Kinh tế học vi mônghiên cứu cách thức người tiêu dùng đưa ra quyết định tối ưu khi mua hàng hóa dịch vụvới nguồn thu nhập hiện hữu với giá cả hàng hóa dịch vụ trên thị trường, phù hợp vớ
Trang 1Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O
TR¦êNG §¹I HäC N¤NG NGHIÖP Hµ NéI
Trang 2Mã số:
Trang 3Lêi nãi ®Çu
Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Kinh
tế học trở thành một môn khoa học mang tính phổ cập và được quy định là môn khoa học
cơ sở đối với khối ngành kinh tế ở tất cả các trường đại học và cao đẳng.
Kinh tế học vi mô là một bộ phận của kinh tế học, tập trung nghiên cứu hành vi ứng
xử của các chủ thể, các bộ phận kinh tế đơn lẻ và đồng thời cũng quan tâm đến tác động qua lại giữa các chủ thể trong nền kinh tế.
Nhằm giúp cho sinh viên nắm bắt được những vấn đề cơ bản về kinh tế học vi mô, tập thể giảng viên của bộ môn Kinh tế, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, trường Đại học Nông nghiệp I (nay là trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội) đã biên soạn Giáo trình
“Kinh tế học vi mô” Tập giáo trình này đã được Nhà xuất bản Nông nghiệp phát hành năm 2006 và được coi là tài liệu chính phục vụ cho việc học tập của sinh viên.
Từ năm học 2008 - 2009, thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã triển khai đào tạo theo hình thức tín chỉ nhằm phát huy tính chủ động của sinh viên trong học tập, nghiên cứu Do đó, công tác giáo trình được xem là yếu tố quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường Để đáp ứng yêu cầu đào tạo theo hệ thống tín chỉ đối với sinh viên các ngành: Kinh tế, Kinh tế nông nghiệp, Kế toán doanh nghiệp, Quản trị kinh doanh tập thể tác giả Bộ môn kinh tế
đã tiến hành chỉnh sửa, bổ sung tập giáo trình trên để tái bản Lần tái bản này, trên tinh thần kế thừa các nội dung của giáo trình đã xuất bản năm 2006, Giáo trình còn bổ sung, chỉnh lý làm rõ hơn một số vấn đề về lý luận và liên hệ với thực tiễn của nền kinh tế Việt Nam; đồng thời bổ sung thêm một số thuật ngữ tiếng Anh có liên quan, có hệ thống câu hỏi ôn tập và bài tập vận dụng theo từng chương nhằm giúp sinh viên tự nghiên cứu hoàn thiện và nâng cao hơn hiểu biết của mình về kinh tế học vi mô
Giáo trình Kinh tế vi mô 1 tái bản gồm 5 chương, được chỉnh sửa bổ sung do ThS.
Lương Xuân Chính và TS.Trần Văn Đức đồng chủ biên Trong đó:
TS Trần Văn Đức chỉnh sửa, bổ sung chương 1 và chương 2;
ThS Lương Xuân Chính chỉnh sửa, bổ sung chương 3, chương 4 và chương 5.
Các vấn đề lý luận thực tiễn về kinh tế thị trường nói chung và kinh tế học vi mô nói riêng hết sức đa dạng và phong phú, vì vậy với thời lượng nhỏ bé của cuốn giáo trình tái bản này không thể đáp ứng đầy đủ sự mong đợi của người đọc và chắc chắn không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định Tập thể tác giả rất mong được các ý kiến đóng góp xây dựng của đồng nghiệp, của các bạn sinh viên và đông đảo bạn đọc để cuốn sách được hoàn thiện hơn cho lần tái bản sau.
Mọi thư từ, góp ý xin gửi về địa chỉ: Bộ môn Kinh tế, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
Xin trân trọng cám ơn!
TẬP THỂ TÁC GIẢ
MôC LôC
Trang 4Trang
Chương 1 NHữNG VấN Đề CƠ BảN Về KINH Tế HọC
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Kinh tế học
1.1.2 Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc
1.1.3 Kinh tế học vi mụ và kinh tế học vĩ mụ
1.2 Doanh nghiệp và ba vấn đề kinh tế cơ bản của tổ chức kinh tế
1.2.1 Doanh nghiệp
1.2.2 Ba vấn đề kinh tế cơ bản của tổ chức kinh tế
1.3 Lý thuyết lựa chọn kinh tế tối u
1.3.1 Lựa chọn và lý thuyết lựa chọn kinh tế
1.3.2 Sự lựa chọn là cần thiết
1.3.3 Mục tiờu của sự lựa chọn
1.3.4 Căn cứ để tiến hành lựa chọn
1.3.5 Phương phỏp lựa chọn
1.3.6 Ảnh hưởng của một số quy luật kinh tế đến lựa chọn kinh tế tối ưu
1.3.7 Hiệu quả kinh tế
1.4 Các mô hình kinh tế
1.4.1 Mụ hỡnh kinh tế kế hoạch húa tập trung
1.4.2 Mụ hỡnh kinh tế thị trường
1.4.3 Mụ hỡnh kinh tế hỗn hợp
1.5 Mời nguyên lý của kinh tế học
1.5.1 Bài học thứ nhất: Con người ra quyết định như thế nào?
1.5.2 Bài học thứ hai: Con người tương tỏc với nhau như thế nào?
1.5.3 Bài học thứ ba: Nền kinh tế với tư cỏch là một tổng thể vận hành như thế
nào?
1.6 Đối tợng, nội dung và phơng pháp nghiên cứu môn học
1.6.1 Đối tượng nghiờn cứu
1.6.2 Nội dung
1.6.3 Phương phỏp nghiờn cứu
Cõu hỏi ụn tập chương 1
Bài tập vận dụng chương 1
Chương 2 Lý THUYếT CầU, CUNG
2.1 Cầu
2.1.1 Khỏi niệm
2.1.2 Một số thuật ngữ khỏc cú liờn quan đến cầu
2.1.3 Hàm cầu và cỏc yếu tố ảnh hưởng đến cầu
2.1.4 Sự di chuyển và dịch chuyển của đường cầu
2.2 Cung
2.2.1 Khỏi niệm
Trang 52.2.2 Một số thuật ngữ có liên quan
2.2.3 Hàm cung và các yếu tố ảnh hưởng đến cung
2.2.4 Sự di chuyển và dịch chuyển của đường cung
2.3 Quan hÖ cung cÇu
3.1 Trạng thái cân bằng cung cầu
3.2 Trạng thái không cân bằng
3.3 Trạng thái cân bằng mới
2.4 KiÓm so¸t gi¸ c¶
2.4.1 Khái niệm kiểm soát giá cả
2.4.2 Giá trần
2.4.3 Giá sàn
Câu hỏi ôn tập chương 2
Bài tập vận dụng chương 2
Chương 3 §é CO GI·N CÇU, CUNG Vµ Lý THUYÕT HµNH VI NG¦êI TI£U dïng
3.1 §é co gi·n cÇu, cung
3.1.1 Khái niệm, công thức tính và phân loại độ co giãn
3.1.2 Ðộ co giãn của cầu
3.1.3 Ðộ co giãn cung
3.1.4 Vận dụng độ co giãn cầu và cung theo giá hàng hóa
3.2 Lý thuyÕt vÒ hµnh vi ngêi tiªu dïng
3.2.1 Một số khái niệm
3.2.2 Quy luật lợi ích cận biên giảm dần và quy tắc tối đa hóa lợi ích
3.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn của người tiêu dùng
Câu hỏi ôn tập chương 3
Bài tập vận dụng chương 3
Chương 4 Lý THUYÕT VÒ S¶N XUÊT, CHI PHÝ Vµ LîI NHUËN CñA DOANH NGHiÖp
4.1 Lý thuyÕt vÒ s¶n xuÊt
4.1.1 Các yếu tố đầu vào, đầu ra và hàm sản xuất
4.1.2 Hàm sản xuất với một đầu vào biến đổi
4.1.3 Hàm sản xuất với hai đầu vào biến đổi
4.2 Lý thuyÕt vÒ chi phÝ
4.2.1 Phân loại chi phí
4.2.2 Các loại chi phí ngắn hạn
4.2.3 Chi phí dài hạn
4.3 Lý thuyÕt vÒ lîi nhuËn
4.3.1 Khái niệm và vai trò của lợi nhuận
4.3.2 Doanh thu cận biên và quyết định của doanh nghiệp về sản lượng sản xuất
4.3.3 Tối đa hoá lợi nhuận trong sản xuất ngắn hạn
4.3.4 Tối đa hoá lợi nhuận trong sản xuất dài hạn
Trang 6Cõu hỏi ụn tập chương 4
Bài tập vận dụng chương 4
Chương 5 THị TRƯờNG SảN PHẩM
5.1 Tổng quan về thị trờng
5.1.1 Khỏi niệm và vai trũ của thị trường
5.1.2 Chức năng của thị trường
5.1.3 Phõn loại thị trường
5.2 Thị trờng cạnh tranh hoàn hảo
5.2.1 Đặc điểm
5.2.2 Mức sản lượng tối ưu của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo
5.2.3 éường cung ngắn hạn của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo
5.2.4 Ưu nhược điểm của thị trường cạnh tranh hoàn hảo
5.3 Thị trờng độc quyền
5.3.1 Khỏi niệm
5.3.2 éộc quyền bỏn
5.3.3 éộc quyền mua
5.3.3 Phõn biệt giỏ trong độc quyền
5.4 Thị trờng cạnh tranh độc quyền
5.4.1 éặc điểm của thị trường cạnh tranh độc quyền
5.4.2 Cõn bằng trong ngắn hạn và dài hạn
5.5 Thị trờng độc quyền tập đoàn
5.5.1 éặc điểm của thị trường độc quyền tập đoàn
5.5.2 Một số vấn đề chỳ ý trong thị trường độc quyền tập đoàn
Cõu hỏi ụn tập chương 5
Bài tập vận dụng chương 5
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC Kí HIỆU VIẾT TẮT
(Được xếp theo thứ tự xuất hiện khi nghiờn cứu)
Trang 7Q Quantity Sản lượng
MRS Marginal Rate of Substitution Tỷ lệ thay thế cận biên
MRTS Marginal Rate of Technical
Substiution
Tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên
AVC Average Variable Cost Chi phí biến đổi bình quân
LATC Long run AverageTotal Cost Chi phí bình quân dài hạn
LMC Long run Marginal Cost Chi phí cận biên dài hạn
VMP Value Marginal Product Giá trị sản phẩm biên
Trang 8Li Lerner Index Chỉ số Lerner
PDV Present Discounted Value Giá trị hiện tại
Trang 9- Quan điểm thứ nhất (theo David Begg): Kinh tế học nghiên cứu cách thức xã hội giảiquyết những vấn đề kinh tế cơ bản (sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất choai?).
- Quan điểm thứ hai: Kinh tế học là một môn khoa học xã hội, nghiên cứu các hành viứng xử của các tác nhân trong nền kinh tế
- Quan điểm thứ ba: Kinh tế học là một môn khoa học xã hội, nó nghiên cứu các mốiquan hệ giữa sản xuất, lưu thông, tiêu dùng Trên cơ sở đó, tìm ra mối quan hệ tối ưu đểphục vụ cho sản xuất và đời sống
- Quan điểm thứ tư: Kinh tế học nghiên cứu các sự kiện, các hoàn cảnh và xu hướngphát triển của nó để có những chính sách phù hợp
- Quan điểm thứ năm (theo GS N Mankiw): Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứuphương thức xã hội quản lý nguồn lực khan hiếm
- Quan điểm thứ sáu (theo Samuenlson): Kinh tế học là môn khoa học xã hội, nónghiên cứu cách thức các xã hội phân bổ các nguồn lực khan hiếm như thế nào để sản xuất
ra các hàng hóa dịch vụ có giá trị và phân phối chúng cho các thành viên trong xã hội tiêudùng
Với các quan điểm trên, chúng ta có thể thấy rằng: Kinh tế học là môn khoa học của
sự lựa chọn, nó nghiên cứu và giải quyết những vấn đề kinh tế cơ bản nhằm khai thác và sửdụng các nguồn lực khan hiếm sao cho có hiệu quả nhất và phân phối những sản phẩm làm
ra cho mọi thành viên trong xã hội kể cả thời hiện tại và tương lai
Như vậy, xuất phát điểm có sự ra đời của môn kinh tế học là: nguồn lực khan hiếm và
xã hội phải phân bổ các nguồn lực đó một cách có hiệu quả
1.1.2 Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc
Theo cách tiếp cận, kinh tế học được chia thành: Kinh tế học thực chứng và kinh tếhọc chuẩn tắc
a Kinh tế học thực chứng
Kinh tế học thực chứng là một cách tiếp cận của kinh tế học, nó mô tả và phân tích các
sự kiện, những mối quan hệ trong nền kinh tế - cái gì, thế nào và cho ai - và các hành viứng xử của chúng Nói cách khác: nó giải thích sự hoạt động của nền kinh tế một cáchkhách quan và khoa học
Kinh tế học thực chứng là để trả lời câu hỏi: là bao nhiêu? là gì? như thế nào?
