đây là tập những bài nghiên cứu của các chuyên gia hàng đầu Việt Nam về các lĩnh vực Lịch sử, văn hóa, việt nam học, nhân học, dân tộc học, khảo cổ học, lịch sử việt nam, lịch sử thế giới, lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam.
Trang 1MỤC LỤC
Tiểu ban 1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN SỬ HỌC
Nguồn tƣ liệu hình ảnh trong nghiên cứu lịch sử cận, hiện đại
Một số vấn đề về nguồn sử liệu chữ viết
ThS Đinh Thị Thùy Hiên
Trang 2 Về một nguồn tài liệu mới của sử học – Tài liệu internet
Công tác sưu tầm, khai thác và sử dụng tư liệu lịch sử trong
nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng
Suy nghĩ về “Những tiếp cận thời mở cửa của sử học Việt Nam”
TS Lê Hữu Phước
Trang 3Tiểu ban 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN LỊCH SỬ
Ai xây trường lũy Quảng Ngãi? Những kết quả sơ bộ của nghiên
cứu liên ngành
Andrew Hardy & Nguyễn Tiến Đông
164
Ứng dụng phương pháp Dân số học lịch sử trong xử lý nguồn tư liệu
gia phả Việt Nam
Một vài ý kiến trao đổi về cách tiếp cận nghiên cứu lịch sử kinh
tế - xã hội Việt Nam thời chiến tranh
TS Nguyễn Văn Hiệp
Mấy ý kiến về cách tiếp cận môn Lich sử Đảng Cộng sản Việt
Nam và môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
TS Dương Kiều Linh
230
Nghiên cứu Lịch sử Nam Bộ từ hướng tiếp cận khu vực học
PGS.TS Trần Thị Mai
240
Nghiên cứu chuyên nghiệp trong khoa học lịch sử - yêu cầu kết
gắn lý thuyết & thực tiễn
Trang 4 Những khu vực miền núi Việt Nam, vùng biên của những nghiên
cứu sử học
Philippe Le Failer
255
Vận dụng phương pháp so sánh lịch sử để nghiên cứu một số
quy định dành cho phụ nữ và quan lại trong pháp luật phong
kiến Việt Nam
Mấy vấn đề về phương pháp và lý luận trong nghiên cứu lịch sử
chuyển biến kinh tế - xã hội thời kỳ Đổi mới
Trang 5Tiểu ban 3 NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ - NHỮNG NHẬN THỨC MỚI
Một vài nhận thức mới về nhà Trần
PGS.TS Nguyễn Thị Phương Chi
327
Quan điểm của Minh Mạng về cuộc chiến tranh Anh – Miến Điện
lần thứ nhất và ý tưởng về “Sự đoàn kết Đông Nam Á”
PGS.TS Choi Byung Wook
Trang 6 Từ huyền thoại về biển đến cơ tầng văn hóa biển – Nhận thức về
biển, đảo trong nghiên cứu lịch sử, văn hóa dân tộc
PGS.TS.Nguyễn Văn Kim
438
Nghiên cứu lịch sử Việt Nam ở Nhật Bản: Trường phái, thành
quả và đặc điểm của nó
Nghiên cứu biển và đảo ở Việt Nam – Thực trạng và định hướng
(Nhìn từ Trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo, Trường Đại học
529
Không có sự khác nhau giữa Chánh cương và Luận cương của
Đảng năm 1930 (Qua khảo cứu Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2,
“Lịch sử Nam bộ kháng chiến” – Một công trình sử học của
những người trong cuộc
Nguyễn Trọng Xuất
556
Trang 7Tiểu ban 4 NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY, ĐÀO TẠO LỊCH SỬ
Phần lịch sử dân tộc trong chương trình, sách giáo khoa lịch sử phổ
thông hiện nay
Giảng dạy tiến trình lịch sử Việt Nam cho sinh viên nước ngoài ở
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội - một số thực trạng và giải pháp
Quán triệt hơn nữa quan điểm toàn diện trong nhận thức đối tượng
sử học vào việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử
PGS.TS Ngô Minh Oanh
Mấy vấn đề đổi mới phương pháp nghiên cứu và giảng dạy lịch sử
trong thời đại mới
PGS.TS Võ Văn Sen
623
Trang 8 Nghiên cứu khoa học sinh viên ở Khoa Lịch sử theo định hướng
Đại học nghiên cứu giai đoạn 2006-2011
TS Trần Thiện Thanh
627
Nghiên cứu khoa học với vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo sau
đại học của khoa Lịch sử, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội: Thực
trạng và những vấn đề đặt ra
PGS.TS Đào Tuấn Thành
633
Nghiên cứu khoa học phục vụ giảng dạy: một nhiệm vụ quan trọng
trong đổi mới giáo dục đại học
TS Phạm Thi ̣ Ngọc Thu
642
Cơ sở khoa học lựa chọn di tích lịch sử - văn hoá tiêu biểu ở Thanh
Hoá để tham quan thực tế và định hướng giảng dạy - học tập các
ngành khoa học xã hội trường Đại học Hồng Đức (Thanh Hoá)
TS Vũ Quý Thu, Vũ Quý Tùng Anh
650
Nghiên cứu khoa học với việc nâng cao chất lượng học tập đối với
sinh viên khoa Lịch sử trong các trường đại học
PGS.TS Đào Tố Uyên
667
Một cách tiếp cận mới trong nghiên cứu và giảng dạy lịch sử thế
giới thế kỷ XX trong các trường Đại học
PGS.TS Trần Thị Vinh
672
Thực trạng đào tạo và đội ngũ giảng viên chuyên ngành lịch sử của
các trường Đại học khu vực đồng bằng sông Cửu Long
TS Phạm Phúc Vĩnh
683
Mấy vấn đề về giảng dạy lịch sử Đảng cho sinh viên không chuyên
sử ở các tỉnh phía nam hiện nay
TS Phan Thị Xuân Yên
689
Trang 9TiÓu ban 1
NH÷NG VÊN §Ò VÒ Lý LUËN Sö HäC
Trang 11NGUỒN TƯ LIỆU HÌNH ẢNH TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ CẬN, HIỆN ĐẠI
PGS.TS Đào Xuân Chúc
Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội
Trong các tác phẩm nghiên cứu lịch sử cận, hiện đại, cùng với việc khai thác các nguồn tư liệu khác nhau, các nhà sử học đã quan tâm đến một nguồn sử liệu mới hình thành từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đó là tư liệu bằng hình ảnh Tư liệu hình ảnh đó là những tấm ảnh riêng lẻ hoặc một chuỗi hình ảnh động về muôn sự kiện, một con người nào đó đã hiện hữu trước ống kính, máy ảnh (có phim và không
có phim) hoặc máy quay hính… Chỉ cần một hình ảnh hoặc một đoạn phim tư liệu đã
có thể làm rõ sự kiện thay nhiều trang viết bằng ngôn ngữ chữ viết Đó chình là một lợi thế của nguồn tư liệu hình ảnh Tuy nhiên, không phải tấm hính nào, hay đoạn phim nào cũng thể hiện được điều đó Mặc dù những hình ảnh có thể giúp người xem được chứng kiến lại một sự kiện, một con người đang hoạt động trước ống kính máy ảnh, máy quay ghi hình Vì vậy, người xem dễ tin vào tính trung thực, tính chính xác của nguồn tư liệu này
Bài viết này, chúng tôi muốn làm rõ về đặc điểm của nguồn tư liệu bằng hình ảnh trong nghiên cứu lịch sử, qua đó có thể giúp các nhà sử học khai thác các thông tin trong nguồn tư liệu này một cách triệt để và chính xác và những lưu ý khi xử lý nguồn tư liệu này để có được những thông tin cần thiết cho các công trình nghiên cứu lịch sử
Đặc điểm của các nguồn tư liệu bằng hình ảnh
Nguồn tư liệu bằng hình ảnh bao gồm tài liệu hình ảnh tĩnh (các tấm ảnh rời lẻ) trên các vật mang tin khác nhau như trên giấy, phim nhựa, kình, băng từ, đĩa từ, đĩa cứng, thẻ nhớ… hoặc băng hính ảnh động (hình ảnh đang cử động) trên các vật mang tin như phim nhựa, băng từ tình, đĩa cứng, thẻ nhớ…
Những hình ảnh này là hình ảnh của các sự kiện con người đang diễn ra trước ống kính máy ảnh, máy ghi hính được các nhà nhiếp ảnh chụp hoặc quay và làm tái hiện lại trên mặt phẳng không gian 2 chiều hoặc 3 chiều
Về nguyên lý, máy ảnh máy ghi hình chỉ thu nhận được những hình ảnh của các đối tượng có thật diễn ra trước ống kính máy chụp ảnh, máy ghi hình Vì thế mà
độ chân thực từ những bức ảnh chụp sự kiện thường cao hơn các nguồn tư liệu khác
Trang 12Như thế chúng ta thấy rằng tư liệu hình ảnh thông thường được hình thành cùng với các sự kiện, hiện tượng hoặc các hoạt động của con người (trừ trường hợp chụp ảnh, ghi hình nghệ thuật hư cấu)
Đặc điểm này cho thấy, bất cứ một sự kiện, một con người hay một vật thể nào được ghi lại qua ống kính máy ảnh, máy ghi hình thì hình ảnh của chúng cũng được hiện lên và định hình trên các vật mang tin khác nhau như phim nhựa, giấy ảnh, băng đĩa từ, đĩa compac, thẻ nhớ… Như thế nó chỉ phản ánh những gì có thực, hiện diện trước ống kính mang tính chất khách quan Hình ảnh thu nhận được qua máy ảnh, máy ghi hình không thể phản ánh những gì không có hoặc trừu tượng ngoài phạm vi vật chất Chính vì vậy mà hình ảnh được coi là bằng chứng, chứng cứ cho thấy rõ một đối tượng, một sự kiện nào đó đã tồn tại trong thời điểm máy ảnh, máy ghi hính ghi được
Chính nhờ sự chụp ảnh, ghi hính như vậy mà làm nổi rõ từng chi tiết nhỏ nhất của đối tượng được ghi hình, mà nhiều nguồn sử liệu khác không có được, đã là cơ
sở để người xem tin vào tính chân thực và khách quan của những hình ảnh đó
Như đã nói ở trên, mặc dù hình ảnh được chụp được ghi bằng máy ảnh, máy ghi hình, là sự phản ánh của hiện thực khách quan, song không phải tấm ảnh nào cũng phản ánh đầy đủ và đúng bản chất của mọi đối tượng, sự kiện hay con người trên đó
Bởi vì, các nhà sản xuất ra các máy ghi hình khác nhau khi cùng chụp một đối tượng mà lại cho hình ảnh khác nhau như: gầy, béo, cao, thấp… Điều đó cho thấy hình ảnh là kết quả không chỉ mang tính chất kỹ thuật tự nhiên, mà những thông tin được ghi trên hình ảnh còn phụ thuộc vào sự chủ quan của người cầm máy Như thế hình ảnh không chỉ tuân thủ quy luật của tự nhiên, mà còn theo quy luật của xh Hình ảnh không chỉ dừng ở chỗ phản ánh hình thức bên ngoài của sự kiện, đối tượng, con người, mà còn có khả năng đi sâu khám phá ra quy luật, bản chất bên trong của các hiện tượng trong xã hội Ví dụ: hình ảnh một số thanh niên không tuân thủ “luật Giao thông”, đi xe máy không đội mũ bảo hiểm Ở đâycó thể thấy ý thức của những thanh niên đó không cao mà kỷ cương của xã hội cũng không được tôn trọng Và cả nếp sống văn hoá cũng không phù hợp với xã hội hiện tại Mặt khác nhà nhiếp ảnh có thể chụp được một phần của sự kiện, nghĩa là họ có thể cắt cúp đi những phần họ thấy là không cần thiết theo ý nghĩ chủ quan của người chụp Hoặc cũng có thể bắt một sự kiện, một hiện tượng nào đó đang vận động phải “dừng” lại ở một thời điểm, vào đúng lúc khi đối tượng ở trạng thái không gian ba chiều, ngưng lại trên bề mặt của không gian hai chiều Từ đó có thể thấy một hình ảnh vừa mang tính chất khách quan
là phản ánh cái có thật trước ống kính, lại vừa ang tính chủ quan như thể hiện ý đồ chụp ảnh, cảm hứng và trính độ nhận thức và trính độ chuyên ôn của người chụp ảnh, ghi hình Bằng cái nhìn sắc sảo hay hời hợt của người chụp ảnh, ghi hính đã tạo nên
Trang 13một bức hình có bố cục hợp lý hay bất hợp lý, phản ánh đúng hiện thực hay bóp méo hiện thực Vị trí chụp, các mối quan hệ giữa cái chính và cái phụ, màu sắc đậm nhạt,
độ xa gần của các vật chụp cũng giữ vai trò chủ đạo trong bố cục một hình ảnh hay trong một đoạn phim
