MỞ ĐẦU1.Tính cấp thiết của đề tàiTrải qua lịch sử mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã hun đúc truyền thống văn hoá tốt đẹp, làm nên sức sống trường tồn đưa đất nước vượt qua bao thăng trầm của lịch sử, bảo vệ nền độc lập dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. Trong quá trình đó, văn hoá dân tộc thiểu số nói chung và văn hoá dân tộc H’Mông nói riêng có vị trí rất quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần tạo nên sự cố kết cộng đồng bền vững của 54 dân tộc, góp phần tạo nên một nền văn hoá Việt Nam thống nhất trong đa dạng.Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập ngày nay chúng ta xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó văn hoá có vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triển kinh tế xã hội. Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số được khẳng định là một trong mười nhiệm vụ của sự nghiệp xây dựng, hiện đại hoá nền văn hoá Việt Nam, như Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương (khoá VIII) đã khẳng định: Coi trọng, bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống, xây dựng và phát triển những giá trị mới về văn hoá, văn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, mở rộng mạng lưới thông tin, thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế xã hội ở vùng dân tộc thiểu số… Xây dựng tốt đời sống văn hoá ở cơ sở là bước đi ban đầu, nhằm phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực hiện phát triển văn hoá gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế xã hội, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Chính vì vậy mà việc phát huy vai trò của văn hoá đối với sự phát triển của các tỉnh miền núi, biên giới và những vùng đồng bào dân tộc thiểu số, được hết sức coi trọng, vì vấn đề đó có ý nghĩa chiến lược cơ bản lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xã hội Chủ nghĩa.Hà Giang là một tỉnh vùng cao biên giới và là một trong những địa bàn cư trú lớn nhất của đồng bào người H’Mông ở Việt Nam. Người H’Mông được các nhà khoa học coi như một cộng đồng “đặc biệt”, có nhiều nét đặc thù trong lịch sử và lối sống được thể hiện trong văn hóa mưu sinh và ứng xử, ý thức cộng đồng, tâm lý tộc người… Đặc biệt, tín ngưỡng của người H’Mông chiếm một vị trí rất quan trọng trong đời sống văn hóa – xã hội của cộng đồng này. Tín ngưỡng của người H’Mông không chỉ đơn thuần là những sinh hoạt văn hoá tâm linh, mà còn là một thành tố cốt lõi tạo nên sự cố kết bền vững của dân tộc, nó giúp cho người H’Mông luôn gắn bó với văn hóa cội nguồn và tạo nên bản sắc văn hóa đặc thù của người H’Mông.Tuy nhiên, trong những năm gần đây, một bộ phận người H’Mông ở Hà Giang có xu hướng từ bỏ các giá trị tín ngưỡng truyền thống và những phong tục văn hóa, lối sống cổ truyền của dân tộc mình. Cùng với việc từ bỏ giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc là làn sóng di dân tự do, rời bỏ quê hương làng quán, gây xáo trộn trong nhận thức cũng như trong đời sống của nhân dân nói chung, của người H’Mông Hà Giang nói riêng. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu lợi dụng niềm tin, tín ngưỡng, gắn vấn đề niềm tin, tín ngưỡng với vấn đề dân tộc để chống phá, nhằm gây bạo loạn, lật đổ chính quyền. Người H’Mông nói chung và những tín ngưỡng truyền thống của tộc người này đang là mục tiêu của các thế lực thù địch nhắm tới với mục đích trên.Do đó xuất phát từ hoàn cảnh thực tiễn, để đảm bảo được an ninh chính trị, gìn giữ được các giá trị văn hóa tín ngưỡng truyền thống cũng như tránh được sự lợi dụng của các thế lực thù địch nhằm gây rối loạn, lật đổ… trước hết đòi hỏi chúng ta phải đi sâu nghiên cứu, tìm ra những đặc thù trong sinh hoạt tín ngưỡng của người H’Mông, cũng như nhu cầu sinh hoạt văn hoá tâm linh – tín ngưỡng của họ trong thời kỳ mới, từ đó mới có thể có được những quyết sách cho phù hợp vừa đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của đồng bào, vừa đảm bảo ổn định khu vực và an ninh quốc gia.Vì những lý do trên em chọn đề tài “Một số tín ngưỡng của người H’Mông ở tỉnh Hà Giang” làm hướng nghiên cứu cho môn học Văn hóa Tín ngưỡng – Tôn giáo, nhằm làm sáng tỏ hơn về hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng người H’Mông ở Hà Giang, qua đó giúp hiểu biết rõ nét hơn và nhận thức được những sự thay đổi trong hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng này trong thời buổi toàn cầu hóa – hội nhập.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua lịch sử mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, cộngđồng các dân tộc Việt Nam đã hun đúc truyền thống văn hoá tốt đẹp, làm nênsức sống trường tồn đưa đất nước vượt qua bao thăng trầm của lịch sử, bảo vệnền độc lập dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước Trong quá trình đó, vănhoá dân tộc thiểu số nói chung và văn hoá dân tộc H’Mông nói riêng có vị trírất quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần tạo nên sự cố kết cộng đồngbền vững của 54 dân tộc, góp phần tạo nên một nền văn hoá Việt Nam thốngnhất trong đa dạng
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập ngày nay chúng ta xây dựng nềnvăn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó văn hoá có vai trò là nềntảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triển kinh tế
- xã hội Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số đượckhẳng định là một trong mười nhiệm vụ của sự nghiệp xây dựng, hiện đại hoánền văn hoá Việt Nam, như Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương(khoá VIII) đã khẳng định: Coi trọng, bảo tồn và phát huy những giá trịtruyền thống, xây dựng và phát triển những giá trị mới về văn hoá, văn học,nghệ thuật của các dân tộc thiểu số, xây dựng nếp sống văn minh, gia đìnhvăn hoá, mở rộng mạng lưới thông tin, thực hiện tốt chính sách phát triển kinh
tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số…
Xây dựng tốt đời sống văn hoá ở cơ sở là bước đi ban đầu, nhằm pháttriển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắcdân tộc, thực hiện phát triển văn hoá gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với pháttriển kinh tế xã hội, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội Chính vì vậy mà việc phát huy vai trò của văn hoá đối với sự phát
Trang 2triển của các tỉnh miền núi, biên giới và những vùng đồng bào dân tộc thiểu
số, được hết sức coi trọng, vì vấn đề đó có ý nghĩa chiến lược cơ bản lâu dàitrong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xã hội Chủ nghĩa
Hà Giang là một tỉnh vùng cao biên giới và là một trong những địa bàn
cư trú lớn nhất của đồng bào người H’Mông ở Việt Nam Người H’Môngđược các nhà khoa học coi như một cộng đồng “đặc biệt”, có nhiều nét đặcthù trong lịch sử và lối sống được thể hiện trong văn hóa mưu sinh và ứng xử,
ý thức cộng đồng, tâm lý tộc người… Đặc biệt, tín ngưỡng của ngườiH’Mông chiếm một vị trí rất quan trọng trong đời sống văn hóa – xã hội củacộng đồng này Tín ngưỡng của người H’Mông không chỉ đơn thuần là nhữngsinh hoạt văn hoá tâm linh, mà còn là một thành tố cốt lõi tạo nên sự cố kếtbền vững của dân tộc, nó giúp cho người H’Mông luôn gắn bó với văn hóacội nguồn và tạo nên bản sắc văn hóa đặc thù của người H’Mông
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, một bộ phận người H’Mông ở HàGiang có xu hướng từ bỏ các giá trị tín ngưỡng truyền thống và những phongtục văn hóa, lối sống cổ truyền của dân tộc mình Cùng với việc từ bỏ giá trịvăn hoá truyền thống của dân tộc là làn sóng di dân tự do, rời bỏ quê hươnglàng quán, gây xáo trộn trong nhận thức cũng như trong đời sống của nhândân nói chung, của người H’Mông Hà Giang nói riêng Đặc biệt trong giaiđoạn hiện nay, các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu lợi dụng niềmtin, tín ngưỡng, gắn vấn đề niềm tin, tín ngưỡng với vấn đề dân tộc để chốngphá, nhằm gây bạo loạn, lật đổ chính quyền Người H’Mông nói chung vànhững tín ngưỡng truyền thống của tộc người này đang là mục tiêu của cácthế lực thù địch nhắm tới với mục đích trên
Do đó xuất phát từ hoàn cảnh thực tiễn, để đảm bảo được an ninh - chínhtrị, gìn giữ được các giá trị văn hóa tín ngưỡng truyền thống cũng như tránhđược sự lợi dụng của các thế lực thù địch nhằm gây rối loạn, lật đổ… trước hết
Trang 3đòi hỏi chúng ta phải đi sâu nghiên cứu, tìm ra những đặc thù trong sinh hoạttín ngưỡng của người H’Mông, cũng như nhu cầu sinh hoạt văn hoá tâm linh –tín ngưỡng của họ trong thời kỳ mới, từ đó mới có thể có được những quyếtsách cho phù hợp vừa đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của đồng bào,vừa đảm bảo ổn định khu vực và an ninh quốc gia.
