Hướng nghiên cứu về những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực trong bút pháp nghệ thuật của các tác giả thơ Việt Nam hiện đại.... Đóng góp mới của luận án Luận án có những đón
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
-VŨ THỊ LAN ANH
NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA TƯỢNG TRƯNG
VÀ SIÊU THỰC TRONG THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Hà Nội - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
-VŨ THỊ LAN ANH
NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA TƯỢNG TRƯNG
VÀ SIÊU THỰC TRONG THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành:
Mã số:
Lý luận văn học
62 22 01 20 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Trần Khánh Thành
XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ
CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN
Người hướng dẫn khoa học Chủ tịch hội đồng đánh giá
Luận án Tiến sĩ
PGS.TS Trần Khánh Thành PGS.TS Đoàn Đức Phương
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan dưới đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quảnêu trong luận án là trung thực, đảm bảo độ chính xác cao nhất Các tài liệu thamkhảo trích dẫn có xuất xứ rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trìnhnghiên cứu của mình
Tác giả
Vũ Thị Lan Anh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Đóng góp mới của luận án 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Cấu trúc của luận án 5
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.1 Giới thuyết về chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực 7
1.1.1 Chủ nghĩa tượng trưng 7
1.1.2 Chủ nghĩa siêu thực 11
1.2 Nghiên cứu về chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực trong thơ hiện đại Việt Nam 14
1.2.1 Hướng nghiên cứu về những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực trong tư tưởng sáng tác của các tác giả thơ Việt Nam hiện đại 14
1.2.2 Hướng nghiên cứu về những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực trong bút pháp nghệ thuật của các tác giả thơ Việt Nam hiện đại 17
1.2.3 Hướng nghiên cứu về những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực trong thơ Việt Nam qua các giai đoạn từ góc nhìn so sánh 21
1.2.4 Nghiên cứu về tượng trưng, siêu thực ảnh hưởng đến quá trình sáng tác của một số tác giả thơ hiện đại tiêu biểu 27
CHƯƠNG 2 : YẾU TỐ TƯỢNG TRƯNG, SIÊU THỰC TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI NHÌN TỪ GÓC ĐỘ BỐI CẢNH TIẾP NHẬN VĂN HÓA PHƯƠNG TÂY ĐẦU THẾ KỈ XX 31
2.1 Phong trào Thơ mới trong hành trình phát triển tư duy nghệ thuật 31
2.2 Những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng trong Thơ mới 43
Trang 52.2.1 Sự tương hợp, tương giao trong cảm nhận về thế giới 43
2.2.2 Sử dụng biểu tượng trong Thơ mới 51
2.2.3 Nhạc tính trong Thơ mới 60
2.3 Những biểu hiện của chủ nghĩa siêu thực trong Thơ mới 64
2.3.1 Khám phá hiện thực tuyệt đối bằng giấc mơ 66
2.3.2 Khám phá siêu thực bằng trực giác 70
2.3.3 Phương thức tạo hình độc đáo của các nhà thơ siêu thực 71
CHƯƠNG 3:YẾU TỐ TƯỢNG TRƯNG, SIÊU THỰC TRONG THƠ VIỆT NAMGIAI ĐOẠN 1945 – 1975 VÀ NHU CẦU CÁCH TÂN, HIỆN ĐẠI HÓA THƠ 75
3.1 Bối cảnh thơ khu vực miền Bắc giai đoạn 1945 - 1975 75
3.2 Những biểu hiện của khuynh hướng tượng trưng, siêu thực trong thơ Trần Dần 77
3.2.1 Ngôn từ thơ giàu sức gợi cảm và nhạc tính 77
3.2.2 Thơ Trần Dần sử dụng biểu tượng đầy ám ảnh 82
3.3 Những biểu hiện của khuynh hướng tượng trưng, siêu thực trong thơ Hoàng Cầm 85
3.3.1 Lối viết tự động 85
3.3.2 Giải mã những giấc mơ 87
3.3.3 Phương pháp tạo hình 93
3.3.4 Thơ Hoàng Cầm mở ra tính chất tương giao và những liên tưởng bất ngờ 96 3.3.5 Những sáng tạo về nhạc tính 99
3.4 Bối cảnh văn học miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 101
3.5 Thơ Thanh Tâm Tuyền trong ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực 105
3.5.1 Những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Thanh Tâm Tuyền 105
3.5.2 Những biểu hiện của yếu tố siêu thực trong thơ Thanh Tâm Tuyền 111
Trang 63.6 Bùi Giáng với những ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực
116
3.6.1 Hệ thống thi ảnh biểu tượng trong Bùi Giáng 118
3.6.2 Dòng chảy siêu thực trong thơ Bùi Giáng 123
CHƯƠNG 4:YẾU TỐ TƯỢNG TRƯNG, SIÊU THỰC TRONG THƠ VIỆT NAMSAU 1975 THỰC HÀNH SÁNG TẠO TRONG THẾ GIỚI ĐA TRỊ 128
4.1 Phác thảo diện mạo thơ Việt Nam từ sau 1975 128
4.2 Dấu ấn của chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Việt Nam từ sau 1975 131
4.2.1 Dấu ấn của chủ nghĩa tượng trưng trong cảm hứng và tư duy nghệ thuật 131
4.2.2 Dấu ấn tượng trưng trong ngôn từ và nhạc điệu 135
4.3 Dấu ấn của chủ nghĩa siêu thực 139
4.3.1 Dấu ấn siêu thực trong cảm thức nghệ thuật 139
4.3.2 Dấu ấn siêu thực trong cấu trúc văn bản ngôn từ 148
KẾT LUẬN 161
TÀI LIỆU THAM KHẢO 165
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử văn học nhân loại đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau,trong đó có những thời kì nở rộ nhiều trường phái, trào lưu nghệ thuật có sức lan tỏasâu rộng Ở phương Tây, chủ yếu là tại Pháp cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX hìnhthành chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực với hệ thống quan niệm và những nguyêntắc sáng tạo đặc thù, mang tầm ảnh hưởng lớn lao, không chỉ thúc đẩy thơ ca pháttriển rực rỡ mà còn thâm nhập vào nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau như hộihọa, điện ảnh, điêu khắc Bằng những triết thuyết, tuyên ngôn, lý luận chặt chẽ, vànhất là thực tiễn sáng tác đầy sức cuốn hút, thi phái tượng trưng, siêu thực đã pháttriển và định hình vị thế của mình trong nền thơ ca thế giới Đối với Việt Nam, mộtđất nước phương Đông, thuộc tiểu vùng Đông Nam Á cuối thế kỷ XIX, đã diễn ramột cuộc gặp gỡ, giao lưu và tiếp xúc về văn hóa rất mạnh mẽ, góp phần đưa vănhọc Việt Nam kết nối và hòa nhập cùng quỹ đạo chung của thế giới Trong tầm ảnhhưởng của quy luật giao lưu, tiếp nhận các loại hình nghệ thuật cũng như các trườngphái, trào lưu văn học, có thể khẳng định rằng thơ hiện đại Việt Nam có dấu ấn củachủ nghĩa tượng trưng, siêu thực
Từ sau năm 1936, bắt đầu là khuynh hướng tượng trưng sau đó là siêu thực
du nhập vào nước ta và từ đó vận động, trải qua nhiều thăng trầm cùng dòng chảyvăn học dân tộc Phong trào Thơ mới (1932 – 1945) “mở ra một thời đại trong thica” đã minh chứng cho công cuộc canh tân thơ Việt Nam, nỗ lực vận động vượtthoát ra khỏi loại hình thơ trung đại, phát triển theo tinh thần hiện đại, tiếp thu vàkhai mở nhiều khuynh hướng, trào lưu phong phú Cũng chỉ trong 13 năm Thơ mớitồn tại, một khoảng thời gian không dài lâu nhưng thơ Việt đã đi qua và hấp thụ cả
100 năm thơ Pháp từ chủ nghĩa lãng mạn đầu thế kỷ XIX với tên tuổi Hugo,Lamartine, Chateaubriand, Musset, Vigny, đến khuynh hướng tượng trưng vớiRimbaud, Verlaine, Mallarme, Baudelaire, và thậm chí đã chạm vào siêu thực – mộtđịa hạt độc đáo và huyền bí Sau Cách mạng tháng Tám, phong trào Thơ mới khéplại, ở miền Bắc loại hình văn học cách mạng trở thành dòng chảy chủ lưu mạnh mẽ,
Trang 8phù hợp với hoàn cảnh thời đại sôi sục đấu tranh giải phóng dân tộc Vì thế, khuynhhướng tượng trưng, siêu thực cũng phai mờ dần trong sáng tác của các tác giả,nhưng không vì thế mà mất đi Nó vẫn âm thầm biểu hiện như những dòng mạchriêng, ẩn khuất với những thử nghiệm, khám phá về bút pháp, có khi chìm sâu vàosáng tạo vô thức, tâm linh Ngay từ giai đoạn đầu của thời kì thơ kháng chiến,những tác giả như Nguyễn Đình Thi, Hoàng Cầm, Trần Dần đã thể hiện những tínhiệu cách tân Họ không chủ định tiếp thu như một kiểu luận thuyết nhưng với bảnchất là những yếu tố cơ bản trong thi pháp thơ nên tượng trưng, siêu thực vẫn hiệnhữu trên những trang thơ của họ Từ năm 1954, đất nước bị chia cắt đôi miền Nam -Bắc, văn học mỗi khu vực thuộc phạm trù văn hóa khác nhau, có những đặc trưngriêng do ý thức hệ và ảnh hưởng của nhiều tư tưởng Nếu các tác giả thơ miền Bắcchủ yếu sáng tạo theo nguyên tắc tư tưởng thẩm mỹ của chủ nghĩa hiện thực xã hộichủ nghĩa thì văn học đô thị miền Nam vùng tạm chiếm trong một bối cảnh khá đặcbiệt chịu ảnh hưởng của văn hóa Mĩ và phương Tây nên đã tiếp cận nhiều trào lưumang tinh thần khai phóng Khuynh hướng tượng trưng, siêu thực có điều kiện đượctiếp nối trên mảnh đất này trong thơ Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, nhất là hoạtđộng của nhóm Sáng Tạo với ý thức làm mới thơ như Thanh Tâm Tuyền, BùiGiáng, Tô Thùy Yên, Nguyên Sa, Nguyễn Đức Sơn Sau năm 1975, miền Namđược giải phóng, đất nước độc lập thống nhất, văn học hai miền như hai dòng chảyđược hợp lưu, tạo nên diện mạo chung của thơ Việt Nam trong một thời kì mới.Vượt qua những cách biệt trước đó, hòa vào không khí chung của công cuộc đổimới văn nghệ, từ năm 1986 văn học đất nước mở rộng giao lưu, hội nhập, ngườinghệ sỹ được chủ động, tự do khám phá, sáng tạo cũng như tiếp nhận và thể nghiệmnhiều phương thức sáng tác khác nhau Tuy nhiên trong thời kì này, thơ chưa đạtđược những thành tựu kết tinh như văn xuôi, nhưng bước đầu đã xuất hiện nhiềutiếng nói, âm hưởng, giọng điệu phong phú và độc đáo Nhiều đại diện tiêu biểu nhưTrần Dần, Lê Đạt, Dương Tường, Đặng Đình Hưng nỗ lực cách tân về hình thứctrình bày ngôn từ theo hướng sắp đặt, đề xuất kiểu thơ “dòng chữ” như một cáchphản ứng lại sự mòn cũ trong những diễn ngôn trước đó Một số gương mặt
Trang 9khác như Thanh Thảo, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương, Vi Thùy Linh,Phan Huyền Thư, Mai Văn Phấn, Trương Đăng Dung, say sưa khai thác cái tôinội cảm giàu cung bậc, có khi đi vào vùng mờ tâm linh được kết hợp với ngôn ngữbiểu đạt sắc nhọn và sự tổ chức cấu trúc văn bản Có thể nói trong một bối cảnhrộng mở, cùng với tiền đề là chủ nghĩa hiện đại đang có sự bứt phá, thậm chí là cótính toàn cầu hóa thì khuynh hướng tượng trưng, siêu thực đã in đậm dấu ấn trongbút pháp, tư tưởng, nguyên tắc sáng tạo của nhiều tác giả.