Những yếu tố đó đều ảnh hưởng đến giá trị nội dung tư tưởng của bức ảnh, đoạn phim và tạo ra ngôn ngữ của hình ảnh nghĩa là hính ảnh đó thông tin cho người xem những tin tức gì cụ thể
Một số lưu ý khi sử dụng nguồn tư liệu hình ảnh trong nghiên cứu lịch
sử
Mặc dù hình ảnh là thông tin trực tiếp của sự kiện, hiện tượng hay con người, nhưng khi sử dụng vẫn hải tiến hành xác minh, phê phán để tìm ra những thông tin lịch sử chính xác nhất, phát hiện những sự giả mạo, như tạo hiện trường giả để quay phim, ghi hình
Bên cạnh những hình ảnh là nguồn thông tin thị giác trực tiếp, còn có những dòng chú thích Chú thích ảnh hay một đoạn phim cũng là nội dung của hình ảnh, vì lời chú thìch giúp người xem hiểu về xuất xứ của sự kiện, con người trên tấm ảnh, đoạn phim Chúng được chụp, ghi hình ở đâu, bao giờ? Tác giả là ai? Một hình ảnh
mà thiếu phần xuất xứ có thể mất đi một phần nội dung rất quan trọng, trong những trường hợp như vậy trước khi sử dụng hình ảnh để phục vụ nghiên cứu lịch sử phải xác minh và tím ra được những nội dung của bức ảnh đó
Thời gian càng xa sự kiện bao nhiêu, thì những hình ảnh của sự kiện càng có giá trị, nó làm sống lại một sự kiện bằng những hình ảnh sống động Tư liệu hình ảnh khác với tư liệu chữ viết là hình ảnh không miêu tả, không kể lại về sự kiện,
mà chỉ phản ánh, làm tái hiện lại các sự kiện hoặc con người bằng chính những hình ảnh mà ống kính, máy ảnh, máy ghi hình ghi lại được Thông qua các hình ảnh
đó, chúng ta có thể thấy lại được không khí của sự kiện thấy được tất cả những gì
đã xảy ra từ toàn cảnh đến đặc tả chi tiết của sự kiện
Qua những đặc điểm kể trên, có thể thấy hình ảnh là một loại tư liệu được hính thành đồng thời với sự kiện hay một diễn biến nào đó của quá trình xảy ra sự kiện Nó làm dừng lại những khoảnh khắc của các sự kiện đó với sự chính xác cao cả
về mặt không gian và thời gian Nếu biết được về thời gian và địa điểm của chụp ảnh, ghi hình thì có thể biết được xuất xứ của sự kiện, hiện tượng đã xảy ra trong quá khứ
Vì hình ảnh phản ánh chình xác đến từng điểm của một sự kiện, con người nên nhà sử học có thể dựa vào chúng để phục dựng lại một cách chính xác về hình thể, quang cảnh của một sự kiện nào đó, hoặc một nhân vật lịch sử nào đó được ghi trên hình ảnh (tĩnh và động) mà nhiều nguồn tư liệu khác không thể có được
Trang 14Tuy nhiên để khai thác chính xác những thông tin trên các tư liệu hình ảnh, cần phải có những phương pháp xử lý, phân tích về sử liệu học
Trên đây là một số vấn đề liên quan đến việc khai thác nguồn tư liệu hình ảnh trong nghiên cứu lịch sử Để đảm bảo cho việc sử dụng nguồn tư liệu hình ảnh vào nghiên cứu lịch sử, cần phải có phương pháp phân tìch, phê phán sử liệu cụ thể, trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể mới đem lại kết quả
Trang 15VAI TRÒ CỦA SỬ HỌC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
GS.TS Nguyễn Thị Côi
Khoa Lịch sử, ĐHSP Hà Nội
Ngày nay, sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ
và xu hướng toàn cầu hóa đã tạo ra thời cơ và thách thức lớn cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Sử học với tư cách là một khoa học trong các môn khoa học xã hội, một bộ phận quan trọng nhất của văn hóa và là khoa học của các khoa học, có vai trò như thế nào đối với sự phát triển của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế Trong bài viết này chúng tôi hy vọng góp thêm một số ý kiến
1 Điều kiện xây dựng, phát triển đất nước hiện nay, có những nét khác so
với trước đây Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã dẫn tới một hệ quả quan trọng là xu thế toàn cầu hóa Nền kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hóa cao và hình thành thị trường toàn thế giới, bao gồm tất cả các nước có chế độ chính trị, xã hội khác nhau, vừa hợp tác vừa đấu tranh với nhau, trong cùng chung sống hòa bình
Sự giao lưu trao đổi văn hóa, du lịch, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, sự hợp tác trên các lĩnh vực y tế, dân số, giáo dục, khoa học kỹ thuật, bảo vệ môi trường, giữa các quốc gia, dân tộc ngày càng phát triển và gắn bó chặt chẽ với nhau Điều đó,
đã tạo ra thuận lợi lớn cho Việt Nam cũng như các nước đang phát triển học hỏi kinh nghiệm và vận dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào phát triển đất nước Nếu bỏ lỡ thời cơ, chúng ta sẽ bị tụt hậu xa Mặt khác xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa cũng tạo ra nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc và xâm phạm độc lập
tự chủ của các quốc gia
Như vậy, nhiệm vụ dựng nước và giữ nước vẫn luôn đi đôi với nhau, song trong điều kiện hiện nay để bảo vệ Tổ quốc phải xây dựng đất nước vững mạnh Muốn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phải hoạch định đường lối, chình sách đúng, phù hợp với điều kiện lịch sử và phải đào tạo những con người đáp ứng yêu cầu rửa được
“nỗi nhục nghèo khổ” Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã chỉ rõ, trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, “khoa học xã hội và nhân văn hướng vào việc giải đáp các vấn đề lý luận và thực tiễn, dự báo các xu thế phát triển, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chình sách phát triển
Trang 16kinh tế, xã hội, xây dưng con người, phát huy những di sản văn hóa dân tộc, sáng tạo văn hóa mới của Việt Nam”1.Lịch sử là một khoa học trong các khoa học xã hội và nhân văn, có sứ mệnh làm cho quá khứ sống trong hiện tại và tăng thêm sức mạnh cho hiện tại Vì vậy, khoa học lịch sử có chức năng, khôi phục, miêu tả, giải thích hiện thực lịch sử một cách chình xác, đúng đắn và phục vụ xã hội con người Từ chức năng của nó và từ tình hình nhiệm vụ chính trị cụ thể ở mỗi giai đoạn lịch sử của mỗi nước quy định mà sử học có những nhiệm vụ cụ thể
2 Vai trò của Sử học đối với sự phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Trước hết kiến thức lịch sử là cơ sở để hoạch định đường lối, chính sách phát triển đất nước phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử
Sử học có chức năng quan trọng đầu tiên là nhận thức “Chức năng nhận thức của khoa học lịch sử là miêu tả một cách khoa học, hiện thực quá khứ khách quan và trên cơ sở sự miêu tả này mà phân tích, giải thìch tình phong phú và đa dạng các hình thức cụ thể của các quá trình lịch sử để rồi phát hiện những quy luật về lịch sử xã hội loài người”2
Khoa học lịch sử không trực tiếp liên quan đến quá trình sản xuất và phục vụ sản xuất như khoa tự nhiên và kỹ thuật Nó cũng giống học một số khoa học xã hội khác như kinh tế chính trị, nhà nước và pháp quyền có ảnh hưởng trực tiếp đến cơ sở
hạ tầng và thượng tầng kiến trúc Nhưng, khoa học lịch sử có tác dụng quan trọng đến sự phát triển xã hội Nó là căn cứ đáng tin cậy để phát hiện những quy luật chung, quy luật đặc thù, cá biệt, vận động trong xã hội
Từ việc nhận thức được các quy luật chung, sử học giúp chúng ta hiểu rõ sự phát triển của toàn bộ xã hội loài người Tìm hiểu những quy luật cá biệt, đặc thù sẽ giúp chúng ta nhận thức được sâu sắc hơn quy luật phát triển chung nhất Ngược lại nhận thức được quy luật chung sẽ giúp chúng ta nghiên cứu những quy luật đặc thù
và cá biệt Kinh nghiệm trong lịch sử thế giới và dân tộc chỉ rõ, ở mỗi giai đoạn lịch
sử nếu hoạch định đường lối, chính sách phát triển đất nước phù hợp với quy luật thì
xã hội sẽ phát triển Chính vì vây, có thể nói kiến thức và kinh nghiệm của lịch sử là
cơ sở để xác định đường lối và chính sách phát triển phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử Điều này đã được các tác giả kinh điển của chủ nghĩa Mác Lê nin khẳng định V I Lê nin xem lịch sử là một công trình nghiên cứu kinh nghiệm và những sai lầm của ngày hôm qua để ngày nay và mai sau không lặp lại những sai lầm
1
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 2001, trang 112
2
Phan Ngọc Liên (CB), Phương pháp luận sử học, Nxb ĐHSP, 2009 (Tái bản lần thứ hai có sửa
chữa và bổ sung), trang 74
Trang 17đó nữa “Chúng ta lấy năm tổng kết đã qua làm tài liệu, làm bài học, làm bậc lên và chúng ta phải ven theo bậc thang đó để đi lên hơn nữa”3
Chủ tịch Hồ Chì Minh trong quá trính đi tím con đường cứu nước đã sử dụng kiến thức lịch sử để xác định đường lối cách mạng đúng đắn cho dân tộc Trong quyển “Đường cách mệnh”, Người đã nêu rõ là phải “đem lịch sử các nước làm gương cho chúng ta soi, đem phòng trào cách mạng thế giới nói cho đồng bào ta rõ”4
Do đó khi nghiên cứu cách mạng Mỹ, Cách mạng Pháp, cách mạng Nga và lịch sử nước ta, Hồ Chì Minh đều rút bài học làm cơ sở để đưa ra sách lược và đường lối cho cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ Vì như, khẳng định về vai trò quần chúng trong cách mạng ở Pháp 1871, Người chỉ rõ “ …Đàn bà, trẻ con cũng giúp làm việc cách mạng được”, “Dân khì mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi”5 Từ đó, Người đã chỉ rõ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam
Trong điều kiện ngày nay, kiến thức lịch sử không chỉ là căn cứ để xác định đường lối, chính sách mà còn là một trong những cơ sở để kiểm tra, đánh giá tình đúng đắn, chính xác của đường lối, chình sách đã đưa ra Đó là một nhiệm vụ quan trong của khoa học lịch sử Như chúng ta đã biết, đường lối, chính sách phản ánh yêu cầu thực tiễn của một nước, ở mỗi giai đoạn nhất dịnh và là sự tổng kết lịch sử quá khứ Vì như, để chứng minh chủ trương “đoàn kết toàn dân” yếu tố có tính chất quyết định trong sự nghiệp đấu tranh giành và giữ độc lập dân tộc, Chủ tịch Hồ Chình Minh đã dùng nhiều sự kiện cụ thể trong lịch sử dân tộc để rút ra nguyên lý nổi tiếng “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công” Trong quá trình phát triển đất nước hiện nay, để kiểm tra tình đúng đắn của các chính sách đưa ra, nhà nghiên cứu không thể thiếu những hiểu biết sâu sắc về lịch sử Điều này giúp chúng ta tránh được những sai lầm đáng tiếc
Thứ hai, sử học là cuộc sống, sử học cung cấp cho chúng ta những bài học kinh nghiệm vô giá trong xây dựng và bảo vệ đất nước thời kỳ hội nhập
