1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thơ Joseph Brodsky

116 1,3K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nobel văn chương năm 1987 JOSEPH BRODSKY 24.5.1940 - 28.1.1996 Joseph & Maria Brodsky–1992 Joseph Brodsky tên tiếng Anh; tên gọi theo tiếng Nga là Iosif Alecxandrovitr Brodski - Иосиф

Trang 1

Nobel văn chương năm 1987 JOSEPH BRODSKY (24.5.1940 - 28.1.1996)

(Joseph & Maria Brodsky–1992)

Joseph Brodsky (tên tiếng Anh; tên gọi theo tiếng Nga là Iosif

Alecxandrovitr Brodski - Иосиф Александрович Бродский) là một hiện tượng hiếm

có của nền văn học thế kỉ XX, viết thơ, văn xuôi, kịch, tiểu luận, dịch thuật, sáng tác bằng cả tiếng Nga và tiếng Anh, từng được vinh danh là “nhà thơ tổng kết nền thơ nhân loại”, mặc dù thời trẻ chưa học hết phổ thông trung học nhưng qua các nẻo đường đời say mê và nỗ lực tự học, tự nghiên cứu, ông đã có một vốn hiểu biết văn hóa và nghệ thuật vô cùng sâu sắc, được coi là một trong những nhà thơ trí tuệ nhất thời đại của mình J Brodsky được tặng giải Nobel nhờ sự sáng tạo mang tính khái quát cao được nuôi dưỡng bằng những ý tưởng rõ ràng và một niềm đam mê mãnh liệt đối với thơ ca

J Brodsky sinh ngày 24-5-1940 trong một gia đình trí thức bậc trung gốc Do Thái tại thành phố Leningrad (Ленинград), nay là Sant Peterburg (Сант-Петербург) Bố ông tốt nghiệp đại học khoa địa lí và trường báo chí, trong chiến tranh là phóng viên nhiếp ảnh mặt trận, sau chiến tranh giải ngũ và làm cộng tác viên cho các tờ báo; còn mẹ ông suốt đời làm nghề kế toán

Từ nhỏ J Brodsky ước mơ trở thành bác sĩ nhưng 15 tuổi, đang học lớp 8, ông đã phải nghỉ học để đi làm rất nhiều nghề kiếm sống: thợ phay, nhân viên nhà xác, giúp việc các đoàn địa chất, thợ đốt lò, gác hải đăng Dù vậy, ông vẫn dành nhiều thời gian để tự học tiếng Anh, tiếng Ba Lan; nghiên cứu truyền thuyết, tôn giáo và triết học Năm 16 tuổi, J Brodsky đã bắt đầu làm thơ; 17 tuổi ông hoàn thành một

trong những bài thơ nổi tiếng của mình - Vĩnh biệt, hãy quên và đừng trách móc

20 tuổi, ông đã được các nhà thơ lớn công nhận tài năng và được các nhóm văn chương ở Moscva, Leningrad biết đến với tư cách là một nhà thơ và một dịch giả tài năng Song ngay ở thời điểm đó, nữ thi sĩ Anna Akhmatova đã tiên đoán: J Brodsky

sẽ có một số phận vinh quang và một cuộc sống nặng nề Rời nhà trường năm 15 tuổi, làm nhiều nghề lặt vặt để nuôi thân Trong thời gian này, ông tự học tiếng Anh

và tiếng Ba-lan và bắt đầu làm thơ Năm 1964, ông bị một tòa án ở Leningrad kết

án đày 5 năm vì tội danh: «ký sinh trùng xã hội» Ông rời Liên Sô vào năm 1972 sau khi đã sống trải 18 tháng trong một trại lao động ở miền bắc nước Nga Từ đấy, Joseph Brodsky cư ngụ tại Hoa-kỳ

Là người có tính cách độc lập, trong thơ thể hiện tinh thần yêu tự do, đề cao các giá trị tâm linh (trong Kinh Thánh), nên J Brodsky sớm bị chính quyền để ý, mặc dù trong hoạt động và sáng tác của ông không hề có biểu hiện của cái gọi là “chống

Trang 2

chế độ Xô viết” Năm 1963, từ một bài viết đăng trên báo Leningrad buổi chiều, J

Brodsky bị kết tội "ăn bám xã hội" và bị buộc cải tạo 5 năm tại vùng Arkhangelsk (miền Bắc nước Nga) Tuy nhiên, nhờ sự phản đối kịch liệt của các nhà văn trong và ngoài nước, trong đó đặc biệt tích cực là A Akhmatova, S Marsac, D Sostakovitr, J

P Sartre, ông đã được trở về Leningrad vào tháng 11 năm 1965 Tại đây, hai năm sau, ông đã sáng tác bốn trường ca, nhưng phần lớn các tác phẩm của ông đều phải

gửi ra nước ngoài in thành hai tập: Thơ và trường ca (1965) và Trạm dừng trong sa mạc (1970) Trong thời gian lưu đày, ông tập trung nghiên cứu văn học thế giới, đặc

biệt là thơ ca tiếng Anh trong nguyên bản Trở lại với tự do, ông sống chủ yếu bằng công việc dịch thuật và sự giúp đỡ của bạn bè

Đầu những năm 1970, tình trạng của J Brodsky ở nước Nga càng thêm căng thẳng Ông không muốn rời khỏi tổ quốc (trong thư gửi Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô

L Breznev, ông viết : “Trong máu thịt hoặc trên trang giấy: thậm chí nếu như thân xác tôi không cần cho nhân dân tôi, thì tâm hồn tôi vẫn còn có ích cho nhân dân tôi”)

Tuy nhiên, giữa năm 1972 ông đã bị trục xuất khỏi nước Nga, phải sang Vienna, London và cuối cùng tới Hoa Kỳ Ở đây ông viết thơ, văn xuôi bằng hai thứ tiếng, xuất bản nhiều tác phẩm mới, trong đó có tuyển tập thơ của ông được dịch sang

tiếng Anh (Thơ tuyển - Selected Poems; Từ loại Thơ những năm 1972-76; Những bài tứ tuyệt mới gửi Augusta, v.v ), đồng thời làm giáo sư thỉnh giảng cho một số

trường đại học và cao đẳng Năm 1977, ông nhập quốc tịch Mỹ và làm giáo sư văn học tại trường Cao đẳng Five College ở Mount Holyoke, bang Massachusetts Dần dần, J Brodsky trở thành không chỉ là một nhân vật sáng giá trong đội ngũ những người Nga ở hải ngoại, mà nhờ những sáng tác bằng tiếng Anh, ông trở thành nhà thơ nổi tiếng thế giới

Năm 1978, Đại học Yale trao cho J Brodsky bằng tiến sĩ văn học danh dự Năm

1979, ông trở thành thành viên của Viện Hàn lâm và Nghệ thuật - Văn chương Mỹ Năm 1981, ông được quỹ John D và Catherine T Mac Arthur trao tặng giải thưởng cho các tác phẩm thiên tài Năm 1986, cuốn tiểu luận về nghệ thuật và chính trị Nhỏ hơn một của ông được giải thưởng của Nhóm các nhà phê bình sách Quốc gia (Mỹ) Năm 1987, ông nhận giải Nobel của Viện Hàn lâm Thụy Điển, tại đây ông đọc một bài Diễn từ được đánh giá rất cao, với những nhận định, kiến giải sâu sắc và thẳng thắn về thơ ca, nghệ thuật Năm 1991 ông nhận giải thưởng của Thư viện Quốc hội Mỹ Tài năng và vinh quang của ông được cả thế giới thừa nhận, xuất hiện rất nhiều công trình nghiên cứu đặc điểm sáng tác, thi pháp của J Brodsky ở nước Nga cũng bắt đầu in sách của ông và tự hào về ông như một nhà thơ dân tộc Nga Năm 1990 J Brodsky được khôi phục quốc tịch Nga

Năm 1978 J Brodsky lên bàn mổ tim lần đầu tiên, và sau đó ông còn phải phẫu thuật hai lần nữa, sức khỏe yếu dần, tuy nhiên ông vẫn làm việc rất nhiều J Brodsky mất tại New York năm 1996, khi chưa tròn 56 tuổi, đang tràn trề những dự định sáng tạo, để lại người vợ trẻ, một con gái nhỏ và một con trai lớn (ở Nga) Theo nguyện vọng của J Brodsky trong di chúc, ông được mai táng ở Venice, Italia, trên mộ chỉ đặt một cây thánh giá trắng giản dị ghi tên họ, dòng thủ bút của ông cùng hình vẽ bông hồng nhỏ nằm nghiêng - không ngày tháng, không danh hiệu, công lao

Năm 2005, gần 10 năm sau khi qua đời, một bức tượng của J.Brodsky đã được dựng tại sân trước khoa Ngữ văn, trường ĐH Tổng hợp Sant Peterburg, quê hương ông

Trang 3

* Tác phẩm:

- Vĩnh biệt, hãy quên, và đừng trách móc (Прощай, позабудь и не обессудь,

1957), thơ

- Khúc bi ca lớn gửi Donne John (Большая элегия Джону Донну, 1963), thơ

- Thơ và trường ca (Стихотворения и поэмы, 1965), thơ.

- Trạm dừng trong sa mạc (Остановка в пустыне, 1970), thơ.

- Thi tuyển (Selected poems, 1973), tuyển tập thơ.

- Kết thúc thời tốt đẹp Thơ những năm 1964-71 (Конец прекрасной эпохи

Стихотворения 1964-71, 1977), thơ

- Từ loại (1) Thơ những năm 1972-1976 (Часть речи Стихотворения 1972-1976,

1980), thơ và bài viết [A part of speech]

- Khúc bi ca La Mã (Римские элегии, 1982), thơ.

