1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

VĂN HỌC VIỆT NAM (1900 – 1945)

830 1,3K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 830
Dung lượng 3,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

– Trào lưu văn học lãng mạn với các tác gia văn xuôi tiêu biểu như TảnĐà, Hoàng Ngọc Phách, Đông Hồ, Tương Phố, Nhất Linh, Khái Hưng, ThạchLam, Nguyễn Tuân, v.v… và với các nhà thơ trong

Trang 1

VĂN HỌC VIỆT NAM (1900 – 1945)

VĂN HỌC VIỆT NAM (1900 – 1945)

(Tái bản lần thứ mười hai)

Tác giả: PHAN CỰ ĐỆ – TRẦN ĐÌNH HƯỢU – NGUYỄN TRÁC NGUYỄN HOÀNH KHUNG – LÊ CHÍ DŨNG – HÀ VĂN ĐỨC

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Tập Văn học Việt Nam (1900 – 1945) xuất bản lần này là công trình tậpthể được hình thành trên cơ sở sửa chữa, chỉnh lý các cuốn Văn học ViệtNam giai đoạn giao thời 1900 – 1930 của Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng vàcuốn Văn học Việt Nam (1930 – 1945) (2 tập) của Phan Cự Đệ, Nguyễn Trác,Nguyễn Hoành Khung, Hà Văn Đức do Nhà xuất bản Đại học trà trung họcchuyên nghiệp xuất bản trước đây

Đây là tập thứ ba sau tập Văn học dân gian Việt Nam (Nhà xuất bảnGiáo dục, 1997) và tập Văn học Việt Nam (thế kỷ X – hết thế kỷ XIX) (Nhàxuất bản Giáo dục, 1997) trong chương trình Văn học Việt Nam của khoaNgữ văn trường Đại học Khoa học xã hội và nhân vân ở Việt Nam

Ở tập này, các tác giả trình bày khá đầy đủ và sâu sắc các khuynhhướng, các trào lưu văn học xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XX đến Cáchmạng tháng Tám 1945 Ba trào lưu văn học chủ đạo ở giai đoạn này là:

– Trào lưu văn học hiện thực có mầm mống từ trong các sáng tác thơcủa Tú Xương, Nguyễn Khuyến, truyện và tiểu thuyết của Phạm Duy Tốn, HồBiểu Chánh, kịch của Vũ Đình Long, v.v… và được khẳng định ở một loạt tácphẩm nổi tiếng của Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất

Tố, Nguyên Hồng, v.v…

Trang 2

– Trào lưu văn học lãng mạn với các tác gia văn xuôi tiêu biểu như Tản

Đà, Hoàng Ngọc Phách, Đông Hồ, Tương Phố, Nhất Linh, Khái Hưng, ThạchLam, Nguyễn Tuân, v.v… và với các nhà thơ trong phong trào Thơ mới nhưThế Lữ, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế LanViên, Hàn Mặc Tử, Tế Hanh, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính, v.v…

– Trào lưu văn học yêu nước và cách mạng mở đầu bằng các tác phẩmcủa Phan Bội Châu (như Hải ngoại huyết lệ tân thư, Trùng Quang tâm sử),của Phan Châu Trinh, của Nguyễn An Ninh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan VănTrường, Võ Liêm Sơn, v.v…

Trong khuynh hướng này, các tác giả đặc biệt đánh giá cao nội dunghiện thực phê phán và giá trị cách tân trong nghệ thuật ở các tác phẩm củaNguyễn Ái Quốc như Bản án chế độ thực dân Pháp, Nhật ký chìm tàu, Conrồng tre (kịch), Vi hành, Lời than vãn của Bà Trưng Trắc, Những trò lố hay làVarenne và Phan Bội Châu, Nhật ký trong tù và thơ Tố Hữu trong tập Từ ấy.Điều đáng chú ý là các tác giả, bằng nhiều nguồn tư liệu khác nhau đã trìnhbày và phân tích khá sâu sắc bối cảnh xã hội – tâm lý – thẩm mỹ đã làm xuấthiện các trào lưu văn học Việt Nam ở giai đoạn 1900 – 1945, giúp người đọc

có cơ sở để xác lập mối quan hệ giữa thế giới quan của tác giả với nội dung

tư tưởng cũng như đặc trưng nghệ thuật của tác phẩm ở từng tác giả và từngtrào lưu văn học cụ thể

Ngoài ra, tập sách cũng đề cập đến một sự kiện văn học quan trọng, rấtmới mẻ là sự xuất hiện các tác giả và tác phẩm, phê bình văn học theokhuynh hướng mác xít với hai đại biểu xuất sắc là Hải Triều và Đặng ThaiMai

Có thể nói, trừ một vài chỗ trình bày chưa thật gọn, như các phần viết

về bối cảnh xã hội của văn học 1930 – 1945, tập Văn học Việt Nam xuất bảnlần này được coi như là một tài liệu cơ bản mang tính khoa học, dùng chosinh viên khoa Ngữ văn các trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn ởViệt Nam

Trang 3

Nhà xuất bản Giáo dục trân trọng giới thiệu với các sinh viên, giáo viêncác trường đại học, trường phổ thông và đông đảo bạn đọc cuốn Văn họcViệt Nam (1900 – 1945) ấn hành nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lậpNhà xuất bản Giáo dục.

Hà Nội, tháng 6 năm 1997 NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC

Phần thứ nhất: VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN GIAO THỜI (1900 – 1930)

Chương I: VĂN HỌC VÀ CUỘC SỐNG CỦA BUỔI GIAO THỜI ÂU – Á

I CUỘC SỐNG TRÊN ĐẤT NƯỚC THỰC DÂN NỬA PHONG KIẾN ĐẦU THẾ KỶ XX

1 Chế độ thực dân nửa phong kiến

Với cái chết của Phan Đình Phùng (1896), phong trào chống Pháp dưới

lá cờ Cần vương rầm rộ hàng chục năm ở hầu khắp các tỉnh đã chấm dứt.Trước cảnh thôn xóm bị triệt hạ, nhân dân xiêu tán, các văn thân khởi nghĩangười thì bị giết, người thì bị tù đày, người thì trốn tránh không dám về, ngườithì “bốc bản đạo chạy sang Xiêm, sang Lào”, trước cảnh hoang vắng điêu tàncủa đất nước ta, quân xâm lược đã có thể khấp khởi nhìn ra cảnh tượng “tháibình” mà chúng mong ước

Cả bộ máy vua quan, hào lý từ triều đình, tỉnh, huyện đến làng xã biếnthành tay sai cho bọn xâm lược Chính quyền bản xứ đã nằm gọn trong taythực dân Pháp

Danh giáo, cái cột sống của chế độ phong kiến trước đây đã sụpxuống Bộ máy cai trị được tổ chức lại theo lối hiện đại, chặt chẽ hơn, cóquyền lực hơn, chi phối sâu và toàn diện mọi hoạt động, phá dần cái thế tự trịcủa làng xã ngày trước

Để tuyên truyền cho “hòa bình”, “chiến thắng”, cho “văn minh” của nướcPháp, ngay từ năm 1886 Paul Bert đã bày tấn tuồng “Hội đồng tư vấn”, lắp

Trang 4

cho nước bị xâm lược một mặt nạ dân chủ, lập Hàn lâm viện Bắc Kỳ, quétcho nó một nước sơn phát triển văn hóa Đến đầu thế kỷ XX cuộc “bình định”

đã thành công, chúng tổ chức hội chợ thuộc địa, xây dựng một số công trìnhlớn để trang sức cho cảnh “thái bình”

Nhưng cái mà thực dân để tâm nhất, nóng ruột thực hiện nhất là khaithác xứ Đông Dương giàu có để bóc lột, vơ vét tài nguyên

Chính sách kinh tế thực dân của chúng có thể được tóm tắt như sau:bán hàng hóa, khai thác nguyên liệu và cho vay lãi Công nghiệp chỉ đượcphát triển trong giới hạn không hại đến công nghiệp chính quốc, đóng khungtrong phạm vi cung cấp cho chính quốc những nguyên liệu hay những sản vật

– Lợi dụng quyền thống trị về chính trị, thực dân duy trì bộ máy quanliêu, cường hào và những luật lệ, chính sách sưu thuế phong kiến để ra sứcchiếm đoạt ruộng đất, tạo ra các vùng sản xuất hàng xuất khẩu (cao su, càphê, gạo…), tăng cường bóc lột tô thuế, sưu dịch, làm phá sản nông dân vàthợ thủ công, tạo ra nguồn nhân công rẻ mạt phục vụ cho các công trình xâydựng, khai thác của chúng

Kết quả của chính sách đó là nền kinh tế tự nhiên cổ xưa bị phân giải,

sự lưu thông hàng hóa phát triển, tỷ trọng kinh tế tư bản chủ nghĩa tăngnhanh, nước ta bị kẻo vào quỹ đạo chủ nghĩa tư bản, nhưng không đượccông nghiệp hóa mà lại biến thành một thị trường tiêu thụ và cung cấp nguyênliệu, hàng xuất khẩu cho thương nghiệp Pháp Lợi nhuận vào túi tư bản Phápcòn nhân dân ta thì bị bần cùng hóa, phá sản trở thành nguồn nhân côngđông đảo và rẻ mạt cho các hãng buôn, các chủ thầu, chủ đồn điền của Pháp

Trang 5

Trong điều kiện ruộng đất bị chiếm đoạt tập trung trong tay thực dân Pháp vàquan lại tay sai, nhân công thừa, rẻ mạt và công nghiệp ở thành thị không đủphát triển để thu nạp hết, kinh doanh theo lối phong kiến vừa tốn ít vốn, vừathu được nhiều lợi, vừa nhàn rỗi, vừa chắc chắn Phụ thuộc vào một nước tưbản, nước ta không được giải thoát khỏi sự trì trệ của nền kinh tế phongkiến.Tuy nước Pháp là một cường quốc tư bản chủ nghĩa nhưng chủ nghĩathực dân Pháp không phá hoại kinh tế phong kiến mà ngược lại nó duy trìthậm chí là củng cố nền sản xuất đó trên cơ sở phân phối ruộng đất mới,phân bố sản xuất mới.

Chế độ thực dân nửa phong kiến hình thành, tiếp tục kìm hãm sự pháttriển của đất nước ta Tuy vậy đối với tình hình trì trệ lâu đời của một xã hộiphương Đông, không phải nó không gây ra những biến đổi lớn

Việc mở mang giao thông, buôn bán, phát triển kinh tế hàng hóa tạo ramột thị trường thống nhất từ Bắc chí Nam, khách quan tạo thêm cơ sở đểcủng cố sự thống nhất của dân tộc đã hình thành từ lâu nhưng chưa thậtvững chắc Đi ngược xu hướng đó, thực dân Pháp lại ra sức thực hành chínhsách chia rẽ: đặt ra chế độ chính trị, ban hành luật pháp khác nhau giữa bakỳ

Nó phá chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình nhà Nguyễn, làmcho Việt Nam tiếp xúc với thế giới, trước hết là Đông Á và châu Âu, đưa nước

ta hòa vào cuộc sống chung hiện đại của thế giới Ngược lại xu hướng đó,thực dân Pháp chặng một hàng rào quan thuế làm cho biệt Nam phụ thuộcvào Pháp, thành cái đuôi của tư bản Pháp

Sự phát triển buôn bán và giao thông như thế làm mọc lên nhiều thànhthị tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên chính sách kìm hãm công nghiệp, duy trì kinh

tế phong kiến làm cho thành thị chỉ thành những trung tâm thương nghiệp vàtiêu thụ, không có tác dụng tích cực đẩy mạnh kinh tế nước ta theo hướng tưsản hóa

Sự xuất hiện thị trường thống nhất, sự xuất hiện các thành thị đông đúcđóng vai trò trung tâm kinh tế, sự tiếp xúc với phương Tây là những nhân tố

Trang 6

rất mới Tuy bị chính sách phản động của thực dân kìm hãm, những nhân tố

đó, khách quan ngoài ý muốn của thực dân, vẫn gây tác dụng tích cực đến sựphát triển của nước ta

2 Sự biến động trong kết cấu xã hội

Những điều kiện kinh tế chính trị trên đây gây ra một sự biến độngtrong kết cấu xã hội Việt Nam

Xã hội Việt Nam, trước khi Pháp sang xâm lược là một xã hội phongkiến phương Đông Trong xã hội đó con người sống gắn bó với họ hàng, làngxóm Họ hàng nội ngoại không những gắn bó với nhau bằng tình máu mủ màbằng cả một tổ chức có thứ bậc chặt chẽ, bằng cả một đạo lý có tính chất tôngiáo Họ hầu như thành đơn vị của làng xã Làng xã có ruộng đất riêng, thànhhoàng riêng, phong tục luật lệ riêng Người trong xóm, trong làng đi lại vớinhau “tắt lửa tối đèn”, ma chay cưới hỏi dựa vào nhau tạo thành một thứ tìnhlàng nghĩa xóm cố kết nhau lại Làng xã có tính chất tự trị, là đơn vị về kinh tế

và hành chính của chính quyền trung ương Chính quyền trung ương tậptrung chuyên chế, dựa vào bộ máy quan liêu và quân sự để duy trì sự thốngtrị, bắt thần dân theo đơn vị làng xã nộp thuế và đi phu, đi lính

Chính quyền thuộc về một dòng họ Triều đình quan lại là thần thuộc,tôi tớ của dòng họ cầm quyền Vua, quý tộc và quan lại chia nhau hưởng số

tô thuế và các quyền lợi chính trị, tinh thần khác được phân phối theo thứ bậcthân, sơ, trên, dưới