Vì những lý do trên em chọn đề tài “Một số tín ngưỡng của người H’Mông ở tỉnh Hà Giang” làm hướng nghiên cứu cho môn học Văn hóa Tín
ngưỡng – Tôn giáo, nhằm làm sáng tỏ hơn về hoạt động tín ngưỡng của cộngđồng người H’Mông ở Hà Giang, qua đó giúp hiểu biết rõ nét hơn và nhậnthức được những sự thay đổi trong hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng của cộngđồng này trong thời buổi toàn cầu hóa – hội nhập
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tín ngưỡng là một thành tố văn hóa trong đời sống tâm linh của conngười và nhận được sự quan tâm của nhiều người, đặc biệt là tín ngưỡngtruyền thống của các dân tộc thiểu số, trong đó người H’Mông cũng là mộtđiển hình Trong những năm gần đây, do sự tác động của xu thế toàn cầu hóa,hội nhập nên trong hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng của người H’Mông nóichung và người H’Mông ở Hà Giang nói riêng có những biến đổi đã nhậnđược sự quan tâm của nhiều người với những công trình, tác phẩm như sau:
Văn hoá tâm linh của người H’Mông ở Việt Nam - Truyền thống vàhiện đại, Nxb Văn hoá Thông tin - 2006, của Vương Duy Quang
Văn hóa người H’Mông ở Simacai, Nxb Chính trị - Hành chính củaPGS.TS Phạm Ngọc Trung là chủ biên
Bài viết Vài nét về văn hóa người H’Mông ở Việt Nam, trên trang báođiện tử Biên Phòng Việt Nam
Trang 4Giải quyết vấn đề dân tộc qua việc thực hiện tự do tín ngưỡng tôn giáo
ở vùng dân tộc H’Mông hiện nay, Luận án tiến sỹ của Nông Văn Lưu - Việnnghiên cứu Chủ nghĩa Mác- Lênin, 1994
Vấn đề đạo Tin lành trong dân tộc H’Mông các tỉnh miền núi phía Bắcnước ta hiện nay - Luận án tiến sĩ của Phan Viết Phong - Học viện chính trịQuốc gia Hồ Chí Minh, 2003
Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết về văn hoá của dân tộc H’Mông đăngtrên các báo, tạp chí, báo điện tử cũng tìm hiểu khá rõ nét về vấn đề văn hóa –tín ngưỡng của người H’Mông ở Hà Giang
3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số tín ngưỡng của người H’Mông ởtỉnh Hà Giang và một số vấn đề đặt ra trong hoạt động sinh hoạt tín ngưỡngcủa người H’Mông ở tỉnh Hà Giang
Ngoài ra đề tài còn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt độngsinh hoạt tín ngưỡng của đồng bào người H’Mông ở tỉnh Hà Giang
4 Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu một số tín ngưỡng của người H’Mông ở tỉnh HàGiang Tập trung phân tích: cơ sở hình thành, nguồn gốc, bản chất, hình thứcbiểu hiện, nghi lễ của các tín ngưỡng truyền thống của của người H’Mông,nêu lên vai trò, ý nghĩa của các hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng đối với đờisống văn hóa – xã hội của của người H’Mông Đề tài còn nghiên cứu đến một
số vần đề còn tồn tại trong hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng của của ngườiH’Mông ở tỉnh Hà Giang Thông qua đó bày tỏ quan điểm của em về vấn đềgìn giữ giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống mà biểu hiện thông qua các tínngưỡng truyền thống của người H’Mông
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 5Với đối tượng và mục đích nghiên cứu đã nêu trên, đề tài sử dụng một
số phương pháp nghiên cứu sau: Thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhaunhư từ sách giáo trình, vở ghi, các tác phẩm, công trình có liên quan đến vấn
đề tín ngưỡng nói chung và tín ngưỡng của người H’Mông nói riêng Sau đó
sử dụng các phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp tổng hợp liênngành, phương pháp hệ thống, phương pháp duy vật biện chứng, phươngpháp so sánh…
Trang 6CHƯƠNG 1 MỘT SỐ NÉT CHUNG VỀ NGƯỜI H’MÔNG Ở VIỆT NAM VÀ
NGƯỜI H’MÔNG TỈNH HÀ GIANG 1.1 Người H’Mông ở Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc khác nhau, trong
đó người Kinh (Việt) có số lượng đông nhất, chiếm tới 87% dân số của cảnước
Người H’Mông là một trong những dân tộc thiểu số ở Việt Nam, tậptrung đông nhất ở các vùng núi cao từ 800 đến 1500 m thuộc khu vực trung
du và miền núi Bắc bộ Cùng với 53 dân tộc khác, H’Mông luôn luôn là mộtphần trong sự thống nhất của khối đại đoàn kết dân tộc và góp phần làmphong phú thêm cho nền văn hóa các dân tộc Việt Nam
Người H’Mông ở Việt Nam ngày nay chủ yếu có nguồn gốc từ phươngBắc di cư xuống từ khoảng hơn 300 năm trước Theo nghiên cứu của các nhàdân tộc học Việt nam người H’Mông đến Việt Nam bằng nhiều con đườngkhác nhau và trải qua nhiều đợt khác nhau
Đợt thứ nhất có khoảng hơn 600 người di cư đến các khu vực ĐồngVăn, Mèo Vạc của tỉnh Hà Giang, thời gian vào khoảng cuối thời nhà Minh ởTrung Quốc Từ đây, họ bắt đầu tiếp tục di cư vào sâu hơn đến các tỉnh thuộcĐông Bắc Việt Nam
Đợt thứ hai, khoảng trên 500 người, trong đó có những hộ thuộc họVàng, họ Lý cũng vào khu vực Đồng Văn Còn một nhóm khác số người íthơn, thuộc các họ Vàng, Lù, Chấu, Sùng, Hoàng, Vừ vào khu vực Si Ma Cai,Bắc Hà, tỉnh Lào Cai Sau đó có khoảng 30 hộ gồm các họ Vừ, Sùng chuyểnsang phía Tây Bắc Việt Nam Thời gian của đợt di chuyển này cách đây trên
Trang 7200 năm Một số hộ người H’Mông này sau đó tiếp tục di cư rải rác đến cáctỉnh của Tây Bắc Việt Nam
Đợt thứ ba, số người H”Mông di cư vào Việt Nam đông nhất, gồmkhoảng trên 10 ngàn người Phần lớn họ từ Quý Châu, có một số từ QuảngTây và Vân Nam sang, chủ yếu vào các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái…Thời gian của đợt di cư này tương đương với thời kỳ của phong trào “TháiBình Thiên Quốc”, trong đó có người Miêu tham gia, chống lại nhà MãnThanh từ năm 1840 đến 1868 Về sau, họ tiếp tục di cư đến các huyện của cáctỉnh thuộc Đông Bắc và Tây Bắc Việt Nam
Về sau hàng năm vẫn có người H’Mông di cư lẻ tẻ sang Việt Nam Cáccon đường di chuyển của đồng bào là vào Đồng Văn rồi xuống Tuyên Quang.Riêng các nhóm H’Mông cư trú ở hai tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An và cáchuyện giáp biên giới Lào của Sơn La như Mai Sơn, Mộc Châu, Sốp Cộp,Sông Mã cũng từ Lào và các tỉnh miền núi miền Bắc vào trên dưới 100 nămtrở lại đây