- Những bài tứ tuyệt mới gửi Augusta (Новые стансы к Августе, 1983), thơ.

- Сẩm thạch (Мрамор, 1984), kịch [Marbles].

- Nhỏ hơn một (Меньше одиницы, 1986), tiểu luận [Less than one].

- Lịch sử thế kỉ hai mươi (History of the twentieth century, 1986), thơ.

- Urania (Урания, 1988), thơ [To Urania].

- Bút kí dương xỉ (Заметки папоротника, 1990).

- Trên các nẻo Atlantida (На околицах Атлантиды, 1992).

- Bờ sông của những kẻ vô phương cứu chữa (Набережная неисцелимых, 1992),

thơ

- Hoa văn mờ trên giấy (Watermark, 1992), tiểu luận.

- Nỗi đau và lí trí (Скорбь и разум, 1995), tiểu luận [On grief and reason].

- Miền đất không bằng phẳng (Пересеченная местность, 1995), thơ.

* Một số tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt:

- Các bài thơ: Khúc thơ; Tôi sẽ dựng lên tượng đài khác cho tôi; Ngựa ô; Tình yêu; Tôi giậm chân lâu chưa, nhìn gót giày thì rõ; Odyssey gửi pháp thuật gia TV, Hồng Thanh Quang dịch, in trong tập Một góc thơ Nga, NXB Văn học - Trung tâm Văn hóa

Ngôn ngữ Đông Tây, 2001

- Các bài thơ: Những câu thơ về một đề từ, Tưởng niệm Fedia Dobrovolski, Vĩnh biệt, Ta sẽ không đạt đến, Đề tặng Gleb Gorbovski, Nghĩa địa Do Thái, Sách, Đồi, Chúng ta không điếc hơn, Ngôn từ, Trái đất, Những trận đánh không dứt, Người nghệ sĩ, Odysseus nói với Telemachus, Những nhạc sĩ mù, Gửi Anna Akhmatova, Những người giác đấu, Những người hành hương, Định nghĩa thơ, Một bài ca, Con ngựa đen, Sáu năm sau, Tĩnh vật, in trong tập Tĩnh vật và các bài thơ khác, Hoàng

Ngọc Biên tuyển dịch, Nxb Thuận Hóa - Huế, 1991

- Các bài thơ: Một phần tiếng nói, Nghiêm Huyền Vũ dịch, Nghĩa địa Do Thái, Hoàng Ngọc Biên dịch, Mây bay qua, Thuý Toàn dịch, Con ngựa đen, Hoàng Ngọc Biên dịch,

in trong tập Tuyết trắng, tuyết trắng rơi - Tuyển thơ Nga Thế kỷ XX, NXB Kim Đồng

- Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2005

- Bài thơ Chân lý, Hồng Cương dịch, Một trăm năm Anna Akhmatova, Sone Thanh

Thảo dịch, đăng rải rác trên báo, internet

Trang 4

MỤC LỤC

Định nghĩa thơXuân đếnNhững chiếc xe bòGửi Anna AkhmatovaNhững người hành hươngMây bay quaTĩnh vật

25 XII 1993Anno Domini[1]

Ba bài trong TỪ LOẠI

Ba bài khác trong TỪ LOẠIBốn bài trong TỪ LOẠIBài ca tháng MườiBlues

Ba đoản khúc

Có những thành phố…

LMNgọn lửa run run…

Đoản khúcBài ca giới nghiêmBài ca cho BosnieBài ca Giới Nghiêm (một bản dịch khác)

Khúc Bosnia** (bản dịch khác của " Bài ca cho Bosnie") Khúc Bosnia*** (bản dịch khác của "Bài ca cho Bosnie")

Khu vườn

Kỷ niệmBài ca của Fedia Dobrovolski

Con ngựa đenĐồiTrái đất

T ình Yêu (4 bản dịch)Đứng sững trước cánh cửa đêm

Em yêu, đêm nay

Bi caTiêu chí

Trang 5

Vô đềHoạ sĩĐộng từ

Người nghệ sĩ (1 bản dịch khác của "Hoạ sĩ")

Ngôn từ (1 bản dịch khác của "Động từ")

Lửa run rẩy trong bóng đêm

Anh sẽ rong ruổi trong hoàng hôn

Một đêm mùa thu

Những người giác đấu

Những câu thơ về một đề từ

NHỮNG LÁ THƯ TRIỀU MINH

CHỈ CÓ TRO MỚI BIẾT

Những trận đánh không dứt

Ở khu HồGiai điệu BelfastOdysseus nói với Telemachus

Tượng đàiCuốn sáchTượng đài cho Pouchkine

Những nhạc sĩ mùTưởng niệm Fedia Dobrovolski

Ta sẽ không đạt đến

Một bài caSáu năm sauBài ca của Fedia Dobrovolski

Ở khu HồNghĩa địa Do tháiVĩnh biệt

Trang 6

Định nghĩa thơ

Tưởng nhớ Fédérico Garcia Lorca

Huyền thoại kể lại rằng trước khi bị xử bắn ông nhìn thấy mặt trời đang lên phía trên đầu những người

lính và bấy giờ ông nói:

- Thế tuy nhiên mặt trời vẫn mọc

Đó có lẽ là khởi đầu của một bài thơ mới

trên những cửa kính và làm rối loạn mọi nhịp,

chữ nghĩa áp đặt nhiệm vụ cho chúng ta

Nhìn lại

trên mặt đất thiếu ân cần

cây thập giá vươn dài những cánh tay cuối cùng

căng cứng

Một đêm trăng

nhìn lại cái bóng dài

in dáng cây cối và con người

Một đêm trăng

nhìn lại những con sóng nặng trên sông

lấp lánh như những chiếc quần

đã cũ

Thế rồi bình minh tới

Nhìn một lần nữa con đường trăng

chỗ hiện ra trung đội hành quyết,

Nhìn lại sau cùng

mặt trời lên giữa những cái gáy xa lạ

của những người lính

***

Trang 7

Vĩnh biệt

Vĩnh biệt,

Hãy quên tôi,

Hãy tha lỗi cho tôi

Hãy ném thư tôi vào lửa

như người ta đốt mặt đất khi đã đi qua

Con đường của ngươi hãy là con đường dũng cảm

sưởi nóng những bàn tay của ngươi

bằng ngọn lửa đốt chung vui

Hãy đi tới trong bão tố

trong tuyết và trong mưa

trong lửa hừng hực cháy,

và hãy biết tìm thấy

thắng lợi

nhiều lần hơn ta

Sức mạnh

những trận chiến

hãy gầm thét trong ngực ngươi

Ta sung sướng cho những ai

ngày mai sẽ dấn thân

theo bước chân của ngươi

-"Những câu thơ về một đề từ" và "Vĩnh biệt" trích từ Tĩnh vật và những bài thơ khác, thơ

Joseph Brodsky do Hoàng Ngọc Biên tuyển dịch, Nhà xuất bản Thuận Hóa - Huế, 1991 Dịch

từ bản Pháp ngữ của Jean-Jacques Marie trong tập Collines et autres poèmes, Joseph

Brodsky, Éditions du Seuil, 1966.

***

Xuân đến

Cái kim nổi tiếng trong đống rơm nổi tiếng không kém,

trong hoàng hôn và trong ánh sáng giả của thành phố,

trong tiếng xôn xao, trong tiếng bập bềnh và rên rỉ của thành phố

bài ca mong manh của cái chết đi qua

Trang 8

Ánh sáng phía trên những con đường

vẽ trước mắt ta thành phố cúi mình trên sông

và tiếng còi ngắn ngân vang sát những mặt tiền chật hẹp

bay lên hướng bầu trời và tự do

Ký ức khoác chiếc áo ngắn lảng vảng khắp thành phố,

những đồng tiền reo trong tay, những chiếc lá vàng

quay như một trận mưa đồng rúp, phía trên

các bích chương những chiếc máy bay hẹp bay lên trời

như những con chim cúi mình trên những chiếc tàu sắt

Mưa dày đặc những đại lộ rơi trên tháng ba

như vào những ngày trở về người ta không quên được

Anh ra đi một mình trên mặt nhựa đường và chạy bay về phía anh

là những chiếc ô tô lấp lánh Ánh sáng đi qua

trên vịnh và đi qua còn cả cuộc sống có ngàn tên gọi,

chiếc áo khoác ngoài của nó thì thầm, những gót chân kêu vang

và anh ở lại với quần chúng ấy

với thành phố ấy

với thế kỷ ấy,

mặt đối mặt, lẻ loi như một đứa trẻ

Ký ức khoác chiếc áo ngắn lảng vảng khắp thành phố, mùa xuân

đến, mưa rơi, ôm chặt chiếc khăn quàng của mình, mắt dán vào các cửa kính

ký ức khoác chiếc áo ngắn nhìn những bộ áo quần của thế kỷ

và cái hoa văn muôn thuở ấy lên tiếng rít khi đi qua đời sống

***

Những chiếc xe bò

Tiếng nghiến của những chiếc xe bò

rời bỏ những đồng rạ hoang dã

choán hết bóng tối đang lên

và bay đến tận chân trời

Từ lối mòn này qua đến lối mòn kia

những chiếc xe xé rách cả cổ họng

để đi qua tán lá um tùm

và đến tận những đồng cỏ xa

Đỉnh những cây trăn trụi lá

và ngọn những cây phong vàng úa

Trang 9

thôi rùng mình

khi những bó cỏ buộc chặt

dựng đứng thẳng lên trời

Những gốc nằm ngang đường

và những cây tai không lọt nổi tiếng chim

chỉ còn nghe mỗi tiếng nghiến

của những tăm bánh gỗ và lời chửi rủa của những người

đánh xe bò

-Hai bài thơ trên từng xuất hiện trong Joseph Brodsky, Tĩnh vật và những bài thơ khác (Huế:

Nxb Thuận Hóa, 1991) — Hoàng Ngọc Biên dịch từ bản Pháp ngữ của Jean-Jacques Marie

trong Joseph Brodsky, Collines et autres poèmes (Paris: Éditions du Seuil, 1966).