Cả hệ thống đó – về mặt nhà nước là chính quyền, về mặt xã hội làđẳng cấp, về mặt máu mủ là họ hàng – thống trị “tứ dân”, bốn tầng lớp nhândân: sĩ, nông, công, thương

Nông, công, thương mà quan trọng nhất về số lượng cũng như về vaitrò kinh tế là nông dân, cách này hay cách khác đều bị khinh rẻ, áp bức, bóclột Đó là những từng lớp bị trị Tứ dân do sĩ đứng đầu Sĩ – nhà nho – có thểcoi như một đẳng cấp đặc biệt Họ tự nhận, và được xã hội thừa nhận, là kẻ

“cầm chích đạo”, truyền bá “giáo hóa” của triều đình cho nhân dân Trong một

Trang 7

nước tôn giáo không có giáo hội, không có nhà thờ, không có từng lớp giáo sĩ

có đặc quyền (Phật giáo và Đạo giáo chỉ có các chùa quán, có tính chất địaphương, có ảnh hưởng từng vùng và không gắn một cách hợp pháp với chínhquyền), thì nhà nho, trong đời sống tinh thần của nhân dân, có trách nhiệm

“chăn dắt” như người giáo sĩ Nhà nho đỗ đạt thì làm quan, được hưởngnhững đặc quyền về kinh tế và tinh thần, nếu không làm quan cũng trở thànhthân hào Sĩ là từng lớp không có những đặc quyền nhưng không thuộc nhândân lao động Địa chủ và phú nông là những từng lớp bóc lột và trong điềukiện ruộng đất ít, chúng bóc lột bằng nhiều cách rất nặng, nhưng, nếu khôngphải là có học, thuộc gia đình dòng dõi, có quyền thế của thân hào mà chỉ là

“trọc phú” thì không những không có đặc quyền gì, mà nhiều khi còn trở thànhđối tượng bóp nặn làm tiền của thân hào và quan lại Sự đối lập chủ yếu về

xã hội là sự đối lập về quyền thế, địa vị giữa vua, quan với dân Ruộng đất vềdanh nghĩa là của vua, về thực tế một số khá lớn là ruộng công Quyền thế,địa vị là điều kiện để được phân phối hưởng thụ rộng rãi quyền lợi ruộng đất

Đó là công cụ chủ yếu để áp bức, bóc lột

Trong xã hội đó có sự đối lập giữa nông thôn và đô thị nhưng khôngphải là sự đối lập giống như trong xã hội tư sản Khắp nước là nông thôn, lànhững làng bản ẩn nấp trong lũy tre xanh có cổng làng đóng kín, là vô sốnhững đám ruộng đất manh mún, là những đình chùa đền miếu, thần hộ vệdân làng Đô thị là nơi thủ phủ về chính trị, văn hóa, nơi tập trung kho lẫm,quân đội Ở đô thị có cung thất, dinh thự, phủ đệ của quý tộc Đô thị cũng lànơi tập trung những thợ thủ công khéo tay, những con buôn, sống thành phốphường Nhưng đây chỉ là những chợ lớn trao đổi hàng hóa có tính chất địaphương, những mặt hàng tinh xảo được sản xuất chỉ để phục vụ cho mộtnhóm nhỏ quý tộc, quan lại Sinh hoạt đô thị có khác nông thôn, nhưng nhânvật trung tâm trong cuộc sống ở đó vẫn là các nhà quyền quý, các công tử,tiểu thư cành vàng lá ngọc, xe kiệu võng lọng cao đạo, oai nghiêm, cậy quyềncậy thế, đi lại có kẻ hầu, người hạ rậm rịch, chứ không phải là người tư sảnhợm hĩnh cậy của

Trang 8

Những con buôn chạy việc cung cấp thức ăn vật dùng cho trại lính,chạy việc mua hàng bán hàng, những thông ngôn ký lục giúp việc giao thiệp,giấy tờ, những me Tây, những ông thầu khoán, những người học trò cáctrường thông ngôn, hậu bổ là lớp thị dân đầu tiên của các thành phố nhượngđịa Kinh tế hàng hóa kích thích sự phát triển của công thương nghiệp, làmcho thành thị phát triển, làm xuất hiện nhiều nhu cầu mới, nhiều nghề mới.Thành thị thu hút ngày càng nhiều những người dân chạy loạn, những ngườinông dân phá sản và cả những người khác bỏ nông thôn ra thành thị mongkiếm ăn dễ dàng hơn Lớp thị dân trong các thành phố nhượng địa – ngoàiquyền hạn của triều đình - là những lớp dân mới ngoài “tứ dân”, có quan hệvới chính quyền khác trước và quan hệ với nhau cũng khác trước Họ đãthành những cá nhân trước pháp luật bảo hộ, ít nhiều có quyền tự do của đờisống thành thị tư sản Đối với lớp dân mới đó họ hàng, làng xã, đẳng cấpkhông còn nhiều ý nghĩa nữa Chính sách kinh tế của thực dân tuy có kíchthích, nhưng chủ yếu lại là kìm hãm công nghiệp phát triển Giai cấp tư sản từcác từng lớp thị dân phát triển dần lên không thành những nhà công thươngdân tộc.

Sự xác xơ của làng xóm, sự phá sản của nông nghiệp, sự xuất hiệncác thành thị đổi chiều hướng lưu tán của người nông dân, xô đẩy họ ùn rathành thị Nhưng ở thành thị, đông đúc, người khôn của khó, có nhiều nghềcũng không dễ kiếm ăn Những người nông dân, thợ thủ công bị phá sản,đáng lẽ làm đội quân hậu bị cho công nghiệp thì ngoài một số nhỏ trở thànhcông nhân nhà máy, hầm mỏ, hoặc đi phu làm đường, làm đồn điền, phần lớncòn lại biến thành những anh bồi, anh xe, những vú em, con sen, nhữngngười buôn thúng bán mẹt và không ít trở thành gái điếm, lưu manh Một tầnglớp tiểu tư sản dân nghèo đông đảo, phình to mãi ra, sống một cách bấp bênh

ở thành thị

Đó là nét biến động cơ bản của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX

Hai kiểu kết cấu xã hội đó cùng tồn tại, cùng được cả thực dân vàphong kiến chấp nhận, được thực dân bảo vệ vì quyền lợi của chúng Nhưng

Trang 9

những giai cấp, đẳng cấp đó không ngừng xâm nhập lẫn nhau, chuyển hóalẫn nhau, biến động, tùy thuộc vào những chính sách cụ thể của thực dân vàtheo hướng tư sản hóa của cả đất nước nói chung.

Muốn nắm chặt thuộc địa, thực dân cần nắm chắc chính quyền các cấp

và kiểm soát chặt chẽ nhân dân Chúng cần có một bộ máy cai trị trung thành

và đắc lực, cần tạo được một cơ sở xã hội thích hợp với chế độ của chúng.Tuyệt đại đa số nông dân ở nông thôn xưa nay vẫn chịu ảnh hưởng tinh thầncủa thân sĩ, nho sĩ, đã từng là lực lượng chống đối lại sự xâm lược của thựcdân Pháp một cách ngoan cường trong nhiều năm Không những thực dân đãđàn áp, chém giết để khuất phục, chiếm đoạt; tăng cường bóc lột để giảm nhẹchi phí cho chính quốc, tăng thu nhập cho ngân sách thuộc địa; đã bần cùnghóa, làm phá sản nông dân, mà còn cần phải ly khai nông dân khỏi ảnhhưởng của thân sĩ, nho sĩ Thực dân Pháp vừa mua chuộc vừa hạ uy thế,vừa uy hiếp khuất phục tầng lớp thân sĩ, nho sĩ là tầng lớp có cội rễ và có tínnhiệm lớn ở nông thôn, có uy quyền cả với bọn hương lý, thân sĩ, nho sĩ làlực lượng hậu bị của bộ máy quan lại gắn bó với Nam triều Phần lớn họ vìthế đã mang tâm lý thất bại chủ nghĩa, thất vọng đầu hàng và mất tín nhiệm

Để thay thế họ trong bộ máy nhà nước, thực dân mở các trường hậu bổ,trường Pháp – Việt, trường cao đẳng, đào tạo những người Tây học, cải cáchthể lệ thi hương, thi hội, tạo điều kiện cho bọn tay sai, cho những người cóTây học chiếm lấy các danh vị ông nghè, ông cử Những ông thông, ôngphán, những người đậu đạt Tây học, những ông nghè, ông cử “mới” đượctriều đình phong tặng, hưởng những ưu đãi về vật chất và tinh thần mà cácdanh vị ấy cho phép, thay thế dần vị trí của văn thân xuất thân từ Nho học.Chính sách của thực dân tác động đến lớp quý tộc, thân hào Muốn giữ chặtlấy quyền lợi, địa vị, bọn chúng ra làm việc cho Pháp, cho con học trườngPháp, gửi con du học tận bên Pháp, bỏ tiền mua cổ phần, mở cửa hiệu buônbán và dần dần cũng có cả hai chân ở nông thôn và thành thị

Nếu tầng lớp thượng lưu trước đây trong xã hội là những cụ Thượng,quan Bố, ông Nghè, ông Thám “hèo hoa gươm bạc, tán tía lọng xanh”, thì

Trang 10

tầng lớp thượng lưu trong xã hội thuộc địa là những quan Tham, những cô TưHồng, những ông ký Bưởi, rồi đến ông Chủ bút, nhà “học giả kính trắng”Phạm Quỳnh; và ở nông thôn thầy Chánh, thầy Lý ít lâu trước đó còn làngười chạy việc, khúm núm, vâng dạ nghe theo các thân sĩ nay bỗng trởthành người có quyền hành thực sự, được quan Sứ, quan Đồn bênh vực,giúp cho tậu ruộng, chiếm vườn, xây dựng dinh cơ, chẳng bao lâu nữa cũng

sẽ thành ông Nghị cầm ba toong, đội mũ dạ, mặc âu phục và… đi ô tô hòm.Trong xã hội đó người tư sản biết quý mảnh sắc phần hoàng của triều đình và

cả các thủ lợn ở chốn đình trung, nhà quý tộc cũng biết kính trọng cái túi căngphồng mà tìm cách ve vãn Cả nông thôn và thành thị đi đến nhất thể hóa, mànhất thể hóa theo hướng tư sản

Xã hội Việt Nam chuyển mình một cách đau đớn, nhục nhã sanghướng tư sản, một hướng tư sản kém lành mạnh nhất, què quặt nhất, để lạinhững hậu quả tai hại nhất, nhưng điều đó cũng lôi kéo các mặt khác pháttriển: thay đổi bộ mặt thành thị, biến nó thành những trung tâm kinh tế, dầndần quy tụ nông thôn quanh thành thị, thay đổi kết cấu xã hội, làm mất thế lựcnhiều lực lượng bảo thủ trì trệ, tạo điều kiện cho cái mới – sau khi đã thay dađổi thịt, biến hóa – có điều kiện từ thành thị tỏa về nông thôn, chi phối sự pháttriển theo kiểu các xã hội hiện đại

3 Cuộc sống, tâm trạng đổi thay Những vấn đề của xã hội

Những sự đổi thay như thế về chính trị kinh tế xã hội càng ngày càngcủng cố vị trí của thực dân Pháp, khẳng định, bình thường hóa những cái xấu

xa, những cái trái mắt của quân cướp nước, của phương Tây, của xã hội tưsản mà thực dân mang vào cuộc sống Việt Nam Người ta phải sống với nó,bắt buộc phải thích ứng với nó và không phải không quen dần

Tú Xương từng chế giễu:

“Khăn là bác nọ to tày rế, Váy lĩnh cô kia quét sạch hè.

Công đức tu hành, sư có lọng,

Trang 11

Xu hào rủng rỉnh, mán ngồi xe”

Cái lố lăng, hợm của, trái tôn ti trật tự ấy chướng tai gai mắt, gây ra bấtbình, phản ứng cho cả xã hội vốn tôn trọng tục lệ, tôn trọng lễ giáo, phân vịtrên dưới Nhưng về sau, khi quyền của “kẻ có của” được thừa nhận, sựhưởng thụ thú vui vật chất được coi là quyền lợi tự nhiên, khi lễ giáo, tục lệ lùibước, thì cái ngon, cái đẹp, cái tiện lợi, cái hào nhoáng trở thành có sức hấpdẫn

Những người luống tuổi đua nhau đi học, các bậc cha mẹ thúc giục concái đi học, kiếm lấy ít vốn liếng chữ Tây và hãnh diện về cái chức thông phán

Cả những cái còn xa lạ hơn sâm banh, sữa bò, kiếm được bằng những cáchnhục nhã hơn, tội lỗi hơn, đã lại gây ra thèm muốn, ước ao Cái quan trọngkhông phải chỉ là ở chỗ thay đổi sự thích thú, ở chỗ bình thường hóa việc ăn

bơ, sữa, mặc ngắn gọn, bắt tay để chào hỏi nhau, mà còn là đồng thời với sựthay đổi trong đời thường đó, là sự thay đổi của cả cuộc sống tinh thần, cảtâm lý, cách suy nghĩ Trong xã hội xuất hiện những vấn đề mới và cách nhìn,cách giải quyết các vấn đề đó theo cách khác

Ở thành thị mới: “người đủ hạng người, trò đủ trò, đua nhau thanh lịchcũng lắm lối”; những của ngon vật lạ hàng ngày tràn về, những nhà hát lộnglẫy, những quán trà lịch sự lôi cuốn, báo chí không ngớt đăng giá cả, tin tứckinh doanh Người ta cần hưởng thụ, cần tiền, cần tính toán, chạy vạy Cuộcsống sôi động, chen chúc, phức tạp đòi hỏi người ta phải nhanh chóng, gọnghẽ, luôn luôn động

Hàng hóa châu Âu từ thành thị tràn về nông thôn Chiếc đèn Hoa Kỳ,rồi chiếc đèn măng sông chói sáng bên cạnh cọc đèn dầu lạc leo lét Bàn tiện

tủ chè chạm cành nho con sóc thay thế dần những phản gụ, sập lim Bộ xalông, cái đồng hồ quả lắc chiếm chỗ trong gian giữa nhà trên, được gọi thành

“phòng khách” của ông bá hộ ở nông thôn Những bộ đồ mới lạ ấy dồn chỗnhững hương án bàn thờ, câu đối, hoành phi, đuổi thẳng cái án thư, bộ tràng

kỷ xuống nhà xép, nhà ngang Cái mới tập trung ở thành thị nhưng không chỉđóng khung ở thành thị, nó đổi thay cả cuộc sống ở nông thôn, căn cứ địa của

Trang 12

nhà nho và người nông dân, những người vốn trung thành với cái cổ truyềnnhất.

