ích hơn cho các nước phát triển Đặc biệt sau cuộc
chiến Irắc, Mỹ đã nổi lên như một tối siêu cường duy nhất, bất chấp công
pháp quốc tế, đã can dự và dính líu vào mọi diễn tiến của tình hình thếgiới, cả về chính trị-quân sự và kinh tế-xã hội Từ các thực tế này, trongkhuôn khổ WTO, vòng đàm phán Doha khó có thể kết thúc vào năm 2005
do các nước bất đồng về thời hạn và lĩnh vực tự do hóa Khắc phục tìnhtrạng này là sự nổi lên của xu hướng ký kết các hiệp định thương mại tự
do song phương Mỹ đã chuyển từ lập trường chỉ ủng hộ cơ chế đa phươngsang ủng hộ cả cơ chế song phương trong tự do hóa thương mại Xu hướngđẩy nhanh các tính toán tay đôi giữa các nước đang phần nào làm yếu đicác nỗ lực liên kết đa phương cũng như vai trò của các định chế đaphương trong quan hệ kinh tế quốc tế Nói cách khác, xu hướng liên kếtkinh tế quốc tế trên nhiều tuyến, nhiều cấp độ, nhiều hình thức đang diễn
ra cùng lúc, đan xen nhau một cách hết sức phức tạp Tuy nhiên, cần phảinhấn mạnh lại là, đặc điểm mới này không phải là sự đi ngược của tiếntrình tự do hóa thương mại toàn cầu bởi vì về nguyên tắc, WTO khôngloại trừ khả năng một quốc gia thành viên có thể tham gia vào một địnhchế kinh tế khác, miễn là điều đó không đi ngược lại các nguyên tắc củahệ thống thương mại đa phương Những hiệu ứng mà chúng tôi vừa nêucần phải được quan tâm trong từng trường hợp cụ thể, nhất là các hiệpđịnh tự do song phương giữa một quốc gia cụ thể với một định chế khuvực nào đó bởi lẽ chính là FTA này sẽ là các “nhân tố”, một mặt, tạo sứcép để các định chế này hội nhập sâu hơn và mặt khác, nếu không xử lýthích hợp, chúng dễ làm cho các nỗ lực chung trong hội nhập nội khốicũng như thế thương lượng cạnh tranh của định chế đó bị suy giảm
Hai là, hòa bình, hợp tác và phát triển là dòng chính, song từng lúc
có thể bị đứt đoạn bởi các làn sóng khủng bố quốc tế và các cuộc chiếnchống chủ nghĩa khủng bố Sau sự kiện 11-9 và các cuộc chiến tranhAfganistan, Irắc, tình hình an ninh chính trị quốc tế đã biến chuyển theomột chiều hướng bất lợi cho sự phát triển Sự hiện diện của chủ nghĩakhủng bố dưới mọi hình thức phản ánh các xung đột về tôn giáo, vănhóa, sắc tộc… và đương nhiên, đằng sau đó là các xung đột lợi ích kinhtế giữa các tập đoàn xuyên quốc gia, giữa nhóm các nước phát triển vàđang phát triển Một khi tình hình an ninh chính trị-xã hội bị đe dọa,niềm tin của các nhà đầu tư và thương mại bị giảm sút, mọi người dâncó xu hướng tích trữ, tiết kiệm thay vì tiêu dùng và đầu tư; các hoạt động
VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ HAI
Trang 17du lịch, dịch vụ thiếu khởi sắc… Như chúng ta đều biết, tiêu dùng vàđầu tư là hai yếu tố chủ yếu tạo động lực cho tăng trưởng nên dưới hiệuứng của bối cảnh quốc tế kể từ sau sự kiện 11-9 và các cuộc chiến chốngkhủng bố quốc tế, các yếu tố này có chiều hướng giảm sút (đến mức cácchương trình kích cầu ở một số nước đã không mang lại kết quả nhưmong đợi) khiến cho nền kinh tế thế giới đã và đang rơi vào một tìnhtrạng tăng trưởng không cao, thậm chí tiếp tục yếu ớt ở một số nước Đólà chưa kể đến các giảm sút kinh tế có tính chu kỳ, hiệu ứng của cáccăn bệnh toàn cầu (như hiệu ứng của bệnh SARS)… đang đặt môi trườngphát triển bền vững của nền kinh tế thế giới trước một loạt vấn đề phảigiải quyết và đương nhiên, phải có sự nỗ lực chung của toàn cầu mới cóthể ngăn chặn được.
Ba là, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là Đông Á và Đông
Nam Á, tiếp tục phát triển năng động song tình hình đã diễn ra phức tạp,khó lường Các tiến trình hợp tác đã biến chuyển trên nhiều tuyến theotheo hướng vừa hội nhập, vừa cạnh tranh giành ảnh hưởng tại khu vựcnày theo các tiếp cận lợi ích đơn biệt của từng quốc gia Trung Quốc saugia nhập WTO đã đi trước một bước so với Nhật Bản và Hàn Quốc khi kýkết hiệp định khung về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốckhiến cho động thái hội nhập của ASEAN đang có những sắc diện mới.ASEAN đang tìm cách để vượt ra sức ép này nhằm khắc phục tình trạnggiảm niềm tin, ít hấp dẫn về đầu tư, thương mại và nâng cao khả năngcạnh tranh với tính cách là một chỉnh thể khu vực Sự hướng mạnh củacác dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc đang là một bất lợiđối với các nước ASEAN, nhất là các nước thuộc tầng kém phát triển trongASEAN - những nước đang rất cần các nguồn lực bên ngoài để hỗ trợ tăngtrưởng và phát triển Các hiệp định thương mại tự do song phương giữaASEAN - Hàn Quốc, ASEAN - Nhật Bản đang được xúc tiến và nếu nhưcác quá trình này diễn ra đúng tiến độ thì liệu, xét từ góc độ địa-kinh tế,ASEAN có bị thay đổi vị trí ưu tiên trong tính toán chiến lược của các nướcbên ngoài? Đó là chưa kể đến việc, trong nội bộ ASEAN, mặc dù đã kýthỏa thuận về Cộng đồng ASEAN, một số nước, nhất là các nước phát triểnhơn như Singapore, Malaysia, Thái Lan… đang có khuynh hướng “vượttrước” về tự do hóa thương mại Các nước này đang đẩy mạnh tiến trìnhký kết các hiệp định thương mại tự do song phương với bên ngoài và thậmchí với nhau Theo đó, cùng với nguyên tắc “đồng thuận” và nguyên tắcASEAN-X, có thể sẽ là không đủ để đáp ứng các yêu cầu của tiến trìnhhội nhập mới của ASEAN Hơn nữa cho dù đã hướng tới cộng đồng kinhtế ASEAN (AEC) triển vọng về hội nhập sâu hơn của ASEAN vẫn đang cónguy cơ ít hiệu quả và rất có thể bị “hòa tan” trong Đông Á một khi ýtưởng về khu vực mậu dịch tự do toàn Đông Á đã manh nha sẽ được thúcđẩy Đây là điều phải cảnh báo sớm để các nước trong ASEAN có phảnứng chính sách thích hợp, nếu không muốn mất đi tính chủ động trong
Trang 18hội nhập kinh tế quốc tế Cũng tại Đông Á, các nước đang buộc phải tínhđến nguy cơ xung đột hạt nhân ở Bắc Triều Tiên; vấn đề Philippin, TháiLan đã trở thành “đồng minh” ngoài NATO của Mỹ bởi lẽ những động tháinày, có thể tạo ra một cân bằng chiến lược giữa các nước lớn, song dùvậy nó cũng là tiềm ẩn những bất ổn về an ninh chính trị và đương nhiêncả an ninh kinh tế trong khu vực Ngoài ra, cũng cần tính đến mầm xuấtphát của bệnh SARS cũng ở khu vực này, dù đã khống chế, song điều gìsẽ còn xảy ra sau sự kiện đó cũng là điều rất cần tiếp tục cảnh báo vớicác nước trong khu vực.
Như vậy, có thể kết luận rằng, kể từ đầu thập kỷ 90 đến nay, tình hìnhquốc tế và khu vực có nhiều thay đổi có lợi cho các nước trong tiếp cậnphát triển, nhất là trong việc thích ứng với tiến trình toàn cầu hóa và hộinhập vào một nền kinh tế thế giới đang từng bước chuyển sang kinh tế trithức Nguồn lực khu vực và quốc tế, nhất là về tài chính, công nghệ và thịtrường, từ các nước phát triển, đang trở thành điều kiện cho sự tăng trưởngcủa các nước đi sau Tuy nhiên, như chúng tôi đã phân tích, các xu hướngphát triển của thế giới, đặc biệt là các động thái mới của tình hình quốctế và khu vực đang tạo ra những tác động phức tạp, khó lường cho cácnước, nhất là trong việc lựa chọn và xác định các trật tự và chính sách ưutiên trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế (bởi các tiến trình liên kếtđang diễn ra nhiều chiều, đa phương và ở dưới nhiều cấp độ đan xennhau) và theo đó, tính tổn thương, các rủi ro của sự phát triển ở các nướccũng rất lớn khi mà sự lệ thuộc vào nhau giữa các quốc gia và khu vực đãtrở nên chặt chẽ hơn bao giờ hết
II TÁC ĐỘNG CỦA BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC ĐẾN AN NINH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM
An ninh kinh tế, như chúng ta đều biết, là một nội dung chủ yếu của
an ninh phi truyền thống được đề cập từ nhiều năm nay do nguy cơ rủi
ro, những hệ lụy dây chuyền diễn ra xuất phát tới sự lệ thuộc lẫn nhaugiữa các quốc gia, khu vực ngày càng chặt chẽ dưới tác động của toàn cầuhóa và hội nhập kinh tế quốc tế Đó là vấn đề ổn định của môi trườngkinh tế vĩ mô; sự an toàn của các dòng hàng hóa – dịch vụ, vốn, côngnghệ, lao động…; vấn đề tăng trưởng nhanh và bền vững… Tất cả nhữngtiêu chí này đã không còn chỉ tùy thuộc vào vai trò chế định của chínhphủ, sự nỗ lực đơn phương của các quốc gia mà là kết quả của “động tháiphối hợp” giữa các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế thế giới: đó là sựtham gia của các định chế kinh tế khu vực, các định chế kinh tế toàn cầu,các tập đoàn xuyên quốc gia, thậm chí các tổ chức phi chính phủ… Dovậy, bất kỳ sự thay đổi nào của các động thái quốc tế và khu vực đều cóảnh hưởng tới các chủ thể này và dĩ nhiên, đến an ninh kinh tế của mọiquốc gia
VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ HAI
Trang 19Việt Nam đang trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướngxã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nên dĩ nhiên, anninh kinh tế đất nước luôn nằm trong hiệu ứng tác động của bối cảnh quốctế và khu vực Mức độ, tần suất của sự tác động sẽ ngày càng gia tăng khichúng ta đã và đang tiến gần hơn đến các thể chế kinh tế toàn cầu Ởđây, chúng ta phải đối mặt với 3 vấn đề:
Một là, trình độ phát triển còn thấp và chất lượng tăng trưởng không
cao giữa nước ta và các nước sẽ là bất lợi cho việc duy trì các điều kiệnổn định phát triển;
Hai là, một nền kinh tế mới chuyển đổi sang kinh tế thị trường, sự phản
ứng của các tầng lớp dễ tổn thương thường rất chậm và yếu trước các thayđổi của bối cảnh bên ngoài;
Ba là, Đảng và Nhà nước có chủ trương đẩy mạnh tăng trưởng, phát
triển và hội nhập kinh tế quốc tế song mức độ sẵn sàng của các chủ thểkinh tế-xã hội (các cơ quan quản lý của nhà nước, các doanh nghiệp vàngười dân) chưa cao
Vậy tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực đến an ninh và pháttriển kinh tế Việt Nam sẽ diễn ra như thế nào?
