1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Động lực làm việc và quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học nghiên cứu tại viện hàn lâm khoa học và công nghệ việt nam TT

27 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 762,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ---NGUYỄN TƯỜNG LAN ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC VÀ QUYẾT ĐỊNH THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC NHÀ KHOA HỌC: NGHIÊN CỨU TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-NGUYỄN TƯỜNG LAN

ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC VÀ QUYẾT ĐỊNH THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC NHÀ KHOA HỌC: NGHIÊN

CỨU TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ

CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản trị nhân lực

Mã số: 9340404

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

HÀ NỘI – 2021

Trang 2

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Người hướng dẫn khoa học:

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án

cấp trường Đại học Kinh tế Quốc dân Vào hồi ngày tháng năm 2021

Cụ thể tìm hiểu luận án:

- Thư viện Quốc gia

- Thư viện Đại học Kinh tế Quốc dân

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự chuyển dịch vai trò theo hướng cân đối giữa sáng tạo và ứng dụng tri thức của các trường/ viện nghiên cứu trên thế giới bắt đầu từ những năm 80, xuất phát từ Hoa kỳ sau chiến tranh thế giới thứ II Không chỉ mang sứ mệnh truyền bá tri thức, các trường đại học/ viện nghiên cứu đã trở thành trung tâm của đổi mới sáng tạo, phát triển nghiên cứu cơ bản kết hợp với cấu trúc hỗ trợ thương mại hóa (Etzkowitz, 2003) Trong

đó, các nhà khoa học chính là nguồn nhân lực chất lượng cao và là một trong những nhân tố mang tính quyết định trong hoạt động nghiên cứu phát triển và ứng dụng KH&CN Tuy nhiên, số lượng nghiên cứu về các yếu tố tác động đến quyết định thương mại hóa của các nhà khoa học còn chưa nhiều

Động lực làm việc chỉ sự nỗ lực, kiên định và bền bỉ để đạt được mục đích, là một trong các yếu tố quan trọng thúc đẩy hoạt động kinh doanh Động lực làm việc đã được nhắc tới trong một số công trình nghiên cứu về tác động của yếu tố cá nhân tác động đến hoạt động thương mại hóa KH&CN (Grant và Berry, 2011; Lee, 2000; Tahvanainen, 2011; D’este và Perkmann, 2011) Lam (2011) đã chia động lực làm việc của nhà khoa học thành hai loại: động lực bên ngoài (extrinsic motivation) (tài chính/danh tiếng) và động lực bên trong (intrinsic motivation) (đam mê/ khám phá kiến thức) Các dạng động lực kể trên đáp ứng những nhu cầu của bản thân, còn gọi là động lực cá nhân (proself motivation) (Grant và Berry, 2011) Trong khi, động lực xã hội (prosocial motivation), động lực làm việc để thực hiện thay đổi xã hội hoặc mang lại lợi ích cho người khác (Grant, 2008; Renko, 2013) dường như bị bỏ ngỏ Câu hỏi đặt

ra là “Động lực xã hội và động lực cá nhân cùng tác động tới quyết định thương mại

hóa như thế nào?”

Trong bối cảnh Việt Nam, nhà nước ta xác định đổi mới sáng tạo, phát triển và ứng dụng KH&CN tiên tiến là nội dung cốt lõi của quá trình công nghiệp hóa theo hướng hiện đại Nhà nước cũng đưa ra nhiều chính sách nhằm thúc đẩy ứng dụng và chuyển giao công nghệ Tuy nhiên, thị trường KH&CN tại Việt Nam còn rất non trẻ

Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, liệu tác động của động lực làm việc đến quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu có khác biệt? Nghiên cứu này xây dựng mô hình thể hiện mối quan hệ giữa động lực làm việc

và quyết định thương mại hóa Đặc biệt, yếu tố động lực xã hội được nghiên cứu trong bối cảnh tại nền kinh tế đang phát triển, nơi thương mại hóa kết quả nghiên cứu mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng, nhưng nhà khoa học gặp nhiều rủi ro và khó mang lại hiệu quả kinh tế cao Luận án tập trung nghiên cứu tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (KHCNVN) đơn vị KH&CN thuộc chính phủ, có vai trò quan trọng trong việc phát triển khoa học của quốc gia