Không phải người ta chấp nhận dễ dàng sự thay thế đó Nhà nho vàngười nông dân, dầu càng ngày càng thất thế, càng bi quan, vẫn khôngngừng phản kháng Họ có nhiều cách chống lại Ở nhiều nơi, những ngườiCần vương sống sót vẫn ẩn nấp trong nhân dân, đi về bí mật như những kẻ

du hiệp, mong thổi lại đốm lửa trong đống tro tàn Ở Yên Thế, Hoàng HoaThám vẫn xây dựng đồn lũy Ở Quảng Nam, Nguyễn Hàm vẫn giữ một cáitrại, ngầm thu nạp hào kiệt Người thi đỗ cố từ không chịu ra làm quan Ngườilàm quan từ chức Dầu vua Hàm Nghi đã bị đày, Đồng Khánh rồi Thành Thái

đã lên ngôi từ lâu, không ít người vẫn dùng niên hiệu Hàm Nghi để tính nămtháng Người ta bài bác bộ Âu phục “cộc lốc”, đôi giày Tây “lộp cộp” lấc láo,chữ Tây khó theo, không có nghĩa lý, không trang nhã, người đi học phải

“liếm đít bát cho mỏng lưỡi đi mới đọc được”, những nhà gia giáo cấm concháu mặc đồ Tây, nói tiếng Tây trước mặt cha anh

Nhưng cái mới, cái đẹp, cái tiện lợi vẫn có sức mạnh của nó Ưu thếcủa cái dân tộc, của tình cảm thiêng liêng với cha ông, với đạo nghĩa thánhhiền cũng không lấn át được Dần đần cái mới chinh phục được cả nhữngngười khó tính, nệ cổ Không ai có thể đuổi nó hay tính đến chuyện đuổi nó rakhỏi cuộc sống mà ngược lại chỉ tính chuyện sửa đổi mình cho thích hợptrong cuộc sống với những cái mới đó

Những người nông dân bị phá sản chạy ra thành phố, các nhà nhocũng đi ra thành phố Dần dần họ thành thị hóa, tiểu tư sản hóa Cái ranh giớicủa địa vị, gia thế bị xóa bớt Một ông nghè có thể ra đứng chủ trì một hộibuôn Một ông quan có thể ra ngồi bốc thuốc ở hiệu, một cậu ấm có thể raviết tuồng, đạo diễn tuồng, mà không cảm thấy mất thể diện Dần dần chính

họ lại tập hãnh diện với những mánh khóe trong nghề buôn bán làm ăn Họquan niệm nghề buôn, việc làm giàu theo triết lý cạnh tranh sinh tồn, chứkhông phải với thái độ khinh bỉ nghề “trục mạt” như lời thánh hiền ngày trước.Lớp nhà nho trẻ mới lớn lên, sống cuộc sống mới đó, có phương tiện “vừa ra

Trang 13

Bắc đó lại vào Nam”, dần dần mở rộng tầm mắt, thấy ra nhiều cái mới lạkhông phải chỉ của nước khác mà cả của đất nước mình; họ thấy được cáichật hẹp, những chỗ yếu của chính mình Trong số đó xuất hiện những ngườixông xáo – có chí “hồ hải” – trái với bản tính Nho gia, như Phan Bội Châu,Đặng Thái Thân… Trước khi những người tư sản dân tộc có ý thức giành lấyquyền làm chủ cuộc sống đáng lẽ thuộc về họ, thì những nhà nho này, nhờ

sự tín nhiệm xã hội, nhờ khả năng về văn hóa đã đóng hộ họ vai trò nhà tưtưởng của giai cấp mới Theo quan niệm của mình và với phương tiện mình

có, họ nhìn và giải quyết những vấn đề mới của thời đại

Thực tế lớn nhất của cuộc sống là đất nước đã mất vào tay quân giặc,làm nghẹt thở cả dân tộc Một thực tế nữa cũng lớn – nhất là nếu ở thành thịthì càng thấy rõ là đất nước đang đi vào con đường tư sản hóa Cho nên thực

tế đặt ra vấn đề chống Pháp, cứu nước, giành độc lập, mà cũng đặt ra vấn đềduy tân, đi theo Âu – Mỹ, theo kịp các nước văn minh Vấn đề cứu nước, vấn

đề duy tân đều được đặt ra từ thế kỷ trước, nhưng đến nay phải nhìn lại tronghoàn cảnh mới Không những kinh nghiệm thất bại vừa qua cho phép rút ranhiều bài học, mà những điều tai nghe mắt thấy ở thời đại cũng cung cấp chongười ta nhiều điều kiện để thấy vấn đề thiết thân hơn Phải có dân đứng lênmới cứu được nước Phải duy tân mới giành độc lập được Nhưng với vốn trithức và cách suy nghĩ của nhà nho lúc đó chưa ai có điều kiện để hiểu cáimới thật sâu xa mà mỗi người nhìn một cách Theo cái mới là theo conđường của kẻ thù Thực dân Pháp chẳng đã khoe khoang những việc làmcủa chúng nhằm mục đích khai hóa, truyền bá văn minh, ban ơn cho thuộcđịa đó sao? Quá nửa những việc chúng làm là xấu xa, tàn ác, và hầu hết làtrái với phong tục tập quán của dân tộc Không phải duy tân và yêu nước dễkết hợp với nhau Không dễ dứt bỏ cái của cha ông, của dân tộc, của thánhhiền, để theo cái mới Có người ghét Pháp mà cự tuyệt mọi cái mới Có ngườicho duy tân là tất cả, lầm lẫn những việc Pháp làm cũng là duy tân Duy tân là

cả một cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, giữa dân tộc và phản dân tộc

Ở giữa hai thái độ cực đoan đó là những quan niệm mơ hồ yêu nước và duytân ở những phạm vi khác nhau, ở mức độ khác nhau Kết hợp yêu nước và

Trang 14

duy tân trong thực tế không phải là chuyện dễ dàng và xác định cái mới nàomới là cái mới cần cho dân tộc cũng không phải một lúc đã làm ngay được.

Nhưng cái mới vẫn cứ thâm nhập, bất chấp mọi sự chọn lựa Nó chiphối sự suy nghĩ, tác động đến tâm lý xã hội

Trong cuộc đổi thay như vậy – một cuộc đổi thay mà bất cứ một cuộc

bể dâu nào trước đây cũng không thể so sánh – xuất hiện nhiều con ngườikhác trước, nhiều quan hệ khác trước, nhiều chuyện khác trước Cuộc sốngtràn ra ngoài khuôn khổ luân thường và nhân tình thế thái, trở thành một cuộcsống xã hội cụ thể, đa dạng và sôi động Sự êm ấm của lòng từ hiếu, cungthuận trong gia đình không giữ được người con dưới gối cha mẹ; tình làngxóm quê hương với cái rộn ràng của hội hè, đình đám không giữ chân đượcchàng trai sau lũy tre xanh Bước ra khỏi khuôn khổ chật hẹp, yên lặng, họhàng, làng mạc, người ta phải tỉnh táo, tính toán, vật lộn trong tình thế “khônsống, mống chết” của một quan hệ lạnh lùng “tiền trao cháo múc” Người taphải tự ý thức, phải sống, suy nghĩ, mơ ước cho riêng mình trong những điềukiện của một xã hội phức tạp, rộng lớn

Chính sự đổi thay, sự đấu tranh ấy tạo ra những con người khác trước,đặt ra những vấn đề thành đề tài văn học khác trước, những nhân vật vănhọc, những suy nghĩ, cảm xúc mà ta sẽ gặp trong văn học thời kỳ này Nhữngbài thơ ngâm chậm rãi từng câu bên chiếu rượu, những câu hò hát khoan thaicủa những đêm trăng khó gây hào hứng, quyến rũ Văn học phải là văn họccủa những con người cụ thể và của một xã hội động

II TÌNH HÌNH CHUNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN VĂN HỌC

Xã hội thực dân nửa phong kiến hình thành qua một quá trình đấu tranhgiữa ta và địch, tranh chấp giữa cái mới và cái cũ Tương ứng với quá trình

đó là một cuộc cạnh tranh Âu – Á trong văn học Thực dân Pháp du nhập vănhóa Pháp để đẩy lùi, chiếm chỗ, thay thế văn hóa cổ truyền của ta, mà taphản kháng lại sự xâm nhập, nô dịch đó để bảo vệ văn hóa của dân tộc, đồngthời cũng bắt chước, chọn lọc, tiếp thu cái mới, chịu ảnh hưởng của cái thốngtrị, dần dần hướng theo nền văn hóa mới một cách không cưỡng lại được

Trang 15

Kết thúc giai đoạn đấu tranh quân sự và chính trị, một bên chỉ còn một

vũ khí là văn học và một bên phải chuyển sang dùng vũ khí văn học để tiếptục chinh phục Hai bên đều sử dụng văn học và đều muốn giành giật lấy vũkhí đó Những nhân tố đối lập nhau cùng tác động, ảnh hưởng đến cảm xúc,suy nghĩ của mọi người trong cuộc sống, ảnh hưởng đến người sáng tác, quátrình sáng tác Bên cạnh những nhà nho vẫn tiếp tục làm thơ, làm phú, ngườinông dân vẫn tiếp tục ca, vè, hò, hát, nền văn học cũ vẫn tồn tại khắp nước,

là sự xuất hiện một lớp nhà văn kiểu mới, một nền văn học có tính chất kháctrước, tạo thành một cảnh tượng giao thời giữa hai nền văn học

Cả giai đoạn 1900 – 1930 có nhiều sự kiện văn học, nhiều tác giả, tácphẩm đánh dấu từng bước của quá trình đấu tranh, phát triển, tranh chấpgiữa hai nền văn học cũ và mới trong giai đoạn có tính chất giao thời đó

1 Một giai đoạn văn học có tính chất giao thời

Trước thế kỷ XX trong lịch sử văn học Việt Nam có hai dòng rõ rệt: báchọc và bình dân Mỗi dòng đều có người sáng tác, công chúng, đề tài, đờisống, phương thức truyền bá riêng, đều được sáng tác theo những quanniệm văn học, những lý tưởng thẩm mỹ riêng, và theo những thể loại nhấtđịnh

Văn chương bác học là văn chương của nhà nho, từng lớp trí thức tựcoi mình là thần tử của triều đình, kẻ hướng đạo nhân dân, kẻ bảo vệ đạo lýthánh hiền Nhà nho viết văn không phải để biểu hiện cái đẹp, không phải đểvui Văn gắn liền với “đạo”, bảo vệ đạo lý cương thường Có thể đó là thứ vănchương ca tụng vua hiền tôi giỏi, giảng giải đạo lý nhằm treo gương, thuyếtphục, răn dạy Có thể đó là thứ văn chương mượn cảnh nói tình, biểu đạttâm, chí, bộc bạch tấm lòng trung trinh, tiết tháo Trong nhà nho cũng cónhiều người chán cái gò bó, khắt khe, chật hẹp của khuôn khổ lễ giáo, viếtmột thứ văn chương ca tụng thiên nhiên, ca tụng sự phóng khoáng, sự thanhcao của người ẩn sĩ, ca tụng cái hào hoa phong nhã của người tài tử Lýtưởng thẩm mỹ có thể khác nhau, nội dung tư tưởng có thể khá khác nhau,nhưng văn chương vẫn là thơ, vẫn là một thứ văn xuôi có vần, có điệu, mỗi

Trang 16

thể loại đều phải tuân theo những luật lệ nghệ thuật chặt chẽ, hạn chế sự đadạng của sáng tạo cá nhân Đời sống của nó là ở triều đình giữa vua tôi vàđồng liêu, trong trường học, thi xã giữa thầy trò, bè bạn, trong gia đình giữacha con, anh em Văn chương viết ra là để cho mình, viết vào văn tập, thi tập,lưu lại hco con cháu, để “cất vào danh sơn” Những áng văn hay vẫn đượcphổ biến, truyền tụng, nhưng đó là sự trao đổi bằng cách đọc cho nghe, chépcho xem giữa những người giống mình Người viết không hề nghĩ đến chuyệncông bố tác phẩm, không hề quan tâm đến công chúng Viết văn, người tachú ý trước hết không phải là thực tế khách quan, mà là đạo lý cươngthường Cái đẹp, cái hay của nó trước hết là nghĩa lý Hình thức của nóchuộng cân đối, hài hòa, trang nghiêm Văn chương phải được viết có kỹ xảo,gọt rũa, hoa mỹ, thay cho từ ngữ thông thường là điển tích, nhưng không phải

vì thế mà người ta chuộng sự cầu kỳ, khó hiểu Người ta vẫn quý sự bình dị,

tự nhiên, nhưng là thứ bình dị, tự nhiên trang nhã Văn chương trang nhã,tránh cái thô cái tục vừa không quan tâm biểu đạt thật đúng thực tế, vừakhông coi trọng cuộc sống của nhân dân mà họ cho là tầm thường, thấp kém.Nhà nho viết văn không để cho nông dân đọc, mà đọc văn cũng không nhằmcho nông dân nghe