1 Những tác động tích cực
a Bối cảnh quốc tế và khu vực đã đưa lại nhiều cơ hội thuận lợi choViệt Nam phát triển kinh tế thị trường và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốctế Dưới tác động của các xu hướng và động thái (như phân tích ở trên),Việt Nam đã và đang từng bước gia nhập các thể chế kinh tế khu vực vàtoàn cầu, trong đó quyết tâm đẩy mạnh đàm phán gia nhập WTO vào năm
2005 là cơ hội tốt cho việc đẩy nhanh cải cách trong nước nhằm đạt tớicác mục tiêu do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đề ra, đặc biệt tronglĩnh vực cải cách doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng và phát triển khuvực tư nhân Hội nhập quốc tế là để tạo ra một nền kinh tế cạnh tranhvà mở cửa hơn nữa, tiếp nhận và thực hiện phân bổ hiệu quả nguồn lựcthế giới trên cơ sở phát huy tối đa nguồn lực và lợi thế so sánh của ta.Mặt khác, từ vai trò đã và đang sẽ là thành viên của các định chế khuvực và quốc tế, Việt Nam có điều kiện tận dụng và tạo dựng một môitrường và khung khổ phát triển tốt hơn, tạo vị thế vững chắc hơn trongcác đàm phán quốc tế trên mọi cấp độ Chẳng hạn, chỉ sau khi trở thànhthành viên của WTO, Việt Nam có thể có lợi thế tốt hơn trong ký kết cácFTA song phương với các đối tác khác Đây cũng là điều kiện tiên quyếtmà các nước hiện là thành viên của WTO đặt ra
b Cùng với việc thể hiện các cam kết mạnh mẽ về tự do hóa thươngmại, thông qua hội nhập, Việt Nam có điều kiện để thực hiện tiến trình
Trang 20công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn hiện đại Các nguồn lực cho côngnghiệp hóa về vốn, công nghệ, thị trường và lao động được hình thành mộtcách thuận lợi Thị trường các nước phát triển dưới mọi loại hình trở thànhđiều kiện cho sự tăng trưởng của nền kinh tế nước ta (giống như kinhnghiệm thành công của các nền kinh tế Đông Á trước đây) Cụ thể là:Một là, sự phân công mới của lao động quốc tế trên phạm vi toàn cầuđã tạo điều kiện cho chúng ta có cơ sở và khả năng để tập trung nguồnlực cho phát triển và hiện đại hóa các ngành công nghiệp có lợi thế sosánh (các ngành sử dụng nhiều lao động và tài nguyên) Ví dụ, hiện đạihóa các ngành sử dụng nhiều lao động bằng công nghệ mới thông qua cáckênh chuyển giao và sáng tạo công nghệ từ các nước có trình độ phát triểncao hơn;
Hai là, kinh nghiệm thế giới đã cho chúng ta niềm tin về bước phát
triển rút ngắn đối với tiến trình tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chếtạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu, các sản phẩm hàng hóa hữu hình tứclà mất một số năm ít hơn (dưới 20 năm) cho mục tiêu tăng tỷ lệ này lên90-95%;
Ba là, nhờ các ưu đãi về thuế và phi thuế quan chủ yếu dành cho cácsản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo, việc thực hiện các lộ trình hộinhập cũng là quá trình để tiến hành công nghiệp hóa và theo đó, càng hộinhập nhanh vào các định chế kinh tế khu vực và toàn cầu, tiến trình côngnghiệp hóa càng được đẩy mạnh hơn;
Bốn là, sự xâm nhập của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) dưới nhiềuhình thức đang trở thành nhân tố tích cực cho các quá trình cơ cấu lại đầu
tư, tiếp nhận công nghệ và phát triển thị trường nhằm thích ứng với tiếntrình tự do hóa và phát triển bền vững một khi đây là nhân tố đầu tư khônggây nợ, các doanh nghiệp trong nước trở thành các nhà thầu phụ, các vệtinh cho các tập đoàn TNCs và hơn nữa, đây là kênh để tạo dựng môitrường hỗ trợ cho sự lớn mạnh của các doanh nghiệp trong nước nhằmchống chọi với các sức ép cạnh tranh bên ngoài đang ngày càng trở nênkhốc liệt
c Các quá trình hình thành và hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thịtrường có điều kiện được đẩy mạnh vì bối cảnh quốc tế và khu vực thườngxuyên thay đổi thường không thể chấp nhận sự bất cập, lạc hậu và kémthích ứng của các thể chế kinh tế bên trong Do đó, môi trường pháp luật,các nguyên tắc thị trường, các chế tài điều hành và giám sát nền kinh tếbắt buộc phải được điều chỉnh theo các tiêu chí quốc tế Đây là khâu quantrọng để khôi phục tính cạnh tranh, tăng hấp dẫn của thị trường Việt Nam,giảm rủi ro và tăng tính minh bạch của nền kinh tế Việc hình thành mộthệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu của thông lệ quốc tế, đồngbộ và thống nhất, minh bạch và chính xác trong hướng dẫn thi hành chính
VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ HAI
Trang 21là hệ quả của những sức ép về thay đổi thể chế kinh tế dưới tác động củaquá trình thực hiện các cam kết quốc tế Quá trình này là quá trình liên tụcđổi mới và đảm bảo thích ứng cao với mọi thay đổi của bối cảnh quốc tếvà khu vực Nó đảm bảo khả năng phản ứng chính sách kịp thời, hạn chếđược các cú sốc lớn từ bên ngoài tác động lên nền kinh tế của chúng ta.
2 Hệ quả của sự suy giảm kinh tế Mỹ-Nhật năm 2001 và chính sáchđồng đôla yếu của Mỹ năm 2003 đang làm cho các dấu hiệu phục hồi củanền kinh tế toàn cầu kém vững chắc;
3 Hiệu ứng toàn cầu của bệnh SARS…
Tất cả những sự kiện này đang làm giảm sút niềm tin của các nhà đầu
tư và người tiêu dùng và theo đó, nền kinh tế thế giới tuy đã phục hồi songsẽ chưa vững chắc trong những năm tiếp theo Dĩ nhiên, trong tình hìnhđó, một nền kinh tế hướng về xuất khẩu và dựa một phần đáng kể vàoFDI sẽ chắc chắn gặp khó khăn trong vấn đề tìm kiếm, mở rộng thị trườngvà khai thác các nguồn lực quốc tế Tình hình cũng giống như điều chúng
ta đã thấy là sau khủng hoảng tài chính-tiền tệ châu Á 1997, khi gặp khókhăn về thị trường xuất khẩu và sút giảm đầu tư, tăng trưởng của nền kinhtế nước ta đã không cao và vì vậy, nếu môi trường kinh tế quốc tế tiếp tụcbất ổn, chúng ta khó có thể tăng trưởng nhanh, bền vững để đáp ứng yêucầu phát triển rút ngắn như Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra
b Các xu hướng liên kết kinh tế trên nhiều tuyến, nhiều cấp độ trênthế giới và đặc biệt trong khu vực đang tạo ra nhiều thách thức cho tiếntrình nỗ lực hội nhập chung của ASEAN Các hiệp định thương mại tự dosong phương đang được coi là bước đi quan trọng của hầu hết các nướcvới khu vực kiểu như khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc(ACFTA); với từng nước (như Nhật Bản với Singapore), hoặc giữa các nướcASEAN với nhau (như giữa Thái Lan với Singapore) buộc ASEAN phải thúcđẩy tiến trình hội nhập sâu hơn, và mặt khác, ASEAN cũng sẽ khó khănkhi nếu nhiều nước thành viên ưu tiên mạnh các vấn đề giải quyết tay đôi,họ có thể sẽ làm giảm thế thương lượng và mặc cả của toàn khu vực vớibên ngoài Vấn đề đặt ra là trong những trường hợp đó, nếu chúng ta chỉchú trọng hội nhập vào các hiệp định đa phương (vốn là bước đi khônngoan của các nước kém phát triển để tránh bị các nước phát triển chèn
Trang 22ép) thì liệu chúng ta có mất đi lợi thế và bị đứng ngoài các tính toán songphương đã trở nên hết sức phổ biến hay không? Điều có thể thấy rõ là donhững động thái này, sức ép cạnh tranh đang dồn đẩy lên vai các nướcnghèo trong ASEAN Chúng ta sẽ gặp khó khăn trong cạnh tranh xuất khẩu.Hơn nữa, với việc gia nhập WTO và ký kết ACFTA, các dòng đầu tư trựctiếp nước ngoài đang hướng mạnh vào Trung Quốc (năm 2002, FDI vàoTrung Quốc đứng đầu thế giới với 52 tỷ USD và năm 2003, mặc dù bị hiệuứng bệnh SARS, FDI vào Trung Quốc vẫn đạt 43 tỷ USD) và theo đó, dòngFDI vào Việt Nam không mạnh như trước (mặc dù chúng ta đã cải thiệnmạnh mẽ môi trường đầu tư) và điều này sẽ gây nên nhiều khó khăn chosự tăng trưởng ổn định của Việt Nam Đây có thể coi là một động thái mớicủa khu vực có ảnh hưởng đáng kể đến an ninh phát triển kinh tế củachúng ta.
