1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên ở một số trường đại học tại thành phố hồ chí minh

175 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 3,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những đề tài định hướng giá trị về tình yêu, hôn nhân, gia đình đã được nhiều tác giả trước đây tiến hành nghiên cứu trên nhiều đối tượng khác nhau, như: nữ giảng viên đại học, các vợ ch

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS TRẦN THỊ QUỐC MINH

Thành phố Hồ Chí Minh - 2019

Trang 3

Tôi xin cam kết đây chính là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hỗ trợ của giáo viên hướng dẫn là TS Trần Thị Quốc Minh Tất cả các nội dung được

đề cập đến trong trong đề tài này đều trung thực và xác tín, cụ thể: Phần nội dung lý luận được trích dẫn đầy đủ và có nguồn gốc rõ ràng; Phần kết quả nghiên cứu và số liệu hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào trước đây

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Pháp luật và Hội đồng về kết quả luận văn nếu phát hiện bất kì sự gian lận nào

Tác giả Nguyễn Thị Huỳnh An

Trang 4

Tôi vô cùng biết ơn tất cả Quý Thầy Cô, Phòng Sau đại học, tất cả các cá nhân

và tập thể đã hỗ trợ tôi trong từng giai đoạn thực hiện đề tài, vì nếu không có sự giúp

đỡ quý giá đó, cá nhân tôi không thể nào hoàn thành được đề tài nghiên cứu này Xin chân thành tri ân Tất cả!

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tập thể thầy cô và ban quản lí Trường Đại học Sư phạm, quí thầy cô khoa Tâm lí học cùng các thầy cô Phòng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến tất cả quý thầy cô trong hội đồng chấm đề cương vì đã hướng dẫn, tạo điều kiện để tôi hoàn thiện đề tài của mình trong bước đầu đầy bỡ ngỡ Xin chân thành tri ân Quý thầy cô!

Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn sinh viên của Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Quốc Tế Hồng Bàng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Sài Gòn, Trường Đại học Công nghiệp, Trường Đại học Kinh tế - Luật đã dành thời gian quý báu tham gia khảo sát; Quý Thầy quản lý ký túc xá Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Quý Thầy Cô bên phòng quản lý sinh viên của trường Đại học Quốc Tế Hồng Bàng đã rất tận tình giúp đỡ để tôi có thể tiến hành khảo sát với các bạn sinh viên

Sau cùng, Tôi xin chân thành gởi lời tri ân sâu sắc nhất dành cho giáo viên hướng dẫn: TS Trần Thị Quốc Minh Cô luôn nhắc nhở, chỉ dạy tôi bằng sự nhiệt tâm của Người thầy yêu trò, mong muốn học trò tốt lên từng ngày Và trên hết, tôi

vô cùng biết ơn tất cả sự dẫn dắt và hỗ trợ quý báu của Cô trong quá trình hoàn thành luận văn này Xin chân thành tri ân Cô!

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục bảng

Danh mục các hình

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ HÔN NHÂN CỦA SINH VIÊN 5

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.2 Tại Việt Nam 9

1.2 Giá trị và định hướng giá trị 13

1.2.1 Giá trị 13

1.2.2 Định hướng giá trị 21

1.3 Hôn nhân 26

1.3.1 Khái niệm hôn nhân 26

1.3.2 Động cơ của hôn nhân 27

1.3.3 Vai trò của hôn nhân 29

1.3.4 Đời sống vợ chồng 30

1.3.5 Đặc điểm của đời sống vợ chồng 39

1.3.6 Những yếu tố cần thiết để chuẩn bị cho cuộc hôn nhân hạnh phúc 40

1.4 Sinh viên và hôn nhân của sinh viên 40

1.4.1 Sinh viên 40

1.4.2 Các hoạt động cơ bản của sinh viên 41

1.4.3 Đời sống xúc cảm, tình cảm của sinh viên 42

1.4.4 Hôn nhân của sinh viên 43

Trang 6

1.5.2 Hệ thống giá trị hôn nhân 45

1.6 Định hướng giá trị hôn nhân và định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên 46