Những vấn đề mang tính lý luận và văn học sử được đặt ra bao gồm:Ở ViệtNam có tồn tại chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực trong thơ hiện đại không? Nhữngđiều kiện sinh thành, vận động và phát triển của khuynh hướng nghệ thuật này nhưthế nào? Thơ hiện đại Việt Nam tiếp nhận trào lưu nghệ thuật tượng trưng, siêu thựcqua các giai đoạn cụ thể ra sao; sự khác biệt giữa các thời kì văn học đó Nhữngnghiên cứu trước đó về khuynh hướng này đã đề cập đến lí thuyết thẩm mĩ và thựchành sáng tạo, tuy nhiên, sự nghiên cứu một cách hệ thống, giới thuyết về nguyêntắc sáng tác cũng như những tiêu chí biểu hiện thì đến nay lại chưa toàn diện Bởivậy đứng trước những vấn đề khoa học hấp dẫn đó chúng tôi đã lựa chọn và tập
trung vào “Những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực trong thơ Việt Nam hiện đại” làm đề tài luận án Đây là đề tài có ý nghĩa thiết thực đối với
nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án làm rõ những biểu hiện đặc trưng cho thấy ảnh hưởng của chủ nghĩatượng trưng, siêu thực đối với thơ Việt Nam hiện đại để chỉ ra vai trò, đóng góp vàhạn chế của khuynh hướng này trong tiến trình thơ Việt Nam Quá trình tiếp nhận
ấy được phản ánh trên hai bình diện là quan niệm thẩm mỹ và nguyên tắc sáng tạo,hay cụ thể hơn là thông qua nhiều cấp độ khác nhau như ý thức nghệ thuật, phươngthức sáng tác, nội dung biểu đạt, bút pháp, yếu tố Đồng thời người viết cũng hướngđến so sánh mức độ ảnh hưởng giữa các giai đoạn, khẳng định sự giao lưu, tiếp biếnvăn hóa ấy đã đánh thức khả năng sáng tạo vô hạn của người nghệ sĩ, thể hiện bản
Trang 10lĩnh nghệ thuật độc đáo ở họ, góp phần làm nổi bật những giá trị và tầm vóc thơ của dân tộc Việt Nam.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án có nhiệm vụ:
-Tổng quan vấn đề nghiên cứu nhằm tìm ra những “khoảng trống” để tiếp tụcnghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản vềchủ nghĩa tượng trưng, siêu thực
- Mô tả, lí giải, chứng minh sự tiếp nhận chủ nghĩa tượng trưng, siêu thựctrong phong trào Thơ mới 1932 - 1945, thơ Việt Nam giai đoạn 1945-1975 và sau1975
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những ảnh hưởng của chủ nghĩa tượngtrưng và siêu thực thông qua những biểu hiện cụ thể trong thơ hiện đại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Thơ Việt Nam hiện đại (từ 1932 đến nay) và chỉ nghiêncứu những tác giả tiêu biểu, có tính đại diện cao
4 Đóng góp mới của luận án
Luận án có những đóng góp mới sau đây:
-Đầu tiên, luận án nghiên cứu và chỉ ra những biểu hiện cho thấy ảnh hưởngcủa chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực đến thơ Việt Nam hiện đại qua các giai đoạn:
1932 – 1945, 1945 – 1975, sau 1975, góp phần quan trọng làm rõ diện mạo thơ ViệtNam trong tiến trình văn học nước nhà, khẳng định vị thế của văn học Việt Namtrong dòng chảy văn học thế giới
- Tiếp theo, luận án đã ứng dụng lý thuyết về tượng trưng siêu thực, loại hìnhhọc, lý thuyết nghiên cứu trường hợp để tìm hiểu những hiện tượng điển hình trong khuynh hướng tượng trưng, siêu thực của văn học Việt Nam
- Đặc biệt, trong bối cảnh việc nghiên cứu xu hướng về tượng trưng, siêuthực không phải là một lối đi hoàn toàn mới, luận án đã tìm ra được những “khoảngtrống” cần bổ sung cho toàn diện hơn và chỉ ra được những biểu hiện cụ thể dướigóc nhìn so sánh
Trang 11- Cuối cùng, luận án cũng góp phần trong việc nhận diện và định hình về chủnghĩa tượng trưng, siêu thực trong thơ Việt Nam hiện đại, cũng như chỉ ra xu thế
vận động, phát triển của khuynh hướng này
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận án, chúng tôi sử dụng các phương pháp chính sau đây:-Phương pháp lịch sử - xã hội: đây là phương pháp cơ bản, quan trọng nhấtxuyên suốt toàn bộ luận án Vận dụng những tính năng của phương pháp này luận
án chỉ ra quá trình hình thành, vận động, tồn tại của khuynh hướng tượng, siêu thực
và những ảnh hưởng của nó với thơ hiện đại Việt Nam
- Phương pháp nghiên cứu tâm lí học sáng tạo: giúp chúng ta hình dungtương đối cụ thể về quá trình lao động nghệ thuật của người nghệ sĩ với những thao táctrong trí tưởng tượng, tinh thần, tâm hồn của họ
- Phương pháp so sánh: được sử dụng để chỉ ra sự tương đồng và khác biệttrong tiếp nhậnảnh hưởng của chủ nghĩa tượng, siêu thực ở các giai đoạn văn học cũngnhư đối với một số tác giả tiêu biểu
- Phương pháp loại hình: thao tác chủ đạo cũng là so sánh, tuy nhiên trọngđiểm thiên về nêu lên sự khu biệt để hướng đến định hình, nhận diện về kiểu loại thơtượng trưng, siêu thực có những đặc trưng nổi bật như thế nào
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study): nghiên cứu tác phẩm củacác tác giả tiêu biểu để thấy được những nét chính, tổng thể của cả một giai đoạn vănhọc
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: nghiên cứu văn bản tác phẩm trong mối quan hệ lịch sử với các lĩnh vực khác có liên quan, đặc biệt là tâm lý học
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp khác ở mức độ nhấtđịnh như: thống kê, phân tích (thống kê, phân tích các tác phẩm thơ có ảnh hưởngcủa chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực; thống kê các yếu tố đặc trưng biểu hiện ảnhhưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực); nghiên cứu tiểu sử (nghiên cứu tiểu sửcủa các nhà thơ tiêu biểu cho chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực)
6 Cấu trúc của luận án
Trang 12Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận án được cấu trúc thành 4 chương:
Chương 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2 Yếu tố tượng trưng, siêu thực trong phong trào Thơ mới nhìn từ góc độ bối cảnh tiếp nhận văn hóa phương Tây đầu thế kỉ XX
Chương 3 Yếu tố tượng trưng, siêu thực trong thơ Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 và nhu cầu cách tân, hiện đại hóa thơ
Chương 4 Yếu tố tượng trưng, siêu thực trong thơ Việt Nam sau 1975 thực hành sáng tạo trong thế giới đa trị
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN
CỨU 1.1 Giới thuyết về chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực
1.1.1 Chủ nghĩa tượng trưng
Luận giải về chủ nghĩa tượng trưng, các nhà nghiên cứu có nhiều cách tiếp cậnkhác nhau Tuy nhiên, dù xuất phát từ cách tiếp cận nào thì những nội dung chính đượccác nhà nghiên cứu quan tâm đến cũng tập trung vào khái niệm “tượng trưng”, sự rađời của chủ nghĩa tượng trưng và cơ sở triết học của chủ nghĩa tượng trưng
Từ điển Cambridge định nghĩa “symbol” (tượng trưng) nghĩa là: 1/ Một vật,
biểu tượng hoặc đối tượng được dùng để đại diện cho một điều nào đó, ví dụ: tráitim là tượng trưng cho tình yêu; 2/Một vật được sử dụng để biểu thị cho chất lượnghoặc ý tưởng, ví dụ: nước, biểu tượng của sự sống; 3/Con số, bức thư, ký hiệu được
sử dụng trong toán học, âm nhạc, khoa học,… ví dụ: Kí hiệu của Oxy là O; 4/Mộtvật có thể được mô tả như biểu tượng của một vật khác nếu nó được xem như là đạidiện bởi vì nó kết nối rất nhiều ý tưởng của mọi người với nhau Qua định nghĩatrên ta có thể thấy rằng “tượng trưng” và “biểu tượng” là hai khái niệm rất gần gũi.Khi chuyển dịch khái niệm “symbol” sang tiếng Việt, thuật ngữ này được dùng với
cả nghĩa “tượng trưng” và “biểu tượng”
Từ điển tiếng Việtcủa Hoàng Phê chủ biên, định nghĩa tượng trưng là:
“1/dùng một sự vật cụ thể có hình thức hoặc tính chất thích hợp để gợi ra sự liêntưởng đến một cái trừu tượng nào đó, ví dụ: Chim bồ câu tượng trưng cho hòa bình;2/ sự vật cụ thể được dùng để tượng trưng cho một cái trừu tượng nào đó, ví dụ:Xiềng xích là tượng trưng cho nô lệ” [102, tr.1082]
Theo Hegel, tượng trưng được hiểu như một kiểu tư duy nghệ thuật và đãxuất hiện từ rất lâu: “là một sự vật bên ngoài, một dấu hiệu trực tiếp nói thẳng vớitrực giác chúng ta: tuy sự vật này không phải được lựa chọn và được chấp nhận như
nó tồn tại trong thực tế vì bản thân nó Trái lại, nó được chấp nhận với một ý nghĩarộng lớn và khái quát hơn nhiều Do đó, phải phân biệt ở trong tượng trưng hai yếutố: ý nghĩa và biểu hiện Ý nghĩa là sự gắn liền với một biểu hiện hay một sự vật dù
Trang 14cho nội dung của biểu hiện này hay của sự vật này là cái gì Còn sự biểu hiện là mộttồn tại cảm quan hay một hình ảnh nào đó” [53, tr.496-497] Cách định nghĩa nàyxem xét khái niệm tượng trưng trong phạm trù nghệ thuật, trong đó bao gồm cả vănhọc nghệ thuật.
Theo Chu Quang Tiềm, tượng trưng là: “dùng những sự vật cụ thể để diễn tảnhững gì mang tính chất trừu tượng Mỹ cảm phát sinh ở chỗ trực giác được hìnhtượng, cho nên tác phẩm văn nghệ là sự biểu hiện những ý tưởng cụ thể, nó trực tiếplay động sự xúc cảm của giác quan” [137, tr.24]
Khi nhắc đến khái niệm tượng trưng, các nhà nghiên cứu thường đề cập đếnkhái niệm “biểu tượng” vì trong nhiều trường hợp, hai khái niệm này được đồng
nhất với nhau Từ điển thuật ngữ văn học viết: “Biểu tượng như là thuật ngữ của mĩ
học, lí luận văn học và ngôn ngữ học còn được gọi là tượng trưng, nó có nghĩa rộng
và nghĩa hẹp” [49, tr 24] Theo chúng tôi, hai khái niệm này có điểm thống nhất vìmọi biểu tượng đều có tính tượng trưng nhất định Tuy nhiên, trong mỗi biểu tượngngoài tính tượng trưng nó còn có những ý nghĩa khác Đồng thời, mỗi hình ảnhtượng trưng cũng mang trong nó những thông điệp khác nhau Chính vì thế, khôngthể đồng nhất tượng trưng và biểu tượng
Trong luận án này, tượng trưng được hiểu với nội hàm là một phương diệnđặc thù của sáng tạo nghệ thuật, nó trở thành phương thức khái quát đời sống,nghiêng về tính chất ổn định và đa nghĩa Tượng trưng phải xuất phát từ một hìnhtượng nghệ thuật nhất định, từ đó mở ra nhiều liên tưởng phong phú, có khả năngkhám phá hiện thực và nâng tầm hình tượng ở mức độ ngưng kết ý nghĩa
Chủ nghĩa tượng trưng là một trào lưu nghệ thuật ra đời vào những năm
50-60 của thế kỷ XIX tại Pháp, sau đó lan dần sang châu Âu, Nga, Mỹ nửa cuối thế kỷXIX và đầu thế kỷ XX mở rộng dần ra các châu lục, đến cả các nền văn học châu Á nhưTrung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam Từ văn học, trào lưu này còn lan sang hội họa, để chỉnhững tác phẩm hội họa tạo ra cảm xúc cho người đọc bằng cách tạo ra những cảnhtượng trong tranh thần bí như mơ bằng cách sử dụng những vệt màu khác nhau Sau đó,chủ nghĩa tượng trưng còn ảnh hưởng tới cả các lĩnh vực khác,
Trang 15trong đó có điện ảnh.
