Có những vấn đề đã được đề cập đến từ lâu và tưởng như rất quen thuộc nhưng lại luôn đòihỏi phải giải quyết với yêu cầu và nhận thức mới như các mối quan hệ giữahiện thực đời sống và thơ
Trang 1THƠ VÀ MẤY VẤN ĐỀ TRONG THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
THƠ VÀ MẤY VẤN ĐỀ TRONG THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
Tác giả: HÀ MINH ĐỨC
LỜI VIẾT NHÂN DỊP SÁCH ĐƯỢC TÁI BẢN
Đã hơn hai mươi năm trôi qua kể từ khi cuốn Thơ và mấy vấn đề trongthơ Việt Nam hiện đại được xuất bản (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974).Đến nay NXB Giáo dục cho in lại cuốn sách này nhằm phục vụ nhu cầunghiên cứu, học tập của học sinh, sinh viên và giáo viên các trường đại học,cao đẳng và phổ thông Thơ ca trong những năm gần đây đã có nhiều đổithay, nhiều sáng tạo mới Tuy nhiên, điểm xuất phát về lí luận thơ và nhữngchuẩn mực có tính nguyên tắc về thể loại thơ trữ tình vẫn được giữ vững.Trong lần tái bản này trừ việc tước bỏ một số câu chữ về cơ bản tôi vẫn giữnguyên như lần in đầu để đảm bảo tính nhất quán và không khí của thời điểmlịch sử đã qua
Hà Nội, 10–12–1996
HÀ MINH ĐỨC
LỜI NÓI ĐẦU
Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại là một công trìnhnghiêng về lí luận thơ Tìm hiểu lí luận về thơ, cái khó khăn đến ngay từ bướcđầu khi cần xác định một định nghĩa vì thơ Thơ là gì? Thật khó để tìm đượcmột cách giải thích đầy đủ vì thơ tuy xưa nay người ta đã bàn luận khá nhiều.Trong thực tế có hàng trăm định nghĩa về thơ nhưng chưa có ý kiến nào thực
sự thống nhất với nhau Sở dĩ thế vì phẩm chất của thơ giàu có, hình tượngthơ đa dạng, luôn biến hóa, và phức tạp hơn là các nhà thơ và lí luận về thơluôn đứng ở những góc độ khác nhau về quan điểm giai cấp, thị hiếu thẩm
mĩ, bản sắc dân tộc và nội dung thời dại, để bàn luận về thơ Tuy nhiên giải
Trang 2thích được đúng đắn sự khác nhau chính là giường mối đầu tiên để tìm ra sựgặp gỡ Quan điểm lí luận văn nghệ của chủ nghĩa Mac – Lênin, đường lốivăn nghệ của Đảng, quan điểm cách mạng về thơ của Bác Hồ và một số cácđồng chí lãnh đạo là những cơ sở và tiêu chuẩn vững chắc soi sáng và giúp
đỡ cho chúng tôi đi vào tìm hiểu về thơ Sự phát triển rất phong phú và lâuđời của truyền thống thơ ca dân tộc, bước phát triển mới tốt đẹp và nhiềuthành tựu của thơ ca cách mạng thời kì hiện đại là những thực tế sinh động
và giàu ý nghĩa đã thôi thúc và động viên chúng tôi suy nghĩ về mặt lí luận.Với thơ có biết bao nhiêu vấn đề cần được đặt ra về lí luận Có những vấn đề
đã được đề cập đến từ lâu và tưởng như rất quen thuộc nhưng lại luôn đòihỏi phải giải quyết với yêu cầu và nhận thức mới như các mối quan hệ giữahiện thực đời sống và thơ, thơ và văn xuôi, truyền thống và sáng tạo, nộidung và hình thức trong thơ Có những vấn đề lí luận khó và phức tạp, nhưngmang ý nghĩa thời sự trực tiếp như chất suy tưởng và trí tuệ trong thơ, tínhhiện đại của thơ Đà phát triển của các vần thơ cách mạng lại đặt ra yêu cầu
đi sâu vào lí luận tân tiến và cách mạng trong thơ Trong quá trình nghiêncứu, chúng tôi bị lôi cuốn vào những văn đề lí luận hấp dẫn, mới mẻ nhưngcũng rất khó khăn, nên trong cuốn sách này chúng tôi tự hạn chế phạm vinghiên cứu trong khuôn khổ thơ trữ tình Chúng tôi chưa có điều kiện để phátbiểu lí luận và nhận định về thơ châm biếm, thơ tự sự, thơ miền núi, thơ thiếunhi Các đề tài trên đòi hỏi những công trình nghiên cứu riêng
Trong tiến trình lịch sử, nền thơ cách mạng có rất nhiều thành tựu lạiluôn vượt lên, khởi sắc, qua từng chặng đường cách mạng
Chỉ nhìn vào cấu tạo của các lực lượng sáng tác cũng thấy đội ngũthực là đông vui, sung sức Lớp trước với các anh, chị: Tố Hữu, Chế LanViên, Huy Cận, Xuân Diệu, Tế Hanh, Anh Thơ, Lưu Trọng Lư, Nguyễn XuânSanh, Yến Lan…
Lớp cách mạng và kháng chiến với các anh: Hoàng Trung Thông,Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Trần Hữu
Trang 3Thung, Xuân Hoàng, Trinh Đường, Phạm Hổ, Bàng Sĩ Nguyên, Hoàng TốNguyên, Hoàng Minh Châu, Nguyễn Viết Lãm, Minh Huệ.
Lớp chống Mĩ với các anh, các chị: Giang Nam, Thanh Hải, Thu Bồn,Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Lê Anh Xuân, Dương Hương Ly, Nguyễn KhoaĐiềm, Xuân Quỳnh, Vương Trung, Nguyễn Đức Mậu, Vũ Quần Phương, NgôVăn Phú, Nguyễn Duy, Phan Thị Thanh Nhàn…
Thực tế phát triển phong phú của thơ ca thời kì hiện đại cũng nhưtruyền thống lâu đời của thơ ca Việt Nam là cơ sở chủ về lí để chúng tôi suynghĩ và đề xuất những vấn đề lí luận về thơ Chúng tôi cũng kết hợp bướcđầu phát triển một số ý kiến về thơ ca Việt Nam thời kì hiện đại Chắc chắnchưa phải là những ý kiến được phát biểu một cách hệ thống theo gốc độnghiên cứu văn học sử mà chủ yếu là trên tinh thần vận dụng kết hợp giữa líluận và thực tiễn sáng tác Chỉ với mức độ và giới hạn ấy công việc cũngnhiều lần vượt trên khả năng của bản thân Điều may mắn là chúng tôi luônđược sự giúp đỡ và động viên nhiệt tình của các nhà thơ, nhà nghiên cứu màhôm nay khi đặt bút viết những dòng cuối cùng của tập sách, chúng tôi xin gửiđến các anh Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông, Huy Cận, Xuân Diệu, HoàngTrinh, Tế Hanh những lời cám ơn chân thành Những ý kiến của các anh đã
cổ vũ và biến lòng yêu thơ của tôi thành những nỗ lực thường xuyên, tự vượtlên mình, đặc biệt với anh Chế Lan Viên, người đã viết những lời nhận xétchân tình cho tập sách
Có gì đâu? Chỉ vì, mới hôm qua thôi, những quyển như thế còn ít lắm, ngỡnhư không có nữa
Trang 4Nghĩ có buồn không? Ở đất nước hàng nghìn năm thơ, hàng trăm thi
sĩ, thơ không những là hình thức phổ biến mà còn như là chủ yếu để thổ lộtâm tình, thế mà sao sách vở bàn luận về thơ ít ỏi làm vậy! Ít cho đến nỗi ainói gì về thơ thì ta cũng mặc, hay ừ ào cho nó xong chuyện rồi thôi
Thơ… lơ… mơ Cũng có lí do, là tuy làm thơ nhiều, nhưng ta khôngtrọng nó bao nhiêu Chúng ta vẫn xem thơ là loại… như thế ấy, như thế ấy.Nhưng lại cũng có một lí do ngược lại là lắm lúc ta lại thiêng liêng hóa nó,thần bí hóa nó, thơ là… bất khả luận, bởi chưng là… bắt khả tri Tôi có mộtanh bạn thân, nhà thơ chân chính nữa, nhưng cứ nghe ai bàn gì về thơ là anhgiãy nảy lên rồi Anh bảo:
“Thơ là lòng, là hồn, chứ có phải nghề ngỗng kĩ thuật gì mà cứ phải líluận, bàn cãi” Anh thừa nhận có nghề họa, nghề kịch, nghề viết tiểu thuyết,nghề đàn, nhưng nhất định không chấp nhận có nghề thơ
Dù nghề hay hồn, thì xưa nay thơ vẫn là một địa hạt gây nhiều trở ngạinhất cho sự thám hiểm của các nhà lí luận Ở phương Tây, người ta đẩy thơqua phạm trù của bóng tối, cơn điên, tiềm thức, tôn giáo, dục tình… Thậm chílặng câm, câm mới là thơ thực Thơ–có -thơ đã là như vậy Đến như thơ–phản–thơ, thơ–phi–thơ, theo các khẩu hiệu cuối cùng, thì còn rắc rối biếtngần nào
Nhưng chả phải đơn giản, dễ dàng gì hơn cho các nhà lí luận về thơ xãhội chủ nghĩa Chúng ta lại có cái khó khác của chúng ta Từ xưa đến naychúng ta quen đồng nhất thơ với mộng với mơ, thế thì bây giờ sẽ thế nàođây, khi cách mạng là thực tiễn, là hiện thực rõ ràng nhất? Xưa nay thơ làsay, là mê, nhưng cách mạng lại là tỉnh thức, tỉnh đến trong tiềm thức củamình Một bên thơ là chủ thể chủ quan, một bên cách mạng chính là kháchquan, là lịch sử Một bên thơ là tiếng ru, tiếng hát, có khi là tiếng hát thầmtrong phòng the, mà nay cách mạng lại cần những lời hiệu triệu, những tiếngthét nữa, tiếng thét to trước mặt quân thù hay ở giữa quảng trường Làm thếnào đây? Mà vá víu, gò gẫm, cưỡng ép, thì đâu có phải là lí luận Nào có phải
là cứ cộng năm mươi phần trăm chất thơ và năm mươi phần trăm chất cách
Trang 5mạng thì ta sẽ có thơ cách mạng một trăm phần trăm Trong một lí luận thơcách mạng chân chính, thì không phải các yếu tố cách mạng hay thơ mỗi thứđều nghèo đi một nửa, mà chính ở đấy, thơ cũng giàu lên và cách mạng cũnggiàu lên.
Phải nói là khi anh Hà Minh Đức, mấy năm trước đây, bắt tay vào côngtrình khá công phu, khá đồ sộ này, thì anh đã thừa hưởng được một sự hỗ trợlớn Đó là thực tiễn thơ, thực tiễn cách mạng vô cùng phong phú trên đấtnước ta gần ba mươi năm lại đây Cuộc cách mạng ở ta có nhiều đặc điểm,
mà một đặc điểm khá quan trọng là nó đã tiến triển qua một thời gian rất đỗidài Tính từ 1945 không thôi, thì đã hơn một phần tư thế kỉ Chừng ấy thì giờ
đủ để xáo động tất cả các vấn đề, gốc hay là ngọn Chừng ấy thì giờ đủ đểcho những vấn đề ta gạt đi lần trước thì nó lại xuất đầu lộ diện lần sau.Chừng ấy thì giờ đủ chỗ cho nhiều vấn đề ta chưa bao giờ nghĩ đến hôm qua,thì ngày mai bỗng phải đặt ra ráo riết, mỗi chặng đường lại có một cái mớiphát sinh Có đủ thời cho tất cả.Có thời cho những nhà thơ cũ trước cáchmạng vứt đi cái cũ của mình Rồi có thời cho chính những thi sĩ ấy trở thànhkhông chỉ là gạch mới, ngói mới, mà cả là cột mới nữa của ngôi nhà thơ cáchmạng Cái thời cho những cây bút trẻ xuất hiện, rồi có thời cho những cây búttrẻ ấy già giặn lên, thành chủ lực quân, trong khi một số khác chưa già mà đãrụng với những cơn gió độc Nhân văn – Giai phẩm Có thời ta phải vờ quên
sự thầm thì nhí nhắt của cái riêng cố hữu để khẳng định tiếng nói mới của cáichung cần khẳng định Rồi lại có thời muốn cho cái chung được phong phú,
ta phải quay ra giải quyết ổn thỏa riêng chung, một người với mọi người Cóthời nói đến hình thức là làm hại nội dung Nhưng có thời song song với rượu,
là phải bàn đến cả vấn đề thay bình nữa đấy, không thì hỏng rượu Miễn chotôi liệt kê các thời ấy ở đây Nhưng ta hãy thử lật ngược vấn đề Nếu tập líluận này viết vào thời chưa có vấn đề chống Mĩ nó sẽ thế nào? Liệu nó có thểviết được về chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thơ một cách hùng hồn, vì
có cơ sở, như ở đây hay không? Nếu nó được viết vào thời chưa xây dựngchủ nghĩa xã hội, thì nó lấy tài liệu đâu để khẳng định cho lí luận thơ viết vềhiện thực và cái mới Nếu nó được viết vào lúc trên thi đàn lui tới chỉ có một
Trang 6số tên tuổi trước cách mạng, cộng thêm những tên trước thời kháng chiến, thì
lí luận về lực lượng của nó có lúc rào rào những cây bút trẻ đang lên như bâygiờ?