1.6.1 Định hướng giá trị hôn nhân 46

1.6.2 Định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên 47

1.7 Những yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên 48

1.7.1 Yếu tố bên trong 49

1.7.2 Yếu tố bên ngoài 50

Tiểu kết chương 1 53

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ HÔN NHÂN CỦA SINH VIÊN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 54

2.1 Thể thức nghiên cứu 54

2.1.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 54

2.1.2 Mô tả khách thể nghiên cứu 55

2.1.3 Mô tả công cụ nghiên cứu 60

2.2 Thực trạng định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên ở một số trường đại học tại TP Hồ Chí Minh 63

2.2.1 Nhận thức của sinh viên về hôn nhân hiện nay 63

2.2.2 Nhận thức của sinh viên ở một số trường đại học tại TP Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của các giá trị hôn nhân 68

2.2.3 Thái độ của sinh viên đối với các giá trị hôn nhân 78

2.2.4 Hành vi thể hiện các giá trị trong hôn nhân của sinh viên một số trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh 88

2.2.5 Mối tương quan giữa nhận thức – thái độ - hành vi trong định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên 105

2.2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên 106

2.3 Một số biện pháp nâng cao định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên 112

2.3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 112

Trang 7

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 122 TÀI LIỆU THAM KHẢO 126 PHỤ LỤC

Trang 8

ĐHGT : Định hướng giá trị

SV : Sinh viên

ĐHHB : Đại học Quốc tế Hồng Bàng

ĐHSP : Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh

ĐHNV : Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ĐHCN : Đại học Công Nghiệp

ĐHTN : Đại học Kinh Tế - Luật

Trang 9

Bảng 1.2 Hệ thống các giá trị trong hôn nhân 45

Bảng 2.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 54

Bảng 2.2 Kết quả kiểm định độ tin cậy của phiếu khảo sát 62

Bảng 2.3 Định nghĩa của sinh viên về hôn nhân 63

Bảng 2.4 Lựa chọn kiểu hôn nhân của sinh viên 64

Bảng 2.5 Quan điểm của sinh viên về hôn nhân 65

Bảng 2.6 Tâm thế của sinh viên về hôn nhân 66

Bảng 2.7 Sự khác biệt giữa nam - nữ và Tình trạng cặp đôi của sinh viên (có người yêu hoặc chưa người yêu) đối với tâm thế của sinh viên về hôn nhân 67

Bảng 2.8 Nhận thức chung về các giá trị hôn nhân 68

Bảng 2.9 Đánh giá của sinh viên về tầm quan trọng của các giá trị Đạo đức 69

Bảng 2.10 Đánh giá của sinh viên về tầm quan trọng của các giá trị kinh tế 71

Bảng 2.11 Đánh giá của sinh viên về tầm quan trọng của các giá trị pháp luật 72

Bảng 2.12 Nhận thức về các giá trị hôn nhân xét theo trường học 73

Bảng 2.13 Nhận thức về các giá trị hôn nhân xét theo năm học 74

Bảng 2.14 Nhận thức về các giá trị hôn nhân xét theo giới tính 75

Bảng 2.15 Nhận thức về các giá trị hôn nhân xét theo ngành học 76

Bảng 2.16 Nhận thức về các giá trị hôn nhân xét theo tình trạng 76

Bảng 2.17 Thái độ tích cực và tiêu cực về các giá trị hôn nhân 78

Bảng 2.18 Các nhận định tích cực trong nhón giá trị đạo đức 79

Bảng 2.19 Các nhận định tiêu cực trong nhóm giá trị đạo đức 82

Bảng 2.20 Các nhận định tích cực trong nhóm giá trị kinh tế 82

Bảng 2.21 Các nhận định tiêu cực trong nhóm giá trị kinh tế 83

Bảng 2.22 Các nhận định tích cực trong nhóm giá trị pháp luật 84

Bảng 2.23 Các nhận định tiêu cực trong nhóm giá trị pháp luật 84

Bảng 2.24 So sánh thái độ đối với các giá trị trong hôn nhân xét theo trường học 84

Bảng 2.25 So sánh thái độ đối với các giá trị trong hôn nhân xét theo năm học 85

Trang 10

trong hôn nhân 86

Bảng 2.28 So sánh về thái độ đối với các giá trị trong hôn nhân xét theo ngành học 87