Baudelaire là người có công tiên báo cho sự ra đời chủ nghĩa tượng trưng với
bài thơ Correspondacnes(Những tương ứng) vào năm 1855 nhưng đến ngày 18/9/1886 khi Jean Moréas đăng bài Un manifeste littéraire(Tuyên ngôn văn
học)thể hiện thái độ khước từ chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa tự nhiên, công bố sự
ra đời trường phái mới – chủ nghĩa tượng trưng trên báo Le Figaromới đánh dấu sự
ra đời của trào lưu này Jean Moréas đã phân tích quá trình vận động của các thểloại để cho thấy sức chống chịu mòn mỏi của chủ nghĩa lãng mạn sau thời hoàngkim vào thế kỷ XIX, mất đi sức mạnh và sự hấp dẫn khi chủ nghĩa tự nhiên ra đời,sau đó chủ nghĩa tự nhiên lại không trụ vững trước những lời phê phán nghiệt ngãcủa các nhà thơ tượng trưng Thậm chí, các tác phẩm của Zola – tác giả được xemnhư hiện thân của chủ nghĩa tự nhiên, bị xem là “nghệ thuật nấu nướng”, không có
ý tưởng và biểu tượng Với chủ nghĩa tượng trưng, những bức tranh về thiên nhiên,con người được hình tượng hóa một cách huyền bí như Jean Moréas khẳng định: “Điềucăn bản mà chủ nghĩa tượng trưng mang đến là không bao giờ ám chỉ điều gì như mộtkhái niệm tuyệt đối” [147].Quan niệm thẩm mỹ của chủ nghĩa tượng trưng dựa trên tưtưởng triết mỹ của Emmanuel Kant, Athur Schopenhauer, thuyết thần cảm của Đức, quanniệm “nghệ thuật vị nghệ thuật” của Théophile Gautier và phái “thuần văn học” củaEdgar Allan Poe Jean Moréas đưa ra bảy nguyên tắc hoạt động của thơ tượng trưng là:biểu trưng cho sự vật tự nó và các ý niệm nằm ngoài giới hạn của sự tri giác cảm tính;vươn tới bản chất lý tưởng siêu thời gian của thế giới; thể hiện vẻ đẹp siêu nghiệm; bác
bỏ lý tưởng thẩm mỹ: nghệ thuật vị nghệ thuật; phản ứng lại phái Thi Sơn, phái thơ chútrọng đến việc mô phỏng hiện thực; gợi ra những sắc thái tế nhị của cảm giác và tâm hồn;
mơ ước đạt được cái thực tại ở bên ngoài những hiện tượng biểu kiến của cuộc đời, vũtrụ Nối tiếp nguồn thơ Baudelaire có một thế hệ đông đảo các nhà tài năng như StéphaneMallarmé (1842
– 1898), Paul Verlaine (1844 – 1896), Arthur Rimbaud (1855 – 1891), Henri deRéginier (1864 -1936), Paul Valéry (1871 -1945) khai thác, phát triển, bổ sung thành một khuynh hướng nghệ thuật chủ đạo của thơ Pháp và châu Âu
Sau bản tuyên ngôn này, thuật ngữ “chủ nghĩa tượng trưng” được đưa vào sử
Trang 16dụng Ngay từ nửa đầu thế kỷ XIX, một số nhà thơ Mĩ tiêu biểu (như: Emerson,Melville Hawthome, đặc biệt là Edgar Allan Poe) đã có ý thức sử dụng yếu tố tượngtrưng như một thủ pháp nghệ thuật hữu hiệu Kể từ khi chủ nghĩa tượng trưng rađời, nhiều công trình nghiên cứu đã tìm hiểu về sự ra đời, cơ sở triết học, quan niệmnghệ thuật cũng như nguyên tắc sáng tác của trào lưu văn học này.
Cuốn Maeterlinck et le symbolisme (Maeterlinck và chủ nghĩa tượng trưng) của
Marcel Postic, xuất bản năm 1970, đại học Michigan, đã nghiên cứu và chỉ ra nhữngđóng góp của Maeterlinck với chủ nghĩa tượng trưng Đây là một trong những gươngmặt tiêu biểu góp phần quan trọng vào sự phát triển của chủ nghĩa tượng trưng
Cuốn Le Symbolisme Art of Century (Chủ nghĩa tượng trưng – Nghệ thuật của thế kỷ) của Nathalia Brodskaya, Nxb Parkstone International, xuất bản năm 2012 đã tổng hợp điểm nổi bật về chủ nghĩa tượng trưng trong các thời kỳ cũng như các tác phẩm nổi bật của chủ nghĩa tượng trưng trong văn học, thơ ca và nghệ thuật.
Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình khác như: Cuốn Maurice
Maeterlinck: le symbolisme de la différence (Maurice Maeterlinck: chủ nghĩa siêu
thực của sự khác biệt) của Paul Gorceix, Đại học Wisconsin – Madison, 2000; Bài
viết Le symbolisme de la difference (Biểu tượng của sự khác biệt) của Paul Gorceix xuất bản năm 1997, cuốn Qu'est-ce que le symbolisme? (Chủ nghĩa siêu thực là gì?)
của Marcel Postic, ĐH Michigan, 2007…
Tóm lại, có thể thấy rằng về cơ bản, các công trình nghiên cứu về chủ nghĩatượng trưng thống nhất về nội hàm khái niệm tượng trưng, cơ sở triết học, quanđiểm cũng như nguyên tắc hoạt động của trường phái này Đây là một điểm thuậnlợi cho chúng tôi trong khi đi đến thống nhất về mặt khái niệm để làm cơ sở lý luậncho đề tài
Các công trình nghiên cứu chuyên biệt về chủ nghĩa tượng trưng khá phongphú, tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu tổng hợp hoặc điển hình về các tácgiả của chủ nghĩa tượng trưng đều có đề cập đến những đặc điểm của trường pháinày ở những mức độ khác nhau
Trang 171.1.2 Chủ nghĩa siêu thực
Trong giới nghiên cứu từ trước đến nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau
về chủ nghĩa siêu thực (surréalism) Đây là một trào lưu văn học xuất hiện vàonhững năm 20 của thế kỷ XX tại Pháp Guillaume Apollinaire được coi là người đầutiên dùng thuật ngữ “chủ nghĩa siêu thực” vào năm 1917 Ngay trong
Calligrammes(Thơ hình vẽ) sáng tác năm 1918, ông đã báo hiệu cho siêu thực bằng
một “cái tên mới” với nội hàm về một bề sâu thẳm của ý thức để có thể “Nhìn thật
kĩ ở xa/Nhìn tất cả/Từ gần” Tuy nhiên, đúng như nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dânnhận định Apollonaire “chỉ là người mở đầu cho nền “thơ mới” nói chung và báohiệu cho thơ siêu thực Pháp nói riêng nhưng ông không phải là nhà thơ siêu thựcthực sự” [22- tr.117]
Năm 1924, André Breton công bố Tuyên ngôn chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa
siêu thực được định nghĩa là: “hành vi tâm lý vô thức thuần túy, mà thông qua nó bạn
dự định biểu lộ - hoặc là bằng lời, hoặc là bằng chữ viết, hoặc là bằng bất cứ cách nàokhác – sự vận hành thực tế của tư duy; sự xui khiến của tư duy, không có bất cứ mộtcách thức nào” [22- tr.117] André Breton đã coi Piere Reverdy là người đã đặt ra tiêuchí về hình ảnh trong thơ siêu thực Theo luận điểm của Piere Reverdy thì hình ảnhxuất hiện bắt nguồn từ sự xích lại gần nhau hay thu hẹp khoảng cách của những hiệnthực cách xa nhau Những thủ pháp được các nhà siêu thực dùng thường là: cái nghịch
lý, sự bất ngờ, thống nhất giữa những cái không thể thống nhất được, sự tương tự…Những thủ pháp đó làm cho tác phẩm của họ mang tính huyền ảo, phi lý, tạo ra nét độcđáo riêng biệt Theo Breton, cơ sở phương pháp sáng tạo của chủ nghĩa siêu thực là sựtác động thuần túy nhằm mục đích thể hiện bằng lời nói, hoặc chữ viết, hoặc bằng bất
kỳ phương tiện nào khác hoạt động hiện thực của tư tưởng Các tư tưởng được tự dobộc lộ, không phải chịu kỳ một sự kiểm soát nào của lý trí hay của những thành kiếnđạo đức và thẩm mỹ Theo đó, chủ nghĩa siêu thực tôn trọng tính tự do của thơ ca, cóthể không cần dấu câu, trật tự cú pháp, đề cao sự liên tưởng cá nhân Năm 1924 cũng là
năm tạp chíLa Révolution surréaliste (Cách mạng siêu thực) ra đời như một dấu mốc
cho sự hình thành của trường phái siêu thực Cũng như tượng trưng, siêu thực có ảnhhưởng đến cả hội họa
Trang 18Năm 1971, trong Le surrélisme (Chủ nghĩa siêu thực), Armand Colin, tr.4,
Robert Bréton, đã định nghĩa: “Chủ nghĩa siêu thực là một cuộc cách mạng văn hóa,bởi vì nó đã đề xuất với chúng ta sự đảo lộn các ý tưởng, hình ảnh, huyền thoại, thóiquen thuộc về tinh thần đã quyết định cả nhận thức của chúng ta hiện tại về thế giới
và sự dấn thân của bản thân mỗi người vào thế giới đó” [152 – tr 4] Theo đó, tácgiả cũng phân hình ảnh ra 3 cấp độ xây dựng hình ảnh cơ bản của chủ nghĩa siêuthực, đó là: dựa trên từ “như” so sánh, A như B, trong đó vế B có tính siêu thực,nhằm gây sửng sốt cho người đọc; đặt A và B cạnh nhau, không dùng liên từ “như”hoặc tương đương gọi là so sánh cụt (comparasion tronquée); sử dụng ẩn dụ cụt(métaphore tronquée) và là loại kết hợp hình ảnh phức tạp nhất của siêu thực
Cuốn Surréalisme et littérature: une comparaison entre le surréalisme grec
et français (Chủ nghĩa siêu thực và văn học: một so sánh giữa chủ nghĩa siêu thực
Hy Lạp và Pháp) của Efthymia Rentzou, xuất bản năm 2002 đã nghiên cứu và chỉ ranhững điểm tương đồng khác biệt giữa chủ nghĩa siêu thực trong văn học Hy Lạp vàvăn học Pháp
Trong cuốn Les surréalistes (Những tác giả chủ nghĩa siêu thực) của Anne
Egger, Nxb Le Cavalier Bleu, 2003, từ ý tưởng về việc phần lớn chủ nghĩa siêu thực
đã bị đóng băng trong phong trào khối (mouvement monolithique), Egger đã cốgắng chỉ ra sự đa dạng về phong cách và kỹ thuật trong phương thức biểu đạt siêuthực và chủ nghĩa triết chung (eclectisme) của các nghệ sỹ đương đại Hai yếu tố tạonên thành công cho thơ siêu thực là viết tự động và hình ảnh Theo J.Vaché thì hìnhảnh là “những va đập chói lòa của từ ngữ” Hình ảnh trong thơ siêu thực thườngmang tính mộng mị, chiêm bao (onirique), lạ và bất ngờ
Trong bài Le surréalisme (siêu thực) viết năm 2012, trên website
http://lesdefinitions.fr/surrealisme, tác giả định nghĩa chủ nghĩa siêu thực là: “khái
niệm bắt nguồn từ tiếng Pháp Đây là một phong trào văn học nghệ thuật Nền tảngtriết học của chủ nghĩa siêu thực dựa trên trực giác của H Bergson, thuyết phân tâmhọc của S.Freud và thuyết tương đối của A.Einstein
Cuốn Chủ nghĩa siêu thực Pháp thế kỷ XX: nghiên cứu – tuyển – dịch của
Trang 19Đông Hoài, Nxb Văn học, năm 1994 đã nghiên cứu và dịch một số bài thơ siêu thựcPháp trong thế kỷ XX và thơ Việt có yếu tố siêu thực Trong đó, tác giả có đề cập
đôi nét về cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân.