Trong tham luận của mình tại Hội nghị chuyên đề về thơ Á–Phi họp ởÊrêvan năm ngoái, tôi có ví thơ với một con sông đang chảy qua nhiều phongcảnh khác nhau của lịch sử, và mỗi thời điểm mà nó đi qua đã cho con sôngthơ ấy một sắc thái riêng Nó có thể là mặt hồ yên tĩnh nơi này mà lại là gềnhthác nơi kia, là tiếng ru vỗ về nơi này mà lại là gào thét nơi khác Tùy theo địahình Tùy theo lịch sử Nếu là sông, thì con sông Thơ Việt Nam (sông Hương
là nó mà sông Mã sông Hồng cũng là nó, nó là cửu Long chín dòng cuộnsóng mà cũng là sông Thương nước chảy đôi dòng) – vâng, con sông ThơViệt Nam đã chảy qua quá dài thời gian, qua bao địa hình khác lạ Điều ấygiúp rất nhiều cho các nhà lí luận Vẽ bản đồ con sông nọ không dễ đơn giảnxuôi chiều
Quá trình cách mạng dài đẻ ra các vấn đề, nó như một thú lí luận vôhình, bên cạnh các lí luận thành văn, lí luận hữu hình, và đồng thời nó đẻ racác tác giả, các tác phẩm, cái thực tiễn thơ, nó là một thứ lí luận sống Hãynói đến thứ lí luận sống ấy truớc Chúng ta ngày nay không những có tácphẩm, tác giả, mà có tác giả thế hệ này đến thế hệ kia, tác phẩm tiêu biểu chođặc điểm này hay đặc điểm khác Mỗi tác giả chúng ta lại có thể điểm từngthời kì với khuynh hướng riêng trong giai đoạn ấy Và nói đến một tác phẩm ta
có thể so sánh nó cùng bao tác phẩm khác tương tự, đối lập, hay bổ sung.Chúng ta có một nền văn học, một nền thơ Có đủ và có dư cho các nhà líluận làm nên lí luận Đọc lên một câu thơ, nhắc đến một tên tác giả, ta biếtngay nó chứng tỏ cho một luận điểm nào Ngược lại, muốn dẫn một tác giả,một tác phẩm để chứng minh cho một luận điểm nào, nhà lí luận không đếnnỗi trắng tay khi làm việc ấy Cũng nhờ thế mà ai có khả năng thì khi làm líluận thơ Việt Nam, vô hình trung đã có thể làm văn học sử Việt Nam Riêngtập sách này Phải nhận, ít nhiều nó cũng có dạng ấy đấy
Trang 7Nhưng ngoài thực tiễn các tác phẩm, các tác giả từ đó toát ra lí luận,hay từ đó ta rút ra lí luận, thì anh Hà Minh Đức còn thừa hưởng một thực tiễnkhác khá quan trọng: ấy là những lời phát biểu, tuyên bố, lập luận về thơ,phần lớn đã thành văn Ngày nay ai quên được câu “Nay ở trong thơ nên cóthép” – cái câu đã thay đổi đời thơ (và cả đời người nữa chứ) của cả một thế
hệ thi sĩ Và nếu ta yêu mến nhà thơ lớn Tố Hữu, thì ta phải đánh giá caonhững suy nghĩ lớn về thơ của anh, người đã nói thơ là tiếng nói đồng chíđồng tình Anh là người đầu tiên tìm ra chữ “dân–tộc–hiện–đại” không chiacắt, không phải là do hai từ cộng lại Và chúng ta không quên công lao củaHoài Thanh, của Xuân Diệu kiên trì trong địa hạt lí luận thơ này từ khángchiến đến nay, từ những ngày Việt Bắc rừng nứa bờ tre, các anh đã chămchút từng câu thơ công nhân, từng câu thơ bộ đội
Nhưng sự đóng góp quan trọng nhất cho lí luận thơ Việt Nam xã hộichủ nghĩa hiện nay, phải nói là bài Tựa tập thơ của Sóng Hồng (tác giả tự đềtựa) Hình như chúng ta chưa đánh giá hết điều ấy Ngoài cái giá trị nội tại lớnlao của nó, bài tựa ấy còn mang thêm một giá trị khác là nó đến đúng lúc,đúng thời Đúng vào cái lúc chúng ta đang tranh cãi với nhau (hay tự thầm cãivới mình) về nhiều vấn đề mà lại dè dặt, bảo thủ nữa trong cách giải quyết.Cái tựa ấy đã đến và lên tiếng giúp ta trả lời Không phải chỉ trả lời trên cácvấn đề đường hướng, chiến luợc, cơ bản, mà còn cả trong những vấn đề cụthể, chi tiết nữa kia (thơ là quả hay là hoa, là trí hay là tình, là thực hay là mơ,
có hùng ca nhưng có thể hay là không có tình ca, thơ có vần hay không vần,
tự do hay thể cũ là chủ thể) Tất cả chưa đầy bảy trang giấy nhỏ: “Thơ là một
vũ khí đấu tranh giai cấp kì diệu”, “Thơ tức là sự thể hiện con người và thờiđại một cách cao đẹp”, “Thơ cũng như nhạc có thể trở thành một sức mạnhphi thường khi nó chinh phục được trái tim của quần chúng nhân dân”, “Thơ
là một viên ngọc kim cương long lanh dưới ánh sáng mặt trời”, “… thơ là nghệthuật kì diệu bậc nhất của trí tửởng tượng” Những định nghĩa liên tiếp nhưthế về thơ đã trả lại cho thơ cái giá trị lớn lao của nó, cổ vũ những người làmthơ tiến lên, vì đã tin thêm ở hiệu lực vũ khí của mình Họ nguyện sẽ vì cáchmạng, vì nhân dân, vì văn học, trau đổi và giữ gìn vũ khí ấy
Trang 8Từ đây trở lên trên, tôi đã kể qua những cái gì quý báu mà anh Hà MinhĐức đã thừa hưởng để viết nên tập sách Công của anh không phải chỉ cóthừa hưởng Nhưng giá chỉ có thừa hưởng, biết cách thừa hưởng, thì cũngquý lắm rồi! Vì có khi có tất cả đấy rồi, mà người ta có chịu thừa hưởng chođâu Ví như đã có một hiện thực thơ Việt Nam phong phú, thế mà đến nayvẫn có những bài lí luận nằm lại phía bên này đường ranh giới của sự trừutượng Gọi những bài viết của họ vang động bởi các danh từ to lớn kia là xãhội học dung tục hay cao sang, thuần túy hay pha loãng gì đó thì cũng chosinh chuyện, nhưng quả là các bài ấy viết cho thơ cũng được, viết cho tiểuthuyết cũng xong mà viết cho một chỗ không thơ không tiểu thuyết nào thìcũng đúng cả Tác giả các bài ấy thích đi về trên các đại lộ quen thuộc, cácquảng trường nhẵn vết chân người – ở đó không có họ ta cũng biết lối đi Còn
họ bỏ mặc ta ở những chỗ gai góc, khó khăn, ngõ hẻm hang cùng, khi ta cầnđến họ hỏi đường thì họ vắng mặt, à quên, thì họ… trừu tượng Anh Hà MinhĐức, tuy chưa thực mạnh dạn, chưa thực bao quát, nhưng cũng đã dám xôngvào các vấn đề hóc búa ấy: các vấn đề đặc trưng, hình thức, trực năng, phi lí,ngữ ngôn Xông vào và ra được
Tôi cũng nhớ đến một loại lí luận khác, đã về trần, xuống tục rồi mà vẫnmuốn làm tiên, không hệ lụy, không dám cho áo mình trong vườn hoa thơ kia,lại có thể rách vì một cành hoa và một chiếc gai nào! Tôi muốn nói đến cácnhà phê bình lí luận hay tránh né Gọi họ là thẩm mĩ học từ xa hay gián cách,thẩm mĩ học chiến lược hay đại cương gì đó thì cũng được đi, nhưng quả là
họ chung chung thật Người ta chung chung ở lí luận, còn họ chung chung ởmột phía khác Họ bàn về thơ hẳn hoi, tinh tế là đằng khác, có tâm hồn lắm,nhưng cứ động đến một tên sách, tên người nào là họ chùn lại rồi Họ tránhcác tác phẩm cụ thể, tác giả cụ thể như những tảng đá có thể đắm thuyềnmình Cần phải dẫn chứng thì họ nhắc thơ nhân dân, thơ miền Nam, thơ emKhoa cho xong chuyện
Vì thế, tuy có thiếu sót chỗ này chỗ khác, có những điểm ta có thểkhông đồng tình, nhưng nói chung Hà Minh Đức đã dám (!) đánh giá cao cái
Trang 9thực tế thơ, thực tế văn học nước mình Anh đọc khá nhiều sách nước ngoàiđấy nhưng không phải vì thế mà trở nên choáng mắt đi, và lúc về nhìn lại cụthể ở nhà, thì chỉ thấy một vùng lóa lóa.
Mùa lúa đã có Cái công anh là biết bó lại, mang về Bó những cái cần
bó và vứt những cái phải vứt Anh đã vứt đi nhiều quan điểm không phải là ítphổ biến lâu nay trong làng lí luận Hoặc là những quan điểm giản đơn, bảothủ, khép chặt cửa lại – lệch phía bên này Hoặc là những quan điểm tiênphong, rối rắm, mở toang hoang các cửa – lệch phía bên kia Anh có đấutranh Anh vận dụng sinh động quan điểm của Đảng và do đó hướng đượcmình về phía tương lai, về cái mới
Chính nhờ biết dựa vào quan điểm của Đảng và có đấu tranh, nên anhkhông bị lạc trong cái bát trận đồ sách vở, mắc kẹt trong cái loa thành chữnghĩa nước ngoài Người ta nói tám vạn ngàn tư về thơ trên thế giới Anh dẫnsách có lúc hơi thiếu, có lúc hơi thừa, nhưng nói chung là có ích và gây đượcthú vị Dẫn sách ở đây không phải chỉ để thỏa mãn tò mò chúng ta, nhữngngười ham con chữ, anh dẫn sách là để nối liền ta cùng với người xưa, cùngvới người xa Thơ Việt Nam không biệt phái, không cô độc Thơ ta cùngchung quy luật với thơ nhân loại Ta không đi vào ngõ tắt Ta ở trên conđường lớn mà thơ nhân loại đang đi, và cái gì ta được ở đây, chính cũng làcái mà ở xa nhân loại đang tìm, và cái tìm được của người khác cũng cổ vũcho ta trong sáng tạo
Có thể gọi tập sách của anh Hà Minh Đức đã đưa ra một lí luận ta chấpnhận được, có thực tiễn, có đấu tranh, đứng vững trong quan điểm mình màkhông gò bó hẹp hòi, bao quát ra xa mà không rối rắm Không chơi chữ,nhưng tôi có thể nói rằng anh đã trình bày lí luận ấy không như một nhà phêbình, mà như một nhà… phê bình văn học Bởi lẽ anh đã trình bày khá vănhọc – bằng lời văn, nhưng trước hết bằng năng lực cảm thụ thơ, cảm thụ vănhọc – những lí luận trên Đọc xong tập sách, ta càng tin ở khả năng của Thơhơn, giữa lúc có nhiều nơi muốn báo tử nó Chúng ta cũng càng tin thêm ở
Trang 10những gì chúng ta làm được về thơ trong ba chục năm nay! Ba mươi nămthơ.