Mục đích của kinh tế học thực chứng là tìm hiểu lý do vì sao nền kinh tế lại hoạt độngnhư vậy Trên cơ sở đó dự đoán phản ứng của nó khi có sự thay đổi của hoàn cảnh, đồngthời Chính phủ có thể sử dụng các công cụ điều chỉnh để hạn chế tác động tiêu cực vàkhuyến khích mặt tích cực nhằm đạt được những kết quả mong muốn
Ví dụ: Nền kinh tế thế giới năm 2009 đang lâm vào tình trạng suy thoái; Giá dầu thô
thế giới cuối năm 2008 có sự biến động lớn ảnh hưởng xấu đến sự tăng trưởng kinh tế củacác quốc gia; Lạm phát ở Việt Nam năm 2008 đã lên mức 2 con số đã buộc dân chúng phảithắt chặt chi tiêu
Trang 10b Kinh tế học chuẩn tắc
Kinh tế học chuẩn tắc liên quan đến quan điểm đạo lý chính trị ở một quốc gia Nóđưa ra các chỉ dẫn hoặc khuyến nghị dựa trên những đánh giá, nhận định chủ quan theotiêu chuẩn cá nhân vào các vấn đề cái gì, thế nào và cho ai của nền kinh tế
Có rất nhiều vấn đề đặt ra mà câu trả lời tùy thuộc vào quan điểm của cá nhân và cũng
có nhiều phương pháp giải quyết khác nhau về một hiện tượng kinh tế tùy theo cách đánhgiá của mỗi người Ví dụ: Có nên dùng thuế để lấy bớt thu nhập của người giàu giúp đỡngười nghèo không? Và nếu có thì mức thu nhập bao nhiêu sẽ phải chịu thuế hoặc thuếsuất sẽ là bao nhiêu phần trăm thì hợp lý? Hoặc có nên trợ giá các yếu tố đầu vào và sảnphẩm đầu ra cho sản xuất nông nghiệp để giúp đỡ người nông dân hay không? Hoặc Nhànước nên bù lỗ cho việc kinh doanh sản phẩm xăng dầu để ổn định sản xuất và đời sốngcủa nền kinh tế…
Cho tới nay, chưa có câu trả lời đúng hay sai với các câu hỏi trên bởi lẽ chúng đưa cảgiá trị đạo đức vào các sự kiện thực tế Những vấn đề này thường được tranh luận và quyếtđịnh chính trị, nó không bao giờ được giải quyết bằng khoa học hoặc bằng các phân tíchkinh tế Nó trả lời cho câu hỏi “nên làm cái gì”
Dĩ nhiên kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc có quan hệ mật thiết vớinhau, có ý nghĩa lớn trong thực tiễn sản xuất và đời sống Cho nên khi nghiên cứu về kinh
tế học, bạn luôn luôn nhớ tới sự phân biệt giữa các nhận định thực chứng và chuẩn tắc.Nhiều nội dung của kinh tế học chỉ nhằm lý giải cách thức vận hành của nền kinh tế.Nhưng mục tiêu của kinh tế học thường là cải thiện hoạt động của nền kinh tế Khi nghethấy các nhà kinh tế nêu ra nhận định chuẩn tắc, bạn nên biết rằng họ đã vượt qua ranh giớicủa khoa học và bước vào vương quốc của các nhà tư vấn chính sách
1.1.3 Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô
Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu, kinh tế học được chia thành: Kinh tế học vi mô vàkinh tế học vĩ mô
a Kinh tế học vi mô
Kinh tế học vi mô là môn học nghiên cứu cách thức ra quyết định của các chủ thể kinh
tế cũng như sự tương tác của họ trên các thị trường cụ thể Nó nghiên cứu và giải quyếtnhững vấn đề kinh tế cơ bản của các tế bào trong nền kinh tế, tức là nó nghiên cứu cáchành vi, các hoạt động của từng đơn vị kinh tế đơn lẻ (doanh nghiệp, hộ gia đình, trangtrại, các chủ đất) Chẳng hạn, kinh tế học vi mô nghiên cứu tác động của các biện phápkiểm soát tiền thuê nhà đối với nhà ở tại thành phố Hà nội hay thành phố Hồ Chí Minh,ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu đối với ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam,ảnh hưởng của chính sách tiền lương tối thiểu đối với thị trường lao động cũng như thunhập của người lao động Một cách cụ thể: kinh tế học vi mô nghiên cứu cách thức ngườisản xuất lựa chọn các yếu tố đầu vào để sản xuất ra sản phẩm với chi phí thấp nhất hoặclựa chọn mức sản lượng đầu ra để đạt lợi nhuận cao nhất Và khi giá các yếu tố đầu vào,đầu ra thay đổi thì họ ứng xử như thế nào để đạt mục tiêu mong muốn Kinh tế học vi mônghiên cứu cách thức người tiêu dùng đưa ra quyết định tối ưu khi mua hàng hóa dịch vụvới nguồn thu nhập hiện hữu với giá cả hàng hóa dịch vụ trên thị trường, phù hợp với sởthích hoặc thị hiếu tiêu dùng của từng cá nhân để đạt được sự thỏa mãn cao nhất Và khi
Trang 11thu nhập, giá cả hàng hóa dịch vụ thay đổi thì họ ứng xử như thế nào để đạt mục tiêu mongmuốn Đồng thời, kinh tế học vi mô cũng nghiên cứu sự tương tác qua lại giữa nhữngngười tiêu dùng và các nhà sản xuất trên các thị trường để quyết định giá cả và lượng hànghóa trao đổi.
Adam Smith là người đặt nền móng cho lĩnh vực kinh tế học vi mô - một nhánh củaKinh tế học đi sâu nghiên cứu về hành vi của các chủ thể riêng biệt như các thị trường, cácdoanh nghiệp, các hộ gia đình Trong tác phẩm “Tìm hiểu về bản chất và nguồn gốc sựgiàu có của các quốc gia”, ông đã nghiên cứu các loại giá cả riêng biệt được hình thànhnhư thế nào, giá yếu tố sản xuất được xác định ra sao, khảo cứu về những điểm mạnh vàđiểm yếu của cơ chế thị trường Điều quan trọng nhất là ông đã xác định được một trongnhững tính chất hiệu quả đặc biệt của thị trường - “Bàn tay vô hình” đã mang lại lợi íchchung từ những hành động vị kỷ của cá nhân Cho đến nay, tính chất đó vẫn giữ nguyêntầm quan trọng của nó
Kinh tế học vĩ mô mới chỉ được đề cập đến bắt đầu từ năm 1939, khi John MaynardKeynes công bố tác phẩm có tính cách mạng của ông: “Lý thuyết chung về việc làm, tiềnlãi và tiền tệ” Vào thời điểm đó, các nước tư bản đang chìm sâu trong cuộc đại suy thoáicủa những năm 1930 Trong khi nghiên cứu để tìm lối thoát Keynes đã nhấn mạnh: nềnkinh tế thị trường có thể không làm tròn chức năng của nó Trong lý thuyết của mình, ông
đã phát triển lý thuyết giải thích về nguyên nhân thất nghiệp và suy thoái kinh tế, về đầu tư
và tiêu dùng được xác định như thế nào, ngân hàng trung ương quản lý tiền tệ ra sao, vì saomột số nước lại phát triển trong khi đó một số khác lại rơi vào đình trệ
Cũng qua nghiên cứu của mình, ông cho rằng, Chính phủ có vai trò quan trọng trongviệc làm giảm bớt những thăng trầm của chu kỳ kinh doanh Mặc dù nhiều nhà kinh tếkhông thừa nhận các tư tưởng và những giải thích cụ thể của Keynes, song những vấn đề
mà ông đưa ra vẫn là đối tượng nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô hiện nay
c Mối quan hệ giữa kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô
Vì những thay đổi trong nền kinh tế nói chung phát sinh từ quyết định của hàng triệu
cá nhân nên chúng ta không thể hiểu được các hiện tượng kinh tế vĩ mô nếu không tính đếncác quyết định kinh tế vi mô liên quan
Cả hai môn kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô đều là những nội dung quan trọngcủa kinh tế học, không thể chia cắt mà bổ sung cho nhau, tạo thành hệ thống kiến thức củakinh tế thị trường có sự điều tiết, quản lý của Nhà nước
Kinh tế vĩ mô tạo hành lang, môi trường, và điều kiện cho kinh tế vi mô phát triển.Thực tế phát triển kinh tế ở các nước đã chứng minh, kết quả của hoạt động kinh tế vĩ môphụ thuộc vào hành vi của kinh tế vi mô, kinh tế quốc dân phụ thuộc vào sự phát triển của
Trang 12các doanh nghiệp, của các tế bào kinh tế trong sự tác động ảnh hưởng của nền kinh tế.Ranh giới phân biệt giữa kinh kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô rất mỏng manh, gần đâychúng đã hội nhập lại khi các nhà kinh tế ứng dụng các công cụ kinh tế học vi mô để giảithích các vấn đề kinh tế học vĩ mô Do đó, để nâng cao sự hiểu biết đầy đủ về kinh tế học,chúng ta phải khám phá cả hai phân ngành này
1.2 DOANH NGHIỆP VÀ BA VẤN ĐỀ KINH TẾ CƠ BẢN CỦA TỔ CHỨC KINH TẾ
1.2.1 Doanh nghiệp
a Khái niệm
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, là đơn vị sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụtheo đúng luật pháp nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường, xã hội để đạt hiệu quả cao về kinh
tế, chính trị, xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái
b Phân loại doanh nghiệp
Tùy theo mục đích nghiên cứu và phương pháp tiếp cận người ta thường dựa vào một
số tiêu thức sau đây để phân loại doanh nghiệp
- Căn cứ vào hình thức sở hữu: Doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tập thể, doanhnghiệp tư nhân, công ty, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Căn cứ vào chức năng họat động: doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, doanh nghiệphoạt động công ích
- Căn cứ vào ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh (ngành kinh tế - kỹ thuật):doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp xây dựng cơ bản,doanh nghiệp dịch vụ thương mại
- Căn cứ vào tính trách nhiệm: Doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn, doanh nghiệpchịu trách nhiệm hữu hạn
- Căn cứ vào tư cách pháp lý: doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, doanh nghiệpkhông có tư cách pháp nhân
- Căn cứ vào cấp quản lý: doanh nghiệp trung ương, doanh nghiệp địa phương
- Căn cứ vào quy mô sản xuất kinh doanh: doanh nghiệp quy mô lớn, doanh nghiệpquy mô vừa, doanh nghiệp quy mô nhỏ
c Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp
* Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp: là quá trình sản xuất kinh doanh và tiêu thụhàng hóa dịch vụ trên thị trường
Tuy nhiên mỗi một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ khác nhauthì quá trình kinh doanh cũng khác nhau
- Đối với doanh nghiệp sản xuất hàng hóa dịch vụ, quá trình sản xuất kinh doanh baogồm các khâu sau đây:
+ Điều tra xác định cầu của thị trường và xã hội để ra quyết định nên sản xuất cái gì?
Trang 13+ Lựa chọn và chuẩn bị các yếu tố đầu vào để sản xuất hàng hóa dịch vụ.
+ Phối hợp các yếu tố đầu vào theo một quy trình công nghệ nhất định để tạo ra nhiềusản phẩm, chất lượng cao, chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm thấp nhất
+ Tổ chức tiêu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ và thu tiền về
- Đối với các doanh nghiệp thương mại, quá trình kinh doanh bao gồm các khâu sau:
+ Nghiên cứu cầu thị trường xã hội để quyết định kinh doanh hàng hóa dịch vụ nào
+ Tổ chức hệ thống mạng lưới để thu mua hàng
+ Tổ chức vận chuyển, bảo quản, đóng gói, tân trang sản phẩm
+ Tổ chức bán hàng để thu tiền về cho doanh nghiệp
- Đối với doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ: là một doanh nghiệp buôn bán loại hànghóa đặc biệt (tiền), do đó quá trình kinh doanh của nó bao gồm các khâu:
+ Nghiên cứu nhu cầu mua, bán, vay và cho vay tiền nội tệ và ngoại tệ để quyết địnhlượng mua, bán và cho vay ngắn hạn, dài hạn
+ Quy định các thủ tục cần thiết về mua, bán, vay và gửi tiền để hạn chế thấp nhấtnhững rủi ro có thể xảy ra trong kinh doanh
+ Tổ chức việc mua, bán, vay và gửi tiền theo thời gian quy định Tính toán lãi suấtcho việc mua, bán, vay và gửi tiền theo quy định
+ Bảo quản an toàn tuyệt đối mua, bán, vay, gửi và kiểm tra việc thực hiện các quyđịnh của khách hàng
+ Phát hiện và xử lý kịp thời những rủi ro trong kinh doanh tiền tệ Rủi ro trong kinhdoanh tiền tệ là tổng hợp của nhiều sự rủi ro
d Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp
Một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh làrút ngắn chu kỳ kinh doanh Chu kỳ kinh doanh là khoảng thời gian cần thiết để thực hiệnquá trình kinh doanh Nó được tính từ lúc doanh nghiệp xúc tiến điều tra xác định nhu cầuthị trường, xã hội về hàng hóa dịch vụ đến khi tiêu thụ xong hàng hóa và thu tiền về chodoanh nghiệp Theo đó, chu kỳ kinh doanh bao gồm các loại thời gian chủ yếu sau:
+ Thời gian nghiên cứu nhu cầu thị trường và quyết định sản xuất (hoặc mua hànghóa, dịch vụ)
+ Thời gian chuẩn bị các yếu tố đầu vào cho sản xuất hoặc mua hàng hóa dịch vụ.+ Thời gian tổ chức quá trình sản xuất hoặc bao gói, chế biến và mua bán; hoặc thờigian bán, mua; thời gian gửi, vay tiền.v.v
Như vậy, chu kỳ kinh doanh phụ thuộc trước hết vào quá trình kinh doanh Trong chukinh doanh, thời gian sản xuất hàng hóa dịch vụ là lớn nhất, trong đó thời gian công nghệ(chế tạo, chế biến) có vị trí quyết định Ngoài ra, chu kỳ kinh doanh còn lệ thuộc vào đặcđiểm kinh tế - kỹ thuật của ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Điều đó có nghĩa là, chu kỳkinh doanh của doanh nghiệp trong các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau sẽ không giống
Trang 14nhau Vì vậy, tùy theo loại hình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có những biệnpháp phù hợp để rút ngắn chu kỳ kinh doanh và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
1.2.2 Ba vấn đề kinh tế cơ bản của tổ chức kinh tế
Khi nghiên cứu thực tế phát triển kinh tế ở các nước trên thế giới và Việt Nam, cácnhà kinh tế đều cho rằng bất cứ một quốc gia nào, doanh nghiệp nào, hộ gia đình nào muốnsản xuất kinh doanh dịch vụ hàng hóa có hiệu quả cao (kinh tế, chính trị, xã hội, môitrường sinh thái) thì phải lựa chọn và quyết định đúng ba vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuấtcái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai?
a Sản xuất cái gì?
Đây là câu hỏi của cầu, liên quan trực tiếp đến người tiêu dùng Điều đó có nghĩa làdựa vào cầu thị trường, xã hội và nguồn lực của mình mà các tác nhân trong nền kinh tếnên lựa chọn và ra quyết định nên sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ nào, số lượng baonhiêu, chất lượng mẫu mã, kiểu dáng như thế nào, bao giờ thì sản xuất và bán ra
Như vậy, để lựa chọn và ra quyết định sản xuất hàng hóa gì? kinh doanh dịch vụ nào?người ta phải căn cứ vào nhu cầu thị trường Điều này có nghĩa là: thị trường, xã hội cầncái gì thì các tác nhân trong nền kinh tế sẽ sản xuất kinh doanh dịch vụ đó để đáp ứng Nóicách khác, chỉ sản xuất cái thị trường cần chứ không sản xuất cái mình có Tuy vậy, đểnhận biết được cầu thị trường, xã hội người ta thường dựa vào giá cả thị trường - thông tin
có ý nghĩa quan trọng nhất đến lựa chọn và ra quyết định đúng đắn
b Sản xuất như thế nào?