Từ sau ngày đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới (1986), tình hình dichuyển của người H’Mông luôn gia tăng, theo hai hướng Bắc – Nam và Đông –Tây Vì vậy, số địa phương có người H’Mông sinh sống ngày càng tăng lên đáng
kể và cư trú tại 62 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố của Việt Nam
Theo số liệu Tổng điều tra dân số ngày 1 – 4 – 2009 người H’Mông có
số dân là 1 068 189 người, đứng hàng thứ 8 trong bảng danh sách các dân tộc
ở Việt Nam
Trong những năm qua, thời gian và nhịp điệu phát triển của cuộc sốngcùng sự tác động của các yếu tố văn hóa bên ngoài dần ảnh hưởng đến cộng
Trang 8đồng người H’Mông ở Việt Nam Cuộc sống của người H’Mông vừa chịu sựchi phối của mối quan hệ truyền thống, vừa chịu tác động mạnh mẽ của mốiquan hệ xã hội mới theo cơ chế pháp luật của nhà nước Từ đó, mối quan hệ
xã hội ở dân tộc này đã có sự tự điều chỉnh và thay đổi để có thể thích nghi,tồn tại với hoàn cảnh mới Tuy nhiên, dù có sự điều chỉnh hay thay đổi thậmchí còn tiếp nhận thêm những yếu tố văn hoá mới, cấu trúc xã hội cơ bản củadân tộc này vẫn tồn tại và là một trong những yếu tố biểu hiện cho bản sắcdân tộc của cộng đồng này
1.2 Người H’Mông ở Hà Giang
Hà Giang là một tỉnh biên giới thuộc vùng núi phía Bắc Việt Nam Có
22 dân tộc anh em cùng sinh sống Là một trong những tỉnh có nhiều thếmạnh về tự nhiên cũng như xã hội, đặc biệt là thế mạnh về đa dạng văn hoá
Từ xa xưa, đây là địa bàn sinh sống của nhiều lớp cư dân cổ đại, với một hệgiá trị văn hoá liên tục mà cho đến nay đã phát hiện được nhiều hiện vật từtiền sử, có hệ thống các di sản văn hoá phong phú và đa dạng về cả di sản vănhoá vật thể và văn hoá phi vật thể
Hà Giang là một trong những địa bàn cư trú lớn nhất của ngườiH’Mông ở Việt Nam Hiện nay trên toàn tỉnh Hà Giang số lượng ngườiH’Mông là 231.464 người, chiếm 31,9% dân số toàn tỉnh và 21,7% tổng sốngười H’Mông tại Việt Nam, cùng với các dân tộc anh em khác trong tỉnh,văn hóa của người người H’Mông góp phần làm phong phú thêm cho bản sắcvăn các dân tộc trong tỉnh
Người H’Mông ở Việt Nam nói chung và người H’Mông ở Hà Giangnói riêng được các nhà nghiên cứu khoa học gọi là “cộng đồng đặc biệt”, cónhiều nét đặc thù trong lịch sử và lối sống được thể hiện trong văn hóa mưusinh và ứng xử, ý thức cộng đồng, tâm lý tộc người… Đặc biệt, tín ngưỡngcủa người H’Mông chiếm một vị trí rất quan trọng trong sinh hoạt văn hoá
Trang 9tinh thần của cộng đồng này Tín ngưỡng, tôn giáo của người H’Mông khôngchỉ đơn thuần là những sinh hoạt văn hoá tâm linh, mà còn là một thành tố cốtlõi tạo nên sự cố kết bền vững của dân tộc, nó giúp cho người H’Mông luôngắn bó với văn hóa cội nguồn và tạo nên bản sắc văn hóa đặc thù của ngườiH’Mông
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI H’MÔNG Ở TỈNH HÀ GIANG 2.1 Khái niệm tín ngưỡng
Tín ngưỡng là một niềm tin có hệ thống mà con người tin vào để giảithích thế giới và để mang lại sự bình yên cho bản thân và cộng đồng Tínngưỡng còn là thể hiện giá trị của cuộc sống, ý nghĩa của cuộc sống bền vững,đôi khi được hiểu là tôn giáo Theo nhiều cách tiếp cận khác nhau thì tínngưỡng được hiểu ở nhiều góc độ khác nhau
Quan điểm triết học Macxit về tín ngưỡng:
Trên cơ sở phương pháp tiếp cận khoa học, phương pháp duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử với hệ thống các quan điểm thực tiễn, lịch sử cụ thể,các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã đưa ra những luận điểm,quan niệm về tín ngưỡng C.Mác cho rằng: “Đời sống xã hội về thực chất là
có tính chất thực tiễn Tất cả những sự thần bí đang đưa lý luận đến chủ nghĩathần bí, đều được giải đáp một cách hợp lý trong thực tiễn của con người và
sự hiểu biết thực tiễn ấy” Tín ngưỡng về bản chất là một hiện tượng xã hội,mang bản chất xã hội, không phải là sản phẩm của thần thánh, không phải làcủa các đấng siêu nhân thần bí Tín ngưỡng cũng là một hiện tượng thuộc đờisống tinh thần, chịu sự quy định của đời sống vật chất C.Mác chỉ ra mối quan
hệ giữa tồn xã hội và ý thức xã hội mà trực tiếp ở đây là mối quan hệ giữahoạt động thực tiễn của con người và tín ngưỡng “Xuất phát từ những ngườiđang hành động thực hiện và chính cũng xuất phát từ quá trình đời sống hiện
Trang 10thực của họ mà chúng mô tả sự phát triển của những phản ánh tư tưởng vàtiếng vang tư tưởng của quá trình sống ấy”.
Tín ngưỡng và tôn giáo có nguồn gốc từ hoạt động thực tiễn, trong tiếntrình phát triển của lịch sử và toàn bộ văn minh nhân loại của hoạt động thựctiễn, tính thần bí của tín ngưỡng dần được làm rõ
C.Mác và Ph.Ăngghen trong các tác phẩm của hai ông đã xem sản xuấtvật chất là cơ sở của sự hình thành và phát triển của các hoạt động mang tínhlịch sử, trong đó có tín ngưỡng Như vậy có thể nói tín ngưỡng là một hiệntượng lịch sử, một sản phẩm của thời đại lịch sử nhất định Tín ngưỡng là một
bộ phận của ý thức xã hội, là một yếu tố thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần, là
hệ quả của các quan hệ xã hội được hình thành trong quá trình lịch sử vănhóa, là sự hiểu biết của niềm tin dưới dạng tâm lý xã hội và cái thiêng liêngthông qua hệ thống nghi lễ thờ cúng của con người và cộng đồng người trong
là sự phản ánh các mối quan hệ vốn có của một kiểu xã hội, mỗi loại hình tín
Trang 11ngưỡng do đó mang tính địa phương Yếu tố bên trong của tín ngưỡng thườngquy định nội dung của tín ngưỡng đó là ý thức, tư tưởng, tình cảm, niềm tincủa chủ thể Yếu tố bên ngoài cuả tín ngưỡng thường được quy định bởi hìnhthức biểu hiện, đó là hệ thống nghi lễ thông qua các tập tục, thói quen, truyềnthống.