***

Gửi Anna Akhmatova

Nghển cổ lên trời những con gà trống sẽ gáy,

qua những đại lộ sẽ rào rạc tiếng nghiến của giày ủng,

những con ngựa màu ngọc bích sẽ lấp lánh

vào chính giờ chết của chúng ta

Cây sáo thần sẽ thổi lên qua những phố hẹp,

súng ngắn sẽ nổ ra những tiếng cười

trên sông đào gần những cửa kính rung rung,

căn phòng sẽ tràn ngập ánh sáng,

Và sẽ bước giẫn qua những bụi cây

là những người lính vô hình của mùa hè nóng cháy,

dọc theo những lối đi cỏ cắt sát đất

như bóng những con tàu hìng quả trứng

Như thế sẽ tiến lên thế kỷ vàng hai mươi mốt

trên con đường mòn chói chang nắng đỏ

lật đổ vũ trụ trong sương mù

để trả lời những câu hỏi và những câu nguyền rủa

Nhưng trên quảng trường kiến nghị trước khi đêm tới

bà sẽ đến không có ai theo, một mình,

trùm một chiếc áo choàng xanh, như ngày xưa,

muôn đời không có nịnh thần,

không có chúng ta

Trang 10

Bà chỉ có trong tay một cái loa nhỏ bằng giấy

một chiếc taxi cuống cuồng theo dõi bà từ xa,

nước rùng mình và ngời sáng hai bên người bà,

trên mặt nhựa đường lủng lẳng những dây điện thoại

Bà sẽ ngẩng khuôn mặt sáng lạn của bà lên

tiếng cười của bà vang như một tiếng khóc vĩnh biệt

và trên chiếc cầu còn hơi ấm một tiếng thì thầm âm ỉ,phù du sẽ làm đảo lộn cả thành phố

Tôi chưa nhìn thấy, tôi sẽ không nhìn thấy nước mắt bà,

sẽ không nghe thấy tiếng bánh xe lăn lao xao

đưa bà về phía vịnh và những hàng cây

qua khắp đất nước không có được một bức tượng của bà

Trong một căn phòng hẹp và không có sách,

không có nịnh thần – họ không đến với bà được nữa –hai thái dương bà nằm giữa hai lòng bàn tay,

về chúng tôi và sẽ viết theo đường vòng

Và bấy giờ bà sẽ nói: Chúa ôi, trời ơi,

khoảng không trống vắng ấy nay chỉ còn là xác thịtcủa những linh hồn bị thiên hướng của mình phản bội.Chẳng phải là Sáng tạo mới của người

***

Những người hành hương

Trước sân vận động và đền miếu,

trước nhà thờ và quán rượu,

trước những nghĩa địa phong lưu

trước những dãy chợ lớn,

trước sự bất hạnh và sự thanh thản,

trước Rome và trước La Mecque,

cháy bỏng dưới nắng xanh mặt trời,

họ đi khắp cùng thế giới

những người hành hương

Trang 11

Họ là những người què cụt, lưng gù,

là những người đói khát, rách rưới,

trong đôi mắt hoàng hôn say ngủ,

trong trái tim lạc lõng buổi bình minh

Phía sau họ những sa mạc ca hát,

và những ánh chớp lóe sáng,

dưới bước chân họ những ngôi sao thức dậy,

và chim chóc thét vào tai họ

rằng thế giới sẽ không thay đổi

Không Nó sẽ không thay đổi

Tuyết sáng rỡ

dịu dàng mà vô định,

thế giới sẽ không ngừng nói dối,

bất động trong vĩnh cửu của mình

dễ hiểu có lẽ

nhưng tuyệt đối vô hạn

Vậy thì tại sao tin ở mình?

Tại sao tin ở Thượng đế?

Chúng ta chỉ còn mỗi

phiêu lưu và ảo tưởng

Và những hoàng hôn nổi lên mặt đất,

và những bình minh đăng quang mặt đất

Mặt đất được tưới bằng máu của người lính,

kích động bỏi tiếng thét của nhà thơ

***

Mây bay qua

Anh có nghe, anh có nghe trong khoảng rừng chồi tiếng hát trẻ em,

những tiếng hát bốc lên trên những chòm cây bạc

tản lạc trong đêm tối, chầm chậm tắt

hòa lẫn với bầu trời mà đêm đang xóa đi

Những dòng mưa lấp lánh quấn quít những mình cây

và rì rào trong lặng lẽ trên vùng cỏ trắng,

anh có nghe những tiếng hát của chúng, anh có thấy những mái tóc

của chúng cài những chiếc lược đỏ,

và những lòng bàn tay chúng mở ngửa, hướng về những chùm lá ướt?

Trang 12

«Mây bay qua, mây bay qua rồi tan rã.»

Lũ trẻ hát như thế và những cành đen thì thầm,

những tiếng hát hốt hoảng bay đi, giữa những mình cây

âm u, bay về hướng đêm đang lại gần, những tiếng hát không trở lại

Những chiếc lá ẩm ướt bay theo gió, vọt lên

từ những bụi rậm, bỏ trốn, như một tiếng gọi đến từ mùa Thu xa

Từ bụm cỏ tới những chỏm cao thế giới chỉ còn là

tiếng hát nhịp nhàng, run rẩy

Khi mây qua, sự sống cũng qua và bay đi

Chúng ta mang trong mình cái chết của chúng ta, như những đám mâyphồng lên những tiếng hát và tình yêu giữa những cành đen

«Mây bay qua » lũ trẻ ngợi ca thế giới

Anh có nghe, anh có nghe trong khoảng rừng chồi tiếng hát trẻ em?Những dòng mưa lấp lánh quấn quít, những tiếng hát vang vang,những tiếng hát chóng qua bên những gò đống hẹp hòi nơi những bóng tối mới

tràn ngập những khoảng trời hấp hối

Trên những rừng chồi bay đi những đám mây, bay đi những đám mây

Ở đâu đó nước rịn thoát, chỉ cần hát và khóc

dọc theo những hàng rào của mùa Thu,

chỉ cần nhìn lên cao mãi, chỉ cần nức nở không cùng,

chỉ cần là một đứa trẻ của đêm tối,

chỉ cần nhìn lên cao mãi, chỉ cần hát và khóc,

chỉ cần không biết tới nước mắt

Ở đâu đó nước rịn thoát dọc theo những hàng rào của mùa Thu

Trang 13

Tốt hơn vẫn là sống trong bóng tối.

Ta ngồi trên một chiếc băng gỗ

nhìn người qua lại –

có khi là nguyên những gia đình.

Ta chán ngấy ánh sáng.

Đây là tháng đông

Tháng đầu trên tờ lịch.

Ta sẽ bắt đầu lên tiếng

khi ta chán ngấy bóng đêm.

2

Đã tới lúc Ta sẽ bắt đầu đây.

Bắt đầu từ đâu cũng thế thôi.

Mở miệng Ta có thể câm nín,

nhưng lên tiếng vẫn hơn.

Vậy thì ta sẽ nói gì đây?

Ta sẽ nói về hư không?

Ta sẽ nói về ngày, hay về đêm?

Hay về con người? Không, chỉ nói về sự vật,

bởi lẽ con người chắc chắn có ngày sẽ chết.

Ai nấy sẽ chết Ta cũng thế.

Lên tiếng cũng chẳng làm được gì.

Chỉ như viết chữ lên vách gió.

3

Máu ta rất lạnh –

cái lạnh cắt da hơn cả

Trang 14

những con suối băng đến tận đáy.

Ta chẳng ưa thích gì con người.

Ta ghét dáng điệu của họ.

Bám chặt vào cây đời,

mỗi gương mặt trơ cứng

không dễ gì tách ra được.

Có cái gì nghĩ đến đã thấy ghê tởm

lộ ra trên từng gương mặt từng hình dáng Cái gì như là xu nịnh

với những kẻ hầu như chẳng biết là ai.

4

Sự vật dễ chịu hơn Nhìn từ

bên ngoài chúng không thiện

không ác Và bên trong chúng cũng

cho thấy chẳng tốt chẳng xấu.

Bên trong sự vật chỉ là mục nát.

Là bụi Là sâu bọ đục khoét cây Và

là cánh bướm khô mong manh Mặt tường mỏng Chẳng thoải mái cho bàn tay.

Bụi Khi ta bật đèn lên,

chẳng nhìn thấy gì ngoài bụi.

Đúng như thế cho dù sự vật

có bí ẩn đóng kín.

5

Cái tủ xưa ấy –

bên ngoài cũng như bên trong –

lạ lùng thay làm ta nhớ đến

Nhà Thờ Đức Bà ở Paris.

Mọi thứ đều tối đen trong

ấy Cán chổi hay dải lụa của vị giám mục

không sao đụng tới được bụi đời thường.

Còn chính sự vật, như một qui tắc,

Trang 15

chúng không tìm cách rửa sạch hay chế ngự

bụi từ bên trong mình.

Bụi là da thịt của thời gian.

Thời gian, ấy là thịt da và máu.