Đây là câu hỏi của cung, liên quan trực tiếp đến người sản xuất Điều đó có nghĩa là:
để sản xuất đạt hiệu quả cao, người sản xuất phải nghiên cứu và giải quyết đồng bộ các vấnđề: sử dụng công nghệ kỹ thuật nào thì phù hợp, lựa chọn và phối hợp các yếu tố đầu vàotối ưu, lựa chọn lượng sản phẩm đầu ra tối ưu, sản xuất kinh doanh ở đâu, giao cho ai sảnxuất… nhằm tiết kiệm chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm Để đứng vững và cạnhtranh thắng lợi trên thị trường, các doanh nghiệp phải luôn luôn đi tắt, đón đầu trong việcđổi mới kỹ thuật và công nghệ, nâng cao trình độ công nhân và lao động quản lý nhằmtăng hàm lượng chất xám trong sản phẩm Chất lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ là vấn đềquyết định sống còn trong cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường, đảm bảo chữ tín của doanhnghiệp với bạn hàng
c Sản xuất cho ai?
Quyết định sản xuất cho ai đòi hỏi phải xác định rõ ai sẽ được hưởng và được lợi từnhững hàng hóa dịch vụ do doanh nghiệp, Chính phủ, hộ gia đình… tạo ra Thu nhập của
xã hội, của tập thể hay của cá nhân phụ thuộc vào quyền sở hữu và giá trị của các yếu tốsản xuất, phụ thuộc vào số lượng hàng hóa và giá cả của hàng hóa dịch vụ Như vậy, nộidung của vấn đề kinh tế cơ bản này cần giải quyết là những hàng hóa dịch vụ sản xuất phânphối cho ai để vừa có thể kích thích mạnh mẽ sự phát triển kinh tế đạt hiệu quả cao, vừađảm bảo sự công bằng xã hội Nói cách khác, sản phẩm quốc dân, thu nhập thuần túy củadoanh nghiệp sẽ được phân phối cho xã hội, cho tập thể và cho cá nhân như thế nào để tạođộng lực kích thích cho sự phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng được nhu cầu công cộng
và các nhu cầu xã hội khác
Trang 15Theo ngôn ngữ kinh tế học thì ba vấn đề kinh tế cơ bản đã nói ở trên đều cần đượcgiải quyết trong mọi xã hội, dù là một nhà nước xã hội chủ nghĩa, một nhà nước côngnghiệp tư bản, một công xã, một bộ tộc, một hộ gia đình, một địa phương, một ngành haymột doanh nghiệp.
Quá trình phát triển kinh tế của mỗi nước, mỗi ngành, mỗi địa phương và mỗi doanhnghiệp, chính là quá trình lựa chọn để quyết định tối ưu ba vấn đề kinh tế cơ bản Nhưng việc lựachọn để quyết định tối ưu ba vấn đề ấy lại phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, khảnăng và điều kiện nguồn lực; phụ thuộc vào việc lựa chọn hệ thống kinh tế để phát triển; vào vaitrò, trình độ và sự can thiệp của các Chính phủ; vào chế độ chính trị - xã hội của mỗi nước
1.3 LÝ THUYẾT LỰA CHỌN KINH TẾ TỐI ƯU
1.3.1 lựa chọn và lý thuyết lựa chọn kinh tế
Lựa chọn là cách thức mà theo đó các tác nhân của nền kinh tế đưa ra quyết định tối
ưu nhằm sử dụng các nguồn lực khan hiếm của mình
Lý thuyết lựa chọn tìm cách lý giải có cơ sở khoa học các quyết định của các tác nhântrong nền kinh tế Nó cố gắng giải thích tại sao họ lại lựa chọn như vậy và cách thức của sựlựa chọn
1.3.2 Sự lựa chọn là cần thiết
Khi nghiên cứu vấn đề này, các nhà kinh tế đều cho rằng có hai lý do dẫn đến phảilựa chọn Đó là nhu cầu của con người và xã hội là vô hạn nhưng nguồn lực thì có hạn,khan hiếm Sự khan hiếm nguồn lực làm cho hầu hết nhu cầu của con người không đượcthỏa mãn Chẳng hạn, mỗi hộ nông dân, mỗi trang trại chỉ có một lượng diện tích đất đai
có hạn, nếu đã trồng cây này rồi thì không còn cơ hội để trồng cây khác Mỗi doanh nghiệpchỉ có một lượng vốn nhất định, nếu đã đầu tư sản xuất kinh doanh sản phẩm này thì khôngthể đầu tư sản xuất kinh doanh loại sản phẩm khác Tuy nhiên, mặc dù nguồn lực khanhiếm và có hạn, nhưng các tác nhân có thể tiến hành sự lựa chọn của mình bởi lẽ, một loạinguồn lực có thể sử dụng để tạo ra nhiều loại sản phẩm, hoặc để tạo ra cùng một loại sảnphẩm có thể sử dụng nhiều nguồn lực thay thế Vì thế, sự lựa chọn phải được thực hiệntrong tất cả những trong tất cả những trường hợp này
Mặt khác, khi lựa chọn người ta phải căn cứ vào loại nguồn lực khan hiếm nhất Nóicách khác, nguồn lực khan hiếm nhất là giới hạn ràng buộc, hạn chế khả năng lựa chọn.Chẳng hạn, tiền bạc và thời gian đều khan hiếm, nhưng đối với từng tác nhân cụ thể thì sựkhan hiếm sẽ khác nhau Đối với một số nhà giàu, nhà tỷ phú thì tiền có thể không phải làmột giới hạn ràng buộc khi tiến hành lựa chọn các mặt hàng tiêu dùng - thời gian có lẽquan trọng hơn Ngược lại, với những người nghèo khó, thất nghiệp thì thời gian đối với
họ chẳng có ý nghĩa gì, tiền bạc mới là thứ họ cần
1.3.3 Mục tiêu của lựa chọn
Mục tiêu của sự lựa chọn là tìm cách tối đa hóa (hay có thể thu được nhiều lợi íchnhất) trong điều kiện có những giới hạn về nguồn lực Vì vậy, tùy thuộc vào từng tác nhânkinh tế mà họ sẽ theo đuổi mục tiêu khác nhau khi đưa ra quyết định lựa chọn
- Đối với người sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ thì mục tiêu của sự lựa chọn là
Trang 16tối đa hóa lợi nhuận (mục tiêu cơ bản nhất) hoặc tối đa hóa doanh thu (đối với những ngườimới bước vào ngưỡng cửa sản xuất kinh doanh) hoặc tăng vị thế của mình trên thị trường, xãhội.
- Đối với người tiêu dùng: mục tiêu của sự lựa chọn là tối đa hóa lợi ích (độ thỏadụng) trong điều kiện thị trường và nguồn ngân sách hiện có
- Đối với Chính phủ: mục tiêu của sự lựa chọn là thúc đẩy tăng trưởng và ổn định nềnkinh tế, khắc phục các khuyết tật của thị trường, tối đa hóa phúc lợi xã hội…
1.3.4 Căn cứ để tiến hành lựa chọn
Muốn lựa chọn đúng và đạt được mục tiêu của mình, các tác nhân kinh tế thường dựavào các căn cứ: chi phí cơ hội; cầu thị trường; lợi thế so sánh; chiến lược phát triển và ý đồkinh doanh trong từng giai đoạn Trong đó, chi phí cơ hội là căn cứ quan trọng nhất
a Khái niệm chi phí cơ hội
Trong điều kiện nguồn lực khan hiếm, khi đưa ra một quyết định này thì các tác nhânkinh tế bỏ lỡ cơ hội để thực hiện một quyết định khác Như vậy, chi phí cơ hội của một thứ
là cái mà ta phải từ bỏ để có được nó (N Mankiw) Chi phí cơ hội là giá trị của sự lựa chọntốt nhất có thể có Nó là lợi ích bị bỏ qua (hay thu nhập bị hy sinh) khi sản xuất hoặc tiêudùng hàng hóa dịch vụ này mà không sản xuất, tiêu dùng hàng hóa dịch vụ khác có lợihơn Chẳng hạn, chi phí cơ hội của việc giữ tiền là lãi suất mà chúng ta có thể thu được khigửi tiền vào ngân hàng Chi phí cơ hội của lao động là thời gian nghỉ ngơi bị mất Chi phí
cơ hội của việc trồng rau là lượng hoa quả bị mất đi khi người nông dân quyết định trồngrau trên mảnh vườn của mình thay vì trồng cây ăn quả…
Như vậy, khái niệm chi phí cơ hội cho chúng ta thấy: khi đưa ra bất kỳ một quyết địnhkinh tế nào, các tác nhân trong nền kinh tế đều phải cân nhắc kỹ lưỡng giữa cái được và cáimất của sự lựa chọn để có được phương án lựa chọn tối ưu nhất
b Cách xác định
Ta có thể xác định chi phí cơ hội bằng hai cách:
+ Bằng hiện vật: chi phí cơ hội của việc sản xuất/tiêu dùng thêm một đơn vị sản phẩmnày là sự hy sinh một lượng nào đó sản phẩm kia
Ví dụ: Trong khuôn khổ nguồn lực có hạn, người tiêu dùng lựa chọn các phương án
để tiêu dùng lương thực và thực phẩm như trong bảng sau:
Bảng 1 - 1 Các phương án tiêu dùng giữa lương thực và thực phẩm
Phương án Số đơn vị lương thực Số đơn vị thực phẩm
Trang 17Từ bảng trên, ta có thể biết được chi phí cơ hội từ phương án A sang phương án B là6/9, có nghĩa là muốn tiêu dùng thêm 9 đơn vị thực phẩm thì phải từ bỏ tiêu dùng 6 đơn vịlương thực.
+ Bằng giá trị: chi phí cơ hội là giá trị bỏ qua (hi sinh) khi sản xuất hoặc tiêu dùng mặthàng này để chuyển sang sản xuất, tiêu dùng mặt hàng khác có lợi hơn
Ví dụ: Trong khuôn khổ các nguồn lực có hạn, một hộ nông dân có thể sản xuất lúa và
rau Lợi nhuận thu được của từng phương án như sau:
Bảng 1 - 2 Các phương án sản xuất giữa lúa và rau
1.3.5 Phương pháp lựa chọn
Sử dụng đường giới hạn khả năng sản xuất (đường cong năng lực sản xuất - PPF)Đường giới hạn khả năng sản xuất là đường biểu diễn các tổ hợp (các mức phối hợp)tối đa giữa các loại hàng hóa dịch vụ mà nền kinh tế hoặc doanh nghiệp có thể sản xuấtđược khi sử dụng tối ưu các nguồn lực hiện có
Khi nghiên cứu về đường giới hạn khả năng sản xuất, người ta rút ra một kết luận nhưsau:
+ Đường giới hạn khả năng sản xuất thường là đường cong lồi bên ngoài và dốcxuống dưới về phía phải thể hiện quy luật chi phí cơ hội (chi phí tương đối) ngày càngtăng Cụ thể, trong điều kiện nguồn lực khan hiếm, để sản xuất thêm một đơn vị hàng hóadịch vụ này, xã hội phải hi sinh ngày càng nhiều đơn vị hàng hóa dịch vụ khác
+ Đường giới hạn khả năng sản xuất cho biết được mối quan hệ đánh đổi giữa các
Hình 1 - 1 Đường giới hạn khả năng sản xuất lúa và ngô trong điều kiện đất đai có hạn
D
C
B A
Trang 18hàng hóa dịch vụ với nhau, nếu sản xuất, tiêu dùng hàng hóa này nhiều lên thì sản xuất,tiêu dùng hàng hóa khác sẽ ít đi (trong điều kiện nguồn lực có hạn).
+ Tất cả những điểm nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất (như điểm A, B, C,
D trên hình 1 - 1) là có hiệu quả Một nền kinh tế hoặc một doanh nghiệp làm ăn có hiệuquả thì các điểm lựa chọn phải nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất Tuy nhiên, khixét điểm nào là điểm có hiệu quả nhất thì phải nghiên cứu toàn diện các vấn đề kinh tế,chính trị, xã hội và điều kiện tự nhiên
+ Những điểm nằm trong đường giới hạn khả năng sản xuất là không có hiệu quả (phihiệu quả) hay còn gọi là lãng phí nguồn lực Ví dụ tại điểm E (trên hình 1 - 1), bằng việcphân bổ lại nguồn lực người ta có thể tăng thêm sản lượng lúa mà vẫn giữ nguyên sảnlượng ngô và ngược lại
+ Những điểm nằm ngoài đường giới hạn khả năng sản xuất (như điểm F trên hình 1 1) là không thể đạt được với các nguồn lực sẵn có Để đạt được cần phải sử dụng các biệnpháp huy động các nguồn lực như đổi mới công nghệ sản xuất, ban bố và thực thi chínhsách kinh tế vĩ mô đúng đắn
-Ngoài những kết luận trên, các nhà kinh tế còn cho rằng: đường giới hạn khả năng sảnxuất cho ta biết chi phí cơ hội, những vấn đề kinh tế cơ bản, vai trò của công nghệ kỹthuật… và làm sáng tỏ kinh tế học vi mô là môn khoa học của sự lựa chọn
1.3.6 Ảnh hưởng của một số quy luật kinh tế đến việc lựa chọn kinh tế tối ưu
a Quy luật khan hiếm
* Nội dung của quy luật: Mọi hoạt động của con người, trong đó có hoạt động kinh tếđều phải sử dụng các nguồn lực Các nguồn lực đều khan hiếm và có giới hạn, đặc biệt làcác nguồn lực tự nhiên khó hoặc không thể tái sinh
* Tác động của quy luật: Doanh nghiệp phải lựa chọn những vấn đề kinh tế cơ bản củamình trong giới hạn cho phép của khả năng sản xuất hiện có mà xã hội đã phân bổ cho nó.Nói cách khác, doanh nghiệp phải sử dụng tối ưu các nguồn lực khan hiếm
b Quy luật hiệu suất giảm dần
* Nội dung của quy luật: Khối lượng đầu ra có thể ngày càng giảm đi khi ta liên tiếpđầu tư thêm những đơn vị bằng nhau của một đầu vào biến đổi (như lao động) khi các đầuvào khác không thay đổi (như đất đai)
* Tác động của quy luật: Nghiên cứu quy luật này giúp các doanh nghiệp tính toán,lựa chọn kết hợp các đầu vào của quá trình sản xuất một cách tối ưu nhất nhằm tối thiểuhóa chi phí
c Quy luật chi phí cơ hội (chi phí tương đối) ngày càng tăng
* Nội dung của quy luật: Trong điều kiện nguồn lực khan hiếm, để có thêm một lượngbằng nhau về một mặt hàng, xã hội phải hi sinh ngày càng nhiều số lượng mặt hàng khác
* Tác động của quy luật: Quy luật này giúp chúng ta tính toán và lựa chọn sản xuất cái
gì, sản xuất như thế nào là có lợi nhất
1.3.7 Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là mối quan tâm duy nhất của kinh tế học nói chung và kinh tế học vi
Trang 19mô nói riêng Hiệu quả nói cách khác là không lãng phí.