2.2 Một số nhận định chung về tín ngưỡng của người H’Mông ở Hà Giang
Tín ngưỡng của người H’Mông chủ yếu là các hình thức sơ khai vào thờiđại tiền giai cấp mà vắng bóng các hình thức tôn giáo của thời đại có giai cấp
Tín ngưỡng truyền thống của người H’Mông có rất nhiều loại hình đặcsắc và phong phú Ngày nay trong cộng đồng người H’Mông nói chung vàngười H’Mông ở Hà Giang nói riêng vẫn tồn tại nhiều hình thức tín ngưỡng
sơ khai vốn xuất hiện từ thời kỳ nguyên thủy
Tín ngưỡng truyền thống của người Hmông là tín ngưỡng đa thần
Đa thần giáo là trình độ ban đầu của quá trình ra đời, vận động pháttriển của tín ngưỡng, tôn giáo nói chung Mặc dù thờ đa thần, người H’Mông
ở Việt Nam không lập đền thờ mang tính cộng đồng, nhưng các nghi lễ chonhiều thần tỏ ra quá phiền toái, tốn kém tiền của, sức lực và thời gian Trong
đó nhiều nội dung đã trở nên cổ hủ, kìm hãm sự phát triển
Cụ thể là các hình thức:
+Thờ cúng “Xử ca”
Xử ca là loại ma cai quản tiền của, phù hộ cho gia đình làm ăn phát đạt,giữ các linh hồn trong gia đình không đi lang thang, được người Hmông coitrọng nhất
+ Thờ cúng tổ tiên Người H’Mông thường thờ cúng tổ tiên trong ba đời trở lại, bàn thờđược đặt cạnh bàn thờ “Xử ca” nhưng có mặt ván để ba bát hương Trong lễcúng chủ nhà gọi tên tuổi của ba thế hệ đã khuất, mời về ăn tết với con cháu,cầu xin tổ tiên phù hộ cho con cháu sức khỏe, làm ăn phát đạt
Trang 12Lễ cúng tổ tiên thường diễn ra vào đêm 30 tết, hoặc váo những lúctrong nhà có người ốm đau để xin tổ tiên phù hộ Ma tổ tiên là ma lành, nhưngngười H’Mông quan niệm, nếu không thờ cúng chu đáo thì ma này cũng bắtphạt họ phải ốm đau, đòi phải có bò, lợn làm lễ cúng.
+ Thờ cúng ma buồng (Đá trùng)
Ma buồng là ma chăm sóc, bảo vệ sức khỏe trẻ con, phát triển gia súc.Người H’Mông quan niệm, khi đôi vợ chồng khó sinh để, hoặc đẻ ra khôngnuôi được, hoặc trong nhà, lợn con đẻ ra hay bị chết là do ma buồng mấtthiêng Khi đôi vợ chồng có con đầu lòng, người chồng được đặt tên mới thìtiến hành lập ma buồng Cách thức lập ma buồng là người ta lấy một quả bầunho nhỏ, bỏ hết ruột bên trong và cùng với một cái chén làm bằng ống nứa bỏvào cái hộp đan bằng tre, hoặc mây Hộp này được gác ở mái nhà phía đầugiường của ông chủ gia đình Người Hmông không cho phụ nữ, trẻ em sờ đếncái hộp này Gia đình có trẻ con thì cúng ma buồng ít nhất một lần trong năm.Khi trong nhà có lợn đẻ cũng tiến hành cúng, như vậy hàng năm lễ cúng mabuồng có thể tiến hành hai đến ba lần
+ Thờ cúng ma bếp
Ma bếp là ma bảo vệ mùa màng, sản xuất nông nghiệp phát triển, nhiềulúa, ngô, khoai, sắn Một số dòng họ có quan niệm ma bếp cũng có liên quanđến sức khỏe và chăn nuôi, là người trong coi tài sảnkhi gia đình đi vắng
+ Thờ cúng ma cửa
Ma cửa giống như người gác cửa, không cho điều xấu xâm nhập vàogia đình, của cải, gia súc, giữ các hồn gia đình không bỏ đi Người H’Môngquan niệm khi trong nhà có chuyện không hay như ốm đau, gia súc bị chết là
do ma cửa bị ngã, không giữ vững được bản mệnh Người phụ nữ có thai ởgia đình khác bước qua cửa nhà mình thì cũng làm cho ma cửa bị ngã, khi đó,phải làm lễ cúng nâng ma cửa dậy
Trang 13+ Thờ cúng ma cột cáiCột cài là một cột giữa cửa vì kèo thứ hai, tiếp giáp giữa đầu bênphải và gian giữa Theo quan niệm của người H’Mông, cột cái là nơi tậptrung các hồn người, tượng trưng cho sự vững chãi của gia đình Ma cột cáilàm nhiệm vụ bảo vệ nhà cửa, chống chọi bão gió, giữ gìn hồn các thànhviên trong gia đình.
Trong hệ thống tín ngưỡng đa thần của người H’Mông thì tín ngưỡngthờ cúng tổ tiên giữ vị trí quan trọng Luật tục của người H’Mông quy định
rõ, đã là một gia đình H’Mông thì dưới mái nhà của họ phải có nơi thờ cúng
tổ tiên Theo truyền thống, chỗ thờ tổ tiên của đồng bào luân ở vách tườngthuộc gian giữa của ngôi nhà – gian dành cho các hoạt động tín ngưỡng, lễ tụcdiễn ra
Theo quan niệm của người H’Mông, việc thờ cúng tổ tiên không chỉ thểhiện lòng biết ơn đối với cha ông, với người đã khuất hay phải thực hiện lễthức theo tục lệ tang ma, mà nhiều khi còn là sự cầu mong, sự tạ lỗi, xin thathứ với tổ tiên, bởi tổ tiên luôn có sự chi phối đến số phận của con cháu (sứckhỏe, hiệu quả công việc ) Tổt iên luôn phù hộ cho con cháu hoặc có thể nổigiận phạt con cháu ốm đau Nghi lễ cúng tổ tiên thường được tiến hành đơngiản nhưng rất trang nghiêm, đặc biệt là vào dịp tết nguyên đán
2.3 Một số tín ngưỡng của người H’Mông ở Hà Giang
Trang 14Niềm tin được linh thiêng là cốt lõi của văn hóa tâm linh, chứa đựng cảniềm thành kính tôn trọng và niềm tin ấy làm nên sức mạnh của tụ thờ cúng tổtiên trong văn hóa dân tộc Khi nhận thức về sự tiếp nối của dòng đời, ngườiViệt thờ cúng tổ tiên là để tri ân ông bà cha mẹ, để thấy trách nhiệm của mìnhvới con cháu, để nuôi dượng dòng đời bất tận bằng đạo lý linh thiêng của dântộc Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một mỹ tục, manh tính nhân văn sâu sắc,mang tâm lý đền ơn đáp nghĩa, xuất phát từ chính cội nguồn của cuộc sốngngười dân Việt Nam.
Cũng như mọi dân tộc trong cộng đồng văn hóa các dân tộc Việt Nam,người H’Mông cũng có những phong tục đẹp, tiêu biểu cho sự sống và bảnsắc văn hóa của dân tộc mình Người H’Mông có một hệ thống tín ngưỡngriêng, trong hệ thống tín ngưỡng của người H’Mông thì tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên là tín ngưỡng quang trọng nhất, phát triển nhất và đây cũng chính là tínngưỡng đóng vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của người H’Mông nóichung và người H’Mông ở Hà Giang nói riêng
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người H’Mông chứa đựng những nétvăn hóa đặc trưng của một dân tộc cư trú trên những sườn núi quanh nămsương mù bao phủ và khi đến với mảnh đất Hà Giang địa đầu tổ quốc chắchẳn nhiều người sẽ ngạc nhiên về sức sống mãnh liệt của những tín ngưỡngbản địa của người H’Mông bởi trong hệ thống tín ngưỡng của họ vừa bảo vệđược sắc thái truyền thống văn hóa đậm đà vừa có sự giao lưu và tiếp thu vớinhững gái trị văn hóa mới từ các dân tộc khác trên địa bàn họ cư trú
Quan niệm về tổ tiên của người H’Mông:
+ Là tất cả những người đã khuất thuộc các thế hệ mà chủ yếu từ thế
hệ cha ông trở về trước Đó là những người đã làm nên sự nghiệp để lại chocon cháu, giám sát con cháu trong cộng đồng Tổ tiên cũng là người luôn phù
Trang 15hộ cho con cháu làm ăn thuận lợi Bởi vậy, bất cứ người H’Mông nào cũngphải nghi nhớ công lao của tổ tiên và lập nơi thờ cúng tổ tiên.