Đề tựa một tập sách không có nghĩa là tán thành tất cả những điều viết
ra trong sách Nếu quả như thế thì chả ai dám đề tựa nữa! Nhất là đối với cácquyển sách dày Có nhiều điểm trong sách này khác xa ý kiến của tôi Nhưngtôi phải biết tôn trọng tác giả Vả chăng, cái điều quan trọng là đường hướngchung tập sách đã phù hợp với sự suy nghĩ của mình
Cách đây mấy năm, kết thúc bài tựa cho tập Thơ chống Mĩ cứu nước,tôi có mơ ước: “Một nền thơ Việt Nam mang lí tưởng xã hội chủ nghĩa mà lạirất dân tộc, thừa hưởng truyền thống cũ của cha ông nhưng táo bạo đi tìm cáimới hiện đại ngày nay, mang hoài bão chung của một nước một thời nhưngbao dung trân trọng phong cách của trăm nhà, chiến đấu trên những đỉnh cao,nhưng không coi thường cuộc sống thường tình, kết hợp tính đảng và tínhnhân dân, Việt Nam và nhân loại, hiện thực mà rất đỗi trữ tình, đi tìm cái thiệncái chân nhưng phải biểu hiện ra bằng hình thức đẹp”
Tác phẩm của anh Hà Minh Đức cũng mang mơ ước ấy Nó ra xong,người ta sẽ tiếp thu chỗ này, đính chính chỗ nọ, khen ngợi phần này, uốn nắnphần kia, như đối với tất cả mọi quyển sách Nhưng đầu tiên những tác phẩmnhư thế này thật cần biết bao nhiêu Chỉ vì, mới hôm qua đây, những quyểnnhư thế không thấy có mấy, gán như là không có
Đây là những lí do khiến tôi trân trọng giới thiệu tập sách này
Hà Nội, 1974 CHẾ LAN VIÊN
Chương 1 XÁC ĐỊNH MỘT QUAN NIỆM ĐÚNG ĐẮN VỀ THƠ
I XUNG QUANH MỘT ĐỊNH NGHĨA VỀ THƠ
Trong lời đề tựa tập thơ của mình, Sóng Hồng viết: “Thơ là sự thể hiệncon người và thời đại một cách cao đẹp Thơ không chỉ nói lên tình cảm riêng
Trang 11của nhà thơ mà nhiều khi thông qua tình cảm đó nói lên niềm hi vọng của cảmột dân tộc, những ước mơ của nhân dân vẽ lên những nhịp đập của trái timquần chúng và xu thế chung của lịch sử loài người… Thơ là một hình tháinghệ thuật cao quý tinh vi Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện
sự nồng cháy trong lòng Nhưng thơ là tình cảm và lí trí kết hợp một cáchnhuần nhuyễn và có nghệ thuật”
Một quan niệm như thế về thơ không những đã nói lên được tầm quantrọng của thơ, một hoạt động tinh thần hết sức phong phú và tinh tế của đờisống tâm hồn con người mà còn có tác dụng phê phán trên nhiều mặt nhữngquan điểm thần bí và dung tục hóa thơ ca Thơ là thể loại văn học nảy sinhsớm Khi con người bắt đầu cảm thấy những mối liên hệ giữa mình và thựctại, và sâu sắc hơn khi có những nhu cầu tự biểu hiện, thì thơ ca xuất hiện
Đã hàng ngàn năm lịch sử trôi qua, tiếng thơ vẫn là tiếng nói tươi trẻ nhất củađời sống, vẫn luôn thiết tha khơi động đến chiều sâu của tình cảm, gắn bó vớinhững ước mơ hoài bão, mềm mại trong nỗi niềm tâm sự an ủi, và hào hùngtrong tiếng nói ngợi ca chiến đấu Từ thời kì cổ đại với thơ của Penđar,Saphô, Têôcrit đến những tiếng thơ gần gũi hơn của Gơt, Sinlơ, Hainơ,Huygô, Pêtôphi, Puskin, Lecmôntôp… và thơ hiện đại với P.Êluya, Blôc,Maiakôpxki, Pablô Nêruđa, Garxia Lorka…
Thơ ca Đông phương trầm lắng, nên thơ rất độc đáo trong cảm hứngsáng tạo Ấn Độ với Tagor; Trung Quốc với Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Lí Bạch,Bạch Cư Dị, Mạnh Hạo Nhiên, v.v… Thơ Việt Nam từ Nguyễn Trãi đếnNguyễn Du, từ Tú Xương, Nguyễn Khuyến, Phan Bội Châu đến Tố Hữu, ChếLan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu…, nhiều thế kỉ đã trôi qua; mỗi phong cách thơđều có một sắc thái, một âm hưởng riêng Có thể nào từ những cái riêng biệtđộc đáo đó tìm về được một đặc điểm chung của thơ?
Xác định được một quan niệm chung, một định nghĩa về thơ là một vấn
đề cần thiết Người ta đã bàn nhiều về thơ nhưng thực ra ý kiến vẫn có nhiềuđiểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau và thật sự vẫn chưa có được một địnhnghĩa hoàn chỉnh về thơ Phần vì khác nhau về lập trường quan điểm, phần vì
Trang 12hình tượng thơ biến hóa và ít xác định, phẩm chất thơ ca đa dạng, phongphú, tác động của thơ đụng đến nhiều mặt trong đời sống tinh thần của conngười…, nên từ nhiều góc độ cảm thụ khác nhau,người ta tìm đến và nói vềthơ.
Thơ là tiếng nóị của tâm hồn, của niềm mơ ước Thơ bộc lộ khác vọngvươn tới một lí tưởng đẹp đẽ và cao thượng Sự có mặt của thơ ca chânchính trong đời sống góp phần chứng minh sự tồn tại của những gì tích cựccủa con người đang luôn tha thiết tìm đến và đấu tranh cho một lẽ sống vàchân lí tốt đẹp Nhiều quan niệm về thơ được xác định qua phẩm chất nàycủa thơ
“Thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp” (SóngHồng) Phần cao đẹp của con người bộc lộ trong đời sống hằng ngày mà thơ
ca có nhiệm vụ miêu tả và biểu hiện trực tiếp, nhưng rất quan trọng là sự caođẹp của lí tưởng và những khát vọng chân chính mà con người đang đấutranh để thực hiện một cách hiệu quả Thơ phải khơi dậy được những hoàibão cao đẹp và rộng lớn của con người Thơ không chỉ biểu hiện cuộc sốngnhư nó vốn có Thơ có nhiều thuận lợi hơn các thể loại khác để biểu hiệncuộc sống trong phần sẽ có và cần phải có Đấy cũng chính là thể hiện cuộcsống một cách cao đẹp Huy Cận cũng cho rằng: “Cái chỗ đến cuối cùng củathơ là phải đem đến một cái gì nâng sự sống lên” Hay nói theo những cáchnói khác: “Thơ, đó là sự cố gắng không ngừng của con người để tự vượt lênmình”, “Thơ ca đáp ứng một nhu cầu mơ ước”, “Thơ là một động lực kì thú đểnâng cuộc sống lên tầm vóc cao hơn đồng thời nâng tầm vóc chúng ta caobằng cuộc sống”
Những quan niệm trên đều trực tiếp và gián tiếp bộc lộ ý thức tráchnhiệm và lòng tin của nhà thơ vào cuộc sống cũng như đối với chính mình.Chức năng xã hội và lí tưởng của thơ ca được xác định khá rõ rệt Cũng mộtkhuynh hướng nhấn mạnh trong bản chất của thơ phần mơ ước và khát vọngvươn tới, nhưng những ý kiến sau đây lại xác lập chủ yếu trên một quan niệm
có tính chất thoát li xã hội về bản chất của thơ ca Các nhà thơ lãng mạn
Trang 13thường đem đối lập một cách sai lầm thơ với đời sống hiện thực, nên cókhuynh hướng lí tưởng hóa thơ một cách cực đoan, xem “thơ là sự hiện thâncho những gì thầm kín nhất của con tim và thiêng liêng nhất của tâm hồn conngười, và cho những hình ảnh tươi đẹp nhất, âm thanh huyền diệu nhất trongthiên nhiên”, hay cho rằng “thơ ca là một giấc mơ qua đấy người ta mơ ước
về một cuộc đời tốt đẹp hơn hoặc cực đoan và siêu hình khi quan niệm thi ca
là cái đích hoàn hảo nhất để không, bao giờ vươn tới được: “Thơ sẽ còn lạimãi mãi để nhắc nhở cho thời đại, cho lịch sử, cho những người đang sống
và những người kế tiếp rằng hành động của họ chưa đạt tới cái đích của thi
ca phóng ra”
Nói đến thơ cũng chính là nói đến một phuơng diện của tinh hoa conngười và tạo vật Thơ không ăn nhập, dung hòa với những cái gì thô thiển,tầm thường, cũng như phần bề bộn, xô bồ của cuộc sống Thơ được khaithác từ trong đời sống cũng như những vỉa quặng được lấy ra từ trong lòngđất, và cao hơn nữa đó là chất kim được chắt lọc ra từ những đống quặng bềbộn Thơ đòi hỏi đến sự điển hình cao độ – điển hình của tâm trạng, hình ảnh,nhịp điệu… Quá trình chọn lọc này thực chất là một quá trình sáng tạo rấtcông phu, tinh tế, vừa đòi hỏi sự nhập thân, gắn bó, lại biết tách ra để tỉnh táochọn lọc, vừa dung nạp tinh thần phóng túng, tài hoa, lại đòi hỏi hết sức mức
độ, chặt chẽ Quá trình chọn lọc sáng tạo cũng không diễn ra như người gạnlấy tinh chất theo cách nấu gạo lấy rượu hoặc cất nước hoa, ở đấy vẫn còn
và rất cần đến dấu vết và bùn đất của đời sống nhưng không tự nhiên, thô sơ.Thông qua sự chọn lọc này, chất liệu của đời sống không bị khô héo, hoặc bịcắt xén đi mà vẫn bồi hồi và nhịp nhàng sự sống
Nhiều nhà thơ đã tìm nghĩa cho thơ qua phẩm chất này Tố Hữu quanniệm “thơ biểu hiện tinh chất của cuộc sống”, “thơ là cái nhụy của cuộc sống”.Xuân Diệu cũng cho rằng: “Thơ là lọc lấy tinh chất, là sự vật được phản ánhvào trong tâm tình” Lưu Trọng Lư cũng lưu ý đến đặc điểm trên của thơ:
“Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cái lõi của cuộc sống” Thanh Tịnh cũngnghĩ: “Thơ là tinh hoa, là thể chất cô đọng của trí tuệ và tình cảm” Một quan
Trang 14niệm cũng khá phổ biến về thơ ca gắn liền với năng lực đồng cảm nhanhchóng và lạ kì của thể loại này Thơ ca là những sợi dây tình cảm thươngmến ràng buộc mọi người Thơ ca đi bằng con đường ngắn nhất đến với tráitim và cũng để lại ở đây những dấu vết không phai nhạt được Năng lực đồngcảm của thơ không tràn lan vô nguyên tắc mà bao giờ cũng có hướng địnhtheo một lí tưởng xã hội, một quan niệm yêu thương chi phối Tố Hữu đãnhiều lần xác định quan niệm về thơ qua đặc điểm này “Thơ là một điệu hồn
đi tìm những hồn đồng điệu” “Thơ là chuyện đồng điệu” “Thơ là tiếng nói triâm” Tiếng thơ tuy nhẹ nhàng, thầm kín nhưng có một năng lực tập hợpnhanh chóng trên một lí tưởng xã hội chung, những tâm trạng gần gũi quenthuộc Tiếng nói thiết tha này nhiều khi như một bằng chứng rõ rệt xác minhnhững mối liên hệ đồng cảm giữa những trận tuyến tình cảm, yêu thương,căm giận của con người Trên ý nghĩa đó, tiếng thơ là một lời kêu gọi sựhưởng ứng, đồng tình; tiếng thơ là một lời tâm sự thầm kín được mở rộngnhư một tiếng nói bạn bè thân thương; tiếng thơ là một âm vang dội đi dội lại,ngày càng lắng sâu trong đời sống tâm hồn con người, tiếng thơ là nơi giaocảm và hội ngộ của những tâm tình, tiếng thơ là sự giao hòa giữa thế giớiriêng tư của cá nhân và xã hội “Thơ là một hành động giao cảm, một hànhđộng tín nhiệm”, hay nói thêm một khía cạnh khác: “Thơ phải là một cố gắnghòa hợp tình cảm của cá nhân với hiện thực của thế giới chúng ta”
Nói đến vấn đề đồng cảm trong thơ là trên cơ sở xác định rõ rệt ranhgiới về giai cấp Nói như nhà thơ Tố Hữu: “Thơ là tiếng nói đồng ý đồng tình,tiếng nói đồng chí Thơ tư sản thì tìm tới lỗ tai, cái bụng tư sản Thơ của nhândân lao động thì tìm tới trái tim của người lao động”
Nhiều định nghĩa về thơ gắn liền bản chất của thi ca với sự sáng tạo.Nghệ thuật là sáng tạo, bản chất của nghệ thuật là sáng tạo Với thi ca, sựsáng tạo phải trở thành mục đích, yêu cầu và nội dung của hoạt động này Thi
ca dễ lặp lại mình, dễ đi lại những nẻo đường đã có sẵn và trì trệ Nhiều nhàthơ đã xác định bản chất của thơ ca trên đặc điểm này Biêlinxki đã từng xácđịnh “tính nghệ thuật là sự sáng tạo”; và cũng có thể nói như một nhà thơ,
Trang 15“thơ ca là sự sáng tạo của sáng tạo” Luôn đi về phía trước, đối lập với mọi sự
im lặng, bảo thủ và tăm tối, thơ ca là ánh sáng, là sự phát hiện, là tương lai.Trong bản thân thơ ca chứa đựng một cái gì của tương lai hay ít hơn là phải
dự kiến một cái gì cho tương lai Năng lực tìm tòi, phát hiện ấy là sự sáng tạo.Apôline cũng khẳng định “thơ ca và sáng tạo chỉ là một” Nêkraxôp xem “thơ
ca là vinh dự của sự sáng tạo có thể có được của con người” Maiakôpxki,người mở đầu của nền thơ ca Xô viết, đã bộc lộ sức sáng tạo lớn lao, mạnhdạn trong toàn bộ hoạt động sáng tác của mình Maiakôpxki quan niệm “chínhngười sáng tạo ra những quy tắc thi ca mới là thi sĩ” Trên tinh thần đề cao sựsáng tạo trong thơ cũng có nhiều cách nói với những màu sắc khác nhau,như xem “thơ là mở ra được một cái gì mà trước khi có câu thơ đó, trước khi
có nhà thơ đó vẫn như là bị phong kín”, “thơ là biểu hiện của lòng tin vàonhững công trình sáng tạo của con người” Biết bao tiếng nói thơ ca đã mất đi