Hiệu quả có quan hệ chặt chẽ với việc sử dụng năng lực sản xuất hiện có, nghĩa là nó
có quan hệ chặt chẽ với việc sử dụng nguồn lực khan hiếm Chính vì vậy, khi xem xét hiệuquả chúng ta thường dựa vào đường giới hạn khả năng sản xuất
Một số quan điểm về hiệu quả của kinh tế học vi mô:
(1) Tất cả những quyết định sản xuất cái gì trên đường giới hạn khả năng sản xuất là
có hiệu quả vì nó tận dụng hết nguồn lực hiện hữu
(2) Số lượng sản phẩm đạt được trên đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) càng xagốc tọa độ thì càng có hiệu quả
(3) Sự thỏa mãn tối đa về chủng loại, số lượng, chất lượng hàng hóa theo nhu cầu thịtrường trong giới hạn của đường PPF cho ta đạt hiệu quả kinh tế cao nhất
(4) Kết quả trên một đơn vị chi phí càng lớn hoặc chi phí trên một đơn vị kết quả càngnhỏ thì hiệu quả kinh tế càng cao
Có thể nói, hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất của mọi sự lựa chọn kinh tế của cácdoanh nghiệp
1.4 CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ
Một câu hỏi đặt ra đối với các nhà kinh tế học là tại sao một số nước có các điều kiệntương đối tương đồng nhau nhưng có nước phát triển, có nước đang phát triển và có nướcchậm phát triển Khi nghiên cứu vấn đề này, các nhà kinh tế học cho rằng nước nào lựachọn mô hình hoạt động phù hợp với từng thời kỳ thì nước đó phát triển và ngược lại.Chính vì thế, nắm được thế mạnh và nhược điểm của từng mô hình kinh tế giúp chúng talựa chọn phù hợp và có biện pháp khai thác thế mạnh, hạn chế những nhược điểm để thúcđẩy kinh tế, xã hội đất nước phát triển
1.4.1 Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung (chỉ huy, mệnh lệnh)
Đặc trưng cơ bản nhất của mô hình này là tất cả những vấn đề kinh tế cơ bản sảnxuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai đều do Nhà nước quyết định theo kếhoạch thống nhất Đây là mô hình kinh tế được sử dụng rộng rãi ở các nước xã hội chủnghĩa trước những năm 90 của thế kỷ XX Trong thực tiễn, nền kinh tế hoạt động theo
mô hình này đã đạt được một số ưu điểm, đó là: tất cả mọi vấn đề đều do Nhà nước thốngnhất tập trung quản lý nên các vấn đề kinh tế lớn được giải quyết dễ dàng hơn (như xâydựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, xây dựng và củng cố quốc phòng an ninh, xây dựngcác công trình phúc lợi công cộng); quan hệ giữa con người với nhau bình đẳng, bác ái;hạn chế sự phân hóa giàu nghèo và bất công xã hội Tuy nhiên các quốc gia hoạt độngtheo mô hình này cũng thấy được những hạn chế của nó: bộ máy quản lý cồng kềnh,quan liêu, bao cấp; kế hoạch không sát với thực tế; người sản xuất và người tiêu dùngkhông có quyền tự do lựa chọn nên tính năng động và chủ động không cao; chậm đổimới công nghệ; phân phối mang tính chất bình quân nên không kích thích người laođộng; khai thác và sử dụng nguồn lực khan hiếm kém hiệu quả… Do vậy, nền kinh tế củacác nước hoạt động theo mô hình này thường chậm phát triển, thậm chí có những nướctụt hậu về mặt kinh tế
Trang 201.4.2 Mô hình kinh tế thị trường
Chúng ta hiểu mô hình kinh tế thị trường ở đây là mô hình kinh tế thị trường tự do,không có sự can thiệp của Chính phủ Đặc trưng cơ bản nhất của mô hình này là: tất cảnhững vấn đề kinh tế cơ bản đều do thị trường quyết định dưới sự dẫn dắt của bàn tay vôhình Trong đó, công cụ quan trọng nhất mà bàn tay vô hình sử dụng đó là giá cả thịtrường Thông qua tín hiệu giá cả hàng hóa dịch vụ trên thị trường, các tác nhân kinh tế sẽđưa ra quyết định sản xuất, tiêu dùng tối ưu nhằm tối đa hóa lợi ích kinh tế cho mình.Với những đặc trưng cơ bản đó mà mô hình này có những ưu điểm chủ yếu là: tôntrọng quyền tự do lựa chọn của các cá nhân trong nền kinh tế vì lợi ích kinh tế, người sảnxuất và người tiêu dùng được tự do lựa chọn nên tính năng động và chủ động sáng tạo caohơn; khuyến khích các nhà sản xuất đổi mới công nghệ kỹ thuật, kích thích nâng cao năngsuất, chất lượng, hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh; hàng hóa dịch vụ dồi dào
về số lượng, kiểu dáng mẫu mã đa dạng và thường xuyên được cải tiến nhằm đáp ứng kịpthời nhu cầu của thị trường; phi tập trung hóa các quyền lực trên các phương diện cácquyết định cho các chủ thể sản xuất; khai thác và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả vàthúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế Chính vì vậy, người ta nói rằng: kinh tế thị trường là
mô hình kinh tế hết sức năng động và khách quan
Tuy nhiên, nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường cũng đã nảy sinh nhiềukhuyết tật (mặt trái) cần phải quan tâm đó là: coi lợi nhuận và lợi ích kinh tế là trên hết nên
dễ dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường, hệ thống sinh thái bị phá vỡ; mâu thuẫn ngàycàng cao giữa quan hệ kinh tế với quan hệ truyền thống; tệ nạn xã hội nảy sinh; phân hóagiàu nghèo và bất công xã hội ngày càng tăng; các nhu cầu công cộng khó được thực hiệnnếu việc sản xuất ra chúng không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận thấp; các cá nhân luôn phảiđối mặt với nhiều rủi ro và bất ổn (đạo đức, kinh tế, xã hội)…
1.4.3 Mô hình kinh tế hỗn hợp
Mô hình kinh tế hỗn hợp là mô hình kết hợp hài hòa giữa mô hình kinh tế kế hoạchhóa tập trung và mô hình kinh tế thị trường Mô hình này vừa phát huy được nhân tố kháchquan (các quy luật kinh tế thị trường) lại vừa coi trọng các nhân tố chủ quan (vai trò củaChính phủ) Do đó nó khai thác được thế mạnh và hạn chế đến mức thấp nhất nhược điểmcủa hai mô hình trên nên thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, ổn định
Hiện nay, người ta cho rằng mô hình này là hiệu quả nhất và được nhiều nước trên thếgiới áp dụng Tuy nhiên tùy điều kiện cụ thể của mỗi nước mà vận dụng vai trò của thịtrường và Chính phủ cho phù hợp Bởi vì nếu Chính phủ quá áp đặt ý muốn chủ quan củamình sẽ bóp méo quy luật của thị trường, hạn chế tự do cạnh tranh, làm cho nền kinh tế đichệch quỹ đạo của sự phát triển Ngược lại, nếu Chính phủ buông lỏng quản lý sẽ là cơ hộicho sự nảy sinh và phát triển các khuyết tật của nền kinh tế thị trường
1.5 MƯỜI NGUYÊN LÝ CỦA KINH TẾ HỌC
Thuật ngữ Kinh tế (Economy) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “người quản lýmột hộ gia đình” Mới nhìn qua điều này có vẻ lạ lùng, nhưng trên thực tế hộ gia đình vànền kinh tế có nhiều điểm chung
+ Hộ gia đình phải đối mặt với nhiều quyết định Cụ thể như: nó phải quyết định mỗi
Trang 21thành viên trong gia đình phải làm việc gì và nhận được cái gì, ai là người nội trợ, ai làmviệc Nhà nước, ai đi làm thuê cho tư nhân, ai đi học, ai được uống bia, ai được chọnchương trình TV Nói tóm lại, hộ gia đình phải phân bổ nguồn lực khan hiếm của mìnhgiữa các thành viên sống chung một mái nhà sao cho phù hợp với năng lực và ước muốncủa mỗi người.
+ Xã hội phải đối mặt với nhiều quyết định Ví dụ cần phải làm cái gì và ai sẽ làmviệc đó Một số người sản xuất lương thực thực phẩm, một số người sản xuất quần áo,thuốc chữa bệnh, một số người khác làm dịch vụ cắt tóc, gội đầu, hoặc thiết kế phần mềmmáy tính Một khi xã hội đã phân bổ nguồn lực (đất đai, nhà xưởng, máy móc thiết bị, laođộng ) vào những ngành nghề lĩnh vực khác nhau, nó cũng phải phân bổ sản lượng hànghoá dịch vụ được sản xuất ra cho các thành viên trong xã hội: ai ăn thịt, ai phải ăn rau, ai đi
xe con và ai phải đi xe máy, xe đạp hoặc xe buýt Vì thế, việc quản lý nguồn lực của xã hội
có ý nghĩa quan trọng vì nguồn lực có tính khan hiếm Khái niệm khan hiếm hàm ý xã hộivấp phải sự giới hạn về nguồn lực cho nên nó không thể sản xuất mọi thứ hàng hoá dịch vụnhư mọi người mong muốn Giống như một gia đình không thể đáp ứng mọi mong muốncủa tất cả mọi người, xã hội không thể làm cho tất cả mọi thành viên có mức sống cao nhấtnhư mong muốn của họ
Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu phương thức xã hội quản lý nguồn lực khanhiếm Trong hầu hết các xã hội, nguồn lực được phân bổ không phải bởi một nhà hoạchđịnh duy nhất ở trung ương mà thông qua các hoạt động qua lại của hàng triệu hộ gia đình
và doanh nghiệp Vì thế, nhà nghiên cứu kinh tế muốn xem mọi người ra quyết định nhưthế nào trong sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng Ðồng thời các quyết định của cánhân đó ảnh hưởng như thế nào đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế tổng thể, đến sự giatăng thu nhập, mức sống, đến tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp
Mặc dù kinh tế học nghiên cứu nền kinh tế dưới nhiều giác độ khác nhau, nhưng mônhọc này thống nhất với nhau ở một số ý tưởng cơ bản mà chúng ta tạm gọi đó là:
Ba bài học được thể hiện bằng Mười nguyên lý của Kinh tế học Nó cung cấp chochúng ta cái nhìn tổng quan về kinh tế học
1.5.1 Bài học thứ nhất: Con người ra quyết định như thế nào?
Nền kinh tế thực chất chỉ là sự phản ánh hành vi của các cá nhân trong quá trình sinhtồn của họ Những hành vi này thường gắn liền với cách thức ra quyết định của cá nhân vàđược chi phối bởi bốn nguyên lý sau:
a Nguyên lý 1: Con người phải đối mặt với sự đánh đổi
Ngạn ngữ có câu: Mọi cái đều có giá của nó Ðiều đó có nghĩa là: được cái này thìphải mất cái khác Quá trình ra quyết định đòi hỏi phải đánh đổi mục tiêu này để đạt mộtmục tiêu khác
+ Với một sinh viên: trong điều kiện nguồn lực về thời gian có hạn, để có một giờ họctập, người sinh viên này phải từ bỏ một giờ đi chơi thăm viếng bạn bè, hoặc xem TV giải trí.+ Với một hộ gia đình: khi ra quyết định chi tiêu thu nhập hiện có, người chủ gia đình
Trang 22đều phải đối mặt với sự đánh đổi Họ có thể mua thực phẩm, quần áo hay đưa cả nhà đinghỉ mát Họ cũng có thể tiết kiệm một phần thu nhập cho lúc tuổi già hay đầu tư cho concái học tập Như vậy, khi quyết định chi tiêu thêm 1000 đồng cho một trong các mục đíchtrên họ sẽ mất đi 1000 đồng để chi cho các mục đích khác.
+ Với một xã hội: con người cũng phải đối mặt với nhiều sự đánh đổi Ví dụ kinh điển
là sự đánh đổi giữa súng và bơ Khi chi tiêu cho quốc phòng càng nhiều nhằm tăng khảnăng phòng thủ đất nước (súng), chúng ta phải hy sinh nhiều hàng tiêu dùng để nâng caomức sống (bơ) Trong xã hội hiện đại, sự đánh đổi quan trọng là môi trường trong sạch vàmức thu nhập cao
+ Với một nền kinh tế: sự đánh đổi quan trọng mà các Chính phủ phải đối mặt là sựđánh đổi giữa công bằng và hiệu quả Hiệu quả có nghĩa là xã hội đạt được kết quả caonhất từ các nguồn lực khan hiếm Công bằng hàm ý lợi ích thu được từ các nguồn lực đóđược phân phối công bằng giữa các thành viên trong xã hội Nói cách khác: hiệu quả ámchỉ quy mô của chiếc bánh kinh tế, còn công bằng nói lên phương thức phân chia chiếcbánh đó Trong thực tế, khi thiết kế các Chính sách của Chính phủ, người ta thường thấyhai mục này xung đột với nhau
Chẳng hạn, để thành lập các quỹ phúc lợi xã hội nhằm trợ giúp người nghèo, Chínhphủ thực thi chính sách thuế thu nhập, tức là lấy đi một phần thu nhập của người giàu đểchia cho người nghèo Khi đó, mặc dù Chính phủ đã thành công trong việc đảm bảo côngbằng xã hội nhưng đã gây ra sự tổn thất nếu xét từ khía cạnh hiệu quả Việc tái phân phốithu nhập giữa người giàu với người nghèo đã làm giảm phần thưởng cho sự năng độngsáng tạo, cần cù chịu khó của người giàu Người ta sẽ sản xuất ít hàng hoá hơn, với chấtlượng thấp và mẫu mã kém đa dạng hơn Nói cách khác, khi Chính phủ cố gắng chia chiếcbánh thành những phần đều hơn thì chiếc bánh càng nhỏ lại
b Nguyên lý 2: Chi phí của một thứ là cái mà bạn phải từ bỏ để có được nó
Vì phải đối mặt với đánh đổi nên khi ra quyết định, con người phải so sánh chi phí vàlợi ích của các phương án hành động khác nhau Song trong nhiều trường hợp, chi phí củamột số hành động không phải lúc nào cũng được biểu hiện rõ ràng
Chẳng hạn, khi quyết định đi học đại học, bạn nhận được ích lợi gì và phải chi phí nhưthế nào?