Văn học bình dân là văn chương của nhân dân lao động Đó là lời catiếng hát bộc lộ những xúc cảm trong cuộc sống thôn dã, trong khung cảnhcùng nhau lao động sản xuất, trong cảnh hội hè đình đám tụ tập đông người;

kể những chuyện trong xóm, trong làng làm họ xúc động, những chuyệnngang trái mà họ muốn phê phán Khi họ hát hay kể vè, họ không coi đó làvăn chương, nghệ thuật, nhưng văn chương bình dân vẫn có cái đẹp tựnhiên, giản dị như tâm hồn người sáng tác ra nó, như khung cảnh thiên nhiênbao quanh họ Người bình dân hò hát, làm vè cũng không nhằm vào mộtcông chúng nào Cái đẹp chất phác của nó cũng xa lạ đối với nhà nho

Nhà nho coi thường, ít quan tâm đến bài vè, câu hát của nhân dân vànhân dân cũng giữ thái độ “kính nhi viễn chi” đối với văn chương bác học caođạo, xa lạ Hai thứ văn chương đó căn bản đều là trữ tình, ra đời trong cùng

Trang 17

một khung cảnh, một thời đại Nhưng là của hai loại người sáng tác khá xanhau Tuy vậy giữa văn chương bác học và văn chương bình dân cũng cóchỗ gặp nhau Đó là trường hợp những nhà nho có tư tưởng nâm đạo chủnghĩa quan tâm đến thực tế cuộc sống, đến con người, viết những truyệnNôm, tỏ sự đồng tình với những kẻ chịu cảh bất công, áp bức, gặp cảnh ngộngang trái, chịu số phận hẩm hiu Suy nghĩ, cảm xúc của họ về cuộc đờikhông phải hoàn toàn giống người nông dân, nhưng người nông dân cũngthích thú tìm được trong câu chuyện, trong lời thơ của truyện Nôm cái gì đó làđồng điệu mà ca dao, hò vè không nói lên được Khi dùng những thể loại dântộc, ngôn ngữ dân tộc để viết truyện, các nhà nho tự nhiên phải đi sâu vàotiếng nói, tâm tình của nông dân và khi truyền miệng ngâm đọc loại truyện đóngười nông dân cũng chia sẻ phần đồng tình, đồng cảnh, phần con ngườinhất trong xúc cảm của nho sĩ Thứ văn chương ở giữa văn chương bác học

và văn chương bình dân đó làm dấu nối giữa hai loại người, có tác dụng tolớn đại chúng hóa văn chương bác học, nghệ thuật hóa văn chương bìnhdân, là những cái mốc quan trọng trên bước đường phát triển văn học dântộc

Việc gặp nhau, học nhau như thế vẫn không xóa bỏ được sự cách biệtgiữa văn chương bác học và văn chương bình dân Kinh tế và xã hội mộtnước nông nghiệp không có khả năng khắc phục tính chất phân tán của nó

Vì vậy nó vẫn giữ nhà nho và nông dân, hai dòng văn học nói trên – nhữngsản vật của kinh tế nông nghiệp của xã hội phong kiến – trong tình trạng xacách, riêng rẽ, không đi đến nhất thể hóa Tình trạng đó tồn tại lâu dài cùngvới sự trì trệ của xã hội phong kiến

***

Sự đổi thay bắt đầu với việc đổi thay vị trí của cung đình và nông thôn

so với thành thị tư bản chủ nghĩa, của nhà nho và người nông dân - nhữngnhân vật nông thôn – so với người thị dân

Trong xã hội thực dân nửa phong kiến, cung đình không còn là trungtâm của cả nước Quan hệ vua tôi, đồng liêu, trật tự tôn nghiêm của triều đình

Trang 18

bị xáo tung bởi một quan hệ mới: giữa tất cả những cái đó với chế độ thựcdân.

“Chiếc lương Tây” hậu hĩ đang lôi cuốn đám thanh, thiếu niên đến cửacác trường Pháp – Việt Các trường chữ nho xưa kia tấp nập đến cả nơi thôncùng xóm vắng, thì nay hiện ra quang cảnh tàn tạ của buổi chợ chiều Trongcảnh loạn ly không ai còn nghĩ đến chuyện lập thi xã Bạn bè thân thích cũngngại gặp nhau Quan hệ thầy trò, bè bạn không còn chặt chẽ như trước Nhànho, người đại biểu tinh thần của xã hội trước đây, trải qua một sự đảo lộn về

số phận Văn học bác học, chung số phận với người sinh ra nó, mất cả sinhkhí và đất sống, lặng lẽ tàn lụi

Ở thành thị, càng ngày càng đông đảo những con người mới, sốnghoàn toàn khác trước, có những nhu cầu văn học hoàn toàn khác trước Ởthành phố không có những buổi hò hát dưới trăng, vả lại thứ văn nghệ thôn

dã ấy cũng không thỏa mãn được thị hiếu thị dân Lớp công chúng mới ra đời

đó đòi hỏi một nền văn học thị dân

Trong truyền thống văn học dân tộc chưa có nền văn học thị dân vàthưởng thức một thứ văn học thị dân như vậy cũng không phải là việc dễdàng, tự nhiên đối với mọi người, bằng con đường này hay con đường khác,mới từ nông thôn ra thành phố Vai trò môi giới lúc này rất quan trọng Trongnhà trường, người học sinh từ học tiếng Pháp đến học văn học Pháp Nhữnggiờ phân tích giảng dạy văn học trong trường có tác dụng cải tạo, giáo dụcquan điểm thẩm mỹ làm cho người học hiểu, thích một thứ văn học rất khácvới văn học truyền thống Những truyện dịch từ tiếng Pháp, từ tiếng TrungQuốc đăng dần trên báo chí, hay in thành sách mỏng là món ăn tinh thần đầutiên của lớp công chúng thị dân mới mẻ ấy

Không phải văn học thị dân đã có thể lấn át ngay văn học nông thôn.Nhà nho vẫn tự hào về thơ phú, chữ nghĩa, đạo lý thánh hiền, vẫn làm thơphú Nhiều vị khoa bảng có tiếng tăm, quan lại cao cấp được thực hiệnkhuyến khích tổ chức những buổi xướng họa, thi thơ lớn Nam triều vẫn tồntại, vẫn có những ông quan ngồi viết chiếu, biểu Người ta vẫn nhai lại thứ

Trang 19

văn chương giáo huấn về vua thánh tôi hiền, về đạo lý cương thường…nhưng không còn ai thích thú văn chương dối trá, trơ trẽn, viết chi để tiêu sầu

và kiếm cơm ấy Những nhà nho yêu nước, trong sạch vẫn dùng văn thơ đểnói khí tiết bất khuất, để vạch mặt bọn phản bội, ca tụng những người anhhùng hy sinh Người nông dân vốn không có quan hệ gì với những truyệnđăng trên báo chí, những nhà văn giảng dạy trong nhà trường, vẫn bộc bạchnỗi lòng của mình trong những bài vè, câu hát Phạm vi tuy có rút lại, tác độngtuy có ít hơn, văn học cũ của nhà nho và của người nông dân vẫn cứ tồn tạitrong địa bàn nông thôn

Thế là ở hai địa bàn thành thị và nông thôn có hai nền văn học khácnhau Bên cạnh nhà nho là lực lượng sáng tác chủ yếu trước đây, xuất hiệnlực lượng sáng tác mới: những người làm báo, trong đó có cả những nhà cựuhọc viết bằng chữ Hán Dần dần bằng con đường dịch thuật, phỏng tác một

số người viết báo chuyển sang viết truyện ngắn, viết kịch, đáp ứng đòi hỏi củacông chúng thành thị Hai lực lượng sáng tác đó khác nhau hẳn về quan niệmvăn học, về mục đích sáng tác, về phương pháp sáng tác, về tiêu chuẩn thẩmmỹ

Trong điều kiện phương tiện giao thông và giao lưu văn hóa phát triểnhơn, báo chí, nhà xuất bản, nhà hát truyền bá tác phẩm văn học nhanh chóng

và rộng khắp hơn, thành thị và nông thôn liên lạc thường xuyên hơn, nhândân ở vào hoàn cảnh giống nhau, có tâm tư, nguyện vọng gần nhau, dễ hiểunhau hơn, quần chúng nhất thể hơn trước, dân tộc thống nhất hơn trước, hainền văn học ấy phải tiếp xúc với nhau, ở vào thế phải cạnh tranh với nhau đểthành một nền văn học chung cho cả dân tộc Văn học bác học của nhà nhorút hẹp địa bàn lại và tự nó cũng thay đổi tính chất Văn học mới và văn học

cũ đều đăng lên báo chí, đều đem ra công bố cho mọi người Nó thành mộtthứ hàng hóa, không thể không chú ý đến yêu cầu của công chúng Trongcuộc cạnh tranh đó, văn học cũ, căn bản là một sản vật có tính chất nôngthôn, phong kiến, không thể thích hợp với xã hội mới Công chúng thành thịđông đảo về số lượng, lại có đồng tiền bỏ ra nuôi sống báo chí và người cầm

Trang 20

bút, trở thành lực lượng chi phối sự phát triển của văn học, bắt người ta quanniệm văn học theo yêu cầu của nó Khi lớp thanh niên lớn lên, nhiều người đã

đi học chữ Pháp, quên đần những chữ “chi, hồ, giả, dã”, xa dần cách làm đối,làm đoạn, chọn vần, gò gẫm niêm luật, thì thơ phú của những bậc cha chú vềmặt văn học trở thành xa lạ đối với họ, xa lạ hơn cả tiểu thuyết và kịch nói vềnhững ông hiệp sĩ, những bà quý tộc, những nhà tư sản những thế kỷ trước ởtân châu Âu Mặc dù các cụ, và nhiều người vẫn theo các cụ, chỉ thừa nhận

có một thứ văn chương là văn, thơ, phú, lục, không thể nào coi việc ta hàmrâu con dê, bộ lông con cú, tiếng xe bò ậm ạch lăn trên đường đá là vănchương, những đoạn văn tả cảnh của Daudet, Maupassant, Flaubert vẫn làmngười ta thích thú, say mê Kịch của Molière, của Conleille vẫn hấp dẫn dễdàng hơn là văn của Hàn Dũ, thơ của Lý Bạch, Đỗ Phủ và ngay đến cả vănthơ Nguyễn Trãi nữa

Văn học thành thị thay cho văn học nông thôn, người trí thức tân họcthay cho nhà nho làm chủ văn đàn Những sự thay đổi đó xảy ra không giốngnhư sự thay đổi trong quân sự, chính trị: đấu tranh – tiêu diệt – thay thế, màtrải qua một cuộc cạnh tranh âm thầm, lặng lẽ, chuyển hóa dần Văn học cũ

cố gắng cách tân, thích ứng với công chúng mới, nhưng bất lực, dừng lại, héomòn dần Văn học mới ra đời, đầu tiên khá mỏng manh, nội dung khá nghèonàn, nghệ thuật khá ấu trĩ, nhưng dựa vào sự phát triển nhanh chóng củathành thị, vào sự tích lũy tri thức văn học tư sản phương Tây, đã phát triển,chiếm lĩnh dần trận địa, dồn văn học cũ vào một góc trong từng người, trên tờbáo, trong cả xã hội, cho đến lúc nó phải biến mất hẳn

Văn học của cả giai đoạn 1900 – 1930 có tính chất giao thời Tính chấtgiao thời đó biểu hiện ở sự tồn tại song song của hai nền văn học cũ và mớivới hai lực lượng sáng tác, hai công chúng, với hai quan niệm văn học, hailoại ngôn từ văn học ở hai địa bàn khác nhau, ở xu thế thắng lợi của nền vănhọc mới đang tiến tới thay thế nền văn học cũ Ở giai đoạn giao thời này, nềnvăn học cũ tuy đã ở trên đà suy tàn nhưng vẫn còn giữ một vị trí đáng kể, vẫncòn có tác dụng tích cực nhất định trong sự phát triển của văn học dân tộc

Trang 21

2 Nền văn học hiện đại hóa, di vào quỹ đạo chung của văn học thế giới

Trước thế kỷ XX văn học Việt Nam giống văn học một số nước Đông Á,chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc, không cùng loại với văn học của nhiềunước trên thế giới vốn chịu ảnh hưởng nền văn học châu Âu Văn học chínhthống Việt Nam thời trung đại do nhà nho viết và chịu ảnh hưởng Nho giáo

Nhà nho để cả cuộc đời vào việc viết văn, làm thơ và theo quan niệmNho giáo, họ viết văn, làm thơ trong những trường hợp nhất định, theo những