Bảng 2.29 So sánh giữa các tinh trạng có người yêu hay không về thái độ đối với các giá trị trong hôn nhân 87

Bảng 2.30 Sự lựa chọn các hành vi tích cực trong các tình huống 88

Bảng 2.31 Hành vi liên quan đến các giá trị trong hôn nhân xét theo trường học 93

Bảng 2.32 Hành vi liên quan đến các giá trị trong hôn nhân xét theo năm học 97

Bảng 2.33 Hành vi liên quan đến các giá trị trong hôn nhân xét theo giới tính 100

Bảng 2.34 Hành vi liên quan đến các giá trị trong hôn nhân xét theo ngành học 101

Bảng 2.35 Hành vi liên quan đến các giá trị trong hôn nhân xét theo ngành học 103

Bảng 2.36 Mối tương quan giữa nhận thức, thái độ và hành vi trong ĐHGT hôn nhân 105

Bảng 2.37 Nhận thức chung về các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị hôn nhân 106

Bảng 2.38 Các yếu tố ảnh hưởng đến các giá trị hôn nhân 107

Bảng 2.39 Mức độ ảnh hưởng đến các giá trị trong hôn nhân xét theo trường học 109

Bảng 2.40 Mức độ ảnh hưởng đến các giá trị trong hôn nhân xét theo năm học 110

Bảng 2.41 Mức độ ảnh hưởng đến các giá trị trong hôn nhân xét theo giới tính 110

Bảng 2.42 Mức độ ảnh hưởng đến các giá trị trong hôn nhân xét theo ngành học 111

Bảng 2.43 Mức độ ảnh hưởng đến các giá trị trong hôn nhân xét theo tình trạng 111

Bảng 2.44 Mong muốn của sinh viên đối với gia đình, nhà trường và XH 115

Trang 11

Biểu đồ 2.2 Thái độ tích cực và tiêu cực về các giá trị hôn nhân 78 Biểu đồ 2.3 Nhận thức chung về các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị

hôn nhân 106

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

“Tình yêu và hôn nhân là lẽ sống của con người, nó cũng cần như cơm ăn, nước uống, áo mặc, nhà ở…” (Nguyễn Đình Xuân, 1993, tr.133) Quan điểm trên cho thấy hôn nhân mang tính quy luật tự nhiên của con người Trai lớn lấy vợ, gái lớn lấy chồng vốn là điều mà hầu như ai cũng phải trải qua Vì thế, hôn nhân được xem là sự kiện trọng đại đánh dấu sự trưởng thành, độc lập của một cá nhân

Bên cạnh đó, luật hôn nhân gia đình nêu rõ “hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn”, công báo/số 681 + 682/ ngày 16-7-2014, Luật Hôn Nhân Gia Đình Cho nên, hôn nhân còn được biết đến như “một hiện tượng xã hội, trong

đó, hai người khác giới được xã hội thừa nhận sống chung với nhau, gắn bó với nhau, có trách nhiệm với nhau và cùng có trách nhiệm trước xã hội” (Bùi Ngọc Oánh, 2006, tr.106)

Như vậy, hôn nhân vừa mang tính chất cá nhân vừa mang tính cộng đồng, xã hội Cụ thể hơn, Bác Hồ kính yêu đã nói “Nhiều gia đình mới cộng lại thành xã hội

Xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội chính là gia đình” (Nguyễn Minh Hòa, 1998, tr.17)

Hôn nhân quan trọng là vậy, nhưng hôn nhân tốt đẹp hay không lại phụ thuộc rất nhiều vào định hướng giá trị hôn nhân của từng cá nhân Nghĩa là nó phụ thuộc vào việc cá nhân đó có những ý nghĩ, những nhận thức, thái độ đối với hôn nhân như thế nào, từ đó dẫn đến các hành vi định hình nên tình trạng hôn nhân của họ trong đời sống Hay nói cách khác đó chính là khuynh hướng lựa chọn, hướng đến các giá trị trong hôn nhân và thực hiện nó của từng cá nhân