+ Ích lợi của đi học là tăng thêm kiến thức và có được cơ hội làm việc tốt hơn với thunhập và có vị trí cao hơn trong xã hội của cả cuộc đời
+ Chi phí của nó bao gồm tiền ăn, tiền thuê nhà, tiền sách bút, học phí Nhưng nhưthế chưa đầy đủ, khoản chi phí lớn nhất của việc đi học đại học là thời gian của bạn Bởi
vì, khi dành một năm đi học đại học (nghe giảng trên lớp, làm bài tập tiểu luận, thực tập )bạn không thể dùng thời gian này để làm một công việc nào đó - nó có thể là khoản tiềnlương mà bạn phải từ bỏ để đi học đại học là khoản chi phí lớn nhất cho việc đi học đại họccủa bạn Vì thế, khi đi học đại học bạn đã bỏ lỡ cơ hội để kiếm một khoản thu nhập nào đó.Như vậy, chi phí cơ hội của một thứ là cái mà bạn phải từ bỏ để có được nó Vì vậy,khi đưa ra một quyết định hoặc hành động nào đó, người ra quyết định phải nhận thứcđược chi phí cơ hội gắn liền với quyết định đó Trên thực tế, chi phí này xuất hiện ở khắpnơi và mức độ cao thấp là tuỳ thuộc vào từng cá nhân
Trang 23c Nguyên lý 3: Con người duy lý suy nghĩ tại điểm cận biên
Các quyết định trong cuộc sống hiếm khi minh bạch mà thường ở trạng thái không rõràng hoặc tranh tối tranh sáng Ví dụ:
+ Ðến bữa ăn tối, vấn đề ta phải đối mặt không phải là ăn cái gì, ăn như thế nào mà là
có nên ăn thêm một chút nữa hay không
+ Khi mùa thi đến, vấn đề mà người sinh viên phải đối mặt không phải là việc học baonhiêu giờ trong ngày mà là có nên học thêm một giờ nữa hay dừng lại để xem TV hoặcchơi thể thao Các nhà kinh tế gọi đó là những thay đổi cận biên để chỉ những điều chỉnhnhỏ và tăng dần trong kế hoạch hành động của mỗi con người Ðể có quyết định đúng đắn,con người thường cân nhắc ích lợi mang lại và chi phí phải bỏ ra của những thay đổi cậnbiên đó Tức là so sánh ích lợi cận biên tăng thêm và chi phí cận biên tăng thêm để đưa raquyết định Chừng nào ích lợi cận biên còn cao hơn chi phí cận biên thì con người sẽ quyếtđịnh hành động
+ Một tài xế xe khách chất lượng cao Hà Nội - Hải Phòng đứng trước tình huống xecòn trống ghế và đã đến giờ phải xuất bến nhưng có 2 khách muốn đi ngay nhưng chỉ trả20.000đồng/vé (trong khi giá vé là 40.000đồng) Khi đó, nếu quyết định không cho 2 hànhkhách nói trên đi xe vì trả giá thấp hơn giá vé quy định thì quyết định này chưa đúng Bởi
vì, dù trên xe có 15, 20, 30 hành khách thì xe vẫn phải xuất bến và vẫn phải đi đúng lộtrình theo quy định của Ban quản lý bến Khi đó, chi phí xăng dầu, lệ phí đường vẫn nhưlúc xe đủ hành khách Vì thế, người tài xế nên cân nhắc ích lợi tăng thêm và chi phí tăngthêm nếu chở thêm hành khách
+ Ích lợi tăng thêm khi thu nhận thêm 1 hành khách là số tiền kiếm được từ ngườihành khách đó (ở đây là 20.000đồng)
+ Chi phí tăng thêm có chăng chỉ là chai nước mát và chiếc khăn lạnh cho ngườikhách đáng giá 6.000đồng Rõ ràng việc cho người khách kia lên xe là có lợi 14.000đồng
Do đó, chừng nào mà người khách bổ sung còn trả cao hơn 6.000đồng thì việc cho anh ta
đi xe còn có lợi
Như vậy, con người sẽ đưa ra quyết định tốt hơn nếu cân nhắc suy nghĩ tại điểm cậnbiên
d Nguyên lý 4: Con người phản ứng với các kích thích
Vì mọi người ra quyết định thường dựa trên sự so sánh giữa chi phí và lợi ích cho nênhành vi của họ có thể thay đổi khi ích lợi hoặc chi phí thay đổi Điều đó có nghĩa, là conngười sẽ có phản ứng đối với các kích thích
+ Chẳng hạn khi giá cả thịt gà tăng lên, người tiêu dùng phản ứng bằng cách ăn ít thịt
gà hơn và chuyển sang ăn nhiều thịt lợn hơn Trong khi đó, người chăn nuôi gà lại phảnứng ngược lại: giá thịt gà tăng sẽ kích thích họ sẽ mở rộng quy mô chăn nuôi, thuê thêmnhiều lao động để tăng sản lượng tiêu thụ trên thị trường nhằm tăng thêm lợi nhuận Nhưvậy, giá cả hàng hoá tăng gây nên phản ứng trái ngược nhau giữa người tiêu dùng và nhàsản xuất
+ Khi giá xăng tăng lên do nguyên nhân chủ quan (chẳng hạn Chính phủ tăng thuếnhập khẩu xăng) điều này gây ra nhiều phản ứng Người tiêu dùng sẽ quan tâm đến việc
Trang 24tiết kiệm nhiên liệu, hoặc sử dụng loại ô tô nhỏ hơn Nó cũng khuyến khích mọi người sửdụng phương tiện giao thông công cộng (xe buýt), hoặc sử dụng phương tiện cá nhân kháckhông dùng đến xăng (xe đạp điện), hoặc sống gần nơi làm việc.
+ Việc Chính phủ quy định khi đi xe máy trên đường cao tốc phải đội mũ bảo hiểm đểđảm bảo an toàn tính mạng cho người lái xe khi tai nạn giao thông xảy ra Ðiều này gây raphản ứng trực tiếp đối với người sản xuất và bán mũ xe máy Họ sẽ bán được nhiều hànghoá hơn và kiếm được lợi nhuận cao hơn Ðiều đó cũng làm xuất hiện một số người đứng
ra hành nghề cho thuê mũ xe máy Nhưng nó cũng gây ra phản ứng gián tiếp đối với người
đi xe máy: họ sẽ chủ quan hơn, phóng nhanh vượt ẩu hơn và cũng rất dễ xảy ra tai nạn khi
đã đội mũ xe máy
Vì vậy, phân tích bất cứ chính sách nào, chúng ta cũng phải xem xét đến cả hậu quảtrực tiếp lẫn hậu quả gián tiếp do các kích thích tạo ra
1.5.2 Bài học thứ hai: Con người tương tác với nhau như thế nào?
Bốn nguyên lý đầu tiên bàn về cách thức ra quyết định cá nhân Nhưng trong cuộcsống hàng ngày, nhiều quyết định của cá nhân không chỉ ảnh hưởng đến bản thân họ màcòn tác động đến những người xung quanh Ba nguyên lý tiếp theo liên quan đến cách thứccon người tương tác với nhau
a Nguyên lý 5: Thương mại làm cho mọi người đều có lợi
Chúng ta thường nghe trên các bản tin thời sự rằng người Nhật là đối thủ cạnh tranhcủa người Mỹ trên thị trường quốc tế vì hai nước này cũng sản xuất những mặt hàng giốngnhau: ô tô, máy tính
Các doanh nghiệp Việt Nam cũng là đối thủ cạnh tranh của các doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài trong sản xuất hầu hết các mặt hàng phục vụ tiêu dùng: xe đạp, xe máy,
đồ gia dụng, nước giải khát, rượu bia, hàng dệt may
Vì vậy, người ta rất dễ mắc sai lầm khi nghĩ về sự cạnh tranh giữa các nước hoặc giữacác đoanh nghiệp với nhau giống như một cuộc thi đấu thể thao, trong đó luôn có kẻ thắngngười thua Sự thật, không phải như vậy, thương mại giữa các nước luôn làm cho các bêntham gia đều có lợi
Ðiều đó xảy ra khi mỗi bên tham gia chỉ chuyên môn hoá sản xuất những mặt hàngmình có lợi thế về điều kiện sản xuất và trao đổi sản phẩm cho nhau Khi đó, mỗi bên thamgia đều có lợi: họ sẽ mua được nhiều hàng hoá hơn, kiểu dáng đa dạng, chất lượng tốt vàgiá thấp hơn Như vậy, thương mại sẽ làm cho mọi người xích lại gần nhau bởi vì tất cảđều có lợi khi tham gia vào hoạt động này
b Nguyên lý 6: Thị trường luôn là phương thức tốt để tổ chức hoạt động kinh tế
Hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ sau sự kiện các nước Đông Âu và Liên Xô tan rã làmột thay đổi quan trọng của nền kinh tế thế giới nửa cuối thế kỷ XX Các nền kinh tế nàyhoạt động dựa trên tiền đề là các nhà hoạch định chính sách ở trung ương là người quyếtđịnh mọi hoạt động của nền kinh tế theo một kế hoạch đã định Cơ quan kế hoạch đó quyếtđịnh xã hội sản xuất hàng hoá dịch vụ nào, sản xuất bao nhiêu, sản xuất như thế nào, ai làngười sản xuất và ai được phép tiêu dùng chúng Lý thuyết hậu thuẫn cho cơ chế kế hoạchhoá tập trung này cho rằng: chỉ có Chính phủ mới là người tổ chức các hoạt động kinh tế
Trang 25để nâng cao phúc lợi kinh tế của đất nước trên phạm vi tổng thể.
Hiện nay, hầu hết các nước có nền kinh tế vận hành theo cơ chế tập trung mệnh lệnhvới công cụ kế hoạch hoá đã từ bỏ hệ thống này để phát triển nền kinh tế theo cơ chế thịtrường (kinh tế thị trường) Trong nền kinh tế thị trường, người ra quyết định là các cánhân (doanh nghiệp và hộ gia đình) Trong đó, các doanh nghiệp sẽ quyết định sản xuất cái
gì, sản xuất như thế nào và thuê ai sản xuất Các hộ gia đình sẽ quyết định làm việc chodoanh nghiệp nào, mua cái gì bằng thu nhập của mình Các quyết định của hai tác nhân nàyđều dựa vào tín hiệu giá cả hàng hoá dịch vụ được hình thành do tác động qua lại của họtrên thị trường với mục đích tối đa hoá lợi ích kinh tế
Như vậy, trong nền kinh tế thị trường mỗi cá nhân đều được dẫn dắt bởi “Bàn tay vôhình” - lợi ích kinh tế Nhờ đó, các quyết định của họ đều nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi íchkinh tế riêng cũng là góp phần nâng cao phúc lợi chung của xã hội Một công cụ quantrọng của bàn tay vô hình là giá cả Giá cả được hình thành do quan hệ cung - cầu hànghoá Do vậy, nó phản ánh giá trị của hàng hoá đối với xã hội và chi phí mà xã hội phải bỏ
ra để sản xuất nó Hộ gia đình và doanh nghiệp nhìn vào giá cả để đưa ra quyết định củamình nên vô tình họ đã tính đến các lợi ích và chi phí xã hội mà hành vi của họ đã tạo ra.Kết quả là, giá cả hướng dẫn các cá nhân đưa ra quyết định mà trong nhiều trường hợp nócho phép tối đa hoá phúc lợi xã hội
Có một hệ quả quan trọng đối với kỹ năng của bàn tay vô hình trong việc định hướnghoạt động kinh tế: khi ngăn không cho giá cả điều chỉnh một cách tự nhiên theo cung vàcầu, Chính phủ cũng đồng thời cản trở khả năng của bàn tay vô hình trong việc phối hợphoạt động của hàng triệu hộ gia đình và doanh nghiệp - những đơn vị cấu thành nền kinh
tế Hệ quả này lý giải tại sao thuế tác động tiêu cực tới quá trình phân bổ nguồn lực: thuếlàm tăng giá đối với người tiêu dùng và giảm giá mà người sản xuất nhận được, từ đó làmbiến dạng quyết định của hai tác nhân này: giảm lượng tiêu dùng và sản xuất Như vậy, cácnhà hoạch định ở trung ương đã thất bại vì họ tìm cách vận hành nền kinh tế mà một taycủa nó - tức bàn tay vô hình của thị trường bị xiềng xích
c Nguyên lý 7: Ðôi khi Chính phủ có thể cải thiện được kết cục thị trường
Mặc dù thị trường là một phương thức tốt để tổ chức hoạt động kinh tế Nhưng bảnthân nó cũng chứa đựng những sự thất bại đòi hỏi có sự can thiệp của Chính phủ Ðó làtình huống trong đó thị trường phân bổ nguồn lực không hiệu quả do: sức mạnh thị trường,ảnh hưởng bên ngoài (ngoại ứng), hàng hoá công cộng, thông tin không đầy đủ, phân phốikhông công bằng Khi đó, Chính phủ phải can thiệp vào thị trường để sửa chữa các thấtbại mà thị trường không thể giải quyết được
Trong nền kinh tế thị trường, giá cả hàng hoá được hình thành do tác động qua lại củangười sản xuất (doanh nghiệp) và hộ gia đình Ðây là tín hiệu để các cá nhân ra quyết địnhsản xuất hoặc tiêu dùng cho mình Nhưng nếu trên thị trường chỉ có một nhà sản xuấtchẳng hạn thì họ là người quyết định giá của sản phẩm cũng như lượng sản xuất và bán ra.Khi đó, người sản xuất thường đặt giá cao hơn giá thị trường và hạn chế cung để thu lợinhuận cao Quyết định của nhà độc quyền - người có sức mạnh thị trường đã vi phạm cơchế hình thành giá, làm tổn hại đến lợi ích của người tiêu dùng Vì vậy, với vai trò củamình, Chính phủ có thể đưa ra những luật lệ chống độc quyền, hoặc điều tiết trực tiếp buộcnhà độc quyền phải giảm giá bán và tăng lượng sản xuất nhằm bảo vệ quyền lợi cho ngườitiêu dùng
Trang 26Một nguyên nhân có thể làm thị trường thất bại là ảnh hưởng bên ngoài (ngoại ứng).Ảnh hưởng bên ngoài là ảnh hưởng do hành vi của một người tạo ra đối với lợi ích củangười ngoài cuộc Ví dụ kinh điển về chi phí ngoại ứng là ô nhiễm môi trường Nếu mộtnhà máy hoá chất không phải chịu toàn bộ chi phí cho chất thải của nó đối với môi trường(khói, bụi, chất độc hại ) Khi đó, Chính phủ có thể tăng phúc lợi kinh tế thông qua cácquy định về môi trường.