c Hệ thống kinh tế thế giới, như chúng tôi đã nêu ở trên, vẫn là mộthệ thống có một số mặt chưa công bằng, mặc dù các yêu cầu đặt ra chocác nước là dỡ bỏ các rào cản về thuế quan, phi thuế quan, về đối xử quốcgia, về thể chế… Trong tiến trình này, các nước phát triển sẽ tiến tới phảiloại bỏ mọi ưu đãi dành cho các nước kém phát triển như: hạn ngạch, GSPvà các ưu đãi khác Vẫn biết, đối với các nền kinh tế có khả năng cạnhtranh, các dỡ bỏ này là hết sức quan trọng và cần thiết cho sự phát triểncủa họ Song với các nước kém phát triển thì tình hình lại khác Lâu nay,để xuất khẩu sang thị trường các nước phát triển, họ phải dựa chủ yếu vàocác ưu đãi đó và việc phải đối mặt với sự xóa bỏ này trong một thời giantương đối ngắn sẽ là một thách thức vô cùng lớn cho hoạt động xuất khẩunói riêng, cho phát triển kinh tế-xã hội nói chung Đây cũng là một tácđộng mà chúng ta buộc phải sẵn sàng chuẩn bị sớm để tránh những cúsốc không đáng có cho nền kinh tế
- Kinh tế, chính trị, an ninh cùng các hệ thống an sinh xã hội, môitrường sinh thái trong điều kiện ngày nay đã xoắn bện chặt chẽ với nhau.Trong bối cảnh đó, các tầng lớp dễ tổn thương trong xã hội luôn là nhữngnhóm bất lợi trong toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Vì vậy, phảithấy được các đổ vỡ, bất ổn từ trong các khía cạnh xã hội của sự phát triển,nhất là các cú sốc từ bên ngoài, rất dễ xảy ra trong hệ thống kinh tế thếgiới hiện nay, sẽ tác động mạnh đến các nhóm “yếu thế”, đặc biệt là trongkhu vực nông nghiệp và nông thôn, các vùng sâu, vùng xa Điều đó cũngcó nghĩa là, việc thiết định các chính sách xã hội, chính sách quản lý sựphát triển ở các địa phương phải luôn tính đến các thay đổi thường xuyêncủa bối cảnh quốc tế và khu vực
Việt Nam có lợi thế là tăng trưởng và phát triển trong môi trường chínhtrị-xã hội ổn định Tuy vậy, những bất ổn của khu vực với các động thái:vấn đề hạt nhân như Bắc Triều Tiên; Philippin và Thái Lan trở thành đồngminh ngoài NATO của Mỹ; các bất ổn về tôn giáo, dân tộc… ở một số nước
VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ HAI
Trang 23trong khu vực… sẽ có tác động nhất định đến phát triển của chúng ta với
tư cách là thành viên của ASEAN và là một quốc gia thuộc khu vực ĐôngNam Á Bất ổn định môi trường phát triển của một nước sẽ tùy thuộc đángkể vào môi trường và động thái của mọi nước trong toàn khu vực Hiệuứng của các căng thẳng này sẽ chắc chắn làm giảm sút niềm tin và tínhtích cực của các nhà hoạt động đầu tư và thương mại quốc tế đối với khuvực Đó là chưa kể, hơn 40% đầu tư vào Việt Nam là đến từ các nước trongkhu vực Đông và Đông Nam Á, chắc chắn sẽ bị đình trệ, nếu các căngthẳng và xung đột trong khu vực tiếp tục bị kích đẩy Mặc dù vậy, về khíacạnh này, cũng cần cảnh giác với các quan điểm của các thế lực bên ngoàithổi phồng quá mức tình hình căng thẳng trong khu vực
III MỘT VÀI ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC CHO VIỆT NAM
Với bối cảnh quốc tế và khu vực diễn biến phức tạp, khó lường nhưphân tích ở trên, Việt Nam phải luôn tỉnh táo, cập nhật, để có nhữngquyết sách phù hợp
Thứ nhất, trong các động thái thay đổi của bối cảnh quốc tế và khu
vực, chúng ta cần lưu ý phân tích sự điều chỉnh chiến lược của các nướcphát triển và các nước lớn
Thứ hai, luôn đứng vững trên góc nhìn của một nước đang phát triển,
đi sau để tiếp cận các cơ hội và thách thức của sự phát triển, nghĩa là phảidựa vào các định chế khu vực và quốc tế (mà chúng ta đã, đang và sẽ làthành viên chính thức) để tạo thế và lực cho Việt Nam khi giải quyết cácvấn đề phát triển bên trong như đóng góp vào các tiến trình phát triểntoàn cầu Điều này còn giúp để tránh được các áp đặt, các sức ép vô lý từcác nước lớn
Theo đó, chúng tôi có 3 đề xuất về giải pháp chiến lược:
Một là, coi việc đẩy mạnh tiến trình gia nhập WTO vào đầu năm 2005
đã được Việt Nam khẳng định như một giải pháp đột phá để thực hiện cảicách toàn diện nền kinh tế đất nước (vì theo yêu cầu của các nguyên tắcWTO, chúng ta phải cải cách cả về cơ cấu, về cơ chế chính sách và cácthể chế kinh tế, về năng lực cạnh tranh của quốc gia…) và với việc thamgia WTO, chúng ta có hẳn một “câu lạc bộ toàn cầu” để thương lượng, đốithoại và đảm bảo được các lợi ích của mình trong quan hệ song phươngvới các đối tác khu vực và quốc tế khác nhau Kinh nghiệm cho thấy,nguồn lực và sức ép hội nhập chống được các tư duy ỷ lại, lùi bước, thiếusẵn sàng và đẩy nhanh việc thực hiện các cam kết quốc tế Công việc nàybắt đầu từ cam kết chung, nhất quán để sau đó hướng dẫn các bộ, ngành,địa phương triển khai thực hiện chứ không phải ngược lại Cần thể hiệnquan điểm đặt lợi ích quốc gia lên trên hết chứ không thể chờ đợi, tìmtiếng nói đồng thuận thường khó khăn từ các quan hệ lợi ích cục bộ vốn
Trang 24khác biệt và phân tán Một khi các cam kết quốc tế được thực hiện (đócũng là điều bình thường) thì các mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vữngvà chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn của chúng ta sẽ đượcthực hiện một cách thắng lợi Chúng tôi cho rằng, sau khi trở thành thànhviên WTO, Việt Nam hoàn toàn có đủ điều kiện để thuyết phục, đàm phánvà ký kết các FTA song phương với các nước lớn và các nước phát triển.
Hai là, cùng với tiến trình gia nhập WTO, để thích ứng và thụ hưởng
các lợi ích do xu hướng hình thành các hiệp định tư do thương mại songphương đã trở nên phổ biến, rộng khắp trên nhiều cấp độ, Việt Nam khôngthể đứng ngoài và cần chủ động chuẩn bị tính toán lựa chọn những đốitác phù hợp để tiến tới đàm phán ký kết các hiệp định tự do thương mạisong phương Dĩ nhiên, khi tiến hành công việc này cần phải đảm bảonguyên tắc không đi ngược lại các quy định của WTO
Ba là, thực hiện an ninh cho sự phát triển, giảm thiểu rủi ro và hạn chế
tính tổn thương cho nền kinh tế không thể không tính đến các động tháichính trị và an ninh truyền thống Phải thường xuyên chú ý đến ý đồ củacác nước lớn – vốn đang giữ vai trò dẫn dắt các tiến trình phát triển quốctế, khi họ thường áp đặt các điều kiện bất lợi cho các nước kém phát triểnhơn Cần phải tính đến vai trò tối siêu cường của Mỹ từ sau cuộc chiếntranh Irắc để có những chính sách thích hợp với họ: dứt khoát rõ ràng trongcác phản ứng chính sách về chính trị, nhân quyền và phải mềm dẻo, linhhoạt trong các phản ứng về kinh tế Chẳng hạn, nên giải quyết các vấn đềkinh tế trên các nguyên tắc về giải quyết tranh chấp của WTO và trên cácđiều khoản đã ký kết trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ Cầnphải tính đến vai trò và ảnh hưởng của Nhật Bản với những định hướng
ưu tiên phát triển cho các nước thành viên mới trong ASEAN để có thể kýkết các hiệp định kinh tế song phương với Nhật Bản Với Trung Quốc, cầnnhìn nhận rõ hơn những bất lợi về cạnh tranh xuất khẩu và thu hút FDI
do tính hấp dẫn nhiều mặt của nhân tố này Mặc dù vậy, cần có “độngthái phối hợp” tốt và thích ứng với Trung Quốc để tranh thủ vị thế củaquốc gia này trong tiếp cận thị trường Trung Quốc và các thị trường khuvực khác vì sự phát triển của chúng ta Ở đây, theo chúng tôi, cần nhìnnhận rõ hơn vai trò của hợp tác Đông Á với sự nổi lên của nhân tố TrungQuốc và vị trí hàng đầu của nền kinh tế Nhật Bản Người ta đang dự đoántới một Cộng đồng kinh tế Đông Á nay mai và nguy cơ liên kết ASEAN cóthể sẽ bị lôi cuốn vào cộng đồng này Theo đó, Việt Nam cũng như cácnước ASEAN cần nỗ lực để đẩy mạnh AEC vì một tầm nhìn ASEAN 2020nhằm củng cố và nâng cao thế thương lượng cạnh tranh của ASEAN trêntrường quốc tế, bắt buộc các nước lớn phải tính đến ASEAN trong chiếnlược và chính sách phát triển của họ
Với tất cả các nỗ lực cải cách và phát triển mà Đại hội Đảng toàn quốclần thứ IX đã xác định, chúng ta cần tiếp tục rà soát và điều chỉnh cho
VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ HAI
Trang 25phù hợp với tình hình mới của đất nước cũng như của bối cảnh quốc tếvà khu vực Những giải pháp chiến lược cơ bản của Đại hội Đảng toànquốc lần thứ IX cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị Với 3 giải pháp độtphá của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, các đề xuất trên đây là mộtsự cụ thể hóa cần thiết cho tiến trình tăng trưởng nhanh, hiệu quả và bềnvững của Việt Nam nhằm thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 An ninh kinh tế ở ASEAN và vai trò của Nhật Bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001.