6

Gần đây ta thường ngủ

giữa ban ngày Cái

chết của ta, giờ đây có vẻ như

đang thử thách và sát hạch ta,

đem gương soi đặt gần

đôi môi hãy còn hít thở của ta,

xem cho biết ta còn có thể chịu

nổi không hiện hữu giữa ánh sáng ngày.

Ta không cử động Hai bên

sườn này lạnh như những khối băng.

Những đường tĩnh mạch hiện một màu xanh

trên nền da trắng màu đá hoa.

7

Gộp hết các góc cạnh của mình

để gây ngạc nhiên cho chúng ta,

sự vật thoát ra khỏi thế giới của

con người – một thế giới làm bằng chữ nghĩa.

Sự vật không chuyển động, hay đứng nguyên.

Đấy chỉ là sự mê sảng của chúng ta.

Mỗi sự vật là một không gian, bên ngoài

không gian ấy có thể chẳng có gì cả.

Cây cối Bóng mát của nó, và

mặt đất, với những rễ bám đâm suốt.

Trang 16

Như những chữ kết tên đan vào nhau Đất sét và những dãy đá.

Rễ cây dệt chéo và pha lẫn vào nhau

Đá tảng dùng khối nặng của riêng mình thoát ra khỏi những chùm

gốc rễ chằng chịt.

Tảng đá kia nằm cố định Ta không thể dời chỗ nó, hoặc trục nó đi.

Bóng cây lá ập lên con người,

như một con cá nằm trong lưói.

9

Sự vật Màu nâu của nó Đường

viền mờ nhạt của nó Buổi hoàng hôn Bấy giờ chẳng còn gì.

Chỉ còn một tĩnh vật.

Cái chết sẽ đến và sẽ tìm thấy

một thân người, sự an bình lặng lẽ

sẽ chiếu rọi cái chết đến gần

như gương mặt của người đàn bà.

Lưỡi hái, sọ người, xương –

cả một túi dối trá phi lý.

Đúng ra: “Khi cái chết tới,

nó sẽ móc chính đôi mắt của ngươi.”

10

Mary bấy giờ nói với Chúa Ki tô:

Ngươi có phải là con ta? – hay Thượng đế? Ngươi bị đóng đinh trên cây thập giá Đường về nhà ta nay ở nơi đâu?

Làm sao có thể đi qua cổng nhà

khi ta còn chưa hiểu ra:

Ngươi đã chết? – hay còn sống?

Ngươi có phải là con ta? – hay Thượng đế?

Trang 17

Đến lượt Chúa Ki tô thưa:

Ghi chú: "Tĩnh vật" một trong những bài thơ quan trọng của Joseph Brodsky

đã được Simon Nabatov (nhạc sĩ Nga lưu vong, người có cuộc sống gần giống như Brodsky) soạn thành nhạc phẩm "Nature Morte" dài 66 phút cho giọng nam,

clarinet, trombone và dương cầm Nhạc phẩm đã được ghi vào đĩa Simon Nabatov Quartet, "Nature Morte", LEO RECORDS CD LR310.

Phê bình gia Stuart Broomer viết về nhạc phẩm này như sau:

"Bản 'Nature Morte' của Simon Nabatov là một phép lạ của tài năng và kiến quan nghệ thuật, một kết hợp hiếm có của những thành tố âm nhạc, trong đó ca từ, khúc thức và sự ngẫu tác đã hỗ trợ cho nhau cực kỳ tinh tế "

Riêng về bài thơ "Tĩnh vật", Stuart Broomer nhận định:

"Tĩnh vật" của Joseph Brodsky là một bài thơ căng thẳng khủng khiếp, một mộng tưởng giữa tháng Giêng băng giá về đời sống và cái chết, thân xác và thời gian, sự tiến hoá và sự thoái hoá, thượng đế và con người Những đường cong của ý nghĩa những đề tài của nó bao gồm hơi thở, cái kinh nghiệm nội tại của thân xác, sự hiện diện bất khả biện biệt của tính cách thiêng liêng trong con người Nó là bài thơ của một thân phận lưu đày nhưng đã được viết trước khi chính nhà thơ bị lưu đày, bài thơ của một người bị kết án "ăn bám xã hội" có lẽ chỉ vì người ấy có khả năng đàm luận về những phương diện của cuộc nhân sinh ("Bụi là da thịt của thời gian") hơn là chỉ biết đàm luận đơn thuần về chính trị, hay thậm chí đơn thuần về xã hội [ ] Dù ngôn ngữ hình tượng của nó có điểm tương đồng với những bài thơ khác của Brodsky, nó không phải là một bài thơ để đem ra phân tích, tháo gỡ, chú giải Các phần của nó đã sẵn phô bày hiển hiện, được chia thành những đoạn cân đối, và

sẽ sẵn sàng kết hợp lại thành một cấu trúc tổng thể trong quá trình đọc, trong chính người đọc Bài thơ tự nó làm nên ý tưởng Hãy đọc nó nhiều lần và nó sẽ trở nên minh bạch và hoàn hảo, tâm trí của người đọc sẽ đạt được điều này trong khi đọc Chúng ta không thể hỏi nó có ý nghĩa gì Tự nó sẽ mang ý nghĩa đến cho chúng ta.

***

25 XII 1993

Để có một phép lạ, hãy lấy mảnh áo da anh chăn cừu, ném

Vào một nhúm hôm nay, một hạt ngày xưa

Và một nắm ngày mai Hãy thêm vào bằng mắt

Một chút đất, một mảnh trời,

Trang 18

Thế là phép lạ xảy ra Để có những phép lạ, khi cuốn hút

về trái đất, hãy chỉ biết con người sẽ chờ đợi ở đâu,

Thế là anh sẽ hớn hở tìm thấy đúng địa chỉ

Và chủ nhà, cho dù ở một vùng hoang dã

Hoặc, giả như anh bỏ nhà ra đi, hãy bật sáng một

ngôi sao bốn chấm trên Thiên đường, như anh vẫn làm,

Để thắp sáng một thế gian trống vắng bằng ngọn lửa cháy rực

Và theo anh đến tận cùng với cái nhìn sắc bén của nó

Nguyên tác đăng trên The New Yorker, Dec 27, 1999 & Jan 3, 2000

***

Anno Domini[1]

Các thị trấn đang ăn mừng lễ Giáng sinh

Dinh ngài Toàn quyền giăng đầy

tầm gửi, đèn đuốc nghi ngút khói ở cổng vào

Trên những ngõ hẹp dân chúng xô đẩy và nô đùa

Một đám đông vui vẻ, nhàn rỗi, dơ bẩn,

tụ lại náo động ở phía sau dinh

Ngài Toàn quyền đang bệnh Ngài nằm

trên trường kỷ, quấn trong chiếc khăn quàng từ Alcazar,

nơi xưa kia ngài từng phục vụ, và ý nghĩ hướng về

người vợ ngài và thư ký của ngài

đang tiếp khách ở đại sảnh tầng dưới

Quả tình ngài không ghen Lúc này

quan trọng với ngài hơn cả là rút về

cái vỏ bọc ốm đau, những giấc mộng, sự trì hoãn

chuyển về thủ phủ Và từ đó

ngài hiểu rằng để vui hưởng một ngày vui chung

đám tiện dân chẳng cần gì đến tự do —

cũng bởi lý do đó ngài cho phép

luôn bà vợ tha hồ cắm sừng ngài Vậy thì

ngài nghĩ gì nếu những nỗi muộn phiền tràn ngập

không làm ngài đau khổ? Nếu như ngài đang yêu?

Một cái rùng mình lạnh buốt chạy khắp hai bờ vai,

Trang 19

ngài bèn xua đi những ý nghĩ khiếp hãi kia.

Trong sảnh đường cuộc vui lắng xuống

nhưng vẫn chưa dứt Lãnh chúa các bộ lạc

say hết biết trời trăng đờ đẫn nhìn xa ra

chân trời nay không một bóng quân thù

Răng cổ ai nấy biểu lộ sự giận dữ,

phác một nụ cười trông y như bánh xe đang lăn

người ta đạp thắng gấp — và một người bồi

đến châm thức ăn cho họ Trong giấc ngủ gà gật

một tay lái buôn la lớn Khúc ca nghe bài được bài không

Bà vợ ngài Toàn quyền và người thư ký lẳng lặng

chuồn ra vườn Và trên vách tường

con đại bàng hoàng cung, trông như một con dơi, mắt

ngó xuống, sau khi xơi tái trọn lá gan ngài Toàn quyền

Và tôi,[2] anh viết truyện từng nhìn thấy thế giới,

từng đi hết đường xích đạo trên lưng một con lừa,

anh viết truyện nhìn ra cửa sổ tận những ngọn đồi thiu ngủ

và nghĩ về sự những thống khổ trùng hợp của chúng ta:

Hoàng đế sẽ không cho ngài gặp mặt, còn ta ta sẽ

không được gặp con trai ta và Cynthia[3] Và chúng ta,

ở đây chúng ta sẽ chết rũ Sự ngạo mạn sẽ không đẩy

số phận gắt gao của chúng ta đến mức làm chứng

rằng chúng ta được tạo ra theo hình ảnh của Chúa

Phần mộ sẽ làm cho mọi người đều giống hệt

Vậy nên, ít ra khi còn trên đời, ta hãy khác nhau!

Cho dù lý do nào ta vội vã rời bỏ dinh thự này,

ta không thể xét đoán đất nước chúng ta Lưỡi gươm công lý

sẽ tức khắc bám chặt vào nỗi nhục của chúng ta:

những kẻ thừa kế, quyền uy, nằm trong tay kẻ mạnh hơn

Hạnh phúc thay tàu thuyền đã không nhổ neo!

Hạnh phúc thay biển khơi đã đóng băng!