ý định nhất định, không giống với hoạt động sáng tác của các văn nghệ sĩhiện đại Văn chương có thể coi là một thứ nghề, một thứ kỹ xảo, mà nắmvững nó, nhà nho có thể thi đậu, làm quan và công việc của một ông quan –nhà nho là làm văn chương trong các trường hợp khác nhau của công việccai trị Từ nhỏ họ đã tập làm thơ, viết văn tuần tự từ việc học thuộc, làm đối,làm đoạn Khi vào đời, văn chương được dùng để thảo các giấy từ việc công(chiếu, biểu, từ lệnh ngoại giao, văn tế thần, giấy tờ việc công từ phê đơn từđến làm tờ sức, tờ bẩm), chép sử Văn chương cũng được dùng trong việcthù ứng, giao thiệp Người ta chia vui, chia buồn với nhau bằng một đôi câuđối, viếng nhau bằng một bài văn tế, đón nhau, tiễn nhau bằng một bài thơ,ghi lại kỷ niệm bằng một bài ký, bài tự Tất cả những thứ văn chương thù ứng

đó không phải đều viết theo sự đòi hỏi của xúc cảm, mà theo đòi hỏi của quan

hệ, của cương vị, thể diện, không cho phép thoái thác Bạn bè thường cùngnhau ngâm vịnh, cùng nhau xướng họa Cho riêng mình, nhà nho dùng vănghi chép những điều nghe thấy, những sự tích, những thắng cảnh, làm nhữngbài thơ vịnh cảnh, vịnh vật hay thổ lộ tâm sự (cảm hoài, ngôn chí) Cảm hoài,ngôn chí hay vịnh cảnh, vịnh vật chủ yếu cũng là để gửi gắm tâm sự Quanniệm thế giới, quan niệm con người, quan niệm văn học Nho gia ảnh hưởngsâu sắc đến việc viết vặn, làm thơ của họ

Theo quan niệm Nho gia, Văn là biểu hiện của Đạo được dùng đểtruyền đạt đạo lý thánh hiền, đem gương sáng đạo đức để giáo hóa Vănnhân tất phải có tài “nhả ngọc phun châu” tức là có tài sử dụng ngôn ngữ, văn

Trang 22

tự nhưng trước hết họ phải có cái chứa bên trong là đạo đức, cái để đưa ragiáo hóa Vì vậy văn nhân vẫn gần với loại thánh hiền hơn loại nghệ sĩ Vănkhông tách khỏi triết, sử Viết văn, tất không tránh khỏi việc nói đến thực tế.Nhưng văn nhân không quan tâm nhiều đến quan sát, nhận thức, mô tả Cáiđược quan tâm hàng đầu trong thực tế là Đạo lý tức là sự hài hòa của trật tựtheo đạo đức cương thường Mô tả và trần thuật bị hạn chế theo giác độ cảmthụ của Tâm Thể loại văn học phát triển nhất là thơ Thơ chủ yếu là để gửigắm, bộc bạch tâm sự Ngôn chí, cảm hoài là bộc bạch tâm sự và vịnh cảnh,vịnh vật cũng là gửi gắm tâm sự Thơ chủ yếu là trữ tình, nhưng con ngườisống và có giá trị chủ yếu bằng đạo lý cương thường, cho nên bộc bạch tâm

sự không nhắm nói tiếng nói của cái “tôi” riêng tư mà nói tiếng nói của cái “ta”– (phần đạo lý trong cái tôi đó) Trong thơ có loại vịnh cảnh, vịnh vật, trongvăn có loại ký, tự, đều là những thể loại miêu tả ghi chép thực tế, tìm cảmhứng trong sự vật khách quan Nhưng ngay ở đây, thực tế vẫn bị gạn lọc theođạo lý Hình ảnh của thực tế trong văn chương nhà nho không phải không cókhi đạt đến những hình tượng cực kỳ cô đọng, sâu sắc, tương hợp với cáiđiển hình, nhưng thường là bị cách nhìn trên đây làm cho mờ nhạt, khô cứng,không phản ánh thực tế phong phú, sinh động Quan niệm văn chương đạo lýkhông làm cho văn học chú ý đến con người thực, cuộc sống thực, kìm hãmvăn nghệ chân chính phát triển

Cuộc sống ở một nước nông nghiệp kiểu châu Á vốn trì trệ, luẩn quẩn

Dù có xảy ra bao nhiêu cuộc “bể dâu” thì luân thường vẫn cứ là “khuôn vàngthước ngọc” Người ta dựa vào nó để đánh giá, noi theo nó để suy nghĩ, hànhđộng, lấy nó làm mô hình để khôi phục trật tự, đưa về lối cũ Trong một xã hộibảo thủ như vậy nhà nho vốn là người hiếu cổ nhất, trong một xã hội im lìmnhư vậy nhà nho vốn là người ít hoạt động nhất Khuôn sáo không hề bị phá

vỡ Nền văn học của nhà nho là con đẻ của xã hội đó và cũng rất thích hợpvới xã hội đó

Sự đổi thay bắt đầu từ khi trong xã hội cuộc sống phẳng lặng trước đây

bị xáo trộn Hàng hóa, tiền bạc phá vỡ các quan hệ luân thường Kinh tế tư

Trang 23

bản chủ nghĩa ở thành thị làm cho con người trở thành những cá nhân Tìnhnghĩa lép vế trước lợi nhuận Xã hội trở thành phức tạp, cuộc sống trở nênrộn rịp, gấp rút, thay đổi nhiều hình nhiều vẻ Trong một xã hội cá nhân trởthành thực tế, thì luân thường – những quan hệ đạo lý bất biến – quá đơngiản, chật hẹp, không thể chứa đựng nổi sự phức tạp, đa dạng, sự biến độngcủa thực tế cuộc sống Ân tình không thể giải quyết hết các quan hệ Người taphải tìm thế giới, xã hội cách khác, có thái độ khác và chờ đợi văn học đưa lạicho mình những cái khác trước.

Người ta – nhất là người dân thành thị – trong cuộc sống đua chencạnh tranh cần sống thực, không thể thỏa mãn với những lời giáo huấn vềđạo lý cương thường Người ta cần hiểu rõ, hiểu kỹ cuộc sống với cả nhữngtình tiết đầy đủ, những chi tiết cụ thể, gây được cảm giác, thỏa mãn được sự

tò mò Người ta cần sống những cảnh ngộ của kịch, những số phận của tiểuthuyết – những cảnh ngộ, số phận của những con người cụ thể trong cuộcsống bình thường, thế tục Người ta muốn nếm trải cái có thật (hay có thể cóthật), chứ không phải được khích lệ bằng những gương trung hiếu, minh họađạo nghĩa Người ta cũng muốn rút ra từ đó những bài học quý giá, nhưng lànhững bài học của cuộc sống, chứ không phải những bài học của giáo lý.Người ta muốn xúc cảm, muốn mở mang như những con người, những cánhân – chứ không phải xúc động như khi chiêm ngưỡng tấm gương cao cảcủa vị thánh xuất chúng

Đáp ứng thị hiếu văn học đã thay đổi như vậy, quan niệm văn học, tưtưởng thẩm mỹ của người sáng tác cũng phải khác hẳn trước Một nền vănhọc lấy đề tài trong cuộc sống bình thường trong đời sống xã hội – con người

có thể là nhà quyền quý, nhà tư sản thuộc từng lớp thượng lưu nhưng đặttrong cuộc sống bình thường của họ, – một nền văn học trọng sự thực (và cảcái mơ mộng) hơn đạo lý, có những tình huống thực được quan sát mô tả(hay tưởng tượng thêm) thay cho nền văn học giáo huấn, truyền đạt, ký ngụtâm sự, chỉ trọng đạo lý Khách thể phải được coi trọng Đặt vấn đề phân biệtkhách thể, chủ thể, cái dấu nối liên hệ giữa Tâm – Đạo – Khách quan, đặt vấn

Trang 24

đề nhận thức, mô tả, phản ánh, văn học phát triển theo một hướng khác hẳntrước Mô tả ở mức đơn sơ nhất, ít gia công tư duy nhất, cũng đã là mới,cũng đã là phá vỡ khuôn sáo Văn không còn gắn với sử, không còn gắn vớitriết, tách ra thành một nghệ thuật và phải coi trọng cái đẹp Trong xã hội tưsản văn nghệ sĩ sẽ thành một chức nghiệp: viết văn bán cho công chúng.Thoát khỏi sự ràng buộc của đạo lý để nói về những con người thực, về cuộcsống bình thường, kịch và tiểu thuyết phát triển Văn học Việt Nam đi vàohướng hiện đại hóa.

Quá trình hiện đại hóa văn học là quá trình xóa bỏ quan niệm xã hộiluân thường, với con người đạo đức và chức năng, hình thành quan niệm xãhội, quan niệm con người, quan niệm cuộc sống, chi phối việc thay đổi đề tàivăn học Người sáng tác phải chú ý đến người, đến việc và phải quan tâmđến cốt truyện, đến nhân vật, phải quan tâm đến nhận thức, phản ánh Đó làquá trình biến dạng, tha hóa ba mẫu nhân vật nho gia: người hành đạo, người

ẩn sĩ và người tài tử tồn tại mấy trăm năm trong văn học bác học Đó là sự cụthể hóa, đa dạng hóa các nhân vật của xã hội cũ: vua, quan tuần, quanhuyện, quan nghè, thầy đồ, ông lý, người nông dân… Đó là quá trình xuấthiện ngày càng nhiều những nhân vật thành thị: thầy thông, thầy ký, ông thầukhoán, cậu học trò, người dân lao động, người công nhân, cô tiểu thư và côgái mới… Cuộc sống trong văn học cũng dần dần phức tạp, đa dạng, nhiềumàu sắc như cuộc sống thực Và để thể hiện nó, thể loại, phương pháp sángtác, tiêu chuẩn thẩm mỹ phải kịp thời thay đổi theo

Chưa phải ngay từ đầu người văn nghệ sĩ đã nghĩ đến những quanđiểm văn học trước hiện thực khách quan; nhưng đứng trước khách quan màngười ta bắt buộc phải mô tả, người sáng tác dần dần chú ý đến các vấn đề

mà các chủ nghĩa văn học trên thế giới đã đặt ra Thoát khỏi sự trì trệ của nềnvăn học cũ, đi theo hướng nền văn học hiện đại, văn học Việt Nam gặpnhững vấn đề chung của văn học thế giới, bước vào quỹ đạo của văn học thếgiới lúc đó

Trang 25

Trên cơ sở của một nền kinh tế đã gia nhập vào hệ thống tư bản chủnghĩa thế giới, một nền văn học như vậy, dựa vào chỉ một bộ phận côngchúng là dân thành thị, một nhân tố, trong điều kiện lịch sử lúc ấy, rất có ýnghĩa đối với sự phát triển của văn học nước ta Đó là sự tồn tại của một tầnglớp trí thức biết tiếng Pháp, hiểu văn học Pháp Việc giảng dạy văn học Pháptrong nhà trường, việc tiếp xúc trực tiếp hằng ngày với các tác phẩm từ Phápgửi sang làm cho tầng lớp trí thức đó nhanh chóng am hiểu những vấn đềđương thời của nền văn học Pháp hiện đại Qua họ, văn học Pháp tác độngmột cách rất sâu sắc đến sự phát triển về sau của văn học nước ta, và làmnên chỗ khác nhau giữa văn học Việt Nam, so với văn học các nước cũng ởĐông Á, cũng do hoàn cảnh chung mà đi vào quỹ đạo văn học thế giới, nhưnghoặc là chịu ảnh hưởng văn học Anh, hoặc là chịu ảnh hưởng văn học Nga,hoặc là chịu ảnh hưởng văn học Đức Qua tiếng Pháp họ hiểu được văn họccác nước khác ở châu Âu, là những nền văn học tuy có những sắc thái dântộc riêng, song do ra đời trên cơ sở một hoàn cảnh khách quan có tính chấtchung là thế giới hiện đại và đã trải qua một lịch sử phát triển trong sự tácđộng lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, nên chúng có thể được nhìn là thốngnhất từ văn học Phục hưng đến văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, trải quachủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tựnhiên… Tên tuổi các nhà văn, nhà thơ lớn lần lượt vang dội vào tai, các tácphẩm nguyên văn hay phiên dịch ra tiếng Pháp, rơi vào tay những độc giảViệt Nam ấy Mãi đến thế kỷ XX, người Việt Nam mới đọc các tác phẩm viết

từ thế kỷ XVI, XVII ở phương Tây, nhưng cũng cùng lúc đó họ đọc cả nhữngtác phẩm vừa in chưa ráo mực Họ làm quen chậm nhưng cùng một lúc với

cả Cervantes, Molière, Corneille, Hugo, Rimbaud, Daudet, André Gide, cả vớiBalzac, và cả với Barbusse, Gorki Tiếp xúc cùng một lúc và không phải chờqua đấu tranh mới nhận ra cái hay, cái dở, họ đã học hỏi được, rút ra đượckinh nghiệm của 3, 4 thế kỷ của thế giới cho sự phát triển văn học nước ta.Điều đó giúp cho nền văn học Việt Nam được hiện đại hóa, phát triển theomột nhịp độ rất gấp rút, nhanh chóng

3 Nền văn học đi đến dân tộc, thống nhất, cận hiện dại

Trang 26

Trước thế kỷ XX, Việt Nam đã có một nền văn học, phát triển khôngcao lắm, nhưng khá phong phú và sớm có tính chất dân tộc rõ rệt.