Thị trường và kinh tế thị trường không thể đảm bảo thu nhập được phân phối một cáchcông bằng Bởi vì các cá nhân khác nhau, do vì nhiều lý do hoàn cảnh khác nhau sẽ có thunhập khác nhau, nhưng thị trường chỉ thoả mãn nhu cầu hàng hoá dịch vụ cho cá nhân theokhả năng thanh toán của họ Vì vậy, dẫn tới sự chênh lệch về điều kiện sinh hoạt, mức sống.Khi đó, Chính phủ có thể thông qua chính sách thuế và hệ thống phúc lợi xã hội để tiến tới
sự phân phối các phúc lợi kinh tế một cách công bằng hơn
Như vậy, trong một số trường hợp, sự tham gia của Chính phủ có thể cải thiện đượckết cục thị trường và hạn chế các thất bại do hoạt động của thị trường tạo nên
1.5.3 Bài học thứ ba: Nền kinh tế với tư cách là một tổng thể vận hành như thế nào?
Chúng ta bắt đầu bằng việc thảo luận về cách thức ra quyết định cá nhân, sau đó xemxét phương thức các cá nhân tương tác với nhau Những quyết định và sự tương tác này tạothành “nền kinh tế” Ba nguyên lý cuối cùng liên quan đến sự vận hành của nền kinh tế nóichung
a Nguyên lý 8: Mức sống của một nước phụ thuộc vào năng lực sản xuất hàng hoá dịch vụ của nước đó
Sự chênh lệch mức sống trên thế giới rất đáng kinh ngạc Vào năm 1997, một người
Mỹ có thu nhập bình quân 29.000$, người Mêhicô 8.000$ nhưng người Nigiêria chỉ có thunhập bình quân đầu người là 900$ (ở Việt Nam chưa đến 300$) Vì thế, chất lượng cuộcsống ở các nước này cũng có sự chênh lệch rất lớn Công dân ở những nước thu nhập cao
có nhiều ti vi, ô tô hơn, chế độ dinh dưỡng, dịch vụ y tế chăm sóc sức khoẻ tốt hơn và tuổithọ cũng cao hơn người dân ở các nước thu nhập thấp
Sự thay đổi mức sống theo thời gian cũng rất lớn Ở Mỹ, bình quân mỗi năm thu nhậptăng 2%/năm tức là sau 35 năm thu nhập bình quân tăng gấp đôi Vì sao lại có sự khác biệt
về mức sống giữa các quốc gia và theo thời gian? Câu trả lời thật đơn giản: đó là sự khácbiệt về năng suất lao động giữa các nước và theo thời gian Năng suất lao động là số lượngsản phẩm được sản xuất ra trên một lao động trong một đơn vị thời gian nhất định (giờ,ngày, tháng, năm lao động) Những nước có năng suất lao động cao người dân thường cómức sống cao hơn công dân ở những nước có mức năng suất lao động thấp Tương tự, tốc
độ tăng năng suất lao động ở một quốc gia quyết định tốc độ tăng thu nhập bình quân củaquốc gia đó Như vậy, giữa năng suất lao động và mức sống có một mối liên hệ hữu cơ:tăng năng suất lao động là điều kiện cần thiết để nâng cao mức sống Do vậy, để nâng caomức sống cho các thành viên trong xã hội, các Chính phủ phải quan tâm đến các chínhsách tác động đến việc nâng cao năng suất lao động, như chính sách đào tạo bồi dưỡng,chính sách đầu tư vốn và công nghệ
b Nguyên lý 9: Giá cả tăng khi Chính phủ in quá nhiều tiền
Vào tháng 01 năm 1921, giá một tờ nhật báo ở Ðức là 0,3 mác Nhưng chưa đầy 2
Trang 27năm sau, vào tháng 11 năm 1922 cũng tờ báo ấy giá 70 triệu mác Giá các loại mặt hàngkhác trong nền kinh tế Ðức cũng tăng tương tự như vậy Lạm phát cao sẽ ảnh hưởng xấutới tình hình kinh tế xã hội, gây bất ổn định kinh tế và thiệt hại cho sản xuất tiêu dùng củamỗi quốc gia Vì vậy, giữ cho lạm phát ở mức độ thấp là một mục tiêu mà các nhà hoạchđịnh chính sách kinh tế trên toàn thế giới thường theo đuổi.
Nguyên nhân gây ra lạm phát là gì? Trong hầu hết các trường hợp lạm phát trầm trọnghoặc kéo dài, tất cả đều có chung một thủ phạm, đó là sự gia tăng của lượng tiền lưu thông.Khi Chính phủ in và phát hành một lượng tiền lớn, giá trị của tiền (sức mua) sẽ giảm Vàođầu những năm 1920, khi giá cả ở Ðức tăng 3 lần mỗi tháng thì lượng tiền cũng tăng gấp 3lần mỗi tháng Lịch sử kinh tế Mỹ cũng diễn ra hiện tượng tương tự: lạm phát cao nhữngnăm 1970 (trên 100%) đi liền với gia tăng nhanh chóng của lượng tiền và vào những năm
1990, lạm phát chỉ khoảng 3% gắn liền với sự gia tăng chậm của lượng tiền
c Nguyên lý 10: Chính phủ phải đối mặt với sự đánh đổi ngắn hạn giữa lạm phát
và thất nghiệp
Một thực tế mà các nhà hoạch định chính sách thường gặp đó là khi cắt giảm lạm phátthường gây ra tình trạng gia tăng tạm thời của thất nghiệp Ðường minh hoạ cho sự đánhđổi giữa lạm phát và thất nghiệp được gọi là đường Philips, một đường được gọi theo tênnhà kinh tế đầu tiên nghiên cứu mối quan hệ này Theo đó, các nhà kinh tế đều thừa nhận
có sự đánh đổi ngắn hạn giữa lạm phát và thất nghiệp Ðiều này hàm ý rằng, trong khoảngthời gian ngắn (một, hai năm) nhiều chính sách kinh tế đẩy lạm phát và thất nghiệp đi theohướng trái ngược nhau, bất kể thời điểm ban đầu tỷ lệ này cao hay thấp Ðường Philips cho
ta thấy tỷ lệ lạm phát cao kéo theo tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn và ngược lại Nó gợi cho tathấy có thể đánh đổi lạm phát nhiều hơn để có thất nghiệp thấp hơn và ngược lại
Ðường Philips minh hoạ sự đánh đổi, thất nghiệp và lạm phát Vào những năm sáumươi của thế kỷ XX, người ta cho rằng: tỷ lệ thất nghiệp 2,5% thì lạm phát bằng 0 (trongngắn hạn)
Sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp chỉ có tính chất tạm thời, nhưng nó có thểkéo dài trong một vài năm Vì vậy, đường Philips có ý nghĩa quan trọng trong việc tìmhiểu các xu thế phát triển của nền kinh tế Ðặc biệt các nhà hoạch định chính sách có thểkhai thác sự đánh đổi này bằng cách vận dụng các công cụ chính sách khác nhau, nhưchính sách tài khoá (thuế, chi tiêu của Chính phủ), chính sách tiền tệ (cung tiền) nhằm tácđộng vào mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp mà nền kinh tế đang phải đối mặt
1.6 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN HỌC 1.6.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các hành vi hoạt động cụ thể của từng đơn vị kinh tế đơn lẻ, trên cơ sở
đó giúp cho việc lựa chọn và ra quyết định đúng đắn của các cá nhân trong nền kinh tếnhằm tối đa hóa lợi nhuận và tối đa hóa độ thỏa dụng
- Nghiên cứu phát hiện tìm ra các quy luật kinh tế và sự tác động của các quy luật đóđến các tế bào trong nền kinh tế như thế nào?
- Nghiên cứu các hiện tượng, sự kiện, tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng, trên cơ sở
đó có những kiến nghị với Chính phủ có chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp
Trang 281.6.2 Nội dung
Môn học kinh tế học vi mô là môn học có nội dung rất phong phú, đa dạng Trongphần I của giáo trình này (Kinh tế học vi mô 1), chúng ta tập trung giải quyết 5 nội dung cơbản sau đây:
1 Những vấn đề cơ bản của kinh tế học
2 Lý thuyết cung cầu
3 Độ co giãn cầu cung và lý thuyết hành vi người tiêu dùng
4 Lý thuyết hành vi của doanh nghiệp
5 Thị trường sản phẩm
1.6.3 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu kinh tế học vi mô, người ta thường sử dụng các phương pháp nghiêncứu sau đây:
Phương pháp thống kê kinh tế
Phương pháp đơn giản hóa và cân bằng nội bộ
Phương pháp toán kinh tế
Phương pháp mô hình hóa
Phương pháp phân tích cận biên
Trong đó, phương pháp phân tích cận biên (phân tích lợi ích - chi phí) là phương phápquan trọng nhất trong lựa chọn kinh tế tối ưu
Thông thường người ta sử dụng thuật toán với các bài toán tối ưu Với mục tiêu củacác tác nhân kinh tế đã được xác định cộng với những ràng buộc về ngân sách, khi đưa raquyết định lựa chọn, các tác nhân thường sử dụng phương pháp so sánh giữa lợi ích và chiphí của sự lựa chọn để đạt được mục tiêu đã định Phương pháp này gọi là phương phápphân tích cận biên (phân tích lợi ích - chi phí) Nội dung cơ bản của phương pháp này là:nhìn nhận xem xét các quyết định của các tác nhân trong nền kinh tế đều có điểm dừng tối
ưu Tại đó, người sản xuất hoặc là tối thiểu hóa chi phí khi lựa chọn đầu vào hoặc là tối đahóa lợi nhuận khi lựa chọn đầu ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh; người tiêu dùng tối
đa hóa lợi ích khi sử dụng hàng hóa dịch vụ; còn Chính phủ tối đa hóa phúc lợi xã hội khilựa chọn chính sách
Phép phân tích cận biên sẽ giúp chúng ta hiểu được cách thức lựa chọn của các tácnhân kinh tế Bất cứ sự lựa chọn kinh tế nào cũng liên quan đến hai vấn đề cơ bản là: (1)chi phí và (2) lợi ích Cả hai biến số này đều thay đổi khi các tác nhân kinh tế đưa ra các sựlựa chọn với các quy mô khác nhau Vì thế, khi tiến hành lựa chọn, các tác nhân đều mongmuốn tối đa hóa lợi ích ròng thông qua việc so sánh phần lợi ích thu được và phần chi phí
bỏ ra để sản xuất (hoặc tiêu dùng) sản phẩm
Lợi ích ròng = Tổng lợi ích - Tổng chi phí
Chẳng hạn, nếu ta ký hiệu:
Trang 29+ Nếu MB > MC thì mở rộng quy hoạt động (sản xuất hoặc tiêu dùng) để tăng thêmlợi ích ròng.
+ Nếu MB < MC thì thu hẹp quy hoạt động để tăng thêm lợi ích ròng
+ Nếu MB = MC thì quy mô hoạt động là tối ưu (Qx) Tại đó lợi ích ròng đạt được làcao nhất
Tóm lại: Khi đưa ra các quyết định về sự lựa chọn kinh tế, các tác nhân kinh tế luônphải so sánh giữa phần tăng thêm về lợi ích và phần tăng thêm về chi phí nhằm mục đíchxác định một mức sản lượng tối ưu
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Trình bày khái niệm: kinh tế học, kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô? Cho ví dụminh họa và nêu mối quan hệ giữa chúng?
2 Thế nào là kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc? Cho ví dụ minh họa?
3 Doanh nghiệp là gì? Hãy nêu các cách phân loại doanh nghiệp và cho ví dụ minh họa?
4 Phân tích nội dung ba vấn đề kinh tế cơ bản? Tại sao trong nền kinh tế thị trường,muốn tồn tại và nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ, các doanhnghiệp phải lựa chọn và quyết định đúng ba vấn đề kinh tế cơ bản đó?
5 Chi phí cơ hội là gì? Cho ví dụ minh họa và nêu ý nghĩa thực tiễn của việc nghiêncứu vấn đề này?
6 Thế nào là đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF)? Cho ví dụ, minh họa bằng đồthị và nêu ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu vấn đề này?
Trang 307 Trình bày đặc điểm, ưu, nhược điểm của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung(chỉ huy, mệnh lệnh)? Tại sao nói, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung là mô hình kinh
tế quan liêu, bao cấp?
8 Tại sao nói kinh tế thị trường là mô hình kinh tế năng động và khách quan?
9 Phân tích tính ưu việt của mô hình kinh tế hỗn hợp? Cho ví dụ minh họa?
10 Trình bày tóm tắt nội dung Mười nguyên lý của kinh tế học?
11 Tại sao nói, phương pháp phân tích cận biên là phương pháp cơ bản sử dụng trongnghiên cứu kinh tế học vi mô?
3 Người lao động có mức thu nhập cao có thể mua nhiều hàng cao cấp hơn
4 Để chống lạm phát, Chính phủ Việt Nam thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ vàonhững tháng cuối năm 2008
5 Trong những tháng đầu năm 2009, để chống suy giảm kinh tế, Việt Nam đang sửdụng các biện pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng
6 Việt Nam là một trong những nước ở khu vực châu Á ít chịu ảnh hưởng của khủnghoảng tài chính thế giới
7 Lãi suất cao trong nền kinh tế có thể làm giảm khuyến khích tăng đầu tư khu vực tư nhân
8 Tăng trưởng kinh tế cao thường đi kèm với lạm phát cao
Bài 2: Những nhận định nào dưới đây mang tính thực chứng hay mang tính chuẩn tắc:
1 Giá dầu thế giới tăng cao trong những tháng cuối năm 2008
2 Hút thuốc lá có hại cho sức khỏe vì thế cần phải hạn chế và tiến tới loại bỏ nó
3 Phân phối thu nhập trên thế giới quá bất công vì các nước nghèo chiếm tới 61% dân
số thế giới nhưng thu nhập chỉ chiếm 6% thu nhập toàn thế giới
4 Thu nhập quốc dân của Mỹ chiếm gần 30% tổng GDP toàn thế giới
5 Chính phủ nên chọn giải pháp tăng lãi suất tiền gửi ngân hàng để chống lạm phát
6 Chính phủ cần có những chính sách ưu đãi để giúp đỡ những người nghèo
7 Để bảo vệ sản xuất trong nước, Chính phủ cần có chính sách bảo hộ mậu dịch
8 Thuế doanh thu của Việt Nam có nhiều bất hợp lý, do vậy phải sử dụng thuế giá trịgia tăng (VAT) để thay thế
Trang 319 Chính phủ nên cho phép các thành phần kinh tế có đủ điều kiện tham gia kinhdoanh sản phẩm xăng dầu để khuyến khích cạnh tranh.