Ngày nay có các hiện trạng hôn nhân đáng kể của giới trẻ như “Bố/ mẹ đơn thân”, xu hướng kết hôn muộn, hoặc chọn lối sống độc thân Hay thực trạng “sống thử”, quan hệ trước hôn nhân, tự do tình dục, dễ dàng ly hôn… dẫn theo nhiều hệ lụy không hay cho xã hội, như theo cục thống kê, số vụ ly hôn đã xét xử phân theo địa phương và phân theo cấp xét xử: ở TP.HCM năm 2016 là 2.125 vụ, tăng hơn

531 vụ so với năm 2013 là 1.594 vụ Theo số liệu từ bệnh viện Từ Dũ, năm 2016 có 27.154 ca phá thai Sáu tháng đầu năm 2017 là 14.159 ca trong đó phá thai ở trẻ vị thành niên hơn 1000 ca Đây là một thực trạng rất đau lòng và như một tiếng chuông cảnh tỉnh cho toàn xã hội Đã đến lúc cần phải tìm hiểu về mối quan hệ giữa

Trang 13

giới trẻ và định hướng giá trị hôn nhân của họ ngày nay diễn ra như thê nào

Đặc biệt là đối với các nam nữ thanh niên sinh viên, họ là những nhân tố tiêu biểu cho thế hệ trẻ hiện nay Định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên là rất quan trọng, bởi vì ngoài nhiệm vụ học tập để trau dồi, phát triển bản thân thì việc chuẩn

bị để “Bắt đầu cuộc sống gia đình, học sống với đối tác hôn nhân” (Grace J.Craig, Don Baucum, 2004, tr.617) là nhiệm vụ chính yếu thứ hai của lứa tuổi này Như vậy, việc chuẩn bị cho đời sống hôn nhân cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng và căn cốt của lứa tuổi thanh niên sinh viên

Nghiên cứu về định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên chính là tìm hiểu cơ

sở tâm lý (nhận thức, thái độ, hành vi) mà sinh viên dựa vào đó để hiện thực hóa cuộc sống hôn nhân sau này của họ Từ đó có thể dự đoán được “làn sóng” hôn nhân trong xã hội tương lai và có những tác động đúng đắn để kịp thời điều chỉnh, cải thiện chất lượng hôn nhân của giới trẻ, cũng như hạn chế tất cả những hệ lụy từ thực trạng trong hôn nhân trong xã hội hiện nay

Đây chính là việc làm hết sức cấp thiết trong giai đoạn này của xã hội Vì nó góp phần cho việc cải thiện chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân, nó đóng góp cho

sự khỏe mạnh của từng gia đình, từng tế bào của xã hội Hay nói cách khác, nó góp phần cho sự phát triển lành mạnh của nước nhà, cải thiện chất lượng cuộc sống của mỗi công dân

Những đề tài định hướng giá trị về tình yêu, hôn nhân, gia đình đã được nhiều tác giả trước đây tiến hành nghiên cứu trên nhiều đối tượng khác nhau, như: nữ giảng viên đại học, các vợ chồng trẻ ở nông thôn, thanh thiếu niên, sinh viên,… nhưng vẫn còn bị hạn chế bởi khu vực “giới hạn nghiên cứu” ở tỉnh, địa phương, hoặc chỉ dừng lại ở “tình yêu” chứ chưa đi sâu vào đời sống hôn nhân của sinh viên tại TP HCM

Những thực trạng trên đã thúc đẩy người viết chọn nghiên cứu về “Định

hướng giá trị hôn nhân của sinh viên ở một số trường đại học tại TP.HCM”

cho đề tài luận văn thạc sĩ của mình Vì, nó vừa mang tính cấp thiết của đời sống xã hội, nó vừa đáp ứng được nhu cầu mở rộng nghiên cứu định hướng giá trị hôn nhân của khách thể là sinh viên hiện nay tại TP HCM

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên ở một số trường

Trang 14

đại học tại TP.HCM nhằm làm rõ xu hướng lựa chọn các giá trị hôn nhân của sinh viên thông qua các yếu tố tâm lý cơ bản là: nhận thức, thái độ, hành vi Và những yếu tố ảnh hưởng đến nó Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm tác động đúng đắn đến định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên ở một số trường đại học tại TP.HCM