2 Tài liệu: Tiến tới cộng đồng kinh tế ASEAN, ASEAN Secretariat, 4-2003.
3 Michael G Plummer, Sự thay đổi cơ cấu của một châu Á được Toàn cầu hóa, Journal
of Asian Economics, 2-2003.
4 Eng Chuan Ong, Khu vực mậu dịch tự do Đông Á “đặt neo” vào ASEAN, The
Washington Quarterly, Sping 2003.
5 Vương Trấn Ninh, Hợp tác thương mại tự do khu vực và song phương của Mỹ, Tạp
chí “Liêu Vọng” (Trung Quốc) số 33, 8-2003.
6 Báo cáo thông tin chuyên đề của Tổ nghiên cứu kinh tế đối ngoại của Thủ tướng sau chuyến đi nghiên cứu 3 nước Singapore, Malaysia, Thái Lan.
7 Các bản tin nội bộ hàng tháng, “Hội nhập và phát triển” của Ủy ban Quốc gia về
hợp tác kinh tế quốc tế, 2003.
Trang 26SỰ BIẾN ĐỔI CƠ CẤU TỔ CHỨC
KINH TẾ VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM
CỦA NÔNG DÂN TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Shitara Sumiko*
I GIỚI THIỆU
Trong quá trình đổi mới kinh tế của Việt Nam, tình hình nông nghiệpViệt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Số lượng nông sản tăng lênvà chủng loại nông sản cũng được đa dạng hóa
Nhưng hiện nay đa số nông dân vẫn còn nghèo và không được hưởngđúng lợi ích của sự phát triển của nông nghiệp Việt Nam nói chung Vídụ như nông dân ở đồng bằng sông Hồng, mật độ dân số cao nhưng diệntích đất đai ít, vì vậy tốc độ phát triển nông nghiệp vẫn còn có nhiềuhạn chế Mức sống của bà con nông dân cũng không thể nào tăng lênđược Với một nước có trên 70% dân số ở nông thôn thì việc suy nghĩtìm biện pháp làm thế nào để nâng cao mức sống của nông dân có ýnghĩa to lớn
Một lý do làm cho đời sống nông dân vẫn còn thấp là vì thiếu một tổchức tiêu thụ sản phẩm cho họ Vì thế, thứ nhất, nông dân phải tự lo việc
đi bán sản phẩm của mình Thứ hai, ít nông dân nắm được xu hướng thịtrường Nói tóm lại, cấu trúc nối người sản xuất và người tiêu dùng chưađược hình thành hoặc nếu có thì vẫn kém hiệu quả Chính vì vậy, mặc dùđiều kiện sản xuất như là hệ thống nước, vật liệu nông nghiệp (phân bón,hạt giống), kỹ thuật sản xuất đã tiến bộ, nhưng điều đó chưa cải thiện đượcthu nhập của nông dân
Căn cứ những điều nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu xem xétvai trò của tổ chức tiêu thụ sản phẩm của nông dân và xem xét ảnh hưởngcủa tổ chức đó trong việc giúp bà con nông dân sản xuất được những sảnphẩm đáp ứng đúng nhu cầu thị trường
* Nghiên cứu sinh, Đại học Hitotsubashi, Nhật Bản.
Trang 27II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa nông dân và thị trường ở khuvực Đông Nam Á, chúng tôi thấy có hai ý kiến trái ngược nhau Một bênlà ý kiến của Geertz cho rằng trong quá trình thương mại hóa nông nghiệp
ở Indonesia, nông dân ở làng xã bị lùi đẩy và người đô thị sẽ chiếm lĩnhthị trường thương mại [Geertz 1963] Theo lý luận của Geertz, không thể cóngười đứng lên để xây dựng tổ chức trong phạm vi làng xã nên nông dânkhông có quyền để quyết định giá sản phẩm của mình và luôn luôn bị tưthương lớn mua rẻ sản phẩm
Còn Hayami và Kawagoe cho rằng, có một thực tế khác cũng ở Indonesialà trong quá trình thương mại hóa nông nghiệp, nông dân vẫn có thể đi buônbán hoặc chế biến sản phẩm của mình Họ xây dựng tổ chức thành từng lớpngười thu gom sản phẩm nông nghiệp trong làng, tư thương nối các làng,người buôn lớn để phân công từng lớp Và do có cơ cấu cạnh tranh thị trườngnày nên thậm chí tư thương lớn không thể nào nhận quá nhiều lợi nhuận[Hayami và Kawagoe 1993]
Trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi muốn tìm hiểu về vấn đềnày ở Việt Nam, để biết hình thức nào trong hai hình thức nêu trên sẽ phùhợp với Việt Nam Và chúng tôi thấy rằng, đáng chú ý là ở Việt Nam cóthể có khả năng phát triển một hình thức khác với hai hình thức nêu trên
vì có nhiều kiểu hợp tác xã (HTX) mới mọc lên ở nhiều nơi khác nhautheo luật HTX năm 1997 và các HTX này cũng tham gia vào các hoạt độngbuôn bán Thực tế là trong công trình nghiên cứu của Hayami và Kawagoecũng không giải thích với điều kiện nào và như thế nào thì nông dân cóthể xây dựng được tổ chức tiêu thụ sản phẩm của mình Vì vậy, chúng tôinghiên cứu thực tế ở hai xã cụ thể và những điều kiện khác biệt của từngxã có tác động như thế nào đến tổ chức kinh tế để tiêu thụ sản phẩm củanông dân
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu và điều tra ở hai xã sản xuất rau antoàn (rau sạch) ở ngoại thành Hà Nội
Lý do tại sao chúng tôi lại chọn xã sản xuất rau an toàn là vì: Có một báocáo là rau an toàn chỉ chiếm 5 % thị trường rau Hà Nội vì người tiêu dùngkhông phân biệt được đây có phải là an toàn hay không nếu chỉ nhìn bênngoài Cho nên người tiêu dùng cũng ngại bỏ ra nhiều tiền hơn để mua rau
an toàn Rau an toàn là một sản phẩm có khả năng phát triển nhiều hơn nữanếu có một tổ chức tiêu thụ hợp lý và tiện lợi hơn Vì vậy rau an toàn sẽ làđối tượng nghiên cứu phù hợp với việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm của nôngdân Tổ chức này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến việc bà con nông dân sảnxuất được những sản phẩm phù hợp với thị trường
Trang 28Hai xã chúng tôi nghiên cứu thực tế có điều kiện giống nhau về mặttự nhiên, địa lý và xã hội Đó là xã Vân Nội, huyện Đông Anh, (thành phốHà Nội) và xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, (thành phố Hà Nội) Điều kiệngiống nhau thứ nhất là hai xã đều cách trung tâm Hà Nội 17 km, thuận lợicho việc tiếp cận thị trường Hà Nội Thứ hai, hai xã đều có đất đai phùhợp với sản xuất rau và có tiếng về kinh nghiệm sản xuất rau từ lâu Vìthế khi Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội có dự án rau an toàn năm
1995, hai xã đều được chọn để thực hiện mô hình sản xuất này Thứ ba,HTX kiểu cũ (tức là HTX từ thời kỳ bao cấp) hiện nay vẫn còn tồn tại ởhai xã này và có tên gọi là HTX dịch vụ nông nghiệp Hai xã có điều kiệngiống nhau như thế này, nhưng xã Vân Nội thì chiếm được thị trường củarau an toàn ở Hà Nội, còn xã Văn Đức thì không thành công Thông quađiều tra chúng tôi đã tìm hiểu lý do tại sao một bên thì thành công cònmột bên thì không thành công?