vì nó không đem lại một cái gì mới cho con người Những sáng tạo trong thơ
ca chưa phải là những dự kiến quy mô về tương lai, những sự phác họa tỉ mỉ
về những công trình cụ thể của đời sống con người mà chủ yếu là sự sángtạo trong đời sống tâm hồn Luôn có một cái nhìn phát hiện, đem đến cho conngười những rung cảm và cách suy nghĩ, cách giải thích mới, từ đấy gópphần nâng cao cuộc sống con người với những giá trị tinh thần cao đẹp của
nó Một nhận định, một sự giải thích đúng đắn cũng có giá trị củng cố chonhững ước mơ, và những ước mơ lại chuẩn bị cho những năng lực mới, chosức sáng tạo mới Sáng tạo là đi về phía tương lai, về phía chân lí; từ trongnhững tìm tòi, nghĩ suy, từ trong đấu tranh để khẳng định cái mới
Thơ là sáng tạo Một nhận định và cũng là một yêu cầu, một ước mongtích cực Xác định bản chất của thơ ca là hành động giao cảm, là một ước mơhay một sáng tạo đều đúng với bản chất của thơ, nhưng thường không đủ vànhiều định nghĩa có thể cực đoan và lệch về một phía Tuy nhiên những địnhnghĩa, những quan niệm trên đều tích cực, gắn bản chất thơ ca với những cái
gì tốt đẹp và đẩy cho thơ ca đi về phía trước
Trang 16Bên cạnh những quan niệm tích cực trên, tồn tại biết bao nhiêu nhữngquan niệm, những định nghĩa sai lầm về thơ Một xu hướng khá phổ biến làtách thơ khỏi đời sống hiện thực, xem thơ là một cái gì thanh khiết, cao đẹp.tinh tế, không gắn bó gì với cuộc sống lao động cực nhọc Thơ không tìm chỗđứng ở những sự việc, những cái hằng ngày có tính chất thực dụng, tầmthường Và đẩy thơ ca đi xa hơn, xa hơn, ra khỏi địa hạt và phạm vi của thếgiới con người, nhiều quan niệm gắn bản chất của thơ ca với thế giới linhthiêng huyền bí của thần thánh, và hoạt động thơ ca trở nên một hoạt động kì
lạ, “nhiệm mầu” Quan niệm này tồn tại đã từ rất lâu trong đời sống của conngười Trong hình thái cổ sơ, thơ ca tồn tại dưới dạng của những bài hát lễnghi, những lời phù chú và được sử dụng trong các hội hè văn nghệ và tôngiáo Lời hát còn diễn ra kết hợp với nhạc và nhảy múa Những bài phù chúcủa các thầy phù thủy diễn hành tế tự được xem như những bài thơ đầu tiên
Ở đây tôn giáo thâm nhập vào thơ ca, nhân tố thần linh chi phối đến cảmhứng sáng tạo, đến những tình cảm và hình ảnh trong bài Nhưng thực chấtcủa những niềm ước mong, của những lời cầu nguyện lại mang một nội dung
xã hội, một yêu cầu cụ thể trong lao động Những bài ca nghi lễ gắn liền vớilao động như những bài ca khấn nguyện của người Mường (Mãn Đức, LạcSơn, Hòa Bình) gồm những bài nói về chu trình làm ruộng, cũng như nhữngbài dân ca tế thần như hát Ải lao, hát Xoan, hát Dậm Hà Nam, hát Hội Dô, tuyđều mang màu sắc tôn giáo nhưng nội dung lại chứa đựng nhiều nhân tố tíchcực Chúng ta hãy nghe một khúc hát Hội Dô:
… Đây là Liệp Hạ đóng đám Khánh Xuân
Trang 17hoặc một điệu khúc có tính chất cầu nguyện qua mấy câu sấm cổ của ngườiIrlăng: “Tin vui mừng, biển nhiều cá, bờ sóng cuộn sạch bong, rừng cây tươitốt Niệm chú xong, vườn cây dâng hoa, đồng lúa chín vàng, ong bay rộn rã.Một thế giới vui tươi, thanh bình, giàu có, một mùa hè kì thú”.
Ở đâu là phần huyền bí của tôn giáo và ở đâu là phần ước mong lànhmạnh? Yếu tố thần linh nhiều khi chỉ tồn tại như một biện pháp, một giới hạnchung của thời đại Không thể xem thơ ca là pháp thuật, là chuyện phù phép
Trong thời kì cổ đại, Platông đã xem linh cảm như bản chất của thi cabộc lộ ra từ trong quá trình sáng tác cũng như thưởng thức Linh cảm là một
sự giao cảm mầu nhiệm giữa thế giới thần thánh đến thế giới của con người
mà nhà thơ là người trung gian, là kẻ truyền đạt Trong đối thoại Iông giữaIông và Xôcrat, Platông đã khẳng định luận điểm trên thông qua phép biệnluận có tính chất loại suy Thơ ca không phải là một kiến thức về kĩ thuật ĐọcHôme không phải để học cách chỉ huy quân đội, cách chèo thuyền và đánh xengựa tuy rằng trong đó có những đoạn tả hay về những vấn đề trên Khi linhcảm nhập vào thơ, ấy là thời điểm quan trọng của sự sáng tạo, sự say mêtràn vào lấn át lí trí, phút linh thiêng chiếm ngự tâm hồn Platông xem các nhàthơ trữ tình khi làm những câu thơ hay cũng giống như những thầy tế tựCôrybăng được thần thánh nhập vào khi nhảy múa Họ nhập mê, mất lí trí và
sự tỉnh táo bình thường, cảm hứng sáng tạo của họ hoàn toàn bị thần linh chiphối Sau này một số nhà thơ như Nôvalix, Pôn Clôđen, Seli, HăngriBrêmông… cũng thường giải thích và gắn hoạt động sáng tạo thơ ca với bảnchất linh thiêng huyền bí của tôn giáo
Xuân thu nhã tập cũng nêu lên một định nghĩa về thơ mô phỏng theoquan điểm của Platông và pha trộn với một số quan niệm có tính chất thần bícủa triết học duy tâm cổ Trung Quốc L.Hippiuyt xem thơ là một hình thức cầunguyện trong tâm hồn Và khi xem trong bản chất thi ca như một hình thứcnguyện cầu, cũng có nhiều quan niệm khác nhau, Vũ Hoàng Chương chorằng thơ ca là sự nguyện cầu để trở về Có người nghĩ: “Trước kia làm thơ làcầu nguyện với Thượng đế, với thiên nhiên Bây giờ thơ là một bản kinh,
Trang 18người thơ tự cầu nguyện với chính mình” Hàn Mặc Tử quan niệm “tất cả thi
sĩ ở trong đời phải quy tụ, phải đi khơi mạch thơ ở Đức Chúa Trời”, và cóngười gọi Hàn Mặc Tử là thi sĩ của đạo quân Thánh giá Thần linh có khi chỉ
là một cớ, một chiêu bài, lấy sự thiêng liêng để che đậy những dạng ý chínhtrị về thi ca Một số quan niệm về thơ ca ở Sài Gòn hiện nay nằm trongtrường hợp này
Những quan niệm trên nhằm dụng ý từ bỏ chức năng xã hội của thơ ca
và đẩy thơ ca vào một địa hạt huyền bí Thơ không còn là tiếng nói cảmthông, là tiếng hát của tâm hồn, mà chỉ còn là lời nguyện cầu của con ngườiđang ở trong cảnh khổ đau, hoặc là sự chấp nhận, một cách thụ động những
gì được xem là linh thiêng và được đưa về từ một thế giới khác Thơ đi vàohướng bế tắc Nhà thơ không còn là người công dân tích cực, người chiến sĩđóng góp với xã hội một tiếng nói của chân lí, của những ước mơ và khátvọng chân chính Tôn giáo trong bản chất của nó là mâu thuẫn và trái địch vớithơ ca
Một khuynh hướng cần phê phán khi đem những yếu tố hình thức trongthơ để lí giải bản chất và xác định định nghĩa về thơ Một số người thườngnhắc lại câu nói của Valêri: “Thơ ca là sự phân vân kéo dài giữa âm thanh và
ý nghĩa” và xác định như tính chất nước đôi (ambiguité) là cơ sở và gốc rễcủa thơ Đi quá hơn về phía hình thức, một số quan niệm xem thơ như là phùphép về ngôn ngữ và vận dụng hình ảnh Ăngđrê Jiđơ quan niệm “một nhàthơ chân chính là một nhà pháp thuật” Ở trong quan niệm này của Jiđơ, tínhchất thần linh, tôn giáo không phải là chủ yếu, mà căn bản Jiđơ quan niệmthơ ca như một thứ ma thuật về ngôn từ Trong tuyển tập thơ ca Pháp, Jiđơđặc biệt chú ý đến định nghĩa về thơ của Têôđo Băngvin: “Cái trò ảo thuật nàynhằm lay động những cảm xúc nhờ sự phối hợp của những âm thanh… nhờthứ bùa phép này mà những ý tưởng được tất yếu truyền đạt giữa chúng tamột cách chắc chắn bằng những từ mà tự chúng không hẳn nói ra điều ấy”Banmôn, nhà thơ suy đồi và tượng trưng Nga, cũng đề xướng một quan niệmtương tự Những người chạy theo khuynh hướng trên thường xem ngôn ngữ
Trang 19như là mục đích tự thân của sự sáng tạo, hoặc tách rời âm thanh và ý nghĩacủa từ hoặc giải thích một cách huyền bí sự tổ hợp của các từ trong quá trìnhsáng tác.
Khuynh hướng hình thức chủ nghĩa còn lí giải bản chất của thơ ở kĩthuật xây dựng hình ảnh và tổ chức kết cấu của tác phẩm Hình ảnh, một yếu
tố thiên về nội dung của thơ, đã biến thành những trò ảo thuật hình thức PônClôđen lại nhấn mạnh đến kết cấu như yếu tố cơ bản nhất của thơ: “Thơ ca làkết cấu và nhờ có kết cấu mà nó mang lại cho lỗ tai và trái tim của ngườinghe niềm vui và thích thú riêng”
Ngoài những quan niệm về thơ theo những khuynh hướng khác nhautrên, còn có những định nghĩa cầu kì, lập dị về thơ theo một cách cảm, cáchnói có tính chất phiến diện, do một liên tưởng ngẫu nhiên, hoặc lấy cái thứyếu làm bản chất, lấy một biểu hiện thoáng qua nhất thời làm quy luật phổbiến
Tìm hiểu và xác định bản chất của thơ không thể không đề cập đến mộtvấn đề quan trọng mà từ trước đến nay đã được bàn luận và lí giải, đó là sựphân biệt giữa thơ và văn xuôi
II THƠ VÀ VĂN XUÔI
Người ta dễ thấy sự khác nhau giữa thơ và văn xuôi trong cấu tạo hìnhthức của hai thể loại này Văn xuôi và thơ đều có nhịp điệu, nhưng nhịp điệucủa văn xuôi không rõ nét, không có âm hưởng rõ rệt, và buông thả có tínhchất tự nhiên, mơ hồ Cho nên nếu nói cho xác định đúng với bản chất củanhịp điệu thì chỉ thơ mới có nhịp điệu Một số công trình nghiên cứu về thơcũng thống nhất quan niệm khi xác định tính nhịp điệu trong văn xuôi và trongthơ Cấu trúc nhịp điệu trong văn xuôi không rõ ràng: “Nhịp điệu trong vănxuôi không phải là cái gì khác mà chỉ là một phác họa của nhịp điệu” Nhịpđiệu trong văn xuôi “trôi chảy, không bền vững, nó thay đổi và chuyển chỗkhông ngừng; phần lớn là không thể quy nó về những quy luật rõ ràng nào,không thể miêu tả tổ chức của nó Nhịp điệu của thơ, trái lại, rõ ràng” “Văn
Trang 20xuôi, cái thể lỏng đáng nguyền rủa nhất định không chịu nhận một hình thứcxác định” Nhịp điệu trong thơ là nhịp điệu có tổ chức trên cơ sở của nhữngđặc điểm về ngôn ngữ của một dân tộc nhất định Nhịp điệu của thơ ca ViệtNam khác với nhịp điệu của thơ ca Pháp, thơ Nga, v.v… Trong cấu tạo nhịpđiệu, yếu tố dễ thấy nhất về mặt hình thức để phân biệt với văn xuôi là nhữngcâu thơ có vần và dạng cấu tạo của nó Nhìn chung, những câu thơ được cấutạo thành những dòng đều đặn (thơ cách luật) thành những khổ thơ, và có bắtvần Trong thơ tự do, đặc điểm trên tuy có khác đi, nhưng vẫn có thể dễ nhậnthấy một cách bao quát dạng của một bài thơ khác với tính chất kéo dài vànối tiếp của những câu văn xuôi Nhưng sự khác nhau giữa thơ và văn xuôichắc chắn không phải chỉ ở những yếu tố thuộc về hình thức Trong đời sống,chúng ta thường bắt gặp những câu có vần có nhịp làm theo các thể thơnhưng không thể xem là thơ được Trong sinh hoạt văn học người ta cũngthường gọi một cách châm biếm những nhà thơ tồi, những người thiên về kĩthuật hình thức là nhà thơ ghép vần Hiện tượng ghép vần luôn có mặt bêncạnh sự tồn tại của thơ ca chân chính Như thế là đặc điểm bản chất của thơkhông phải là ở những câu văn vần Từ lâu đã có sự phân biệt này TrongNghệ thuật thơ ca, Arixtôt đã xác định rõ rệt: “Chỗ khác nhau giữa nhà sử học
và nhà thơ không phải là một người thì dùng văn xuôi, một người thì dùngvăn vần Những quyển sử của Hêrôđôt có thể đổi thành văn vần vẫn là sử dù
có vần luật hay không cũng vậy” Arixtôt xem nội dung sáng tác là cơ sở đểphân biệt cái gì là thơ và không phải là thơ Trong tác phẩm Mĩ học, Hêghencũng cho rằng “văn xuôi viết thành câu thơ vẫn chưa phải là thơ” Victo Huygôtrong bức thư gửi cho Aden Phuse, đã đề cập đến vấn đề này: “Những câu cóvần nhịp tự nó chưa phải là thơ (Thơ là từ trong những ý tưởng và những ýtưởng lại đến từ trong tâm hồn Những câu thơ chỉ là bộ quần áo đẹp trên cơthể đẹp Thơ có thể biểu hiện bằng văn xuôi nhưng nó chỉ thực sự thật hoàn
mĩ qua về đẹp duyên dáng và lộng lẫy của những câu thơ”
Đi vào thực tế sáng tác có những câu mà hình thức là những câu thơ,nhưng thực chất lại là câu văn xuôi
Trang 21Và ngược lại, người ta cũng thấy có nhiều bài văn xuôi có tính chất thơ.