10 Nhà nước nên có chính sách miễn thủy lợi phí cho sản xuất nông nghiệp
Bài 3: Bằng sự hiểu biết của mình về khái niệm chi phí cơ hội, anh chị hãy cho biết
yếu tố nào trong các yếu tố sau đây là chi phí cơ hội cho việc đi học đại học của một sinhviên:
1 Tiền lương mà sinh viên đó có thể kiếm được nếu không đi học đại học
2 Tiền chi phí cho giáo trình, tài liệu
3 Tiền đi lại, thuê nhà trọ
4 Tiền học phí
5 Tiền chi cho ăn uống
Bài 4: Trong dịp nghỉ hè, bạn dự định đi học thêm một khóa tiếng Anh nâng cao Nếu
đi học thêm bạn sẽ không thể tiếp tục công việc mang lại 4 triệu đồng trong thời gian hè.Nếu đi học, bạn phải nộp học phí là 1,5 triệu đồng và tiền chi cho ăn uống là 1 triệu đồng.Hãy xác định chi phí cơ hội của dự định đi học thêm đó?
Bài 5: Thành là sinh viên kinh tế mới tốt nghiệp ra trường đã quyết định đầu tư 250
triệu đồng để mở và trực tiếp điều hành một cửa hàng cà phê vườn Theo tính toán ban đầu,việc kinh doanh tại cửa hàng này tạo ra lợi nhuận 5 triệu đồng mỗi tháng Giả sử lãi suấttiền gửi ngân hàng là 0,8%/tháng Ngoài ra, nếu đi làm cho một doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, Thành sẽ có thu nhập 4 triệu đồng mỗi tháng
1 Hãy xác định chi phí cơ hội của việc mở cửa hàng cà phê vườn?
2 Hãy đánh giá quyết định mở cửa hàng cà phê vườn của sinh viên này?
Bài 6: Một nhà kinh doanh và một sinh viên từ Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh
công tác học tập có thể đi bằng máy bay hoặc tàu hỏa Biết rằng: nếu đi bằng máy bay mất2giờ và giá vé là 1,5 triệu đồng; còn đi bằng tàu hỏa mất 36giờ với giá vé 1 triệu đồng Giả
sử, nhà kinh doanh có thể kiếm được 100.000đồng/giờ; sinh viên có thể kiếm được10.000đồng/giờ Vận dụng khái niệm chi phí cơ hội, hãy cho biết mỗi người nên lựa chọnphương tiện giao thông nào là tốt nhất?
Bài 7: Một nền kinh tế giản đơn chỉ có hai ngành sản xuất: lương thực và ti vi (TV).
Giả sử nền kinh tế này sử dụng tối ưu các nguồn lực hiện có Các khả năng sản xuất có thểđạt được của nền kinh tế đó được thể hiện ở bảng dưới đây:
Khả năng sản xuất Lương thực (triệu tấn) Ti vi (triệu chiếc)
Trang 321 Hãy vẽ đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) của nền kinh tế này?
2 Hãy nhận xét các kết hợp:
a 8 triệu TV và 15 triệu tấn lương thực?
b 16 triệu TV và 35 triệu tấn lương thực?
3 Xác định chi phí cơ hội của việc sản xuất lương thực và TV?
Bài 8: Trong khuôn khổ hiện tại của các nguồn lực sản xuất (đất đai, lao động, vốn,
công nghệ…), một chủ trang trại ở vùng ngoại thành Hà Nội có thể tiến hành sản xuất lúa
và rau Giả sử các nguồn lực nói trên được sử dụng ở mức tối ưu Các khả năng sản xuất cóthể đạt được của trang trại này được thể hiện ở bảng dưới đây:
Khả năng sản xuất Lúa (tấn) Rau (tấn)
1 Hãy vẽ đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) của trang trại này?
2 Tính chi phí cơ hội của việc sản xuất lúa và rau?
3 Tính chi phí cơ hội của việc sản xuất tấn lúa thứ nhất; thứ hai; thứ ba; thứ tư và thứnăm?
4 Giả sử Nhà nước cho trang trại này vay vốn với lãi suất ưu đãi để phát triển sảnxuất thì điều gì sẽ xảy ra đối với đường giới hạn khả năng sản xuất? Minh họa điều này lên
đồ thị?
Chương 2
Lý THUYÕT CÇU, CUNG
Trong nền kinh tế thị trường, giá cả thị trường được xem là công cụ hữu hiệu mà “Bàntay vô hình” sử dụng để điều tiết và dẫn dắt các hoạt động sản xuất và tiêu dùng của xã hội.Điều đó có nghĩa là: căn cứ vào sự thay đổi của giá cả trên thị trường từng loại hàng hóadịch vụ mà người sản xuất, người tiêu dùng đưa ra quyết định tối ưu nhằm tối đa hóa lợiích của mình trong điều kiện nguồn lực khan hiếm Theo cơ chế vận hành của nền kinh tếthị trường, giá thị trường sẽ được hình thành thông qua tác động qua lại giữa người tiêudùng (người mua) và người sản xuất (người bán) Vì vậy, chương này sẽ tập trung giảiquyết 4 nội dung chủ yếu sau đây:
Trang 33- Cầu và các yếu tố ảnh hưởng đến cầu thị trường.
- Cung và các yếu tố ảnh hưởng đến cung thị trường
- Quan hệ cung và cầu hàng hóa: bao gồm trạng thái cân bằng cung cầu; trạng tháikhông cân bằng (trạng thái dư thừa thiếu hụt) và trạng thái cân bằng mới
- Vai trò của Nhà nước trong việc kiểm soát giá cả thông qua hai hình thức: quy địnhgiá trần và giá sàn
2.1 CẦU (Demand)
2.1.1 Khái niệm
Cầu là một thuật ngữ biểu thị số lượng hàng hoá dịch vụ mà người tiêu dùng (với tưcách là người mua) có khả năng và sẵn sàng mua ở mỗi mức giá chấp nhận trong phạm vikhông gian và thời gian nhất định khi các yếu tố khác không thay đổi
Qua khái niệm này, chúng ta cần làm rõ một số vấn đề sau:
a Điều kiện hình thành/xuất hiện cầu:
Cầu thị trường một loại hàng hoá nào được chỉ được hình thành/xuất hiện khi có đủhai điều kiện
- Người tiêu dùng có khả năng thanh toán (điều kiện cần)
- Người tiêu dùng sẵn sàng mua (điều kiện đủ)
b Có sự phân biệt giữa nhu cầu và cầu
Nhu cầu thể hiện mong muốn của người tiêu dùng về việc sử dụng hàng hoá dịch vụ.Theo bản năng, con người luôn mong muốn hơn cái họ đang có cho nên nhu cầu là vô hạn,không bao giờ thoả mãn được Trong khi đó khả năng thanh toán cho nhu cầu đó là có hạnnên chỉ có nhu cầu nào có khả năng thanh toán nó mới trở thành cầu của thị trường Nhưvậy, cầu thị trường là nhu cầu có khả năng thanh toán
c Cầu thị trường một loại hàng hoá dịch vụ nào đó được tập hợp từ cầu của các cá
nhân có tham gia thị trường
d Cầu thị trường phải được nghiên cứu trong phạm vi không gian và thời gian cụ thể
Nói cách khác, khi nghiên cứu cầu, người ta phải cố định yếu tố không gian (ở đâu?)
và yếu tố thời gian (lúc nào?)
e Khi nghiên cứu quan hệ giữa cầu hàng hoá và giá cả của nó, người ta thường giả
định các yếu tố khác không thay đổi Bởi vì, ngoài giá cả còn rất nhiều yếu tố khác cũngảnh hưởng đến cầu hàng hoá (sẽ được xem xét ở phần sau)
2.1.2 Một số thuật ngữ khác có liên quan đến cầu
Ngoài khái niệm về cầu đã trình bày ở trên, khi nghiên cứu về cầu hàng hoá dịch vụngười ta thường đề cập đến một số thuật ngữ sau đây
a Lượng cầu (số cầu)
Là số lượng hàng hoá dịch vụ mà người tiêu dùng có khả năng và sẵn sàng mua ở một
Trang 34mức giá cụ thể (khi các yếu tố khác không thay đổi) Như vậy, lượng cầu chỉ có ý nghĩakhi nó gắn với một mức giá.
Chẳng hạn, nếu giá gạo là 8.000đ/kg thì lượng cầu là 22 nghìn tấn, với giá là8.200đ/kg thì lượng cầu tương ứng là 21 nghìn tấn…
Bảng 2 - 1 Biểu cầu gạo ở thị trường huyện A, thành phố Hà Nội năm 2008
+ Đường cầu thị trường thường là một đường cong bởi vì nó được tập hợp từ đườngcủa các cá nhân có tham gia thị trường Ở cùng một mức giá của hàng hoá dịch vụ, những
cá nhân khác nhau, do thu nhập và sở thích khác nhau nên lượng cầu của họ không giốngnhau Do vậy, đường cầu của mỗi cá nhân về hàng hoá dịch vụ cũng rất khác nhau Theo
đó, tập hợp theo chiều ngang đường cầu của tất cả các cá nhân có tham gia thị trường ta sẽ
có đường cầu thị trường là đường cong Tuy nhiên, để đơn giản hóa khi nghiên cứu hay môphỏng người ta thường vẽ nó dưới dạng đường thẳng
+ Đường cầu thị trường thường dốc xuống dưới về phía phải cho biết, khi giá củahàng hoá dịch vụ giảm xuống thì lượng cầu thị trường sẽ tăng lên Tại sao lại có hiện tượngnày? Có thể giải thích bằng ba lý do sau đây:
- Thứ nhất: Khi giá cả hàng hoá dịch vụ giảm xuống sẽ tạo ra động lực lôi kéo thêmmột số người tiêu dùng mới tham gia thị trường và làm cho lượng cầu thị trường tăng lên
- Thứ hai: Khi giá của một hàng hoá dịch vụ giảm thì một số người tiêu dùng sẽchuyển sang mua hàng hoá dịch vụ này để thay thế cho hàng hoá dịch vụ họ đang sử dụng
và làm cho lượng cầu hàng hoá dịch vụ đang xét tăng lên Chẳng hạn khi giá thịt lợn giảmxuống, một số người tiêu dùng chuyển sang sử dụng thịt lợn để thay thế cho thực phẩm họđang dùng (thịt bò, gà, vịt, ngan…) Khi đó lượng cầu thịt lợn sẽ tăng lên do có nhiềungười tiêu dùng sử dụng loại thực phẩm này Người ta gọi đó là hiệu quả thay thế trong sửdụng hàng hoá dịch vụ
- Thứ ba: Khi giá cả hàng hoá dịch vụ giảm xuống, người tiêu dùng cảm thấy mìnhgiàu có hơn trước, bởi vì với thu nhập như cũ họ có thể mua với số lượng nhiều hơn trước
và làm cho lượng cầu thị trường tăng lên - đó chính là hiệu quả thu nhập
Trang 35Ngoài hình dạng đường cầu phổ biến đã nghiên cứu trên, trong thực tế ta còn bắt gặpmột số đường cầu đặc biệt (hay còn gọi là trường hợp ngoại lệ của đường cầu)
+ Trường hợp 1 (hình 2 - 2a): Đường cầu tuyến tính dốc xuống dưới về phía phải thểhiện mối quan hệ tuyến tính giữa giá cả P và lượng cầu QD tức là: khi P tăng hoặc giảmmột lượng ∆P thì lượng cầu cũng giảm hoặc tăng tương ứng ∆Q
+ Trường hợp 2 (hình 2 - 2b): Đường cầu dốc lên trên về phía phải Khi giá P tăng thì
QD cũng tăng và ngược lại Một số hàng hoá đang thịnh hành về “mốt” mặc dù giá tăngngười tiêu dùng vẫn sử dụng nhiều hàng hoá đó, hoặc do ảnh hưởng yếu tố khách quan cầuhàng hoá chỉ xuất hiện trong những thời điểm nhất định (ngày lễ, ngày tết) dù giá tăng caongười ta vẫn phải mua hàng hoá đó (hoa, cây cảnh… ngày tết)
Q
Q Q
Hình 2 - 2.Các dạng đường cầu đặc biệt: tuyến tính, dốc lên trên, nằm ngang và thẳng
đứng
2 - 2a
2 - 2b
Trang 36+ Trường hợp 3 (hình 2 - 2c): Đường cầu nằm ngang so với lượng cầu Ở một mức giáthịnh hành P1 của thị trường thì người tiêu dùng sẽ mua vào bất cứ khối lượng nào (đườngcầu thị trường dịch vụ: ăn, uống, vui chơi, giải trí…)
+ Trường hợp 4 (hình 2 - 2d): Đường cầu thẳng đứng Dù giá cả tăng giảm nhưngkhông làm lượng cầu thay đổi (Q1) Đây là đường cầu hàng hoá mà giá của nó rất nhỏ sovới thu nhập của người tiêu dùng (muối ăn chẳng hạn)
d Luật cầu
Là luật của người tiêu dùng (người mua), bởi vì họ bao giờ cũng thích mua rẻ Luậtcầu chỉ ra rằng: có một mối quan hệ nghịch biến giữa giá cả và lượng cầu hàng hoá dịch
vụ Điều đó có nghĩa là: khi giá cả hàng hoá dịch vụ giảm xuống thì lượng cầu thị trường
sẽ tăng lên và ngược lại (với điều kiện các yếu tố khác không thay đổi)
Trên hình 2.1 nếu giá tăng từ P1 lên P3 thì lượng cầu sẽ giảm từ Q 1 xuống Q3 vàngược lại
Nghiên cứu luật cầu rất có ý nghĩa trong thực tiễn: muốn bán được nhiều hàng hoá thìngười sản xuất phải giảm giá bán
2.1.3 Hàm cầu và các yếu tố ảnh hưởng đến cầu
Cầu thị trường một loại hàng hoá dịch vụ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, cho nên sựthay đổi của những yếu tố này sẽ ảmh hưởng trực tiếp đến cầu hàng hoá đó Để nghiên cứumối quan hệ giữa cầu hàng hoá và các yếu tố ảnh hưởng đến nó, người ta sử dụng một hàm
số gọi là hàm số của cầu (hàm cầu)
Hàm cầu có dạng tổng quát: QD (x, t) = f (PX; I; PY; T; N; E …)
+ Thứ nhất: Để nghiên cứu ảnh hưởng của từng yếu tố đến cầu, người ta thường giả sửcác yếu tố còn lại không thay đổi