Trang 4

Trên cơ sơ đó, luận án “Động lực làm việc và quyết định thương mại hóa kết quả

nghiên cứu của các nhà khoa học: Nghiên cứu tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam” được thực hiện với mong muốn đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát: xây dựng mô hình và kiểm định mối quan hệ giữa động lực làm việc và

quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học tại Viện Hàn lâm KHCNVN

Mục tiêu chi tiết như sau:

- Kiểm định mối quan hệ giữa động lực cá nhân (động lực bên trong và động lực bên ngoài) của nhà khoa học đối với đến quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu

- Kiểm định mối quan hệ giữa động lực xã hội của nhà khoa học và quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu

- Kiểm định tác động của động lực xã hội đến mối quan hệ giữa động lực cá nhân (động lực bên trong/ động lực bên ngoài) và quyết định thương mại hóa của nhà khoa học

Từ đó, đưa ra các khuyến nghị chính sách để thúc đẩy nhà khoa học tham gia hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu:

(1) Tổng quan các nghiên cứu về thương mại hóa kết quả nghiên cứu, các nhân tố tác động lên quyết định thương mại hóa của nhà khoa học

(2) Phân tích thực trạng thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Việt Nam nói chung và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nói riêng

(3) Kiểm định tác động của động lực làm việc đến quyết định thương mại hóa

(4) Xây dựng mô hình lý thuyết về tác động của động lực làm việc đến quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu phù hợp với bối cảnh Việt Nam

(5) Đưa ra các khuyến nghị chính sách để thúc đẩy nhà khoa học tham gia hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu

2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Động lực làm việc và quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu của nhà khoa học tại Viện Hàn lâm KHCNVN

Phạm vi nghiên cứu:

(1) Khách thể nghiên cứu là các nhà khoa học đang làm việc tại Viện Hàn lâm KHCNVN (cán bộ khoa học đã có học vị tiến sĩ) Luận án tập trung vào kết quả

Trang 5

nghiên cứu trong lĩnh vực KH&CN và không xem xét kết quả của các ngành khác như kinh tế, xã hội

(2) Phạm vi về nội dung: Luận án tập trung phân tích mối quan hệ giữa động lực làm việc

và quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu của nhà khoa học tại Viện Hàn lâm KHCNVN

(3) Phạm vi về không gian: luận án tập trung nghiên cứu tình huống tại Viện Hàn lâm KHCNVN, là cơ quan thuộc chính phủ, đơn vị nghiên cứu lớn nhất cả nước trong lĩnh vực khoa học tự nhiên tại Việt Nam, có tầm quan trọng trong việc phát triển KH&CN Quốc gia Luận án cũng giới hạn ở kết quả nghiên cứu xuất phát

từ Viện Hàn lâm KHCNVN, không xem xét các kết quả nghiên cứu được thực hiện bởi các công ty, doanh nghiệp ngoài Viện

(4) Phạm vi về thời gian: thu thập dữ liệu thứ cấp từ 2010 – 2020, dữ liệu sơ cấp từ

2018 – 2020, khuyến nghị chính sách đến năm 2030

3 Cách tiếp cận nghiên cứu

Để tiếp cận nghiên cứu, các phương pháp cụ thể được tiến hành như sau:

- Nghiên cứu tại bàn: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết và thực trạng

- Nghiên cứu định tính: Hình thức phỏng vấn sâu

sung, 4 người phỏng vấn mới) Thời gian thực hiện 12/2019-3/2020

- Nghiên cứu định lượng: Gửi bảng hỏi khảo sát bản giấy hoặc gửi trực tuyến qua email Mẫu thu được sau khi làm sạch dữ liệu là 330 phiếu; Phân tích dữ liệu bằng SPSS 22; Thời gian thực hiện năm 2018

4 Bố cục luận văn

Luận văn gồm các chương chính gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về thương mại hóa kết quả nghiên cứu của các

nhà khoa học Chương 2: Cơ sở lý thuyết, giả thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

Trang 6

C HƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ

NGHIÊN CỨU CỦA NHÀ KHOA HỌC

1.1.Các nghiên cứu về thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ trường/ viện nghiên cứu

Thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ trường đại học/ viện nghiên cứu là đề tài được nhiều học giả quan tâm từ những năm 80 sau khi luật Bayh-Dole ra đời tại Hoa

kỳ Hàng loạt các nghiên cứu đã tập trung phân tích sự thay đổi vai trò của các trường đại học trước và sau đạo luật Bayh-Dole (Grimaldi, 2011; Mowery và cộng sự, 2001; Aldridge và Audretsch, 2017) Các học giả cũng đề cập đến các rào cản trong quá trình thương mại hóa như: rào cản kĩ thuật, rào cản thị trường, rào cản cấp phép (Lokett và cộng sự 2008, Sun và Scott, 2005); Hầu hết các nghiên cứu về chủ đề này được tìm thấy tại các nước phát triển Thời gian gần đây, một số kết quả nghiên cứu được tìm thấy tại các nền kinh tế đang phát triển như Trung Quốc (Shapira và Wang, 2009; Wu, 2010), Thái Lan (Pittayasophon và Intarakumnerd, 2017)

Tại Việt Nam, đáp ứng sự phát triển trong thời kỳ mới, các nghiên cứu về hoạt động thương mại hóa tập trung đưa ra các giải pháp phát triển thị trường KH&CN Một

số nghiên cứu đề cập đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ khu vực công (Nguyễn Quang Tuấn, 2016; Hoàng Văn Hoa, 2008; Nguyễn Hữu Xuyên, 2020; Lê Hiếu Học, 2019) Đa phần các nghiên cứu phân tích các yếu tố tổ chức, chưa quan tâm đến các yếu tố cá nhân nhà khoa học

1.2 Các nghiên cứu về yếu tố tác động đến quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu của nhà khoa học được được chia thành hai nhóm: các yếu tố tổ chức và các yếu tố cá nhân

Ở góc độ tổ chức, trường/ viện nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các nhà khoa học thương mại hóa kết quả nghiên cứu Các nhân tố ảnh hưởng

có thể kể đến như cơ cấu, cơ sở vật chất (Bercovitz và cộng sự, 2001; O'Shea và cộng

sự, 2005); cấu trúc khen thưởng (Baldini và cộng sự, 2007; Markman và cộng sự, 2004); đơn vị hỗ trợ chuyển giao công nghệ (Phan và Siegel, 2006); lĩnh vực nghiên cứu (Moutinho và cộng sự, 2007; Pries and Guild, 2011); yếu tố môi trường làm việc (Bercovitz và Feldman, 2008);

Ở góc độ cá nhân, các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thương mại hóa được nhắc đến: tuổi (Boardman và Ponomariov, 2009; Giuliani và cộng sự, 2010); giới tính (Azagra-Caro, 2007; Fox, 1995); Nơi đào tạo (Shane, 2000; Bercovitz và Feldman, 2007); vốn xã hội (Aldridgevà Audretsch, 2011, Bercovitz và Feldman, 2008); kinh nghiệm, (Franklin và cộng sự, 2001); Năng suất nghiên cứu (Boardman và Ponomariov, Gulbrandsen và Smeby, 2005)

Trang 7

1.3 Các nghiên cứu về tác động của động lực làm việc đến quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu

1.3.1 Các nghiên cứu về tác động của động cá nhân

Trong các nghiên cứu về quyết định thương mại hóa của nhà khoa học, động lực làm việc được nhắc đến là dạng động lực cá nhân (phục vụ mục tiêu cá nhân) (Miller

và cộng sự, 2012), được thành 2 nhóm: động lực bên trong (đam mê/ học hỏi) và động lực bên ngoài (tài chính/ danh tiếng) (Lam, 2011; Hayter, 2015; Shane, 2004)

Các nghiên cứu về động lực bên trong

Động lực bên trong của nhà khoa học đến từ niềm vui giải quyết câu hỏi nghiên cứu (Levin và Stephan, 1991) Một số nghiên cứu về động lực bên trong của nhà khoa học cho thấy các nhà khoa học tham gia thương mại hóa để tiếp tục nghiên cứu chuyên môn (Rizzo, 2015), nâng cao chất lượng của giảng dạy và nghiên cứu (Hayter, 2015; Lee, 2000), mong muốn học hỏi kiến thức từ doanh nghiệp (Audretsch và cộng sự,

2011, Hayter, 2015, Lam, 2011) Nhà khoa học tìm thấy đam mê nghiên cứu trong hoạt động thương mại hóa hơn là vì các lợi ích khác (D’Estel và Perkman, 2011)