+ Là những vị thần đã giúp đỡ họ, dạy họ cách làm ăn, cách ứng xửtrong cộng đồng, cách dệt vải, cách chữa khỏi bệnh khi đau ốm, định ra cácluật tục trong cưới xin, tang ma… Tất cả những vị thần đó được ngườiH’Mông cho là những ông tổ đã có công xây dựng nền móng cho văn hóamưu sinh và ứng xử của mình, đồng thời giúp họ có thể chống lại sức mạnh từthiên nhiên, bảo vệ cuộc sống được bình an
Người H’Mông quan niệm rằng trong vũ trụ có hai thế giới chính, đó làthế giới trên mặt đất nơi con người sinh sống và thế giới trên trời nơi có các vịthần và tổ tiên của họ sinh sống Những người già H’Mông kể lại rằng, bầutrời và mặt đất là do ông Chày bà Chày tạo ra, con người H’Mông được sinh
ra từ lòng đất Xưa kia họ vốn là dân tộc sống hạnh phúc vĩnh viễn ở trên đời,chẳng bao giờ biết đến cái chết Cuộc sống vĩnh hằng của người ngườiH’Mông đã làm cho ông trời tức giận bởi ông ta không thể chấp nhận conngười có thể tồn tại ngang cùng trời đất Ông trời quyết định mang cái chếtđến với người người H’Mông, từ đó người người H’Mông mới phải chết
Cũng như quan niệm của nhiều dân tộc khác, người H’Mông cho rằngkhi một người trút hơi thở cuối cùng có nghĩa là đã hoàn thành nhiệm vụ ở thếgiới mặt đất để trở về với tổ tiên ở trên trời Để người chết có thể đến đượcvới tổ tiên ở trên trời người H’Mông làm lễ chỉ đường đi qua những địa danh
đã cư trú đến tận vùng đất Quý Châu (Trung Quốc), rồi từ đó mới về với tổtiên Thầy cúng phải lấy con gà trống “dẫn đường” cho người chết và dặnngười chết trả lời khi gặp thần nhà trời và nhờ nhà trời chỉ đường tới nơi ởcủa tổ tiên trên trời Khi về với thế giới tổ tiên mới là thế giới vĩnh hằng đốivới người H’Mông
Bàn thờ của người H’Mông:
Trang 16Bàn thờ tổ tiên của người H’Mông (còn gọi là bàn thờ sinh phụ) gồm
ba thế hệ đã khuất, thường thể hiện sự tụ nhiên, dung dị, không cầu kì, hoa
mỹ Bàn thờ làm bằng ván, gắn vào tường, để mộc, không trạm trổ hay sơnphết và được đặt ở nơi cao nhất tại gian giữa hướng ra cửa chính Trên bànthờ người H’Mông dung giấy bản loại to, có đính kim trang và đục lỗ trang trínhữn hoa văn như tia sáng của mặt trời, dán lên tường Trên bàn thờ đặt haicây đèn dầu, ống cắm hương làm từ ống tre hay ống nứa, phía trước mỗi ống
là một chén nước nhỏ, xung quanh bàn thờ thường dán năm bản giấy màu đỏ,biểu tượng cho sức khỏe
Bàn thờ thường có hai tầng, tầng trên thờ các cụ ông, trong các dịp lễtết, người ta đặt lên bàn thờ lễ vật cúng quan trọng nhất là gà trống, loại gà tơ,mới bắt đầu tập gáy Tầng dưới thờ các cụ bà, lễ vật dâng cúng ở đây là gàmái, loại gà tập đẻ, hai tầng có hai loại giấy bản trang trí khác nhau, ban của
cụ ông, giấy bản đục thêm đường viền rang cưa mùa bạc Theo phong tục, khicúng gà người H’Mông sẽ chọn vài túm long trên cổ và lưng con gà, quệt vàotiết rồi gắn lên giấy bản trên bàn thờ tượng trưng cho tổ tiên và thần mặt trời
Họ quan niệm làm như thế mới linh ứng, tổ tiên nhận được những lễ vật củacon cháu sẽ phù trợ cho gia đình mạnh khỏe, làm ăn phát đạt, mưa thuận gióhòa, bản làng no đủ và bình an Giấy bản gắn lông gà sẽ được thay vào lễcúng năm mới
Tang lễ cũng là một biểu hiện trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên củangười H’Mông
Khi trong gia đình có ông bà, bố mẹ mất người H’Mông đặt những dấuhiệu kiêng kỵ để thông báo với mọi người bằng cách buộc một chum lá xanhtrên cột sao ở bên đường và giắt một túm lông gà vào phên của nhà và chọn rangười trưởng lễ để trông coi việc tang ma Trưởng lễ trong tang ma của người
Trang 17H’Mông là một thầy mo, đây là người biết các lễ nghi và các bước tiến hànhtrong tang ma.
Xưa kia người H’Mông tiến hành tang ma rất phức tạp, xác người chếtphải để trong nhà tới hàng tháng để con cháu thể hiện long kính hiếu, xótthương và để chắc chắn rằng người đó thực sự đã chết, linh hồn người đó đã
bỏ đi xa, xác người nằm lại chỉ là thân xác vô hồn Khi đã tin chắc điều đóngười ta sẽ làm lễ phục hồn cho người chết với mục đích là gọi hồn về hưởng
lễ, chứng giám cho lòng thành kính và nỗi xót thương của con cháu Bàn thờcủa người mới chết đặt bên dưới bàn thờ tổ tiên, thực ra đó chỉ là cái ghế phủtấm vải đỏ có đặt một bát hương, một con gà và một bát cơm
Khi gia đình chưa có điều kiện làm mà khô cho người chết thì trongbữa cơm ở phía gần bàn thờ lúc nào cũng phải để chỗ trống, người H’Môngquan niệm rằng đó là nơi để cho linh hồn ông bà, bố mẹ ăn cơm và gia chủ sẽtiến hành nghi lễ mời ông bà, bố mẹ về ăn cơm
Như vậy có thể thấy trong quan niệm của người H’Mông thì thờ cúng
tổ tiên là một nghi lễ quang trọng nhất đối với mỗi gia, đó không chỉ là hoạtđộng nhằm thể hiện lòng kính trọng biết ơn của con cháu đối với ông bà cha
mẹ mà còn là để giáo dục cho thế hệ sau lòng tự tôn, tự hào qua đó tạo được
sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ
2.3.2 Tín ngưỡng vạn vật hữu linh
Trong quan niệm truyền thống của người H’Mông trong thế giới kể cảđộng vật, thực vật và con người đều có hai phần là phần xác và phần hồn,phần xác là phần tồn tại mà con người có thể nhìn thấy được, phần hồn làphần rất quan trọng và là yếu tố chi phối phần xác nhưng không thể nhìn thấyđược Tuy nhiên không phải loài sinh vật nào cũng có hồn, những sinh vậtnhỏ bé như muỗi, ruồi là không có linh hồn Tuy nhiên những loài sinh vậtnhư con sâu, con kiến, con bướm theo quan niệm của người H’Mông có thể là