Thời gian thực hiện điều tra là từ tháng 10 đến tháng 11-2003 Chúngtôi phỏng vấn các cán bộ của xã và HTX, đồng thời chọn ra một thôn trongxã và phỏng vấn 50 hộ gia đình từng xã, tổng cộng là 100 hộ Đối tượngphỏng vấn được chọn ngẫu nhiên trong danh sách hộ khẩu của xã
Sau đây là một số nhận xét của chúng tôi
IV HOẠT ĐỘNG CỦA HTX KIỂU MỚI
Đến bây giờ xã Vân Nội đã thành lập 12 HTX kiểu mới chuyên tiêu thụrau an toàn trên địa bàn Còn xã Văn Đức thì chưa có ai đứng lên để thànhlập HTX tiêu thụ rau an toàn
Vậy HTX kiểu mới của xã Vân Nội có hình thức và hoạt động như thếnào? Chúng tôi thấy ở đây quy mô tổ chức nhỏ, số xã viên từ 7 đến 25người Quan hệ giữa các xã viên trong một HTX chủ yếu là họ hàng hoặcngười hàng xóm trong làng Xã viên cũng thường xuyên mua sản phẩm củanhững người khác Vì người bán rau cho các xã viên HTX đều là họ hànghay hàng xóm trong làng nên xã viên HTX có thể thường xuyên giám sátchất lượng rau và có thể giữ được chi phí trao đổi thấp HTX ký hợp đồngtrực tiếp với các cửa hàng, siêu thị, nhà hàng, bếp ăn tập thể (như là trườngmầm non và trường học, xí nghiệp) để bán rau cho họ thường xuyên Bêncạnh đó họ cũng tự đi bán lẻ ở các quầy hàng trong chợ không qua ngườitrung gian
Một ưu điểm rất quan trọng của tổ chức HTX là có con dấu chính thứctrong hồ sơ Khi xã viên đi tiếp thị họ mang giấy giới thiệu của Ủy ban xã,huyện, HTX đã được đóng dấu chính thức để các đơn vị dễ chấp nhận rau
an toàn do họ sản xuất Khi họ bán rau, họ hay đóng vào bao nilông đãđược in tên HTX Cán bộ HTX đều nói nếu cá nhân đi tiếp thị thì sẽ gặpnhiều khó khăn, nhưng tổ chức mà nhà nước đã công nhận thì đi tiếp thị
VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ HAI
Trang 29thuận lợi hơn nhiều Một ưu điểm khác nữa là tổ chức HTX được sự hỗ trợvà đầu tư của nhà nước và các cơ quan Ví dụ, đầu tư cho việc xây nhàlưới, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, v.v HTX có điều kiện thuận lợi từcả đầu vào đến đầu ra
Còn xã Văn Đức thì HTX kiểu mới chưa được hình thành Nông dân ởxã Văn Đức cũng sản xuất rau an toàn theo nguyên tắc sản xuất rau antoàn và cũng được hỗ trợ nhưng không đáng kể
Sự tồn tại của HTX kiểu mới rõ ràng có ảnh hưởng đến biện pháp tiêuthụ sản phẩm của nông dân một cách rõ rệt Theo điều tra hộ gia đình củaxã Vân Nội thì nông dân tiêu thụ rau của mình thông qua HTX chiếm 80%,bán ở chợ địa phương (gồm cả chợ rau an toàn ở địa phương) chiếm 20%.Nói tóm lại, ở xã Vân Nội, nông dân nói chung không phải lo về đầu ra sảnphẩm của mình, bảo đảm giá cả tương đối ổn định và thành công, tiêu thụđược theo giá rau an toàn Đồng thời xã viên HTX nắm bắt thị trường nhanhđể đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng qua việc tiếp thị và trực tiếp traođổi với khách hàng Cho nên nông dân xã Vân Nội trồng nhiều rau và cácloại đa dạng gồm cả các loại rau cao cấp
Còn xã Văn Đức vì không có HTX kiểu mới nên nông dân ở đây chủyếu bán rau ở chợ đêm, chợ buôn như chợ Bắc Qua, chợ Ngã Tư Sở, v.v Nông dân nhiều khi đi từ 7 giờ chiều, thức cả đêm bán rau đến 7 giờ sángmới về nhà Nông dân cũng bán cho tư thương trong làng để buôn đi miềnNam, miền Trung Nói tóm lại là họ phải tự lo đầu ra sản phẩm của mình,họ đã sản xuất rau an toàn theo đúng nguyên tắc nhưng lại không thể tiêuthụ được theo giá rau an toàn vì không có tổ chức để tiêu thụ Nhiều khinông dân trồng một số loại rau cố định vì tư thương trong làng này hay mualoại ấy và đôi khi họ cung cấp hạt giống của nó Cho nên chủng loại rautrồng ở xã Văn Đức không đa dạng như xã Vân Nội
V YẾU TỐ CHẾ ĐỘ ĐỊA PHƯƠNG
Mặc dù hai xã có nhiều điểm giống nhau nhưng tại sao có hiện tượngkhác nhau về sự phát triển của rau an toàn đến như vậy? Điều tra cho thấy,chế độ, các điều kiện về chức năng của đơn vị hành chính ở hai xã cónhiều điểm khác nhau Thứ nhất, Ủy ban xã đã xây dựng được mối quanhệ rộng rãi với các đơn vị ngoài xã Vì dự án rau an toàn phải được thựchiện với sự tham gia của các cơ quan trung ương nên nếu Ủy ban xã tiếpcận nhanh và rộng rãi thì sẽ có thể thu được các nguồn hỗ trợ Như xãVân Nội, cán bộ xã tổ chức triển lãm, hội thảo và mời các đơn vị tham giađể học tập kỹ thuật sản xuất đồng thời quảng cáo rau của mình Các hoạtđộng như vậy nâng cao uy tín rau an toàn của xã Vân Nội nên được cấpủy Đảng và các phương tiện truyền thông đại chúng quan tâm đến Điềuđó có rất nhiều hiệu quả để kêu gọi hỗ trợ và để quảng cáo, còn xã VănĐức thì Ủy ban xã không có được quan hệ rộng rãi như xã Vân Nội
Trang 30Thứ hai, việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, ví dụ như khi mộtngười đứng lên làm các thủ tục để tổ chức HTX, người đó được sự giúpđỡ của chính quyền địa phương và chính quyền cố gắng thực hiện cáccông việc vì lợi ích của dân Như Ủy ban nhân dân xã Vân Nội, khi sánglập viên làm thủ tục để thành lập một HTX, Ủy ban nhân dân xã đóngvai trò cố vấn, tạo điều kiện cho họ hoạt động
Thứ ba, qui mô và hoạt động của HTX cũ trong xã Hai xã đều có HTXcũ từ thời kỳ bao cấp đã chuyển sang HTX dịch vụ nông nghiệp Bên xãVân Nội, HTX dịch vụ nông nghiệp đã được chia theo các thôn Họ hầunhư không hoạt động nữa, thậm chí ở một thôn việc cung cấp nước thủylợi cũng đã bị ngừng lại Có thể ở xã Vân Nội, coi như là HTX tiêu thụ rauthay thế cho HTX cũ Còn ở xã Văn Đức, HTX dịch vụ nông nghiệp hoạtđộng ở phạm vi cấp xã mà không chia theo thôn Họ chủ yếu cung cấpnước thủy lợi, các thông tin kỹ thuật cho nông dân nhưng họ không tìm ranơi tiêu thụ cho rau an toàn Ở đây, HTX dịch vụ nông nghiệp vẫn cònduy trì vị trí của nó
VI KẾT LUẬN
Với điều kiện như thế nào thì nông dân có thể xây dựng được tổ chứctiêu thụ sản phẩm của mình? Lý do quyết định sự thành công của việc tiêuthụ sản phẩm và xây dựng được HTX kiểu mới phụ thuộc vào chức năng củađơn vị hành chính: một là ủy ban xã có quan hệ rộng rãi với các đơn vịngoài xã hay không; hai là có thực hiện quy chế dân chủ cơ sở hay không;
ba là vai trò của cán bộ HTX kiểu cũ cấp xã như thế nào Các chế độ cấpxã như thế này rất quan trọng đối với việc giúp bà con nông dân xây dựngtổ chức để đảm bảo thị trường sản phẩm của mình
Sự phát triển hoạt động của HTX kiểu mới như chúng tôi đã nói trêncó thể là trái ngược của lý luận Geertz, nhưng lại phù hợp với thực tếmà Hayami và Kawagoe đã nói Nhưng hình thức của Việt Nam có điểmkhác với mô hình ở Indonesia mà hai ông này đã nêu ra vì HTX ViệtNam không phải là tổ chức chia theo từng lớp mà là tổ chức bình đẳng,nằm ngang
Thông qua điều tra, chúng tôi thấy rằng, HTX mới làm ăn có hiệu quả.Họ hoạt động bằng chi phí trao đổi thấp và có thể khắc phục được tìnhtrạng độc quyền của tư thương Nhưng điều đó không phải có nghĩa là hìnhthức HTX kiểu mới hiện nay không có vấn đề gì cả Ví dụ như HTX kiểumới bây giờ coi như là nơi tập trung của tư thương, tức là xã viên hoạtđộng theo cá nhân, không khác với công ty trách nhiệm hữu hạn vốn chỉnhằm lợi nhuận của riêng mình Vì thế chúng tôi cũng ngờ rằng, liệu hìnhthức này có thể bảo đảm sự an toàn cho người tiêu dùng hay không Vànếu HTX mới thay thế hoàn toàn HTX cũ thì có khả năng là chức năng
VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ HAI
Trang 31thực hiện phúc lợi xã hội cho cộng đồng của HTX cũ duy trì sẽ dần dần
bị xóa bỏ
Tuy HTX kiểu mới của Việt Nam còn có nhiều vấn đề về kinh tế tậpthể và kinh tế cá nhân, nhưng hiện nay đây là mô hình có hiệu quả đểtiêu thụ sản phẩm, một yếu tố rất quan trọng để đảm bảo cuộc sống củanông dân
Trên đây là những nhận xét ban đầu của chúng tôi, sẽ được kiểmnghiệm thêm trong những nghiên cứu tiếp theo
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đào Thế Tuấn (chủ biên) 1995, Khảo sát các hình thức tổ chức hợp tác của nông
thôn nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2 Geertz Clifford 1963, Peddlers and Princes, The University of Chicago Press
3 Hayami Yujiro và Kawagoe Toshihiko 1993, The Agrarian Origins of Commerce and
Industry, New York: St Martin’s Press
4 Ho Thanh Son và Bui Thi Thai (Agrarian Systems Department Vietnam Institute of
Agricultural Science), Paule Moustier(CIRAD) 2003 Strategies of Stakeholders in
Vegetable Commodity Chain Supplying Hanoi Market, FSP Project 2000-56, SUSPER :
Sustainable development of peri-urban agriculture in South-East Asia?Kingdom of Cambodia, Lao PDR, Vietnam RS, Hanoi, RIFAV.