Hạnh phúc thay chim chóc trong những đám mây kia

quá yếu so với những khung nền nặng trĩu như thế!

Về việc ấy, ta chẳng có thể trách cứ ai

Trang 20

Nhưng có lẽ sức nặng của chúng ta thì sẽ

cân xứng đúng với âm thanh của chúng

Dù sao, hãy để chúng bay về quê hương chúng ta

Dù sao, hãy để chúng cất vang giọng la hét cho chúng ta

Tổ quốc tôi những người khách phương xa,

đến viếng thăm Cynthia, cúi mình trên

máng cỏ y như các đạo sĩ thời nay

Đứa bé ngủ ngon lành Một ngôi sao le lói

như một hòn than dưới đáy bình nước rửa tội.[4]

Và những người khách, tay không đụng đầu đứa bé,

đã lấy cả một quầng sáng dối trá thay vào hào quang,

và chuyện tầm phào thay chuyện Mẹ Đồng trinh sinh ra Chúa,[5]

bỏ qua chuyện người cha trong dấu lặng

Nhưng dinh ngài thưa dần Ánh đèn mỗi tầng lầu đang tắt

Tầng nhất, rồi đến tầng nữa Sau cùng, là tầng cuối

Và trong toàn tòa nhà chỉ còn hai cánh cửa sổ

còn sáng đèn; cửa sổ chỗ tôi, nơi quay lưng lại ánh đuốc,

tôi nhìn vầng trăng tròn trôi qua

những ngọn cây mọc lưa thưa, và nhìn thấy

Cynthia, và tuyết; cửa sổ chỗ ngài Toàn quyền, nơi

suốt đêm ngài âm thầm phấn đấu với bệnh tật

và giữ nguyên ánh lửa, để nhìn rõ kẻ thù của mình

Kẻ thù rút lui Ánh sáng ngày nhợt nhạt

vừa ló dạng ở phương Đông thế giới,

rón rén lọt vào các cửa sổ, cố sức

nhìn xem bên trong đã xảy ra những gì,

và, rơi đúng vào chỗ thức ăn còn lại của bữa tiệc tàn,

nó ngập ngừng Nhưng rồi nó cũng tiếp tục đường đi

[Giêng] 1968 Palanga -

[1]Anno Domini: viết tắt là AD, có nghĩa trong năm Đức chúa thuộc công nguyên, sau Công

nguyên Thí dụ 55 AD, có nghĩa là vào năm 55 sau Công nguyên.

[2]Chú thích của Joseph Brodsky: Người thuật truyện là một viên chức tưởng tượng ở một tiền

đồn La mã không nêu tên.

[3]Chú thích của Joseph Brodsky: Cynthia cùng tên với người được đề tặng những lời thơ tình

của thi sĩ La mã Sextus Propertius (c.50-c.15, B.C.).

[4]nguyên tác: a coal under a cold font (một hòn than dưới một cái bình lạnh).

[5]nguyên tác: Virgin Birth.

Trang 21

Ba bài trong TỪ LOẠI

Trong thị trấn từ đó cái chết trải dài trên tấm bản đồ lớp học

sỏi cuội ánh lên như những vảy bọc ngoài con cá chép,

trên cây hạt dẻ trăm năm lủng lẳng những ngọn nến đang tan,

và một con sư tử đúc bằng sắt luyến tiếc một tiếng gầm dữ dội

Qua tấm màn cửa vải tuyn giặt mòn bạc phếch

chảy rỉ những vết xước hoa cẩm chướng và những tháp nhà thờ;

chiếc xe điện lách cách tiếng rít từ xa, như những ngày xưa,

nhưng không ai còn xuống xe trước sân vận động nữa

Chiến tranh chấm dứt thật ấy là chiếc áo dài của nàng tóc vàng

máng trên chỗ dựa lưng một chiếc ghế mong manh thành Vienne

những viên đạn màu bạc trong khi giương đôi cánh vo ve bay,

đã cuốn mất về phía Nam nhiều mạng người, giữa tháng Bảy

Munich

Nếu có cái gì đáng ca ngợi, trước hết có thể là làm sao

gió tây đã trở thành gió đông, khi cành cây đóng băng

đu đưa qua phía trái, cót két tiếng kêu chống đối,

và tiếng ho của anh bay qua vùng Đồng bằng đến tận

những rừng cây Dakota

Giữa trưa, vác lên vai một cây súng, bắn vào bất cứ gì

giống như thỏ rừng trên những bãi tuyết, sao cho quả đạn

khoét rộng vết nứt giữa ngòi bút đưa ra những dòng thơ

ẻo lả vụng về này và cái sinh vật để lại

những dấu vết thật trên nền trắng Thỉnh thoảng đầu sống

chan hòa với tay, không phải để chảy tràn thêm những

dòng thơ mà là để úp tai nghe tuôn trào giọng líu nhíu

tiếng nói chung của chúng Như một mảnh thân

đầu người mình ngựa

Em đã quên ngôi làng mất hút trong hàng lớp những

đầm lầy trong thị trấn rừng thông chẳng bao giờ ta phải đặt

trong vườn trái đám bù nhìn: hoa trái chẳng bõ công,

và mặt đường ở đây cũng chỉ là mương rãnh và cành khô

Dì Nastasya đã qua đời, ta chấp nhận, và cả Pesterev nữa,

hẳn thế, nếu không ông đã ngồi say khướt ở hầm rượu

Trang 22

hoặc đang loay hoay sửa tấm ván đầu giường chúng ta:

làm một cái cửa xép, như ta vẫn nói, hay một loại tủ chứa

Và mùa đông họ chẻ củi, và họ sống chỉ bằng mỗi củ cải,

và một ngôi sao lấp lánh trên bầu trời khói sương buốt giá,

không nàng dâu lụa là bên cửa sổ, chỉ bụi bám đầy linh tinh

các thứ cùng với cái chỗ trống vắng xưa ta từng yêu đương

-TỪ LOẠI tức là cuốn A Part of Speech Dịch từ các bản Anh ngữ của Joseph Brodsky, phần lớn

do Daniel Weissbort dịch và xuất hiện lần đầu tiên trong Poetry (3.1978); bản Anh ngữ sau

đó được chính J Brodsky xem lại và một số đã được đăng trong The New York Review of Books (20.12.1979) Nguyên bản tiếng Nga gồm cả thảy 20 bài, theo thứ tự khác so với thứ

tự những bài Anh ngữ được đăng báo, hoặc in vào sách A Part of Speech (Oxford University Press, 1987) và Collected Poems in English (Farrar, Straus and Giroux, 2000) Và thứ tự những bài Anh ngữ cũng khác so với thứ tự những bài Pháp ngữ trong các tập thơ Poèmes 1961-1987 (Gallimard, 1987) và Vertumne et autres poèmes (Gallimard, 1993) của Joseph

Brodsky.

***

Ba bài khác trong TỪ LOẠI

Ta sinh ra, ta lớn lên trong những đầm lầy vùng Ban tích, gần

những ngọn sóng xám bạc lúc nào vỗ vào bờ cũng đi cặp đôi,

vì thế mọi vần thơ, vì thế tiếng nói âm ỉ kia

rì rào cuộn vào nhau như sợi tóc còn ướt đẫm,

nếu như quả nó có rì rào Và, dựa chắc trên cùi chõ,

xoăn tai nghe không phải tiếng sóng dội,

mà là những tiếng đập của vải, của cánh cửa, của bàn tay, của nước

sôi trên bếp lò, nhiều hơn cả, là tiếng thét của chim mòng biển

Và trong khoảng mênh mông kia, đó chính là cái giúp cho tim khỏi

phải nhìn ra sai lạc – chẳng có nơi nào trú thân, xa tít ngút ngàn

Chỉ với âm thanh khoảng không mới là vật cản,

con mắt thì chẳng bao giờ than thiếu vắng một tiếng dội cho mình

Ta nhận ra ngọn gió kia sà xuống mặt cỏ,

cỏ oằn xuống dưới gió, như dưới bầy đàn Tata

Ta nhận ra chiếc lá kia úa dập

trong bùn đường, như một đại công tước đẫm máu

Chảy rỉ thành mũi tên rộng trên chái lều xô nghiêng

của ngôi nhà gỗ trong vùng đất xa lạ,

như con ngỗng trời sải cánh, mùa thu nhìn vào mặt

Trang 23

trong cửa kính mới nhận ra được giòng lệ.

Và, đôi mắt dạo khắp trần nhà,

ta không ca bài tụng của vị tướng chỉ huy mà là

bài ca vẫn còn nằm trên lưỡi trong đêm thốt lên

cái tên Mông cổ, thông hành đi vào Bộ lạc du mục

Sương muối trên mặt đất và những rừng trụi lá,

bầu trời xám như màu tôn của mái nhà

Ra đường một ngày lẻ tháng Mười,

rét cóng, bạn tính tròn con số nói “mẹ kiếp!”

Bạn không phải là chim để bay khỏi nơi này,

bởi lẽ, như kẻ đi tìm người đẹp dấu yêu,

bạn đã đi cùng khắp thế gian, bên kia làm sao còn

có trang giấy nào để lật tới trong khoảng thiên nhiên

Hãy ngủ đông ở đây, ngay bên cạnh cuốn sổ đen,

xuyên buốt bên ngoài là cái lạnh, và ở đây, là cái nhìn,

Straus and Giroux, 2000) cũng khác so với thứ tự những bài Pháp ngữ

***

Bốn bài trong TỪ LOẠI

Đất Bắc làm kim loại co dúm, kính thì không hề hấn gì;

miền đất ấy dạy cho cổ họng cách nói, “Hãy cho tôi vào.”