Trang 18những linh hồn đang chuyển động và trong thế giới thực vật các loại cây như
gỗ, lúa, lanh, thuốc phiện, các loại gỗ quý làm nhà (cây làm cột chính, Pơ Mulớp mái ), hoặc những cây to um tùm ở trong rừng, những hang đá, vách đácũng đều có hồn Như vậy, bên cạnh con người chỉ có những cây, con có liênquan hoặc gần gũi với con người mới có linh hồn và loài vật càng đặc biệt thìhồn càng đáng sợ
Hồn của con hổ là “phù dông” có sức mạnh phi phàm và hay quấynhiễu đời sống người dân
Những gốc cây to, mục, hình thù kỳ dị đều có tinh, luôn bày những trò
ma quái trêu chọc con người, chòng ghẹo phụ nữ
Hòn đá to, mỏm đá lạ đều là các vật có hồn đặc biệt, có khả năng chiphối đời sống cộng đồng, dễ gây tai nạn cho người dân làm nương rẫy hoặcsăn bắn gần đó
Người H’Mông quan niệm người có ba hồn:
+ Một hồn chính ở đầu (trong thóp đỉnh đầu) Ở trẻ em hồn rất yếu do
đó không được xoa đầu trẻ em, nếu ai mà lỡ xoa đầu có thể làm cho hồnhoảng sợ bỏ đi và phải nộp gà làm lễ gọi hồn
+ Hồn thứ hai ở rốn có nhiệm vụ cai quản thân thể và bảo vệ nội tạng,nếu hồn này rời khỏi xác sẽ gây ra những cơn đau bụng ghê gớm, ở phụ nữhồn này yếu hơn nam giới nên phụ nữ thường hay đau bụng hơn nam giới
+ Hồn thứ ba ở ngực hồn này rất ít khi rời khỏi thân thể, đặc biệt là ởtrẻ con, nếu hồn này rời khỏi thân thể, nhưng khi hồn này bỏ đi nó sẽ gâybệnh nặng Vì vậy ở trẻ em người H’Mông thường đeo vòng hộ mệnh, vòngnày tượng trưng chiếc khóa được thầy cúng phù phép ngăn cản hồn bỏ đichơi Đứa bé mới sinh ra chưa có hồn Ba ngày sau gia đình phải tổ chức lễgọi hồn “húp plì” Lễ vật là một con gà trống (nếu đẻ con gái) hoặc một con
gà mái (nếu là con trai) và hai quả trứng Người làm lễ phải nhóm lửa ở cửa
Trang 19để gọi hồn về Hồn đã nhập vào đứa trẻ, lúc đó đứa trẻ mới được cộng đồngthừa nhận và được đặt tên.
Hồn liên quan đến sức khỏe và sinh mệnh con người Nếu một trong bahồn lìa xa cơ thể sẽ gây ốm đau, những sự đau ốm này ít trầm trọng là do hồnthứ nhất và hồn thứ hai đi xa, nếu hồn thứ hai và hồn thứ bar a khỏi cơ thể sẽlàm cho sức khỏe con người trở nên trầm trọng them nhiều và khi đó cân phảilàm lễ gọi hồn để hồn trở về với cơ thể thì người đó mới khỏe trở lại được Lễgọi hồn không diễn ra phức tạp mà thường giản đơn, những người lớn tuổitrong gia đình cũng có thể làm được lễ này Tuy nhiên bệnh có thể trở nêntrầm trọng hơn nếu cả hồn thứ hai và hồn thứ ba cùng bỏ đi vì nếu cả hai hồnnày bỏ đi sẽ kéo theo cả hồn thứ nhất bỏ đi và như vậy thì phải gọi thầy cúng
về mới làm được lễ gọi hồn cho người bệnh thì mới có thể khỏi được bệnh
Trong trường hợp một trong ba hồn bỏ đi mà làm lễ gọi hồn rồi hồn vẫnkhông về sẽ gây chết người, khi con người ta đã tắt thở, hồn thứ nhất sẽ baylên trời cao và trở về với tổ tiên, hồn thứ hai gác mộ và có thể quấy nhiễungười khác, do đó người chết đến ngày thứ 13 thì gia đình phải làm lễ đuổihồn không cho hồn quay về quấy nhiễu người trong gia đình và mọi ngườixung quanh, còn hồn thứ ba sẽ đầu thai làm kiếp người khác hoặc kiếp vật tùythuộc vào phúc đức mà người đó làm khi còn sống
Với các quan niệm về linh hồn như vậy đã có ảnh hưởng đến nhiều mặttrong đời sống của người H’Mông và đây cũng là một trong những yếu tố cóảnh hưởng lớn nhất đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người H’Mông nóichung và người H’Mông ở Việt Nam nói riêng
2.3.3 Thờ cúng các loại ma nhà của người H’Mông
Bên cạnh việc thờ cúng tổ tiên, người H’Mông còn thờ cúng các loại
ma nhà với những nghi thức cúng bái riêng biệt, hệ thống các loại ma nhà củangười H’Mông được thể hiện như sau:
Trang 20Cúng Xử Ca:
Xử Ca là ma có vị trí quan trọng trong hệ thống các ma nhà ngườiHmông, gắn liền với sự giàu có, nhất là tiền bạc Nơi thờ "Xử Cả" ở tấm vánhậu gian giữa nhà Chỗ thờ được dán hai miếng giấy bản màu vàng và bạccắm 3 hoặc 9 lông gà, bôi ít máu gà Mỗi năm cúng xử cả một lần vào đêm 30tết, đồ cúng là một con gà trống màu đỏ
Nghi lễ cúng Xử Ca được tiến hành như sau: Ông chủ nhà cắt tiết gà chođến khi con gà gần chết rồi thả gà trong nhà, sau đó quan sát gà quay đầu vềhướng nào khi chết để định đoán chuyệ làm ăn trong năm tới có phát đạt haykhông Nếu khi gà chết mà quay đầu về phía bức tường nơi thờ Xử Ca hoặcphía gian nhà gia chủ nằm thì năm đó gia đình làm ăn phát đạt, còn nếu con gàquay đầu ra phía cửa thì năm đó gia đình gặp khó khan, hao tốn tiền của
Cúng ma cột chính (còn gọi là Bùa Đáng hay Ma lợn):
Cột chính là cột giữa của vì kèo thứ hai ngăn gian đầu hồi bên phải vớigian giữa, là cột tượng trưng cho sự hưng thịnh của gia đình, liên quan đếnsức khỏe và vận mệnh của gia đình Ở một số dòng họ Ly và Lầu cột chínhcòn là nơi để thờ phụng tổ tiên
Vì hồn tổ tiên khi về với con cháu thường trú ngụ ở nơi giao nhau giữa
xà ngang với cột chính Cột chính là nơi linh thiêng của ngôi nhà, kiêng dựacột, không được treo quần áo, đồ dùng vào cột chính Khi gia chủ sinh contrai, nhau thai nhi sẽ chôn ở chân cột chính Khi chết thầy cúng phải chỉđường cho hồn về nhận lại áo “nhau” ở chân cột chính mang về cho tổ tiên
Có dòng họ, khi buộc người chết lên cáng “ngựa” phải đặt người chết dựa đầuvào cột chính một ngày, một đêm sau đó mới đặt ở nơi khác
Ma cột chính chỉ có chủ gia đình mới được cúng, vật cúng là lợn nái đã
đẻ một lứa Trong đời một người con trai phải làm lễ cúng cột chính một hoặchai lần, nhằm tưởng nhớ và làm tròn đạo hiếu giữa người còn sống đối với