3.2 Khách thể nghiên cứu

Sinh viên ở một số trường đại học tại TP.HCM

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

4.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu định hướng giá trị hôn nhân theo hướng tiếp cận tâm lý học giá trị Thông qua các chỉ báo về nhận thức, thái độ, hành vi đối với các giá trị đạo đức, giá trị kinh tế, giá trị pháp luật trong hôn nhân, được cụ thể hóa

từ những khía cạnh chính yếu của hôn nhân như tình yêu vợ chồng, các chức năng gia đình, luật hôn nhân gia đình

4.2 Giới hạn về khách thể

Sinh viên (sv) năm thứ nhất và sv năm cuối tại 6 trường đại học: ĐH Sư Phạm

TP HCM, ĐH Quốc Tế Hồng Bàng, ĐH KHXH&Nhân Văn, ĐH Công Nghiệp

TP HCM, ĐH Sài Gòn, ĐH Kinh tế - Luật

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên 5.2 Khảo sát thực trạng định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên ở một số

trường đại học tại TP.HCM và một số yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên

5.3 Đưa ra một số biện pháp nhằm tác động đúng đắn đến định hướng giá trị

hôn nhân của sinh viên ở một số trường đại học tại TP.HCM

6 Giả thuyết nghiên cứu

6.1 Đa số sinh viên tại TP.HCM đều có định hướng giá trị hôn nhân đúng đắn

Các sinh viên biết chọn lọc hài hòa giữa các giá trị đạo đức, kinh tế và chính pháp luật, nhưng giá trị đạo đức vẫn được ưu tiên quan tâm hơn các giá trị khác

Trang 15

trị-6.2 Có sự khác biệt trong nhận thức, thái độ, hành vi về các giá trị hôn nhân

của sinh viên theo trường, nhóm ngành tự nhiên và xã hội, giới tính và năm học

6.3 Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên,

trong đó yếu tố bên trong (yếu tố cá nhân) ảnh hưởng mạnh nhất

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Mục đích: Tập hợp, thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu có liên quan đến định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên ở một số trường đại học tại TP.HCM Cách tiến hành: Thu thập các tài liệu, học thuyết, bài viết, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến giá trị, định hướng giá trị trong tình yêu, hôn nhân, gia đình sau đó phân tích, tổng hợp, khái quát hóa nhằm xây dựng cơ sở

lý luận cho đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:

Mục đích: Thu thập ý kiến về định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên ở một

số trường đại học tại TP.HCM

Cách tiến hành: Phát phiếu thăm dò, sau đó phân tích đánh giá và hoàn thiện thành bảng hỏi để khảo sát trên diện rộng

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Mục đích: Tăng thêm độ tin cậy và những điểm cần được làm rõ hơn bằng bảng hỏi

Cách tiến hành: Phỏng vấn vài cá nhân có tham gia khảo sát bằng bảng hỏi

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Mục đích: Xử lý số liệu thu thập được để phục vụ cho việc chứng minh giả thuyết và biện luận kết quả nghiên cứu

Cách thực hiện: Sử dụng phần mềm thống kê SPSS nhằm xử lí số liệu thu thập được

Trang 16

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ HÔN NHÂN CỦA

SINH VIÊN 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề

 Những vấn đề liên quan đến giá trị, định hướng giá trị, hôn nhân và

định hướng giá trị hôn nhân ở nước ngoài và Việt Nam

1.1.1 Trên thế giới

Thuật ngữ giá trị đã được C Mác nhắc đến như sau: “loài người đã có quan

niệm về giá trị từ 5.000 – 7.000 năm trước, từ khi có trao đổi thực phẩm, hàng mỹ nghệ thủ công, khoáng sản…” (Phạm Minh Hạc, 2015, tr.13) Thật vậy, giá trị được con người biết đến từ khi có sự nhìn nhận đơn sơ nhất về giá trị của các nhu yếu phẩm, cho đến nửa sau thế kỷ XIX giá trị được nhìn nhận như một ngành học chuyên biệt và phát triển mạnh từ đấy Đỉnh điểm là đầu thế kỷ XX thì giá trị học được nâng lên thành một ngành khoa học độc lập, được nghiên cứu nghiêm túc hẳn hoi Nói như vậy để thấy rằng, sự nghiên cứu về giá trị luôn phát triển song hành cùng chiều dài lịch sử loài người và nó cũng cho thấy tính đa dạng, phức tạp và phong phú của thuật ngữ “giá trị”