Sử học cũng như các ngành khoa học khác ra đời từ nhu cầu của cuộc sống Mặt khác bất cứ khoa học nào muốn tồn tại và phát triển đều phải phục vụ lợi ích của con người, của xã hội Lịch sử có vai trò quan trọng trong cuộc sống Kinh nghiệm
và bài học của quá khứ rất quý báu và bổ ích cho cuộc sống hôm nay Một nhà tâm lý học Pháp A.Pê rông đã giả định rằng nếu có một tai họa bất thần và vô cùng bí hiểm làm cho tất cả người già đều chết, mọi sách vở di tìch xưa bị thiêu hủy và trên trái đất
Trang 18chỉ còn trẻ con thì nhân loại lại bắt đầu mò mẫm từ thời “mông muội” và như vậy thì
sự tiến bộ xã hội bị thụt lùi lại biết bao Rõ ràng nếu không rút được bài học kinh nghiệm của quá khứ thì không thể phát triển trong hôm nay và mai sau Do đó các nhà sử học Hy lạp đã khẳng định rằng “Lịch sử là cô giáo của cuộc sống”, “Lịch sử
là bó đuốc soi đường đi tới tương lai” Lịch sử Việt Nam từ cội nguồn đến nay đã làm sáng tỏ điều này Một trong những bài học kinh nghiệm bao trùm, trở thành một quy luật đặc thù trong lịch sử dân tộc là nhiệm vụ dựng nước và giữ nước luôn luôn gắn liền với nhau Bài học quý giá này, chỉ cho chúng ta thấy tuy hoàn cảnh xây dựng đất nước ngày nay khác với trước đây, nhưng không bao giờ được tách rời hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Đồng thời, lịch sử dụng nước và giữ nước cũng dạy cho chúng ta bài học, ở bất kỳ hoàn cảnh nào?, giải quyết nhiệm vụ gì? yếu tố nhân dân và xây dựng khối đoàn kết toàn dân phải được coi trọng hàng đầu Vì như, qua kinh nghiệm của ba lần kháng chiến chống Mông – Nguyên, Trần Hưng Đạo đã nói với vua Trần Anh Tông, kế sách giữ nước nếu quân giặc lại đến là “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc, đó là thượng sách để giữ nước”6 Nguyễn Trãi nhà chiến lược quân sự tài giỏi, trong những năm tháng lặn lội đi tím kế cứu nước trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược, ông đã nhận thức sâu sắc sức mạnh tiềm tàng, vô địch của nhân dân “nếu người có nhân là dân, mà chở thuyền, lật thuyền cũng là dân” Để cứu nước giải phóng dân tộc phải tranh thủ được lòng dân, phát động sức mạnh tiềm tàng, vô địch của dân chúng để chuyển biến cuộc khởi nghĩa ở rùng núi trở thành chiến tranh nhân dân giải phóng đất nước Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là thắng lợi của tư tưởng nhân dân kết hợp chặt chẽ với tư tưởng nhân nghĩa trong tổ chức, chỉ đạo chiến tranh của bộ tham mưu
Trong lịch sử đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, biết bao những bài học kinh nghiệm của ông cha về xây dựng khối đoàn kết toàn dân, vận dụng nghệ thuật chiến tranh nhân dân vẫn còn nguyên giá trị Các bài học kinh nghiệm của cha ông được Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy đã đưa tới những thăng lợi vẻ vang trong cuộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc từ 1930 đến
1975 Những bài học kinh nghiệm của lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc có ý nghĩa sâu sắc trong công cuộc phát triển đất nước hiện nay Vì vậy, muốn phát triển đất nước trong điều kiện hiện nay, phải hiểu sâu sắc những bài học kinh nghiệm của quá khứ và phải biết sử dụng những hiểu biết về lịch sử vào thực tiễn sinh động, phong phú, đa dạng
Thứ ba, sử học trang bị cho chúng ta những kiến thức tinh hoa của văn hóa nhân loại, của dân tộc để học hỏi, giao lưu
6
Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (CB), Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nxb.Giáo dục,
2005, trang 565
Trang 19Xu hướng toàn cầu hóa hiện nay đã làm cho các quốc gia, dân tộc không phân biệt thể chế chính trị xích lại gần nhau Để xây dựng tình hữu nghị, hợp tác giúp đỡ nhau cùng phát triển, chúng ta phải làm cho mọi người hiểu về ta Muốn vậy, chúng
ta phải tuyên truyền nói rõ cho nhân dân thế giới và khu vực hiểu đúng về lịch sử dân tộc ta Bởi vì, nếu nhân dân các nước hiểu không đúng về lịch sử quá khứ của nhau thì khó lòng xây dựng được một tình hữu nghị thực sự trong hiện tại Vì vậy, muốn hội nhập phải nói rõ lịch sử dân tộc mình cho thế giới hiểu đúng Đồng thời nước ta
là nước đang phát triển, cần phải học hỏi kinh nghiệm của các nước khác Việc tìm hiểu lịch sử nước ngoài, nhất là lịch sử các nước láng giềng trong khu vực, các nước lớn có quan hệ mật thiết với chúng ta để hiểu họ và học hỏi tinh hoa văn hóa của họ
là điều không thể thiếu Vì như, nhờ những hiểu biết về công cuộc cải tổ ở Liên Xô (1985 -1991), sự nghiệp cải cách mở cửa ở Trung Quốc từ 1978, chúng ta đã học tập được nhiều kinh nghiệm vô giá cho công cuộc đổi mới của nước ta Hiểu biết sâu sắc
về những nguyên nhân dẫn tới sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, chúng ta sẽ học hỏi được nhiều bài học cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước hiện nay, trong đó có một yếu tố vô cùng quan trọng là đào tạo, bồi dưỡng nguồn lực con người Hoặc, tại sao một số nước Đông Nam Á như Xin ga pho, Malai xi a … có những nét tương đồng với Việt nam, nhưng từ sau khi giành được độc lập, đất nước lại phát triển như vậy? Việt Nam đã học hỏi được gì ở các nước này trong công cuộc xây dựng đất nước? Rõ ràng muốn học hỏi tinh hoa văn hóa, kinh nghiệm lịch sử của các nước và giao lưu phải có kiến thức lịch sử sâu sắc
Thứ tư, sử học có tác dụng to lớn trong giáo dục các thế hệ người Việt Nam
về truyền thống, bản sắc dân tộc để không bị hòa tan khi hội nhập với thế giới, khu vực
Lịch sử là bản thân những hoạt động xã hội loài người, dân tộc trên tất cả các lĩnh vực với những biểu hiện muôn màu, muôn vẻ, mà nhờ đó con người có thể đúc kết được các kinh nghiệm làm gương cho đời sau Chính vì vậy, Phạm Công Trứ trong lời tựa của cuốn Đại Việt sử ký toàn thư tục biên đã viết “Ví sao mà làm quốc
sử Vì sử chủ yếu là để ghi chép Có chính trị của một đời, tất phải có sử của một đời Một ngòi bút chép sử giữ nghị luận rất nghiêm Ca ngợi thời thịnh trị thì sáng tỏ ngang Mặt trời, Mặt trăng, lên án kẻ loạn tặc thì gay gắt giống sương thu lạnh buốt”7
Sử học không chỉ nghiên cứu quá trình phát triển của xã hội loài người mà nó còn tích cực tham gia vào đời sống xã hội, khi thực hiện chức năng giáo dục Nó làm cho mỗi người suy nghĩ, cảm thụ, tự hào về quá khứ của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, góp phần vào sự phát triển tương lai của dân tộc và nhân loại Vì vậy, trong quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chì Minh đã viết cuốn “Lịch sử nước
7
Dẫn theo PGS Nguyễn Tài Thư, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Tập 1, Nxb KHXH 1993, trang 311
Trang 20ta” bằng thể thơ lục bát, nhắc lại lịch sử dân tộc từ họ Hồng Bàng đến năm 1941 chình là làm gương để giáo dục Trong hội nhập quốc tế và khu vực, bên cạnh việc làm cho thế giới hiểu mình, còn cần củng cố độc lập chủ quyền gắn liền với bảo vệ truyền thống, bản sắc dân tộc Muốn vậy, cần phải giáo dục cho mọi người, đặc biệt
là thế hệ trẻ những tư tưởng tình cảm đúng đắn trong đó truyền thống dân tộc nói chung, truyền thống yêu nước nói riêng là một nội dung quan trọng Từ chức năng giáo dục, nêu gương mà sử học có ý nghĩa to lớn trong công việc này
Những con người thật, việc làm thật trong lịch sử có tác dụng giáo dục mạnh
mẽ cho mọi người truyền thống yêu nước Bởi ví, lòng yêu nước của nhân dân ta được hính thành trong lao động sản xuất và chiến đấu bảo vệ tổ quốc, giải phóng dân tộc, phát triển trong công cuộc xây dựng CNXH ngày nay Nó đã trở thành đạo lý của người Việt Nam, là tiêu chí cao nhất để đánh giá tính cảm của người dân đối với
Tổ quốc8 Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là một động lực phát triển của dân tộc, có sức mạnh như một “làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả bè lũ bán nước và lũ cướp nước”9 Lòng yêu nước của người Việt Nam được biểu hiện ở tính yêu gia đính, làng xóm, quê hương, lòng căm thù kẻ cướp nước, ý chì độc lập, tự do, niềm tự hào về quê hương đất nước…trong
đó đỉnh cao là ý thức trách nhiệm đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và gìn giữ, phát huy những di sản văn hóa dân tộc Sử học cung cấp bằng chứng khoa học khẳng định rằng, Việt nam là một vùng đất xa xưa, một trong những chiếc nôi sinh trưởng của con người trên trái đất Trải qua quá trính lao động, tổ tiên ta đã từng bước làm thay đổi bộ mặt xã hội, hình thành một lãnh thổ chung, một nền văn minh
sơ khai đầu tiên Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc Từ đó, trong quá trính xây dựng đất nước, ông cha ta đã tạo dựng được nhiều thành tựu, để lại nhiều bài học quí báu Những hiểu biết này sẽ khơi dậy trong trái tim mọi người niềm tự hào về quê hương đất nước Qua đó thấy được trách nhiệm của bản thân trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc giàu đẹp hiện nay và mai sau Những sự kiện cụ thể về việc cải tạo thiên nhiên (khai khẩn đất hoang, đắp đê lấn biển …) để phát triển kinh tế, đặc biệt là cuộc đấu tranh liên tục, anh dũng chống ngoại xâm đã thể hiện sáng ngời truyền thống yêu nước của nhân dân ta Tính từ cuộc kháng chiến đầu tiên của dân tộc ta chống quân Tần xâm lược đến cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước thắng lợi, nhân dân ta đã nhiều lần khởi nghĩa, tiến hành cuộc kháng chiến để giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước Trong quá trính đấu tranh giữ nước ấy, ý chì độc lập, tự do và tinh thần quyết chiến, quyết thắng để bảo vệ Tổ quốc là một nội dung mà sử học có khả
8
Phan Ngọc Liên (CB), Trịnh Đính Tùng, Nguyễn Thị Côi, Phương pháp dạy học lịch sử, tập 1, Tái
bản có sửa chữa, bổ sung, Nxb ĐHSP, 2009, trang 213
9
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, xuất bản lần thứ hai, Tập 6, trang
171
Trang 21năng giáo dục cho các thế hệ người Việt Nam Hiểu rõ bài học của quá khứ, chúng ta càng hiểu sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chì Minh “thà hy sinh tất cả, nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” và biết vận dụng kinh nghiệm của quá khứ để bảo vệ Tổ quốc hôm nay
Mặt khác những tấm gương sáng ngời của các anh hùng liệt sỹ, đã hy sinh ví