Trong bài giới thiệu cho chuyên đề Chủ nghĩa siêu thực đăng trên Tạp chí văn học nước ngoài, số 5, tháng 9-10/2004, sau này được trích đăng trên
1974175.html với tựa đề André Breton và chủ nghĩa siêu thực, Đỗ Lai Thúy đã tóm tắt lại
https://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/andre-breton chu-nghia-sieu-thuc-lại quá trình hình thành, cơ sở sáng tạo của chủ nghĩa siêu thực cũng như mối quan hệ giữa chủ nghĩa siêu thực và chủ nghĩa tượng trưng Theo đó, mục đích cao nhất của chủ nghĩa siêu thực là kêu gọi giải phóng cái tôi khỏi những “gông cùm” của lo-gic, lí trí, đạo đức và
mỹ học truyền thống Trong sáng tác, hiện thực cần được tái tạo một cách chân thực nhất –
đó là hiện thực tuyệt đối Đỗ Lai Thúy cũng bày tỏ mong muốn: “Tuy không còn tồn tại nữa, nhưng chủ nghĩa siêu thực là một chặng đường tự nhận thức quan trọng của văn học với những bài học lịch sử quý giá của nó Hơn nữa, siêu thực không tồn tại như một chủ nghĩa nhưng văn học hiện đại không thể thiếu nó với tư cách là những yếu
tố”
[https://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/andre-breton chu-nghia-sieu-thuc-1974175.html].
Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình khác như: cuốn Littérature malgré
elle: le surréalisme et la transformation du littéraire: la France, la Grèce,
confrontations (Văn học và tấm gương tư phản chiếu: chủ nghĩa siêu thực và sự
chuyển đổi văn học Pháp, Hy Lạp và những đối đầu) của Effthymia Rentzou, NXB
Association des amis de Pleine marge, 2002; Nguyễn Văn Dân (2013), Chủ nghĩa
hiện đại trong văn học nghệ thuật; Lã Nguyên (2016), Sự tiếp nhận các lý thuyết
văn học hiện đại phương Tây từ 1986 đến
nayhttps://languyensp.wordpress.com/2016/01/29/su-tiep-nhan-cac-li-thuyet-van-nghe-hien-dai-phuong-tay-tu-1986-den-nay/
Như vậy, có thể thấy cũng như khi bàn về chủ nghĩa tượng trưng, các côngtrình nghiên cứu về chủ nghĩa siêu thực đều thống nhất về nội hàm khái niệm cũngnhư nguyên tắc sáng tác, quan niệm của trường phái này Trong các công trình
Trang 20nghiên cứu, mối quan hệ giữa tượng trưng và siêu thực là vấn đề nhiều tác giả đềcập đến Điều đó rất hữu ích cho chúng tôi trong khi tìm hiểu tổng hợp sự tác độngcác yếu tố tượng trưng, siêu thực của hai trường phái này đến sáng tác của các nhàthơ Việt Nam hiện đại.
1.2 Nghiên cứu về chủ nghĩa tƣợng trƣng, siêu thực trong thơ hiện đại Việt Nam
Ở Việt Nam không có chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực nhưng những ảnhhưởng của yếu tố tượng trưng, siêu thực đến thơ hiện đại Việt Nam là không thểphủ nhận Trong tiến trình thơ Việt Nam, ảnh hưởng của tượng trưng, siêu thực đến
tư tưởng sáng tác, quan niệm nghệ thuật, bút pháp nghệ thuật của các nhà văn ở mỗithời điểm không giống nhau Những ảnh hưởng này đã được nghiên cứu dưới hìnhthức những công trình nghiên cứu riêng rẽ hoặc tích hợp trong các công trình nghiêncứu chung trong các sách, báo, tạp chí Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu vềảnh hưởng của tượng trưng, siêu thực trong thơ Việt Nam hiện đại, chúng tôi nhậnthấy, các công trình tập trung vào các xu hướng chính: nghiên cứu về ảnh hưởngcủa chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực đến tư tưởng sáng tác của các nhà thơ ViệtNam hiện đại; nghiên cứu về ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực đếnbút pháp sáng tác của các nhà thơ Việt Nam hiện đại
1.2.1 Hướng nghiên cứu về những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực trong tư tưởng sáng tác của các tác giả thơ Việt Nam hiện đại
Những cách tân về nội dung và nghệ thuật của một thi phẩm bao giờ cũng bắtnguồn từ những sự thay đổi nhỏ nhất trong tư tưởng sáng tác Bộ phận thơ ca ảnhhưởng của chủ nghĩa siêu thực, tượng trưng trong tiến trình phát triển của văn họcViệt Nam cũng không ngoại lệ Những tác động của chủ nghĩa tượng trưng, siêuthực đến vào đúng thời điểm các thi nhân Việt Nam đang tìm lối đi để thoát khỏithực tiễn ảm đạm, buồn chán và nhiễu nhương, khi chủ nghĩa lãng mạn đã đến giaiđoạn không đáp ứng được mộng chí thơ ca của các nhà thơ Có lẽ vì thế, các nhà thơtrong phong trào Thơ mới những năm 1932 đã chịu ảnh hưởng của tượng trưng, siêuthực một cách rất tự nhiên, dựa trên cái gốc của chủ nghĩa lãng mạn để
Trang 21đưa thơ ca đến những sự đổi mới đáng ghi nhận Điều mà các nhà thơ Việt Nam tiếpthu được ở chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực nằm ở những khía cạnh chính là: tiếpthu tư tưởng chủ động, khước từ chú giải, phân tích; phát huy trực giác kiến tạo thigiới; và giải thoát bế tắc Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến như:
Năm 1956, trong bài Đuổi bắt ảo ảnh, Nguyễn Hiến Lê đã đề cập đến văn
học siêu thực Pháp trong đối sánh với văn học phương Đông nói chung và văn họcViệt Nam nói riêng Tác giả bài viết đã phân tích những điểm giao thoa giữa quanniệm của trường phái tượng trưng với quan niệm phương Đông, sự tiếp nhận và tạo
ra tính nhạc trong thơ của các nhà thơ Việt Nam Theo ông, Xuân Diệu là tác giảduy nhất trong giai đoạn Thơ mới áp dụng kỹ thuật tượng trưng và chỉ trong bài
Nguyệt cầm.
Năm 1962, trong cuốn Những khuynh hướng trong thi ca Việt Nam, nhà sách
Khai Trí, Sài Gòn, Minh Huy đã nhận định về ảnh hưởng của khuynh hướng tượngtrưng đến các nhà thơ Việt Nam trong giai đoạn tiền chiến và hậu chiến ở nhữngmức độ đậm nhạt khác nhau Theo đó, Đoàn Phú Tứ được đánh giá là tác giả mangnhiều dấu vết của khuynh hướng tượng trưng nhất, Lưu Trọng Lưu được nhắc đếnvới bài thơ mang nhiều dấu ấn tượng trưng nhất, Hàn Mặc Tử và Bích Khê đượcxem là hai “nhà lý thuyết” của khuynh hướng tượng trưng
Năm 2008, luận án tiến sĩ văn học của Đặng Thị Ngọc Phượng Ý thức tự do
trong phong trào Thơ mới bảo vệ tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
đã nghiên cứu về ý thức tự do được xem như một tiền đề hình thành Thơ mới, ýthức tự do và sự đổi mới nội dung trong phong trào Thơ mới và ý thức tự do với sựđổi mới các hình thức hiện đại của Thơ mới Tác giả khẳng định rằng, quá trình pháttriển của Thơ mới bao gồm cả khuynh hướng “lãng mạn, tượng trưng, siêu thực, ởmỗi khuynh hướng lại có những nhánh rẽ” [107 - tr.40] và nhấn mạnh trong nhữngtrường phái chịu ảnh hưởng thì: “Thơ mới đặc biệt chịu ảnh hưởng sâu sắc củathuyết tương giao, tương hợp của thơ tượng trưng Pháp mà tiêu biểu là ảnh hưởngcủa Baudelaire – người đã mở đường cho dòng thơ tượng trưng Pháp và các dòngthơ hiện đại khác” [107 - tr.59] Theo tác giả, Thơ mới đã có những cảm nhận
Trang 22tinh vi và huyền nhiệm của các thi phái tượng trưng, siêu thực phương Tây mà chủyếu là ảnh hưởng của tượng trưng Pháp Chính vì dung chứa mỹ học của chủ nghĩalãng mạn và chịu ảnh hưởng của mỹ học tượng trưng, siêu thực nên diễn ngôn củaThơ mới thể hiện sâu sắc tinh thần của thời đại mới Đó cũng chính là những thànhtựu mà Thơ mới tạo ra từ sự thay đổi trong tư tưởng sáng tác.
Cuốn Những kỷ niệm tưởng tượng, tác phẩm và dư luậncủa Nguyễn Thanh
Tâm, Vũ Thị Thu Hà sưu tầm và tổ chức bản thảo, Nxb Văn học, 2011 đã tập hợp
bài viết nhận xét, đánh giá về tập thơ Những kỷ niệm tưởng tượng của Trương Đăng
Dung Trong đó, các bài như: Thời gian và thân phận người trong thơ Trương Đăng Dung của Nguyễn Đăng Điệp, Đọc liên văn bản Trương Đăng Dung quaNhững kỷ niệm tưởng tượng của Nguyễn Hữu Sơn, Trương Đăng Dung, thơ như là một thỏa thuận ý nghĩa của Inrasara, Những kỷ niệm tưởng tượng– thế giới của phi lý của
Hoàng Thụy Anh… đều nhấn mạnh tư tưởng trong sáng tác của nhà thơ: những mâuthuẫn, phi lý của trò chơi, phi lý về thời gian trong tư tưởng, hư vô kết hợp với nhãntiền, ám ảnh thời gian… trong thơ của Trương Đăng Dung Hoàng Thụy Anh khẳngđịnh rằng trong thơ của Trương Đăng Dung là một thế giới ngổn ngang, đầy nhữnggiới hạn, trống rỗng và xác xơ Và thế giới ấy được nhà thơ “giải phẫu” bằng tư duycủa một nhà thơ siêu thực, mang đầy sự trái ngược, vô lý
Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình khác như: chuyên luận Văn hóa
Việt Nam, nhìn từ mẫu người văn hóa, Nxb Thông tin, 2005; cuốn Bút pháp của ham muốn, Nxb Trí thức, 2009 của Đỗ Lai Thúy; Nguyễn Quốc Túy (1995), Thơ mới – bình minh thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Văn học, Hà Nội; Phan Cự Đệ (2007),
Về một cuộc cách mạng trong thơ ca, Nxb Giáo dục; Lê Đình Kỵ (1998), Thơ mới, những bước thăng trầm, Nxb Tp Hồ Chí Minh…
Như vậy, có thể thấy rằng các công trình nghiên cứu đều chỉ ra ảnh hưởng về
tư tưởng tượng trưng, siêu thực đến phong trào Thơ mới, bộ phận thơ theo xu hướnghiện đại chủ nghĩa, thơ tự do với những tìm tòi mang tính siêu thực Nhiều tác giảnhấn mạnh những ảnh hưởng của tượng trưng, siêu thực đến tư tưởng của các nhàthơ hiện đại Việt Nam thể hiện ở sự thay đổi tư duy hệ hình từ cái ta trong
Trang 23không gian vũ trụ chuyển sang cái tôi bản thể, hướng đến tính nhạc trong thơ.