Đặt nền móng cho sự hình thành của khoa học về giá trị thì phải nhắc đến những tên tuổi nổi bậc như: F Brentano (1838-1917), Mo (1873-1958), S Hátman (1910-1973),… trong đó có A Meinong (1853-1920) với tác phẩm “Nghiên cứu tâm lý học – Đạo đức học trong lý thuyết về giá trị” được công bố vào năm1894, với tác phẩm này ông đã đưa giá trị vào những nội dung đạo đức và ông đã xây dựng nên một hệ thống tri thức khoa học vững chắc về giá trị vào thời bấy giờ Đến cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX thì Selơ (1874-1928) là người đầu tiên đưa ra khái niệm giá trị bản thân (self value) trong tác phẩm Con người và giá trị bản thân, cũng như ông đã chỉ ra những cách phân loại giá trị cụ thể Vào năm

1939, J Dewey (1859-1952) cho ra đời tác phẩm Lý thuyết về giá trị và nhiều lý thuyết khác như: thuyết hệ quả, thuyết triết học hành dụng, thuyết công cụ,…) Đầu thế kỷ XXI cho đến nay có một số tác giả nổi bậc như Robert S Hartman (1910-1973), S.W Morit (1903-1979), Robert Ginsberg, Marcos Gojman,…

Trang 17

Những thành quả trên đã giúp thế hệ sau này được kế thừa, phát triển và vận dụng vào thực tiễn, mang lại lợi ích vô cùng thiết thực cho cuộc sống Năm 1988, Unesco đã phát hành tập tài liệu nghiên cứu về hệ thống cấu trúc của giá trị, hình thành bộ công cụ đo đạc, kiểm chứng giá trị, giúp cho những công trình nghiên cứu giá trị đúng hướng

Trong tâm lí học Xô Viết, các nhà tâm lí học chủ yếu tìm hiểu về định hướng giá trị dưới khía cạnh xu hướng nhân cách Xu hướng nhân cách này được phân tích theo nhiều cách khác nhau như “Động cơ tạo ý” (Leonchev), “Xu thế năng động” (Rubinstein), “Quan hệ chiếm ưu thế” (Miaxishev), “Tổ chức cơ động các sức mạnh bản chất của con người” (Pranghishvili) hay “Xu hướng sống cơ bản” (Ananhev) nhưng những quan điểm này đều được xây dựng dựa trên nền tảng chung là phương pháp luận Mác-xít; các nhà tâm lí học Xô Viết cho rằng “xu hướng là đặc điểm chủ đạo của nhân cách” (B.Ph.Lomov, 2000, tr.466)

Một số nước trên thế giới như: Đức, Pháp, Anh,… đã dựa vào định hướng giá trị để “phân luồng”, “phân ban” học sinh giúp các em chọn trường, chọn nghề đúng đắn phù hợp với bản thân Không những thế, định hướng giá trị còn được khảo sát thực tiễn một cách rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới cho nhiều khách thể khác nhau tùy theo tính chất cũng như yêu cầu của nghiên cứu, để có thể đưa ra những kết luận khoa học cũng như những dự đoán cần thiết để phục vụ cho đời sống Điển hình như: Mĩ, Nhật, Trung Quốc, Indonesia, Nauy đã tiến hành điều tra trên đối tượng là sinh viên tại các trường đại học để tìm hiểu về cách sống của họ (Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên, 2012, tr 37)

Thời gian sau này, nhiều nước trên thế giới đã vận dụng những nền tảng nghiên cứu, học thuật khổng lồ về giá trị vào thực tiễn xây dựng lối sống, đạo đức

và chuẩn giá trị xã hội cho quốc gia của họ, bao gồm: Canada, Ba Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, nhằm đem lại sự thống nhất về tư tưởng, hành động cho toàn dân, đưa quốc gia họ phát triển an toàn, đúng đắn Điển hình, ở Thái Lan vào những năm 1970 đã công bố những giá trị cơ bản cho toàn dân như sau “Tự học, siêng năng có tinh thần trách nhiệm; biết chi tiêu khéo léo và tiết kiệm; làm theo lời dạy bảo của tôn giáo; tuân thủ pháp luật; yêu nước, yêu tôn giáo và Nhà