Các nghiên cứu về động lực bên ngoài

Động lực bên ngoài (tài chính/ danh tiếng) (Lam, 2011; Hayter, 2015; Shane, 2004), đóng vai trò lớn trong việc thúc đẩy thương mại hóa (D’este và Perkmann, 2011; Lam, 2011 (Baldini và cộng sự, 2007; Markman và cộng sự (2004); Etzkowitz (1998)

và Leslie (1997); Owen-Smith và Powell (2001); Bercovitz và Feldman, 2008; Schankerman, 2003) Một số nghiên cứu cho thấy nhà khoa học tham gia môi trường doanh nghiệp nhận được tài trợ để tiếp tục nghiên cứu, bổ sung quỹ lương cho cán bộ, sinh viên và thiết bị nghiên cứu (Katz và Martin, 1997); Họ có thể tham gia hoạt động thương mại hóa để thể hiện uy tín trong cộng đồng (Perkmann và cộng sự, 2013; Jeon

và Menicucci, 2008, Lee, 2000), giúp sinh viên có kinh nghiệm thực tập (Lee, 2000; Lam, 2011; Shane, 2004, Hayter, 2015)

1.3.2 Các nghiên cứu về tác động của động lực xã hội

Các dạng động lực kể trên đều dựa vào mục tiêu cá nhân (Miller và cộng sự, 2012), trong khi động lực xã hội là động lực mong muốn thực hiện một công việc để thay đổi xã hội, mang lại lợi ích cho người khác (Renko, 2013; Grant và Berry, 2011) hầu như chưa được nhắc tới Động lực xã hội được nghiên cứu trong nhiều môi trường khác như hoạt động tình nguyện (Van Lange, 2011), đàm phán (Beersma và De Dreu, 1999), hoạt động sáng tạo (Grant và Berry, 2011), hiệu suất công việc, sáng kiến cá nhân và hành vi công dân (De Dreu và Nauta, 2009) Động lực xã hội còn được nhắc đến trong các nghiên cứu về ý định thành lập doanh nghiệp xã hội (Miller và cộng sự, 2012; Renko, 2013; Van de Ven và cộng sự, 2007)

Vai trò điều tiết của động lực xã hội đối với động lực cá nhân

Trang 8

Một số nghiên cứu cho rằng động lực xã hội và động lực cá nhân luôn mâu thuẫn lẫn nhau (Batson, 1998; Meglino và Korsgaard, 2004) Một số nghiên cứu khác chỉ ra rằng động lực xã hội và động lực cá nhân độc lập thậm chí liên quan tích cực (De Dreu

và Nauta, 2009)

1.4 Khoảng trống nghiên cứu

(1) Bối cảnh nghiên cứu: Mô hình tác động của động lực làm việc đến quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu xây dựng trong bối cảnh Việt Nam, nền kinh tế đang phát triển

(2) Vai trò của động lực xã hội: Tác động của động lực cá nhân bao gồm (động lực bên trong, động lực bên ngoài) và động lực xã hội với quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu được kiểm định trong bối cảnh Việt Nam Trong đó, đóng góp mới

về mặt lý thuyết, đó là yếu tố động lực xã hội và vai trò điều tiết của động lực xã hội với mối quan hệ giữa động lực cá nhân và quyết định thương mại hóa

CHƯƠNG 2:

CƠ SỞ LÝ THUYẾT, GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận về thương mại hóa kết quả nghiên cứu

2.1.1 Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu là kết quả của một hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ NKCN, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển KH&CN (Luật KH&CN,2013)

2.1.2 Thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học là hoạt động khai thác, hoàn thiện, ứng dụng, chuyển giao, hoạt động khác có liên quan đến kết quả nghiên cứu khoa học

và phát triển công nghệ nhằm mục đích thu lợi nhuận (Luật Cuyển giao CN, 2017)

2.1.3 Quy trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Trên thế giới, các học giả đưa ra nhiều chu trình chuyển giao công nghệ khác nhau (Roger, 1983; Cooper, 2000; Sheerin, 2014) Trong số đó, Jolly (1977) qua 5 giai đoạn: Giai đoạn ý tưởng: Giai đoạn ươm tạo,Giai đoạn trình diễn, Giai đoạn thúc đẩy, Giai đoạn duy trì

Xét trên khía cạnh dòng tiền, Bharat (2015) đưa ra các bước chuyển giao công nghệ từ khu vực công sang khu vực tư như sau: (1) Giai đoạn nghiên cứu cơ bản/ nghiên cứu ứng dụng do khu vực công thực hiện; (2) Giai đoạn nghiên cứu chuyển giao công nghệ phối hợp giữa khu vực công và khu vực tư; (3) Giai đoạn thương mại hóa do khu vực công thực hiện