Ở đây chúng ta có thể tiến hành một sự so sánh thú vị giữa hai trích đoạn thơ
và văn xuôi của Xuân Diệu cùng viết về một chủ đề:
“Ôi đất nước! Sau mười năm xây dựng trong hòa bình mắt say với ánhđiện do những tay người lao động làm ra bây giờ ta lại có dịp trong mườiđêm, hai mươi đêm, ba mươi đêm liền nhìn người trong bóng tối, ta nhìnngười, đất nước ơi, trong lúc chân đạp xe đi tôi nhìn người Tổ Quốc ơi, trongnhững đêm lấy làm ngày như thế! Như hai mặt của một trang giấy dính chặtnhau, tôi lật những trang ngày rạng rỡ ánh sáng mặt trời, tôi lật những trangđêm nở đỏ… Như đứa trẻ mắt đã no nhìn mặt mẹ thương yêu, nó nhắm mắtđưa hai bàn tay lên sờ mặt mẹ, nó càng thêm thương yêu mẹ vô ngần; dướibóng sao, dưới bóng trăng, dưới cả bóng mây đen kịt, phần lớn thấy lờ mờ,
có khi thấy khá rõ, nhiều khi như đi trong biển mưa, tôi có cảm giác như chủyếu là hai tay tôi đã được sờ lên những nét mặt của Tổ Quốc thương yêu, tráitim bây giờ nhạy bén lắm, không nhìn, tôi cũng biết là mẹ… Đã mấy khi tôithức trọn với núi sông như những lúc hành quân đêm”
Những câu văn xuôi trên mang nhiều chất thơ, ý thơ, Xuân Diệu cũng
đã rút cái chất thơ đó thể hiện vào trong bài thơ Những đêm hành quân:
Tôi đã đi hàng chục đêm sao Một chiếc xe – đạp vào băng bóng tối Cũng có lúc mây trời đen kịt lưới Cũng có tuần trăng mới ánh trăng trong.
Đã mấy khi tôi thức với non sông Trọn những đêm ròng mắt chong chân bước Đêm hành quân thả tâm hồn đi trước
Yêu với căm hai đợt sóng ào ào
Vỗ bên lòng, dội mãi tới trăng sao.
Giữa đêm tối, gần xa là biển mực
Trang 22Chính là lúc trái tim càng sáng rực Khi mắt không nhìn được bốn thước xa Chính là khi nghe cả núi sông nhà Tôi như đứa trẻ con đôi mắt khép
Sờ mặt mẹ trên ngón tay tha thiết Tôi hiểu đêm nay thôn xóm nghỉ gì Đằng chân trời ấp ủ những điều chi.
Sự khác nhau chủ yếu giữa hai trích đoạn trên là ở hình thức biểu hiện.Một bên chất thơ biểu hiện trong những câu văn xuôi và một bên qua nhữngcâu thơ Sự lẫn lộn hoặc kết hợp qua lại giữa thơ và văn xuôi bộc lộ quanhiểu hiện tượng văn học Người ta thường nhắc tới loại văn xuôi có nhiềuchất thơ của Victo Huygô trong văn học Pháp và của Tuôcghênhep trong vănhọc Nga Trong văn học Việt Nam cũng có nhiều thể loại thơ ca cổ dườngnhư đứng giữa văn xuôi và thơ như thể phú, các loại biền văn Và ngay trongnhiều sang tác văn xuôi cũng chứa đựng nhiều chất thơ Một số bài kí củaNguyễn Trung Thành, một vài chương trong Miền Tây của Tô Hoài và HònĐất của Anh Đức thường được xem là giàu chất thơ Do đó ranh giới giữa thơ
và văn xuôi không phải bao giờ cũng dứt khoát, cũng dễ phân định bằng mộtvài tiêu chuẩn xác định nào Hêghen cũng có căn cứ khi nói lên một thực tế làkhông phải lúc nào cũng dễ vạch ra một cách chính xác sự khác nhau giữathơ và văn xuôi L.Tônxtôi cũng có lúc cho rằng: “Tôi không bao giờ biết đâu
là ranh giới giữa văn xuôi và thơ ca” Phải chăng “vấn đề là một vần, một điệuthơ, một cách sang hàng khác thường, một cách nói không như lệ thường,một tiếng kêu, một cơn giận, một niềm ân ái yêu thương… Nhưng rồi lại cónhững sự hôn phối, những kết hợp, những sự lai tạp Có những bài văn xuôi
có tính chất thơ và những bài thơ bằng văn xuôi Có những cuốn tiểu thuyếtthơ và nhiều cuốn tiểu thuyết khác thì lại không thế Con đường phân ranhgiới không phải lúc nào cũng rành mạch liên tục
Trang 23Nhiều nhà thơ đã dùng những cách nói, những hình ảnh khác nhau đểnêu lên sự khác biệt giữa văn xuôi và thơ Puskin cho rằng thơ và văn xuôicũng như lửa và băng, Pôn Valêri xem con đường đi từ văn xuôi đến thơ cómột cái gì gần với bước phát triển từ lời nói đến tiếng hát, từ bước đi đến điệunhảy Có nhà thơ xem thơ là nỗi khổ đau có một cái gì đấy huyền bí và linhthiêng, còn văn xuôi là một niềm vui dễ hiểu (Nagruzzi) Có người phân biệtnhịp điệu trong thơ và văn xuôi như tốc độ của một chuyến tàu tốc hành vàmột con tàu thường Thực ra những cách so sánh trên vẫn chưa nói lên được
gì nhiều lắm về sự khác nhau giữa thơ và văn xuôi Phân biệt thơ và văn xuôikhông hoàn toàn chỉ là một việc làm có tính chất học thuật thuần túy mà nhiềukhi bộc lộ trực tiếp những vấn đề về quan điểm Một loại khuynh hướng kháphổ biến là đối lập thơ và văn xuôi, chất thơ và chất văn xuôi, để qua đấy xemthơ là cái gì cao quý, thanh khiết, thoát li khỏi đời sống hiện thực tầm thường,nhỏ nhặt, thô thiển vốn là nội dung chủ yếu của văn xuôi Hêghen xem vănxuôi như một cái gì nhạt tẻ và hằng ngày đối lập với thơ giàu tưởng tượngđắm say và bay bổng hơn Nitsơ cho rằng viết văn xuôi hay “là nhằm nghĩđến thơ bởi vì văn xuôi là một cuộc chiến tranh độc đáo không ngừng với thơ,không ngừng tách ra khỏi thơ và đối lập với thơ”, P Valêri cũng đối lập mộtcách cực đoan giữa thơ và văn xuôi Valêri xem việc viết thành văn xuôi mộtbài thơ là một hành động tà giáo (acte dhérésie) Valêri phê phán quan niệmcủa Đalămbe về mối quan hệ nhất trí giữa thơ và văn xuôi, Valêri cho rằngĐalămbe tưởng mình nói về thi ca nhưng thực ra dưới các danh từ đó ông talúc đó đang nghĩ đến những điều hoàn toàn khác thế
Thực ra thì Đalămbe đã có lí (nếu không phải là ông ta đồng nhất) khinêu lên sự thống nhất giữa thơ và văn xuôi như một nguyên tắc cần chấpnhận “Theo tôi thì đây là quy luật nghiêm ngặt nhưng đúng mà thế kỉ củachúng ta đã đề ra buộc các nhà thơ phải chấp nhận: nó chỉ thừa nhận là tốtbằng thơ những gì mà nó sẽ thấy được rất tốt nếu viết ra dưới thể văn xuôi”
Văn xuôi là tiếng nói trực tiếp của đời sống hằng ngày mà chúng tathường bắt gặp trong tiểu thuyết, các thể kí, các vở kịch Về dung lượng nó
Trang 24thường rộng lớn hơn, phong phú và cũng bề bộn hơn nhiều lần cái mà thơ cókhả năng chứa đựng Về tính chất, văn xuôi đi sát với cuộc sống, nó có khảnăng đề cập và mang trong nội dung những phẩm chất đa dạng của đời sốngqua sự chọn lọc, tuyển lựa theo quy luật điển hình hóa của nghệ thuật Vềhình thái biểu hiện thì văn xuôi là tiếng nói đi sát và gần như trùng với tiếngnói hằng ngày Đó là tiếng nói tự nhiên giàu chất liệu và sức sống, đó là tiếngnói gọn gàng, khúc chiết của tư duy vừa được nghệ thuật hóa, lại vừa giữđược sự dễ hiểu, rõ ràng, giản dị của hoạt động giao tế hằng ngày Puskincũng nhận xét: “Sự chính xác và gọn gàng là những phẩm chất đầu tiên củavăn xuôi Văn xuôi đòi hỏi tư tưởng và tư tưởng Thiếu tư tưởng thì nhữngcách biểu hiện rực rỡ cũng chẳng dẫn tới đâu”.