Tổ quốc trong dựng nước và giữ nước không chỉ khơi dậy trong trái tim mọi người Việt nam lòng khâm phục, kính trọng, biết ơn mà còn trở thành những tấm gýõng soi cho chúng ta học tập, suy ngĩ về trách nhiệm của mính đối với đất nước Chính vì vậy, kiến thức lịch sử còn có tác dụng điều chỉnh hành vi của con người trong xã hội
Rõ ràng tri thức lịch sử có vai trò vô cùng quan trọng trong việc giáo dục truyền thống, bản sắc dân tộc cho mọi người, đặc biệt là thế hệ trẻ - những chủ nhân của đất nước hôm nay và mai sau
Tìm hiểu chức năng, nhiệm vụ của sử học, chúng ta càng hiểu sâu sắc vai trò
to lớn của tri thức lịch sử đối với sự phát triển đất nước trong xu thế toàn cầu hóa Biết khai thác, sử dụng tri thức lịch sử sẽ tạo ra cho chúng ta sức mạnh để hội nhập
mà không bị hòa tan Để sử học phát huy được ưu thế của mình, cần đặt khoa học lịch sử và bộ môn lịch sử ở trường phổ thông đúng với vị trí vốn có của nó Mặt khác cần phải tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức lịch sử cho các thế hệ người Việt nam, để “dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tìch nước nhà Việt Nam”
Tài liệu tham khảo
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2001
2 Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (CB), Từ điển nhân vật lịch sử Việt
5 Phan Ngọc Liên (CB), Nhập môn Sử học, Nxb ĐHSP, 2006
6 Phan Ngọc Liên (CB), Phương pháp dạy học lịch sử, tập 1, Nxb ĐHSP,
2009
7 Phan Ngọc Liên (CB), Phương pháp luận sử học, Nxb.ĐHSP, 2009
8 V.I Lê nin, Toàn tập, Tập 30, Tiếng Nga
Trang 22MẤY Ý KIẾN VỀ VẤN ĐỀ XÁC ĐỊNH ĐỐI TƯỢNG
NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ QUÂN SỰ Ở NAM BỘ
Đại tá PGS.TS Hồ Sơn Đài
Phòng Khoa học công nghệ-Môi trường Quân khu VII
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam ra đời năm 1981; cũng từ năm ấy, hệ thống
tổ chức ngành lịch sử quân sự Việt Nam hình thành Tuy vậy, do nhu cầu thực tiễn, công tác tổng kết chiến tranh, biên soạn lịch sử quân sự ở Nam Bộ được đặt ra từ ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng Do điều kiện chiến tranh, “lãnh địa”
sử học quân sự có thể nói đang là vùng đất hoang hóa với ngồn ngồn sự kiện, tư liệu chưa được đối chiếu, thẩm định, nhiều vấn đề chưa được tổng kết, đánh giá Công việc hết sức mới mẻ, phần đông cán bộ nghiên cứu lịch sử vừa tạm rời tay súng để cầm bút chưa được đào tạo cơ bản, thiếu kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn Trong lúc đó, nhiệm vụ tổng kết chiến tranh, biên soạn lịch sử đòi hỏi phải thực hiện ngay, nhằm kịp thời lưu giữ các nguồn tài liệu (thành văn và trì nhớ) đang có nguy cơ ngày càng mai một, nhằm ghi nhớ và tôn vinh công lao của các thế hệ cán
bộ, chiến sĩ từng chiến đấu hy sinh trong kháng chiến, và quan trọng hơn để tìm rút những bài học kinh nghiệm hầu vận dụng thực hiện trong thời kỳ cách mạng mới
Ngành lịch sử quân sự ở Nam Bộ ra đời và hoạt động trong điều kiện như vừa nêu ở trên, và trong giới hạn trách nhiệm của mính, đã đạt được những thành tích đáng ghi nhận, nhất là trên lĩnh vực tổng kết hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và biên soạn lịch sử các tổ chức quân sự
Tình đến năm 2010, đã biên soạn xong và xuất bản hàng trăm cuốn sách về tổng kết hai cuộc chiến tranh trên từng địa bàn, tổng kết cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và mười năm làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia; tổng kết các trận đánh, chiến dịch và chuyên đề như công tác hậu cần, công tác kỹ thuật, công tác quân báo, công tác đảng công tác chính trị…; hàng trăm cuốn sách về lịch sử các đơn
vị từ Bộ Tư lệnh Miền đến các trung đoàn, tiểu đoàn, lịch sử lực lượng vũ trang tỉnh, huyện, lịch sử kháng chiến các cấp, các lĩnh vực hoạt động của lực lượng vũ trang
Trong số hàng ngàn1 cuốn sách đã được xuất bản, bên cạnh những ưu điểm,
có không ít khuyết nhược điểm cần trao đổi bàn luận thêm Một trong những nhược
1
Theo TS Trần Thị Nhung, từ năm 1975 đến năm 2010, toàn Nam Bộ có 2250 đầu sách đề tài lịch
sử kháng chiến đã được xuất bản, (Tổng quan về viết lịch sử kháng chiến 1945-1975 ở Nam Bộ qua
các ấn phẩm xuất bản trong nước, đề tài cấp viện, Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ)
Trang 23điểm ấy là sự thiếu rạch ròi, sự “chồng lấn” đối tượng nghiên cứu Xác định đối tượng nghiên cứu lịch sử quân sự như thế nào, từ thực tiễn hoạt động nghiên cứu và chất lượng ấn phẩm lịch sử quân sự, bài viết này xin đề cập đến một số nội dung vừa
có ý nghĩa đặc điểm riêng của ở Nam Bộ, vừa hàm chứa những yếu tố có thể có liên quan chung
1
Chúng ta biết rằng khoa học lịch sử quân sự bao gồm các bộ phận hợp thành: lịch sử chiến tranh, lịch sử tổ chức quân sự, lịch sử nghệ thuật quân sự, lịch sử tư tưởng quân sự, lịch sử kỹ thuật quân sự… Mỗi loại đề tài có những quy định, yêu cầu riêng về đối tượng nghiên cứu, những nội dung cần đề cập trong tác phẩm Vì như, lịch sử chiến tranh thì nghiên cứu nguyên nhân tính chất, quá trình diễn biến và đánh giá kết quả của cuộc chiến tranh trên tất cả các mặt biểu hiện của nó; còn lịch sử tổ chức quân sự thì nghiên cứu sự hình thành, phát triển và đặc điểm của một tổ chức
vũ trang qua các giai đoạn lịch sử Không kể các công trình tổng kết chiến tranh, lâu nay, ngành khoa học lịch sử quân sự ở Nam Bộ chủ yếu tập trung nghiên cứu ba nhóm đề tài : 1- Lịch sử chiến tranh (lịch sử kháng chiến của Nam Bộ, của các quân khu, tỉnh, huyện); 2- Lịch sử tổ chức quân sự (lịch sử lực lượng vũ trang các địa phương, quân đoàn, sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn, nhà trường, các cục tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật); 3- Lịch sử chuyên đề (lịch sử công tác đảng công tác chính trị, lịch sử công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, lịch sử căn cứ địa…)
Có một thực tế là, khi thực hiện các đề tài nghiên cứu nêu trên, việc xác định ranh giới các loại đề tài thường rất mờ nhạt, nhiều khi chồng lấn lên nhau Đọc cuốn lịch sử kháng chiến thấy gần giống như lịch sử tổ chức đơn vị, và ngược lại Làm thế nào để một công trình sử học phản ánh trực tiếp, cô đọng đối tượng nghiên cứu? Mỗi một đề tài chỉ nghiên cứu riêng điều gí để tránh trùng lặp, dẫm chân lên đề tài khác? Đây là công việc không dễ dàng thực hiện
Để tiệm cận đến điều đó, người nghiên cứu lịch sử quân sự phải định rõ nội dung nghiên cứu của đề tài, loại bỏ ngay từ đầu những khu vực không thuộc chủ đề nghiên cứu, từ đó xây dựng đề cương và chỉ sưu tầm khai thác tư liệu khía cạnh phù hợp với đề tài Đồng thời sử dụng thuần thục phương pháp lôgìc và kết hợp giữa phương pháp lôgìc với phương pháp lịch sử để trình bày, luận giải đối tượng nghiên cứu, bám chắc đối tượng nghiên cứu để phân định nội dung đề cập
Cùng một bối cảnh lịch sử, một sự kiện, hiện tượng, một số liệu, nhưng tùy theo thể loại, đối tượng nghiên cứu mà người nghiên cứu có ý định và cách thức sử dụng nó trên từng bình diện khác nhau Một tư liệu lịch sử do đó sẽ xuất hiện trong cuốn lịch sử kháng chiến khác với trong cuốn lịch sử tổ chức đơn vị hoặc lịch sử chuyên ngành Nếu người nghiên cứu biên soạn không nắm chình xác đối tượng, phân tích lựa chọn các khía cạnh nội dung phù hợp với đề tài nghiên cứu và có
Trang 24phương pháp nghiên cứu đúng đắn, chúng ta sẽ cho ra đời những sản phẩm sử học có nội dung bàng bạc, trùng lắp, na ná như nhau giữa các cuốn sách khác nhau khi cùng phản ánh một giai đoạn lịch sử
2
Vấn đề thường gặp khi nghiên cứu các đề tài lịch sử ở Nam Bộ là xác định phạm vi không gian của đối tượng nghiên cứu Phạm vi không gian của đối tượng nghiên cứu vốn là một trong những động tác cần được xác định ngay từ đầu đối với bất kỳ một đề tài khoa học lịch sử nào, đặc biệt đối với các đề tài khoa học lịch sử ở vùng, miền, tức ở địa phương Địa phương, theo từ điển ngôn ngữ là những vùng, khu vực trong quan hệ với những vùng và khu vực khác trong cả nước Bản thân lịch
sử địa phương chưa phải là một ngành khoa học độc lập mà chỉ là một bộ phận của việc nghiên cứu lịch sử chung cả nước, và vì thế nó cần được phân định phạm vi không gian một cách rõ ràng
Phạm vi không gian nghiên cứu trong các đề tài khoa học lịch sử ở Nam Bộ thường có các trường hợp sau : 1- Lịch sử B2, quân khu, phân khu (tổ chức quân sự theo lãnh thổ, có thể cả Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ, hoặc từng miền, vùng, liên tỉnh); 2- Lịch sử các đơn vị hành chính (tỉnh, huyện, xã); 3- Lịch sử các đơn vị (địa bàn đóng quân và hoạt động) Trong thời kỳ chiến tranh, trên địa bàn Nam Bộ, tổ chức quân sự Miền (cả Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ); lại có nhiều quân khu như quân khu miền Đông, quân khu Sài Gòn – Gia Định và một số tỉnh thuộc Quân khu
6, Quân khu 8, Quân khu 10 Bản thân phạm vi các quân khu này thường xuyên thay đổi do yêu cầu nhiệm vụ trong từng thời đoạn lịch sử cụ thể Phạm vi hành chính từng tỉnh, huyện, xã cũng vậy; có mở rộng – thu hẹp, thành lập – giải thể, nhập – tách…) Mỗi tổ chức quân sự hay đơn vị hành chính hoặc vùng, khu vực nhận sự lãnh đạo chỉ đạo của cơ quan cấp trên trực tiếp khác nhau
Do không làm rõ đặc điểm nêu trên, nhiều cuốn sách có nội dung trùng lặp nhau Một sự kiện lịch sử đồng thời là nội dung chính của lịch sử các địa phương liền
kề và của tổ chức quân sự thuộc hoặc bao gồm địa phương đó Lịch sử một tổ chức quân sự, một khu vực, một đơn vị hành chính gồm nhiều tổ chức quân sự hoặc địa phương nhập lại, không thể làm một phép cộng đơn thuần các tổ chức hoặc địa phương nhỏ với nhau, mặc dù các mảnh nhỏ ấy nằm trong mối tương quan không thể tách biệt về địa bàn – phạm vi chung của đối tượng nghiên cứu
Cần xây dựng một cái “cây” đối tượng nghiên cứu, ở đó có hệ thống lãnh đạo, chỉ huy, tổ chức và địa bàn hoạt động của đối tượng trong từng thời đoạn cụ thể với các “nhánh”, “rễ” liên quan; từ đó tím ra mạch đi chình để khai thác tư liệu và phục dựng lại quá khứ lịch sử Như thế, chúng ta mới có thể có được những công trình sử học vừa bảo đảm tính nhất quán, tổng thể, vừa phản ánh riêng rẽ, đầy đủ sắc thái riêng của đề tài, tránh chung chung, hời hợt