Trang 9

2.1.4 Các hình thức thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Các hình thức như sau: Hợp tác nghiên cứu; Hợp đồng nghiên cứu; Mua/ bán và

chuyển nhượng quyền sử dụng sáng chế; Thành lập công ty

2.1.5 Vai trò của thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Trường/ viện nghiên cứu là thành phần chính trong hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, nơi chủ yếu tạo ra công nghệ và tài sản trí tuệ có thể thương mại hóa Đối với các trường/ viện nghiên cứu, thương mại hóa kết quả nghiên cứu tạo ra doanh thu để tái đầu tư vào nghiên cứu và đào tạo, hỗ trợ sinh viên có cơ hội thực tế tại các môi trường làm việc Đối với doanh nghiệp, các công ty tìm nguồn cung ứng công nghệ từ các trường/viện nghiên cứu (Chesbrough, 2003) và nắm bắt cơ hội đầu tư vào các công nghệ mới có sức cạnh tranh trên thị trường Xu hướng liên kết giữa trường/ viện ngiên cứu và doanh nghiệp tạo ra một hệ sinh thái, kích thích sự phát triển mạng lưới trung gian kết nối công nghệ Ở cấp độ quốc gia, thương mại hóa nâng cao năng lực sản xuất trong nước, tăng khả năng cạnh tranh và mang lại lợi ích cho nền kinh tế quốc gia Thương mại hóa kết quả nghiên cứu cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mới nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho người tiêu dùng trên nhiều lĩnh vực

2.1.6 Nhà khoa học và quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu

2.1.6.1 Khái niệm về nhà khoa học

Nhà khoa học là người thực hiện các nghiên cứu nhằm cung cấp thêm tri thức mới về sự vận hành của tự nhiên và dựa vào những nguyên lý đó để ứng dụng cho cuộc Các nhà khoa học có trình độ chuyên môn, bằng cấp học thuật cao nhất (thông thường

là bậc tiến sĩ với ngành khoa học tự nhiên), được coi là chuyên gia lĩnh vực công nghệ

2.1.6.2 Các khuynh hướng lựa chọn công việc của nhà khoa học

Các nhà khoa học được phân loại thành 4 nhóm: Nhà khoa học truyền thống (Traditional scientists), nhà khoa học doanh nhân (Enterprise scientists), các nhà khoa học quan tâm đến cả nghiên cứu truyền thống và thương mại hóa (Hybrid scientists), các nhà khoa học theo đuổi các mục đích (giảng dạy, mục tiêu chính trị) (Other types)

2.1.6.3 Quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu của nhà khoa học

Quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu của nhà khoa học thể hiện bằng việc nhà khoa học đó có tham gia vào hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu

2.2 Cơ sở lý luận về động lực làm việc

2.2.1 Động lực làm việc

Dựa vào các định nghĩa trên ta thấy, động lực làm việc là một quá trình cho thấy

sự nỗ lực, kiên định và bền bỉ, thúc đẩy sự hăng say làm việc để đạt được đích cá nhân

và mục tiêu của tổ chức Như vậy, khi mục tiêu cá nhân và mục tiêu tổ chức có sự cộng hưởng, thì người lao động sẽ có cam kết và nỗ lực mạnh mẽ hơn trong công việc Stee

và Porter Robbins (1998)

Trang 10

2.2.2 Phân loại động lực làm việc

2.2.2.1 Động lực bên trong và động lực bên ngoài

Động lực bên trong phát sinh từ mong muốn từ nhu cầu, nhận thức và cảm xúc (Reeve, 2008); Nhu cầu là nguồn gốc để tạo ra động lực thúc đẩy con người hành động, nhận thức giúp con người xác định mục tiêu và cảm xúc giúp con người gắn bó với mục tiêu đó Động lực bên ngoài xuất hiện khi một cá nhân tham gia nhiệm vụ không phải từ mong muốn của bản thân mà để đạt mục tiêu khác, như tiền bạc, danh tiếng (Deci và Ryan, 2002)

2.2.2.2 Động lực cá nhân và động lực xã hội

Các dạng động lực trên chủ yếu để đáp ứng những nhu cầu của bản thân như tiền bạc, danh tiếng hoặc xuất phát từ đam mê và mong muốn khám phá của bản thân, còn gọi là động lực cá nhân (proself motivation) (Grant và Berry, 2011; Miller

và cộng sự, 2012).Động lực xã hội (prosocial motivation) liên quan đến nỗ lực để mang lại lợi ích cho những người khác (Grant, 2008; De Dreu, 2006; Miller và cộng

sự, 2012), lợi ích của cộng đồng hoặc quốc gia (Renko, 2013)