Những đặc điểm của văn xuôi xác định một nguyên tắc thực tế khôngthể đối lập thơ với văn xuôi nếu nghĩ rằng thơ cũng từ cuộc sống mà ra; sựthêm bớt những nhân tố nào đó trong văn xuôi và đặt nó trong không khí vàmột văn cảnh thích hợp thì có thể chuyển hóa thành thơ và ngược lại Từ thơtrở về với văn xuôi cũng có những nẻo đường cụ thể Gơt đã có những nhậnxét thật đúng đắn khi tác giả xác định rằng “bài thơ chỉ nên vượt khỏi văn xuôimột chút thôi” Trong nghệ thuật thơ, cái ranh giới ấy cần phải được phát hiện
và xác định một cách tinh tế Với bất kì tác phẩm văn xuôi chân chính nào đều
có cái thi vị của thơ và phần thi vị của riêng nó Và trong những sáng tác thơ
có giá trị cũng cần và có thể có cái khỏe khoắn, vững chãi và giản dị chânchất của văn xuôi Tách rời hoặc đối lập thơ ca và văn xuôi là không đúng vàkhông phù hợp với thực tế sáng tác và thực tế đời sống Văn xuôi đối lập vớithơ, loại trừ mọi chất thơ sẽ rơi vào lí trí khô khan và thô sơ nghèo nàn Vềphần thơ, nếu tách rời hoặc vượt quá xa văn xuôi sẽ thiếu chất sống trực tiếp,
dễ ngọt ngào một cách chung chung và lơ lửng trong không khí
Nhiều sáng tác thơ ca thời kì trước cách mạng có xu hướng đối lập vớivăn xuôi Về nội dung, phần lớn những bài thơ có tính chất thoát li chứa đựngnhững cảm nghĩ viển vông, xa thực tế Khi nhà thơ viết:
Trăng vừa đủ sáng để gây mơ
Trang 25Gió nhịp theo đêm không vội vàng
Khí trời quanh tôi làm bằng tơ
Khí trời quanh tôi làm bằng thơ
thì bản thân những câu thơ trên tuy cũng “hấp dẫn” nhưng xa lạ với âmhưởng của một cuộc sống thực Chất liệu để tạo nên câu thơ thuần túy làchất liệu của “tâm hồn” – một tâm hồn ủy mị thoát li – đã nhân lên nhiều lầnnữa khoảng cách giữa nó và cuộc sống, và loại trừ tất cả những chất liệu hiệnthực, những yếu tố mà văn xuôi trực tiếp sử dụng Một phương diện khác, dochịu ảnh hưởng nhiều của quan điểm duy mĩ, hình thức, chạy theo sự gọtgiũa về vần điệu, hình ảnh, nên những câu thơ khác đi nhiều với lời nói thôngthường Những câu thơ trên nếu không mang dấu vết của văn xuôi – có thểgọi đó là một ưu điểm? – thì cũng nặng nề và tác hại bởi nó đã thoát li thực
tế, ru người đọc vào một thế giới mơ hồ, xa lạ
Sau Cách mạng, thơ trở về gần với đời sống Chất liệu phong phú củađời sống hiện thực thâm nhập vào trong thơ Các sáng tác thơ đều trực tiếp
đề cập đến những vấn đề nóng hổi của thực tế chiến đấu và sản suất Nhữngbức tranh, những hình ảnh nhiều màu sắc của đời sống, những cảm xúc, tâmtrạng và liên tưởng giàu sức sống là nội dung chủ yếu của sáng tác thơ.Nhiều lúc cái phong phú của nội dung đã làm rạn nứt khuôn khổ gò bó củacâu thơ cách luật Thơ tự do xuất hiện và phát triển dần trở thành chủ thể đápứng được yêu cầu phản ánh cuộc sống muôn hình muôn vẻ Nhiều nhà thơ
có ý thức tránh và khắc phục khuynh hướng viết về cuộc sống quá ngọt ngào,trữ tình và thơ mộng Cần có một hướng đi sát với thực tế hơn, một cách nóigiản dị chân chất Họ tìm về lối viết mộc, khỏe, nhiều khi trần trụi để nói chođược chiều sâu cũng như cái đa dạng của cuộc sống Xuân Diệu, Tế Hanh,Huy Cận, Hoàng Trung Thông…, ở những mức độ khác nhau, đều bộc lộ rõ
xu hướng đưa cuộc sống trực tiếp vào trong thơ Trong lớp thơ trẻ, PhạmTiến Duật là một trường hợp tiêu biểu
Về mặt hình thức biểu hiện, theo hướng đi về với cuộc sống và trongthể tự do, câu thơ có khuynh hướng từ tiếng hát, lời ca, lời nói khúc điệu trở
Trang 26về gần với lời nói thông thường Trong lời thơ cách luật, thường mỗi câu thơbộc lộ rõ một cấu trúc hoàn chỉnh, nhịp nhàng của nhịp điệu do luật hòa hợphoặc đối xứng về âm thanh và ý nghĩa tạo nên Câu thơ bảy chữ trong thể thơthất ngôn bát cú, câu thơ lục bát, câu thơ ngũ ngôn… đều mang rõ nét đặcđiểm trên Câu thơ tự do nhiều khi tồn tại dưới dạng của một câu văn xuôi,gần với lời nói Trong nhiều bài thơ hiện nay có thể lấy ra nhiều câu thơ mà tự
nó rất khó để phân biệt với câu văn xuôi Qua những bài thơ được giải củaPhạm Tiến Duật, đặc điểm này bộc lộ khá rõ Bài thơ Nhớ là một bàị thơ tứtuyệt, và cấu trúc của thể thơ tứ tuyệt thường là cấu trúc vững chắc, cân đối,
có sự hài hòa về nhịp điệu Nhưng thực ra trong bài thơ vẫn có sự co giãn vềcâu chữ và có một câu văn xuôi
Cái vết thương xoàng mà đưa viện Hàng còn chờ đó, tiếng xe reo Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo.
“Cái vết thương xoàng mà đưa viện” Câu thơ trên gần với lời nói thôngthường Tuy nhiên nó không làm giảm đi thi vị của bài thơ mà lại là cần thiết
để nói lên một tâm trạng thật của người lái xe Một sự trách móc nhỏ, mộtchút phàn nàn, xuất phát từ nỗi lo lắng về trách nhiệm của mình đang thựchiện Bài thơ do đó thực và tự nhiên hơn Cũng có thể nghĩ như thế về ngườilái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính, những con người dũng cảm,yêu đời, bình thản trước mọi gian khổ, hiểm nguy Phạm Tiến Duật đã giữ lạicách nghĩ cách nói “văn xuôi” mộc mạc, nhưng lại chân thực, sinh động và sátđúng với đối tượng miêu tả “Không có kính không phải vì xe không có kính.Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất nhìntrời nhìn thẳng”, hoặc: “Không có kính ừ thì ướt áo Mưa tuôn mưa xối nhưngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng gió lùa khô mauthôi” Ở những trường hợp trên, câu thơ văn xuôi tỏ ra tích cực, góp phầntrực tiếp tạo nên chất hiện thực sinh động của bài thơ Vấn đề hết sức quantrọng là tinh thần, mức độ và ý thức nhạy bén trong việc sử dụng cũng như
Trang 27phân biệt ranh giới giữa thơ và văn xuôi Chúng ta có thể chấp nhận và cầnđến những câu thơ “là là văn xuôi” và thậm chí cả những câu văn xuôi, nhưngphải chú ý tới chốt thơ nội tại của những câu văn xuôi và giữ đúng liều lượngcần thiết và hạn chế của chất văn xuôi trong âm hưởng chung bao trùm củachất thơ trong toàn bài.
Trong tập thơ Ánh sáng và Phù sa, Chế Lan Viên giới thiệu một chùmthơ Văn xuôi về một vùng thơ Cái tiêu đề ấy nói lên một điều có ý nghĩa: sựthâm nhập của văn xuôi, của một cuộc sống bề bộn, nhiều màu sắc vào trongthơ Về một phương diện khác mà xét, thơ mở rộng giới hạn và khuôn khổcách luật chật hẹp để đón lấy sự sống bồi hồi và phong phú về nhiều mặt.Văn xuôi về một vùng thơ là một bức phác thảo giàu chất sống và âm hưởngcủa đời sống và cũng là bức tranh nên thơ
Tuy nhiên bên cạnh một hướng phát triển rất cần khuyến khích lại nảysinh những nhược điểm quan trọng cần khắc phục: nhiều bài thơ rơi vào địahạt của văn xuôi Trong thơ ca những năm gần đây có những trường hợpchất văn xuôi lấn át chất thơ Khuynh hướng này bộc lộ ở nhiều khía cạnh.Phổ biến hơn cả là sự lạm dụng yếu tố tự sự để cho bài thơ rơi vào kể lể,chất liệu đời sống thâm nhập một cách thiếu chọn lọc vào trong thơ Yếu tốcảm xúc bị giảm sút Hình tượng thơ chủ yếu được cấu tạo bằng một số bứctranh miêu tả hoặc một vài sự kiện Xuân Diệu là người đấu tranh tích cực đểđưa sự sống vào trong thơ, nhưng trong nhiều trường hợp anh rơi vào vănxuôi Phạm Tiến Duật cũng bộc lộ khá rõ nhược điểm này qua một số bàitrong tập thơ Vầng trăng–Quầng lửa Chất văn xuôi lấn át chất thơ, khuynhhướng buông thả cảm hứng và xem nhẹ cấu trúc hình thức của câu thơ vànhất là những liên tưởng có phần ngẫu nhiên và tùy tiện đã làm cho chất thơgiảm sút
Một số nhà thơ đã không chú ý đúng mức đến đặc điểm trong tư duycủa thơ ca Cần tránh lối suy luận có tính chất triết lí tư biện, lối phân tíchkhoa học, lối giáo huấn lộ liễu bằng lí thuyết và sự kể lể dài dòng Trí tưởngtượng đã bị thay thế bằng những nhận xét và phán đoán vừa đơn giản vừa
Trang 28quá cụ thể Bài thơ dừng lại ở những ghi chép tư liệu và suy luận thôngthường, không cất cánh bay lên được Tất nhiên là trong thơ cần tránh sự cầu
kì khó hiểu và lối nói quanh co không cần thiết, nhưng một mặt cũng cầntránh một cái gì quá rõ ràng đến thật thà đơn giản Cái điều mà Lê Quý Đônnhác đến khi nói về phẩm chất của thơ là “ý kị thẳng, mạch kị lộ” cũng làmuốn tránh cho thơ khả năng rơi vào văn xuôi Ở trong một ý tưởng cũng nhưcấu trúc của câu văn xuôi thường tính chất lôgic thâm nhập vào rõ rệt có tácdụng làm nội dung bộc lộ trực tiếp Mối quan hệ giữa những thành phần trongmột câu theo một trình tự cấu tạo thông thường về cú pháp, tính chất chínhxác và minh bạch của sự phô diễn, mối liên hệ nhân quả giữa các suy nghĩ vàcảm xúc, tính xác định và xác thực của những biểu tượng và hình ảnh thường
là đặc điểm phổ biến của lời nói hàng ngày cũng như của phần lớn nhữngcâu văn xuôi Thơ ca là tiếng nói hàm xúc và diễn cảm Trên một hướng định
tư tưởng rõ rệt, một mục tiêu xác định, những cảm xúc và tâm trạng trong thơ
đi về, khi bộc lộ, khi ẩn kín, khi hiện lên trên những dòng chữ, khi đằm xuống
và ẩn vào bên trong và có khi chỉ nhầm gợi lên một điều gì chặng đường suynghĩ
III NHỮNG YẾU TỐ TẠO NÊN CHẤT THƠ TRONG ĐỜI SỐNG VÀ VĂN HỌC
Người ta thường nói đến chất thơ trong tác phẩm văn học và trong đờisống Khi nói đến chất thơ là nói tới nhân tố thuộc nội dung Chất thơ có thểnằm đây đó trong cuộc sống ở những mặt kết tinh tiêu biểu, hoặc ở trong vănxuôi Nhưng nói như Huygô, chất thơ bộc lộ một cách diễn cảm, màu sắc quacấu trúc của ngôn ngữ thi ca
Trong đời sống hằng ngày, khi nói đến chất thơ, thường có thói quennghĩ đến cái gì đẹp, thơ mộng, lí tưởng và bay bổng như một phong cảnh nênthơ, một tâm hồn đầy thơ mộng Người ta ít nghĩ hơn đến chất thơ trongnhững cảnh đời lam lũ, mệt nhọc, hay những cảnh tượng bề bộn, tăm tối.Quan niệm ấy dường như đã trở thành một thói quen trong cảm nghĩ củanhiều người, tuy có phần đúng nhưng thật là không đủ và có tính chất hẹp
Trang 29hòi Quan niệm trên sẽ gây tổn hại nếu chi phối đến hoạt động nhận thức vàsáng tác thi ca Dĩ nhiên trong cuộc sống không phải mọi đối tượng, mọi cảnhngộ và sự việc đều nên thơ như nhau Nhưng cũng không thể xác định rằng
có đối tượng nên thơ và đối tượng không nên thơ Vấn đề là ở mức độ vàphân lượng khác nhau Và quan trọng chính là sự phát hiện Biết phát hiện ởđối tượng khách quan phần nên thơ của nó, cung cấp cho nó một hình dáng,một cách giải thích, một lí tưởng đẹp Đó chính là nhiệm vụ chung của nghệthuật và trực tiếp của thi ca Thi ca không loại trừ một đề tài nào, một đốitượng nào Thi ca có mặt ở khắp mọi nơi Nói như Tsecnưsepxki: “Ở đâu có
sự sống là ở đấy có thơ ca” Thật vậy, ở đâu có cuộc sống là ở đấy có nhữngmối quan hệ xã hội được thiết lập, có những vấn đề đặt ra chung cho conngười, có quá khứ, có hiện tại và có phần dự kiến đang được thực hiện chotương lai Ở đâu có cuộc sống là ở đấy có hoạt động sống tạo của con người.Trong những cảnh ngộ riêng của nó, con người đang vượt qua những khókhăn của đời sống khách quan và những thử thách của chính mình nữa Conngười cùng đang hồ hởi trong niềm vui sáng tạo nhận lấy những thành quả
do mình tạo nên, những giá trị về vật chất và tinh thần Phạm vi nào của đồisống, cũng như bất kì một khâu nào trong quá trình sáng tạo, một vị trí nàotrong cả dây chuyền chung, một trách nhiệm xã hội nào… cũng đều có thể làđối tượng của hoạt động sáng tạo thi ca Thơ ca của chủ nghĩa lãng mạn, thơ
ca hiện thực và tượng trưng, thực sự đã đem cuộc sống với toàn bộ sựphong phú và đa dạng của nó vào làm giàu cho thơ Dường như bất kì một đềtài nào cũng có thể làm thơ, đều có thể khai thác để tạo nên chất thơ Hồ ChíMinh, qua tập thơ Nhật kí trong tù, đã chỉ ra những bài học cụ thể về phươngdiện này Trong tập thơ có những giấc mộng đẹp, những đêm trăng đầy thi vị,nhưng cũng có biết bao nhiêu hình ảnh của đời sống đi vào trong thơ Chođến một chiếc gậy, một mụn ghẻ, một chiếc răng rụng… cũng là đề tài củathơ Ở những đối tượng này, cái nên thơ không bộc lộ ra ở bên ngoài Dĩnhiên nếu miêu tả những đối tượng trên theo cách sao chép và mô phỏng tựnhiên thì khó để tạo nên chất thơ Nhưng nếu phát hiện được, một nét chủyếu nào đó ẩn sâu trong bản của đối tượng và cung cấp cho nó một liên
Trang 30tưởng đẹp, một sự giải thích và tô điểm giàu ý nghĩa thẩm mĩ và ý nghĩa xãhội thì chất thơ sẽ xuất hiện và bao trùm lấy hình tượng Bài thơ đánh mấtgậy của Hồ Chí Minh là một ví dụ tiêu biểu mẫu mực:
Suốt đời ngay thẳng lại kiên cường Dìu dắt nhau đi mấy tuyết sương Giận kẻ bất lương gây cách biệt Hai ta dằng dặc nỗi buồn thương.