1.2.2 Hướng nghiên cứu về những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực trong bút pháp nghệ thuật của các tác giả thơ Việt Nam hiện đại
Từ những sự thay đổi căn bản trong tư tưởng sáng tác, các nhà thơ hiện đạichuyển tải nội dung qua bút pháp nghệ thuật của thơ Sự thay đổi bút pháp nghệthuật thể hiện ở biểu tượng thơ, tứ thơ, hình ảnh, ngôn ngữ, thể thơ và những yếu tốkhác Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu trong hướng nghiên cứu này có thể kểđến là:
Chuyên luận Phong trào Thơ mới của Phan Cự Đệ, xuất bản năm 1966, Nxb
Khoa học đã trình bày những ảnh hưởng lớn của các nhà thơ Pháp đến tư tưởng củacác nhà Thơ mới Việt Nam Trong cuốn sách này, những đánh giá của tác giả nặng
về phê phán Tuy vậy, ông cũng chỉ ra những đóng góp cơ bản của Thơ mới trênphương diện ngôn từ, với việc sử dụng các hình tượng, giàu cảm xúc làm giàu chongôn ngữ văn học dân tộc
Tiếp cận từ giọng điệu thơ như một thủ pháp đặc biệt, trong tiểu luận Vọng
từ con chữ, Nxb Hội Nhà văn, 2003, Nguyễn Đăng Điệp đã chỉ ra giọng điệu buồn
thương ta thán” là giọng điệu chủ đạo trong Thơ mới Theo đó, ông khẳng định:
“giọng điệu Thơ mới có nhiều tiếng vọng: âm hưởng lãng mạn không loại trừ âmhưởng tượng trưng và siêu thực, yếu tố phương Tây không loại trừ ảnh hưởngĐường thi và thơ ca truyền thống” [38 - tr.49] Rõ ràng, từ góc tiếp cận mới mẻ,Nguyễn Đăng Điệp đã chỉ ra được đóng góp về mặt bút pháp của Thơ mới khi tiếpthu những tinh hoa văn học tượng trưng, siêu thực nhưng vẫn không làm mất đihoàn toàn nét đẹp của văn học truyền thống Tác giả cũng khẳng định mức độ ảnhhưởng của tượng trưng, siêu thực trong Thơ mới chỉ dừng lại ở “cấp yếu tố”, điểmcăn bản của thơ giai đoạn này vẫn là lãng mạn
Luận án Những biểu hiện của khuynh hướng tượng trưng, siêu thực trong
Thơ mới Việt Nam 1932-1945 của Nguyễn Hữu Hiếu, bảo vệ năm 2004 tại Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc Gia TP Hồ Chí Minh đã nghiên cứunhững biểu hiện của khuynh hướng tượng trưng trong thơ mới, tác dụng của khuynh
Trang 24hướng tượng trưng mang đến cho thi ca những đặc trưng thẩm mỹ và thi học mới lạ.Tác giả chỉ ra ba nguyên nhân chính đưa thơ tượng trưng đến với văn đàn Việt Namlà: nhu cầu đổi mới tự thân của văn học, mức độ gần gũi trong ý thức về thân phậngiữa các nhà Thơ mới Việt Nam và các nhà thơ thuộc khuynh hướng tượng trưngPháp và mức độ phù hợp giữa kinh nghiệm văn hóa của chủ thể và đặc tính của đốitượng tiếp nhận Nguyễn Hữu Hiếu khẳng định rằng với những nguyên nhân đó, sự
du nhập của khuynh hướng tượng trưng vào Thơ mới Việt Nam là tất yếu Từ đó,ông chỉ ra hai khía cạnh biểu hiện của tượng trưng, siêu thực trong Thơ mới ViệtNam là quan niệm nghệ thuật và phương thức biểu đạt Ở khía cạnh thứ nhất, tác giảphân tích sự tồn tại rõ ràng của khuynh hướng tượng trưng trong quan niệm nghệthuật của các nhà Thơ mới với xu hướng chủ thể hóa và khách thể hóa, chủ độngkhám phá cái tôi bản thể của mình Ở khía cạnh thứ hai, tác giả phân tích rõ khuynhhướng tư duy tương hợp và liên tưởng bất ngờ, thơ biểu đạt và gợi cảm… Đây làcông trình cung cấp cho chúng tôi những gợi ý hữu ích để triển khai luận án khinghiên cứu những ảnh hưởng của tượng trưng, siêu thực đến Thơ mới 1932-1945
Trong cuốn Bút pháp của ham muốn, Nxb Tri thức (2009), từ góc nhìn phân
tâm học văn học nghệ thuật, Đỗ Lai Thúy đã giới thiệu về bút pháp của sự hammuốn Trong đó, tác giả nghiên cứu về thế giới nghệ thuật của các thi sĩ chịu sự ảnhhưởng của phân tâm học, bao gồm một số tác giả chịu ảnh hưởng của tượng trưngsiêu thực trong bút pháp như: Xuân Diệu, Hoàng Cầm, Chế Lan Viên
Trong bài Tái ám ảnh về một bài thơ ám ảnh in trong Những kỷ niệm tưởng
tượng, tác phẩm và dư luận, Đỗ Quyên đã chỉ ra những thủ pháp nghệ thuật trong
thơ Trương Đăng Dung với các thủ pháp: thủ pháp áp đặt, thủ pháp phi lý, thủ phápthành phần phụ, thủ pháp kết hợp Đông – Tây và thủ pháp điểm rơi của bài thơ.Trong đó, phi lý là một trong những thủ pháp mang đậm phong cách của chủ nghĩasiêu thực Các hình ảnh được sử dụng trong phi lý về không gian địa lý “được khỏalấp bằng hình ảnh siêu thực, phi thực hay cực thực, tạo bất an cho người đọc ngay từđầu” [122 - tr.143] Phi lý về ngữ nghĩa thể hiện qua các hình tượng siêu thực, phithực hoặc cực thực Tính siêu thực trong nghệ thuật thơ Trương Đăng Dung
Trang 25được thể hiện qua hình ảnh siêu thực, lạ, tính phi lý trong cách xây dựng thời gian,không gian, ngữ nghĩa.
Luận án Khuynh hướng thơ tượng trưng Việt Nam hiện đại của Hồ Văn
Quốc, bảo vệ tại Đại học Huế năm 2016 nghiên cứu về thơ tượng trưng như một chilưu trong thơ Việt Nam hiện đại, đi sâu phân tích thơ tượng trưng Việt Nam nhìn từquan niệm về nghệ thuật thơ và thế giới con người, biểu tượng, ngôn ngữ và nhạcđiệu Trong luận án này, Hồ Văn Quốc đã luận giải được khá cẩn thận về vấn đề âmnhạc, tính biểu tượng và ngôn ngữ trong ảnh hưởng của thơ tượng trưng Pháp đếnthơ Việt Nam Tác giả cũng khẳng định rằng, tượng trưng là khuynh hướng thơ tồntại từ phong trào Thơ mới của Việt Nam cho đến thơ đương đại, theo đó việc tiếpnhận ở mỗi giai đoạn khác nhau và mang đến những luồng sinh khí mới cho thơ caViệt Nam Đặc biệt, tác giả đã chỉ ra ra ảnh hưởng của khuynh hướng tượng trưngtrong thơ hiện đại Việt Nam Luận án này đã làm rõ được những đặc trưng thi họctượng trưng, thể hiện trong quan niệm nghệ thuật về thơ, thế giới và con người Đặcbiệt, Hồ Văn Quốc đã nghiên cứu cách sử dụng biểu tượng cũng như ý thức khaithác sức mạnh vi diệu của âm nhạc và ngôn ngữ ở các nhà thơ hiện đại dưới ảnhhưởng của khuynh hướng tượng trưng
Trong bài Chất tượng trưng trong ngôn ngữ thơ Việt Nam sau 1975 đăng trên http://toquoc.vn/doi-song-van-hoc/chat-tuong-trung-trong-ngon-ngu-tho-viet-
nam-sau-1975-110283.html, Bùi Việt Phương đã chỉ ra rằng, siêu thực, tượng trưng
và tân hình thức là 3 trường phái có ảnh hưởng lớn đến thơ Việt Nam sau 1975.Trong đó, Bùi Giáng là đại diện tiêu biểu trong việc mượn chất liệu thơ truyềnthống để thể hiện tính siêu thực Về sau, trong thơ của những nhà thơ trưởng thànhtrong kháng chiến chống Mỹ như Y Phương, Thanh Thảo…cho đến thơ của các nhàthơ trẻ như Nguyễn Việt Chiến, Vi Thùy Linh ảnh hưởng ít nhiều màu sắc tượngtrưng Nổi bật nhất về mặt bút pháp là các nhà thơ sử dụng những biểu tượng đanghĩa, được xây dựng dựa trên sự liên thông về ý nghĩa với nhau Tính tượng trưngthể hiện ở mã ngôn ngữ và cú pháp thơ Tạo ra mã ngôn ngữ riêng là một trongnhững thành công lớn của các nhà thơ sau 1975, đòi hỏi độc giả phải tự tìm ra lời
Trang 26giải thì mới có thể tiếp tục khám phá được Vì thế, màu sắc tượng trưng trong thơsau 1975 tuy không một lần nữa tạp ra sự “sốc”, hay choáng như tượng trưng củaThơ mới thuở nào nhưng cũng đủ tạo nên hiệu ứng nghệ thuật Người làm thơ đãthực sự chuyên tâm với chữ và tự biết làm sang cho những con chữ của mình từhướng đi ấy.
Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình khác như: Đỗ Lai Thúy (2012),
Thơ mới những thành công và thất bại, Tạp chí Nghiên cứu Văn học (6), Vũ Duy
Thông (2001), Ngôn ngữ Thơ mới và ngôn ngữ thơ kháng chiến, Tạp chí Ngôn ngữ (1), Nguyễn Toàn Thắng (2012), Văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trong bối cảnh
giao lưu văn hóa Đông – Tây, Tạp chí Nhà văn (8)…
Như vậy, những nghiên cứu về cách tân bút pháp nghệ thuật của các tác giảthơ Việt Nam hiện đại dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực tậptrung vào chỉ ra những cách tân về thể thơ, hình ảnh thơ, ngôn ngữ, hình thức thơ
mà đỉnh cao là Thơ mới với thể thơ 5 chữ, 7 chữ và 8 chữ, sự sắp xếp các câu thơliền mạch hay phân thành các khổ với số lượng câu khác nhau, thơ tự do, không dựavào vần điệu; đưa ngôn ngữ đời thường vào thơ, giảm thiểu tối đa lối nói tượngtrưng, ước lệ sự thay đổi mô hình ngôn ngữ giữa nghĩa, chữ và nghĩa Thứ hai lànhững đổi mới về bút pháp trong mỗi giai đoạn thơ khác nhau Ví dụ ngay trongcách tân về việc sử dụng ngôn ngữ mang màu sắc tượng trưng, nếu các nhà Thơ mớitìm kiếm ở những phương trời xa lạ thì các nhà thơ sau 1975 lại tìm kiếm nó ngaygiữa đời thực, trong kho tàng kinh điển với những hình ảnh như “áo choàng, tiếngghi ta nâu”…., sử dụng những biểu tượng cũ nhưng khoác cho nó những giá trị ngữnghĩa mới để tạo nên ngôn ngữ thơ có màu sắc tượng trưng
Các công trình nghiên cứu đã cung cấp cho chúng tôi những tư liệu và gợi
mở những ý tưởng hữu ích để triển khai luận án Tuy nhiên, các công trình nghiêncứu mới trong xu hướng này chỉ tập trung vào một hoặc một vài tác giả, một số bútpháp tiêu biểu mà chưa có tính tổng thể Đây cũng chính là nhiệm vụ mà luận áncần tiếp tục đi sâu tìm hiểu
Trang 271.2.3 Hướng nghiên cứu về những biểu hiện của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực trong thơ Việt Nam qua các giai đoạn từ góc nhìn so sánh
Các bài nghiên cứu trong hướng này thường phân chia thơ Việt Nam thànhcác giai đoạn và nghiên cứu ảnh hưởng của tượng trưng, siêu thực với từng giaiđoạn Theo đó, ba giai đoạn được xác định phổ biến nhất là: Thơ mới (1932-1945),giai đoạn 1945 -1975 và giai đoạn sau 1975 Tuy vậy những công trình nghiên cứuriêng về ảnh hưởng của tượng trưng, siêu thực không nhiều mà chủ yếu là tích hợptrong các công trình nghiên cứu khái quát chung về thơ hiện đại Việt Nam Một sốcông trình tiêu biểu có thể kể đến là:
VớiThi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân đã nghiên cứu về những ảnh
hưởng tổng thể của thơ tượng trưng Pháp đến phong trào Thơ mới Theo đánh giácủa các tác giả này, tượng trưng siêu thực được các nhà thơ Việt Nam ưa thích từsau năm 1936 và Baudelaire là tác giả có ảnh hưởng lớn nhất đến các nhà thơ ViệtNam thời kỳ đó Cùng bàn về ảnh hưởng của tượng trưng đến thơ mới, Vũ Ngọc
Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại đã phân tích những nhà Thơ mới chịu ảnh hưởng lớn của tượng trưng Trong đó, tập Thơ thơ của Xuân Diệu được ông đánh giá cao
nhất Mức độ nghiên cứu về ảnh hưởng của tượng trưng đến thơ của các nhà thơkhác nhau Lưu Trọng Lưu, Xuân Diệu, Thế Lữ là những tác giả được phân tích kĩnhất về việc tiếp nhận thơ tượng trưng trong khi Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chương,Huy Cận chỉ được đề cập đến Đây là một trong những cuốn sách ra đời trong giaiđoạn đầu nghiên cứu về ảnh hưởng của tượng trưng đến thơ Việt Nam có đóng góplớn hơn cả và là tư liệu tham khảo hữu ích cho luận án của chúng tôi khi tìm hiểuảnh hưởng của tượng trưng, siêu thực đến thơ Việt Nam hiện đại giai đoạn trướcnăm 1945, đặc biệt là trong phong trào Thơ mới
Với cuốn Khuynh hướng thi ca tiền chiến của Nguyễn Tấn Long và Phan
Canh, các tác giả đã đưa ra những ý kiến mới về khuynh hướng tượng trưng ở ViệtNam Xuất phát từ quan điểm về mối quan hệ giữa các cặp phạm trù: “thực thể” và
“hư thể”, “khách quan” và “chủ quan” – là những yếu tố cơ bản hình thành nên thếgiới tượng trưng, tác giả đã chỉ ra rằng các nhà thơ theo khuynh hướng tượng trưng
Trang 28siêu thực muốn đi tìm thế giới thứ ba Trong khi luận giải, các tác giả đề cập nhiềuđến thơ Bích Khê.