Trang 32NHỮNG MŨI ĐỘT PHÁ VỀ KINH TẾ
TRƯỚC ĐỔI MỚI
Đỗ Hoài Nam* Đặng Phong**
Đối với Việt Nam, giới nghiên cứu thường coi năm 1986 với Đại hộiĐảng lần thứ VI là thời điểm bắt đầu công cuộc đổi mới Trong thực tế,trước đó nhiều năm, nhất là những năm từ 1979 đến 1985, đã có rất nhiềumũi đột phá đầy mưu trí, sáng tạo, nhằm tháo gỡ nhiều ách tắc của cơ chếkinh tế cũ, mà nếu không có những bước đột phá thành công đó, khó cóthể nói đến những thắng lợi ngoạn mục của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam.Đó chính là bước chuẩn bị rất quan trọng cho công cuộc đổi mới, đócũng có thể là một trong những nét độc đáo trong lộ trình chuyển đổikinh tế ở Việt Nam
I MÔ HÌNH KINH TẾ CỔ ĐIỂN, NHỮNG VƯỚNG MẮC VÀ NHỮNG THỬ THÁCH THÁO GỠ Ở MIỀN BẮC TRƯỚC 1957
Nói đến đột phá, trước hết cần trả lời câu hỏi: đột phá vào cái gì?Thời kỳ đó, chúng ta thường không gọi là đột phá, mà gọi là “phá rào”.Vậy hàng rào là những gì? Đó chính là những thể chế, những nguyên tắccủa mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa (XHCN) cũ Mô hình này được hìnhthành ở Liên Xô, sau đó được áp dụng tại hầu hết các nước XHCN, trongđó có Việt Nam
Trong nhiều thập kỷ qua, vẫn có sự ngộ nhận rằng mô hình đó là môhình của Mác và Lênin Thực ra cả Mác lẫn Lênin chưa đưa ra một bảnthiết kế cụ thể nào, càng không có những áp đặt cứng nhắc như vậy Mácvà Lênin có nêu lên một số ý tưởng về chủ nghĩa xã hội, nhưng bao giờcũng lưu ý đến những điều kiện lịch sử để thực hiện ý tưởng đó, và cũngnhìn sự vật theo một không gian nhiều chiều
Mác đã từng nói: “Kẻ đi trước đoạt đến lượt hắn phải bị tước đoạt”.Nhưng chính Mác cũng nói rằng: “Không một chế độ xã hội nào lại diệt
* Giáo sư, Tiến siõ, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
** Viện Kinh te.á Việt Nam
Trang 33vong khi tất cả những lực lượng sản xuất mà chế độ đó tạo địa bàn đầyđủ cho phát triển, vẫn còn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuấtmới, cao hơn, không bao giờ xuất hiện khi những điều kiện tồn tại vật chấtcủa những quan hệ đó còn chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ.Cho nên, nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình những nhiệm vụ mànó có thể giải quyết được”(1).
Còn Lênin, vào thời kỳ các nước XHCN đang ra sức xây dựng mô hìnhkinh tế Liên Xô, thì đâu đâu cũng thấy nhắc đến câu của Lênin: “Sản xuấthàng hóa nhỏ từng ngày từng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản” Nhưng có vì thếmà cho rằng Lênin chủ trương xóa bỏ ngay kinh tế tư nhân, kinh tế thịtrường không? Thực ra, nếu đọc kỹ những gì mà Lênin đã viết vào giai đoạn1921-1923, thấy hình như tư duy của Lênin về cả chủ nghĩa xã hội lẫn chủnghĩa tư bản không đơn giản và cực đoan như vậy:
“Trong khi đã làm xong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa rồi, chúngtôi vẫn… ý thức rằng tốt hơn là nên trước hết hãy thực hiện chủ nghĩa tưbản nhà nước, để rồi sau đó đi đến chủ nghĩa xã hội”(2)
“Các nước còn lạc hậu như các nước ở phương Đông…và chúng ta nữa,chúng ta cũng chưa đủ văn minh để có thể trực tiếp chuyển lên chủ nghĩaxã hội, tuy chúng ta đã có được những tiền đề chính trị về mặt đó”(3)
“Không được làm cho nông dân đâm ra phẫn nộ bằng cách biến côngcuộc hợp tác hóa thành một trò chơi ngu ngốc”(4)
“Xét cả về mặt lý luận lẫn về mặt thực tiễn, trong điều kiện một nềnkinh tế tiểu nông là lại đem thực hiẹân ngay lập tức chủ nghĩa cộng sảntoàn vẹn là hết sức sai lầm…Đối với tất cả các nước có nền kinh tế tiểunông đều là như vậy”(5)
“Không thể đưa ngay vào nông thôn những tư tưởng cộng sản chủ nghĩamột cách vô điều kiện Chừng nào chúng ta còn chưa có một cơ sở vật chất
ở nông thôn cho chủ nghĩa cộng sản, thì làm như thế có thể nói là mộtviệc có hại, một việc nguy hiểm cho chủ nghĩa cộng sản”(6)
“Nếu nông dân cần được tự do buôn bán trong những điều kiện hiệntại và trong những phạm vi nhất định, thì chúng ta phải để cho họ đượctự do buôn bán”(7)
“Nếu có thể dùng cách xung phong mà chiếm lĩnh được trận địa kinhtế của chủ nghĩa tư bản thì thật dễ chịu hơn nhiều Sai lầm hiện nay chínhlà ở chỗ chúng ta không muốn hiểu rằng nhất thiết phải hành động mộtcách khác”(8)
“Không đập tan cái cơ cấu kinh tế và xã hội cũ, tức là thương nghiệp,công nghiệp và chủ nghĩa tư bản, mà phải chấn hưng thương nghiệp, côngnghiệp và chủ nghĩa tư bản… Nhà nước điều tiết những thứ đó, nhưng chỉtrong chừng mực làm cho chúng được chấn hưng…”(9)
Trang 34“Giám sát nghiêm ngặt sự họat động của các nhà công thương nghiệp
tư doanh, nhưng không được làm trở ngại chút nào cho sự hoạt độngcủa họ”(10)
“ Sống trong bầy lang sói thì phải gào thét lên như lang sói Còn việctiêu diệt bọn lang sói…thì chúng ta hãy nắm vững câu tục ngữ khôn ngoancủa Nga đã: Đừng vội khoe khoang khi ra trận, hãy đợi đến khi thắng trậntrở về…”(11)
“Bọn tư bản hoạt động theo lối kẻ cướp Chúng thu được nhiều lợinhuận, nhưng chúng biết cách cung cấp cho dân chúng Còn các anh, cácanh có biết làm việc đó không? Không! Các anh đang thử thách nhữngphương pháp mới: Lời lãi thì các anh không thu được Nguyên lý của cácanh là những nguyên lý cộng sản Lý tưởng của các anh thì tuyệt diệu Tómlại, nếu cứ nghe như lời các anh nói thì các anh là những ông thánh con,và ngay khi còn đang sống các anh cũng đáng lên thiên đường rồi Nhưngcác anh có biết cách làm việc không?”(12)
“Từ nay, hoặc là chúng ta chứng minh được rằng chúng ta có khả nănglàm việc, hoặc là chính quyền Xô Viết không thể tồn tại được nữa Nguy
cơ lớn nhất là ở chỗ tất cả mọi người đã không nhận thấy được như thế”(13)
“Chỉ khi nào biểu hiện đúng ý niệm của nhân dân thì chúng ta mớiquản lý được Nhà nước Nếu không Đảng cộng sản sẽ không lãnh đạo đượcgiai cấp vô sản, giai cấp vô sản sẽ không lôi cuốn được quần chúng theomình, và tất cả bộ máy sẽ tan rã”(14)
Ngày nay ngẫm lại, có thể nói rằng mô hình cụ thể về nền kinh tế xãhội chủ nghĩa và những sách giáo khoa về mọi lĩnh vực của mô hình đólà được hình thành sau Mác và Lênin, được áp dụng trực tiếp ở Liên Xô từthập kỷ 30, đến cuối thập kỷ 50 của thế kỷ XX thì được quy định cho toànphe XHCN tại hai Hội nghị các đảng cộng sản và công nhân Quốc tế tạiMatxcơva năm 1957 và 1960 Trong văn kiện Hội nghị, có nêu lên 8 nguyêntắc, mà hai nguyên tắc quan trọng nhất là:
1 Chế độ công hữu XHCN dưới hai hình thức toàn dân và tập thể
2 Toàn bộ nền kinh tế hoạt động theo một kế hoạch tập trung thốngnhất Nguyên tắc này cũng có nghĩa là không thể tồn tại thị trường tự do,không có giá cả thị trường tự do
Miền Bắc đã chuẩn bị tiền đề đi vào mô hình này từ những năm cuốicủa thập kỷ 50, với hai cuộc cải tạo lớn: Cải tạo nông nghiệp và cải tạocông thương nghiệp trong 3 năm 1958-1960
Năm 1960 với Đại hội Đảng lần thứ thứ III và kế hoạch 5 năm lần thứnhất (1961-1965), miền Bắc bước vào trực tiếp xây dựng mô hình kinh tếXHCN Những nguyên tắc tổ chức và quản lý nền kinh tế đó đã dần dần
VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ HAI
Trang 35hình thành Các sách giáo khoa về quản lý công nghiệp, nông nghiệp, nộivà ngoại thương, tài chính, tiền tệ, giá cả… của Liên Xô đã được dịch vàđưa vào giảng dạy tại các trường đại học Cũng từ các trường này đã hìnhthành đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế trong tất cả các ngành, các cấp củanền kinh tế quốc dân.