Những đặc tính vật lí của cây gậy (thẳng, cứng rắn) và khả năng ứngdụng của nó được chuyển hóa sang thành những phẩm chất đạo đức giàuchất thẩm mĩ (ngay thẳng, kiên cường, chung thủy…) Chất thơ xuất hiệnngay từ câu đầu và được triển khai trên nhiều bình diện Bản thân đối tượngmiêu tả được ca ngợi, nhưng điều quan trọng hơn chính là lí tưởng thẩm mĩtiến bộ và phẩm chất đạo đức cao cả của nhà thơ đã soi rọi vào hình tượng,phát hiện ở đối tượng mặt bản chất thích hợp để từ đó nâng cho hình tượngthơ bay lên bằng những phẩm chất thẩm mĩ mới, tích cực
Khác với chất thơ trong đời sống thường được quan niệm như một cái
gì đẹp, thơ mộng, tồn tại khách quan, chất thơ trong nghệ thuật bao gồm sựthống nhất giữa những phẩm chất của đối tượng khách quan với cảm hứngsáng tạo chủ quan của nhà thơ Thực tế khách quan được chọn lọc ở nhữngmặt kết tinh tiêu biểu, ở những chi tiết và hình ảnh chân thực, là tiền đề trựctiếp nhất để tạo nên chất thơ Bản thân những chất liệu hiện thực phong phú
đó có tác dụng gây cảm xúc và góp phần biểu hiện cảm xúc Những nhân tốđặc biệt quan trọng để tạo nên chất thơ là phần cảm xúc và suy nghĩ chủquan của nhà thơ Những hình tượng thơ ca chân chính đều chứa đựng một
lí tưởng đẹp, một sức tưởng tượng phong phú và những xúc cảm lắng đọngsâu sắc
Chất thơ là một phẩm chất tổng hợp được tạo nên từ nhiều nhân tố.Những nhân tố này cũng có thể có trong nội dung cấu tạo của các thể loạikhác, nhưng ở thơ biểu hiện tập trung hơn, và được hòa hợp, liên kết một
Trang 31cách vững chắc để tạo nên những phẩm chất mới Ví dụ như tình cảm vàtưởng tượng là những nhân tố có chung cho các thể loại văn học, nhưng vớithơ lại biểu hiện tập trung hơn, rõ nét hơn.
Xác định chất thơ tất nhiên là một vấn đề khó, rất khó Đúng như nhàvăn Nguyễn Tuân nhận xét: “Định nghĩa về chất thơ cho thật chính xác vàtoàn thập, tôi thấy nó cũng khó như định nghĩa cho chất uymua (humour)”.Nhưng khi chúng ta đã quan niệm thơ không phải là một cái gì thần bí siêuviệt, thơ gắn liền với cuộc sống, với tâm hồn con người và năng lực sáng tạoqua người nghệ sĩ thì việc tìm hiểu chất thơ lại là cần thiết và có thể tiến hànhđược trên những nét lớn dễ chấp nhận
1 Chất thơ trước hết gắn liền với sự rung động và cảm xúc trực tiếp
Yếu tố cảm xúc, nhất là cảm xúc ở dạng trực tiếp của chủ thể, là mộtnhân tố rất cơ bản để tạo nên chất thơ Khi cảm xúc mất dần trong cảm hứngsáng tạo thi ca, tư duy của nhà thơ nặng về mặt phán đoán suy tưởng thi chấtthơ cũng bị hạn chế, hình tượng thơ yếu hẳn về mặt gợi cảm
Nếu xem bản chất giàu cảm xúc là một năng lực tinh thần thuộc về bảnchất của người nghệ sĩ thì điều đó trước hết phải có ở người thi sĩ “Ngườilàm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng” Cảmxúc là nhân tố trọng yếu cấu tạo nên hình tượng thơ Khi cảm xúc thâm nhậpnhiều vào câu văn xuôi, kết cấu lôgic của câu văn xuôi không được xác định
rõ nét nữa thì câu văn xuôi đã có xu hướng chuyển thành câu thơ Tố Hữuviết:
Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi.
Câu thơ trên có thể chuyển dịch thành câu văn xuôi đồng nghĩa nếugiảm đi tán thán từ ơi và không dùng đảo ngữ để nhấn mạnh cảm xúc và suynghĩ:
Tổ quốc ta đẹp vô cùng
Trang 32Tuy đồng nghĩa nhưng câu trên là thơ, là lời xúc động của cõi tim, làtiếng nói của tình cảm và lòng thiết tha quý yêu đất nước Câu dưới là vănxuôi, là một nhận định, một suy nghĩ Yếu tố cảm xúc đã góp phần quyết địnhcái gì là thơ và không phải là thơ Đấy cũng là trường hợp những câu như:
Đau đớn thay phận đàn bà
(NGUYỄN DU)
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
(CHẾ LAN VIÊN)Tất nhiên có nhiều cách để tạo nên cảm xúc hoặc qua miêu tả hìnhảnh, hoặc qua liên tưởng, so sánh hoặc qua nghệ thuật Sử dụng ngôn ngữ
Sử dụng tán thán từ để gây cảm xúc tuy không phổ biến nhưng cũng là hìnhthức dễ thấy nhất Trong phạm vi những hình thức sử dụng ngôn ngữ, có thểtìm thấy nhiều phương thức khác như đảo ngữ, điệp ngữ, đối ngữ, chỗngừng, chỗ ngắt, v.v… để làm tăng cường yếu tố gợi cảm của câu thơ Vềmặt nội dung có thể ý nghĩa của câu không khác đi, nhưng chính ngữ điệucủa câu đã mang tính chất diễn cảm theo trật tự mới Ngôn ngữ lôgic trởthành ngôn ngữ diễn cảm với sắc thái tu từ và ngữ điệu mới nên thực sự yêucầu truyền đạt của nội dung cũng khác đi
Tất nhiên có thể sử dụng những biện pháp đổi thay cấu tạo của câu thơ
về mặt kết cấu cú pháp, và sử dụng ngôn từ để gia tăng cảm xúc Nhưng đóchỉ là biện pháp thứ yếu, có tính chất thuần túy kĩ thuật Quan trọng và có ýnghĩa quyết định chính là ở tấm lòng “Thơ là tiếng lòng” “Thơ từ trái tim đi vàtrở về với trái tim” “Thơ là nhiệt tình kết tinh lại” “Hãy đập vào trái tim anh,thiên tài là ở đấy” Bản chất giàu cảm xúc của người nghệ sĩ sẽ quyết địnhtính chất phong phú về cảm xúc của bình tượng thơ Nhiều nhà lí luận đã xemcảm xúc là nhân tố chủ yếu cấu tạo nên hình tượng thơ “Hình tượng thơ làhình tượng của cảm xúc” Và do đặc điểm đó nên các bài thơ trữ tình thườngđược viết ra trong thời điểm mà tâm hồn nhà thơ xao xuyến rung động hoặc ởtrạng thái khá căng thẳng của cảm xúc Tố Hữu cũng nói về trạng thái của
Trang 33nhà thơ khi sáng tạo: “Mỗi khi có cái gì nghĩ ngợi chất chứa trong lòng khôngnói ra không chịu được thì lại thấy cần làm thơ” Nêkraxôp tâm sự: “Nếunhững nỗi đau khổ đã từ lâu bị kiềm chế nay sôi sục và dâng lên trong lòngthì tôi viết…” Lecmôntôp cũng thừa nhận sự thực đó: “Có những đêm rất khổ,không ngủ được, mắt rực cháy và thổn thức, lòng tràn ngập nhớ nhung… khi
đó tôi viết” Đó cũng là tâm trạng của Gơt, của Sinlơ Những cảm xúc rạo rực
đã tạo nên một trạng thái đặc biệt trong quá trình sáng tác thơ: trạng thái rungđộng thực sự; những hình ảnh, những cảm nghĩ bay lượn, đi về sự dồn ép vàbùng cháy của cảm xúc và ý tưởng Cảm xúc là gốc của hồn thơ “Thơ khôngchấp nhận trạng thái bàng quan” (Garxia Lorka) Không thể chỉ làm thơ bằng
óc, thuần túy bằng sự tỉnh táo của lí trí phán đoán và phân tích “Sự truyềnđạt lại một trạng thái thơ đòi hỏi phải đưa vào đấy toàn bộ con người cảm xúc
là điều khác với sự truyền đạt lại một ý tưởng” (P.Valêri) Thơ phải “làm chongười ta không còn thấy câu thơ, chỉ còn cảm thấy tình người” (Tố Hữu)
2 Thơ là ở tấm lòng, nhưng thơ cũng chính là cuộc sống
Trong thơ có nhiều câu được cấu tạo nên chủ yếu bằng cảm xúc, bằngthuần túy chất liệu của tâm hồn Những câu thơ đó là sự bộc lộ trực tiếp cảmxúc và suy nghĩ của nhà thơ:
Nếu tâm sự cùng ta bạn hỏi Tiếng nào trong muôn ngàn tiếng nói Như nỗi niềm nhức nhối tim gan?
Trong lòng ta, hai tiếng: Miền Nam!
(TỐ HỮU)Tuy nhiên những cảm nghĩ của nhà thơ phải lấy điểm tựa ở phần hiệnthực được chọn lọc Biểu hiện bao giờ cũng phải gắn liền với miêu tả Hay nóinhư Xuân Diệu là trong thơ ngoài cái tâm hồn của sự vật còn phải có cái thânthể của sự vật: “Chẳng lẽ chỉ nói trong thơ: “Tôi thích lắm, tôi yêu lắm, ồ cảmtưởng đẹp lắm” Nên đề phòng chỉ chuyên lấy tinh chất, chỉ chú về cảm xúc,đến nỗi bài thơ như con chim không có chỗ đậu nữa, thế là bay đi mất tăm”
Trang 34Khi Tú Xương bộc lộ những cảm nghĩ của mình về sự đổi thay của thời cuộc,
đã miêu tả phần hiện thực của đời sống:
Sông kia rày đã nên đồng Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai
và trên cơ sở đó là hiện thực tâm trạng:
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.