Khí lạnh đã nuôi tôi lớn, và để cho lòng bàn tay được ấm,

tôi đã chụm những ngón tay của mình quanh một ngòi bút

Rét cóng, tôi nhìn thấy mặt trời đỏ lặn

phía sau đại dương, và chung quanh không nhìn ra một

bóng người Hoặc tôi trượt gót trên băng, hoặc chính trái đất

đang xoay vòng gắt dưới lòng bàn chân tôi

Trang 24

Và trong cổ họng tôi, nơi hẳn phải có một câu chuyện kể

hoặc một ngụm trà, hoặc nữa là một tiếng cười vô vị,

tuyết gia tăng vang động và tiếng “Vĩnh biệt!” nghe

tối mù như nhà thám hiểm[*] bị bao phủ bởi cơn bão cực nam ●

và khi chữ “tương lai” được thốt lên, những đàn chuột

xông ra từ ngôn ngữ Nga và gặm một

miếng ký ức đã chín lỗ chỗ với những lỗ gấp hai

lần nhiều hơn một miếng phó mát

Sau những năm dài kẻ nào hay cái gì nằm trong góc cửa,

phủ kín này màn này trướng, chẳng còn là chuyện quan trọng,

và đầu óc anh không vang dội nốt nhạc “đô” thanh khiết,

chỉ là tiếng lao xao Đời sống, mà chẳng ai dám đánh giá

phẩm chất, như tặng phẩm cho không,

giận dữ nhe răng toe toét mỗi lần

chạm mặt Cái còn lại của mỗi con người gom lại

chỉ là một phần Là phần được nói ra Là một phần loại từ

Không phải tôi mất tự chủ, chỉ là tôi đã hết chịu nổi mùa hè

Anh kiếm một cái sơ mi trong hộc tủ và thế là nguyên ngày mất toi.Mong sao mùa đông đến và tuyết có thể phủ kín hết

những đường phố, những con người, nhưng trước tiên, là đám cây

cỏ tàn lụi kia Ta sẽ ngủ để nguyên áo quần hoặc chỉ nhặt đại mộtcuốn sách mượn, trong khi cái nhịp điệu lơ lửng còn lại trong năm,như con chó bỏ tên chủ mù của mình chạy mất,

băng qua đường ở chỗ bình thường có vạch trắng Tự do

ấy là khi anh quên đi cách đánh vần tên của kẻ bạo chúa

và nước miếng trong miệng anh ngọt hơn cái bánh mật Ba tư,

và mặc dù đầu óc anh bị siết chặt như cái sừng một con cừu đựcchẳng có gì giọt xuống từ con mắt xanh nhợt nhạt của anh

Lúc nào cũng còn có một khả năng còn lại – để anh

bước ra đường nơi khoảng mênh mông màu nâu sẽ

làm dịu con mắt với những khuôn cửa, những hàng liễu gầy

chia nhánh, những vũng nước chắp nối, bước đi thế thôi

Mái tóc tôi trên đầu trần khuấy động trước gió

Trang 25

và đường phố, đàng xa, khép kín lại thành hình chữ V, trông

giống khuôn mặt xuống đến cằm; và một chú chó con vừa sủa

vừa chạy bay ra khỏi cổng nhà như một mảnh giấy vo tròn

Một con đường Có mấy ngôi nhà, chẳng hạn,

trông khá hơn những ngôi nhà khác Lấy một thứ,

có những nhà cửa sổ quí giá hơn Hơn thế nữa, là nếu anh điên,

điều ấy sẽ không xảy ra, ít ra, là bên trong nhà

-Dịch từ các bản Anh ngữ của Joseph Brodsky, phần lớn do Daniel Weissbort dịch và xuất hiện lần đầu tiên trong Poetry (3.1978); bản Anh ngữ sau đó được chính J Brodsky xem lại và một số đã được đăng trong The New York Review of Books (20.12.1979) Nguyên bản tiếng Nga gồm cả thảy 20 bài, theo thứ tự khác so với thứ tự những bài Anh ngữ được đăng báo, hoặc in vào sách A Part of Speech (Oxford University Press, 1987) và Collected Poems in English (Farrar, Straus and Giroux, 2000) Và thứ tự những bài Anh ngữ cũng khác so với thứ

tự những bài Pháp ngữ trong các tập thơ Poèmes 1961-1987 (Gallimard, 1987) và Vertumne

et autres poèmes (Gallimard, 1993) của Joseph Brodsky.

[*] Trong bản tiếng Nga và tiếng Anh, chữ được dùng là Scott – tên nhà thám hiểm người Anh Robert Falcon Scott (1868-1912) chết trong một trận bão tuyết dữ dội giữa khi sắp hoàn thành chuyến đi vùng cực Nam Trong bản tiếng Pháp (Vertumne et autres poèmes, Gallimard, 1993) người dịch thay thế Scott bằng Amundsen, tên nhà thám hiểm Na uy Ronal Amundsen (1872-1928) – người từng khám phá cực Nam năm 1911 – có lẽ vì độc giả Pháp quen với tên nhà thám hiểm Na uy hơn? Trong suy nghĩ của chúng tôi, bản Việt ngữ có thể dùng nhà thám hiểm để thay thế cho “ý niệm” Scott, hay Amundsen.

***

Bài ca tháng Mười

Một con chim cút nhồi rơmđậu trên mép lò sưởi canh chừng cái đuôi mình

Chiếc đồng hồ cũ đều đặn ngân nga trong buổi chiều tà

làm dịu tiếng lao xao của trục xoắn

Ngoài cửa sổ, những cây bu lô làm nến không đủ sáng

Đến ngày thứ tư biển kéo cả chân trời vạm vỡ xô vào đê

Hãy buông sách xuống, hãy cầm kim chỉ lên;

vá áo vá quần cho ta nhưng hãy đừng bật đèn:

mái tóc vàng óngthắp sáng góc phòng

1968

Trang 26

Blues

Mười tám năm ta sống ở Manhattan

Chủ nhà tốt bụng, nhưng hắn xấu dần

Đúng ra, một tên cặn bã Ôi, ta ghét hắn

Tiền màu xanh lá, nhưng nó chảy như máu

Ta nghĩ ta phải dời qua bên kia sông

New Jersey vẫy gọi với ánh sáng đục lưu huỳnh

Này, năm tháng đếm được dù sao cũng không tệ

Tiền màu xanh lá, nhưng nó không mọc ra hơn

Ta sẽ dẹp hết bàn ghế, cái xô pha cũ của ta

Nhưng ta sẽ làm gì đây với cảnh vật cửa sổ nhìn ra?

Ta cảm nhận nó là hôn phối của mình, hay gần như thế

Tiền màu xanh lá, nhưng nó làm ta xanh lơ

Một thân xác trong tổng thể biết rõ mình về đâu

Ta nghĩ chính vì linh hồn mình mà con người cầu nguyện,

cho dù trên đầu chỉ là một chiếc Boeing

Tiền màu xanh lá, và ta thì xám ngắt

***

Ba đoản khúc

Đoản khúc 1

Hector vĩ đại nằm yên, người cắm đầy những mũi tên,

linh hồn ông trôi bồng bềnh trên dòng nước đen,

những bụi cây rên siết, mây tan dần

và phía xa, trong lặng lẽ, Andromaque khóc

Trang 27

Ajax đi qua buổi hoàng hôn buồn thảm, đầu gối

quì giữa dòng suối trong veo,

và đời sống bay mất khỏi đôi mắt mở của ông

khi đuổi theo Hector, sóng nước vỗ

vào ngực ông, bóng đêm xuống làm ông không nhìn rõ

cái nhìn không đáy qua sóng nước và những bụi cây,

nước ôm chặt hai bên hông ông, thanh gươm nặng của ông

quay cuồng trong dòng cuốn

trong khi trôi mất kéo theo cả

Ajax

*

Đoản khúc 2

Chúng ta lại sống gần vịnh,

mây bay qua phía trên chúng ta,

Núi lửa Vésuve vĩnh cửu lại bắt đầu gầm thét,

bụi phủ đầy những đường phố nhỏ

và những cửa kính trên các đại lộ run rẩy

Tro than sẽ quay cuồng trên đầu chúng ta

Bấy giờ tôi muốn nhảy lên một chiếc xe điện,

chạy bay đến những khu ngoại thành,

Tôi nghe tiếng em vọng lại từ những khu đất hoang

qua tiếng sủa khàn giọng của những con chó nhỏ,

tôi tìm dấu vết em yêu trong đám đông ở ngoại ô,

tôi thấy lại những cây kim trên các cây thông Giáng sinh,

và những hoa đèn lên tiếng rít trong tuyết

Không gì có thể cho tôi biết em ẩn mình nơi đâu

hơn tiếng thét kia vang vọng trong đêm

như một giọt thuốc độc trong suốt

Trang 28

Tôi đón Ngày đầu năm

trên bãi đất hoang, có dàn đồng ca lặng lẽ,

và những ngọn nến cũ tắt ngấm trong tối,

trên môi tôi tuôn chảy rượu vang Tristan,

nhưng trong bóng đêm tôi mới chỉ bắt đầu nhìn thấy

và tôi không đáp lại tiếng gọi thách thức tôi

1962 -

Trích Tĩnh vật và những bài thơ khác, thơ Joseph Brodsky do Hoàng Ngọc Biên tuyển dịch, Nhà xuất bản Thuận Hóa - Huế, 1991 Ba đoản khúc trên được dịch từ bản Pháp ngữ của Jean-Jacques Marie trong Joseph Brodsky, Collines et autres poèmes (Éditions du Seuil, 1966) - được Brodsky đánh số không theo một thứ tự nào.