Cũng cần phải nói rằng, trong không khí của thời đại lúc đó, xét cả vềmặt quốc tế cũng như trong nước, mô hình kinh tế XHCN ở miền Bắckhông phải là quyết định đơn phương của riêng ai, của một nhóm nào, màlà sự lựa chọn chung của xã hội Trong đó có cả 3 yếu tố xã hội quan trọngnhất: Đảng và Nhà nước, giới nghiên cứu và quần chúng nhân dân
Nhưng cũng từ cả ba phía đó vẫn luôn luôn có những trăn trở, muốntìm tòi những hình thức thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam Đây là mộtdòng suy tư chung của cả xã hội Trong đó đã từng có những ý kiến mới,đã có những thử thách, những đề xuất, có cả những bất đồng, đắn đo,tranh luận, cũng có cả những tiếng “huýt còi” và những người bị “huýtcòi”… Bây giờ nghĩ lại, thấy cả những người “huýt còi” và người bị “huýtcòi” thời đó đều có một động cơ chung: Lo toan cho vận mệnh của đấtnước, muốn tìm một giải pháp tối ưu cho sự phát triển kinh tế Chẳng quatừ những cách nhìn khác nhau, với những kinh nghiệm khác nhau, dựatrên những giả định khác nhau…, thì sự lựa chọn có khác nhau…
Có thể kể đến một số những tìm tòi, đột phá ở miền Bắc trong thờikỳ này:
1) Trong nông nghiệp, nền nông nghiệp hợp tác hóa hình thành từ 1960đã sớm bộc lộ những nhược điểm Bởi vậy chỉ 1 – 2 năm sau khi hoànthành hợp tác hóa, đã xuất hiện những mũi đột phá
Trước hết là Kiến An (nay thuộc TP Hải Phòng) vào năm 1962, tạihai huyện Vĩnh Bảo và Kiến Thụy đã áp dụng hình thức “khoán chui”đối với một số sản phẩm như thuốc lào, rau đậu Hình thức khoán nàykhông thành văn bản chính thức, không báo cáo và phổ biến công khai,nhưng được lãnh đạo tỉnh cho “làm thử”, do đó vẫn có thể tồn tại mộtcách bán hợp pháp trong hàng chục năm sau(15)
Đến năm 1966 thì Vĩnh Phú áp dụng cơ chế khoán trên toàn tỉnh tronghai năm 1966-1967(16) Kết quả của phương thức khoán đã được khẳng địnhtrong thực tế Nhưng vào lúc đó thì đột phá công khai như vậy trên mộtlĩnh vực tối hệ trọng như nông nghiệp là điều khó có thể chấp nhận Dođó có những bài phê bình, có quyết định của Ban Bí thư buộc Vĩnh Phúphải đình chỉ khoán(17) Sự phê bình và quyết định đình chỉ đó cũng làmột sự trăn trở – trăn trở về vận mệnh của chủ nghĩa xã hội, về lợi íchcủa nông dân lao động…Và cũng vì trăn trở, nên sau khi đình chỉ khoánVĩnh Phú, Ban Bí thư tiếp tục tìm tòi nhiều hướng khác: Sau khi lá cờ Đại
Trang 36Phong không có khả năng nhân rộng ra cả nước, lại có Vũ Thắng, BìnhMinh, Định Công…với những cuộc vận động cải tiến quản lý hợp tác xã.2) Trong công nghiệp, ngay từ những năm đầu cũng đã xuất hiệnnhững nhược điểm của mô hình quản lý tập trung quan liêu Hiện tượngkhông hoàn thành kế hoạch, lãng phí, chất lượng sản phẩm kém, đời sốngcủa người lao động chậm được cải thiện… đã đặt ra trước những nhà quảnlý và những người nghiên cứu hàng loạt vấn đề Một trong những sự tìmtòi là tìm những tấm gương điển hình để nhân lên Lá cờ Duyên Hải đãđược gương cao Nhà máy cơ khí Duyên Hải ở Hải Phòng được “bồi dưỡng”trở thành điển hình tiên tiến để cả nước học tập Cũng như vậy, Hợp tácxã thủ công nghiệp Thành Công ở Thanh Hóa cũng trở thành lá cờ cho tấtcả các Hợp tác xã thủ công nghiệp noi gương Tuy nhiên những lá cờ đócũng không nhân lên được thành thành tích chung của toàn nền nôngnghiệp Lại có những sự tìm tòi của những năm cuối thập kỷ 60.
3) Trong thương nghiệp và giá cả, hệ thống mua bán theo kế hoạch vàhệ thống giá chỉ đạo đã sớm bộc lộ những nhược điểm của nó Ngay từnhững năm đầu thập kỷ 60 đã có những kiến nghị xem xét lại và sửa đổigiá thu mua cho sát với giá thành thực tế(18) Nhưng vào lúc đó đề nghịnày cũng khó có thể được chấp nhận, thậm chí còn bị quy kết nặng nề(19).4) Trong lĩnh vực ngoại thương, tập trung quản lý ngoại thương và ngoạihối là một nguyên tắc, nhưng cơ chế này cũng gặp nhiều ách tắc Từ năm
1963 đã có ý tưởng muốn phát huy ưu thế của nông nghiệp nhiệt đới đểđổi lấy máy móc thiết bị, như một trong những phương tiện tối ưu để côngnghiệp hóa đất nước(20) Đương nhiên quan điểm này cũng không dễ đượcchấp nhận, thậm chí đã bị đánh giá là “Muốn biến Việt Nam thành mộtvườn chuối của phe XHCN"(21)
Đến năm 1971, Cục ngoại hối thuộc Ngân hàng quốc gia cũng đã từngcó một văn bản kiến nghị với Nhà nước cho phép sử dụng vốn ngoại tệđể kinh doanh ở nước ngoài, thu lãi cho ngân sách, thay vì để ứ độngmột số rất lớn ngoại tệ nhàn rỗi Bản kiến nghị này còn đề xuất việc vayvốn của tư bản nước ngoài để tổ chức sản xuất hàng xuất khẩu, quayvòng, kiếm lãi theo kiểu khu chế xuất(22) Ngày nay đó là việc chúng tađang làm Nhưng vào lúc đó thì kiến nghị này cũng không được chấpnhận, trừ một trường hợp duy nhất là việc đặt một chi nhánh ngân hàngvà một công ty kinh doanh tàu biển ở hải ngoại dưới danh nghĩa các công
ty nước ngoài, nhằm phục vụ cho việc cung ứng hàng hóa và ngoại tệcho mặt trận phía Nam Trong trường hợp này thì sự nghiệp giải phóngMiền Nam là yêu cầu thiêng liêng, mà vì yêu cầu đó có thể cho phépnhững đặc cách(23)
Nhìn chung, những đột phá thời đó chưa đi tới những kết quả hiện thực
vì những lý do sau đây:
VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ HAI
Trang 37- Những húy kỵ về lý thuyết còn rất nặng nề Đồng thời, những nét ưuviệt của nền kinh tế Xô Viết vẫn còn có sức thuyết phục rất mạnh.
- Trình độ và kinh nghiệm của quần chúng, của giới nghiên cứu vàquản lý cũng còn hạn chế
- Lịch sử vẫn còn lưu lại nhiều ấn tượng nặng nề về mặt tiêu cực củanền kinh tế thị trường, kinh tế tư nhân, về chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩađế quốc
- Viện trợ to lớn và sự giúp đỡ của các nước anh em cũng có tác dụngche lấp và làm giảm nhẹ những căn bệnh của mô hình kinh tế cũ Với việntrợ và giá nhập khẩu hữu nghị thì lỗ có thể thành lãi Một nền kinh tế cònđược nuôi bằng nguồn sữa viện trợ, thì dù làm chưa đủ ăn nó vẫn sống(Xem phụ lục: Đồ thị 2 và 3)
- Hoàn cảnh chiến tranh lạnh, đặc biệt là ở Việt Nam thì có cả chiếntranh nóng càng làm cho một số yêu cầu của nền kinh tế kế hoạch hóa trởthành bức xúc
II NHỮNG KHÓ KHĂN SAU NGÀY GIẢI PHÓNG
Hơn một năm sau khi miền Nam được giải phóng, vào cuối năm 1976đất nước được thống nhất cả về chính trị lẫn kinh tế Mô hình kinh tế củamiền Bắc được áp dụng cho toàn miền Nam Trong nông nghiệp đó là hợptác hóa Trong công nghiệp là xây dựng những xí nghiệp quốc doanh.Trong thương nghiệp xóa bỏ thị trường tự do Trong lĩnh vực ngân hàng làđổi tiền và thống nhất tiền tệ cả nước…
Cuộc cải tạo nông nghiệp ở miền Nam đã được tiến hành khẩn trương.Cuộc cải tạo công thương nghiệp cũng được quyết định vội vàng và thựchiện một cách khá mạnh tay
Kết quả của cả hai cuộc cải tạo đó cũng đến rất “vội vàng”: Sản xuấtkhông lên Đời sống đi xuống Lưu thông ách tắc…
Cũng đúng vào lúc đó, một khó khăn ập đến: Viện trợ tứ phía đều giảmsút đột ngột:
- Viện trợ Mỹ cho Miền Nam trước đây đã chấm dứt hoàn toàn, thayvào đó là một sự cấm vận khắc nghiệt
- Lại có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhiều mặt trongquan hệ quốc tế trở nên căng thẳng và bất lợi Khmer đỏ khiêu khích ởbiên giới phía Tây Nam, gây thiệt hại và tốn kém lớn về kinh tế TrungQuốc cắt hoàn toàn viện trợ từ 1977 Một loạt nguồn viện trợ mà nhiềunước phương Tây và ASEAN hứa hẹn năm 1977 trong chuyến thăm củathủ tướng Phạm Văn Đồng cũng bị bãi bỏ sau những sự kiện phức tạpcủa tình hình Campuchia và biên giới phía Bắc
Trang 38- Cũng do tình hình đó, Việt Nam gia nhập khối SEV (28 tháng 6 năm1978) Quyết định này đem đến cho Việt Nam những khoản tiền viện trợmới, nhưng đồng thời cũng phải theo những luật chơi mới bất lợi hơn trước.Sự công phạt nặng nhất là luật chơi về giá Trước đây các khoản tiền việntrợ của các nước xã hội chủ nghĩa thường vào khoảng trên 1 tỷ Rúp/năm(1 rúp chuyển nhượng có giá trị tương đương 1 USD) Số tiền đó được
“nhân lên” bởi hệ thống giá hữu nghị, chỉ bằng khoảng 1/3 giá quốc tế.Từ khi vào khối SEV thì mua bán phải theo hệ thống giá trượt của khốiSEV, cũng sát giá thị trường quốc tế Giá này cao hơn giá nhập khẩu hữunghị trước đây 2-3 lần Thí dụ, trong suốt mấy chục năm trước, hàng nămViệt Nam vẫn được “mua” của Liên Xô khoảng 2 triệu tấn xăng dầu với giá
ưu đãi là 41,5 rúp/tấn, trong khi quốc tế cũng như giá của khối SEV năm