Trong tình hình đặc biệt luôn luôn phải chống ngoại xâm, chính quyềntrung ương ra đời sớm Với trách nhiệm bảo vệ nền độc lập, bảo vệ đê điều

để sản xuất, nó đã tìm ra biện pháp thích hợp để tổ chức, quy tụ các thônxóm rải rác, gắn bó các khu vực, các địa phương, bảo đảm sự giao thông liênlạc, hạn chế các xu hướng phân tán thành lãnh địa, duy trì được sự thốngnhất lãnh thổ, làm cho cả nước dùng ngôn ngữ chung, có lịch sử chung Dântộc hình thành sớm Nhà nước tập quyền cần đến một bộ máy quan liêu, cầnđến một văn tự chính thức, khuyến khích việc phát triển một tầng lớp trí thức

số lượng khá đông đảo là nhà nho, khá thống nhất về tư tưởng Việc học chữHán, làm văn theo văn học Trung Quốc, vốn là một nền văn học cổ phát triểnkhá cao, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển văn học nước ta Nền văn họcbác học, viết bằng chữ Hán theo thể loại Trung Quốc – về sau viết cả bằngchữ Nôm của ta – có trình độ nghệ thuật khá cao, trở thành điển phạm cho cảnước “Nếu các dân tộc đều xem xét nhà văn nào tiêu biểu cho họ nhất, nướcAnh sẽ kể đến Shakespeare của mình, nước Đức – Goeth và nước Pháp sẽkhông ngập ngừng đồng thanh cử Molière” (Saint Beuve) Một dân tộc khithống nhất tương đối ổn định và phát triển đến một trình độ nhất định, thìcũng đẻ ra những nhà văn, nhà thơ tiêu biểu cho cả dân tộc và từ đó nền vănhọc có màu sắc dân tộc rõ rệt Bên cạnh Shakespeare nước Anh ở thế kỷXVI, Molière nước Pháp ở thế kỷ XVII, Goeth nước Đức ở thế kỷ XVIII,Puskin nước Nga cũng thế kỷ XVIII, ta có thể kể Nguyễn Trãi của Việt Nam ởthế kỷ XV Từ đây Việt Nam có một nền văn học có tính chất truyền thống

Chữ Hán là một tử ngữ, không phải chữ của dân tộc, nhưng được sửdụng rộng rãi trong mọi hoạt động qua nhiều thế kỷ, đã trở thành một thứ

“chữ ta” Đại bộ phận văn học của Việt Nam viết bằng thứ chữ đó, cho nênvăn học bác học viết bằng chữ Hán thành một bộ phận của nền văn học dântộc, bên cạnh văn học dân gian truyền miệng ra đời từ lâu và rất phong phú

và văn học viết bằng chữ Nôm phát triển mạnh từ thế kỷ XVIII Đất nước tuy

Trang 27

từ lâu có chính quyền tập quyền, không có lãnh chúa cát cứ, nhưng nền kinh

tế lạc hậu, đô thị kém phát triển không cho phép dân tộc hình thành trọn vẹn

và nền văn học dân tộc hình thành trọn vẹn

Đầu thế kỷ XX với sự phát triển của kinh tế hàng hóa thị trường chung

ra đời, thành thị phát triển, đất nước đi vào con đường tư sản hóa Một mặt,

cơ sở kinh tế xã hội đó thúc đẩy thêm sự thống nhất dân tộc, mặt khác, trướcyêu cầu chống Pháp, cứu nước tình cảm, nguyện vọng, suy nghĩ của cáctầng lớp nhân dân thống nhất lại, cũng xúc tiến thêm sự thống nhất dân tộc.Hai nhân tố yêu nước và duy tân cùng tác động vào quá trình phát triển vănhọc trong những điều kiện mới: sự truyền bá chữ quốc ngữ, việc ra đời báochí, nhà xuất bản, việc hình thành công chúng văn học ở thành thị Văn họcdân tộc có điều kiện thuận lợi để phát triển, nhưng lại gặp một trở lực lớnkhác: chính quyền thực dân không muốn phát triển nền văn học thật sự dântộc, mà muốn thay thế nó bằng một nền văn học mất gốc

Thích ứng với các điều kiện mới, các dòng văn học ra đời từ trước đềubiến động theo tác động của các nhân tố kể trên

– Trong văn học bác học, các nhà nho tiếp tục ngôn chí, cảm hoàitrước cảnh đất nước sa vào tay giặc, cương thường điên đảo, đạo thánh hiềnsuy vi, nhân tình đen bạc, nhà nho thất thế Họ lên án bọn cướp nước, bánnước, bọn hèn nhát, bọn trục lợi…, nhớ tiếc thời kỳ vinh quang của dân tộc

Họ bộc bạch khí tiết kiên trinh, bất khuất Cũng có những nhà nho khác hoặcdùng văn chương để than thở, hoặc tiếp tục ca ngợi cảnh “phong hoa tuyếtnguyệt”, bịt mắt trước thực tế đau xót, thậm chí ca tụng cả cảnh phồn vinhcủa thời đại mới, biện bạch cho thái độ ươn hèn, bào chữa cho hành vi phảnbội… Nhưng quan trọng hơn cả là các nhà nho yêu nước vứt bỏ lối vănchương cao đạo, xa quần chúng, thứ văn chương gọt giũa tỉ mỉ để tranhkhéo, mua vui; rèn đúc văn học thành vũ khí phục vụ cho sự nghiệp cứu nước

và duy tân Trong khi giao cho văn học làm nhiệm vụ cao quý đó, các cụ đãđặt mình trước dân tộc, trước nhân dân, quan tâm đến công chúng tức là mọitầng lớp nhân dân, cải tạo văn học chữ Hán cho dễ hiểu hơn, gây xúc động

Trang 28

hơn, có ý thức sử dụng chữ Nôm và các hình thức văn học dân gian, đem tưtưởng yêu nước, duy tân thay cho đạo lý cương thường để giác ngộ quầnchúng Trong thực tiễn sáng tác họ đã nâng cao cả chất lượng nội dung vànghệ thuật Phải tuyên truyền, các cụ cũng chịu theo thị hiếu của công chúng,

cố gắng sáng tác cả các thể loại mới, truyện ngắn, truyện dài, tuồng, chèo, cakhúc, là những thể loại các cụ không thích, không quen viết Loại văn học yêunước đó không những có nội dung tiến bộ, có tác dụng giáo dục tích cực màcòn đem vào lịch sử phát triển văn học dân tộc cả những cách tân đáng kể vềnghệ thuật, đánh dấu một bước thay đổi có ý nghĩa tiến bộ lớn về quan niệmvăn học

– Thời đại mới cũng chứng kiến việc một số nhà nho ra thành phố sinhnhai bằng nghề viết văn Sống ở thành thị và với những người thành thị,chính họ cũng thành thị hóa Họ đưa vào văn học cũ những xúc cảm cá nhân,những cảnh vật, không khí thành thị và vì nghề nghiệp viết văn bán cho côngchúng họ đã ra công khai thác tất cả những kinh nghiệm sáng tác trong cadao, dân ca và các truyện Nôm của các nhà nho các thế kỷ trước, tìm nhữngcái gì thích hợp để nói về cuộc sống mới, con người mới ở thành thị Họ cũngmang vào lịch sử văn học dân tộc những cách tân đáng kể về nội dung, nghệthuật, về quan niệm văn học

– Văn học dân gian vẫn phát triển trong những điều kiện nông thôn như

cũ, nhưng hoàn cảnh mất nước và chiến tranh làm cho những sinh hoạt sảnxuất tập thể, hội hè đình đám kém phần nhộn nhịp, tấp nập Trước cái nhụcmất nước, cái khổ vì chiến tranh, vì bị phá sản mà thực dân gây ra, ngườinông dân không đủ cảnh thanh bình và tâm trạng thoải mái để nhìn cảnh tátnước bên đường nên thơ đến mức “múc ánh trăng vàng đổ đi” được Họ phảidùng câu vè để kể nỗi khổ, để tố cáo những cảnh bất công, áp bức của bọnhương lý mới, của bọn Tây xâm lược Người nông dân bị phá sản phải bỏnhà làm culít, culi ở thành thị, ở các đồn điền hay làm lính mộ lênh đênh trôidạt đến những phương trời xa tận châu Phi, châu Âu Họ mang theo thóiquen kể lể tâm sự bằng những câu hát, bài vè và làm cho việc sáng tác văn

Trang 29

học dân gian đi theo họ ra khỏi lũy tre làng, vào những môi trường sinh hoạtmới ấy Từ đó trong văn học dân gian không chỉ có tiếng hát tình tứ, cái cườihóm hỉnh của người nông dân sau lũy tre xanh, mà có cả tiếng nói uất ức củangười công nhân, của người lính mộ – những tầng lớp lao khổ của thành thị,của xã hội mới.

– Ở giữa văn học bác học và văn học dân gian không thấy xuất hiệntruyện Nôm, nói đúng hơn là vẫn có người viết truyện Nôm nhưng khôngđược công chúng thưởng thức Điều này cũng dễ hiểu; người tài tử phongnhã hào hoa, đa tình kiểu Kim Trọng đã không hợp thời, lại không hợp cảnh.Một cái nhìn hiện thực đối với xã hội, một tư tưởng nhân đạo đối với cảnh bấtcông, đối với những con người khổ cực, chỉ có thể dẫn đến chỗ lên án chế độthực dân và bọn bán nước Nó không đi vào hướng chống lại sự gò bó của lễgiáo mà đi vào hướng chống lại sự xâm lược, bóc lột Văn học trào phúng chếgiễu, nguyền rủa bọn thống trị mới và bọn “theo đóm ăn tàn” từ hương lý,quan huyện, quan tỉnh đến bọn đại thần, phát triển, làm dấu nối giữa hai dòngvăn học yêu nước và dân gian, thay cho vai trò các truyện Nôm nối liền vănhọc bác học và văn học bình dân trước đây Nó quyện tiếng rên xiết uất ứccủa nhân dân, lời tố cáo căm phẫn của nhân dân lao động với lời than thởđạo lý, với lời kêu gọi cứu nước của nhà nho Nó kết cái kể lể của vè tự sựvới cái giáo huấn đạo nghĩa của văn chương bác học Nó cũng đi dần đếnthống nhất với văn học yêu nước

Sự gặp nhau giữa ba dòng văn học này ở nội dung tố cáo hiện thực,khích lệ lòng yêu nước đánh dấu một sự tập hợp dân tộc làm nền tảng chonền văn học dân tộc về sau, là điều hoàn toàn mới so với trước

Ở thành thị, hoạt động văn học nhộn nhịp hơn hẳn trước Việc ra đờibáo chí, nhà xuất bản, những công chúng chờ đọc văn học tạo ra điều kiệnthuận lợi cho việc công bố tác phẩm Người ta phiên âm các truyện Nôm raquốc ngữ, dịch các truyện Pháp, truyện Trung Quốc ra tiếng Việt, phiên dịchcác áng văn cổ, sáng tác thơ văn mới cả bằng chữ Hán cả bằng tiếng Việt…,

để đăng lên báo, để in thành sách Đáng chú ý hơn cả là việc một số người

Trang 30

có Tây học phỏng tác theo các nhà văn nước ngoài, sáng tác theo kiểu vănhọc cận, hiện đại Từ những bài tường thuật, phóng sự, du ký tập dượt mô tả,

kể chuyện dần dần người ta viết những truyện ngắn, những quyển tiểu thuyết

Từ dịch và diễn dịch cổ điển Pháp, người ta sáng tác kịch nói

Một mặt, thực dân Pháp muốn lợi dụng phương tiện báo chí, nhà xuấtbản để truyền bá rộng rãi những tư tưởng thân Pháp, phục Pháp, cho tay sai

ra viết văn, ra làm chủ bút, chủ nhiệm các báo chí; người cầm bút, người chủbáo được chúng đề cao và bí mật phụ cấp tiền bạc Mặt khác, một số nhà văntuy không dám hành động cách mạng, nhưng trong lòng vẫn còn tinh thầndân tộc hoặc có ý muốn kín đáo dùng văn chương bóng gió nhắc mọi ngườinhớ đến Tổ quốc hoặc coi duy tân tư sản hóa là con đường có hiệu quả nhất,

có ích nhất, muốn dùng tờ báo để kêu gọi hợp đoàn doanh sinh

Chính ở thành thị thực sự xảy ra sự ganh đua tranh chấp Các dòngvăn học cũ và mới đều có mặt ở đây và cũng chính ở đây xảy ra những sựkiện văn học có ý nghĩa nhất của thời đại

Ngay từ đầu thế kỷ, các nhà nho yêu nước đã thử mở trường ĐôngKinh nghĩa thục, lập nhà xuất bản, ra báo công khai tuyên truyền tư tưởngyêu nước và duy tân Bị thực dân Pháp đàn áp, các nhà văn, nhà thơ yêunước vào tù Trường học, nhà xuất bản bị đóng cửa Tác phẩm bị cấm Vănhọc yêu nước phải rút vào sống bất hợp pháp

Trước, sau Đại chiến 1914 – 1918, thực dân cho bọn tay sai NguyễnVăn Vĩnh, Phạm Quỳnh ra Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, loại sách

Âu Tây tư tưởng vừa tuyên truyền cho văn học Pháp, vừa đề xướng một tưtưởng yêu nước duy tân giả hiệu, đánh lạc hướng quần chúng Nhiều nhàvăn, nhà báo, nhà thơ tập hợp lại quanh các tờ báo ấy làm thơ, viết tuồngchèo, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch Một số ra mở báo riêng, lập nhà xuất bảnriêng như Tản Đà, độc lập với Quỳnh, Vĩnh

Tình trạng hỗn loạn về tư tưởng đó kết thúc bằng một cuộc đấu tranh

về quan niệm văn học Các nhà nho yêu nước đứng đầu là Ngô Đức Kế đãvạch bộ mặt dân tộc giả hiệu của Phạm Quỳnh, âm mưu thâm độc của thực

Trang 31

dân và đồng thời nêu cao trách nhiệm chân chính của văn học đối với đấtnước, khắc phục cả tình trạng ươn hèn, yếu đuối trong thị hiếu văn học thànhthị lúc ấy.