+ Thứ hai: Hàm cầu có dạng tuyến tính, tức là quan hệ giữa từng yếu tố với cầu làquan hệ tuyến tính Chẳng hạn, hàm cầu phụ thuộc giá hàng hoá có dạng QD = a1P + b1
Trong đó:
- QD là lượng cầu hàng hoá X với vai trò hàm số, PX là giá hàng hoá X với vai trò làbiến số
Trang 37- Tham số a1 thể hiện quan hệ tuyến tính giữa PX và QD (khi PX tăng hoặc giảm 1 đơn
vị thì QD sẽ giảm hoặc tăng a1 đơn vị), vì vậy a1 luôn có trị số âm (a1< 0) Tham số b1 làmột hằng số cho biết ảnh hưởng không đổi của các yếu tố khác (ngoài PX) Chẳng hạn, từbiểu cầu ở bảng 2 - 1 ta thiết lập được hàm cầu của thị trường QD = -5P + 62 Trong đó: a1
= -5 có nghĩa là, khi giá gạo tăng hoặc giảm 1.000đ/kg thì lượng cầu sẽ giảm hoặc tăngtương ứng 5 nghìn tấn Còn b1 = 62 có nghĩa là: khi giá gạo thị trường P = 0 thì lượng cầutối đa là 62 nghìn tấn Đó chính là ảnh hưởng của các yếu tố khác ngoài giá gạo
Dưới đây ta sẽ nghiên cứu ảnh hưởng của từng yếu tố đến cầu hàng hoá
a Giá cả hàng hoá dịch vụ đang xét (P X )
Nếu các yếu tố khác không đổi, khi giá hàng hoá X tăng thì lượng cầu của nó giảm vàngược lại Nói cách khác: giữa PX và QD tồn tại mối quan hệ nghịch biến như trong luật cầu
đã chỉ ra Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng này còn phụ thuộc vào X là loại hàng hoá dịch vụnào
b Thu nhập của người tiêu dùng (I)
Thu nhập thể hiện khả năng thanh toán của người tiêu dùng khi mua hàng hoá dịch vụ
Do đó, sự thay đổi thu nhập sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cầu hàng hoá trên thị trường Ta xéttrong hai trường hợp: hàng hóa thông thường và hàng hóa thứ cấp Đối với hàng hoá dịch
vụ thông thường (bình thường, chính phẩm) bao gồm hàng thiết yếu (cơ bản) và hàng xa xỉ(cao cấp) khi thu nhập tăng, cầu hàng hoá tăng lên và ngược lại Nhà thống kê người ĐứcErnst Engel (1821 - 1896) đã nghiên cứu sự chi tiêu của nhiều hộ gia đình và công bố luật
về mối quan hệ thuận giữa thu nhập và cầu hàng hoá Khi biểu diễn quan hệ này lên đồ thịngười ta được đường cầu theo thu nhập và thường gọi là đường Engel Đối với hàng hoádịch vụ thứ cấp (cấp thấp, thứ phẩm) là những mặt hàng chất lượng thấp hoặc lạc hậu về
“mốt” khi thu nhập tăng cầu hàng hoá này sẽ giảm xuống và ngược lại, tức là giữa thunhập và cầu hàng hoá tồn tại mối quan hệ nghịch biến
Như vậy, khi thu nhập tăng cầu hàng hoá thông thường tăng còn cầu hàng hoá thứ cấpgiảm và ngược lại Mối quan hệ này được thể hiện trên đồ thị của hình 2 -3 Tuy nhiên,
D
D
I I
Hình 2 - 3 Đường Engel với hàng hoá thông thường (a) và hàng hoá thứ cấp (b)
(a)
(b)
Trang 38đường Engel chỉ nghiên cứu mối quan hệ giữa chi tiêu một loại hàng hóa và thu nhập chonên dạng tổng quát của nó không thể tăng (hoặc giảm) vô hạn Ví dụ, khi mua quần áo chỉđến một mức nào đó thì người ta sẽ không mua nữa vì có nhiều quần áo cũng chỉ để chậtnhà, dù thu nhập là bao nhiêu
c Giá cả hàng hoá liên quan (P Y )
Cầu của hàng hoá không những chỉ phụ thuộc vào giá của hàng hoá đó mà nó còn phụthuộc vào giá của các hàng hoá có liên quan Các hàng hoá liên quan được chia làm hailoại: hàng hoá thay thế và hàng hoá bổ sung
+ Hàng hoá thay thế: Hai hàng hoá được gọi là thay thế khi người ta có thể sử dụnghàng hoá này thay thế cho hàng hoá kia và ngược lại mà không làm thay đổi giá trị sử dụngcủa chúng Ví dụ: cơm và phở, thịt lợn và thịt gà (ăn), chè và cà phê, cocacola và pepsi, bia
và rượu (uống); ô tô và tàu hoả, tàu hoả và máy bay (đi lại)… Khi đó, nếu giá thịt gà tăngthì người tiêu dùng chuyển sang mua thịt lợn thay thế và làm cầu thịt lợn tăng và ngược lại(với điều kiện giữ nguyên các yếu tố khác) Như vậy, khi X và Y là hai hàng hoá thay thếthì quan hệ giữa giá hàng hoá Y (PY) và cầu hàng hoá X (QDX) là quan hệ đồng biến + Hàng hoá bổ sung: Hai hàng hoá được gọi là bổ sung khi sử dụng hàng hoá này thìphải kèm theo hàng hoá kia Ví dụ: xe máy, ô tô và xăng, dầu, nhớt, bếp ga và ga, đồ dùngđiện và điện… Khi đó, nếu giá xăng tăng lên thì cầu xe máy, ô tô sẽ giảm xuống và ngượclại (với điều kiện các yếu tố khác không thay đổi) Như vậy, khi X và Y là hai hàng hoá bổsung thì quan hệ giữa giá hàng hoá Y (PY) và cầu hàng hoá X (QDX) là quan hệ nghịch biến
d Thị hiếu, sở thích người tiêu dùng (T)
Nó là ý thích, ý muốn chủ quan của người tiêu dùng khi sử dụng hàng hoá dịch vụ Vìvậy, thị hiếu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: giới tính, dân tộc, tuổi tác, môi trườngsống, “mốt” tiêu dùng… Nhìn chung, yếu tố này ít thay đổi vì thị hiếu người tiêu dùng rất
đa dạng và phức tạp, nó thuộc yếu tố tâm lý - xã hội nên khi nghiên cứu phải chọn mẫu đạidiện, từ đó có thể lượng hoá và suy rộng cho tổng thể
e Quy mô dân số hay số lượng người tiêu dùng (N)
Như phần trên đã phân tích, cầu thị trường được tập hợp từ cầu của các cá nhân cótham gia thị trường Do đó, khi số lượng người tiêu dùng tăng thì cầu hàng hoá sẽ tăng vàngược lại Chẳng hạn, cùng mức giá gạo 8.000đ/kg nhưng cầu về gạo ở thành phố Hà Nội
sẽ lớn hơn rất nhiều so với cầu về gạo ở tỉnh Hà Nam, mặc dù thu nhập khác nhau thì điềunày vẫn đúng vì Hà Nội có dân số lớn hơn Hà Nam
f Kỳ vọng của người tiêu dùng (E)
Cầu hàng hoá sẽ thay đổi vì nó phụ thuộc các kỳ vọng của người tiêu dùng Kỳ vọngđược xem là sự mong đợi, dự đoán của người tiêu dùng về sự thay đổi các yếu tố xác địnhcầu trong tương lai nhưng lại ảnh hưởng tới cầu hàng hoá hiện tại Nếu người tiêu dùng dựđoán giá xe máy sẽ giảm trong tương lại thì cầu xe máy hiện tại sẽ giảm và ngược lại Các
kỳ vọng về thu nhập, thị hiếu hoặc số lượng người tiêu dùng, đều tác động đến cầu hànghoá đang xét
Ngoài ra, điều kiện tự nhiên, chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước (như chính sáchtrợ cấp, thuế thu nhập)… cũng ảnh hưởng đến cầu hàng hoá dịch vụ Chẳng hạn, về mùa hè
Trang 39cầu về nước giải khát, quạt điện, máy điều hoà, dịch vụ du lịch sẽ tăng; còn về mùa đôngcầu về quần áo ấm, chè, cà phê, thức ăn nóng sẽ tăng…
2.1.4 Sự di chuyển và dịch chuyển của đường cầu
Cầu hàng hoá dịch vụ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, vì vậy khi các yếu tố này thayđổi sẽ làm đường cầu vận động theo hai trạng thái: hoặc là di chuyển hoặc là dịch chuyển
a Sự di chuyển của đường cầu (sự thay đổi của lượng cầu)
+ Khái niệm: Sự di chuyển của đường cầu là sự vận động dọc theo đường cầu hay là
sự thay đổi các điểm trên cùng một đường cầu (thay đổi điểm cầu)
Trên hình 2 - 4 cho thấy: Trên cùng đường cầu D, nếu đường cầu vận động từ điểm Ađến B ta kết luận đường cầu di chuyển theo hướng tăng (hay còn gọi là tăng lượng cầu).Nếu vận động ngược lại từ điểm B về điểm A thì ta nói rằng đường cầu di chuyển theohướng giảm (giảm lượng cầu) Như vậy, khi đường cầu di chuyển nó chỉ làm thay đổilượng cầu
+ Yếu tố làm đường cầu di chuyển: Khi các yếu tố khác không đổi, nếu giá hàng hoáđang xét (PX) thay đổi thì đường cầu sẽ di chuyển Nếu PX giảm từ P2 xuống P1 thì đườngcầu di chuyển theo hướng tăng và làm tăng lượng cầu từ Q2 lên Q1; còn nếu PX tăng từ P1lên P2 thì đường cầu dịch chuyển theo hướng giảm và làm giảm lượng cầu từ Q1 xuống Q2.Như vậy, giá của bản thân hàng hoá đang xét thay đổi chỉ làm thay đổi lượng cầu Người tagọi PX là yếu tố nội sinh hay còn gọi là biến nội sinh
b Sự dịch chuyển của đường cầu (sự thay đổi của cầu)
+ Khái niệm: Sự dịch chuyển của đường cầu là sự thay đổi toàn bộ đường cầu từ vị trínày sang vị trí khác
Trên hình 2 - 4, nếu đường cầu dịch chuyển lên trên về phía phải (từ D sang D1) khi
đó ta kết luận đường cầu D đã dịch chuyển theo hướng tăng (hay còn gọi là tăng cầu) Nếu
D dịch chuyển xuống dưới về phía trái (từ D sang D2) khi đó ta kết luận ngược lại: D dịchchuyển theo hướng giảm (giảm cầu)
+ Hệ quả xảy ra khi đường cầu dịch chuyển: Nếu đường cầu dịch chuyển tăng từ Dsang D1 thì có hai hệ quả xảy ra: hoặc là tăng lượng cầu ở mọi mức giá, hoặc tăng giá ởmọi lượng cầu Đó chính là sự tăng lên của cầu hàng hoá Nếu đường cầu dịch chuyểngiảm từ D sang D2 thì gây ra hệ quả ngược lại: hoặc là giảm lượng cầu ở mọi mức giá hoặc
là giảm giá ở mọi lượng cầu Đó chính là sự giảm cầu hàng hoá Như vậy, khi đường cầudịch chuyển sẽ làm thay đổi cầu (tăng cầu hoặc giảm cầu)
Trang 40+ Yếu tố làm đường cầu dịch chuyển: Khi các yếu tố ngoài giá bản thân hàng hóađang xét (yếu tố ngoại sinh - biến ngoại sinh) của hàm cầu thay đổi sẽ làm đường cầu dịchchuyển Cụ thể, nếu các yếu tố khác không đổi, khi thu nhập của người tiêu dùng (I), giáhàng hoá thay thế (PY), số lượng người tiêu dùng (N)… tăng lên thì đường cầu (hàng hoáthông thường) dịch chuyển theo hướng tăng Ngược lại, khi thu nhập (I), giá hàng hoá thaythế, số lượng người tiêu dùng giảm hoặc giá hàng hoá bổ sung tăng…thì đường cầu sẽ dịchchuyển theo hướng giảm.
2.2 CUNG (SUPPLY)
2.2.1 Khái niệm
Cung là một thuật ngữ biểu thị số lượng hàng hoá dịch vụ mà người sản xuất (với tưcách là người bán) có khả năng và sẵn sàng bán ở mỗi mức giá chấp nhận trong phạm vikhông gian và thời gian nhất định khi các yếu tố khác không thay đổi
Qua khái niệm này, chúng ta cần lưu ý:
a Điều kiện hình thành/xuất hiện cung tức là điều kiện để diễn ra hành vi bán hàng
hoá trên thị trường Muốn hành vi này diễn ra trên thị trường cần phải có đủ hai điều kiệnxảy ra cùng một lúc Đó là, (1) người sản xuất có hàng hoá - điều kiện cần và (2) họ sẵnsàng bán - điều kiện đủ
b Có phân biệt giữa cung ứng và cung hàng hoá Cung ứng thể hiện mong muốn của
người sản xuất về việc bán hàng hoá; còn cung ám chỉ hành vi cung ứng phù hợp với cầuthị trường Điều đó có nghĩa là, chỉ có hành vi cung ứng nào của người bán đáp ứng đúngnhu cầu thị trường thì nó mới trở thành cung của thị trường
c Cung thị trường được tập hợp từ cung của các nhà sản xuất có tham gia thị trường.
Như vậy, quy mô cung thị trường một loại hàng hoá nào đó phụ thuộc vào cung của các cánhân nhà sản xuất loại hàng hoá này
d Cung thị trường phải được xác định trong phạm vi không gian và thời gian nhất
định Điều đó có nghĩa là, khi nghiên cứu cung thị trường ta phải cố định yếu tố khônggian (xảy ra ở đâu?) và cố định yếu tố thời gian (xảy ra vào lúc nào?)
e Khi nghiên cứu quan hệ giữa giá cả và cung thị trường hàng hoá người ta thường
giả định các yếu tố khác không thay đổi Bởi vì, ngoài giá cả hàng hoá đang xét, cung cònphụ thuộc vào nhiều yếu tố khác (sẽ được đề cập ở phần sau)
2.2.2 Một số thuật ngữ có liên quan
Ngoài khái niệm trên, khi nghiên cứu cung người ta cần phải quan tâm đến nhữngthuật ngữ sau:
a Lượng cung
Là số lượng hàng hoá dịch vụ mà người sản xuất có khả năng và sẵn sàng bán ở một
Hình 2 - 4 Sự di chuyển của đường cầu (a) và dịch chuyển của đường cầu (b)
giảm lượng cầu
tăng lượng cầu
D1 (b)
(a)