Trang 253
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ở Nam Bộ,
hệ thống quân sự được tổ chức thành các cấp : Nam Bộ (hoặc Miền : B2), quân khu, tỉnh, huyện, xã Đề tài khoa học lịch sử quân sự cũng theo đó có các cấp tương ứng,
vì như : lịch sử Bộ Tư lệnh Nam Bộ, Bộ chỉ huy Miền (B2), lịch sử bộ đội chủ lực miền, lịch sử các quân khu… Tuy nhiên, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng,
tổ chức Miền (B2) giải thể, các quân khu 5, 7, 9 (mới được kiện toàn lại) chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Theo phân cấp, quân khu nào thực hiện các đề tài khoa học lịch sử quân sự của quân khu đó Hệ đề tài cấp Nam Bộ (trong kháng chiến chống thực dân Pháp), cấp B2 (trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ) bị bỏ trống, không nằm trong chương trính kế hoạch nghiên cứu của các quân khu
Trong khi đó, việc nghiên cứu lịch sử quân sự ở cấp Nam Bộ, Miền trở thành nhu cầu tự thân, không thể không thực hiện Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động kháng chiến của lực lượng vũ trang ở Nam Bộ thông qua
Xứ ủy, Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Nam Bộ, Bộ chỉ huy Miền Mọi hoạt động của lực lượng vũ trang ở Nam Bộ, ở B2 diễn ra trong mối tương quan như một thực thể thống nhất Nghiên cứu lịch sử kháng chiến, lịch sử tổ chức đơn vị, lịch sử chuyên ngành ở Quân khu 7 hay Quân khu 9, hay Quân đoàn 4 không thể không nghiên cứu lịch sử Bộ Tư lệnh Nam Bộ, Bộ chỉ huy Miền Lại nữa, do cơ quan Bộ
Tư lệnh Nam Bộ hay Bộ Chỉ huy Miền thường đứng chân tại địa bàn Quân khu 7 hay Quân khu 9, nhiều khi chỉ đạo, chỉ huy vượt cấp trực tiếp xuống từng tỉnh, từng cơ quan đơn vị trực thuộc Quân khu Một số cơ quan hoặc đơn vị vũ trang vừa làm nhiệm vụ do Bộ Tư lệnh Nam Bộ, Bộ Chỉ huy Miền trực tiếp giao vừa chịu sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Bộ Tư lệnh Quan khu 9 hay Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn – Gia Định
Việc nghiên cứu khoa học lịch sử quân sự ở các quân khu, quân đoàn trong những năm qua, do đó, vừa thực hiện các đề tài của cấp mình, vừa “với” lên cấp trung gian giữa Quân khu và Bộ: cấp miền; nhiều khi “cấp quân khu” và “cấp miền” trộn lẫn vào nhau Điều này gây không ìt lúng túng cho người viết sử khi xác định phạm vi cấp độ của đối tượng nghiên cứu, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phạm vi đề tài của quân khu, quân đoàn với tổ chức chỉ đạo, chỉ huy của cấp trên (xứ, miền và Trung ương) và minh định, phản ánh đầy đủ hoạt động của lực lượng
vũ trang từng cấp thuộc đề tài nghiên cứu…
Để giải quyết tốt các yêu cầu của thực tiễn, cần phải có một hệ đề tài riêng về cấp Nam Bộ, cấp Miền, như các đề tài Lịch sử Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền, Lịch sử quân giới Nam Bộ, Lịch sử bộ đội Pháo binh Miền… (Loại đề tài này không thuộc trách nhiệm riêng của các quân khu, quân đoàn và khó thuyết minh đăng ký loại đề tài cấp Bộ) Đồng thời, khi nghiên cứu loại
Trang 26đề tài nói trên cần căn dựa vào hệ thống tổ chức của đối tượng nghiên cứu, tách chọn nguồn tài liệu liên quan trực tiếp đến sự vận động của đối tượng nghiên cứu trong mối liên hệ trên dưới qua các giai đoạn phát triển Như thế, ta sẽ không bỏ sót các đối tượng phản ánh và trình bày nó với tư cách là chủ thể độc lập trong mối liên hệ vừa đa chiều, vừa mạch lạc như nó vốn có trong lịch sử
Phân biệt sự khác nhau giữa khoa học này với khoa học khác trước hết là sự phân biệt đối tượng nghiên cứu Đối tượng chung của khoa học lịch sử quân sự là quân đội và chiến tranh, là quá trình hình thành và phát triển các hoạt động quân sự trong đời sống xã hội với toàn bộ tình đa dạng, muôn hình muôn vẻ của chúng Nghiên cứu một đề tài lịch sử quân sự ở Nam Bộ chình là làm rõ cái đơn nhất, cụ thể trong sự đa dạng, muôn hình muôn vẻ ấy Xác định đúng phạm vi đối tượng nghiên cứu trong tổng kết chiến tranh, biên soạn lịch sử quân sự ở Nam Bộ, vì thế, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nó vạch định con đường đi và cái đìch cần đạt tới của một
đề tài khoa học lịch sử quân sự!
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 2-2011
Trang 27BẢN CHẤT CỦA SỬ LIỆU
PGS.TS Phạm Xuân Hằng
Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội
Nhà nghiên cứu lịch sử không thể triển khai nghiên cứu, nếu không có các sử liệu Để thấy rõ vai trò tiên quyết của sử liệu trong nghiên cứu lịch sử, chúng tôi thử phác họa bản chất của sử liệu thông qua xem xét khái niệm, chức năng, tình chất của
nó
1 Khái niệm sử liệu
Sử liệu đã được các nhà sử học phương Tây nghiên cứu và đề xuất từ cuối thế
kỷ XIX Chẳng hạn, hai nhà sử học thực chứng Pháp Langlois Ch và Seignobos Ch
coi “Nguồn sử liệu là những dấu vết do tư tưởng và hành động của con người từ quá
khứ để lại” 2 Theo hai ông, những sản phẩm tinh thần và vật chất của con người
trong qúa khứ để lại mà chúng ta đó biết hoặc sẽ biết đều là các sử liệu có thể sử dụng được để nghiên cứu lịch sử
Cụ Nguyễn Văn Tố lại coi “Sử liệu là những di tích dùng để chép các việc đã
qua trong một nước hay của một người, như lời chỉ thị, tờ biên bản, giấy truyền đơn, bài nhật báo, bức công văn cùng những sách chính sử của nhà nước hay lời kỹ thuật của người riêng, cho đến cả câu ca dao, truyện truyền kỳ, hoặc tờ tranh bức ảnh….”3 Định nghĩa này dừng lại ở liệt kê những kết quả hoạt động cụ thể của con người có thể sử dụng để nghiên cứu lịch sử
Nhà sử học Đức E Bernheim đã viết: “Nguồn sử liệu là những kết quả hành
động của con người, những kết quả này hoặc từ một ý đồ có trước, hoặc từ bản thân
sự tồn tại của nó, đặc biệt có ích cho nhận thức (lịch sử) và kiểm tra sự kiện lịch sử” 4 Cần hiểu như thế nào về cái gọi là “ý đồ có trước” và “bản thân sự tồn tại”
trong mối liên hệ với việc phục vụ nhận thức lịch sử và kiểm tra sự kiện lịch sử
Tất cả những gì được hình thành trong quá trình hoạt động của con người một cách tự nhiên và đều xuất phát từ nhu cầu cuộc sống (như nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt vật chất, tinh thần, công cụ sản xuất, phương tiện quân sự ), nay còn lại đều là những cái được xuất hiện như sự tồn tại của bản thân chúng, chứ không phải sinh ra
Trang 28với ý đồ lưu truyền ký ức lịch sử Trên thực tế chúng đã từng là một mảnh, một bộ phận của sự kiện đã diễn ra trong quá khứ
Phải chăng, ở khía cạnh khác, khi sự kiện đã qua đi, nhưng con người chủ động, có “ý đồ” muốn lưu giữ những ký ức về sự kiện nên đã tái tạo, mô phỏng nó dưới nhiều hình thức khác nhau (tượng đài, hồi ký, huy hiệu kỷ niệm ), mà sau này nếu thấy nó có ích, nhà nghiên cứu có thể tham khảo, sử dụng trong quá trình nghiên cứu
Nhà sử học Ba Lan Kosiatkowski cũng có định nghĩa tương tự, nhưng giản
đơn hơn: “Sử liệu là những dấu vết còn lại sau một sự kiện lịch sử, phục vụ cho nhận
thức và khôi phục sự kiện đó” 5 Theo đó, chỉ những “dấu vết” nào phục vụ cho nhận
thức lịch sử mới được coi là sử liệu
Dưới góc độ thông tin, J Topolski - nhà phương pháp luận sử học Ba Lan coi
“Sử liệu là mọi thông tin về đời sống con người trong quá khứ cùng với các kênh
thông tin” 6 Điều hiển nhiên là không thể có thông tin lại không có kênh thông tin,
ngược lại, không bao giờ có kênh thông tin lại không chứa đựng thông tin Mỗi sự vật bao giờ cũng mang trong nó những thông tin này hay thông tin khác Khi một sự vật cụ thể được xác định, chúng ta cũng có thể xác định niên đại của nó và như vậy,
ngay sự hiện diện của kênh cũng chứa đựng thông tin có tính chất lịch sử của riêng
nó, chứ không chỉ những thông tin mà nó truyền tải Nếu cho rằng chỉ khai thác
những thông tin thì có lẽ chưa thoả đáng
C.O Smidt, nhà sử học Nga, cho rằng: “Sử liệu là tất cả những gì mà từ đó
khai thác được những thông tin về quá khứ” 7 Định nghĩa này có sự khái quát cao về
phạm vi các nguồn sử liệu, tất cả những gì có thể khai thác được những thông tin về quá khứ, bất kể chúng là gì, tồn tại ở đâu, dưới dạng nào, nếu cung cấp thông tin về quá khứ thì đều là sử liệu
Điểm qua một vài định nghĩa nêu trên, cho thấy các nhà sử học đưa ra những định nghĩa cho khái niệm này với những cấu trúc khác nhau Trên thực tế, thông qua khái niệm mà họ đề xuất, chúng ta thấy phạm vi các nguồn sử liệu cần sử dụng cho
nghiên cứu lịch sử có phạm vi cũng rộng, hẹp khác nhau
Về cơ bản, các nhà sử học trên coi những dấu vết tư tưởng và hành động, hay mọi kết quả hoạt động của con người là sử liệu Rõ ràng, quan niệm như thế đó thu hẹp phạm vi các sử liệu, hoàn toàn không đề cập tới những yếu tố tự nhiên là môi
Trang 29trường sống của con người vốn chi phối hoạt động sống của con người, mà hoạt
động của con người lại không thể tách rời môi trường tự nhiên
Riêng định nghĩa về sử liệu của Smidt và Toplski chỉ quan tâm đến những thông tin liên quan đến đời sống hoạt động của con người trong quá khứ, tức đã bao hàm được các yếu tố tự nhiên, vốn là môi trường sống của con người và chi phối điều kiện sống của con người
Cộng đồng người hay con người không thể sống tách rời các yếu tố môi trường tự nhiên Có những yếu tố tự nhiên tác động tích cực đến đời sống con người, nhưng lại có những yếu tố tự nhiên tác động tiêu cực đến mức gây tai hoạ cho con người (ví dụ như giông bão, lũ lụt, động đất, dịch bệnh…) Chừng nào con người chưa chế ngự được những yếu tố đó, thì hoạt động sống của con người còn bị lệ thuộc vào thiên nhiên Nếu không nghiên cứu những yếu tố tự nhiên vốn chi phối đời sống con người, thì không thể hiểu được hoạt động sống của con người một cách đầy
đủ
Lịch sử là cái đã xảy ra Nghiên cứu lịch sử là tìm hiểu về “cái đã xảy ra” Cái
đã xảy ra là một thực tại khách quan, tồn tại độc lập với người nghiên cứu Do đó, người nghiên cứu không thể có điều kiện quan sát được tiến trình vận động của thực tại khách quan ấy, mà chỉ có thể tìm hiểu nó qua những “mảnh”, những “bộ phận” còn lại của thực tại khách quan ấy mà thôi
Cái đã xảy ra là đối tượng nghiên cứu lịch sử Tìm hiểu nó dưới khía cạnh nó