1979 là 151,7 rúp/tấn Chính vì thế, tuy tính bằng tiền thì số viện trợ củaLiên Xô và Đông Âu có tăng lên gấp rưỡi, từ 1,024 tỷ rúp vào năm 1976lên 1,526 tỷ rúp năm 1979 (xem phụ lục, đồ thị 3) Nhưng vì phải nhậptheo giá trượt nên nếu xét về hiện vật thì trong thực tế những mặt hàngnhập khẩu quan trọng nhất để nuôi dưỡng nền kinh tế và đời sống đã giảm
đi 50%, có thứ 70% (xem phụ lục, đồ thị 4)
Nguồn bị giảm sút đột ngột và gần như cùng một lúc đã có một sứccông phá rất mạnh đối với mô hình kinh tế cũ Cả nước lâm vào tình trạngmà nhiều nhà nghiên cứu gọi là “cai sữa”: Nông nghiệp không có phânbón, thuốc trừ sâu Nhà nước không có những thứ đó thì không thể muanông sản của nông dân theo giá nghĩa vụ Mức huy động lương thực giảmnghiêm trọng: năm 1976 là 2,04 triệu tấn, năm 1979 chỉ còn mua được 1,45triệu tấn Các thành phố ở miền Nam chưa bao giờ thiếu gạo ăn, bây giờnhà nước phải nhập hạt bobo về bán cho nhân dân theo tem phiếu (xemphụ lục, đồ thị 6 và 7) Công nghiệp không có nguyên liệu và nhiên liệu
Xí nghiệp dệt không có sợi Xí nghiệp may không có vải Các xí nghiệp
cơ khí không có sắt, thép, đồng, nhôm Nơi có máy thì không có điện,không có xăng dầu để chạy Nơi có điện, có xăng dầu thì không có phụtùng thay thế Nơi có phụ tùng thì không có nguyên liệu Nơi có nguyênliệu để sản xuất thì không có bao bì Nơi có bao bì để sản xuất thì khôngcó xe để vận chuyển hàng hóa ra cảng… Nhiều xí nghiệp phải đình chỉsản xuất Các công ty vận tải cũng tê liệt vì không có xăng, không có lốpvà phụ tùng thay thế Trong hàng ngàn đầu xe chỉ còn vài trăm cái hoạtđộng được…
Những hụt hẫng kể trên làm cho Kế hoạch 5 năm (1976-1980) đứngtrước nguy cơ phá sản: Cho đến năm 1979, tức sau 4 năm, mọi chỉ tiêu chỉthực hiện được khoảng 50% Riêng chỉ tiêu lương thực đặt ra quá cao ởmức 21 triệu tấn, thì trong thực tế chỉ đạt được 12 triệu tấn Các chỉ tiêuquan trọng khác cũng đứng trước nguy cơ như vậy(24) (xem phụ lục, đồ thị5) Khủng hoảng thiếu như một bệnh dịch lan nhanh chóng trong cả nước,trên mọi lĩnh vực
VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ HAI
Trang 39Miền Bắc cung cấp cho miền Nam mủ cao su! Năm 1978, xí nghiệp đồ
hộp xuất khẩu thành phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ công nghiệp thực phẩmđang tích cực hoàn thành kế hoạch giao nộp sản phẩm cho ngoại thươngđể chở đi Liên Xô và các nước Đông Âu Hoa quả đã chế biến xong Lọthủy tinh đã có đủ Nắp lọ cũng đã có Nhưng thiếu một thứ là “joint” đểđóng nắp cho kín “Joint” đó trước đây phải nhập Bây giờ có thể thay thếbằng mủ cao su Mủ cao su ở miền Nam không thiếu Nhất là đối với nhàmáy hoa quả hộp, chỉ cần 1-2 g cho mỗi lọ thì tổng số sản phẩm chỉ cầnkhoảng 300 kg Nhưng mua ở đâu? Đến công ty cao su miền Nam khôngmua được, vì không có chỉ tiêu kế hoạch Ngoài thị trường tự do thì cải tạorồi, không có để mua Đặt vấn đề với Uỷ ban Kế hoạch thành phố thì Uỷban này phải báo ra với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước trung ương Trungương thông báo vào chấp nhận chỉ tiêu 300 kg/năm kể từ 1979 Nhưng hoaquả và tàu của nước bạn không thể đợi đến năm 1979! Làm sao? Nữ giámđốc nảy ra một sáng kiến: có một người bạn làm giám đốc nhà máy cao
su Sao Vàng ở Hà Nội Nhà máy này được cung cấp đầy đủ hàng trăm tấnmủ cao su theo chỉ tiêu của Nhà nước Bà đã bay ra Hà Nội, gặp giám đốc,xin vay 300 kg và chở ngay bằng máy bay về Sau đó tất nhiên Bà khôngcó cao su để trả, nhưng Bà lại trả bằng đồ hộp cho nhà máy cao su SaoVàng Càng tốt, vì nhà máy này cũng đang bí về chuyện giải quyết đờisống công nhân…
Dùng thớt để cán thép: Cũng vào năm 1978, Bộ trưởng Phó Chủ nhiệm
thứ nhất Uỷ Ban Kế hoạch nhà nước Trần Phương đến thăm và làm việcvới nhà máy cán thép Vicasa Được biết công việc đang tiến triển, nhưngthiếu một số thứ, trong đó có gỗ dùng để làm “bạc” cho những trục cánthép Gỗ làm “bạc” phải là thứ gỗ chịu lực rất cao Ở Việt Nam thì chỉ cógỗ nghiến mới có thể dùng vào việc đó Nhưng nghiến là thứ gỗ khôngthông dụng, thường chỉ dùng để làm thớt Xí nghiệp có thể mua trên thịtrường tự do, nhưng giá rất cao, sẽ không được Uỷ ban Vật giá xét duyệtgiá thành Bộ trưởng Trần Phương thay mặt Chính phủ quyết định tại chỗ,đặc cách cho mua gỗ nghiến ngoài thị trường, ông còn nói đùa “Nhưng cácanh chỉ được dùng vào việc cán thép thôi, không được dùng cho công nhânlàm thớt để thái thịt đấy nhé!” Một Trưởng phòng Kế hoạch của nhà máykính cẩn báo cáo ngay: “Kính thưa đồng chí Bộ trưởng, đồng chí yên tâm
Vì xí nghiệp này 6 tháng nay không có miếng thịt nào cho công nhân ăn,thớt chẳng có gì để thái, lệ ở đây chỉ có chuyện lấy thớt ra làm “bạc” chứkhông có chuyện lấy “bạc” ra làm thớt đâu ạ…!”(25)
Trong khi kinh tế quốc doanh ách tắc mọi bề thì kinh tế tư nhân, thịtrường tự do vẫn tồn tại và càng phát triển mạnh hơn Một trong những nétđặc thù của Việt Nam là mối quan hệ “cộng sinh” (symbiosis) giữa thịtrường có tổ chức và thị trường tự do, giữa kinh tế quốc doanh và kinh tếngoài quốc doanh Trong công nghiệp, do ngân sách không đủ tiền để chicho quỹ lương nên rất nhiều xí nghiệp buộc phải trả lương bằng hiện vật
Trang 40Xí nghiệp xà phòng trả lương cho công nhân bằng thuốc đánh răng và xàphòng Xí nghiệp dệt may trả lương cho công nhân bằng vải vóc và quầnáo Nhà máy cao su Sao Vàng trả lương cho công nhân bằng săm lốp xeđạp…Công nhân Việt Nam đương nhiên không vì thế mà biểu tình như ở
Ba Lan lúc đó Nhưng họ không thể ăn những sản phẩm kể trên Họ phảichuyển đổi ra gạo, thịt, đường… Chuyển đổi ở đâu? Họ lại phải tìm đếnthị trường tự do Nhiều xí nghiệp còn đi đến quyết định tập thể là bán bớtmột số vật tư tồn kho, phế liệu và phế phẩm để “giải quyết đời sống choanh em” Thế là bằng rất nhiều con đường khác nhau, thị trường tự do đãhút được chất dinh dưỡng từ thị trường có tổ chức Trong nông nghiệp, tìnhhình cũng không tốt hơn Theo lý thuyết của kế hoạch hóa kinh tế thì quanhệ giữa nông dân tập thể và Nhà nước là quan hệ kinh tế có kế hoạch,giá là giá kế hoạch, không có chuyện rẻ và đắt Vào đầu thập kỷ 60 những
ý kiến đòi nâng giá nông sản đã bị bẻ gãy vì lập luận này Nhưng đến bâygiờ thì người vi phạm mối quan hệ này lại chính là Nhà nước Nhà nướckhông có đủ vật tư nông nghiệp để bán cho nông dân theo giá chỉ đạo thìlàm sao nông dân có thể bán nông sản cho Nhà nước theo giá chỉ đạo? Cónơi nông dân đã chấp nhận bán cho Nhà nước với giá chỉ đạo, những cũngkhông được trả bằng tiền, mà bằng ngân phiếu Với ngân phiếu đó, lênngân hàng phải chờ đợi nhiều tháng trong khi đó những vụ lúa, nhữnglứa lợn thì không thể chờ đợi
Chủ tịch tỉnh lấy xe Volga đi đòi tiền cho người nuôi lợn: Thời đó, người
nông dân có nghĩa vụ phải nuôi lợn bán cho Nhà nước theo giá chỉ đạo.Nhưng lúc này tình trạng phổ biến là ngân hàng không có tiền trả Thươngnghiệp chỉ trả cho người nông dân một tờ giấy hẹn, trong đó có xác nhậnđã mua bao nhiêu kg, giá bao nhiêu tiền Trong một cuộc Hội nghị về phânphối lưu thông do Phủ Thủ tướng tổ chức tại Quảng Ninh Ông Vũ Hoanquyền Chủ tịch tỉnh Quảng Ninh kể lại một sự việc: một lần đi ngang quaphà từ Bãi Cháy sang Hòn Gai, ông nghe thấy một bà nông dân phàn nànvới một bà nông dân khác: “Tôi xin khất chị, chị cho tôi mua chịu lứa lợncon vì tôi bán lợn rồi mà mậu dịch chưa trả tiền, vì ngân hành không cótiền Chị cho tôi mua chịu để nuôi tiếp lứa nữa…” Ông Hoan xen vào câuchuyện: “Bà ở đâu, bà bán bao nhiêu cân lợn mà người ta không trả tiền?”Bà ta kể lại đầu đuôi câu chuyện Câu chuyện vừa dứt thì phà cũng vừađến Hòn Gai Ông Vũ Hoan nói: “Bà lên xe ôtô của tôi, tôi đưa bà đến tậnngân hàng để đòi tiền” Sau khi biết rằng đây là ông Chủ tịch tỉnh, bà vuimừng lên xe Ông Vũ Hoan đưa bà đến tận ngân hàng tỉnh, nhân danhChủ tịch tỉnh, ông yêu cầu phải trả tiền bán lợn cho bà này Ngân hàngđã làm các thủ tục cần thiết để trả tiền cho bà ta…
Việc làm của ông Vũ Hoan quả là đáng trân trọng, đúng là tính cáchcủa một người lãnh đạo có trách nhiệm cao, sẵn sàng dấn thân giải quyếtmọi ách tắc cho dân Nhưng để đòi tiền cho tất cả những người bán lợn ởQuảng Ninh thì cần đến bao nhiêu chiếc xe Volga và bao nhiêu ông Chủ
VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ HAI