2.2.3 Một số lý thuyết về động lực làm việc

Lý thuyết về động lực được chia thành 2 nhóm chính:

Nhóm lý thuyết cổ điển, còn gọi là lý thuyết động lực theo nội dung (content theory) giải thích vì sao con người để thỏa mãn nhu cầu của họ: Thuyết nhu cầu (Maslow, 1943), thuyết hai nhân tố (Herzberg, 1959), thuyết thành tựu (McClelland, 1969), thuyết thúc đẩy (Porter và Lawler, 1968) Nhóm lý thuyết hiện đại quan tâm đến quá trình thay đổi của động lực theo thời gian (process theory): Thuyết kỳ vọng (Vroom, 1964), thuyết xác lập mục tiêu (Edwin A.Locke, 1960; thuyết công bằng (Adams, 1963), thuyết sự tư tin (Bandura, 1997), thuyết tự quyết (Ryan và Deci, 2000); thuyết xử lý thông tin có động lực (Kunda, 1990; Nickerson, 1998)

2.3 Cơ sở lý thuyết sử dụng trong luận án

Với mục tiêu xem xét sự đa dạng của động lực của nhà khoa học đối với quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu Sau đây là 2 lý thuyết được sử dụng:

2.3.1 Thuyết tự quyết và các giả thuyết về mối quan hệ giữa động lực cá nhân và quyết định thương mại hóa

Thuyết tự quyết (Ryan và Deci, 2000) giải thích việc rời khỏi tháp ngà để tham gia thương mại hóa của nhà khoa học dưới sự tác động của các động lực bên trong (sự đam mê khám phá/ mong muốn học hỏi chia sẻ kiến thức) và động lực bên ngoài (như tiền bạc/danh vọng) Đồng thời, thuyết tự quyết thể hiện quá trình nội hóa các yếu tố tác động bên ngoài ở các mức độ khác nhau, dẫn đến quyết định thương mại hóa

Trang 11

2.3.1.2 Giả thuyết về động lực bên trong và quyết định thương mại hóa

Đối với động lực bên trong, bản chất của nhà khoa học là thỏa mãn đam mê và muốn tìm ra cái mới, khám phá kiến thức Trong quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu, nhà khoa học có khả năng truy cập các nguồn dữ liệu phục vụ chuyên môn, phát triển các kỹ năng mới và trao đổi kiến thức, để cải thiện các nghiên cứu của họ Quá trình thương mại hóa cũng là một quá trình khám phá, sau khi các nhà khao học

đã hoàn thành các nghiên cứu cơ bản

Giả thuyết H1: Động lực bên trong có có tương quan thuận chiều đến quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu

2.3.1.3 Giả thuyết về động lực bên ngoài và quyết định thương mại hóa

Động lực tài chính đóng vai trò lớn trong việc thúc đẩy thương mại hóa (D’este

và Perkmann, 2011; Lam, 2011) Bên cạnh nguồn tài chính từ thu nhập, nhà khoa học tham gia môi trường doanh nghiệp nhận được kinh phí để tiếp tục nghiên cứu (Katz và Martin, 1997) Thương mại hóa cũng gia tăng các lợi ích tài chính thông qua hợp tác công nghiệp (Mahagaonkar, 2009) Cuối cùng, một động lực khác của các nhà khoa học là sự công nhận trong cộng đồng khoa học (Perkmann và cộng sự, 2013)

Giả thuyết H2: Động lực bên ngoài (Tiền/ danh vọng) có có tương quan thuận chiều đối với quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu

2.3.2 Thuyết xử lý thông tin có động lực và các giả thuyết về mối quan hệ giữa động lực xã hội và quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học không chỉ nghiên cứu để tìm ra tính mới, mà còn quan tâm đến các mối quan hệ với những người xung quanh và tính hữu ích của kết quả nghiên cứu Động lực xã hội khiến các nhà khoa học xem xét thông tin từ nhiều phía và xử lý thông tin với mong muốn mang lại lợi ích cho người khác

2.3.2.1 Thuyết xử lý thông tin có động lực

Lý thuyết xử lý thông tin có động lực cho rằng động lực định hình quá trình nhận thức: cá nhân tiếp nhận, mã hóa và lưu giữ thông tin một cách có chọn lọc và điều