Có những thành phố nơi người ta không bao giờ trở lại

Ở đó nắng dội phải những khung cửa sổ như dội phải những tấm gương không tì vết

Và thế là, ở đó ta không thể lọt vào, dù với bất cứ giá nào

Ở dưới ấy, mãi mãi, một dòng sông vẫn chảy dưới sáu cây cầu

Ở dưới ấy là những chốn mà đôi môi đã gắn liền

với một đôi môi khác, và ngòi viết với những trang giấy

Ở dưới ấy những khung cửa tò vò, những hàng cột, những quái vật bằng đồng làm run rẩy ánh mắt;

ở dưới ấy, bao vây chiếc tàu điện, đám đông nói

tiếng nói của người đã bỏ đi

*

LM

Ấy thế rồi tới thời của những luyến tiếc

Trong chỗ tranh tối tranh sáng của những ngọn đèn đường,

trong bóng mờ của những giây phút tâm hồn chợt được rọi sáng

chúng ta không còn nhìn nhận những bậc thày của chúng ta

Trang 29

Một chiếc bóng tiến lên giữa chúng ta,

sống động, run run, xô đẩy chúng ta

và thắng thế trong khoảnh khắc

tụ tập những kẻ ngưỡng mộ mình

Toàn thể đời sống chỉ là một nhịp đập của trái tim,

một tiếng động của các mệnh đề, một tiếng sóng vỡ của những sai sót,

một đêm tối trên con thuyền tính dục

đang lao xuống dòng suối lặng im

Giã từ sáng tạo muộn màng

của vô vàn phiền nhiễu của ta,

sự sụp đổ cay đắng của những lần ta đắc thắng,

sự bay bổng của phút dịu dàng thật mỏng manh

Hỡi Thượng đế, Người bước đi trên thế giới

trong lúc chúng tôi chỉ dám nói khe khẽ,

Người tiến lên, một bước chân tàn nhẫn

và Người cuốn hút khuôn mặt tôi

Người muốn, trong đám cỏ tối tăm

đính vào những lần thất bại nhục nhã

những hạt thời gian ngắn ngủi xen kẽ

trên con đường tráng nhựa của những kẻ thắng thế

Mọi sự lúc này tới chầm chậm

và kêu gọi tôi: thế nên mi hãy sống, hãy sống,

hãy quay, hãy quay tròn dưới mắt ta,

như điệu múa xoay vòng rồ dại của tình ái

Hãy tỏa sáng trên những mùa gieo hạt đớn đau

và trên những phiền muộn của mỗi ngày,

hãy nhún vai trong đêm tối

và khóc thương cho hết mọi người

*

Ngọn lửa run run…

Ngọn lửa run run trong vùng bóng âm u,

những khúc củi cháy đen chỉ còn soi lờ mờ

Trang 30

Chen chúc chung quanh chúng từng đoàn lũ thật kỳ dị

những ý nghĩ của tôi vụt hiện về từ mùa đông không cùng

Nỗi muộn phiền nào đưa chúng ta

tới nơi công viên bên bìa thành phố

để nhìn lại một quang cảnh thật hỗn độn

và hiểu rằng công viên này không còn nữa,

rằng mọi sự đều biết tới ngày tàn của chúng

mới từ hai thế kỷ,

để chiêm bao thấy mình lạc lõng trong rừng đêm

mà chẳng bao giờ còn nghe những nhát búa của người tiều phu

Những thân cây và bụi rậm vươn mình trong vùng bóng, những ngọn đồi nằm sóng sượt ở xa xa nơi tăm tối quạnh hiu,

mặt trăng rực cháy tựa đống lửa củi

thắp lên trên những khu rừng một đám cháy lặng thinh

*

Đoản khúc

Tháng giêng đã qua trên kính cửa nhà tù

và tôi nghe tiếng hát của những người bị giam giữ

qua khối bê-tông của các phòng giam:

“Một người trong anh em ta đã được phóng thích.”

Anh vẫn còn nghe tiếng hát của các tù nhân

và bước chân nặng nề cùa những viên cai ngục câm nín

và chính anh, không thốt một lời anh còn hát lại:

“Vĩnh biệt tháng giêng.”

Hướng về khung cửa kính,

anh nuốt từng ngụm lớn làn không khí ấm

Còn tôi, tôi lại lang thang trong một hành lang,

trầm ngâm, tôi đi từ cuộc thẩm vấn này

qua cuộc thẩm vấn khác – tới cõi xa xăm ấy

nơi chẳng có giêng, hai, cũng chẳng có tháng ba

1962

*

Bài ca giới nghiêm

Thêm một Giáng sinh chấm dứt

ướt đẫm những sọc và sao

Tất cả các bạn Ba-lan của tôi

đều ở sau song sắt,

Trang 31

bị nhốt lại như những số không

trong một biểu đồ phẫn nộ:

như một phương pháp huấn luyện

nô lệ hạ toán học

Sâu hơn cả chiều sâu

những tư tưởng của bạn hay của tôi

xuyên qua biên giới

đối với những trái tim nặng trĩu

của các bạn Ba-lan của tôi

Thêm một vụ án bắt đầu

Thêm một Giáng sinh chấm dứt

(Bài này nguyên tác bằng Anh văn)

*

Bài ca cho Bosnie

Khi mi uống whisky, ăn miếng thịt sườn bê, và khi trước buổi hòa nhạc, những ngón tay mi cài lại khuy áo

Trang 32

chỉ biết tới dửng dưng và phục tùng

những tấm thân trần truồng của những kẻ đang hấp hối

Mi đọc những thành tích thể thao và kết số ngân hàng của mi và khi các con mi đi ngủ

có những kẻ đang hấp hối

Con ma cà-rồng thời gian sẽ kịp thời phân tách

các nạn nhân mất đi với bọn người hạ sát họ

nhưng chiếc bóng của mi thuộc về chúng

-Ghi chú: Các bài dịch đều dựa theo các bản Pháp hoặc Anh; riêng bài cuối cùng, đã

có từ 1992, dịch theo bản Pháp văn của Vladimir Claude Fišera đăng trên tờ Lettre (internationale), bộ mới, số 2, 1995, để tặng nhà thơ Claude Vancour, người đã cho

tôi hay tin Brodsky từ trần đột ngột vì một cơn đau tim tại nhà riêng ở Brooklyn ngày 28 tháng Giêng 1996

Tất cả các bài, để gửi bạn HNB, dịch giả đầu tiên tại Việt-nam của Joseph Brodsky (DC)

***

Bài ca Giới Nghiêm | Khúc Bosnia

Trong số những bài thơ của Brodksy do HNB dịch, có hai bài trước đây đã đăng, "Bài

ca giới nghiêm" và "Bài ca cho Bosnie" (trong chùm thơ NƠI CHẲNG CÓ GIÊNG, HAI, CŨNG CHẲNG CÓ THÁNG BA , bản dịch DC) Hôm nay xin giới thiệu bản dịch HNB cũng của hai bài ấy nhưng được dịch từ các version dài hơn hoặc có lối trình bày khác.

Bài ca Giới Nghiêm

Gửi Wiktor Woroszylsky và Andrzej Drawicz*

Lại một Giáng sinh chấm dứt

thấm đẫm những sọc và sao

Những bạn Ba-lan của ta ai nấy

Trang 33

đều nằm sau những song sắt,

bị khóa kỹ như những số không

trên một tấm biểu đồ giận dữ:

như một luật lệ qui định

nô lệ đánh ngã toán học

Những quốc gia đang học qui luật

như một chú bé con nghịch ngợm

khi tên bạo chúa hân hoan

chiêm ngưỡng cái còng

có một cái gì đỏ tươi thả xuống

trên tuyết Giáng sinh

Khi nó lăn, bộ mặt của

địa cầu coi xấu hơn,

lỗ chân lông trở thành tế bào,

trong khi các hành tinh lạnh lùng

đưa mắt nhìn, như chính chúng ta

Gương mặt đói Ghét bẩn

Dơ dáy Những tòa án

nham nhở phân phát thời gian

cho những con người bị bóp

nhưng không nát bởi xe tăng

hay bởi súng ống tàu ngầm

bằng bởi những ngân hàng

chúng ta ký quỹ

Sâu hơn cả chiều sâu

những ý nghĩ của bạn hay của ta

là giấc ngủ cái chết

trong vùng mỏ Vujek;[1]