là cái gì, nó xảy ra như thế nào, nó tác động tới những sự kiện cùng thời ấy như thế nào, tại sao nó xảy ra như thế mà không xảy ra khác đi Hoạt động nghiên cứu trên không thể không dựa vào tất cả những gì vốn đã từng tham gia tạo ra hay chi phối quá trình vận động của cái gọi là “cái đã xảy ra” ấy Hoạt động nghiên cứu trên không phải đơn giản là mô tả sự kiện trên cơ sở sử dụng các thông tin sử liệu, mà sử học còn thể hiện sự lý giải cá nhân người nghiên cứu trên cơ sở dữ liệu thông tin ấy
Do đó, bên cạnh cái khách quan của sử liệu còn có cái chủ quan của người nghiên cứu Quá trình khách quan hóa cái chủ quan và chủ quan hóa cái khách quan cùng diễn ra đồng thời trong hoạt động nghiên cứu lịch sử Vì thế, cùng nghiên cứu về một
sự kiện lịch sử, công trình của người này khác người kia, kể cả khi cùng sử dụng nguồn sử liệu giống nhau Đây cũng là quá trình tiệm cận sự thật lịch sử trong nghiên cứu
Định nghĩa lịch sử dưới góc độ bản thể, tức một quá trình hiện thực khách
quan thông qua hoạt động của con người, mà, theo Mác: Lịch sử chẳng qua là quá
trình hoạt động của con người nhằm một mục đích nhất định
Trang 30Theo lý thuyết hoạt động của con người, những yếu tố cơ bản của quá trình hoạt động, bao gồm: Chủ thể hoạt động, tiền đề, mục đìch, các phương tiện hoạt động
Con người với tư cách là chủ thể hoạt động phải xác định mục đìch hoạt động của mình, những tiền đề cơ bản mình có, những phương thức hoạt động chính Có thể nói rằng, trên cơ sở tiền đề đã xác định, chủ thể phải xác định hai phương thức hoạt động tiến tới mục đìch: Phương thức nhận thức và phương thức thực tiễn
Phương thức nhận thức là nhận thức của chủ thể về con đường đi tới mục đìch, đồng thời xác định rõ những giải pháp sẽ phải triển khai trong thực tiễn Ví dụ,
ở cấp vĩ mô toàn quốc, những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta là phương thức nhận thức để chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong giai đoạn hiện nay
Phương thức thực tiễn là quá trình hiện thực hóa phương thức nhận thức thông qua hoạt động thực tiễn Chỉ thông qua hoạt động thực tiễn mới thấy được nhận thức
đó đúng chưa và việc vận dụng vào thực tế cuộc sống đã đạt yêu cầu đến mức độ nào hay thất bại Dù kết quả thế nào đi nữa, thì kết thúc khâu hoạt động thực tiễn mới khép kín một quá trình hoạt động xác định nào đó của con người Đó cũng chình là lịch sử một hoạt động cụ thể của con người
Khi nghiên cứu một sự kiện lịch sử nào đó (tức một quá trình hoạt động cụ thể) mà chỉ dựa vào những sử liệu thuộc phương thức nhận thức, mà bỏ qua những
sử liệu thuộc quá trình đưa những nhận thức lý luận ấy vào thực tiễn và kết quả của hoạt động thực tiễn ấy, thì đó chỉ là một nửa lịch sử - lịch sử nhận thức Chẳng hạn khi nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, nếu chỉ dựa vào các nghị quyết của Đảng, kế hoạch của Nhà nước, mà không sử dụng các sử liệu phản ánh kết quả thực hiện những nghị quyết, kế hoạch ấy trong thực tiễn, thì mới chỉ dừng ở lịch sử nhận thức lý luận về đổi mới mà thôi
Những điều trình bày trên về cơ bản dễ nhận biết đối với sử liệu chữ viết Những sử liệu vật thực lại có những đặc điểm riêng của nó, người nghiên cứu không
dễ dàng đọc hết ngay được ngôn ngữ trong sử liệu vật thực Vấn đề phát hiện được, đọc được tiếng nói của sử liệu vật thực lại thuộc về năng lực, trình độ của người nghiên cứu khai thác nó như là một nguồn sử liệu
Như vậy, từ khái niệm lịch sử như trình bày ở trên, sẽ xác định được phạm vi
các nguồn sử liệu mà người nghiên cứu phải phát hiện, lựa chọn để thực thi một đề tài nghiên cứu cụ thể
2 Chức năng của sử liệu
Cái được gọi là sử liệu, nó ra đời theo nhu cầu của thực tại khách quan nhằm đáp ứng, thoả mãn yêu cầu nào đó của thực tại khách quan Như thế, trước khi nhà
Trang 31nghiên cứu lịch sử sử dụng nó làm sử liệu, thì nó trực tiếp tham gia vào quá trình vận động của hiện thực và trở thành một bộ phận, một mảnh của quá trình hiện thực ấy Đây là giai đoạn “tiền sử liệu” với chức năng bản thể luận
Do chỗ “tiền sử liệu” đó trực tiếp tham gia tạo nên sự kiện, là một bộ phận, một mảnh của sự kiện nên nó chứa đựng những thông tin phản ánh cái mà nó tham gia tạo ra với mức độ, phạm vi nhất định Nó là “cái còn lại” của sự kiện Để nhận thức sự kiện nào đó trong lịch sử, nhà nghiên cứu sử dụng những “cái còn lại” ấy làm
cơ sở tìm kiếm các thông tin lịch sử Nhờ đó “tiền sử liệu” trở thành sử liệu phục vụ cho nhận thức lịch sử Phục vụ cho nhận thức lịch sử là chức năng của sử liệu, tức chức năng nhận thức luận
Ví dụ: Bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịc Hồ Chì Minh đọc vào ngày 2 tháng
9 năm 1945 được ra đời theo yêu cầu của cuộc Cách mạng tháng Tám Tuyên ngôn
độc lập là lời tuyên bố với quốc dân, đồng bào và với toàn thế giới về việc nước Việt
Nam đã giành được độc lập, người dân xứng đáng được hưởng tự do độc lập và sẵn
sàng bảo vệ nền tự do độc lập ấy Tuyên ngôn độc lập là một bộ phận cấu thành
thắng lợi của Cách mạng tháng Tám Khi chúng ta sử dụng bản Tuyên ngôn để nghiên cứu về Cách mạng tháng Tám nói riêng và cách mạng Việt Nam nói chung, thì Bản Tuyên ngôn độc lập trở thành sử liệu
Như thế sử liệu có hai “sự sống”, lần thứ nhất ở vào thời điểm nó xuất hiện, lần thứ hai ở vào thời điểm nó được nhà nghiên cứu lịch sử “đánh thức” nhằm làm sống dậy sự kiện đã diễn ra trong quá khứ
3 Tính chất của nguồn sử liệu
Nguồn có hai tính chất: trực tiếp phản ánh và gián tiếp phản ánh
Sự liệu trực tiếp phản ánh sự kiện là những sử liệu trước đây (tiền sửi liệu) vốn là một bộ phận của sự kiện, trực tiếp tham gia vào quá trình của sự kiện Do đó,
có thể nói thông tin trong sử liệu trực tiếp là thông tin trực tiếp (Tuyên ngôn độc lập
là sử liệu trực tiếp và phản ánh trực tiếp một phần của sự kiện Cách mạng tháng Tám)
Khi nghiên cứu lịch sử pháp luật Việt Nam (từ 1945 đến nay) thì 4 bản hiến pháp: 1946, 1959, 1981, 1992 là sử liệu trực tiếp phản ánh hệ thống pháp luật Việt Nam, bốn bản hiến pháp đó là hiện thân của nền pháp lý ở Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám
Sử liệu gián tiếp phản ánh sự kiện là những sử liệu vốn không phải là một bộ phận, một mảnh của sự kiện lịch sử, nó là những tài liệu được hình thành trên cơ sở nhận thức của chủ thể trung gian khác, nó ra đời sau sự kiện lịch sử
Trang 32Việc phân biệt sử liệu trực tiếp, sử liệu gián tiếp chỉ mang tình tương đối, không có sử liệu nào thuần tuý chỉ là gián tiếp Một sử liệu, ở trường hợp này nó gián tiếp phản ánh sự kiện lịch sử, ở trường hợp khác nó lại trực tiếp phản ánh Chẳng hạn các công trình nghiên cứu lịch sử về lịch sử Việt Nam là tài liệu gián tiếp phản ánh các sự kiện trong lịch sử Việt Nam, nhưng nó là sử liệu trực tiếp phản ánh lịch sử sử học Việt Nam
Chính vì thế, phân biệt tính chất trực tiếp phản ánh và gián tiếp phản ánh của
sử liệu chỉ có thể xác định được trên cơ sở xem xét đối tượng nghiên cứu là gì Xác định được đối tượng nghiên cứu đồng nghĩa với việc xác định được chủ đề nghiên cứu, giới hạn thời gian, không gian của sự kiện Và, cái cần thiết là từ đó xác định được phạm vi các nguồn sử liệu trực tiếp theo chủ đề nghiên cứu
Kết quả của việc xác định tính chất phản ánh của sử liệu cũng chình là kết quả xác định sử liệu gốc hay tài liệu tham khảo Từ đó, sẽ có thái độ đúng mức khi xử lý,
sử dụng sử liệu gốc và nguồn tham khảo Nếu khai thác sử liệu gốc một cách đầy đủ, hiệu quả, thì sẽ có điều kiện xây dựng một công trình sử học có giá trị khoa học cao Ngược lại, nếu không khai thác sử liệu gốc, mà chỉ dựa vào tài liệu tham khảo là chính, thì không thể có công trình sử học có giá trị khoa học cao./
Trang 33MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGUỒN SỬ LIỆU CHỮ VIẾT
ThS Đinh Thị Thùy Hiên
Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội
1 Sử liệu viết - một loại nguồn truyền thống
Sử liệu chữ viết không phải lọai nguồn xuất hiện sớm nhất Trong nghiên cứu
về lịch sử loài người trước đó thí dấu vết vật chất và thông điệp bằng lời đã là những
nguồn không thể thay thế được Mặc dù vậy, sử liệu viết có một vị trì tương đối đặc
biệt Chúng không chỉ được tình đến với tư cách một loại nguồn riêng biệt1, mà nhiều nhà phương pháp luận còn xem đây là nguồn chính xác nhất, quan trọng nhất
Martha Howell và Walter Frevenier trong cuốn Từ những nguồn đáng tin cậy: Nhập
môn các phương pháp sử học đã nhận thấy thực tế các nhà lý thuyết thường tập trung
vào nguồn chữ viết và cũng đồng quan điểm coi nguồn văn tự là “bà hoàng” của các nguồn: “…Đây là những dạng câu hỏi được các nhà sử học thế kỷ XX tập trung tới,
và những học giả này đã phát triển những công cụ tinh vi để viết về các nguồn Tất
cả họ tập trung vào bản thân nguồn, chủ yếu là nguồn chữ viết, văn bản, và đặc biệt
là những nguồn được coi là bà hoàng của các nguồn, những điều lệ hay văn bản.”2Nguyễn Thế Anh, chẳng hạn, tuy thừa nhận việc nghiên cứu lịch sử dựa trên nhiều loại nguồn, song cho rằng tài liệu viết mới là quan trọng nhất và đáng tin cậy nhất đối với nhà sử học: “…, nếu sử được viết với nhiều loại tài liệu khác nhau, nó được viết nhiều nhất với những bản văn còn được giữ lại, những tài liệu bút ký; các loại tài liệu bút ký là loại tài liệu chính xác nhất Khác với nhà nhân chủng học chú trọng đến các đoàn thể xã hội chưa có chữ viết và nhà khảo cổ học mà tài liệu là đồ nghề
và đồ dùng để lại bởi kỹ xảo của con người trong quá khứ, sử gia chú trọng nhiều nhất đến các bằng cứ chứa đựng trong các tài liệu bút ký.”3 Việc các khoa học bổ trợ cho sử học đều liên quan đến nghiên cứu chữ viết4 cũng hé mở phần nào về tầm quan trọng đặc biệt của loại nguồn này đối với các nhà phương pháp luận
1
Hai trong số những cách phân chia thông dụng nhất là 1) nguồn thành văn và không thành văn; 2) nguồn vật thực, nguồn chữ viết và nguồn truyền miệng Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, một số nguồn mới được sản sinh và nhín chung được đưa vào hệ thống phân loại cũ bằng hai cách: gia nhập vào các loại hình có sẵn hoặc kéo dài danh sách các loại nguồn
2