Trong cuốn Nhìn lại một cuộc cách mạng thi ca doHuy Cận, Hà Minh Đức
chủ biên, xuất bản năm 1997, Nxb Giáo dục, Hà Nội, hầu hết các ý kiến đều khẳngđịnh ảnh hưởng của thơ tượng trưng Pháp đến Thơ mới Việt Nam Sự ảnh hưởng đódiễn ra về mặt quan niệm, nghệ thuật, âm thanh và ý nghĩa của hình ảnh thơ Vàđiểm quan trọng nhất trong tiếp thu thơ tượng trưng của Thơ mới là tạo ra nguyêntắc sáng tác quan trọng, hình thành nên nhạc cảm, chính là yếu tố quan trọng nhấtlàm nên thành công của Thơ mới Việt Nam
Xuất phát từ cách tiếp cận phong cách học, thi pháp học, cuốn Mắt thơ của
Đỗ Lai Thúy, xuất bản lần đầu năm 1992 đã có những phát hiện độc đáo khi khámphá Thơ mới Theo ông, chặng đường của Thơ mới vắt ngang từ lãng mạn, sang nửatượng trưng, tượng trưng rồi đến siêu thực Các trường phái này không được phân
định rõ ràng, mà nhiều khi gối nhau Ông cho rằng Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ
là thi tứ đầu tiên, tiêu biểu cho thơ tượng trưng của Việt Nam
Năm 2002, trong cuốn Tiến trình thơ Việt Nam hiện đại, Mã Giang Lân đã
luận giải quá trình vận động của thơ Việt Nam từ nửa đầu thế kỷ XX đến sau năm
1975 Ông phân chia thơ Việt Nam thành 5 giai đoạn: nửa đầu thế kỷ XX,
1945-1954, 1954-1964, 1964-1975 và sau 1975 Trong giai đoạn trước năm 1945 và sau
1975, tác giả có đề cập đến sự tiếp nhận thơ tượng trưng Pháp trong nền thơ ca ViệtNam Theo ông, sự ảnh hưởng và tồn tại của tượng trưng Pháp đến thơ văn ViệtNam khá bền bỉ, cao trào thể hiện trong giai đoạn trước 1945, giai đoạn sau 1975,các nhà thơ trẻ đã vận dụng đưa thơ của mình hòa nhịp với tiềm thức, vô thức, tâmlinh, kết hợp đưa vào thơ những hình ảnh tượng trưng, siêu thực của đời sống, cáchtân về thể loại…Đặc biệt, tác giả đã phân tích những điểm mạnh và điểm yếu củathơ tượng trưng, siêu thực và khuyến khích cách tiếp thu khách quan, cầu thị với các
nhà thơ Việt Nam Nguyễn Bá Thành trong cuốn Tư duy thơ hiện đại Việt Nam,
Nxb Đại học Quốc Gia đã nghiên cứu tư duy thơ hiện đại Việt Nam qua các chặngđường từ trước 1945 cho đến sau 1975 Trong đó, trong chương viết về văn học sau
Trang 291986, tác giả đặc biệt chú ý đến sự mở rộng quan niệm phản ánh hiện thực và sựkhẳng định vị trí của thơ siêu thực Tác giả đã điểm lại hành trình tượng trưng, siêuthực đến với thơ Việt Nam từ trước năm 1945, giai đoạn các sáng tác siêu thực bị
“đóng chai” cho đến giai đoạn đồng loạt xuất hiện mạnh mẽ hơn, đẩy lên đến đỉnhcao với các tên tuổi như Trần Dần, Dương Tường, Hoàng Hưng, Lê Đạt, NguyễnQuang Thiều
Cùng năm này, Trần Huyền Sâm trong tiểu luận Tiếng nói thơ ca đã đưa ra
những kiến giải về ảnh hưởng của thơ tượng trưng đến Thơ mới trong quan niệm vềcái đẹp và thi pháp Theo đó, những ảnh hưởng về nhạc tính, quan niệm về yếu tốkinh dị trong phạm trù nghệ thuật của cái đẹp của tượng trưng được tiếp thu
Trong bài Yếu tố siêu thực trong thơ Việt Nam đương đại đăng trên
nam-duong-dai-7857.html, Nguyễn Thanh Tâm đã khẳng định rằng: “Sự xuất hiện
http://vannghequandoi.com.vn/Binh-luan-van-nghe/yeu-to-sieu-thuc-trong-tho-viet-của yếu tố siêu thực trong thơ Việt Nam đương đại về mặt lịch sử là một sự tái hiện,trở lại truyền thống đã được kiến tạo từ thơ mới” Sự ảnh hưởng này thể hiện quatừng giai đoạn là khác nhau Trong đó, Thơ mới thể hiện rõ nét các biểu hiện hướngđến tự do, những ảnh hưởng của hương vị mới, nguồn sống mới Giai đoạn 1945 –
1975, những yếu tố này cũng xuất hiện trong thơ của các tác giả như Trần Dần,Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên, Nguyễn Đức Sơn…Sau năm 1975,thơ Việt Nam lại về với cái tôi bản thể, kiến tạo nên bản sắc chủ thể Điều đó chothấy ảnh hưởng của vô thức, tiềm thức, giấc mơ, ham muốn, sự tưởng tượng, phi lí,ngẫu nhiên của tượng trưng siêu thực để thể hiện sự hiện hữu của bản thể Tượngtrưng, siêu thực đến từ cội nguồn của quan niệm, thái độ, phản ứng của chủ thể đểkhẳng định cái tôi bản thể Hệ quả của nó là những mâu thuẫn với nhận thức và lítrí Đồng thời, sự ảnh hưởng về hình tượng, cảm xúc, hình thức nghệ thuật cũng thểhiện rõ nét
Trong cuốn Thơ như là mỹ học của cái khác, Đỗ Lai Thúy đã nghiên cứu sự
chuyển biến của các yếu tố mỹ học trong văn học hiện đại Việt Nam (tập trung vàothơ) và cách tân thơ qua các thời kỳ xuất phát từ ba phương diện: lí thuyết văn học,
Trang 30lịch sử văn học và phê bình văn học Từ lý thuyết hệ hình, tác giả chỉ ra ở hệ hìnhhiện đại mỹ học chủ đạo của thơ là mỹ học thiên tài Trong đó, ngôn ngữ thơ đặcbiệt được nhấn mạnh qua từng thời kỳ cách tân, đặc biệt là ảnh hưởng của tượngtrưng, siêu thực đến Thơ mới, thơ hậu Thơ mới Qua từng giai đoạn, ảnh hưởng củatượng trưng, siêu thực ở mức độ đậm nhạt khác nhau Có những giai đoạn, tượngtrưng siêu thực tác động rất mạnh mẽ cả về mặt tư tưởng, cả về bút pháp nghệ thuật
và trên diện rộng (như Thơ mới, thơ sau đổi mới), bên cạnh đó ở một số thời kì, dấu
ấn này rất mờ nhạt, thậm chí chỉ có liên hệ với một bộ phận nhất định (như giaiđoạn kháng chiến) Tác giả chỉ ra những trường hợp tiếp nhận cụ thể là:Lê Đạt, TrầnDần gặp gỡ với tư tưởng và cách kiến tạo thơ của Maia, R.Jakobson, Mallarmé hoặcĐặng Đình Hưng, Dương Tường chủ trương cách tân như Trần Dần … Đặc biệt, ĐỗLai Thúy còn phân tích những biểu hiện của mỹ học thơ, trong đó có yếu tố tượngtrưng, siêu thực qua các trường hợp: Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Đình Thi, ThanhTâm Tuyền, Trần Dần, Đặng Đình Hưng, Lê Đạt và Bùi Giáng
Trong cuốn Khuynh hướng tượng trưng và siêu thực trong thơ Việt Nam hiện
đại do Trần Khánh Thành chủ biên, các tác giả đã nghiên cứu yếu tố trượng trưng
siêu thực trong Thơ mới (1932 – 1945), trong thơ khu vực miền Nam và miền Bắcthời kì 1945 – 1975 qua một số tác phẩm tiêu biểu, trong giai đoạn sau 1975 Khiphân tích ảnh hưởng của tượng trưng, siêu thực đến thơ Việt Nam trong mỗi thời kìnày, các tác giả đều chỉ ra những biểu hiện và đề cập đến các trường hợp điểnhình.Ví dụ: giai đoạn 1945-1975, ảnh hưởng của tượng trưng, siêu thực được biểuhiện qua một số gương mặt tiêu biểu: thơ không vần của Nguyễn Đình Thi, thơHoàng Cầm – bài chính tả của giấc mơ, Trần Dần – cách tiếp cận từ Dạ Đài; ThanhTâm Tuyền, Bùi Giáng… Giai đoạn sau 1975, các tác giả nhấn mạnh sự tương giao,tương ứng như bản chất âm của thế giới; hệ thống biểu tượng dùng để tượng trưnghóa, kiến tạo nhạc như một con đường trong tượng trưng hóa, còn tiếp cận siêu thực
ở góc độ như một quan niệm, thái độ trong khi sáng tác của nhà thơ
Trong cuốn Trên đường biên của lí luận văn học, Nxb Phụ nữ, 2016, tác giả Trần Đình Sử, ở mục 4 phần III: Mấy vấn đề thi pháp của Thơ mới như là một cuộc
Trang 31cách mạng trong thơ Việt Nam đã nghiên cứu những biến đổi trong quan niệm, bút
pháp nghệ thuật của thơ mới qua các giai đoạn lịch sử khác nhau Tác giả đánh giáThơ mới gắn với việc phân chia các giai đoạn văn học khác nhau trong tiến trìnhvăn học Việt Nam: 30 năm đầu thế kỷ XX (giao thời), giai đoạn 1930-1945 (giaiđoạn hiện đại hóa), 1945-1975 (kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ), từ 1975 – nay(giai đoạn đổi mới do Đảng lãnh đạo, văn học chuyển mình) Qua đó, tác giả nhậnđịnh: “Phong trào Thơ mới trước 1945 chỉ là giai đoạn mở đầu cho một thi pháp thơhiện đại tiếng Việt, trong đó có thể trải qua một số giai đoạn phát triển trong thờigian và không gian… Phải nhìn Thơ mới trong không gian thời gian suốt thế kỷ XXcho đến nay thì mới thấy tầm vóc của cuộc cách mạng thi pháp trong thi ca ấy”[122- tr.455] Trong quá trình đó, tính hiện đại của Thơ mới ảnh hưởng của chủnghĩa tượng trưng và hậu tượng trưng không nhỏ
Luận án Hành trình cách tân thơ Việt Nam hiện đại (từ sau phong trào Thơ
mới) của Dương Thị Thúy Hằng, bảo vệ tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
năm 2014 đã nghiên cứu những cách tân từ Thơ mới đến thơ trong kháng chiếnchống Pháp, thơ trong giai đoạn 1954-1975 và thơ từ 1975 đến nay Trong mỗi giaiđoạn, tác giả nghiên cứu quan niệm thơ ca, thể loại và ngôn ngữ của thơ Ở phầntổng quan, tác giả đã chỉ ra rằng, ở miền Bắc, vào những năm 1956-1957, thơ củacác tác giả như Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm đã thể hiện được những ý tưởngcách tân về thơ, ảnh hưởng ít nhiều quan điểm của nhóm Dạ Đài, đã được Trần Dần
trình bày trong Bản tuyên ngôn tượng trưng Đến giai đoạn này, thơ “không vần”
được sử dụng nhiều Đến năm 1958, khi tiếng nói của các nhà văn thuộc nhómNhân văn Giai phẩm đã bị phản đối quyết liệt thì một thời gian dài sau đó, thơ củanhóm tác giả này bị rơi vào “vùng cấm” Sau đổi mới, sáng tác của các nhà thơ nàyđược xem xét lại Hiện nay, trong giới nghiên cứu và độc giả vẫn tồn tại hai xuhướng khi đánh giá về thơ của những nhà thơ này, trong đó xu hướng cực đoankhông nhiều
Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình khác như: Hà Minh Đức (2002),
Một thời đại trong thi ca, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội; Trịnh Bá Đĩnh (2011), Chủ
Trang 32nghĩa cấu trúc trong văn học, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội; Nguyễn Đăng Điệp, Thơ Việt Nam hiện đại – Tiến trình và hình tượng, Nxb Văn học, Hà Nội; Mai Ngọc Chừ
(1991), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, Nxb Đại học và GDCN; Phan Cự Đệ (1966), Phong trào Thơ mới, Nxb Khoa học; Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình khác như: Văn học hiện đại – Văn học Việt Nam giao lưu, gặp gỡ, Nxb Văn học, Hà Nộicủa Trần Thị Mai Nhi; Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam
1930 – 1945 của Nguyễn Đăng Mạnh, Nxb ĐH Sư phạm, 2000; Trần Đình Sử
(2001), Những thế giới nghệ thuật thơ, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội,…
Như vậy, có thể thấy rằng sự chuyển biến không ngừng và những ảnh hưởngcủa thơ tượng trưng, siêu thực đã được các tác giả rất quan tâm Quá trình đó diễn ratrên cả bình diện tư tưởng lẫn thủ pháp nghệ thuật và ảnh hưởng của một số tên tuổinổi tiếng như: Trần Dần, Lê Đạt Các công trình nghiên cứu về tượng trưng, siêuthực ở Việt Nam đã có từ rất sớm, (những năm 40 của thế kỷ XX) nhưng chỉ đề cậpđến một cách mờ nhạt theo kiểu điểm mặt chỉ tên các tác giả, tác phẩm có ảnhhưởng của tượng trưng Người đầu tiên nghiên cứu về thơ tượng trưng, siêu thực làPhạm Quỳnh Khẳng định đóng góp của Thơ mới đối với nền văn học Việt Nam,đặc biệt là ảnh hưởng của tượng trưng, siêu thực từ năm 1936 Có thể nhận thấyrằng chỉ trong mười năm, Thơ mới Việt Nam đã ảnh hưởng và chuyển tải sâu sắctinh thần của một trăm năm thơ Pháp, đặc biệt là tượng trưng, siêu thực
Nghiên cứu về ảnh hưởng của tượng trưng siêu thực qua các giai đoạn vănhọc có những thăng trầm nhất định, trong đó: giai đoạn trước năm 1945 là giai đoạnmanh nha, phôi thai, chỉ có vài ba nhà nghiên cứu đề cập đến vấn đề này; sau năm
1945, hướng nghiên cứu này được quan tâm nhiều hơn và phát triển mạnh, ảnhhưởng của tượng trưng siêu thực đến thơ ca không chỉ dừng lại ở ảnh hưởng đối vớicác nhà Thơ mới mà còn lan tỏa sang những nghiên cứu đối với các nhà thơ hậuchiến, cụ thể là: giai đoạn từ 1945 đến 1975, nghiên cứu về vấn đề này ở miền Bắcnếu có thì theo khuynh hướng phê phán tượng trưng, siêu thực, miền Nam lại đề caotượng trưng, siêu thực ở cả Thơ mới và thơ ca đương thời lúc đó Trong thời kỳ này,những nghiên cứu về tượng trưng, siêu thực có những phát hiện mới mẻ do được
Trang 33tiếp xúc với những thành tựu của lí luận văn học phương Tây như phân tâm học,phê bình mới… Trong khi đánh giá về ảnh hưởng của tượng trưng siêu thực, cáccông trình, trường phái văn học trong lịch sử không đi theo một hướng thuần nhấtnhất định mà có nhiều luồng ý kiến khác nhau, thậm chí ngược chiều.