Trang 21người đã chết Cúng ma cột chính, theo quan niệm của người H’Mông cònnhằm tạ ơn những người xưa kia đã giúp người H’Mông qua hoạn nạn, để tìmchữ viết đã mất
Cúng ma Buồng (hay còn gọi là Đá Trùng):
Theo quan niệm của người H’Mông ma Buồng có liên quan đến việcchăm sóc và bảo vệ sức khỏe trẻ em và phát triển đàn gia súc, khi vợ chồng ra
ở riêng có con đầu lòng và làm lễ đổi tên lót cho người bố, gia đình đó mới đủđiều kiện thờ ma buồng
Gia đình có trẻ nhỏ phải làm lễ cúng ma Buồng mỗi năm ít nhất mộtlần Đồ cúng là một con lợn cái nặng từ 6 đến 10 kg Cúng ma buồng thườngdiễn ra vào tối hoặc nửa đêm, gà gáy lần thứ nhất hay thứ hai tùy theo dòng
họ, khi cúng phải đóng cửa chặt, lợn mổ ngay trong nhà, trong buổi cúngkhông cho người lạ đến dự Ông chủ nhà mổ lợn, làm thịt rồi chia thành nhiềubát, mỗi bát có đầy đủ các bộ phận của con lợn như đầ, tim, gan, lưỡi, chân…Nước luộc thịt cho vào quả bầu khô có cuống cong hình dấu hỏi Sau đó ôngchủ gia đình kính cẩn đọc bài cúng với nộ dung yêu cầu ma buồng bảo vệ hồncho trẻ nhỏ trong gia đình, cầu cho trẻ nhỏ hay ăn chóng lớn và gia đình chănnuôi được nhiều trâu, lợn… Cúng xong ông chủ nhà giót nước thịt từ trongquả bầu vào bát bằng ống nứa cho trẻ nhỏ trong gia đình uống với niềm tin trẻnhỏ sẽ được mạnh khỏe, sáng mắt…Số thịt tròn gia đình cũng được chia chocác thành viên trong gia đình ăn trong nhà, không được mang ra khỏi nhà Saukhi cúng xong quả bầu khô và các ống nứa được cất trên mái nhà phía đầuphòng ngủ của chủ nhà
Cúng ma Cửa:
Theo quan niệm của người H’Mông ma cửa hay còn gọi là Xìa mềnhthường ngự ở miếng vải đỏ dán trước cửa chính, có vai trò như một người
Trang 22lính gác cửa, ngăn không cho ma ác vào nhà, bảo vệ gia súc, bảo vệ các hồn,ngăn không cho các hồn trong gia đình bỏ đi
Khi nào gia súc chết vì bệnh hay bị hổ vồ là do ma cửa bị ngã Cũng cókhi phụ nữ ở gia đình khác bước qua ngưỡng cửa cũng làm cho ma cửa bịngã Do đó cần phải làm lễ để nâng ma của dậy
Ma Cửa thường được cúng vào dịp tết, hay khi trong gia đình có người
ốm đau hoặc mất tài sản Lễ cúng là một con gà trống luộc Có một số dòng
họ như họ Và, họ Vừ thường nuôi một con gà ma (gà trống màu đỏ), gà mađược nhốt trong lồng treo sát vách buồng ông chủ Khi cần báo mộng cho ôngchủ, ma cửa sẽ nhập vào gà này để báo Khi có điều xấu chủ nhà phải tổ chức
lễ cúng ma cửa bằng lợn - gọi là lễ cúng lớn Lễ vật là con lợn nái (khi lợnnày còn bé đã cắt một nhúm lông đuôi đặt lên phía trên cửa ra vào) Cáchcúng tương tự như cúng ma lợn Khi cúng đóng chặt cửa và chỉ có nam giớiđược cúng
Cúng ma Bếp hay còn gọi là Hú Sinh:
Ma Bếp có liên quan đến việc sinh nở của phụ nữ và phù hộ cho việcchăn nuôi gia súc Do đó kiêng giẫm chân lên bếp lò, kiêng làm hư hại lòng lòbằng đất, không được gõ và đánh vào bếp cám lợn, lúc lợn chửa kiêng khônglấy tro trong bếp lò Muốn nhấc chảo cám ra phải để một hòn đá vào giữa bếp,nếu không làm như vậy, gia súc dễ bị dịch bệnh chết, phụ nữ khó đẻ hoặc đẻ
ra quái thai, dị hình
Do đó với mong muốn để ma bếp phù hộ cho những người phụ nữtrong gia đình được mạnh khỏe, an bình trong thai kỳ cũng như gia súc tronggia đình không bị chết dịch thì hàng năm mỗi gia đình phải làm lễ cúng mabếp thường là cúng vào dịp tết
Cúng ma bảo vệ hồn lúa, hồn ngô:
Trang 23Ma bảo vệ hồn lúa, hồn ngô hay còn gọi là ma lúa là, đây là quan niệm
có liên quan đến nghi lễ của cư dân nông nghiệp Ma lúa thường ngự trên gácbếp nơi để lúa ngô và các loại nông sản khác
Ma lúa có nhiệm vụ phù hộ cho được mùa, tuy nhiên nếu thái độ củagia chủ không được tốt hay làm những điều phạm đến ma lúa thì ma lúa cũng
có thể làm mất mùa Con dâu và phụ nữ khác dòng họ kiêng lên gác Khichuẩn bị thu hoạch, phải cúng ma bảo vệ hồn lúa để cho hồn lúa ở lại với giađình và để cho mùa vụ sau được bội thu
Cúng ma Trâu (thực chất là lễ cúng báo hiếu cha mẹ):
Trong đời người con trai phải cúng báo hiếu bố mẹ, một lần Vì vậycúng ma trâu có ý nghĩa thể hiện lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ
Vật cúng là trâu to, lớn, khoẻ mạnh Lễ cúng tùy từng gia đình, dòng họquy định, cúng ở trong nhà hay ở vị trí nào đó ngoài trời Người cúng phảihiểu lai lịch dòng họ
2.3.4 Tín ngưỡng thờ cúng thần thổ địa
Thần thổ địa thường được cúng ở gốc cây to hoặc hòn đá có hình dáng
kỳ lạ trong khu rừng cấm mà người H’Mông gọi là “lùng sán”
Người H’Mông quan niệm rằng mọi người trong bản của mình đượckhỏe mạnh, làm ăn phát đạt, chăn nuôi trồng trọt được mùa là do thần thổ địaphù hộ Vì thần trú ngụ trong rừng già nên mọi người không được chặt cây ởkhu vực rừng cấm, không được phá phách nơi thần ở hay có các hành động vô
lễ với thần Còn nếu trong làng có nhu cầu cần phải lấy cây trong rừng câmthì phải làm lễ xin phép thần xong mới được lấy cây
Hàng năm vào đầu năm mới trong mỗi bản người H’Mông chọn mộtngày lành thường là ngày mồng 2 tháng 2, mỗi gia đình cử đại diện đến nơithần ở làm lễ cúng và lễ ăn ước Đồ cúng có thể là gà, lợn, dê và rượu Trong
lễ cúng cả bản cử ra một người làm trưởng lễ, thường phải là già làng, người
Trang 24đã có nhiều kinh nghiệm đọc bài văn khấn thần phủ hộ cho cả bản Sau khikhấn là tổ chức ăn uống và bàn bạc lại các quy ước trong bản Do đó lễ cúngthần thổ địa có ý nghĩa và tác dụng cố kết cộng đồng.