Martha Howell and Walter Frevenier, From Reliable Sources: An Introduction to Historical
Methods, 2002, Bản dịch của Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN, tr.46
Trang 34Sức hấp dẫn nhà sử học của nguồn chữ viết cũng như vị trí của chúng trong nghiên cứu lịch sử trước hết xuất phát từ chính đặc trưng riêng của loại nguồn này
“Chữ viết là mô ̣t điều kỳ diê ̣u về mă ̣t công nghê ̣ Nó làm cho lời nói trở nên vĩnh cửu trong khi không làm mất đi bất kỳ điều gì trong tính chính xác của nó , mă ̣c dù t rạng thái giao tiếp riêng tư trực tiếp mất đi Ví vậy, nơi chữ viết được dùng rô ̣ng rãi, người
ta trông đơ ̣i các nguồn thông tin rất cu ̣ thể và rất đa da ̣ng , điều cũng cho phép thực hiê ̣n mô ̣t sự tái dựng rất chi tiết về quá khứ.”5 Nguồn chữ viết, ở mức độ nhất định có thể không có khả năng cung hiến cho nhà nghiên cứu những thông tin trực quan, sinh động về quá khứ thông qua hiện diện của mình nhiều như nguồn hiện vật Song, vì là những “hiện vật câm”, sử liệu vật thực không phải lúc nào cũng có thể tự nói lên được bản thân chúng là gí? Đã đóng vai trò gí trong đời sống quá khứ? Vì vậy, nhà nghiên cứu có thể đưa ra diễn giải sai trầm trọng như trư ờng hợp các nhà khảo cổ học ở Tripolitania từng xác đi ̣nh cấu trúc từ thời La Mã cổ đa ̣i là “những dấu tích của điê ̣n thờ tiền sử nào đó” trước khi các h ọc giả về sau đi đến mô ̣t sự diễn giải đáng tin
câ ̣y và kiên đi ̣nh hơn rằng chúng là những máy ép dầu 6 Truyền thống truyền miệng, mặc dù thường chứa đựng những thông tin sinh động, chi tiết, song việc thêm thắt, cải biên trong quá trình khẩu truyền qua nhiều thế hệ cũng như sự thiếu vắng của một niên biểu chính xác khiến việc khai thác những thông tin ấy lại khó khăn hơn nhiều Trong khi tài liệu viết vẫn có thể bị biến đổi qua quá trình sao chép, về cơ bản nó vẫn
có tính ổn định7, vì thế việc lần tìm lai lịch và khôi phục nguyên bản của nguồn chữ viết thường dễ dàng hơn
Yếu tố nhận thức chủ quan của tác giả thường được xem là hạn chế của sử liệu chữ viết, tuy nhiên, thực ra thì tất cả các nguồn sử liệu đều mang tính chủ quan Điểm khác biệt ở chỗ nguồn vật thực chỉ mang tính chủ quan bởi sự diễn giải của người sử dụng chúng làm sử liệu; trong khi ở nguồn truyền miệng và nguồn chữ viết, tính chủ quan đến từ sự diễn giải kép của người gửi và nhận thông điệp.8 Với Jan Vansina, thậm chí nguồn chữ viết còn khách quan hơn so với nguồn vật thực: “Chiều
xác nhất) của các nguồn thành văn Tiêu chuẩn phân loại là sự tồn tại của bản chữ viết Không cần phải nhấn mạnh rằng, phần lớn các lý giải của chúng ta trước đây về cái gọi là những khoa học hỗ trợ cho sử học đều liên quan với việc nghiên cứu văn tự (cổ văn học, tân văn học)” Xem J
Topolski, Phương pháp luận sử học, tập II, Nxb Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, Hà Nội,
1968, tr.89
5
P Irwin, Ngươ ̀ i Liptako lên tiếng , tr.164 Dẫn theo Jan Vansina, Oral Tradition as History, First
Pubished, James Currey (London) and Heinemann Kenya (Nairobi) Press, 1985, p 199
6
D E L Haynes, An Archeological and Historical Guide, p.143 Dẫn theo Jan Vansina, sđd, p 194
7
Ngươ ̀ i sao chép [copyist] có thể thêm vào hoặc loại bỏ khỏi thông điệp gốc một sự diễn giải khác ,
nhưng thâ ̣m chí ở đó tổng số các sự diễn giải kết thúc ở thời điểm viết Xem John Tosh, The Pursuit
of History: Aims, Methods and new Directions in the Study of Modern History, revised third edition,
2002, p.195
8
Jan Vansina, sđd, p.193-194
Trang 35hướng thứ nhất là cho rằng các nguồn tốt hơn là chỉ đi qua mô ̣t sự diễn giải đơn , và lấy làm tiếc về thực t ế các thông điệp phải trải qua ìt nhất hai sự diễn giải Nhưng thực tế có mô ̣t sự bảo vê ̣ , làm cho các nguồn rõ ràng là chủ quan hơn (các thông điê ̣p) lại thường khách quan hơn những nguồn rõ ràng là kém chủ quan hơn (bằng chứng trực tiếp ) Sự diễn giải thứ nhất giới ha ̣n pha ̣m vi cho sự diễn giải thứ hai , trong khi không có gì giới ha ̣n sự diễn giải bằng chứng trực tiếp ”9 Cũng từ đặc điểm này mà nguồn chữ viết còn có khả năng cung cấp cho nhà nghiên cứu tư tưởng và hành động của con người, nhất là cung cấp trực tiếp nội dung tư tưởng mà tác giả của tài liệu đó muốn truyền đạt
Sự dồi dào của nguồn chữ viết cũng làm cho nhà sử học ưa chuộng Ban đầu, với phương thức chép tay, thì ngoài bản gốc người ta còn có thể tiếp cận với nhiều bản sao Từ thế kỷ XV trở đi, nguồn tài liệu này trở nên dồi dào hơn hẳn so với các nguồn khác nhờ sự phát triển của ngành in Khoa học kỹ thuật phát triển, đặc biệt là công nghệ thông tin hiện đại gần đây lại đem đến cho tài liệu chữ viết thêm cơ hội được lưu giữ và truyền bá rộng rãi với việc số hoá tài liệu Họat động lưu trữ và đặc thù lưu giữ tài liệu viết là chủ yếu của nó cũng mở rộng cơ hội để các nhà nghiên cứu tiếp cận nguồn chữ viết
Hơn nữa, thực tế họat động nghiên cứu lịch sử cũng tác động đến việc nhà sử học thường coi đây là nguồn tài liệu chủ yếu của mình Từ việc tìm chủ đề nghiên cứu đến kết quả nghiên cứu lịch sử đều bị chi phối ở bởi việc các nhà nghiên cứu khác đó viết gì về nó Nhà sử học phải đọc tất cả những công trính đã công bố có liên quan, xem người đi trước đã nghiên cứu những vấn đề gì, giải quyết vấn đề đến đâu, vấn đề nào cần phải tiếp tục nghiên cứu… để lựa chọn cho mình một đề tài có ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn Nhà sử học cũng chấp nhận phần nhiều những dẫn chứng mà các nhà nghiên cứu khác đưa ra, hoặc giải thích lại những tài liệu mà họ đưa ra Kết quả, dù các bằng chứng được nhà nghiên cứu đi trước sử dụng là thành văn hay bất thành văn thí bản thân công trình của họ - cái mà nhà sử học đi sau sử dụng - là chữ viết
Như thế không có nghĩa rằng chỉ nguồn chữ viết là đủ cho nhà sử học, hoặc đây là nguồn quan trọng nhất hay đáng tin cậy nhất Ở những nơi mà nguồn chữ viết không tồn tại, các nguồn sản sinh trên cơ sở khoa học kỹ thuật chưa xuất hiện, thì nguồn vật thực và truyền miệng là những nguồn đảm trách gánh nặng của việc tái tạo lịch sử Ngay cả khi nguồn chữ viết dồi dào, thì các nguồn khác vẫn có vai trò không thể thiếu trong họat động nghiên cứu lịch sử: “Nguồn chữ viết này, dù rõ ràng là rất cần thiết đối với hầu hết các công trình của các nhà sử học, và dù đôi khi được coi là nguồn duy nhất của các dữ liệu lịch sử, tuyệt nhiên không phải là nguồn sử liệu duy
9
Jan Vansina, sđd, p 194
Trang 36nhất Nguồn không thành văn, kể cả hiện vật và truyền miệng, đều là những bộ phận quan trọng đối với nhà sử học.”10 Mặc dù vậy, có thể khẳng định rằng sử liệu chữ viết là một loại nguồn truyền thống cả về mặt phương pháp luận và thực tiễn đối với nhà sử học
2 Về vấn đề phê phán sử liệu
Nguồn sử liệu không phải là một cuốn sách đang mở trước mặt và cung cấp cho nhà sử học những câu trả lời ngay lập tức Chúng có thể là cái mà chúng tỏ ra, lại cũng có thể rất khác so với thọat nhìn Chính vì thế, để khai thác được thông tin từ sử liệu thì việc giám định nguồn là yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các loại nguồn, và cho đến nay việc xoay sở với các tài liệu vẫn được xem là một trong những điểm phân biệt chuyên gia sử học với người nghiên cứu sử nghiệp dư.11 Các nhà phương pháp luận gọi công việc giám định này là phê phán sử liệu, và phân thành 2 bước là đánh giá tình xác thực [authenticity] của nguồn và đánh giá độ tin cậy [reliability] của thông tin từ sử liệu Tên gọi cũng như nội dung của 2 khâu đọan kể trên, mặc dù vậy, lại được hiểu khác nhau giữa các nhà phương pháp luận Bước một thường được gọi là phê phán bên ngòai hay phê phán uyên bác, phê phán cấp thấp, phê khảo hình thức hay phê phán phân tìch; bước hai đánh giá độ tin cậy, hay phê phán bên trong, phê khảo nội dung, phê phán cấp cao, khoa học giải thích, phê phán tổng hợp Dù có phát biểu rõ ràng hay không thì các nhà lý luận đều gặp nhau ở nguyên tắc chung cho phê phán sử liệu là dựa vào chính bản thân sử liệu (bao gồm cả hình thức lẫn nội dung sử liệu) và dựa vào những tư liệu khác Cả tri thức nguồn lẫn tri thức ngòai nguồn cùng được huy động vào quá trính đánh giá thông tin và kênh thông tin này Ở đây, chúng tôi sử dụng các khái niệm đánh giá tình xác thực và đánh giá độ tin cậy
Sự đa dạng của các nguồn sử liệu đòi hỏi nhà phương pháp luận phải đi xa hơn nữa để đưa ra những phương pháp giám định sử liệu đặc thù Đối với nguồn sử liệu chữ viết, dù trên chất liệu giấy, gỗ, đá, đồng, hay tre trúc…, thí các phương pháp văn bản học có vai trò rất quan trọng: “Đối với sử liệu viết, ở bước thứ nhất, tức bước phê phán bên ngoài hay phê phán kênh, có thể nói là nhà sử liệu học đã sử dụng những công cụ của văn bản học, hay nói cách khác, đã đem phương pháp văn bản học làm phương pháp của mình Ở giai đoạn phê phán bên trong hay phê phán thông tin, nhà sử học ít sử dụng các phương pháp văn bản học hơn Nói ìt không có nghĩa
là hoàn toàn không, vì cả hai giai đoạn phê phán sử liệu này không có ranh giới rõ rệt trong thực tế mà luôn gắn với nhau”12 Tuy vậy, ngay cả với phê phán bên ngoài thì các kỹ thuật của văn bản học vẫn chưa đủ Nhà nghiên cứu còn phải sử dụng công cụ
Trang 37của các nhà khảo cổ học [archeology], minh văn học [epigraphy], cổ tự học [paleography], văn thư học [diplomatic], lịch pháp học, điạ danh học [toponymy], nhân danh học, ấn chương học [sigillography], cổ tiền học [numismatology] Tuy không thể ôm đồm tất cả các kiến thức này mà chỉ có thể có vài quan niệm cơ bản về những ngành học này, song điều đó sẽ giúp nhà nghiên cứu biết kết hợp kết quả của các ngành khoa học này, phục vụ cho việc khảo cứu tài liệu để thực hiện công việc nghiên cứu lịch sử của mình
Đánh giá tính xác thực
Mục đìch của phê phán sử liệu là đi tím lời giải đáp cho câu hỏi những thông tin do nguồn cung cấp có phù hợp với thực tế hay không, hay còn gọi là đánh giá độ tin cậy của thông tin từ sử liệu Để tiến hành được việc đó, trước hết nhà nghiên cứu phải trả nó về với nguồn gốc xuất xứ đúng của nó, hay còn gọi là nghiên cứu tính xác
thực của nguồn John Tosh trong cuốn The Pursuit of History: Aims, Methods and