1.2.4 Nghiên cứu về tượng trưng, siêu thực ảnh hưởng đến quá trình sáng tác của một số tác giả thơ hiện đại tiêu biểu
Các tác giả tiêu biểu được đề cập đến trong ảnh hưởng của tượng trưng siêuthực chủ yếu là các tác giả trong phong trào thơ mới như: Hàn Mặc Tử, Bích Khê,Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Xuân Diệu, giai đoạn sau là Nguyễn Đình Thi,Hoàng Cầm, Mai Văn Phấn…
Hàn Mặc Tử là một trong những tác giả thuộc phong trào Thơ mới được nhắcđến như một hiện tượng tiếp nhận tiêu biểu các yếu tố tượng trưng, siêu thực, từ
quan niệm cho đến thủ pháp sáng tác Cuốn Hàn Mặc Tử - thân thế và thi văn của
Trần Thanh Mại đã nghiên cứu về những ảnh hưởng của tượng trưng đối với nhàthơ Hàn Mặc Tử và mở rộng ra đã đề cập đến ảnh hưởng của tượng trưng đến thơ caViệt Nam Theo đó, thơ của Hàn Mặc tử rất bí hiểm Tuy trong lời bình luận củacuốn sách, Trần Thanh Mại không mặn mà về thơ tượng trưng, thậm chí có phần áccảm với các nhà thơ tượng trưng Pháp được cho là có ảnh hưởng đến Hàn Mặc Tửnhư Mallarmmé, Valéry nhưng công trình cũng đã chỉ ra được ảnh hưởng của tượng
trưng đến Hàn Mặc Tử Đến năm 1971, trong bài Viết về Hàn Mặc Tử đăng trên
Tạp chí Văn, số 179 ngày 10/6/1971, Phạm Đán Bình đã phân tích một số điểm
khác biệt giữa thơ Baudelaire và thơ Hàn Mặc Tử Những bông hoa Áccủa Baudelairevà Thơ điên của Hàn Mặc Tử đều là những áng thơ ra đời sau những
“đau thương” Bản thân Hàn Mặc Tử cũng khẳng định rằng thơ ông và thơBaudelaire có những điểm tương đồng và dị biệt Năm 2007, Nguyễn Toàn Thắng
viết chuyên luận Hàn Mặc Tử và nhóm thơ Bình Định, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
Trong cuốn chuyên luận, Nguyễn Toàn Thắng đã luận giải và đưa ra những ý kiếncủa mình về thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê và khẳng định những đónggóp của các nhà thơ này trong khi kiến tạo nên một thế giới hình tượng độc
Trang 34đáo, cụ thể, cũng như trong xây dựng biểu tượng và tính nhạc trong thơ Ngoài ra,
có thể kể đến một số công trình khác như: Hàn Mặc Tử đau thương và sáng tạo của Nguyễn Kim Chương, Nỗi khắc khoải siêu hình trong thơ Hàn Mặc Tử của Nguyễn
Xuân Hoàng…
Trong cuốn Ba đỉnh cao thơ mới Xuân Diệu – Nguyễn Bính – Hàn Mặc Tử
của Chu Văn Sơn, Nxb Giáo dục 2006, tác giả đã nghiên cứu và chỉ ra phong cáchđặc thù của những nhà thơ Việt tiêu biểu: Xuân Diệu – tù nhân của chữ tình,Nguyễn Bính – kiếp con chim lìa đàn và Hàn Mặc Tử - chàng thi sĩ khát khao cái tộtcùng Với mỗi nhà thơ, tác giả chọn một số tác phẩm tiêu biểu để phân tích Dù mỗingười một vẻ, nhưng chúng ta đều thấy khát khao thể hiện cái tôi bản thể, được “tìmmình” qua những áng thơ
Tiếp theo là nhà thơ Đinh Hùng, được nhắc đến như một gương mặt tiêu biểucủa bút pháp tượng trưng, siêu thực Ngay từ năm 1967, khi nhà thơ qua đời, trong
Tạp chí Văn số 91 ra ngày 1/10/1967, nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định Đinh
Hùng chịu ảnh hưởng rất rõ nét của thơ tượng trưng Phan Lạc Phúc nhấn mạnh:
“Tuy không đặt ý niệm trường phái rõ ràng như ở Pháp nhưng ta tìm thấy khuynhhướng tượng trưng rõ rệt ở các nhà thơ Bích Khê, Hàn Mặc Tử, Huy Cận và gần gũichúng ta hơn là thi sĩ Đinh Hùng”[106- tr.86-91]
Trong giai đoạn thơ sau phong trào Thơ mới (1942-1945), Nguyễn Đình Thi
là một trong những tác giả được nghiên cứu nhiều, đặc biệt tập trung vào thơ
“không vần” Đóng góp lớn nhất của tác giả này trong cách tân thơ là đã có nhữngyếu tố báo hiệu sự chuyển dịch từ thơ tiền hiện đại sang hiện đại Một số công trìnhtiêu biểu nghiên cứu về thơ không vần của Nguyễn Đình Thi có thể kể đến là: Trong
bài Nguyễn Đình Thi một cánh én bay qua mùa xuân, in trong cuốn Thơ như là mỹ
học của các khác, Nxb Hội Nhà văn, 2012, Đỗ Lai Thúy đã chỉ ra những điểm được
coi là “vượt ngưỡng” trong thơ ông nhưng vẫn còn dang dở, chưa vượt qua đượcnhững chướng ngại vật để đi đến tận cùng con đường, phát triển thành quan niệm
nghệ thuật bền vững Bài Nguyễn Đình Thi từ quan niệm đến thơcủa Mai Hương, bài Số phận những tìm tòi hình thức trong thơ Việt Nam sau 1945 – thơ
Trang 35Nguyễn Đình Thi và dư luận của Vương Trí Nhàn và bài Nguyễn Đình Thi và một hướng tìm tòi của thơ hiện đại đều in trong 50 năm văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám,
Trong chuyên luận Mai Văn Phấn và hành trình thơ vào cõi khác, Nxb Hội
Nhà văn, xuất bản năm 2015, Ngô Hương Giang và Nguyễn Thanh Tâm đã chỉ rarằng, trên con đường liên tục “vong thân”, Mai Văn Phấn đã bước qua các khuynhhướng từ lãng mạn cho tới tượng trực, siêu thực rồi đến tân cổ điển Trong đó, tưtưởng tượng trưng siêu thực biểu hiện khá rõ nét trong mỗi bước đi của nhà thơ
Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình khác như: Lý Hoài Thu (2003),
Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám – 1945, Nxb Giáo dục; Lưu Khánh
Thơ (2005), Thơ và một số gương mặt thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội; Bích Thu (2000), Hàn Mặc Tử - Một hiện tượng độc đáo của thi ca
Việt Nam thế kỷ XX, Tạp chí Văn học (1)….
*Tiểu kết
Qua tổng quan vấn đề nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng, ở mức độ khácnhau, các nhà nghiên cứu đều đồng thuận rằng ở Việt Nam tuy không hình thànhhẳn chủ nghĩa siêu thực, tượng trưng với hệ thống lí thuyết hoàn chỉnh hay xác lậptrọn vẹn về tuyên ngôn và thực hành sáng tạo nhưng đã có những dấu ấn không thểphủ nhận được của trường phái nghệ thuật này trong bức tranh chung thơ Việt Nóthể hiện trong tiến trình vận động thơ Việt Nam từ thế kỷ XX đến nay Những ảnhhưởng của yếu tố tượng trưng siêu thực đến văn học qua các thời kỳ là một vấn đềđược khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu,các công trình mới chỉ tập trung chủ yếu vào phong trào Thơ mới với những tác giảtiêu biểu như Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận…Trong khi đó, ở giai đoạn này,thơ Việt Nam chưa hình thành chủ nghĩa tượng trưng mà mới chỉ dừng lại ở sự dunhập và tiếp thu yếu tố tượng trưng Vì thế, nghiên cứu kĩ sự ảnh hưởng này ởnhững giai đoạn sau là một trong những khoảng trống còn bỏ ngỏ Khi nghiên cứutrực tiếp vào sự ảnh hưởng lên tư tưởng, bút pháp nghệ thuật, các tác giả đã nghiêncứu ảnh hưởng trong quan niệm nghệ thuật, bút pháp xây dựng biểu tượng, tính
Trang 36nhạc trong thơ, cách tân về thể thơ ở những mức độ khác nhau Tuy nhiên, nhữngnguyên lí của sự ảnh hưởng đó vẫn chưa được đề cập đến Một số tác giả có ảnhhưởng của tượng trưng, siêu thực và đã có những đóng góp lớn với thơ hiện đại ViệtNam được các nhà nghiên cứu đặc biệt đề cập nhiều hơn Do mục đích nghiên cứunên ảnh hưởng của tượng trưng, siêu thực trong sáng tác của các nhà thơ này chỉđược nêu lên ở mức độ vừa phải, hoặc thậm chí là điểm mặt, chỉ tên Mặc dù vậy,đây là những căn cứ thực tiễn quan trọng để chúng tôi có thể lựa chọn những gươngmặt tiêu biểu để nghiên cứu điển hình, đại diện cho các giai đoạn trong các chươngsau cũng như tiếp thu những phát hiện của các nhà nghiên cứu đi trước.