cao hơn tiền thuê nhà của bạn

là bàn tay mà mánh khoé

Trang 34

buộc kẻ khác phải cúi đầu —

tựa như khi được chụp ảnh

Bất lực chính là ngôn từ

Tuy nhiên nó đánh bại nước mắt

để xuyên qua đường biên giới,

cố gắng với tới,

đối với những trái tim nặng trĩu

của những bạn Ba-lan của ta

Khi ngươi rót cho mình một ly whisky,

ngồm ngoàm con cá chép, hay kiểm tra đồng hồ,

khi bàn tay ngươi chỉnh lại cái cà vạt,

có những người đang chết

Trong các thành phố mang những tên lạ lùng,

tơi tả đạn bom, lửa cháy ngất trời,

nói chung chẳng ai hiểu tại sao,

Trong khi ngươi bỏ phiếu

cho bọn thánh tông đồ mới dạy dân bỏ mặc,

tự bức chế, vân vân — do đó

có những người đang chết

Ở quá xa để có thể yêu được

láng giềng/anh em tộc Slav của ngươi,

nơi các thiên thần nhỏ của ngươi sợ không dám bay,

có những người đang chết

Trang 35

Trong khi các pho tượng bất đồng,

theo cách nghĩ của Cain,[2] lịch sử

do cần lửa đốt lại có khuynh hướng mua

những kẻ đang chết

Khi ngươi theo dõi các vận động viên ghi điểm,

kiểm chứng tài khoản mới nhất ở nhà băng, hay

hát một bài ru con ngủ,

có những người đang chết

Thời gian, với ngọn bút lông tàn bạo bén nhọn

tách biệt người bị giết và kẻ giết người,

sẽ tuyên án cái bộ lạc sau

chính là bộ lạc của ngươi

*

Khúc Bosnia ***

Khi ngươi nhấm nháp ly rượu nhãn whisky,

ngồm ngoàm con cá chép, hay gãi vào đũng quần,

khi bàn tay ngươi chỉnh lại cái cà vạt,

có những người đang chết

Trong các thành phố mang những tên lạ lùng,

tơi tả đạn bom, lửa cháy ngất trời,

nói chung chẳng ai hiểu tại sao,

Trong khi ngươi bỏ phiếu

cho bọn công tôn mới rao giảng sự bỏ mặc,

tự bức chế, vân vân — do đó

có những người đang chết

Ở quá xa để có thể yêu được

láng giềng/anh em tộc Slav của ngươi,

Trang 36

nơi các thiên thần nhỏ của ngươi sợ không dám bay,

có những người đang chết

Trong khi các pho tượng bất đồng,

theo cách nghĩ của Cain,[2] lịch sử

do cần lửa đốt lại có khuynh hướng mua

những kẻ đang chết

Khi ngươi theo dõi các vận động viên ghi điểm,

kiểm chứng tài khoản mới nhất ở nhà băng, hay

hát một bài ru con ngủ,

có những người đang chết

Thời gian, với ngọn bút lông tàn bạo bén nhọn

tách biệt người bị giết và kẻ giết người,

sẽ tuyên án bọn bè lũ sau

chính là nhãn hiệu của ngươi

-Chú thích của người dịch:

* Wiktor Woroszylsky (1927-1996) và Andrzej Drawicz (1932-1997) là những nhà thơ Ba-lan

hoạt động trong Công đoàn Đoàn kết bị đi tù chiếu theo Luật Giới Nghiêm ở Ba-lan tháng Mười hai 1981.

[1] Vujek mine chỉ vùng mỏ than Wujek ở Silesia nơi có bảy người đã bị giết trong một vụ biểu

tình ngồi dưới hầm để phản đối Luật Giới Nghiêm nói trên.

[2] Cain: Một trong hai người con trai của Adam và Eva, vì lòng ganh nham hiểm đã giết chết

em trai mình là Abel Vì thế Cain thường được dùng với nghĩa “tên sát nhân”.

“Bài ca giới nghiêm”: Dịch từ nguyên tác tiếng Anh “A Martial Law Carol” của Joseph Brodsky

trong tập thơ To Urania: Selected Poems 1965-1985 (Penguin Books, 1988) – sách do bạn

Nguyễn Đăng Thường từ London gửi về Việt Nam năm 1990 Bài thơ trước đó xuất hiện trên

The New York Review of Books, số 17 tháng Ba 1983, và đã được đưa vào Collected Poems in English, của Joseph Brodsky (Farrar, Straus and Giroux, 2000) — với một chút thay đổi nhỏ:

trong tập tuyển này bài thơ được ghi là viết năm 1981, thay vì 1980 là năm chưa có Luật Giới Nghiêm ở Ba-lan.

“Khúc Bosnia”: Dịch từ nguyên bản tiếng Anh “Bosnia Tune” của Joseph Brodsky in trong

The New York Times, 18 tháng 11 năm 1992 Brodsky đã đọc lại và có ít nhiều thay đổi sau

đó đã được đưa vào ấn bản Collected Poems in English, của Joseph Brodsky (Farrar, Straus

and Giroux, 2000) Người dịch xin giới thiệu bản chuyển ngữ từ nguyên tác “Bosnia Tune” **

đăng trên báo năm 1992, đồng thời cung cấp bản chuyển ngữ mới (2000) có những đoạn thay đổi *** từ nguyên tác “Bosnia Tune” — cụ thể trong các đoạn 1, 4 và 8.

***

Trang 37

Khu vườn

Im lặng sa mạc

Trong bóng tối mùa thu

bao trùm sự trong suốt huyền ảo của khu vườn,

những chiếc lá nặng trĩu khát khao tìm về cõi chết

và chầm chậm cúi mình xuống đất

Im lặng

Số phận ngươi sẽ nghe chăng

tiếng thách đố âm ỉ trong số phận ta,

và hồi chuông báo tử của cây trái đang bỏ ngươi đi

hỏi nó có xa lạ như chính tiếng chuông?

Khu vườn không biên giới

Hãy thổi vào những lời ta nói sự

quay cuồng của những thân cây trốc rễ và của chân lý,

nơi ta thả bước trôi về những cành cây uốn cong

giữa những chiếc lá rơi và đêm phục sinh

Làm sao cây cối mệt mỏi của ngươi

và tâm hồn tắt nến của ta

có thể sống được đến mùa xuân năm tới

trong khi cây trái của ngươi đang mất dần

và chỉ nỗi trống vắng của ngươi mới có thực?

Chạy trốn, chạy trốn về nơi kia

trong không gian bất định

về nơi những toa tàu khủng khiếp sẽ đưa ta đến

Con đường ta đi trên mặt đất và con đường ngươi

đi về hướng mặt trời xa chập vào nhau

Vĩnh biệt, khu vườn của ta

Vĩnh biệt muôn đời

Hãy giữ trong ngươi sự im lặng của bình minh,

hỡi con người vẫn thong thả vặt lá những năm tháng

trên những vần điền viên cay đắng của nhà thơ

-Dịch từ bản Pháp ngữ của Jean-Jacques Marie trong Joseph Brodsky, Collines et autres poèmes (Éditions du Seuil, 1966).

***

Trang 38

Kỷ niệm

Bầu trời trắng

quay trên đầu tôi

Mặt đất xám

nghiến dưới chân tôi

Bên trái là cây Bên phải

liền ngay một hồ nước

bờ xây bằng đá

bờ xây bằng gỗ

Tôi chậm rãi rút

chân ra khỏi đầm nước,

và mặt trời chiếu sáng tôi

mỉm cười và bước dạo khắp thành phố

Còn tôi tôi cứ lạc mãi

trong nhịp điệu một dài hai ngắn

Mùa gặt lúa

năm một chín năm tám

Tôi chậm rãi mở đường tôi

dẫn ra Biển Trắng

Những dòng sông chảy ra phía bắc

Những thiếu niên lang thang ngập đến nửa ngườitrong tiếng hát của sông nước

Đêm trắng trên đầu chúng ta

Trang 39

Những cuộc rong ruổi xanh của gió

đã theo kịp chúng ta

Đất cắm sâu trong nước

với bập bềnh một tiếng vỗ ngắn

Bàn tay tôi luồn vào đất,

tôi ngẩng đầu lên,

và biển xô tới gần tôi

màu trắng chói chang của nước

***

Bài ca của Fedia Dobrovolski

Ngọn gió vàng Mãn Châu

cất cao tiếng nói

về những người Do-thái và những người Nga

bị chôn vùi dưới núi

Những mái hoàng hôn

nhà hai tầng!

Đất không bao giờ thay đổi,

chỉ có trời là ngày càng đến gần chúng ta

Ánh sáng chỉ mới cho chúng ta chút ít,

chỉ có những con chim mảnh mai bay qua

như mây của sự chết

trên mặt đất những cuộc viễn chinh

-Trích Tĩnh vật và những bài thơ khác, thơ Joseph Brodsky do HNB tuyển dịch, Nhà xuất bản

Thuận Hóa - Huế, 1991 Hai bài thơ trên được dịch từ bản Pháp ngữ của Jean-Jacques Marie

trong Joseph Brodsky, Collines et autres poème (Éditions du Seuil, 1966).

***

Trang 40

Con ngựa đen

Bầu trời đen sáng hơn cả những chân kia

và không thể chìm trong bóng đêm

Cạnh bếp lửa chúng ta, tối hôm nọ

Ta đã nhìn thấy con ngựa đen

Tôi không nhớ có cái gì đen hơn

Đứng trên chân đen như những trụ

than, con ngựa đen như đêm tối,

như hư vô, đen từ bờm đến đuôi,

và lưng nó ánh lên một màu đen khác

cái lưng không hề biết đến yên cương

Nó chờ bất động và có vẻ đang ngủ

đứng thẳng trên móng guốc đen như nỗi sợ

Nó đen đến nỗi đã xua tan bóng tối,

đen như thế gian u tối nhất,

đen như sương mù nửa đêm,

đen như cái lỗ của cây kim,

đen như những rừng cây cao mất hút,

giống như khoảng không giữa sườn và ngực,

giống như cái lỗ có hạt giống nằm yên trong đất,giống như bóng đêm đang xuống trong lòng ta

Tuy thế dưới mắt ta nó còn đen lên nữa

Đồng hồ chúng ta chỉ đúng nửa đêm

Nó không đi về phía chúng ta,

bóng tối kỳ diệu đã nhận chìm hai cạnh sườn của nó

và cái lưng nó biến mất trong đêm

Mọi vệt sáng đều tan biến,

mắt nó ngả trắng như một cái búng tay,

con ngươi chiếu sáng còn ghê sợ hơn nữa

Nó giống như âm bản của một người lạ

Thế thì tại sao, chạy đến chỗ này,

nó dừng lại bên chúng ta đến tận bình minh?

Tại sao nó không bỏ bếp lửa ra đi?

Tại sao nó hít thở không khí đen

Ngày đăng: 29/03/2017, 18:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w