Trang 12

chỉnh phù hợp với mong muốn của họ (Kunda, 1990; Nickerson, 1998) Trong khi động lực cá nhân thúc đẩy con người xử lý thông tin phù hợp với định hướng tư lợi, động lực

xã hội thuc sđẩy con người xem xét thông tin từ nhiều phía và kích thích việc xử lý thông tin điều chỉnh theo những người có liên quan

2.3.2.2 Giả thuyết về động lực xã hội và quyết định thương mại hóa của nhà khoa học

Tuy chưa có nghiên cứu nào về mối quan hệ giữa động lực xã hội và quyết định thương mại hóa Tuy nhiên, trong lĩnh vực thành lập doanh nghiệp xã hội (Renko, 2013), động lực

xã hội của doanh nhân khi thành lập doanh nghiệp được thể hiện bởi hai yếu tố: mong muốn mang lại lợi ích cho cộng đồng (Mair & Osberg, 2007) và mong muốn góp phần vào nền cho quốc gia (Mair & Marti, 2006) Trong việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu, nhà khoa học cũng đóng vai trò là một doanh nhân Vì vậy, nhà khoa học có động lực xã hội cao sẽ không chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân mà còn mong muốn đóng góp cho xã hội và phát triển nền kinh tế của đất nước Thông qua nghiên cứu định tính cho thấy, các nhà khoa học Việt Nam còn mong muốn đền đáp cho đất nước Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn đối với

họ như một cách để trả lại khoản đầu tư của xã hội

Giả thuyết H3: Động lực xã hội có tương quan thuận chiều đến quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học

2.3.2.3 Giả thuyết về vai trò điều tiết của động lực xã hội với mối quan hệ giữa động lực cá nhân và quyết định thương mại hóa

Khi các nhà khoa học có động lực bên trong, mong muốn tìm hiểu, khám phá sở thích của bản thân sẽ khiến họ tập trung vào những ý tưởng mới lạ Tuy nhiên, để tạo

ra những ý tưởng có thể đưa vào thực tế ứng dụng, nhà khoa học cần quan tâm đến sự hữu ích Ý tưởng cuối cùng là sự thỏa mãn giữa mong muốn của bản thân và giải quyết vấn đề của tổ chức và cộng đồng Grant (2008) cho rằng động lực xã hội góp phần tích cực vào sự bền bỉ, hiệu suất và năng suất khi kết hợp với động lực bên trong

Giả thuyết H4: Động lực xã hội tăng cường mối tương quan giữa động lực bên trong

và quyết định thương mại hóa của nhà khoa học

Ngược lại, động lực xã hội làm suy yếu mối quan hệ giữa động lực bên ngoài Nhà khoa học có động lực xã hội cao sẽ đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên lợi ích cho người khác, vì vậy có thể giảm lợi ích về tài chính và danh tiếng cá nhân

Giả thuyết H5: Động lực xã hội làm suy yếu mối liên hệ giữa động lực bên ngoài với quyết định thương mại hóa kết quả nghiên cứu của nhà khoa học

Trang 13

2.4 Mô hình nghiên cứu

Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu

Bảng 2.1 Các giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết H1 Động lực bên trong có tương quan thuận chiều đến quyết định

thương mại hóa kết quả nghiên cứu của nhà khoa học Giả thuyết H2 Động lực bên ngoài có tương quan thuận chiều đến quyết định

thương mại hóa kết quả nghiên cứu của nhà khoa học Giả thuyết H3 Động lực xã hội có tương quan thuận chiều đến quyết định thương

mại hóa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Giả thuyết H4 Động lực xã hội làm tăng mối quan hệ giữa động lực bên trong và

quyết định thương mại hóa Giả thuyết H5 Động lực xã hội làm suy yếu mối liên hệ giữa động lực bên ngoài

với quyết định thương mại hóa

Để tăng mức độ tin cậy của kết quả kiểm định, một số biến kiểm soát có tác động đến

quyết định thương mại hóa được bổ sung như sau: Tuổi: Giới tính: Quốc gia đào tạo

Tiến sĩ: Lĩnh vực nghiên cứuHọc hàm/Học vịVị trí công tácSố lượng công trình công

bố Đăng ký xác lập quyền SHTT với kết quả nghiên cứu

Ngày đăng: 15/07/2021, 06:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w