new Directions in the Study of Modern History cũng cho rằng: “Trước khi nhà sử học
có thể đánh giá chình xác ý nghĩa của một văn bản, họ cần phải tím ra được khi nào, tại sao và bằng cách nào nó lại xuất hiện.13
Tính xác thực, như đã nhắc đến ở trên, lại có nhiều quan niệm khác nhau J Topolski phân biệt 4 khái niệm về tính xác thực: Xác thực 1 là tri thức về thời gian hính thành và địa điểm xuất phát về nguồn Xác thực 2 được tương đối hóa theo tính chất của thông tin mà chúng ta tìm trong nguồn (với vấn đề này thì là xác thực, vấn
đề khác là không xác thực) Xác thực 3: vấn đề giả maọ Xác thực 4: tính nguyên thủy của nguồn.14 Phạm Xuân Hằng cho rằng cần phê phán các yếu tố cấu thành của
sử liệu liên quan đến các vấn đề: sử liệu ra đời trong hoàn cảnh cụ thể nào, hoàn cảnh
đó đã ảnh hưởng, chi phối đến nội dung sử liệu ra sao, khả năng phản ánh hiện thực của tác giả; vấn đề mức độ phù hợp với các thông tin từ sử liệu với thực tế Nói cách khác là phê phán vật mang tin, thời gian, địa điểm hình thành tài liệu, tác giả và bản văn của sử liệu.15 Phần lớn các nhà phương pháp luận ngày nay thì cho rằng, xác định tính xác thực của sử liệu là xác định các yếu tố tác giả, thời gian, địa điểm hình thành sử liệu, xác định bản thật bản giả, xác định bản gốc bản sao
Với mục đìch trả sử liệu về với chính nó, dù văn bản có ghi tác giả, địa điểm
và thời gian hình thành hay không thì việc xác minh vẫn là thủ tục không thể bỏ qua
Phạm Xuân Hằng, Vấn đề xử lý sử liệu học đối với tài liệu chữ viết, Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số
1, 1996 Mặc dù đề xuất đến khái niệm phê phán phân tích và phê phán tổng hợp thay cho phê phán bên ngoài và phê phán bên trong mang tình quy ước, quan niệm của ông về mục đìch của khâu đọan thứ nhất này không hề khác biệt với các nhà phương pháp luận khác: “xét đến cùng, mục đìch của việc phê phán phân tích là nhằm trả sử liệu về với chính nó”
Trang 38Tất nhiên, việc này không phải lúc nào cũng dễ dàng hay kết quả đem lại bao giờ cũng làm hài lòng nhà nghiên cứu
Về việc xác định yếu tố tác giả sử liệu, có ý kiến cho rằng nhín chung đó là
“vấn đề riêng, vượt ra ngoài vấn đề tính xác thực của các nguồn”16 hoặc không chỉ phải tìm ra họ là ai, mà quan trọng hơn phải đánh giá được họ là người như thế nào:
“Ở đây vấn đề được đặt ra là trong hai yếu tố: xác định họ, tên người thông tin và người thông tin ấy là người như thế nào, thì yếu tố nào là quan trọng hơn? Về vấn đề này, các nhà phương pháp luận đã chỉ ra rằng: tím ra được một cái tên riêng thực ra chưa có nội dung gì cả, mà vấn đề là phải hiểu và đánh giá được tác giả ấy là con người như thế nào? Giải quyết được vấn đề này thì việc xác định tác giả sử liệu mới
có ý nghĩa khoa học.”17 Điều này xuất phát từ mối quan hệ hữu giữa hai khâu phê phán bên trong (đánh giá thông tin) và phê phán bên ngòai (đánh giá kênh thông tin) Đánh giá độ tin cậy của thông tin có nghĩa là đánh giá người thông tin - tác giả sử liệu.18 Tuy nhiên, chúng tôi quan niệm rằng với nhiệm vụ của phê phán bên ngoài là xác định tính xác thực của tài liệu thì về mặt nguyên tắc chỉ cần xác định tác giả là ai
là đủ Tác giả văn bản là người như thế nào thực sự là vấn đề bản chất mà nhà sử học phải giải quyết khi đánh giá độ tin cậy của thông tin ở công đọan kế tiếp
Để xác định tác giả là cá nhân, cần kiểm chứng với những đặc điểm của người được cho là tác giả tài liệu, từ văn phong, bút tìch, hệ giá trị, lập trường quan điểm cho đến hành trạng cá nhân Khi chưa rõ tác giả là ai, vẫn cần so sánh với những đặc điểm của những nhân vật đương thời để đưa ra giả định.19 Trong khi đó, thể thức văn bản, thẩm quyền ban hành tài liệu, con dấu, lịch sử đơn vị… lại có ý nghĩa trong việc thẩm định tác giả là tập thể hoặc cơ quan nào đó Ở đây, những tri thức của ngành văn thư học, ấn chương học, văn học… giúp ìch rất lớn cho nhà sử học
Xác định niên đại thường được xem là quan trọng nhất trong khâu phê phán bên ngoài, bởi ví trên cơ sở các thông tin từ sử liệu nhà sử học sẽ tái dựng nên sự kiện lịch sử từng diễn ra trong một không gian và thời gian cụ thể Nếu không biết được mối liên hệ của một văn bản với sự kiện lịch sử đang nghiên cứu, tài liệu đó sẽ trở nên vô giá trị
Trong trường hợp đã biết tác giả văn bản, có thể dựa vào hành trạng cá nhân hoặc lịch sử họat động của cơ quan để lần tìm về thời điểm sáng tác Kiểu chữ, văn phong, ngôn từ, chữ huý cũng là căn cứ giúp xác định niên đại nhờ tính thời đại của ngôn ngữ Theo John Tosh, nhà sử học làm việc với tài liệu viết tay cần phải có chút
Trang 39gí đó giống nhà cổ tự học để xác định liệu chữ viết đó có đúng với địa điểm và thời gian đó không, lại giống với nhà ngữ văn học đánh giá phong cách và ngôn ngữ của một văn bản đáng nghi.20 Điều này không chỉ đúng với văn bản viết tay mà có thể áp dụng cho mọi nguồn chữ viết Đối với những văn bản hành chính, nhà sử học có thể trả lời cho câu hỏi về tính xác thực của niên đại tài liệu chỉ bằng cách so sánh văn bản cần nghiên cứu với những văn bản tương tự cùng hoặc khác thời kỳ về thể thức, kiểu chữ, thẩm quyền ban hành Văn thư học có ý nghĩa đặc biệt trong việc xác định thời điểm ra đời của thể loại nguồn này Những ngôn ngữ vay mượn hoặc trích dẫn
từ một tài liệu khác cũng là cơ sở để xác định niên đại tương đối của tài liệu; tương
tự, nếu văn bản có nhắc tới một sự kiện lịch sử đã biết, thì nó chắc chắn ra đời sau sự kiện đó
Nghiên cứu phong cách trang trí của tài liệu minh văn (chữ viết trên đá, trên đồng) – thế mạnh của các nhà khảo cổ học lịch sử - sẽ cho biết câu trả lời về niên đại tài liệu Nhà sử học cũng có thể dựa vào sự giúp đỡ của các chuyên gia kỹ thuật, chẳng hạn thử phản ứng hóa học của giấy, mực, để xác định tuổi của văn bản
Để trả lời cho câu hỏi về địa điểm hình thành sử liệu, hành trạng của tác giả tài liệu hay lịch sử đơn vị có thể cung cấp những manh mối hữu ìch Địa danh học lịch sử và ngôn ngữ học, dân tộc học đặc biệt hữu ích trong khâu đọan này bởi chúng
có khả năng giúp xác định dấu ấn địa phương - chẳng hạn tên đất, tên sông, phong tục tập quán hay phương ngữ - để lại trong văn bản Bản thân sự hiện diện vật chất của tài liệu cũng nói lên chúng thuộc về không gian nào khi chất liệu giấy, loại mực, kiểu in… được phân tích nhờ hình pháp học
Ngay sau khi đã xác định được các yếu tố tác giả, niên đại, địa điểm hình thành văn bản, một câu hỏi được đặt ra tiếp theo: đó là nguyên gốc hay bản sao, bởi
ví ta đang tím cách trả sử liệu trở về là đúng nó, mà “Tam sao thất bản”: bản sao lại thường không thể hiện độ xác thực hoàn hảo của bản gốc21 Quá trình sao chép, dù là chép tay hay in ấn, photocopy,… đều có thể gây ra những lỗi mà các nhà phương pháp luận thường lưỡng phân thành sai lầm cố ý và sai lầm vô ý.22
Trước khi phát minh ra in ấn vào thế kỷ 15, cách thức duy nhất để nhân rộng
và phổ biến tài liệu viết là chép tay Sai lầm vô ý có thể diễn ra trong quá trình này bởi việc đọc nhầm, nghe nhầm, viết nhầm, hiểu nhầm ý nghĩa Đọc nhầm có thể xảy
ra với các chữ có tự dạng gần giống nhau Nghe nhầm khi chép theo lời đọc của người khác, biểu hiện cụ thể là chép sai những từ đồng âm, bỏ sót các âm tiết và từ
Trang 40Viết nhầm thể hiện ở các dạng lặp lại từ, đảo lộn chữ, số, viết nhầm chữ Cũng có trường hợp người sao chép không hiểu ý nghĩa của điều mính đang chép, đã tự ý chép theo ý hiểu nên làm sai lạc nội dung văn bản Những sai lầm càng tăng lên khi mỗi văn bản đó lại được sử dụng làm bản gốc cho văn bản khác
Song, điều kể trên không chỉ đúng riêng cho trường hợp tài liệu viết tay, mà còn đúng với thời kỳ của chúng ta, khi những phương tiện kỹ thuật hay công nghệ hiện đại được sử dụng để sao chép như máy photocopy, máy fax, băng từ, quá trình
số hóa Những quá trình này trên thực tế thường không hoàn hảo bởi vì những thất bại kỹ thuật không định liệu được. 23
Tương tự, sai lầm cố ý được tìm thấy cả trong bản chép tay lẫn bản in với những sự sửa lỗi có chủ định đối với một văn bản gốc hay những nỗ lực có ý thức để thay đổi ý nghĩa bằng việc cắt gọt hay thêm thắt vào văn bản gốc
Sau khi đã phát hiện các lỗi trong văn bản, nhà nghiên cứu phải tìm cách khôi phục lại văn bản gốc hoặc tím ra văn bản gần nhất với bản gốc Đối diện với những khác biệt giữa các bản hiện tồn, các nhà Trung cổ học đã phát triển phương pháp sai lầm chung, đặt bản sao vào mối quan hệ với các bản sao khác Nếu hai bản sao của một văn bản chứa đựng những lỗi thông thường, chúng có thể được coi là đó được lấy từ một nguồn (hay sao lại những văn bản thế hệ trước) Với cách thức đó, nhà sử học có thể lập cây phả hệ phức tạp của các văn bản; thậm chí nhận diện được đặc điểm của những thế hệ đã mất trong cây24 Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, người ta còn phát triển cách thức tìm mối quan hệ giữa các thế hệ văn bản bằng cách
so sánh sự thay đổi kiểu dáng và cổ tự: “Việc so sánh chặt chẽ các văn bản, nhất là chữ viết và cách diễn đạt khác nhau cho phép nhà sử học thiết lập nên mối quan hệ giữa các bản còn lại và tái dựng một bản gần nhất với cách diễn đạt của bản gốc.”25
Khi đã xác định được văn bản cổ nhất trong phổ hệ ở phạm vi có thể cùng những sai lầm trong đó, nhà sử học có nhiệm vụ khôi phục lại văn bản gốc tưởng tượng Tuy nhiên, trong quá trình này, nhà sử học dễ rơi vào tính trạng hoàn thiện văn bản bằng cách biên tập lại, tím cách làm cho ý nghĩa văn bản rõ ràng hơn Khi
đó, “… người biên tập phải căn cứ vào bất cứ sự chình xác nào có tình tương đối với văn bản (cái sau đó được gọi là sự sửa lỗi) hay một cuộc tranh luận tốt (được gọi là
sự phỏng đoán) Sự thận trọng như vậy là cần thiết, không chỉ để tôn trọng nguồn gốc, mà còn lưu lại những lỗi của nó Những lỗi: đánh vần sai, lỗi ngữ pháp, chuyển dịch, thậm chí cả những sự bỏ sót có thể thấy được, là những chứng cứ lịch sử có ý
23
Martha, sđd, tr.46
24
Hà Văn Tấn cho rằng thuyết này qua áp dụng nhiều khi tỏ ra máy móc, hiệu quả không cao Xem
Hà Văn Tấn, Một số vấn đề về sử liệu học, in trong sđd, tr.161
25
John Tosh, sđd, p.90