Tương quan và sự hòa hợp giữa hiện thực đời sống và hiện thực tâmtrạng không được xác định, gò bó theo một tỉ lệ và phân lượng nhất định nào
mà tùy thuộc vào đối tượng miêu tả, vào sự phong phú và bản sắc riêng củatâm hồn nhà thơ Thơ ca chủ nghĩa lãng mạn thường loại trừ hoặc xem nhẹphần miêu tả hiện thực, hoặc chỉ sử dụng miêu tả như một phương tiện đểbiểu hiện Thơ ca của chủ nghĩa hiện thực chú ý nhiều đến những bức tranhcủa đời sống hiện thực và nhiều khi phần biểu hiện lại lui về bình diện thứ haihoặc bộc lộ kín đáo qua miêu tả Không có miêu tả, những cảm xúc và suynghĩ sẽ trở nên chơi vơi, thiếu điểm tựa và nhiều khi rơi vào chủ quan, tưbiện Những bài thơ hay, những câu thơ hay thường kết hợp được sóng đôihai mặt này
Miêu tả để hỗ trợ cho biểu hiện, nhưng mặt khác miêu tả cũng có giá trịđộc lập của nó Trong thơ rất cần đến những bức tranh về đời sống hiện thực.Thơ trữ tình không có khả năng chấp nhận sự có mặt của đời sống ở dạngthức một câu chuyện hoặc một sự kiện được miêu tả hoàn chỉnh Đó là nhiệm
vụ và phần việc của tiểu thuyết, của truyện thơ Hiện thực của đời sống đi vàotrong thơ không theo diện mà theo điểm Những hình ảnh tiêu biểu nhất đượcchọn lọc để miêu tả và sẽ được liên kết trong nhận thức, và liên tưởng củangười đọc thành những bức tranh giàu sức sống, sinh động và chân thực Đó
là phần tiêu biểu của hiện thực, cái tính chất được chọn lựa chắt lọc ra từ đờisống và sẽ trực tiếp tạo thành chất thơ Trong thực tế có những bài thơ kể lểrất nhiều, hoặc miêu tả một cách tham lam, sử dụng nhiều chi tiết, nhiều hình
Trang 35ảnh nhưng vẫn thiếu chất thơ Chất liệu và hình ảnh của đời sống hiện thựcchỉ có giá trị thơ khi nó có tính chất tiêu biểu, điển hình và có khả năng gâyxúc cảm Đó là một quy, luật chi phối rõ rệt đến việc sáng tạo hình ảnh trongthơ Có thể chỉ một hình ảnh vẫn có sức gợi cảm mạnh mẽ khi nó kết tinhđược nhiều sự sống Nguyễn Du trong bài thơ Chiêu hồn đã dựng lên nhữnghình ảnh hết sức điển hình cho từng loại có hồn mà cũng là những loại ngườitrong đời sống Chỉ một hình ảnh:
Đòn gánh tre chín dạn hai vai
đã gợi lên biết bao nổi cực nhọc của loại người buôn bán gánh gồng, đingược về xuôi Tác giả tuy không bộc lộ trực tiếp tình cảm, nhưng tự bêntrong hình ảnh vẫn phảng phất một mối thương cảm thầm kín
Khi một hình ảnh ở trong thơ kết tinh được những mặt tiêu biểu và điểnhình của cuộc sống thì tự nó lớn hơn rất nhiều lần phạm vi xác định của nó.Nguyễn Huy Lượng trong bài phú Tụng Tây hồ đã sử dụng nhiều hình ảnh rấtđẹp và tiêu biểu để nói lên không khí thanh bình của đất nước
Vẻ hoa lẫn dấu cờ năm thức Mặt nước in bóng giáo ba ngù
Không thể khác được, đây là dấu hiệu, là biểu tượng của một chínhquyền đang thịnh trị trong một đất nước không có giặc giã, chiến tranh Mởrộng hơn hệ thống hình ảnh trong sáng tác, Nguyễn Huy Lượng đã dựng lênnhững bức tranh đẹp phản ánh bộ mặt đất nước đang sống trong cảnh thanhbình, trong nếp lao động quen thuộc sớm hôm:
Chày Yên Thái nện trong sương chểnh choảng Lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước quanh co Liễu bờ kia bay tơ biếc phất phơ, thoi oanh ghẹo hai phường dệt gấm
Sen vũng nọ nảy tiền xanh lác đác, lửa đóm ghen năm xã gây lò Cầm ve gẩy lầu thư ảnh ói
Trang 36Mõ cuốc khua án kệ rì rù
Một thời đại, một khung cảnh xã hội có thể được miêu tả đầy đủ, nhiềumặt trong tiểu thuyết, cũng có thể bộc lộ ra ở một số hình ảnh điển hình trongthơ Những tài năng lớn trong thi ca có khả năng nắm bắt được những mặtkết tinh tiêu biểu này Trong một số câu thơ Đỗ Phủ đã tả được cả một thờiloạn li vì những cuộc chiến tranh phong kiến:
Xe rầm rập Ngựa hí vang Người đi cung tên đeo bên lưng Cha mẹ vợ con chạy theo tiễn Bụi mù che lấp cầu Hàm Dương Níu áo giậm chân, cản đường đi, cùng nhau khóc…
Tiếng khóc vọng lên tận mây xanh.
(Binh xa hành)
Tú Xương cũng thâu tóm được cái lố lăng và đau long của thời cuộc khichế độ thực dân đã đè nặng lên đầu dân ta:
Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ
Ậm ọe quan trường miệng thét loa Lọng cắm rợp trời quan sứ đến Váy lê quét đất mụ đầm ra.
Cuộc sống được nói lên bằng hình ảnh, và tâm trạng cũng bộc lộ kínđáo đằng sau những hình ảnh được miêu tả như có vẻ khách quan
Hiện thực ở những nét tính chất đều có tác dụng gây cảm xúc mạnh và
có khả năng nói lên nhiều mặt tiêu biểu cửa đời sống Chính đó là tiền đề củachất thơ và nhiều khi bản thân nó là chất thơ cô đọng Chính Hữu đã gợi tảkhông khí lên đường của cả nước trong những năm chống Mĩ với niềm vuidạt dào, hổ hởi:
Trang 37Có những buổi vui sao, cả nước lên đường Xao xuyến bờ tre từng hồi trống giục
Xóm dưới làng trên con trai con gái Xôi nắm cơm đùm ríu rít theo nhau Súng nhỏ súng to chiến trường chật chội Tiếng cười hăm hở đầy sông đầy cầu.
Cái cụ thể của từng hình ảnh, từng chi tiết đều có sức gợi góp phần tạonên một bức tranh nhiều màu sắc, một không khí vui tươi, đằm thắm và trongchiều sâu của hiện thực như đang trỗi dậy cả sức sống của dân tộc Đấychính là chất thơ nguyên vẹn, khỏe khoắn Đúng như nhận xét của nhà vănNguyễn Tuân khi phân biệt cái cụ thể và hữu hình trong thơ và văn xuôi:
“Theo tôi nghĩ, thơ là ảnh, là nhân ảnh, thơ cũng ở loại cụ thể hữu hình.Nhưng nó khác với cái cụ thể của văn Cũng mọc lên từ cái đống tài liệu thực
tế, nhưng từ một cái hữu hình nó thức dậy được những vô hình bao la, từ mộtcái điểm nhất định mà nó mở ra được một cái diện không gian, thời gian,trong đó nhịp mãi lên một tấm lòng sứ điệp”
3 Thơ gắn nhiều với trí tưởng tượng
Trí tưởng tượng là một năng lực của tư duy góp phần rất tích cực vàohoạt động nhận thức của con người, đặc biệt là nhận thức nghệ thuật Trítưởng tượng là một đường dây nối liền những hiện tượng tưởng như riêng rẽ,cách biệt nhau thành một nguồn mạch thống nhất Trí tưởng tượng chắp cánhcho tâm hồn bay lên vượt khỏi những giới hạn xác định của một địa điểm vàthời điểm cụ thể mà trở về với quá khứ, sống trong ước mơ với tương lai Trítưởng tượng là một động lực tinh thần quyết định giờ phút nhổ neo cho conthuyền tìm về những mảnh đất xa xôi và những bến bờ xa lạ, ở đấy một giấc
mơ có khả năng trở thành một sự thực Tưởng tượng cũng chính là thêm vàocái có thật phần nên có và sẽ có, là sự chuẩn bị tích cực cho một hành độngsáng tạo và bản thân nó là một sự sáng tạo
Trang 38Nói đến thơ là nói đến sức tưởng tượng Nhà thơ Sóng Hồng đã chỉ rađặc điểm quan trọng này của thơ: “Thơ là nghệ thuật kì diệu bậc nhất của trítưởng tượng” Trong thơ cho dù chỉ là một hình ảnh giản dị, một sự so sánhliên tưởng nào đó cũng đòi hỏi phải có sự tưởng tượng Khi Tố Hữu viết:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim
thì trong những câu thơ đẹp và chân tình ấy đã chứa biết bao nhiêu sứctưởng tượng Ánh sang của cách mạng, của chân lí, nỗi xúc động và niềm vuilớn lao của tâm hồn đã trở nên kì diệu, trong vẻ đẹp đầy hương sắc và rộn
âm thanh qua sự liên tưởng, so sánh của trí tưởng tượng
Trong thơ Huy Cận, hình ảnh một con cá song đã được tạo nên bằngnhiều tưởng tượng đẹp:
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe Sao thở đêm lùa nước Hạ Long
Chế Lan Viên lại tiếp nối sức tưởng tượng ấy và đưa nó về gần vớicuộc sống của con người:
Con cá song cầm đuốc dẫn thơ về
Ngọn đuốc ấy, hồn thơ ấy đều lấy điểm tựa từ trong trí tưởng tượng Chỉ mộtvầng trăng thôi, một vầng trăng như vẫn có tự muôn đời; vầng trăng đã chứngkiến biết bao lời hò hẹn và bao cảnh chia li, vầng trăng đã có mặt và tỏa ánhsáng chia vui trong những đêm hội hè, vầng trăng của nhiều lứa tuổi và nhiềutâm sự; vầng trăng đã đi vào trong thơ khác với hình bóng ấy ở trong văn xuôibiết bao nhiêu Trí tưởng tượng trong thơ đã đưa vầng trăng nhập vào baocảnh ngộ Vầng trăng của nỗi nhớ thương, của sự xa cách trong thơ NguyễnDu:
Trang 39Vầng trăng ai xẻ làm đôi Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường
Ánh trăng của nỗi nhớ thương và của sự xa cách thường tỏa ra từ một vầngtrăng khuyết, một mảnh trăng non:
“Nửa vầng trăng khuyết ba sao giữa trời…”
“… Mảnh trăng liềm nghiêng một nỗi nhớ nhau”.
Nhiều khi hình ảnh của trăng lại được miêu tả để tạo nên những liên tưởng vềkhông gian, về thời gian Về thời gian, vầng trăng là một biểu tượng cụ thểbiết bao của sự đổi thay Trăng tròn rồi trăng lại khuyết, một đơn vị về thờigian, nhưng ý nghĩa bao quát hơn là sự trôi qua đi nhanh chóng của cuộc đời,của tuổi thanh xuân Tố Hữu đã để cho người kĩ nữ qua đó liên tưởng đếnthân phận mình:
Trăng lên, trăng đứng, trăng tàn Đời em ôm chiếc thuyền nan xuôi dòng.
Bằng Việt cũng qua hình ảnh của trăng mà nói về thời gian:
Bao đêm ngoài biển động Pháo sáng xanh vườn sau, Trăng mài mòn guốc võng Giặc rít ngang trên đầu.
Trăng cũng gợi lên ý niệm về không gian Tùy theo cái tư thế của conngười có làm chủ mình và làm chủ thiên nhiên hay không mà không gianmênh mông tràn ngập ánh sáng ấy là thân thuộc hay xạ lạ Trong thơ XuânDiệu thời kì trưốc Cách mạng, ánh trăng thường gợi lên một không gian quárộng đến choáng ngợp, đối lập với nỗi cô đơn, nhỏ bé của con người “Trăngsáng, trăng xa, trăng rộng quá Đấy cũng là một ánh trăng mờ ảo, tạo nên mộtkhung cảnh hư hư thực thực cùng những giấc mơ và những trạng thái buồn,không rõ rệt “Trăng vừa đủ sáng để gây mơ” Trăng trong thơ Hàn Mặc Tử
Trang 40có một cái gì ma quái hơn Khi thì ánh trăng trắng bạch đến rợn ngợp, đến ớnlạnh Khi thì ánh trăng được nhân cách hóa theo trí tưởng tượng:
– Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối Gió thu lọt cửa cọ mài chăn.
– Trăng nằm sóng soài bên cành liễu Đợi gió đông về để lả lơi.
– Bỗng đêm nay trước của bóng trăng quỳ Sấp mặt xuống cúi mình theo dáng liễu.
Ánh trăng đi vào trong thơ cách mạng với một vẻ đẹp nên thơ và gầngũi Ánh trăng của ngày mùa gặt hái, ánh trăng của trời biển quê hương,trăng du kích trong đêm công đồn, trăng của tình yêu hò hẹn Chính Hữu đãsáng tạo được một hình ảnh đẹp về trăng Người chiến sĩ trong đêm phụckích chờ giặc tới, luôn đứng vững trên vị trí chiến đấu của mình, mặc cho giólạnh phong sương
Đêm nay rừng hoang sương muối Đầu súng trăng treo.
“Đầu súng trăng treo” là một hình ảnh đẹp, vừa khỏe, vừa nên thơ Trítưởng tượng đã tạo nên trong thơ một bức tranh có giá trị tạo hình mà giàusức liên tưởng Hai đối tượng vốn xa cách trong không gian đã trở về nằmchung trong một bình diện: cây súng và vầng trăng Một biểu tượng của cuộcchiến đấu bảo vệ Tổ quốc, của tình cảm yêu nước căm thù giặc và một biểutượng của cái đẹp và cuộc sống thanh bình Nhưng không phải chỉ có thể nếunghĩ đến thời điểm đặc biệt của khung cảnh ấy Người lính vẫn đứng gác suốtđêm khuya trong đêm sương sa gió lạnh Trăng về sáng thấp dần xuống phíachân trời và ở một vị trí nào đó nếu nhìn từ xa thì vầng trăng như treo lơ lửngtrên đầu mũi súng Vốn từ xưa ánh trăng vẫn được miêu tả như một hình ảnhtương phản với chiến tranh với khói lửa và nhiều khi có sức gợi cảm rấtmạnh