Trang 37CHƯƠNG 2: YẾU TỐ TƯỢNG TRƯNG, SIÊU THỰC TRONGPHONG TRÀO THƠ MỚINHÌN TỪ GÓC ĐỘ BỐI CẢNH TIẾP NHẬN VĂN HÓA
PHƯƠNG TÂYĐẦU THẾ KỈ XX 2.1 Phong trào Thơ mới trong hành trình phát triển tư duy nghệ thuật
Trước hết cũng cần phải làm rõ khái niệm về tư duy nghệ thuật và gần gũihơn là tư duy thơ Cả hai khía cạnh ấy đều thuộc về thế giới tinh thần, tư tưởng củachủ thể sáng tạo, nghĩa là có tính trừu tượng Có thể hiểu rằng tư duy thơ là một loạihình đặc thù của tư duy nghệ thuật thể hiện sâu sắc mối quan hệ giữa cái riêng vớicái chung, bộ phận và toàn thể Đồng thời quá trình này diễn ra trong mỹ cảm củachủ thể, nó không tồn tại độc lập mà là kết quả của sự tổng hòa nhiều thao tácphong phú khác nhau Nó bao gồm sự tưởng tượng, liên tưởng, suy tưởng, điềuchỉnh về trạng thái tâm lí, cảm xúc, sáng tạo, thăng hoa, lựa chọn, và kết hợp, kháiquát hóa hay cụ thể hóa Bên cạnh đó, người nghệ sỹ cũng nhận thức về các phươngtiện, chất liệu – tính chất và tác dụng để đảm bảo tính thẩm mĩ hay duy trì mạchcảm xúc của toàn bộ thi phẩm Khám phá tư duy thơ chính là đi sâu vào khai tháccốt lõi trung tâm của tác phẩm nghệ thuật, vì thế khi tìm hiểu một trào lưu thơ haychặng đường phát triển của một loại hình thơ công việc này vô cùng cần thiết Tưduy thơ vừa mang tính trừu tượng vừa đa dạng, nó là cách thức chủ thể sáng tạo nênthi phẩm, chúng ta chỉ có thể tiếp cận rõ nhất qua con đường phân tích văn bản tácphẩm thơ Tuy nhiên bản chất của nghệ thuật là sự sáng tạo không ngừng nên tư duythơ về mặt cấu trúc và hình thái cũng không tĩnh tại mà có tính năng sản, luôn vậnđộng Trong những nghiên cứu về tâm lí học sáng tạo, xúc cảm và lý trí thuộc nộigiới của thi nhân chuyển hóa thành năng lực hay nói đúng hơn là hoạt lực để hướngđến việc thỏa mãn, giải phóng những dồn nén, hưng phấn của thi nhân Như vậy quátrình hình thành nên một tác phẩm thơ trọn vẹn cũng tương đồng với công việc tổchức, kiến tạo thế giới khách quan theo tư duy chủ quan của người sáng tạo Kếtquả là nó được nhận diện bằng hình thức ngôn từ nghệ thuật, hệ thống hình tượng,hình ảnh, âm thanh, nhạc tính, thậm chí cả những “khoảng trắng” đầy hữu ý trongvăn bản thơ Một phương diện khác, thi nhân làm thơ cũng chính là thực hành
Trang 38quan niệm nghệ thuật, biểu hiện tư tưởng hoặc ý thức hệ, chuyển tải tư tưởng của cảmột thế hệ hay thời đại Vì thế, khái quát về sự vận động của tư duy thơ là một việclàm rất có ý nghĩa, để đưa ra kiến giải về quy luật phát triển và tìm ra mối liên hệ,
sự ảnh hưởng, tác động qua lại giữa những yếu tố nội sinh – ngoại nhập trong nhữngbối cảnh văn hóa đặc biệt
Đối với phong trào Thơ mới, dấu ấn thời đại in đậm trong tư duy thơ của cáctác giả Trong các nhân tố thúc đẩy sự sinh thành của Thơ mới, bên cạnh tư tưởngphương Tây được du nhập mạnh mẽ, còn có hai mạch ngầm luôn bền bỉ mà có sứclan tỏa sâu đậm là tinh thần dân tộc của con người Việt Nam đã kết tụ hàng ngànnăm lịch sử và tinh hoa văn hóa phương Đông, cụ thể là văn hóa Trung Hoa trongquá trình giao lưu khu vực Trong chặng đường đầu tiên từ năm 1932 đến 1935, khibắt đầu khúc nhạc tân kì, những tác giả mở màn phong trào Thơ mới đã không ngại
ngần tuyên xưng tôn chỉ sáng tạo nghệ thuật Nhà thơ Thế Lữ viết Cây đàn muôn
điệu trình bày về thiên chức của người nghệ sĩ cũng như quan điểm về cái đẹp trong
cuộc sống:
Tôi chỉ là một khách tình si Ham vẻ đẹp có muôn hình, muôn thể Mượn lấy bút nàng Ly Tao, tôi vẽ
Và mượn cây đàn ngàn phím tôi ca
Những lời thơ trữ tình trên là điển hình cho tư duy thơ của chủ nghĩa lãngmạn, bởi lẽ thi phái lãng mạn coi cái cái đẹp là đối tượng trung tâm khơi gợi cảmhứng về cuộc sống và con người Các bậc thầy thơ lãng mạn vào thế kỷ XIX nhưHugo, Lamartine, Chateaubriand, Musset, Vigny, Baudelaire, đề cao tính duy mĩ,cho rằng nghệ thuật vị nghệ thuật Họ tôn thờ cái đẹp và tìm thấy sự phong phú
“muôn hình, muôn thể” của nó trong cảnh sắc thiên nhiên, coi thiên nhiên như mộttấm gương trong sáng, phản chiếu những cung bậc cảm xúc nội tâm con người.Nhiều thi sĩ Thơ mới say sưa ca ngợi thiên nhiên, Thế Lữ khắc họa cảnh núi rừnghùng vĩ, cao cả trong “Hồ xuân và thiếu nữ”, bến xuân văng vẳng khúc hát thanhcao, bộ tranh tứ bình trác tuyệt về đại ngàn trong kí ức vị chúa sơn lâm Còn Lưu
Trang 39Trọng Lư lạc bước vào rừng thu xào xạc có nai vàng ngơ ngác, suối mây, hoa cỏ, lárụng, tất cả đều hư ảo, xa xăm đầy mơ mộng Trong quá trình phát triển tư duynghệ thuật, chủ nghĩa lãng mạn còn khẳng định những chủ đề mới mẻ mà trước đóchủ nghĩa cổ điển vốn thường đặt mình vào khuôn khổ lí trí thường không đề cậpđến Những nghệ sĩ lãng mạn nhấn mạnh vai trò cá nhân với niềm kiêu hãnh vàquyền hạn cao cả Sự vượt trội này đã khiến cho ngôi vị của cái tôi đạt đến mức độ
gần như tuyệt đối: “Ta là một, là riêng, là thứ nhất” (Hy Mã Lạp Sơn).
Ở Việt Nam từ thơ trung đại đến Thơ mới cái tôi cá thể như phát hiện rachính mình, trở thành một hệ giá trị, hoài nghi con người cộng đồng cũ mòn và khắc
kỷ Trong buổi đầu hội ngộ với phương Tây, thế hệ thi sĩ Thơ mới vui sướng tràn trềnhư lần đầu được tiếp xúc với thế giới mới mẻ, thanh tân sau bao ngày bị ngăn chặnbởi ước lệ, cổ điển Người hào hứng, phấn khích nhất là Xuân Diệu – “nhà thơ mớinhất trong các nhà Thơ mới” Hơn ai hết Xuân Diệu là người ý thức rõ về quyềnnăng của cá nhân, dám bộc lộ một cách thành thực những khát vọng hưởng thụ
mãnh liệt, những ước muốn sâu kín của mình: “Tôi muốn tắt nắng đi/ Cho màu
đừng nhạt mất/ Tôi muốn buộc gió lại/ Cho hương đừng bay đi” (Vội vàng) Có thể
thấy rằng, sự bừng tỉnh của ý thức cá nhân đã góp phần làm phơi trải những giá trịbản nguyên, cốt thiết của con người, khiến cho Thơ mới được công chúng đươngthời đón nhận nồng nhiệt Trong khi đó vào thời trung đại, con người cá nhân bịđồng nhất với phận vị, cho nên dù có tự tôn đến mấy họ cũng vượt qua được sựkiềm tỏa của đạo lí, trách nhiệm; ở gia đình thì là người con, người chồng, người
vợ, người cha, người mẹ, ra ngoài xã hội là bề tôi, bậc quân thần, chính nhân quântử Cái tôi Thơ mới không chỉ khát khao, dạt dào nhựa sống mà còn đa diện, phứctạp; sau niềm vui buổi đầu xuất hiện, cái tôi ấy đã sớm buồn chán và nuôi giấcmộng thoát ly thực tại Chủ soái của Thơ mới trong giai đoạn đầu là Thế Lữ vừa ca
tụng cái đẹp như Cây đàn muôn điệu nhưng cũng không tránh khỏi những Giây
phút chạnh lòng muốn mơ màng thoát lên chốn bồng lai tiên cảnh và nhất là hoài
vọng khắc khoải về quá khứ vàng son: “Than ôi! Thời oanh liệt này còn đâu!” (Nhớ
rừng) Mượn lời than đầy bi tráng ấy, nhà thơ gửi gắm niềm khát khao tự do của
Trang 40người thanh niên tiểu tư sản, chán ghét cảnh giả dối, đua chen, gian trá trong cuộcđời nhỏ hẹp Tiếp sau Thế Lữ, Thơ mới vang vọng không khí lịch sử bi hùng trong
Tiếng địch sông Ôcủa Phạm Huy Thông Tuy nhiên dẫu có trầm hùng, hào sảng thì
Lưu Bang, Hạng Võ, Ngu Cơ cũng là những con người một thời vang bóng trongtriều đại phong kiến Trung Hoa Vũ Đình Liên trong lòng day dứt một câu hỏi:
“Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ” (Ông đồ) đầy nuối tiếc về những
giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc đã phôi phai
Bước sang chặng đường từ năm 1936 đến 1939, Thơ mới đã toàn thắng,chiếm lĩnh trọn vẹn thi đàn, cuộc tranh luận mới – cũ gần như đã khép lại Đội ngũThơ mới càng trở nên sung mãn, bên cạnh những gương mặt quen thuộc của giaiđoạn trước thì nay đã được bổ sung thêm nhiều cây bút dồi dào năng lực như: XuânDiệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Anh Thơ, Tế Hanh, Như vậy, cùng nhìn lại hành trình hơn nửa thời gian tồn tại của phong trào Thơ mới,chúng ta thấy rằng sự gặp gỡ, ảnh hưởng trực tiếp từ khuynh hướng lãng mạn chiếm
ưu thế Tuy nhiên từ năm 1936 trở đi Thơ mới manh nha bước sang địa hạt tượngtrưng, siêu thực Trong các trường phái thơ Pháp du nhập vào Việt Nam, thơ tượngtrưng, siêu thực có một sức hấp dẫn đặc biệt đối với các nhà Thơ mới bởi tính độcđáo, hiện đại của nó Vì thế, họ đã chủ động tiếp nhận và xem nó như một địnhhướng sáng tạo cho thơ, từ đó hình thành nên một khuynh hướng thơ tượng trưng,siêu thực trong phong trào Thơ mới Đối với mỗi nhà thơ, việc tiếp biến thơ tượngtrưng, siêu thực Pháp có những mức độ khác nhau, phụ thuộc vào quan điểm thẩm
mỹ cá nhân Nhìn chung, sự xuất hiện của thơ tượng trưng đã làm thay đổi tư duynghệ thuật thơ từ quan niệm thẩm mỹ đến thi pháp Đồng thời, nó góp phần thúcđẩy Thơ mới tiến nhanh trên con đường hiện đại hóa Thơ tượng trưng với tư cáchmột trường phái đã ra đời và phát triển rực rỡ ở Pháp vào nửa cuối thế kỉ XIX, cònchủ nghĩa siêu thực ra đời vào những năm hai mươi của thế kỷ XX cũng tại Pháp đã
mở ra thời kì hiện đại cho thơ và có tầm ảnh hưởng tới nhiều nền thơ ca trên thếgiới, trong đó có Việt Nam Vậy, nguyên cớ nào đưa thơ tượng trưng và siêu thựcđến với Việt Nam và “bén rễ” được vào phong trào Thơ mới ?