Nền văn học mới hình thành Những tiểu thuyết, kịch vượt qua giaiđoạn mô phỏng ấu trĩ đã có những thành tựu đầu tiên dần dần chiếm đượccông chúng, có ảnh hưởng trong xã hội

Ba loại văn học của nhà nho, của nhân dân lao động, của nhà văn ởthành thị đều bắt buộc phải phát triển trong điều kiện mới của đất nước, đều

có những tiến bộ nhất định Nhưng trong điều kiện đã nói ở trên, nền văn họccủa nhà nho và nền văn học dân gian, hoặc là bị hạn chế, hoặc là không lợidụng được những điều kiện mới của thời đại, phát triển chậm chạp, chẳngbao lâu lạc hậu với thực tế, xa lạ với công chúng Ngược lại, văn học mới tuyđầu tiên khá xa lạ, nội dung và nghệ thuật còn rất ấu trĩ, non yếu, lệch lạcnhưng lại thích hợp với những điều kiện mới nên phát triển rất nhanh chóng,cuối cùng thay thế nền văn học của nhà nho, đóng vai trò chủ lực của nền vănhọc dân tộc cận, hiện đại

Đi theo hướng cận hiện đại của thế giới, văn học Việt Nam đầu thế kỷ

XX không phải đoạn tuyệt với văn học truyền thống của dân tộc, mà là pháttriển nó lên để có tính chất dân tộc cao hơn trước – dân tộc với ý nghĩa hiệnđại nhất thể hơn trước, – đây là cuộc đọ sức và chiến thắng của văn học dântộc đã có truyền thống chống lại sự thôn tính, sự lấn lướt của văn học tư sảnphương Tây Nó có ý nghĩa đấu tranh cho độc lập, bảo tồn nền văn hóa, giữvững phẩm giá dân tộc trước quân xâm lược

Trong xã hội hiện đại, thành thị là trung tâm cả nước, trung tâm kinh tế

và đồng thời cũng là trung tâm văn hóa, văn học Nông thôn không còn giữtình trạng tự trị, phân tán, quy tụ một cách không chắc chắn quanh lỵ trấn,kinh đô như trước, mà nằm trong một guồng máy kinh tế thống nhất do thànhthị chi phối Nông thôn tuy vẫn khác thành thị, nông dân vẫn khác thị dân; sởthích văn học hai bên cũng khác nhau, nhưng đã có một công chúng văn họcnhất thể Cả dân tộc chỉ có một nền văn học Vào đầu thế kỷ, phương tiện

Trang 32

truyền bá văn học cao hơn trước và đều tập trung ở thành thị, các trung tâmvăn học không còn phân tán ở “đất văn vật” quê hương của các nhà khoabảng lớn, mà tập trung ở các thành phố có báo chí, có nhà xuất bản, có sinhhoạt văn học… Ở nước ta lúc đó Huế vẫn là kinh đô của Nam triều, là nơi cóQuốc tử giám, tập trung các nhà khoa bảng già, trẻ – một thứ trung tâm vănhọc theo kiểu cũ Sài Gòn, so với toàn quốc, là nơi buôn bán với trong nước

và ngoài nước sầm uất nhất, kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển nhất, thị dânđông nhất, ảnh hưởng phương Tây nhiều nhất, chữ quốc ngữ truyền bá sớmnhất, báo chí, nhà xuất bản, truyện ngắn và tiểu thuyết theo mẫu của văn họcphương Tây, ra đời ở đây trước tiên Thế nhưng Huế và Sài Gòn không thànhtrung tâm văn học cả nước Một thời gian không lâu, Hà Nội, thủ đô văn vật

cổ xưa của dân tộc, giành lại được vị trí trung tâm văn học mới của cả nước.Điều đó có nghĩa là bọn thực dân đã không thể dùng những người ra cộng tácvới giặc, dù đó là người có nhiều tài năng như Trương Vĩnh Ký, áp đặt mộtnền văn học theo ý chúng và, văn học chỉ có thể phát triển khi bám chắc vàotruyền thống và ngôn từ văn học được trau chuốt trong lịch sử lâu dài Ở HàNội, thực dân Pháp đã dùng Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh thực hiện một

âm mưu xảo quyệt mới: chúng đưa ra nội dung và nghệ thuật mới, giương lá

cờ dân tộc một cách dối trá, hòng đánh lừa quần chúng, những người thiếttha yêu nước và duy tân Một thời gian nhiều người lầm lẫn về con đườngcứu nước bằng văn học Nhưng cuối cùng tư tưởng yêu nước chân chính,nền văn học dân tộc chân chính đã soi sáng đường đi cho họ và cả nhữngngười trước đã tập hợp xung quanh Quỳnh, Vĩnh cũng tách ra xa chúng Đây

là sự thất bại của âm mưu nô dịch của thực dân và là một thắng lợi củatruyền thống văn học Lòng yêu nước, tinh thần bất khuất, một thứ bản lĩnhcủa dân tộc đã thấm vào văn học và được văn học góp công lớn xây dựngnên, thành linh hồn của văn học Việt Nam, đến đây đã soi đường, giữ đúnghướng cho văn học không đi vào con đường nhục nhã

Truyền thống có vai trò quan trọng, có khi quyết định đối với sự pháttriển văn học, nhưng không phải khi nào nó cũng có tác dụng tích cực, làmthuận lợi cho sự phát triển Nền văn học truyền thống của ta căn bản là một

Trang 33

nền văn học văn vần Văn xuôi cũng phải có nhạc điệu, tiết tấu hoặc là viếttheo thể biền ngẫu, hoặc là phải viết chen vào những đoạn văn vần Văn xuôiviết bằng tiếng nói thông tục không phát triển.

Khi đi vào quỹ đạo cận hiện đại, văn xuôi phát triển trước hết và pháttriển khá nhanh chóng Đây là một quá trình cố gắng thoát khỏi ảnh hưởngvăn vần, văn biền ngẫu, đi gần với tiếng nói thông tục để có khả năng phảnánh chân thật hiện thực cuộc sống Văn xuôi đầu tiên chỉ là những câu kểngây ngô, dịch sống sượng Truyền thống không để lại bao nhiêu vốn liếngcho văn xuôi phát triển, nhưng cũng không có sức mạnh gì ràng buộc nó Chỉtrong 10 năm, nó đã có thể phát triển từ văn Nguyễn Bá Học, Nguyễn HữuTiến, Tản Đà đến Nguyễn Công Hoan

Trái lại, thơ là thể loại khá phát triển Người Việt Nam có thói quen diễnđạt tư tưởng tình cảm thành văn vần dễ dàng Thơ ca dân tộc trong văn họcdân gian cũng như trong văn chương bác học đều đã đi đến hình thức ổnđịnh, có tính cách điển phạm Đầu thế kỷ, trước bao nhiêu đổi thay, văn xuôimới ra đời đã từ lâu, thế mà mãi đến cuối những năm 20, khi Hoàng NgọcPhách đã viết Tố Tâm Nguyễn Công Hoan đã cho in nhiều truyện ngắn, VũĐình Long đã xuất bản và cho công diễn kịch nói và đều được công chúnghoan nghênh, những người lén lút làm thơ mới vẫn rụt rè không dám công bố.Cái điển phạm của thơ truyền thống bắt người ta phải kiêng nể, không dámthay đổi Tuy vậy, ngay đối với thơ, cũng chính nhờ truyền thống tích lũy chokhá nhiều vốn liếng, nên sau khi can đảm bước được bước đầu, thì nó lại tiếnnhanh hơn văn xuôi – vượt xa trình độ của tiểu thuyết và kịch nói

Cuộc sống mới đã có tất cả những tiền đề cho văn học thành thị mới rađời, chiếm ưu thế so với văn học nông thôn, thị hiếu văn học thị dân chiếm ưuthế so với thị hiếu nông dân và nhà nho, làm thay đổi cả quan điểm văn học:văn học phải đi theo hướng cận, hiện đại của thế giới Đó là một tất yếu lịch

sử không cưỡng lại được Nhưng văn học thành thị dù chiếm được tâm hồndân thành thị vẫn chỉ có ảnh hưởng trong thành thị, không lan rộng được rangoài Thành thị đã là trung tâm cuộc sống nhưng văn học thành thị lúc này

Trang 34

lại không phản ánh được hai yêu cầu cơ bản của dân tộc: cứu nước và duytân, cách mạng Ở thành thị chưa có một giai cấp tư sản có tinh thần dân tộc

để tiêu biểu cho dân tộc trong giai đoạn lịch sử mới Nhà nho, vì yêu nước,nhận ra sự tất yếu phải tư sản hóa, là lớp người tiến bộ nhất lúc ấy Chính họmới là người nói được nội dung yêu nước bất khuất của bản lĩnh dân tộc, mớitiêu biểu được cho tinh thần đấu tranh của nhân dân và gắn bó với nhân dân

Và nông dân – lực lượng chủ yếu của dân tộc – vì nghèo khổ, nói chungkhông biết chữ, chưa có đòi hỏi gì khác trước về văn học, vẫn dễ hiểu vănthơ nhà nho quen thuộc hơn là tiểu thuyết và kịch nói phương Tây xa lạ Chủlưu văn học tiêu biểu cho quảng đại nhân dân, tiêu biểu cho xu hướng tiến bộnhất của dân tộc vẫn là văn học yêu nước, văn học cũ cách tân của nhà nhoyêu nước và duy tân Trong tình hình nước nhà mất chủ quyền dòng văn họctiến bộ đó phải chịu chung vận mệnh với dân tộc Nó phải lưu vong, phải vào

tù, phải truyền bá bí mật, xa cách với quần chúng Đầu thế kỷ dòng văn họcyêu nước quả thật đã đóng được vai trò “vừa là trống, vừa là chiêng, vừa làgươm, vừa là súng” trong cuộc đấu tranh với kẻ thù dân tộc, nhưng sau mộtthời gian, sức mạnh đó cũng giảm dần, bản thân nó cũng không còn giữ đượckhí lực ban đầu nữa Không phải sự xa cách về không gian, sự bao vây vàkhủng bố của quân thù đã có thể làm cho nó cách biệt với quần chúng Cónhững lúc, như năm 1924 – 1927, nó có điều kiện xuống đến quần chúng,nhưng nó cũng không còn đủ sức tác động mạnh mẽ như xưa, không pháttriển được như xưa Quần chúng đã tiến lên với thời đại, đòi hỏi ở văn họcnhiều hơn trước Quan điểm nhà nho cả ở nội dung cứu nước, duy tân, cả ởnghệ thuật đã không theo kịp đòi hỏi của quần chúng nữa Hiện đại hóa vănhọc là một đòi hỏi đúng quy luật phát triển của thời đại; cũng như dân tộc hóa

là một đòi hỏi đúng quy luật phát triển của văn học Cả giai đoạn 1900 – 1930chưa kết hợp được hai yêu cầu đó để có một nền văn học dân tộc chân chínhhiện đại Một mặt, nhà nho không hiện đại hóa được dòng văn học yêu nướctrong tay họ, cách tân nhưng phải dừng lại Mặt khác, nhà văn ở thành thịcũng không cách mạng hóa được dòng văn học trong tay họ để thành văn

Trang 35

học chân chính dân tộc Họ giành được công chúng thành thị nhưng dừng lại

ở đó, không về được nông thôn

***

Giai đoạn 1900 – 1930 là thời gian xảy ra quá trình văn học nông thônmất dần vị trí, củng cố thêm vai trò của văn học thành thị, xảy ra quá trình cácdòng văn học có tính chất địa phương, có tính chất phân tán, quy tụ dầnthành một hướng chung Đó cũng là giai đoạn dân tộc biểu hiện được bảnlĩnh của mình trước các vấn đề của thế giới hiện đại Nhưng một nền văn họcdân tộc hiện đại chân chính tiêu biểu cho thời đại mới thì vẫn chưa ra đờiđược

Phải đợi đến khi thành thị cách mạng hóa, giai cấp công nhân đã kháphát triển, có ý thức về vai trò của mình trong thế giới hiện đại, tiểu tư sản –nhất là trí thức tân học, giáo viên, học sinh, sinh viên – nhìn ra trên thế giớingày nay không chỉ có những cái do thực dân Pháp đưa lại, thì nền văn họcnhư thế mới có tiền đề để hình thành

Những bài báo, những truyện ngắn của Nguyễn Ái Quốc từ trong dòngxoáy của phong trào công nhân châu Âu – Paris – từ trái tim của cách mạngthế giới – Maxcơva – qua các thủy thủ theo các chuyến tàu về với công nhân,trí thức, rồi lại từ ngay trong dòng xoáy của phong trào chống đế quốc châu Á– Quảng Châu – qua những người yêu nước xuất dương, theo đường mònrừng núi về với nông dân và cả với các nhà nho yêu nước, nối liền côngnhân, nông dân và trí thức, nông thôn với thành thị, làm cho dòng máu lưuthông đều khắp cơ thể, tập hợp mọi lực lượng của dân tộc thành tổ chứccách mạng mới Những tác phẩm đó làm chuyển hướng cách mạng Việt Nam

và vì vậy làm chuyển hướng dần phương hướng văn học cả ở nông thôn, cả

ở thành thị từ quãng 1925 về sau

Ở giai đoạn 1900 – 1930 trong văn học Việt Nam liên tiếp xảy ra hiệntượng chuyển hóa, tập hợp, nhưng nền văn học hiện đại chưa hình thành Cảgiai đoạn có tính chất giao thời, chuẩn bị cho giai đoạn văn học hiện đại vềsau

Trang 36

Chương II: VàO NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX VĂN HỌC CHUYỂN MìNH

Những năm bản lề giữa hai thế kỷ XIX và XX cũng là những năm bản lềgiữa hai thời kỳ văn học Trong đời sống văn học, dòng bác học chính thống,tiêu biểu cho văn chương nhà nho bước vào đoạn đường kết thúc Đầu thế kỷnày, vào những năm 1903 – 1908, trên đất nước xuất hiện dồn dập một số sựkiện văn học có tiếng vang lớn, về tư tưởng và nghệ thuật có ý nghĩa cắmmốc, báo hiệu sự chuyển hướng trong văn bọc

Tuy từ khi chiếm được Nam Kỳ, Pháp đã chính thức hóa chữ quốc ngữ,

đã xuất bản báo chí Trương Vĩnh Ký và một số nhà văn khác cũng đã viết một

số tác phẩm văn chương quốc ngữ, nhưng trong đời sống văn học, giữ địa vịthống trị vẫn là văn học nhà nho và văn học truyền miệng của nông dân Vănchương quốc ngữ tồn tại như những yếu tố xa lạ, không được kể là vănchương, chưa được chấp nhận vào đời sống văn học của dân tộc Cho đếnhết thế kỷ XIX, người nông dân vẫn dùng loại ca, vè quen thuộc kể chuyệnđánh Pháp, tố cáo nỗi khổ vì chiến tranh, vì bị bóc lột Và nhà nho, đã phânhóa ra nhiều xu hướng, nhưng vẫn tiếp tục tăng thêm về số lượng, vẫn dùngthơ, phú phản ứng với sự đổi thay của tình thế, một sự đổi thay cho đến lúc

đó họ vẫn chưa ý thức được tầm sâu sắc, rộng lớn

Đối với thế giới, năm 1905 có ý nghĩa mốc, đánh dấu bằng Cách mạngNga, mà đối với phương Đông, năm 1905 cũng có ý nghĩa mốc, đánh dấubằng sự kiện Nhật thắng Nga Đối với lịch sử loài người hai sự kiện đó có ýnghĩa hoàn toàn khác nhau, nhưng cả hai đều ra đời trên cơ sở cùng một tìnhhình: sự phát triển không đồng đều của hệ thống tư bản chủ nghĩa Cả haiđánh dấu một bước mới trong sự phát triển, và cả hai, từ hai mặt, kích thíchphương Đông thức tỉnh Việc phương Đông thức tỉnh bừng lên trong tưtưởng, trong văn chương nhà nho, và điều ấy lại làm cho nhà nho và vănchương nhà nho mất vai trò lịch sử

Trang 37

I THỰC TẠI MỚI Và SỰ TỰ PHỦ ĐỊNH CỦA VĂN HỌC BáC HỌC Và BìNH DÂN THEO TRUYỀN THỐNG

1 Sự bế tắc của nhà nho và văn học nhà nho

Trong văn học truyền thống nhà nho là tác giả, đồng thời cũng là côngchúng, là nhân vật của văn học bác học Với họ văn chương là sự nghiệp cảđời, một sự nghiệp đòi hỏi sự rèn luyện rất công phu, rèn luyện đến thành mộtthứ kỹ xảo Họ dùng văn chương để làm công việc nhà nước, để giao tiếptrong xã hội, để tự giãi bày đời sống của tâm hồn

Nhà nho vốn là người chủ trương sống có đạo lý, sống có trách nhiệmvới đời, học để hành đạo Muốn hành đạo vì nước, vì dân thì phải vì vua, phải

có chức vị, phải làm quan Chế độ phong kiến xấu xa, tàn ác thường làm cácnhà nho chân chính bất bình, coi việc sa vào nơi bể hoạn đầy sóng gió là lầm

lỡ, dại dột, là mất nhân cách Gặp cảnh đó họ thường thấy xấu hổ với người

ẩn sĩ lánh đời, giữ thanh cao làm bạn với hạc nội, mây ngàn Cho nên nhànho thường băn khoăn day dứt với vấn đề xuất, xử – ra làm quan hay ẩn dật.Trong tâm hồn họ, bên cạnh mong mỏi hành đạo, lập sự nghiệp thường có aoước ẩn dật, vui với cỏ cây Sự băn khoăn, day dứt đó làm nhà nho “xuất” mộtcách dùng dằng, “xử” một cách ân hận Người hành đạo có trách nhiệm vớidân, với nước, và ưu ái với đời của người ẩn dật cao khiết lặp đi lặp lại trongvăn chương các nhà nho thành hai mẫu người, hai hình tượng văn học.Người hành đạo chỉ thành một hình tượng đẹp đẽ khi nó là người trung nghĩa,hành động anh hùng, hy sinh vì vua trong điều kiện vua tiêu biểu cho nước,cho dân, cho chính nghĩa Người ẩn dật chỉ thành một hình tượng văn họcđẹp đẽ khi đó là người khí tiết, vui cảnh điền viên để tỏ lòng trung thực, bấtkhuất, phản kháng chế độ vua quan xấu xa

Vào những năm cuối cùng của thế kỷ XIX cuộc sống mới chứng kiến

sự mất giá của hai hình tượng văn học đó, mới chứng kiến quá trình tự phủđịnh của văn học nhà nho

Cả nửa cuối thế kỷ XIX hàng loạt nhà nho đã đưa đạo nghĩa thánh hiền

ra đối địch với tàu đồng, súng lớn của giặc Khi nước đã mất vào tay giặc, ở

Trang 38

tất cả các địa phương những nhà khoa bảng lớn nhất đã đứng dậy giươngcao ngọn cờ Cần vương, chiến đấu và ngã xuống dưới ngọn cờ đó Giảinguyên Nguyễn Hữu Huân, Giải nguyên Lê Trung Đình, Phó bảng NguyễnDuy Hiệu khẳng khái nhận cái chết Tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn không chịu lạyKhâm sứ để được ra tù Thủ khoa Nguyễn Cao tự rạch bụng “tỏ lòng trung”cho quân bán nước xem Trong bụng chứa sẵn văn chương, họ để lại nhữngbài thơ tuyệt mệnh, và những nhà nho khác, xúc động về tấm gương của họ,làm câu đối, văn thơ điếu phúng, ca ngợi hành động vì nghĩa quên mình của

họ Những thơ văn như vậy được truyền tụng một cách thành kính, gây ra xúcđộng lớn lao

Hãy nói một trường hợp tiêu biểu: bài thơ tuyệt mệnh của Phan ĐìnhPhùng, thơ của người kết thúc phong trào Cần vương và viết vào cuối thế kỷ.Sau khi phong trào kháng Pháp ở tất cả các tỉnh đã thất bại, căn cứ của PhanĐình Phùng trở thành một thứ triều đình độc lập, một mảnh đất tự do cuốicùng của đất nước Sau mười năm chiến đấu, cuối cùng bệnh sốt rét và bệnhkiết lỵ của cuộc sống trong rừng sâu đã quật ngã ông Đình nguyên kiêncường, trong lúc căn cứ đang bị quân giặc bao vây, tấn công Trước khi chết,Phan Đình Phùng đã mặc triều phục, lạy về cửa khuyết và để lại một bài thơtuyệt mệnh:

“Nhung trường vâng mệnh đã mười đông,

Vũ lược còn chưa báo được công.

Dân đói kêu trời, tan tác nhạn, Quân gian chật đất, rôn ràng ong.

Chín trùng xa giá non sông cách, Bốn bể nhân dân nước lửa nồng.

trách nhiệm càng cao, càng nặng gánh, Tướng môn riêng thẹn với anh hùng”

(Nguyên văn chữ Hán, Trần Huy Liệu dịch)

Trang 39

Ở một hoàn cảnh rất tiêu biểu, bài thơ đã nói những điều rất tiêu biểu.Toàn bài là một lời nhận tội: không hoàn thành nhiệm vụ Tác giả đặt mìnhtrước vua và dân để suy nghĩ về trách nhiệm của mình: Vâng mệnh vua cầmquân đã mười năm mà vẫn chưa phục mệnh báo tin thắng lợi Vua giao chotrách nhiệm khôi phục đất nước, quét sạch quân thù, bảo vệ ngôi vua, bảo vệnhân dân; nhưng thực tế thì nhân dân tan tác, nguy khốn, cùng cực, quân thùlan tràn, chiếm đóng khắp đất nước, vua bị đày đi xa Là một bài thơ tâm sựnhưng về bản thân, tác giả chỉ nói có hai điều: lo lắng và xấu hổ Ra đảmđương trách nhiệm lãnh đạo, mười năm ông phải trốn tránh trong rừng núi,nhà cửa làng xóm bị địch đốt phá, vợ con chạy tan tác, mồ mả ông cha bịquật… Nhưng bài thơ không nói lời nào về hoàn cảnh riêng như vậy; cũngkhông có một lời nào khoe khoang, tự hào về hành động oanh liệt của PhanĐình Phùng Đó là tinh thần trách nhiệm, là khí phách cao cả của người trungnghĩa: nhận mệnh vua thì quên nhà, quên mình, lấy cái chết để đáp ơn vua.

Đó là thái độ vì đời, dũng cảm vì nghĩa của nhà nho hành đạo Phan ĐìnhPhùng đã tự xử như người trung nghĩa và các nhà nho lúc đó cũng coi ông làloại Văn Thiên Tường, Nhan Cảo Khanh, những tấm gương trung nghĩa Đốivới người trung nghĩa, vua, chứ không phải nước hay dân, chi phối tư tưởng,hành động Yêu nước, thương dân phải qua khâu trung gian: theo mệnh vua.Phan Đình Phùng là người dựa vào sự ủng hộ của dân, dùng những người tàitrí từ trong dân để chống Pháp Trong bài thơ ngắn hai lần ông nói đến nỗikhổ của dân, nhưng ông lo lắng, xấu hổ vì chưa phục mệnh được với vua chứkhông phải vì chưa đền đáp lại lòng tin cậy của dân

Bài thơ bộc bạch tấm lòng trung nghĩa, đề cao đạo lý cương thường,nhưng trong trường hợp trung quân còn đồng nghĩa với yêu nước, vớithương dân, còn đồng nghĩa với hy sinh, anh hùng, thì tuy là nói đạo lý và làđạo lý vua tôi, nó vẫn có sức xúc động mạnh, vẫn thúc giục hành động vìchính nghĩa Rất nhiều thơ văn của các nhà nho yêu nước cuối thế kỷ XIXthuộc loại như vậy

Trang 40

Thế nhưng trong lịch sử văn học truyền thống của Việt Nam, những tácphẩm đó cũng là những tác phẩm cuối cùng còn có giá trị Sau Phan ĐìnhPhùng, trung nghĩa không còn có thể kết hợp với yêu nước và thương dân –thực ra cũng không thể chỉ là thương dân, và tình cảm trung nghĩa chỉ còn ý vịkhi ca tụng những nhân vật lịch sử.

Phan Đình Phùng ngã xuống, đã kết thúc phong trào Cần vương Cóvới cái chết của ông một mẫu người đẹp, một hình tượng văn học đẹp trongvăn học trung cổ - người trung nghĩa, người hành đạo theo nhà nho chínhthống – cũng kết thúc

Trong cảnh đen tối loạn lạc, các nhà nho tự coi mình là người hướngđạo, có trách nhiệm tinh thần, làm gương cho dân còn có một con đườngkhác cũng được coi là hợp đạo lý: ẩn dật Hãy nói một trường hợp khác cũngkhá tiêu biểu: Nguyễn Khuyến Nguyễn Khuyến đậu đến Tam nguyên, làmquan tất cả chỉ 12 năm Khi kinh thành thất thủ, vua chạy, đất nước rơi vàotay giặc, Nguyễn Khuyến không đứng vào hàng ngũ Cần vương khởi nghĩa,

mà xin cáo quan về nhà Về sống ở quê, ông cam chịu cuộc sống nghèo túng,vắng vê Lấy cớ già yếu lại đau mắt, ông khước từ mọi sự dụ dỗ, đe dọa, bấthợp tác với giặc, giữ vững khí tiết

Ẩn dật – sống nghèo khổ và cô độc – không phải là dễ chịu Muốn sốngđược như thế, phải có một khung cảnh yên tĩnh, giúp cho sự quên lãng, phải

có một lý do chính đáng làm cho người cáo quan an tâm, tự tin, tự hào về sựlựa chọn cảnh ẩn dật, thanh thản với một thú vui bên trong, không xao xuyếntrước những sóng gió từ bên ngoài Nguyễn Khuyến lựa chọn làm Đào Tiềm,chứ không làm Văn Thiên Tường nên trong lòng không khỏi day dứt: người

ẩn dật có thể tự hào với bọn “quan lớn mà chỉ đáng gọi là quan lợn” tức làbọn quan lại hàng giặc để kiếm bổng lộc, nhưng không thể tự hào được vớinhững người vì nước, vì đạo nghĩa mà đổ máu, chịu chặt đầu Hơn hai mươinăm sống ở quê nhà, Nguyễn Khuyến thâm nhập và tìm thú vui trong cảnhthôn dã Ở nhà thơ có cái nhìn tinh tế, sự thông cảm chân thật và cái cườihóm hỉnh, thông minh khi ông viết về cảnh sống nông thôn Nhiều bài thơ

Ngày đăng: 07/03/2017, 14:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w