Quan hệ người dân với thần thổ địa trong bản là bình đẳng, thân ái,giúp đỡ lẫn nhau Ở đây, thần cũng bình đẳng như một thành viên của cộngđồng Thần chưa có sức mạnh siêu phàm tuyệt đối, chưa đứng trên cộng đồng
Do đó, cộng đồng dâng lễ vật cho thần thì thần phải có nghĩa vụ phù hộ, bảo
vệ cộng đồng Người H’Mông không có vị thần của toàn dân tộc Ông Chày,
Bà Chày, Gầu á, Dầu Âu trong thần thoại đều là anh hùng văn hóa Tục thờthần bản mệnh của cả cộng đồng trời đất tồn tại ở vùng người Việt, người Tàynhưng lại vắng bóng trong đời sống tín ngưỡng của người H’Mông
Ở người H’Mông, việc thờ cúng tổ tiên hay thần thổ địa là hình thức tínngưỡng cơ bản Nhưng sự thờ cúng này rất ít chịu ảnh hưởng của Tam giáo,không có những quy định phức tạp, chặt chẽ Các quan niệm, lễ thức thờ cúngvẫn còn đơn giản, giữ nhiều nét cổ sơ, nguyên thủy Tổ tiên và thổ địa thần cóchi phối đến đời sống tinh thần của người H’Mông Tổ tiên gần như hòa đồngvới các ma nhà, nhiều khi tổ tiên không được đề cao bằng “Xử ca” hoặc macửa “Xìa mềnh” Còn thổ địa thần lại có vai trò khá mờ nhạt, người H’Môngchỉ nhớ tới thần khi phải cầu xin che chở hoặc cúng thần ngày đầu năm Khácvới người Việt, người Tày, các thần bản mệnh cộng đồng làng của ngườiH’Mông chưa thực sự đóng vai trò trong đời sống tâm linh
2.3.5 Tín ngưỡng liên quan đến sản xuất nông nghiệp
Là cư dân nông nghiệp thành thạo việc canh tác trên nương rẫy, vì vậycác tín ngưỡng, nghi lễ liên quan đến sản xuất nông nghiệp rất được coi trọng.Chủ yếu biểu hiện như sau:
Hàng năm vào tháng giêng thường là từ ngày 13 đến ngày 15, dân bảnchọn ngày tốt để lên nương, vào ngày này mọi người mời nhau ăn uống vàcùng lên nương Mỗi gia đình chọn ngày lên nương riêng, đó là ngày mà khồn
Trang 25trùng với ngày gia đình có người chết Gia chủ mang rượu, thịt, hương lênnương để khấn cho mưa thuận gió hòa, ngô lúa được mùa.
Trong quá trình canh tác nếu trời hạn thì phải làm lễ cúng thần mưa, lễcúng rất đơn giản thường chỉ là rượu, hương và gà, gia chủ tự đọc lời khấnthần mưa
Trước khi thu hoạch phải làm lễ cúng thần hồn lúa xin phép mới đượcthu hoạch nếu không sẽ làm cho thần hồn lúa, ngô bị đau và bỏ đi Như vậythì năm sau có thể sẽ bị mất mùa
Sau khi thu hoạch xong thì phải làm lễ cúng cơm mới Lễ cúng cơmmới thường rất đơn giản, người ta luộc ba bắp ngô non sau đó để ra một cáibát để lên chiếc ghế giữa nhà rồi tiến hành khấn bái, tay cầm từng bắp ngô lên
tẽ từng hột, mỗi hột ngô tương ứng với một lời mời gọi ông bà, cha mẹ, cụ kỵ
về ăn cơm mới
2.3.6 Tín ngưỡng liên quan đến dòng họ
Cũng như những dân tộc anh em khác trong vùng, người H’Mông cũng
có quan niệm về dòng họ, đó là những người có cùng tổ tiên, cùng dòng máu vàngười H’Mông giải thích ý niệm đó qua câu chuyện “địa hồng thủy” mà khi nóiđến người H’Mông già nào cũng biết Chuyện kể rằng xưa kia nạn đại hồng thủylàm cho con người bị chết hết duy nhất chỉ có hai an hem sống sót được nhờ chuivào quả bầu, thấy vậy ông trời thương xót và cho phép hai an hem lấy nhau Sau
đó hai người sinh ra cục thịt không chân không tay không đầu, ông trời lại bảo
họ chặt cục thịt đó ra làm nhiều mảnh treo ở những chỗ khác nhau Sáng hômsau khi thức dậy đã thấy có người ở khắp nơi nhưng hai người không biết đặt tênthế nào cả sau khi bàn bạc họ quyết định người nào được treo ở đâu thì sẽ lấychỗ đó làm họ Người treo ở cây đào thì mang họ Thào, người treo ở cây mận thìmang họ Ly, người treo ở chuồng dê thì mang họ Giàng, chuồng ngựa thì mang
Trang 26họ Mùa… ngoài ra các họ còn được lấy theo tên màu sắc như họ Hoàng (màuvàng), họ Hờ (màu xanh), họ Hùng (màu đỏ)…
Đây thực sự là truyền thuyết về sự ra đời của các dòng họ, là huyềnthoại mang dấu ấn của thời kỳ tô tem giáo, một loại hình tôn giáo ở giai đoạncông xã nguyên thủy và đồng thời cũng là cách giải thích về cội nguồn conngười của dân tộc này, tương tự như truyện “Bọc trăm trứng” của người Việt,truyện “Bàn hồ” ở người Dao
Do có nhiều dòng họ khác nhau nên mỗi họ có những điều kiêng kỵ vàcúng bái riêng biệt Họ Giàng khiêng ăn quả tim con vật, họ Hờ không ăn thịtkhỉ, họ Ly kiêng ăn lá lách con vật, con dâu họ Lầu không quét bếp… Trongcác nghi lễ thờ cúng của các dòng họ cũng khác nhau, thể hiện ở cách cúng,cách bày bát, địa điểm cúng, cách thức cúng, bài văn cúng, cách chia đồ lễ
Họ Sùng bày 13 bát và chia thịt từ trái qua phải, họ Giàng bày 33 bát theođường vòng tròn và chia từ phải qua trái, họ Má bày 19 bát theo đường thẳng
Đối với người H’Mông, cộng đồng dòng họ hoàn toàn không phải lànhững người chỉ cùng tên họ Mà người H’Mông còn cho rằng, cộng đồng đóphải là các thành viên có chung một “tín hiệu” được thể hiện trong tín ngưỡngcủa và họ gọi “tín hiệu” chung ấy là “cùng ma” Trên bình diện của hệ thốngthân tộc, những người “cùng ma” không phải là toàn bộ khối cộng đồng
“trôngs” mà chỉ bao gồm cộng đồng “chêl” và phạm trù dòng họ được đề cập
ở đây chính là khối người “cùng họ cùng ma” Có thể nói “cùng ma” là đặctrưng vô cùng quan trọng của dòng họ người H’Mông, bởi đây là yếu tố tínngưỡng duy nhất giúp mọi người phân biệt dòng họ này với dòng họ khác, bởi
đó là nền tảng cơ bản tạo nên kết cấu bền vững cho sự tồn tại của cộng đồngdòng họ ở dân tộc này Theo quan niệm người H’Mông “cùng ma” có nghĩaphải giống nhau trong nghi lễ cúng khi làm ma bò, ma lợn, ma của và trongcách chôn cất người chết Đây là bốn lễ thức cơ bản nhất thể hiện rõ “tín
Trang 27hiệu” riêng của mỗi dòng họ Người H’Mông cho rằng, hoạt động tín ngưỡngnày được đặt ra từ thời ông tổ của dòng họ và truyền từ đời này sang đời khác,không ai có quyền tự ý làm trái.
2.3.7 Những tàn dư ma thuật, Tôtem giáo và một số biểu hiện Saman giáo
Trong ma thuật tình yêu người H’Mông tin rằng muốn người đó yêumình thì phải tìm cách lấy được tóc của người đó, Sau đó, bắn tin cho đốitượng, chắc chắn tình yêu sẽ đến Hoặc đốt xác khúc đuôi rắn đang giao cấurồi rắc vào cành cây búc rúc, quẳng vào lối đi mà cô gái hay đi qua, nếu côgái bước qua hoặc dẫm phải cành cây đó tức là đã mắc phải bùa yêu, phải lấyngười bỏ bùa Hoặc dùng bùa ngải để cho đôi trai gái đang yêu nhau trở nênghét bỏ nhau hoặc có thể ngược lại từ ghét nhau trở nên yêu nhau
Trong ma thuật hại người, người H’Mông tin rằng có ma và cũng tinrằng con người có thể làm ma, nuôi ma và thờ cả ma Muốn phát hiện ra cácloại ma này thì phải nhờ thầy cúng và thầy cúng sẽ đến nhà trừ ma và như vậymột phần nào làm cho tâm lý của con người trở nên thoải mái hơn
Tôtem giáo: