Mặt khác, lối nghiên cứu này cũng phủ nhận sự tồn tại và sức sống lâu bền của các thể loại văn học truyền thống như truyền kỳ và kỳ án, trong đời sống văn chương hiện đại bên cạnh những
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=======================
NGUYỄN HẢI ĐĂNG
SỰ TIẾP NỐI CỦA THỂ LOẠI TRUYỀN KỲ VÀ
KỲ ÁN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM 1932 – 1945
QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=======================
NGUYỄN HẢI ĐĂNG
SỰ TIẾP NỐI CỦA THỂ LOẠI TRUYỀN KỲ VÀ
KỲ ÁN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM 1932 – 1945
QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyênngành: VănhọcViệt Nam
Mã số: 60 22 01 21
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Xuân Thạch
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp
đỡ của các giảng viên Khoa Văn học và nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết, tôi xin cảm ơn PGS TS Phạm Xuân Thạch đã hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình, tôn trọng ý kiến cá nhân của tôi cũng như đưa ra nhiều lời khuyên chân thành và bổ ích trong quá trình hoàn thành luận văn
Xin cảm ơn các giảng viên Cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam khóa 2013- 2015 đã giảng dạy cho tôi nhiều bài học, kiến thức bổ ích
Xin cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và bảo vệ
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bè bạn và tập thể lãnh đạo, cán
bộ, phóng viên, nhân viên Ban Tuyên truyền Lý luận Báo Nhân dân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình vừa qua
Tôi xin cam đoan và chịu trách nhiệm về toàn bộ sai sót trong nội dung và
hình thức được trình bày trong Luận văn Sự tiếp nối của thể loại truyền kỳ và kỳ
án trong văn học Việt Nam 1932 – 1945 qua một số tác giả tiêu biểu
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề 7
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
4 Phương pháp nghiên cứu 13
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 18
6 Cấu trúc của luận văn 18
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 20
1.1 Tiến trình hình thành, khái niệm, đặc trưng của truyền kỳ trung đại và ảnh hưởng của thể loại này trong văn học hiện đại 20
1 2 Tiến trình hình thành, khái niệm, đặc trưng của kỳ án trung đại và ảnh hưởng của thể loại này trong văn học hiện đại 28
1.3 Ngôn ngữ sáng tác của truyền kỳ và kỳ án giai đoạn 1932 - 1945 33
TIỂU KẾT 39
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA THỂ LOẠI TRUYỀN KỲ TRONG GIAI ĐOẠN 1932 -1945 40
2 1 Đề tài, chủ đề của truyền kỳ giai đoạn 1932 – 1945 40
2 1 1 Đề tài của truyền kỳ giai đoạn 1932 - 1945 40
2 1 2 Chủ đề của truyền kỳ trong giai đoạn 1932 - 1945 44
2 2 Hệ thống nhân vật trong các tác phẩm truyền kỳ giai đoạn 1932 - 1945 47 2.3 Người kể chuyện và kết cấu tác phẩm 55
2 4 Không gian và thời gian trong thể loại truyền kỳ giai đoạn 1932 – 1945 61 TIỂU KẾT 75
CHƯƠNG 3 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA THỂ LOẠI KỲ ÁN GIAI ĐOẠN 1932 – 1945 76
Trang 53.1 Đề tài, chủ đề trong các tác phẩm kỳ án giai đoạn 1932 – 1945 76
3 2 Vai trò của tuyến truyện và điểm nhìn trong các tác phẩm kỳ án 80
3 3 Các kiểu nhân vật trong kỳ án giai đoạn 1932 - 1945 86
3.4 Ảnh hưởng của kỳ án đến các thể tài lịch sử, trinh thám giai đoạn 1932 – 1945 93
TIỂU KẾT 98
CHƯƠNG 4 QUAN NIỆM TÁC GIẢ TRONG CÁC TÁC PHẨM TRUYỀN KỲ VÀ KỲ ÁN GIAI ĐOẠN 1932 - 1945 100
4 1 Mối tương quan giữa tác giả và xu hướng sáng tác truyền kỳ và kỳ án trong các trào lưu văn học giai đoạn 1932 - 1945 100
4.2 Vai trò, ảnh hưởng của thị trường văn học với các sáng tác truyền kỳ và kỳ án giai đoạn 1932 - 1945 106
4.3 Quan niệm của nhà văn trong các sáng tác truyền kỳ và kỳ án giai đoạn 1932 – 1945 111
TIỂU KẾT 119
KẾT LUẬN 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 125
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Có thể nói, giai đoạn 1932 – 1945 là thời kỳ rực rỡ của văn học Việt Nam để lại nhiều thành tựu lớn và có giá trị hàng đầu đối với tiến trình phát triển của văn học dân tộc, thay đổi hoàn toàn hệ hình văn học Việt Nam mười thế kỷ trước đó Trong đó, bên cạnh những thành tựu của thơ mới, văn trần thuật cũng có những bước đột phá quan trọng, góp phần kiến tạo, định hình nên nền văn học Việt Nam hiện đại khi đóng góp hàng chục tác giả tiếng tăm, hàng trăm tác phẩm mà giá trị
đã được khẳng định bằng sự yêu thích của nhiều thế hệ độc giả Tuy nhiên, trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ, nhiều nhà văn trong đội ngũ sáng tác từ thời kỳ trước cùng với thế hệ người viết mới được vận động tham gia tích cực vào “mặt trận văn hóa, văn nghệ” kéo theo sự khẳng định vai trò của nền văn học cách mạng trong bối cảnh mới với “cương lĩnh” là phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa; dẫn đến hệ quả là những thay đổi to lớn về mặt mỹ học tiếp nhận, thi pháp văn xuôi song song với tình trạng một khối lượng không nhỏ của di sản văn chương sáng tác trong giai đoạn 1932 -
1945 không được quan tâm, đánh giá xứng đáng với giá trị thực của chúng Thêm nữa, do nhiều nguyên nhân khách, di sản văn chương này chưa được tìm hiểu, nghiên cứu một cách đúng mức với vai trò và tầm ảnh hưởng của nó trong không gian văn chương, nghệ thuật 1932 - 1945 Điều này đòi hỏi việc sưu tầm, nghiên cứu và công bố văn bản phải được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục Thực ra, công việc này đã được thực hiện đơn lẻ từ lâu và đã đạt được ít nhiều thành tựu quý báu, tuy nhiên chúng chưa toàn diện, triệt để mà minh chứng rõ ràng nhất là nhiều đối tượng/ vấn đề vẫn còn bỏ ngỏ, nghiên cứu dang dở Các tác phẩm truyền kỳ và kỳ án hiện đại được sáng tác trong giai đoạn 1932 – 1945 nằm trong số các đối tượng/ vấn đề như vậy
Nhắc đến thể văn trần thuật giai đoạn 1932 – 1945, các nhà nghiên cứu thường đề cập đến các tác phẩm văn học tiêu biểu cho ba trào lưu văn học lãng mạn; văn học hiện thực phê phán; văn học yêu nước và cách mạng nhưng ít chú ý
Trang 7tới mảng văn học bình dân, văn chương tiêu thụ mà truyền kỳ và kỳ án có thể xem là những đại diện tiêu biểu Trong khi đó, thể loại truyền kỳ và kỳ án có thể xem là hiện tượng văn học đặc biệt khi chúng đã hiện diện trong văn học trung
đại với nhiều danh tác như Thánh tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục, Điểu thám kỳ
án vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển thay vì biến mất trong thị trường văn học hiện
đại nửa đầu thế kỷ XX Thậm chí, hai thể loại này không chỉ lưu truyền rộng rãi trong tầng lớp bình dân mà còn thu hút sự quan tâm, chú ý từ các nhà văn lớn đương thời như Khái Hưng, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư cho tới giới phê bình như Trương Tửu, Vũ Ngọc Phan, Dương Quảng Hàm vv Từ thập niên 90 của thế kỷ trước, cũng như nhiều tác phẩm thuộc trào lưu văn học lãng mạn, văn học hiện thực phê phán, nhiều tác phẩm truyền kỳ và kỳ án hiện đại nói riêng, văn chương bình dân nói chung đã bắt đầu được tái bản nhưng không thực sự thu hút được sự quan tâm từ người đọc Điều này phản ánh một quy luật khách quan trong mỹ học tiếp nhận, là hệ quả tất yếu của những tác phẩm văn chương tiêu thụ vốn có tuổi đời rất ngắn và lệ thuộc vào nhu cầu của độc giả Tuy nhiên, với các nhà nghiên cứu văn học, việc bỏ qua đối tượng/ vấn đề thị trường văn học nói chung, các tác phẩm truyền kỳ và kỳ án nói riêng sẽ dẫn đến những ngộ nhận không thể tránh khỏi khi đánh giá tiến trình văn học Việt Nam thời kỳ 1900 – 1945 Không những vậy, việc xây dựng lịch sử văn học như lịch sử của các giá trị văn chương đỉnh cao, nối tiếp nhau như những biểu đồ tăng tiến vô hình chung đã làm giản hóa bối cảnh phức tạp và đầy biến động của thể văn trần thuật trong giai đoạn này Mặt khác, lối nghiên cứu này cũng phủ nhận sự tồn tại và sức sống lâu bền của các thể loại văn học truyền thống như truyền kỳ và kỳ án, trong đời sống văn chương hiện đại bên cạnh những dòng sách thị trường khác như kiếm hiệp, phiêu lưu, ái tình vv nhất là trong bối cảnh nhiều nhà văn lớn đương thời như Khái Hưng, Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Lưu Trọng Lư đều để lại nhiều dấu ấn trong hai thể loại này Từ năm 1986 đến nay, trong thời kỳ đổi mới, bên cạnh những sáng tác văn chương theo cảm thức hiện đại, hậu hiện đại, sự quay về truyền thống, chịu ảnh hưởng từ văn chương truyền thống cũng được ghi nhận qua các sáng tác
Trang 8của Hòa Vang và phần nào từ Nguyễn Huy Thiệp, Trần Thùy Mai Điều này ít nhiều phản ánh tính tiếp nối, kế thừa của văn học Việt Nam từ trung –cận đại đến hiện đại
Như vậy, trong giai đoạn 1932 – 1945, sự tồn tại của truyền kỳ và kỳ án đã chứng minh chúng có những đặc trưng về mặt nội dung, thi pháp, giá trị nghệ thuật độc đáo đủ sức cạnh tranh với các thể loại đương thịnh hành khác Cá biệt, Trương Tửu thậm chí còn ca tụng những áng văn chương mang nhiều màu sắc cổ này như một biểu hiện của tinh thần hiện đại, tiến bộ khi đối sánh với các tác phẩm nổi tiếng đương thời của Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam dẫn đến cuộc tranh luận văn chương kéo dài trên các mặt báo văn học trong cả một thời gian dài Thế nhưng vẫn còn có những khoảng trống rất lớn khi nghiên cứu sự hình thành và phát triển của hai thể loại văn học này nhất là khả năng biến đổi và thích ứng của chúng trong môi trường văn học hiện đại để kịp phù hợp nhu cầu của người đọc Trong những năm qua, bên cạnh những công trình, chuyên luận nghiên cứu thể loại truyền kỳ và kỳ án trong văn học trung đại, một số tác giả tiêu biểu cho hai thể loại này như Lan Khai, Phạm Cao Củng, Thế Lữ, Nguyễn Tuân đã bước đầu được nghiên cứu, tìm hiểu để chỉ ra các ảnh hưởng từ văn học
kỳ ảo, trinh thám phương Tây Tuy nhiên, lại chưa có nghiên cứu nào trình bày
về “dòng chảy” của truyền kỳ và kỳ án từ văn học trung đại sang văn học hiện
đại Từ những nguyên nhân đó, luận văn của chúng tôi đặt ra vấn đề Sự tiếp nối
của thể loại truyền kỳ và kỳ án trong Văn học Việt Nam 1932 -1945 qua một số tác giả tiêu biểu nhằm trình bày một hiện tượng/ vấn đề văn học tuy không còn
“mới” nhưng lại chưa từng được quan sát, nghiên cứu, phân tích một cách cụ thể
Trang 9nghiên cứu gần như mới chỉ tìm hiểu, tranh luận về nguồn gốc, đặc điểm của các tác phẩm truyền kỳ, nhưng lại không hề chú ý tới thể loại “kỳ án” Điều này, xuất phát từ những mối tương quan, gần gũi của hai thể loại văn học này Trong luận
văn Sự tiếp nối của thể loại truyền kỳ và kỳ án trong văn học Việt Nam 1932 –
1945, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, phân tích các tác phẩm văn học thuộc
truyền kỳ và kỳ án hiện đại nhằm cung cấp các gợi ý để có thể xác định rõ hơn nguồn gốc, đặc điểm của hai thể loại văn học này
Hiện nay, xu hướng nghiên cứu văn học liên ngành, dưới các góc độ khác nhau (trần thuật học, mỹ học tiếp nhận, liên văn bản, tâm phân học, văn học…) đang khá thịnh hành Truyền kỳ và kỳ án hiện đại là các hiện tượng, trường hợp văn học khá đặc biệt khi bối cảnh phát triển của nó có tính liên tục, kế thừa từ thời kỳ trung đại sang hiện đại Do đó, việc nghiên cứu các đối tượng văn học trên nếu chỉ dừng lại từ vấn đề thể loại văn học, tác giả văn học sẽ không tránh khỏi việc bỏ sót, bỏ lọt các giá trị Bởi vậy, luận văn của chúng tôi cũng được triển khai theo hướng nghiên cứu liên ngành, tiếp cận văn bản qua nhiều góc độ nhằm tạo ra các góc nhìn và kết quả mới Trong thời gian qua, hiện tượng nhiều nhà xuất bản, công ty truyền thông như NXB Văn học, NXB Hà Nội, Nhã Nam, Tao Đàn bất ngờ thành công trong việc giới thiệu và phát hành lại nhiều tác phẩm văn học kinh điển trong đó có các tác phẩm mang khuynh hướng truyền kỳ
như Hai người điên giữa kinh thành Hà Nội (Nguyễn Bính), Thuốc mê (Thâm Tâm), Truyện đường rừng (Lan Khai), Ai hát giữa rừng khuya (Tchya) hay kỳ
án như Vàng và máu (Thế Lữ) hoặc sáng tác văn học mang khuynh hướng truyền
kỳ như Đại Nam dị truyện (Phan Cuồng) đòi hỏi sự cần thiết của nghiên cứu liên
ngành hơn bao giờ hết Ngoài ra, nghiên cứu sự tiếp nối của thể loại truyền kỳ và
kỳ án trong Văn học Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945 cũng góp phần hiểu thêm
về một số tác giả - nhà văn tài năng (từng sáng tác truyền kỳ và kỳ án) nhưng chưa được soi chiếu, nhìn nhận đầy đủ như Lưu Trọng Lư, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh, Khái Hưng bên cạnh các tác giả đã thành danh trong các thể loại này như Thế Lữ, Lan Khai, Tchya, Phạm Cao Củng vv cũng như trình bày
Trang 10được tiến trình hình thành, phát triển của văn trần thuật, tư tưởng văn học, lịch sử văn học Việt Nam thời trung đại từ các phân nhánh của nó là truyền kỳ và kỳ án Chúng tôi hy vọng qua những phân tích, cách đọc mới đối với các tác phẩm truyền kỳ và kỳ án sẽ góp một phần công sức của mình trong nghiên cứu lịch sử văn học hiện đại nói chung, giai đoạn 1932 – 1945 đầy biến động nói riêng Đồng thời, khơi gợi, mở ra một mảng văn học chưa được nghiên cứu, tìm hiểu một cách đầy đủ Tuy nhiên cũng vì vậy, chúng tôi không thể tránh khỏi những hạn chế chủ quan và khách quan do trình độ, năng lực hạn chế của người viết Bởi vậy, những sai sót trong luận văn là điều không thể tránh khỏi
2 Lịch sử vấn đề
Truyền kỳ và kỳ án là những thể loại văn học mang tính khu vực, ra đời ở Trung Quốc nhưng nhanh chóng lan rộng ra các nước đồng văn như Nhật Bản, Cao Ly (Triều Tiên và Hàn Quốc ngày nay) và Việt Nam Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, tuy là một thể loại ngoại nhập nhưng để có một sức sống lâu dài, ổn định trong nền văn học Việt Nam từ trung đại đến hiện đại, các sáng tác truyền
kỳ và kỳ án với sức sáng tạo của những tác giả Việt Nam đã dần thoát khỏi “cái bóng” của những tác phẩm Trung Quốc Trong bối cảnh hiện đại khi văn học Việt Nam đi từ nền văn học mang tính khu vực sang nền văn học thế giới, truyền
kỳ và kỳ án cũng đứng trước những thách thức mới Song bên cạnh việc giữ lại được một bộ phận người đọc vốn có niềm say mê với văn chương cổ, truyền kỳ
và kỳ án đã có những sự thay đổi, hiện đại hóa nhằm đáp ứng được nhu cầu của các đối tượng độc giả mới.Cũng phải nhấn mạnh rằng, việc thay đổi ngôn ngữ sáng tác từ chữ hán sang chữ quốc ngữ cũng đánh dấu một bước ngoặt của hai thể loại văn học này Bên cạnh việc dịch các tác phẩm truyền kỳ và kỳ án trung đại của Trung Quốc, Việt Nam từ chữ hán sang chữ quốc ngữ, có thể thấy các sáng tác mới của đội ngũ tác giả thế hệ sau ngày càng chiếm được chỗ đứng trong lòng người đọc Xét từ một lịch sử hình thành, phát triển phức tạp của truyền kỳ và kỳ án như vậy, việc tìm hiểu lịch sử sưu tập – nghiên cứu – tiếp nhận hai thể loại truyền kỳ và kỳ án là tương đối đồ sộ Bởi vậy, chúng tôi chỉ trình bày lịch sử vấn đề này trên những nét lớn
Trang 11Trước hết, cần phải khẳng định do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, các tác phẩm truyền kỳ và kỳ án trung đại của Việt Nam gần như không còn bản gốc Chính vì vậy, bản thân việc sưu tập của các nhà nho thế hệ sau đã
có thể xem là những tiền đề đầu tiên về nghiên cứu truyền kỳ và kỳ án Hiểu theo
ý nghĩa này, những công trình như Hoàng Việt thi tuyển (Bùi Huy Bích), Kiến
văn tiểu lục (Lê Quý Đôn), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú) cho
đến những sưu tầm văn bản như Truyền kỳ mạn lục tân biên của Vũ Khâm Lâm,
Tang thương ngẫu lục của Kiều Ánh Mậu vv có thể xem là những công trình
nghiên cứu đầu tiên về thể loại truyền kỳ và kỳ án Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ nghiên cứu thân thế, sự nghiệp tác giả và trình bày khái lược về toàn bộ tác phẩm, nhưng không có những nghiên cứu phân tích cụ thể Đó là hạn chế chung của một thời đại văn học không chỉ tồn tại ở Việt Nam mà còn ở các nước đồng văn
Bước vào thời kỳ hiện đại, truyền kỳ và kỳ án một lần nữa trở thành đối tượng/ vấn đề nghiên cứu của nhà lịch sử văn học Trong đó, trước năm 1945,
truyền kỳ và kỳ án đã lần lượt được các công trình như Việt văn hợp tuyển giảng của Nguyễn Hữu Tiến, Việt Hán văn khảo của Phan Kế Bính vv cho tới Việt Nam
văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm Dẫu vậy, các công trình này hầu hết mới
chỉ dừng ở tiến trình khảo sát, dịch thuật lại các quan niệm của các nhà nho – nhà văn trung đại hơn là đưa ra những cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu mới Trong đó, nhấn mạnh, đề cao hướng nghiên cứu hiện tượng thay vì nghiên cứu
theo thể loại văn học Cũng vì lý do đó, Truyền kỳ mạn lục có thể xem là một
điển phạm hóa hình thành theo hướng nghiên cứu này Giai đoạn 1945 đến nay chứng kiến những đột phá trong nghiên cứu truyền kỳ và kỳ án Trong đó, có những hướng nghiên cứu chính sau: Hướng nghiên cứu thứ nhất, đặt truyền kỳ và
kỳ án vào khung nghiên cứu thể loại của văn học phương Tây Từ đó, các nhà nghiên cứu đại diện là Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân (miền Bắc XHCN) và Nghiêm Toản, Phạm Thế Ngũ (miền Nam) đặt các tác phẩm thuộc hai thể loại này vào loại hình “truyện ký” gồm các tác phẩm “có tính chất văn học chứ không
Trang 12phải một công trình ghi chép (…) có tính chất siêu nhân, hoang đường, có phần
xa lạ với truyền thống „quái, lực, loạn, thần‟ của nhà nho (…) nhưng về thực chất thì lại phản ánh được những phần sâu sắc của hiện thực đương thời” [28, tr.506] Nguyễn Đăng Na xếp các tác phẩm truyền kỳ và kỳ án vào loại thể “truyện ngắn”
là tiền đề hình thành các tự sự quy mô lớn như tiểu thuyết chương hồi lịch sử trong thời kỳ sau của văn học trung đại Hạn chế của hướng nghiên cứu này là không quan tâm nhiều tới nghệ thuật sáng tác mà chỉ chú trọng tìm hiểu, phân tích các “giá trị hiện thực” hay vị trí thể loại trong tiến trình văn học Dẫu vậy là những nhà nghiên cứu xuất sắc, nhiều nhà nghiên cứu trong đó tiêu biểu là Bùi Duy Tân đã nhận ra những nét đẹp khác của các tác phẩm truyền kỳ và kỳ án đó
là “không bị gò bó trong khuôn khổ cứng nhắc của lễ giáo”[28,tr.518] Hướng nghiên cứu thứ hai, nghiên cứu truyền kỳ dựa trên các đặc điểm của thi pháp sáng tác mà đại diện tiêu biểu là Vũ Thanh Thay vì tập trung nghiên cứu các
“giá trị hiện thực”, trong tiểu luận Dư ba của thể loại truyền kỳ trong văn học
hiện đại và nhiều công trình khác, Vũ Thanh tập trung hướng đến việc tìm ra
những đặc trưng riêng làm nền sự khác biệt của thể loại truyền kỳ và kỳ án (ông gọi chung đây là dòng truyện kỳ ảo) với các sáng tác văn học cùng thời kỳ Đi xa hơn các nhà nghiên cứu trước đó, Vũ Thanh đã khái quát lại lịch sử hình thành và phát triển của truyện kỳ ảo trong văn học Việt Nam trung đại Trong đó, ông nhấn mạnh sự tách biệt của dòng văn học này từ ghi chép, sưu tầm đơn thuần thành sáng tác văn chương; từ việc tôn trọng hiện thực, bó buộc vào các tài liệu lịch sử trở thành các tác phẩm văn chương mang có giá trị nghệ thuật, mang màu sắc huyền ảo, thơ mộng Tuy nhiên là một nhà nghiên cứu văn học sử, Vũ Thanh chưa quan tâm nhiều tới việc trình bày định nghĩa kỳ ảo cũng như vai trò của yếu
tố kỳ ảo trong các sáng tác truyền kỳ trung đại
Có thể thấy, hai hướng nghiên cứu này đều có những ưu điểm và hạn chế khác nhau và đối tượng/ vấn đề nghiên cứu chỉ dừng lại ở các sáng tác văn học trung đại từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX và chưa có liên hệ với các sáng tác hiện đại
Trang 13Vấn đề/ hiện tượng truyền kỳ và kỳ án hiện đại lần đầu tiên được đặt ra trong
tác phẩm Nhà văn hiện đại (1942) của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan Tuy có
nhiều hạn chế về thao tác, phương pháp nghiên cứu, đánh giá tác giả, tác phẩm nhất là việc giới hạn nhà văn, nhà thơ trong một phong cách, thể loại cố định, Vũ Ngọc Phan đã có những phát hiện khá đặc sắc khi gọi những tác phẩm của Lan
Khai, Tchya, Thế Lữ là Tiểu thuyết truyền kỳ Trong đó, ông định nghĩa truyền
kỳ hiện đại là “những truyện khác thường, nếu không phải là hoang đường thì cũng là những việc không phải hằng ngày trông thấy, những truyện ấy lại không
có ý khuyên răn người đời hay làm cho người ta cảm động, mà chủ ý của tác giả
là kích thích sự tò mò, tưởng tượng của người đọc” [14, tr.775] Tuy nhiên, Vũ Ngọc Phan cũng nhấn mạnh “cái thế giới ma trong tưởng tượng của các nhà văn
“không còn giống cái thế giới ma trong những truyện cổ” Thay vào đó họ “đã muốn nương tựa vào khoa học để giảng giải những chuyện ma quỷ” [14, tr 804]
Trong công trình Văn học Việt Nam hiện đại, Trương Tửu lại cho rằng các sáng
tác văn học trên là các nhà văn “tả cảnh” Khái niệm “tả cảnh” của Trương Tửu phần nào đó mang nét nghĩa tương đương với thuật ngữ “mimesis” khi ông cho rằng “phận sự của nhà tiểu thuyết tóm lại chỉ lả tả và thuật (…) theo nguyên lý ấy văn liệu chỉ có hai thứ: 1 thiên nhiên, 2 xã hội” Nhìn từ vấn đề thi pháp, Trương Tửu nhận ra ba nhà văn Thế Lữ, Lan Khai, Lưu Trọng Lư tuy đều là những nhà văn “tả cảnh” nhưng lại có những khác biệt rõ rệt trong phương pháp sáng tác Tuy không làm rõ vấn đề ảnh hưởng của văn chương cổ trong các sáng tác của ba nhà văn này nhưng Trương Tửu đã cung cấp những phương diện khác cho người đọc nhận ra sự mới mẻ, tiến bộ sau bề ngoài “các cảnh cổ lỗi, những nhân vật thô
sơ, man dã” (từ dùng của Trương Tửu) được các tiểu thuyết này thuật lại
Trong giai đoạn 1945 – 1975, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, những sáng tác hiện đại mang khuynh hướng truyền kỳ và kỳ án không được phát hành, nghiên cứu, tìm hiểu tại miền Bắc XHCN Tại Miền Nam Việt Nam, dưới Chế độ Việt Nam Cộng Hòa, các sáng tác này tuy tiếp tục được một
số nhà sách như Hương Lan, Ngày Nay, Nguyễn Đình Vượng vv xuất bản nhưng
Trang 14không thu hút được sự chú ý, quan tâm như giai đoạn trước Từ hai thập niên trở lại đây, nhiều tác giả, tác phẩm văn học trong giai đoạn 1900 – 1945 mới bắt đầu được tái bản, nghiên cứu và khẳng định lại vị trí trong sự phát triển của văn học Việt Nam hiện đại Những tác giả và tác phẩm mang khuynh hướng truyền kỳ và
kỳ án như Lan Khai, Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Phạm Cao Củng vv bắt đầu nhận được nhiều sự quan tâm từ giới nghiên cứu, phê bình Tuy nhiên, những công trình này mới chỉ dừng lại ở việc khẳng định lại vai trò của các nhà văn này trong tiến trình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, công bố các sáng tác mới được tìm thấy, ảnh hưởng của văn học phương Tây trong các sáng tác giai đoạn này mà chưa có sự liên kết với các thể loại truyền thống của văn học Việt Nam trung đại
Như vậy, có thể nhận thấy chưa có công trình nghiên cứu văn học nào thực
sự dẫn giải về sự tiếp nổi của thể loại truyền kỳ và kỳ án trong Văn học Việt Nam 1932 – 1945 mà chỉ có các gợi mở, lưu ý từ các nhà khoa học tiền bối Bên cạnh đó, vấn đề văn bản cũng là một thách thức không nhỏ trong quá trình hoàn thành luận văn của chúng tôi khi quá trình tái bản các tác phẩm văn chương mang khuynh hướng truyền kỳ và kỳ án còn chưa thực sự chuyên nghiệp, bài bản
so với các công trình sưu tầm tiểu thuyết, truyện ngắn khác của giai đoạn này Tuy nhiên, chúng vẫn là những cứ liệu bổ ích, quan trọng giúp chúng tôi hoàn thành luận văn này
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn hướng tới việc khảo sát, tìm hiểu và chứng minh về vai trò và tầm ảnh hưởng của thể loại truyền kỳ và kỳ án nói chung; truyền kỳ và kỳ án hiện đại nói riêng trong dòng chảy văn học Việt Nam từ thời kỳ trung- cận đại đến hiện đại Từ đó, chỉ ra sức sống lâu bền của thể loại truyền kỳ và kỳ án nói chung trong thị trường văn học giai đoạn 1932 – 1945, sự “hiện đại” hóa của hai thể loại văn học này nhằm phù hợp với đối tượng độc giả mới Bên cạnh đó, tuy là các sáng tác mang khuynh hướng bình dân nhưng nhiều tác phẩm truyền kỳ và
kỳ án hiện đại cũng gửi gắm những ưu tư, dồn nén của các nhà văn trước bối
Trang 15cảnh nước mất, nhà tan Thông qua những tác phẩm mang vỏ bọc “dị đoan, hoang đường” (từ dùng của Trương Tửu), họ đã chuyển đến người đọc nhiều
thông điệp mang giá trị sâu sắc
3 2 Đối tượng nghiên cứu
Trước hết, cần phải khẳng định một thị trường văn học cơ bản đã được hình thành tại Việt Nam và đạt được nhiều thành tựu trong giai đoạn 1932 – 1945 Trong một thị trường đầy biến động với yêu cầu phân hóa và đa dạng từ phía độc giả, phong cách, đề tài, chủ đề sáng tác của nhà văn vì vậy cũng hết sức phức tạp Viết về Lan Khai, Vũ Ngọc Phan từng nhận xét: “Nếu theo những sách xuất bản hàng năm, người ta thấy mới đầu Lan Khai rất ham viết những thuyết lịch sử; rồi những tiểu thuyết lịch sử của ông thưa dần để nhường chỗ cho những tập tiểu thuyết đường rừng, làm cho ông nổi tiếng một hồi và được người ta gán cho ông cái tên “nhà tiểu thuyết đường rừng” [14, tr.790- tr.791] Hiện tượng thể nghiệm phong cách như Lan Khai không phải trường hợp ngoại biệt của văn học Việt Nam trong giai đoạn này
Bởi vậy, là một nghiên cứu về thể loại văn học, chúng tôi không đi sâu làm
rõ toàn bộ khối lượng tác phẩm trong giai đoạn 1932 – 1945 của các tác giả Thay vào đó, chúng tôi chỉ khảo sát, nghiên cứu các tác phẩm đi theo khuynh hướng truyền kỳ và kỳ án của các nhà văn Việt Nam trong giai đoạn này Mặt khác, do tình trạng lý luận, phê bình không song hành với sáng tác văn học dẫn đến hệ quả là nhiều tác phẩm văn học được gọi theo nhiều thể loại khác nhau một cách tùy tiện theo chủ trương từ phía tác giả và nhà sách Trong khi đó, chúng tôi thực hiện quá trình khảo sát, phân tích tác phẩm theo tiêu chí đặc trưng thể loại Bởi vậy, không tránh khỏi có sự khác biệt về phân loại tác phẩm giữa luận văn của chúng tôi với các công trình nghiên cứu, khảo sát trước đó
Cuối cùng, trong phạm vi của đề tài, đối tượng/ vấn đề nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào các sáng tác truyền kỳ và kỳ án làm nên tên tuổi của một số nhà văn trong thời kỳ này như: Thế Lữ, Lan Khai, Tchya, Lưu Trọng Lư, Phạm Cao Củng và Nguyễn Tuân Đối với các tác giả khác từng thể nghiệm hai thể loại này
Trang 16như trường hợp của Thanh Tịnh, Nam Cao, Bùi Hiển, Khái Hưng, chúng tôi sẽ
cố gắng phân tích, đề cập tùy theo tầm ảnh hưởng của những sáng tác này trong trường văn học Việt Nam 1900 – 1945, cũng như giá trị của chúng đối với sự nghiệp văn học của họ
3 3 Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong luận văn của chúng tôi là các sáng tác thuộc thể loại truyền kỳ và kỳ án Chính xác hơn, là các sáng tác mang khuynh hướng hai thể loại này trong giai đoạn 1932 – 1945 Bởi vậy, việc tái hiện sự phát triển của hai thể loại này trong giai đoạn 1932 – 1945 được xem là “xương sống” của luận văn Tuy nhiên, do tính chất giao thời và liên văn bản của hai thể loại văn học này, chúng tôi có tham khảo, khảo sát những tác phẩm văn học truyền kỳ và kỳ
án trung đại của Việt Nam và Trung Quốc như những dẫn chứng quan trọng bổ sung cho các luận điểm của luận văn
4 Phương pháp nghiên cứu
và hệ quy chiếu của nó để dựa vào mà đánh giá nó Đặc biệt là đối với những hiện tượng mới, nếu ta xác định được loại hình của nó, thì ta chỉ việc lấy các tiêu chuẩn và ý nghĩa của loại hình đó để gán cho nó là có thể dễ dàng đánh giá được giá trị của nó Nếu không xác định được loại hình của nó, thì ta sẽ suốt đời loay hoay với nó như đứng trước một con vật lạ mà không biết gọi tên nó là gì, và như thế thì dĩ nhiên ta không thể biết được nó có ý nghĩa và giá trị gì đối với ta” [13,
tr 334]
Trước năm 1945, trong công trình Nhà văn Việt Nam hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã rất tinh tế khi so sánh những sáng tác của Lan Khai, Tchya, Thế Lữ có
Trang 17sự tương đồng với thể loại truyền kỳ vốn thịnh hành trong bộ phận văn học chữ hán từ nhiều thế kỷ qua Tuy nhiên, Vũ Ngọc Phan lại không hề giới thuyết chặt chẽ dẫn đến sự lầm lẫn giữa nhiều thể loại, tiểu loại văn học: truyền kỳ và kỳ án, trinh thám, truyện kỳ ảo, kinh dị vv
Trong Văn học Việt Nam thế kỷ X – XIX, Vũ Thanh có tham vọng trình bày truyền kỳ như một tiểu loại văn học nằm trong dòng chảy của truyện kỳ ảo Việt Nam Tuy nhiên có thể thấy, tác giả đã có sự nhầm lẫn về mặt thuật ngữ giữa hai khái niệm “kỳ ảo” và “huyền ảo” Trong đó, khái niệm “kỳ ảo” vốn dùng để định nghĩa dòng văn học thịnh hành ở phương Tây nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX Mặc dù, chúng có những đặc điểm tương đồng với nhiều loại hình văn học phương Tây và phương Đông tiền hiện đại như tiểu thuyết Gothic, truyền kỳ nhưng về cơ bản “kỳ ảo” là một hiện tượng văn học mới với tiêu chí đánh giá, hệ quy chiếu khác biệt hoàn toàn với các thể văn trước đây mà chúng tôi sẽ trình bày ở những phần sau ở luận văn
Như vậy, trong lịch sử nghiên cứu văn học Việt Nam, truyền kỳ và kỳ án vốn không phải là hai đối tượng/ vấn đề văn học mới mẻ tuy nhiên lại chưa được tìm hiểu, định nghĩa một cách rõ ràng, hoàn chỉnh Cá biệt trong các công trình Quá trình hiện đại hóa Văn học Việt Nam, Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Phan Cự Đệ không công nhận hai loại hình văn học này thay vào đó ông quy giản chúng là những thể tài, chủ đề sáng tác của một số nhà văn tiền chiến như Lan Khai, Thế Lữ
Từ kết quả thực tiễn của các nhà nghiên cứu đi trước và tính phức tạp của hai đối tượng/ vấn đề văn học là truyền kỳ và kỳ án nhất là quá trình chuyển mình của chúng trong giai đoạn văn học 1932 - 1945, chúng tôi nhận thấy nghiên cứu loại hình là phương pháp cần thiết và hiệu quả nhằm nắm bắt hai hiện tượng văn học này một cách cụ thể, bao quát
- Phương pháp văn hóa học
Văn hóa học mới được hình thành và phát triển vào đầu thế kỷ XX Phương pháp văn hóa học là phương pháp nghiên cứu, khám phá vai trò của văn hóa trong tác phẩm văn học, vận dụng các quan điểm và thành tựu văn hóa để lý giải
Trang 18văn học Ở Việt Nam, phương pháp văn hóa học trong lĩnh vực nghiên cứu van học hiện đại đã có mầm mống xuất hiện từ thập niên 40 của thế kỷ XX với đại
diện tiêu biểu là Trương Tửu với các tác phẩm như Văn học Việt Nam hiện đại,
Kinh thi Việt Nam Trong đó công trình Văn học Việt Nam hiện đại của Trương
Tửu có thể xem là một tác phẩm nghiên cứu, phê bình văn học thành công khi áp dụng phương pháp nghiên cứu văn hóa lịch sử từ H Taine để phân tích hiện tượng sáng tác truyện truyền kỳ và kỳ án của Thế Lữ, Lan Khai và Lưu Trọng
Lư Dù cách đặt vấn đề, tiếp cận vấn đề cùng nhiều phân tích của Trương Tửu còn mang tính khiên cưỡng, áp đặt hơn là từ những kết quả thu được qua nội dung văn bản song có thể nhận thấy, bằng tam giác lịch sử - con người – tác phẩm của Taine, Trương Tửu đã nhận ra được nét đặc sắc của ba tác giả Thế Lữ, Lan Khai, Lưu Trọng Lư Ông cho rằng tuy chủ đề tác phẩm của ba nhà văn này đều là những chuyện hoang đường, kỳ dị nhưng quan niệm sáng tác của họ lại vô cùng riêng biệt Đó cũng là ưu điểm của văn hóa học so với các phương pháp như loại hình học, cấu trúc vốn chỉ quan tâm đến bộ khung, hình thức văn bản
mà ít quan tâm đến toàn bộ giá trị nghệ thuật của tác phẩm
Xuyên suốt thời kỳ trung đại, truyền kỳ và kỳ án là hai thể loại văn học có sự phát triển tương đối ổn định trong nền văn học chữ Hán tại các quốc gia Trung Quốc, Nhật Bản, Cao Ly và Việt Nam Vốn là một thể loại có chức năng ghi chép lại các hiện tượng, sự kiện bên ngoài chính sử, các tác phẩm truyền kỳ và
kỳ án được xem như một sự bổ sung lý tưởng cho những khuất tất mà sử gia vì nhiều lý do chưa trình bày một cách cụ thể, đầy đủ Đó là lý do mặc dù ở Việt
Nam có nhiều tác phẩm được xếp vào truyền kỳ như Truyền kỳ tân phả, Tang
thương ngẫu lục, Công dư tiệp ký vv nhưng chỉ Truyền kỳ mạn lục được xếp vào
“thiên cổ kỳ văn” cũng vì tác phẩm này đã vượt khỏi giá trị của những ghi chép
để đến với giá trị của một tác phẩm nghệ thuật Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy
rằng, Truyền kỳ mạn lục cũng như Tiễn đăng tân thoại, Kim ngao tân thoại hay
Già tì tử đều được các nhà nho đương thời cho tới các nhà nghiên cứu văn học
ngày nay đề cao về giá trị hiện thực, phê phán sự thối nát trong xã hội phong
Trang 19kiến, ca ngợi các giá trị tự do, nhân bản vv Chúng cũng là những đặc trưng khi nói về thể loại văn học này trước thế kỷ XIX Dẫu vậy, sự tồn tại của truyền kỳ
và kỳ án trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX trong một bối cảnh văn hóa
có sự chuyển đổi, khác biệt rõ rệt với các giai đoạn văn học trước cho thấy ý nghĩa, giá trị của chúng bắt buộc cũng phải có sự tiếp biến để phù hợp, thích ứng với hoàn cảnh mới Trong giai đoạn 1932 – 1945, truyền kỳ và kỳ án vẫn tiếp tục phát triển song song với nhiều thể loại văn học thịnh hành ở phương Tây thậm chí được nhiều nhà văn ưa chuộng xem như phong cách chủ đạo của mình như Tchya, Nguyễn Tuân Điều này vừa minh chứng cho giá trị tồn tại lâu bền của các thể loại văn học cổ trong không gian văn học hiện đại nhưng mặt khác cũng phản ánh sự khác biệt trong nhận thức, quan niệm sáng tác của các nhà văn đương thời Văn hóa học được xem là một phương pháp hữu hiệu để đi tìm, chú giải, phân tích những căn nguyên đó
là khuynh hướng coi văn học là một đối tượng mang tính chất xã hội Theo đó, nhà nghiên cứu từ góc độ xã hội học tiến hành điều tra hiện tượng/ vấn đề văn học Khuynh hướng thứ hai và thứ ba là xã hội học sáng tác và xã hội học tiếp nhận là hai phương pháp được các nhà nghiên cứu văn học sử dụng phổ biến hiện nay
Trong đó, phương pháp xã hội học sáng tác là phương pháp nghiên cứu sự tác động của xã hội đến sáng tác văn học mà nhà nhà nghiên cứu nổi tiếng đầu tiên cần phải nhắc đến là L Goldmann với vấn đề cấu trúc phát sinh trong văn học Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu văn học Goldman chưa đề cập đến khâu tiếp nhận văn học bởi vậy xã hội học văn học của ông chủ yếu vẫn là xã hội học
Trang 20sáng tác hay nói cách khác là ảnh hưởng của xã hội, cơ sở của xã hội đến việc sáng tác văn học
Ngược lại, xã hội học tiếp nhận hay phương pháp mỹ học tiếp nhận là khoa học nghiên cứu môi quan hệ giữa tam giác tác giả, tác phẩm với độc giả Với khoa học này, vai trò của độc giả - đối tượng tiếp nhận văn học được đề cao, nhìn nhận trong vị trí xứng đáng Nhà nghiên cứu nổi bật của trường phái này là Hans Robert Jauss khi ông cho rằng khoa nghiên cứu văn học trước đây mới chỉ quan tâm tới các vấn đề tiền văn học cho tới khâu sáng tác, nhưng ít chú tâm tới quá trình tiếp nhận văn bản Thế nhưng, chính sự tiếp nhận của độc giả đã góp phần hoàn thiện tác phẩm Nói một cách khác, văn bản sáng tác của tác giả mới chỉ là một bộ khung mà từ đó người đọc sẽ hoàn thiện theo khả năng của mình Từ Jauss, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa thêm các khái niệm khác nhằm hoàn thiện phương pháp nghiên cứu này
Tại Việt Nam, Trương Đăng Dung và Đỗ Lai Thúy là những nhà nghiên cứu đầu tiên truyền bá và ứng dụng phương pháp mỹ học tiếp nhận trong nghiên cứu
tác phẩm văn học một cách hiệu quả Nhất là công trình Hé gương cho người
đọc, Đỗ Lai Thúy đã trình bày nhiều cách phân tích tác phẩm đối với nhiều văn
bản tưởng như đã quá quen thuộc, không còn vấn đề phân tích, phê bình như Thơ
Hồ Xuân Hương, Cung oán ngâm khúc của Ôn Như Hầu vv
Từ hiện tượng/ vấn đề truyền kỳ và kỳ án, chúng tôi nhận thấy lịch sử phát triển của hai thể loại này có nhiều biến động Trong đó, sự tồn tại của một thị trường văn học giai đoạn 1932 - 1945 cho phép các thể loại văn học cũ phát triển song song với các trào lưu văn học đương đại Tuy nhiên, khi đội ngũ tác giả và cộng đồng tiếp nhận có sự biến động, thay đổi Bản thân những sáng tác văn học mới dù mang khuynh hướng, chịu sự ảnh hưởng của các tác phẩm văn học trung – cận đại nhưng nội dung vẫn hàm chứa những ý nghĩa mới
Các thao tác nghiên cứu
- Thao tác phân tích: Là thao tác chính để làm rõ các đặc trưng của thể loại truyền kỳ và kỳ án hiện đại trong giai đoạn 1932 – 1945
Trang 21- Thao tác so sánh: nhằm chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa thể loại truyền kỳ và kỳ án hiện đại với các sáng tác truyền thống Bên cạnh đó, thao tác này được chúng tôi sử dụng để làm rõ tầm ảnh hưởng của các thể loại văn học phương Tây như trinh thám, kỳ ảo trong các sáng tác truyền kỳ và kỳ án hiện đại
- Thao tác mô tả: là một thao tác chúng tôi cho là cần thiết Nhất là đối với một số hiện tượng văn học ít được nhắc đến hoặc chưa được phân tích, nghiên cứu, tìm hiểu cụ thể
- Thao tác thống kê: là thao tác bổ trợ, tăng phần chính xác trong luận văn của chúng tôi
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam (1900 – 1945) tuy chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn so với tiến trình hình thành và phát triển văn học trung đại kéo dài 10 thế kỷ tuy nhiên lại ẩn chứa nhiều vấn đề/ đối tượng vô cùng phức tạp Không ngoa, khi nhiều nhà nghiên cứu nhận định không gian văn học Việt Nam (1900 – 1945) như một “phòng thí nghiệm khổng lồ” (từ dùng của Phạm Xuân Thạch) với một đội ngũ nhà văn đông đảo, nhiều thể loại văn học
“cũ” và “mới” đồng thời hiện diện, phát triển Truyền kỳ và kỳ án hiện đại có thể xem là một mảng, khối trong không gian văn học Việt nam (1900 – 1945), là một minh chứng cho quá trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam từ nền tảng nội tại, trước đó Bởi vậy, nghiên cứu về truyền kỳ và kỳ án hiện đại không chỉ tái hiện một mảng văn học chưa được nhìn nhận, đánh giá cụ thể mà còn góp phần khẳng định tầm quan trọng của quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
6 Cấu trúc của luận văn
Luận văn được cấu trúc thành 4 chương
Chương 1 Những vấn đề chung
Trong chương này, chúng tôi tập trung làm rõ các khái niệm truyền kỳ và kỳ
án, sự hình thành và phát triển của truyền kỳ và kỳ án trong văn xuôi trung đại Việt Nam và trong giai đoạn giao thời 3 thập niên đầu thế kỷ XX
Trang 22Chương 2 Đặc điểm của thể loại kỳ án trong giai đoạn 1932 – 1945
Trong chương này, chúng tôi tập trung làm rõ những đặc điểm chính của thể loại truyền kỳ trong giai đoạn 1932 - 1945 về mặt đề tài, chủ đề, nhân vật cũng như kết cấu Từ đó, chỉ ra sự những nét mới của thể loại văn học này trong giai đoạn 1932 – 1945
Chương 3 Đặc điểm của thể loại kỳ án trong giai đoạn 1932 – 1945
Trong chương này, chúng tôi tập trung làm rõ những đặc điểm chính của thể loại kỳ án trong giai đoạn 1932 – 1945 về mặt đề tài, chủ đề, nhân vật cũng như tầm ảnh hưởng của thể loại văn chương này đối với một số dòng văn chương hiện đại như trinh thám, lịch sử
Chương 4 Quan niệm của tác giả trong các sáng tác truyền kỳ và kỳ án giai đoạn 1932 – 1945
Trong chương này, chúng tôi tập trung làm rõ những sự ảnh hưởng của giai cấp, xã hội đã chi phối nhà văn trong các sáng tác truyền kỳ và kỳ án Ngược lại,
ý thức cá nhân của nhà văn cũng tác động đáng kể tới những sáng tác văn học thường bị xem nhẹ là dòng văn chương bình dân, thị trường này
Trang 23CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Tiến trình hình thành, khái niệm, đặc trưng của truyền kỳ trung đại
và ảnh hưởng của thể loại này trong văn học hiện đại
Truyền kỳ là một thể loại mang tính khu vực, ra đời tại Trung Hoa nhưng nhanh chóng lan rộng ra các nước thuộc khu vực Đông Á và Việt Nam Theo
Lịch sử Văn học Trung Quốc (Viên Hành Bái chủ biên), tên gọi của thể loại này
có thể xuất phát từ nhan đề của tác phẩm Truyền kỳ của Bùi Hinh, thời Vãn
Đường Tuy có lịch sử phát triển và suy tàn trong thời kỳ nhà Đường – một khoảng thời gian ngắn nếu đối sánh với lịch sử văn học Trung Quốc nhưng thực
tế tiền đề của thể loại văn học này là u linh, chí quái, chí dị đã được hình thành từ thời Ngụy – Tấn Mặc dù chỉ thịnh hành trong thời nhà Đường, các tác giả vẫn kịp để lại nhiều tác phẩm truyền kỳ có giá trị cả về nội dụng lẫn nghệ thuật Đại
bộ phận các tác phẩm truyền kỳ thời Đường còn được sưu tầm, lưu giữ trong bộ
sách Thái bình quảng ký được biên soạn đầu thời Tống
Ở Việt Nam, những tác phẩm truyền kỳ đầu tiên được ghi nhận có niên đại vào
khoảng thế kỷ XV như Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục, Lan Trì kiến văn lục,
Truyền kỳ Tân phả, Tang thương ngẫu lục Như vậy, sự hình thành và phát triển
truyền kỳ ở Việt Nam diễn ra khá muộn màng so với quê hương của thể loại này Giải thích về vấn đề này, Vũ Thanh đưa ra giả thuyết “truyện kỳ ảo Việt Nam không lập tức tiếp thu truyền kỳ Đường Tống – giai đoạn đỉnh cao của truyền kỳ Trung Quốc,
mà lại phải đi lại còn đường mòn mà văn học Trung Quốc đã trải qua, bắt đầu tư u linh, chí quái Rõ ràng ở đây có vấn đề tiếp nhận, nhu cầu tiếp nhận Cái mới, cái lạ cần phải có một cơ sở xã hội nhất định, một môi trường văn hóa thuận lợi mới có thể nảy nở và phát triển Văn xuôi tự sự Việt Nam mới bắt đầu phát triển, văn học dân gian bản địa và nền móng văn hóa bản địa vẫn còn đậm nét, tính tự sự của nền văn xuôi non trẻ này còn chưa phát triển, trong khi lối tư duy ảnh hưởng của văn hóa dân gian, đặc biệt của thần thoại, của cổ tích còn rất mạnh, vì vậy việc tiếp thu cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ truyện chí quái vừa mới thoát thai từ thần thoại, truyền thuyết,
dã sử… mà chưa vươn tới cấp độ truyền kỳ, chí dị” [70, tr 737]
Trang 24Trong quá trình du nhập các tác phẩm văn học nước ngoài, không thể tránh khỏi tình trạng sao chép, mô phỏng Thể loại truyền kỳ cũng không ngoại lệ mà
đại diện tiêu biểu nhất chính là Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (Tự) Song
cũng cần nhìn nhận một thực tế rằng bản thân quá trình tiếp nhận, bản địa hóa, sự khác biệt về lịch đại cùng ý thức sáng tạo của Nguyễn Dữ đã khiến cho tác phẩm
Truyền kỳ mạn lục do ông chấp bút có những giá trị độc đáo về cả nội dung cùng
nghệ thuật Cũng cần nhấn mạnh sự sao phỏng các tác phẩm truyền kỳ không diễn ra thường xuyên, theo trào lưu mà theo sự ngẫu hứng, cảm xúc của tác giả
Ngay cả trường hợp Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh vốn là một tác phẩm được
ưa chuộng trong văn học Trung Quốc từ thế kỷ XVIII Tuy nhiên, trong những
khảo sát nghiên cứu văn học trung đại sớm nhất của Việt Nam như Việt hán văn
khảo, Phan Kế Bính cho rằng đây là một tác phẩm có hại Tiến trình dịch và phát
hành Liêu trai chí dị tại Việt Nam cũng tương đối phức tạp và bản dịch đầy đủ
nhất của Cao Tự Thanh chỉ mới được hoàn thành và xuất bản năm 2005 tuy rằng
bộ truyện này đã lần được dịch lẻ tẻ trên Nông Cổ mín đàn từ năm 1901, được
“tiếp sức” bởi nhiều nhà văn, nhà văn hóa nổi tiếng như Tản Đà, Nguyễn Đỗ Mục, Đào Trinh Nhất vv đăng tải thành sách lẻ và nhiều ấn phẩm báo chí tại ba miền Bắc – Trung – Nam
Mặc dù, trải quá tiến trình tiếp nhận, bản địa hóa theo một trật tự có phần khác biệt và chậm trễ hơn so với thể loại truyền kỳ tại Trung Quốc, truyền kỳ Việt Nam vẫn mang những đặc trưng của thể loại này Về mặt định nghĩa, các nhà nghiên cứu văn học sử Trung Quốc nhận định truyền kỳ là một loại tiểu thuyết văn ngôn (cụm từ tiểu thuyết ở đây được hiểu là các tự sự, truyện được hiểu rộng rãi tại Trung Hoa, Nhật Bản, Cao Ly và Việt Nam cho đến nửa đầu thế
kỷ XX khác với cách hiểu tiểu thuyết là một tác phẩm tự sự có dung lượng lớn,
có chung một chủ đề, với nhiều nhân vật hoạt động trong phạm vi lịch sử, xã hội, môi trường rộng lớn)
Khác với các thể loại văn học khác, đề tài của truyền kỳ tương đối phong phú
và đa dạng lấy cảm hứng từ câu chuyện lịch sử như Câu chuyện ở đền Hạng
Trang 25Vương; vay mượn các truyện ngụ ngôn, điển tích trong các tác phẩm kinh điển
như Lưỡng Phật đấu thuyết ký (Bài ký hai Phật cãi nhau), Giao thư lục (Bức thư
của con muỗi); đề tài tình yêu như Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây, Truyện oan nghiệt của Đào Thị; đề tài lấy cảm hứng từ truyện dân gian, cổ tích như Truyện người con gái Nam Xương; Người nghĩa phụ ở Khoái Châu; đề tài lấy từ cảm hứng từ hiện
thực cuộc sống như các tác phẩm thuộc Tang thương ngẫu lục; Công dư tiệp ký
Về mặt thi pháp, kỹ thuật miêu tả của truyền kỳ tương đối sinh động, tỉ mỉ so với các thể loại văn chương đương thời Tuy không tránh khỏi nhiều tác phẩm
còn mang tính chất ghi chép, hơn là sáng tác văn chương như Tang thương ngẫu
lục, Truyền kỳ tân phả nhưng những áng văn trong Thánh Tông di thảo, Truyền
kỳ mạn lục thật xứng đáng với danh hiệu “thiên cổ kỳ bút” Nhìn chung, văn
chương truyền kỳ được viết theo lối đăng đối, vẫn chứa nhiều các yếu tố ước lệ thay vì mô tả, sao phỏng hiện thực như văn chương hiện đại
Nhìn từ các đặc điểm trên có thể thấy “truyền kỳ” có nhiều điểm tương đồng với loại thể “truyện ngắn” hiện đại Tuy nhiên, hai khái niệm này không đồng nhất như một số nhận xét của các nhà nghiên cứu văn học sử như Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Đăng Na Khái niệm truyền kỳ mang nội hàm hẹp hơn so với loại thể truyện ngắn chỉ các “tiểu thuyết văn ngôn”
có chứa yếu tố “kỳ” như Doãn Sự Lộ đời Tống nhận định “dùng lời đăng đối để
tả phong cảnh, đời lấy làm lạ” Mặc dù, nhiều tác phẩm truyền kỳ có chứa đựng yếu tố hiện thực, hoặc ám chỉ hiện thực tồn tại trong xã hội song chúng vẫn là những tác phẩm được viết bằng bút pháp “kỳ” với nhiều yếu tố thần linh, ma quái, siêu nhiên, hoang đường, có phần xa lạ với truyền thống bất ngữ “quái, lực, loạn, thần” theo tinh thần Nho giáo như chính các tác giả viết nên chúng nhận định “những truyện huyền bí thuộc thuyết nhà Phật, người quân tử không nên nói đến” [44, tr.24]; “chưa rõ thuyết nào đúng, nên xin chép cả hai vào đây” [44, tr.61] Các tác giả truyền kỳ đều phủ nhận ý thức sáng tạo của mình như Bùi Duy Tân nhận định “ông (tác giả) muốn phân bua với độc giả rằng trước tác của mình không phải sách có tính chất nghiêm trang như thực lục, liệt truyện, rằng đây chỉ
Trang 26là những thứ ngoại thư (…) vẫn được lưu truyền Và công việc của ông cũng chỉ
là „sao chép một cách rộng rãi‟ (mạn lục) những sự việc lạ ấy chứ không sáng tác” [28, tr.516] Ngoại lệ, có một số tác phẩm truyền kỳ có nội dung và hình thức thể hiện khá giống với các truyện ngắn hiện đại tuy nhiên cần lưu ý rằng đó
là những sự kiện, sự việc không thường thấy trong xã hội cũ như trường hợp của
nhiều truyện được ghi chép trong Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và
Nguyễn Danh Án
Ý nghĩa của từ “kỳ” trong truyền kỳ cũng có sự sai biệt so với khái niệm
“truyện kỳ ảo” là một dòng văn học phát triển mạnh ở phương Tây được khởi
đầu từ “ông tổ truyện kinh dị” Edgar Poe Trong công trình Dẫn luận về văn
chương kỳ ảo, Tzevan Todorov đã đưa ra ba khái niệm thường bị các nhà nghiên
cứu hiểu sai, lầm lẫn là: “cái kỳ ảo”; “cái lạ” và “cái thần diệu” Theo Todorov nếu nhầm lẫn ba khái niệm này sẽ dẫn đến hệ quả không thể tránh khỏi là phân chia nhầm các thể loại văn chương cho dù trên thực tế việc phân chia thể loại, loại hình văn học chỉ mang tính tương đối Mặt khác trong bối cảnh hiện nay, rất nhiều tác phẩm trần thuật nằm trên ranh giới của nhiều thể loại Và đôi khi việc xếp loại tác phẩm phụ thuộc vào tác giả cũng như đội ngũ biên tập, xuất bản Tuy nhiên, không thể phủ nhận cách phân loại của Todorov đóng một vai trò quan trọng đối với các tác phẩm văn học cận - hiện đại, văn chương tiêu thụ, văn chương thị trường mà truyền kỳ và kỳ án là hai minh chứng tiêu biểu Và việc phân biệt ý nghĩa của ba khái niệm “cái kỳ ảo”, “cái lạ”, “cái thần diệu” của Todorov cũng trình ra sự diễn tiến, biến đổi của các thể loại văn học trong từng giai đoạn lịch sử qua đó đưa ra những hiện tượng văn học có vẻ ngoài giống nhau nhưng thực tế nội dung, tư tưởng của tác giả đã có sự khác biệt rất lớn Chúng tôi nhận thấy định nghĩa của Todorov về ba khái niệm “kỳ ảo”, “cái lạ”, “cái thần diệu” tuy đối tượng nghiên cứu là dòng văn chương kỳ ảo phương Tây với những đại diện như Poe, Kafka nhưng trên thực tế có thể áp dụng để phân tích, tìm hiểu các thể loại văn chương tiền – cận hiện đại của phương Đông và phương Tây Từ
đó, tránh những sự phân loại, xếp loại nhầm lẫn như Vũ Thanh với dòng truyện
Trang 27kỳ ảo phương Đông, hay việc xếp đặt những truyện có khuynh hướng kỳ án, trinh thám vào văn chương “huyền ảo” theo đề xuất của Nguyễn Văn Dân
Theo Todorov, ba khái niệm “kỳ ảo”, “lạ”, “thần diệu” có nhiều đặc điểm tương đồng, nhưng căn cứ vào hệ thống nhân vật, cốt truyện, cách giải quyết các nút thắt, xung đột của nhà văn có thể nhận biết, định nghĩa, lý giải được chúng Todorov cho rằng “khái niệm kỳ ảo được định nghĩa trong mối liên hệ với những khái niệm về cái thực và cái tưởng tượng” Một tác phẩm văn chương kỳ ảo phải thỏa mãn ba điều kiện: “văn bản buộc độc giả coi thế giới của các nhân vật như một thế giới những con người sống và phân vân giữa một cách giải thích tự nhiên
và siêu nhiên trước những hiện tượng gợi lên” [15, tr.43] Có nghĩa là, hiện tượng
tự nhiên hoặc siêu nhiên trên phải xuất hiện trong thế giới quan được mô tả như không gian sống hàng ngày của con người Nói cách khác, nếu hiện tượng siêu nhiên này xuất hiện trong một không gian thần tiên, ma quái thì nguyên tắc này
đã bị vi phạm Hiện tượng siêu nhiên theo cách hiểu của Todorov tương đồng với thuật ngữ “yếu tố huyền ảo” (fantasy) thường được sử dụng trong các nghiên cứu, phê bình văn học tại Việt Nam hiện nay Như vậy, Todorov nhấn mạnh rằng một tác phẩm chứa đựng “yếu tố huyền ảo” không hẳn đã là một tác phẩm văn chương kỳ ảo Điều kiện thứ hai là “sự phân vân này cũng có thể được cảm nhận bởi một nhân vật, vậy nên vai trò của độc giả có thể nói là được gửi gắm cho một nhân vật và đồng thời do sự phân vân được thể hiện nên nó trở thành một đề tài của tác phẩm; trường hợp đọc sách một cách hồn nhiên, độc giả có thực tự đồng nhất với nhân vật [15, tr.43]” Điều này có nghĩa không nhất thiết toàn bộ nhân vật trong thế giới quan tác phẩm kỳ ảo phải nhận thấy, phân vân trước một hiện tượng siêu nhiên Bất chấp người đọc có thể đồng ý với quan điểm của một nhân vật trong tác phẩm Điều kiện thứ ba là “độc giả có một thái độ nhất định đối với
văn bản: họ sẽ khước từ lối diễn giải ngụ ngôn cũng như diễn giải theo lối thơ 1” [15, tr.43] Lối diễn giải ngụ ngôn ở đây được Todorov định nghĩa là các chuyện
1 Theo Todorov, văn bản thơ có thể bị coi là kỳ ảo, nếu người ta cứ đòi hỏi thơ phải mang tính thể hiện
Nhưng vấn đề không đặt ra: nếu ví như có chuyện rằng cái tôi trữ tình bay lên không trung, đó chỉ là một
trường đoạn ngôn từ, kiểu như nó vốn vậy, không tìm cách vượt lên khỏi từ ngữ [Dẫn luận văn chương kỳ
Trang 28về loài vật, sự vật được nhân cách hóa, được độc giả ngầm hiểu và chấp thuận như các tác phẩm tự sự về đời sống thường ngày Lối thơ ở đây được Todorov hiểu chính là lối biểu đạt theo phương thức trữ tình trong đó có những biện pháp
so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ mang hình ảnh, hiện tượng, sự kiện, vấn đề siêu nhiên nhưng không vì vậy mà cho rằng đó là yếu tố kỳ ảo Bởi vì, chúng không gây ra sự phân vân, nghi ngờ trong cách hiểu văn bản thơ Trong ba quy tắc này, Todorov cho rằng điều số một và điều số ba là hai cơ sở thiết yếu để làm nên một tác phẩm kỳ ảo
Khái niệm cái “lạ” và “cái thần diệu” là kết quả phái sinh từ định nghĩa về
“cái kỳ ảo” Theo Todorov, “kỳ ảo” là khái niệm biểu thị sự phân vân của nhân vật tồn tại trong khoảng “thời gian của sự lưỡng lự”2 [15, tr.53] Nếu tác giả giải quyết vấn đề của nhân vật theo chiều hướng tự nhiên, logic của sự sống thì tác phẩm rơi vào “cái lạ” Trong khi đó, nếu nhân vật lựa chọn giải thích sự vật, hiện tượng theo hướng siêu nhiên thì tác phẩm sẽ rơi vào “cái thần diệu” Tuy theo Todorov đây là hai hệ quả phái sinh từ sự “đổ vỡ” của “cái kỳ ảo” nhưng thực tế hai khái niệm “cái lạ” và “cái thần diệu” đã ra đời cùng với nhiều thể loại văn chương tiền hiện đại Khái niệm “cái lạ” và “cái thần diệu” cũng được biểu hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau mà nhà nghiên cứu cần tỉnh táo mới có thể phát hiện, phân tích đối tượng, vấn đề Chúng bao gồm bốn cấp độ: “lạ thuần túy”,
“kỳ ảo – lạ”, “kỳ ảo – thần diệu”, “thần diệu thuần túy” Trong đó, “cái lạ thuần túy” được hiểu là những sự kiện, sự vật tự nhiên hoàn toàn có thể giải thích bằng cách thông thường nhưng vì không thân thuộc với người đọc nên tạo ra những cảm xúc nghi ngờ Cái “kỳ ảo – lạ” được Todorov coi như hệ quả từ ngòi bút chủ quan của nhà văn Theo đó, nhà văn dù nhấn mạnh sự kiện, hiện tượng trên hoàn toàn là bình thường, tự nhiên nhưng vì không cung cấp đủ dẫn chứng thuyết phục dẫn đến cảm giác nghi ngờ của người đọc Tương tự, cái “kỳ ảo – thần diệu” được Todorov giải thích do ý thức sáng tạo của nhà văn Thay vì, xây dựng kết thúc tác phẩm như một câu đố không lời giải, nhà văn lại hướng độc giả giải
2 Ở đây, Todorov nhấn mạnh khái niệm “thời gian” tách rời khái niệm “không gian” Bởi vì, như đã giải
Trang 29thích các sự kiện trong văn bản theo hướng siêu nhiên, thần bí Cuối cùng,
“cái thần diệu thuần túy” được Todorov hiểu như tác giả chủ động xây dựng tác phẩm theo logic của cổ tích, thần thoại như trường hợp sáng tác của nhà
văn Đức Hoffmann như Kẹp Hồ Đaò và vua chuột, Đứa trẻ xa lạ, Ý trung
nhân của nhà vua vv
Đối chiếu với quan niệm của Todorov có thể thấy các tác phẩm truyền kỳ có khuynh hướng rơi vào khái niệm “cái lạ thuần túy” và “cái thần diệu thuần túy” Cho dù, như đã đề cập ở trên, một số nhà nho như Phạm Đình Hổ, Nguyễn Danh
Án có bày tỏ sự nghi ngờ đối với các sự vật, hiện tượng mà họ ghi chép Tuy
nhiên cũng tương tự với tinh thần nghi ngờ của Ngô Thì Sĩ trong Việt sử tiêu án
(những nghi án trong sử Việt), nỗi hàm nghi của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Danh
Án chỉ dừng lại ở sự ngờ vực trong một số sự kiện, hiện tượng chứ không phải toàn bộ tác phẩm Mặt khác, Phạm Đình Hổ và Nguyễn Danh Án chỉ nghi ngờ các ghi chép liên quan đến Phật giáo mà hai ông nghe lại được chứ không hề phân vân trước những chuyện hoang đường của Phạm đạo sĩ hay khả năng sai khiến quỷ thần, thay đổi sổ Nam Tào Bắc Đẩu của một số nhà nho lớn đương thời
Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, truyền kỳ Việt Nam được sáng tác hoàn toàn bằng chữ Hán Tuy nhiên, không thể phủ nhận nhiều nhà nho đã có ý định chuyển ngữ truyền kỳ sang chữ Nôm và sau đó là chữ Quốc ngữ, nhằm phổ biến các văn bản này ra tiếng Việt Theo nhận định từ Hoa Bằng và Bùi Duy Tân:
Nguyễn Thế Nghi đã diễn nôm Truyền kỳ mạn lục vào khoảng thế kỷ XVII Dẫu
vậy, bản dịch này bị đánh giá là không thành công và khó hiểu
Năm 1866, Trương Vĩnh Ký xuất bản sách Truyện đời xưa bằng chữ quốc
ngữ gồm 65 truyện được ông sưu tầm, lược soạn lại trong đó có khá nhiều truyện được lấy từ các sách truyền kỳ, liệt truyện Đây có thể xem là tiền đề đầu tiên để các nhà hậu học tiến hành công việc dịch thuật và sáng tác truyền kỳ trong giai đoạn nửa cuối thế XIX và đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, công việc này chỉ thật sự được đẩy mạnh khi thực dân Pháp bắt đầu tiến hành cấm sử dụng chữ Hán và
Trang 30phổ cập chữ quốc ngữ qua Nghị định 22-9-1869 bó buộc dùng Quốc ngữ trong giấy tờ chính thức, Nghị định 6-4-1878 về việc dùng chữ Annam bằng mẫu tự La tinh, Thông tư 28-10-1879 về việc bãi bỏ chữ Nho và dùng mẫu tự La tinh [63, tr.494] Cùng với đó, không thể phủ nhận những đóng góp của báo chí trong thời
kỳ này như Nông cổ mín đàm, Gia Định báo, Nam Phong tạp chí, Phụ nữ Tân
văn cho đến những tờ báo sinh sau đẻ muộn như Ngày nay Chính những cơ quan
ngôn luận, nhà xuất bản vì nhiều mục đích khác nhau trong đó không thể quên yếu tố lợi nhuận đã góp phần công sức vô cùng lớn đến việc giúp các thế hệ độc giả tiếp cận được với dòng văn học này Đồng thời là cơ sở, gợi ý, cảm hứng cho
nhiều nhà văn hậu học sáng tác truyền kỳ hiện đại trong giai đoạn sau này
Như vậy, trong năm thế kỷ hình thành và phát triển truyền kỳ, ý tưởng đọc truyền kỳ bằng tiếng Việt, ngôn ngữ dân tộc đã tồn tại trong không ít thế hệ nhà nho, học giả nhưng chỉ thực sự được thực hiện vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX Chữ quốc ngữ có thể xem là một phương tiện ghi chép lý tưởng thay thế chữ Hán nhưng đồng thời cũng là thách thức đối với đội ngũ sáng tác nhất là tầng lớp cựu học Tuy nhiên, bên cạnh đó, truyền kỳ cũng được hưởng lợi vì có sẵn một lượng độc giả trung thành Nó lý giải phần nào cho việc giải thưởng của Hội
Khai trí tiến đức thuộc về Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật, một sáng tác dựa trên Kinh An Tiêm (Truyện An Tiêm) được Trần Thế Pháp sưu tầm và biên soạn lại trong tập Lĩnh Nam chích quái lục (Thế kỷ XIV) Song song với điều
này cũng cần ghi nhận những ảnh hưởng của văn chương phương Tây đối với các sáng tác truyền kỳ đương thời nhất là trong thập niên 30 của thế kỷ trước khi trào lưu dịch các tác phẩm E Poe, Guy De Maupasant nở rộ trên nhiều tờ báo như
Tiểu thuyết thứ bảy, Âu Tây tư tưởng vv và nhiều dịch phẩm trong số này đã
được in lại thành sách mà tiêu biểu là cuốn Danh văn Âu Mỹ (1936) của Nguyễn
Giang Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy bên cạnh sự nở rộ của các dịch phẩm mang khuynh hướng kỳ ảo của phương Tây còn có sự góp mặt của rất nhiều tác
phẩm văn học Trung Quốc cận đại có yếu tố siêu nhiên mà Liêu trai chí dị là một
hiện tượng dịch đặc biệt
Trang 31Dẫu bị thu hút bởi E Poe như thừa nhận của nhiều nhà văn như Lưu Trọng
Lư, Khái Hưng hoặc như lời giới thiệu đăng trên mặt báo, trang sách thế nhưng
có một sự thực là các sáng tác mang yếu tố siêu nhiên, huyền ảo của nhiều nhà văn Việt Nam lại có xu hướng gần gũi với các tác phẩm truyền kỳ thuộc bộ phận văn học chữ Hán trong quá khứ Nếu như trong hai thập niên đầu của thế kỷ XX, các nhà phê bình, nghiên cứu có thể lý giải nguyên nhân trên bắt nguồn ba lý do sau Thứ nhất, xuất thân của các nhà văn đều là tầng lớp tân học thế hệ đầu tiên, còn chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo Thứ hai, là do ảnh hưởng của văn chương phương Tây tuy mãnh liệt nhưng chưa thực sự quen thuộc với đời sống văn hóa người Việt Nam Thứ ba, là do chưa có các sáng tác tiền đề, mang tính định hướng Tuy nhiên, hiện tượng nhiều nhà văn trở đi trở lại với các sáng tác truyền kỳ trong thập niên 30 và 40 khi văn học Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng cho thấy đây là một hiện tượng văn học thú vị và phức tạp
1 2 Tiến trình hình thành, khái niệm, đặc trưng của kỳ án trung đại và ảnh hưởng của thể loại này trong văn học hiện đại
Khác với truyền kỳ, vốn là một thuật ngữ được các văn sĩ Trung Hoa và các nước đồng văn sử dụng để chỉ các tiểu thuyết văn ngôn dùng lời lẽ đăng đối để miêu tả những điều kỳ lạ, kỳ án (những vụ án khác thường) vốn là cụm từ gắn liền với nhiều tác phẩm văn học thời kỳ trung đại của Trung Quốc nhưng đến nay vẫn chưa được nghiên cứu, tìm hiểu cụ thể Bởi vậy, chúng tôi xin đưa ra định nghĩa “kỳ án” (công án) là loại hình tiểu thuyết mà nội dung tác phẩm tường thuật lại những vụ án khác thường, chưa từng có tiền lệ Tại Trung Hoa, thể loại văn học tự sự này khá thịnh hành trong giai đoạn cai trị của hai triều đại nhà Nguyên và nhà Minh Lấy cảm hứng từ liệt truyện về những nhân vật thanh liêm nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc như Địch Nhân Kiệt, Vương An Thạch, Bao Chửng, thể loại kỳ án tập trung khai thác, phóng tác các vụ án kỳ lạ được các viên quan này xử trí thành công
Hiện nay, chưa rõ thời gian cụ thể kỳ án du nhập vào Việt Nam Tuy nhiên,
có thể khẳng định thể loại này không thực sự phát triển nổi bật xuyên suốt thời
Trang 32kỳ trung đại Mặc dù, những tiền đề, những tác phẩm mang khuynh hướng kỳ án
đã xuất hiện trong một số tác phẩm Nổi tiếng nhất, có lẽ là những truyện trong
Thánh tông di thảo như Trinh thử, Lũng Cổ phán từ Trong các sách Tang thương ngẫu lục, Đại Nam chính biên liệt truyện cũng có một vài ghi chép về các
danh thần, quan lại và những vụ án kỳ lạ nhưng chưa thể gọi là sáng tác thực thụ
Trường hợp Điểu thám kỳ án có thể xem là tác phẩm có một không hai trong lịch
sử văn học Việt Nam nhưng hiện nay vẫn chưa rõ thân thế, sự nghiệp sáng tác của tác giả Trương Thương Nham cũng như niên đại thực của văn bản này
Như vậy, có thể khẳng định dù nằm trong nền văn học khu vực, sự tiếp nhận
và quá trình phát triển thể loại kỳ án tại Việt Nam có sự khác biệt so với Trung Quốc Kỳ án đạt được những thành tựu đầu tiên vào giai đoạn văn chương Việt
Nam cận đại song song với bối cảnh dòng truyện kỳ án mà tiêu biểu là Long đồ
công án (1914) bắt đầu được Nguyễn Chánh Sắt chuyển ngữ trên tờ Lục tỉnh tân văn và phát hành thành sách mỏng, xuất bản rộng rãi tại miền Nam Bên cạnh đó,
việc “nhập khẩu kỳ án” thông qua con đường tiểu ngạch cũng cần phải được nhắc đến khi nhiều người gốc Hoa đã bắt đầu chuyển ngữ và phát hành lậu những bản sách khuyết danh để thu về lợi nhuận Thập niên 20, đánh dấu sự ra đời của
nhiều bản dịch dài hơi có quy mô lớn về các kỳ án Trung Hoa như bộ sách Bao
Công kỳ án của Trúc Khê đến năm 1931 đã được tái bản đến 4 lần tại NXB
Quảng Thịnh Tương tự, bộ truyện Sự tích Trạng Quỳnh cũng được tái bản đến
ba lần Đông Phương ấn quán, Mai Lĩnh, Tân Dân cũng cho dịch và phát hành một khối lượng không nhỏ các tiểu thuyết, đoản thiên tiểu thuyết kỳ án Trung Quốc trong giai đoạn này Tuy nhiên, quá trình này diễn ra không thường xuyên
và chịu sự cạnh tranh trực tiếp của thể loại trinh thám phương Tây Nhiều nhà văn viết kỳ án của Việt Nam cũng là những tên tuổi lớn trong làng truyện trinh thám mà tiêu biểu là Thế Lữ và Phạm Cao Củng
Về mặt nội dung, kỳ án không còn xoáy quanh cuộc đời và hành trạng của những nhân vật nổi tiếng được ghi lại trong liệt truyện hoặc qua các truyện kể dân gian Thay vào đó, chủ đề chính là các vụ án mà những nhân vật này phát
Trang 33hiện, xử kiện trong suốt cuộc đời mình theo ghi chép trong sử sách hoặc truyền miệng Trong đó, nhân vật chính với tư cách là những người có học, nhà nho sẽ
“phá án” đem lại công bằng, bình an cho nhân dân Tiền đề của kỳ án có thể thấy
trong nhiều truyện thuộc Thánh Tông di thảo như : Lũng cổ phán từ (Lời phán xử
cho hai người điếc và đui); Thử tinh truyện (Truyện tinh chuột) vv Tuy nhiên,
chỉ Điểu thám kỳ án của Trương Thương Nham mới được xem là một kỳ án thực
thụ Nội dung câu chuyện được tóm tắt như sau: Hà Khắc Kiệt, người tỉnh Thanh Hóa có người con gái xinh đẹp tên là Anh Tú đã đến tuổi lấy chồng Một hôm, có người đàn bà lớn tuổi họ Cao cùng con gái tự xưng là họ hàng xa với Khắc Kiệt
và ngỏ ý muốn được làm thân Khắc Kiệt muốn trông nom con gái nên bằng lòng cho phép hai mẹ con ở lại Trong ấp, có phú hộ họ Trương vừa góa vợ muốn lấy Anh Tú làm kế nhưng Khắc Kiệt không bằng lòng Trương nhiều lần đe dọa nhưng Khắc Kiệt bỏ ngoài tai Quan thái thú họ Chu có con trai lớn là Nguyên Diệu nghe danh tài sắc Anh Tú muốn nên duyên vợ chồng Khắc Kiệt đồng thuận định qua tháng hai năm sau sẽ cho cưới Mọi sự diễn ra xuôn sẻ nhưng bất ngờ Anh Tú và Nguyên Diệu đều mất tích Sau đó tìm thấy một thi thể ngờ là Nguyên Diệu, hai bên đều cho rằng Trương phú hộ là thủ phạm bèn nhất loạt đâm đơn kiện Trương phú hộ nhất mực kêu oan song vì bị bức cung nên đành nhận tội
Vụ án khép lại Viên quan cũ thăng chức, Dương quận thú lên thay thấy vụ án có nhiều oan khuất bèn bí mật tìm hiểu Nghe nói Thần núi linh thiêng, Dương quận thú tìm đến thì được thần hiển linh sai chim quạ và chim ưng giúp sức Trong khi
đó, nhà họ Chu đang cơn bối rối muốn nhận cháu trai ruột là Du Lang về nuôi, lấy người thừa kế nhưng còn e ngại vì bố con hắn là những kẻ bất hảo Không ngoài nghi ngờ, cha con Du Lang vì mưu tham tài sản lại vừa thua bạc nên đã bắt cóc Nguyên Diệu và Anh Tú đem bán cho tên khách là A Thành Sau đó, chúng lột quần áo Nguyên Diệu rồi tìm một cái xác chết trôi, ngụy tạo ra cái chết của họ Chu Trương phú hộ nhờ đó được tha Trong khi đó, Anh Tú sau khi nói chuyện với người hầu họ Cao liền bất tỉnh nhân sự Sau đó, nàng mơ thấy mình dưới âm phủ bị quỷ tuyên án kiếp trước có thù với Nguyên Diệu nên kiếp này chàng phải
Trang 34chết, hôn sự bất thành Anh Tú tỉnh lại thấy mình trên thuyền gặp một người xưng là Lưu Tạo Tạo khoe đã cứu Anh Tú, muốn nên duyên vợ chồng nhưng nàng từ chối vì phải để tang Nguyên Diệu Sống bên Lưu Tạo, Anh Tú ngờ rằng người này là giặc cướp Một hôm, thuyền Lưu Tạo đụng độ với A Thành, hai bên giao chiến Lưu Tạo thắng cứu được một người tên là Nguyên Diệu, thấy y có học thức, bèn giữ làm thư lại.Ít lâu sau, người lão bộc nhà họ Hà và hai con chim thần cũng giả trang tìm đến thuyền Lưu Tạo Anh Tú nhận ra người quen liền Lưu Tạo cho ông lão ở lại Qua ông lão, Anh Tú biết mình đã bị mẹ con họ Cao và Lưu Tạo cấu kết với nhau để lừa mình Hai con chim liền bay trở về đưa tin Lưu Tạo và hai
mẹ con họ Cao bị bắt Anh Tú và Nguyên Diệu nên duyên vợ chồng
Về mặt nghệ thuật, khác với truyền kỳ và kỳ án mang nhiều yếu tố bình dân,
dễ tiếp cận hơn Nhiều giai thoại về Nguyễn Hiền, Lương Thế Vinh, Nguyễn Khoa Đăng in trên các tờ báo trong nước nửa sau thế kỷ XIX và hai thập niên đầu thế kỷ XX, sau đó được Nguyễn Đổng Chi sưu tầm, biên soạn lại thực chất
có thể coi là những sáng tạo văn học thực thụ về kỳ án Bởi lẽ, chính sử, liệt truyện chỉ ghi lại về Nguyễn Hiền, Lương Thế Vinh, Nguyễn Khoa Đăng trong ít dòng ngắn ngủi Trong đó, công trạng của Nguyễn Khoa Đăng khi phá được truông nhà Hồ, phá Tam Giang vốn là địa điểm cát cứ của nhiều giặc cướp chỉ
được ghi lại đúng một dòng trong Đại Nam Chính biên liệt truyện Trên tư cách
là một truyền kỳ hoàn chỉnh hiếm hoi trong văn học Việt Nam được biết đến,
Điểu thám kỳ án của hai tác giả cũng là một tác phẩm tương đối dễ đọc, không có
nhiều đặc sắc về mặt câu văn
Về mặt tác giả, các tác giả kỳ án thường phủ nhận tính sáng tạo của mình
Bản thân Trương Thúc Nham khi ghi lời tựa cho Điểu thám kỳ án tự nhận rằng
mình chỉ là người nghe lại “câu chuyện của Hải khách Doanh Châu” mà chép lại những lời “về ngụ ý thì đại để hoang đường như văn Trang Chu, về lập luận thì theo đuổi cách viết hư hư thực thực theo bút pháp họ Nguyễn” Như vậy cũng như Nguyễn Dữ, Phạm Đình Hổ, Nguyễn Danh Án, Trương Thương Nham chỉ nhận các sáng tạo nghệ thuật của mình là ghi chép Tuy nhiên, có thể thấy đây
Trang 35vẫn là lối “nói giảm nói tránh” quen thuộc của các nhà văn với những sáng tác nằm ngoài “chính văn” của mình để tránh sự dòm ngó, chê trách (nếu có) của những người thuộc cùng tầng lớp
Yếu tố hấp dẫn và cũng chính là điểm tương đồng của kỳ án với thể loại trinh thám sau này chính là các vụ án và quan trọng hơn là chính là những tình tiết suy luận phức tạp, hấp dẫn của các nhân vật chính khi phá án Tuy nhiên, nếu như trinh thám là thể loại văn học được du nhập từ phương Tây coi trọng những suy luận mang tính logic hiện thực, những phán đoán có cơ sở khoa học thì kỳ án lại chấp nhận cả các phương pháp lý giải bằng các yếu tố mang tính hoang đường, huyễn hoặc Thậm chí, nhân vật chính trong kỳ án còn có thể giải quyết vụ án chỉ bằng đức tính, lương năng (thiên lương), tiền kiếp của mình khi vụ án tưởng như rơi vào ngõ cụt Cá biệt, trong kỳ án còn xuất hiện những phiên tòa của Thiên đình, Long cung, Địa phủ Các nhân vật tội phạm trong vụ án cũng rất đa dạng không chỉ là người mà còn là yêu tinh, ma quỷ, thần tiên Có thể nói, kỳ án không đơn thuần hướng đến việc phá án, thay vào đó nó đề cập đến tính công bằng, công minh vốn là ước mơ, hy vọng của nhiều tầng lớp trong xã hội phong kiến vốn đề cao tính chuyên chính, thần quyền, độc tài hơn pháp quyền
Ngay cả những truyện được phá giải từ óc suy luận của vị quan như Điểu
thám kỳ án cũng ẩn chứa những yếu tố huyền ảo Đó là sự trợ giúp của con chim
quạ và chim diều hâu biết nói tiếng người Sự trợ giúp này không đến từ công cuộc tìm kiếm, điều tra của vị quan mà nhờ thiên lương của ông Nói cách khác, yếu tố kỳ chứ không phải tính logic làm nên sự đặc biệt của thể loại kỳ án Mặc
dù, không thể phủ nhận kỳ án và một bộ phận truyện trinh thám có những yếu tố huyền ảo, siêu nhiên Tuy nhiên, cách giải quyết các vụ việc trong kỳ án thường mang khuynh hướng kỳ ảo – lạ Một phần nguyên nhân của yếu tố này xuất phát
từ khoa học hình sự, điều tra của nhiều quốc gia phương Đông đã tụt hậu nhiều thế kỷ so với phương Tây dẫn đến việc lý giải các vụ việc mang khuynh hướng siêu nhiên, tự nhiên của các nhân vật trong truyện kỳ án mang tính bản năng, trực giác, kinh nghiệm so với phán đoán thực thụ Phần khác đó cũng là hệ quả của
Trang 36quá trình tư duy theo mô hình chuyên chính, quân chủ Các nhân vật xử lý vụ án không chỉ dựa trên bằng chứng mà còn dựa trên cảm tính của mình Về điểm này, Todorov đã lưu ý: “tiểu thuyết trinh tham mang ẩn số gần gũi với cái kỳ ảo, nhưng nó cũng đối lập: trong các văn bản kỳ ảo, dẫu sao người ta cũng nghiêng
về lời giải thích siêu thường; còn tiểu thuyết trinh thám khi đã kết thúc, không
còn mảy may nghi hoặc gì nữa về việc không tồn tại những hiện tượng siêu
nhiên Hơn nữa sự gần gũi trên chỉ có trong một kiểu tiểu thuyết trinh thám mang
ẩn số (phạm vi đóng kín) và một kiểu truyện kỳ lạ (cái siêu nhiên được giải thích) Thêm nữa, điểm nhấn được đặt khác nhau ở hai thể loại: trong tiểu thuyết trinh thám, điểm nhấn đặt ở lời giải ẩn số; trong những văn bản gắn với cái lạ (như trong truyện kỳ ảo), nó đặt ở những phản ứng mà ẩn số đó khơi dậy” [15, tr.63]
1.3 Ngôn ngữ sáng tác của truyền kỳ và kỳ án giai đoạn 1932 - 1945
Sự khác biệt cơ bản giữa các tác phẩm truyền kỳ và kỳ án giai đoạn 1932 –
1945 không hẳn ở vấn đề đề tài, chủ đề, nhưng nằm trong khía cạnh ngôn ngữ Việc thay đổi ngôn ngữ sáng tác từ chữ Hán sang chữ quốc ngữ đã góp phần thay đổi tích cực tới diện mạo của bộ phận văn học này Trong đó, việc sáng tạo văn học bằng chữ quốc ngữ dù vô tình hay là kết quả không thể khác của quá trình hiện đại hóa Việt Nam nhưng đã góp phần đáng kể trong việc bình dân hóa các thể loại văn chương; vốn thường được xem như báu vật, món ăn tinh thần dành riêng giai cấp tinh hoa trong nhiều thế kỷ Ngay cả, loại hình nhà nho phi chính thống hay còn được gọi là “nhà nho tài tử” trong xã hội Việt Nam cũng có ý thức khu biệt mình với các tầng lớp khác trong xã hội Trong đó, quan niệm tài tử và quan niệm văn chương tài tử là sự chuyển dịch hệ hình từ văn chương chức năng, coi “đức” là giá trị tiên quyến sang văn chương “thị tài”, khẳng định tài năng, ý thức về tài năng của mình Quá trình hình thành ý thức, khu biệt mình với những giá trị luân lý truyền thống không chỉ tự ly khai người tài tử với tầng lớp họ từng thuộc về, nhưng còn khuyến khích họ bộc lộ những cảm xúc, bản năng tự nhiên vốn bị kìm hãm, giam lỏng trong các thiết chế Theo Đỗ Lai Thúy “Từ những phẩm chất về tài và tình, người tài tử đã có sự thay đổi quan niệm về cuộc sống
Trang 37Quan niệm này trước hết là quan niệm thị dân, một sản phẩm của văn hóa đô thị
Tư tưởng thị dân thật khác xa với tư tưởng của người nông dân của làng xã và của nhà nho quân tử Nếu sống với nhà nho quân tử là để hành đạo, là an bần lạc đạo, nếu sống với người nông dân làng xã là để sống sót, là đủ ăn đủ mặc, là chút thể diện, thì với người tài tử sống là để thực hành được cái tài trời đã phú cho mình, sống là để cho thỏa cái tình của mình Đó là sự hưởng thụ cuộc sống hoặc nói theo thuật ngữ của chính họ là chơi, là lạc” [70, tr.486]
Người tài tử chủ động tìm đến nghệ thuật như một phương diện của sự hưởng lạc Họ sáng tác nhằm thỏa mãn thú “mua vui cũng được một vài trống canh” Tuy nhiên, ý thức về danh phận, cũng như nguồn gốc xuất thân đã khiến
họ chủ động bó hẹp các sáng tác của mình trong khuôn khổ những thi xã, văn đàn nhỏ, thay vì phát tán, truyền bá rộng rãi Một mặt việc làm này góp phần bảo vệ
uy tín, danh tiếng của họ Mặt khác, nó cũng là thông điệp phân biệt họ với tầng lớp bình dân với những ham muốn nhục dục tầm thường Tuy nhiên, cũng chính
vì vậy, sự khác biệt giữa ngôn ngữ viết và lời ăn, tiếng nói thường ngày; mâu thuẫn, đối lập giữa các hình ảnh mô tả thế giới quan trong sáng tác văn học với đời sống xã hội ngày càng trở nên sâu sắc, không thể lấp đầy Nhà nho tài tử, thay vì xây dựng, mở rộng vốn từ vựng, hoàn thành hệ thống chữ viết lại chỉ chuyên chú sáng tác bằng chữ Hán, hoặc đẽo gọt các tác phẩm chữ Nôm của mình theo những khuôn thước của văn học truyền thống Những tiền đề hình thành văn học thị trường nhanh chóng bị các chính quyền quân chủ thủ tiêu, ngăn cấm cũng hạn chế nhà nho dấn thân vào các sáng tác phục vụ nhu cầu của số đông Bên cạnh đó, phải thừa nhận việc giảng dạy chữ Hán, chữ Nôm tại Việt Nam tuy được người Pháp đánh giá cao nhưng trên thực tế dường như không để lại nhiều thành quả bằng chữ quốc ngữ, một công cụ mới mẻ vốn chỉ được các cha cố
sử dụng để học tiếng Việt một cách dễ dàng và thuận tiện cho việc giảng đạo
Tuy nhiên, việc sử dụng chữ quốc ngữ để phiên âm, ghi chép văn tự là một công việc đã được các cha xứ thử nghiệm thành công từ thế kỷ XVII Trong khi, việc sử dụng chữ quốc ngữ để ghi chép những sáng tác văn học lại xuất hiện khá
Trang 38muộn với tác phẩm tiểu thuyết Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản Mặc
dù trước đó, người Việt đã quen thuộc với các sáng tác truyện thơ bằng chữ Nôm Dẫu vậy, khoảng cách giữa sáng tác truyện thơ với một tác phẩm trần thuật tràng thiên là tương đối lớn Thứ nhất, là chúng không có tiền đề trước đó Thứ hai, việc sáng tác văn trần thuật bằng chữ quốc ngữ bắt buộc các tác giả phải thay đổi các thủ pháp nghệ thuật vốn sử dụng dễ dàng trong văn chương chữ Hán trước đó
Văn học Việt Nam trung đại vốn chú trọng “thể văn ngôn”, yêu cầu sự đăng
đối mẫu mực giữa các câu văn Điều này phần nào giải thích lý do Truyền kỳ mạn
lục, một sáng tác vào thế kỷ XVI được xưng tụng như thiên cổ kỳ văn trong khi
thể loại tiểu thuyết văn ngôn này đã suy tàn trên chính quê hương mình Cho đến thập niên 40 của thế kỷ trước, hoài vọng về một nền văn chương Việt giữ gìn được vẻ đăng đối, biền ngẫu trong câu văn vẫn tiếp tục là nỗi trăn trở của nhiều nhà nghiên cứu như Hoa Bằng khi ông nhắc lại lời dạy của Nguyễn Đôn Phục với một lòng thành kính
Bất chấp hoài niệm của những nhà cựu học, trên thực tế việc duy trì thể văn ngôn trong các văn xuôi quốc ngữ gần như là một điều bất khả Nếu không muốn nói, chúng trở thành những thể nghiệm bất thành, gây phản cảm cho người đọc
như trường hợp truyện Thầy cử, Oan nghiệt của Tchya từng bị Vũ Ngọc Phan và
nhiều nhà phê bình nhận định là lối viết cổ điển, nhưng không có gì đặc sắc, mới
mẻ Thêm vào đó, thể văn ngôn không thể đáp ứng được nhu cầu kể và miêu tả của các nhà văn cận - hiện đại Trong lịch sử văn học Trung Quốc, “tiểu thuyết văn ngôn” từ lâu đã nhường chỗ cho lối văn bạch thoại cho phép văn nhân, nhất
là những tiểu thuyết gia chương hồi có cơ hội thi thố, trình diễn khả năng sáng
tạo của mình Chấm sáng của Liêu trai chí dị, đỉnh cao cuối cùng của tiểu thuyết
văn ngôn Trung Quốc không đủ sức lôi kéo các văn nhân về phía mình Tại Việt Nam, các tác giả không có truyền thống sáng tác văn trần thuật bằng tiếng nói của mình và ghi chép lại bằng chữ Nôm (chữ quốc ngữ của Việt Nam đến giữa thế kỷ XIX) Bởi vậy, việc tiếp tục sử dụng, mô phỏng lối văn ngôn trong các
Trang 39sáng tác văn học là một điều không tưởng Cho dù trong ba thập niên đầu của thế
kỷ XX, một số nhà văn vẫn cố gắng sử dụng lối hành văn này trong các truyện ngắn của mình như trường hợp của Tchya Đái Đức Tuấn mà chúng tôi đã nêu ra trước đây
Việc không bảo lưu, duy trì được thể văn ngôn trong các sáng tác truyền kỳ
và kỳ án trong giai đoạn 1932 – 1945 đã giảm bớt “giá trị nghệ thuật” của các sáng tác văn học này Mặt khác, chúng cũng khiến cho việc nhận diện, đánh giá các sáng tác truyền kỳ và kỳ án trở nên khó khăn Dẫn đến, nhiều học giả, nhà phê bình khi nghiên cứu các tác phẩm này có xu hướng gộp chung chúng vào loại thể truyện ngắn, truyện vừa Trong khi, xét từ những đặc điểm về hệ thống
đề tài – chủ đề, hệ thống nhân vật, cốt truyện, các “truyện ngắn phương Đông” này có sự khác biệt rõ rệt so với nội hàm khái niệm của văn học phương Tây Ngược lại, việc tiếp nhận những ảnh hưởng của văn học phương Tây cũng như sáng tác văn học bằng chữ quốc ngữ đóng vai trò đáng kể trong việc mở rộng cộng đồng tiếp nhận văn học nhất là khi một thị trường văn học thực sự ra đời Mối quan tâm đến thị trường văn học ngày một tăng trong đội ngũ tác giả, đặc biệt là với những người coi sáng tác là công việc chính khiến họ không thể xem thường vai trò của độc giả Giá trị giải trí được đề cao, thậm chí lấn át cả những giá trị thẩm mỹ truyền thống như một con dao hai lưỡi đối với người cầm bút Một mặt, họ cảm thấy băn khoăn, day dứt khi viết ra những áng văn “chơi”, “kiếm ăn xoàng”, thậm chí là “dâm thư” không chỉ đi ngược, nhưng còn chống lại cả các văn bản kinh điển truyền thống Mặt khác, chúng cũng kích thích, khuyến khích nhà văn nâng cao những kỹ thuật mới đặc biệt là tả thực (tả chân), một trong những thủ pháp xa lạ với văn học trung đại vốn chỉ quen lối tả cảnh, người một cách ước lệ, điểm xuyết Truyền kỳ và kỳ án là hai thể loại chịu ảnh hưởng sâu đậm của phương pháp tả thực, so với các thể loại văn chương trung – cận đại khác Đây có thể là một trong những lý do giúp hai thể loại này có sức hút lớn với độc giả đặc biệt là trong bối cảnh các khuynh hướng văn học hiện đại khác được du nhập, phát triển tại Việt Nam
Trang 40Ảnh hưởng của phương pháp tả thực cũng có tác động đáng kể dẫn đến sự biến đổi của hai thể loại văn học này Nhất là khi, yếu tố “kỳ” trong truyền kỳ và
kỳ án được nhấn mạnh, mô tả kỹ càng bằng lối văn mộc mạc, giản dị thay vì
“văn ngôn” điêu luyện như trước kia Bởi vậy, nếu không tiến hành phân tích, nghiên cứu văn bản một cách tường tận, rõ rệt rất dễ dẫn đến sự nhầm lẫn quy nạp các tác phẩm văn học này chịu ảnh hưởng hoàn toàn từ làn song văn học tiêu thụ của phương Tây như trinh thám, kinh dị, kỳ ảo vv
Như vậy, mối tương quan và cũng là nguyên nhân dẫn đến sự lầm lẫn trong cách xếp loại, phân loại của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học của hai thể loại truyền kỳ và kỳ án chính là yếu tố “kỳ” Chính xác hơn là các yếu tố siêu nhiên hoặc tự nhiên trong tác phẩm chưa được khám phá, tường giải, nghiên cứu Tuy nhiên, giữa hai thể loại trên vẫn có những điểm khác biệt cơ bản như chúng tôi trình bày ở các mục trên
Nhìn lại lịch sử tiếp nhận, vì nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, truyền kỳ và kỳ án dù đã được các tác giả trung đại gọi tên nhưng chưa từng được phân tích, nghiên cứu, sắp xếp thể loại, phân chia loại hình một cách kỹ lưỡng Một phần vì khoa nghiên cứu văn học chỉ thực sự được hình thành trong nền văn học khu vực nói chung, văn học Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX Nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là sự tồn tại dai dẳng của một nền văn học chức năng, đề cao các loại hình “văn dĩ tải đạo thi dĩ ngôn chí” hơn là các sáng tác văn chương thuần túy Cũng chính vì lý do đó, truyền kỳ và kỳ án nói riêng, nhiều thể loại văn chương khác nói chung tuy có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài suốt một thời kỳ lịch sử kéo dài hàng thế kỷ nhưng cũng chỉ được xếp vào “ngoại thư”, ghi chép vụn vặt Chính từ ý thức “mua vui cũng được một vài trống canh” như vậy, các tác giả trung đại thường không nói nhiều, bàn bạc,
đi sâu phân tích vào các tác phẩm của mình Thậm chí, nhiều người còn sợ người đọc “hiểu đúng” phải kèm thêm hệ thống lời bình, lời răn phía dưới như một sự hướng đạo, hướng dẫn tiếp nhận văn bản Tình trạng văn bản vì vậy cũng không
được lưu giữ, sao chép cẩn thận Nhiều tác phẩm có giá trị như Truyền kỳ mạn