Trang 18

Vua” (Huỳnh Khái Vinh, 2001, tr.185)

Như vậy, có thể thấy rằng thuật ngữ “giá trị” và “định hướng giá trị” hoàn toàn không hề xa lạ đối với các nhà khoa học nói riêng và các quốc gia trên toàn thế giới nói chung Đặc biệt trong các lĩnh vực có liên hệ chặt chẽ với giá trị học như tâm lý học và giáo dục học thì “giá trị” và “định hướng giá trị” càng phát huy giá trị của chúng trong quá trình nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn đời sống

Tình yêu hôn nhân của nhân loại là một mảng chủ đề bao la, rộng lớn và có

lịch sử còn lâu đời hơn cả thuật ngữ “giá trị” và “định hướng giá trị” Có thể nói, tình yêu hôn nhân luôn là đề tài muôn thưở của mọi lĩnh vực trong đời sống Từ thơ

ca, văn chương nghệ thuật đến các ngành khoa học đều lấy chủ đề này để làm đối tượng cho sự sáng tạo

Ngành khoa học về tâm lý cũng không ngoại lệ, từ trước đến nay đã có vô số những nghiên cứu, những thực nghiệm về mảng chủ đề rộng lớn này, sau đây là một vài thực nghiệm và lý thuyết về tình yêu hôn nhân trong vô vàn những nghiên cứu

về hôn nhân trên khắp thế giới

Tác giả Blood (1967) đã tiến hành thực nghiệm về sự tiến triển của liên hệ vợ chồng Thực nghiệm cho thấy rằng trong tình yêu vợ chồng nếu “những liên hệ tình yêu, tình dục và giao tiếp kém đi thì những liên hệ vợ chồng sẽ trở nên hời hợt” (Trần Thị Minh Đức, 2008, tr.132)

Công trình của các nhà nghiên cứu Lois Verbrugge và James House từ đại học Michigan chỉ ra rằng những cuộc hôn nhân không hạnh phúc có thể làm tăng khả năng nhiễm bệnh của một người lên đến 35% và có thể giảm trung bình 4 năm tuổi thọ (John M Gottman, Nan Silver, 2016, tr.10)

Nghiên cứu về thái độ của những người đang yêu được thực hiện bởi tác giả Hendrrick (1988) đã nhận thấy rằng “những người đang yêu có thái độ về tình yêu khác với những người đang không có tình yêu” và “những người đang yêu có thể chia sẻ lòng vị tha hơn đối với bạn mình” (Trần Thị Minh Đức, 2008, tr.132)

Byrne (1961) đã chứng minh rằng con người có xu hướng thích những người giống mình Thực nghiệm cho thấy “Chúng ta có khuynh hướng thích những người giống mình về thái độ và ý kiến, quan niệm và sở thích” và “con người thường có

Trang 19

xu hướng cưới người có cùng địa vị, cùng chủng tộc hay trình độ giáo dục giống mình” (Trần Thị Minh Đức, 2008, tr 153)

Nhà tâm lý học thuộc đại học Texas, David Buss đã tiến hành nghiên cứu về những lợi ích của ghen tuông Ông kết luận rằng “ghen tuông ở chừng mực nhất định sẽ mang lại ít nhất ba lợi ích: giúp tổ tiên của chúng ta dđảm bảo được thế hệ sau là “của mình”, giúp tình cảm gắn bó hơn, và giúp định hướng tính cách cho trẻ” Theo ông “ghen tuông là một dạng tình cảm giúp con người dò tìm, nhận biết và ngăn cản sự không chung thủy” (Trần Thị Minh Đức, 2008, tr.137)

Nhà trị liệu về cặp đôi, hôn nhân hàng đầu tại Mỹ hiện nay là John M Gottman, ông vừa trị liệu vừa tiến hành nghiên cứu trên 700 cặp vợ chồng, từ những cặp vợ chồng mới cưới cho đến đang có con nhỏ, hay thậm chí là đã sống một quãng thời gian dài vài chục năm với nhau Ông đã đúc kết ra 7 nền tảng (yếu tố) không thể thiếu giữa hai vợ chồng nếu muốn duy trì và phát triển cuộc hôn nhân được bền vững và hạnh phúc

Gary Chapman người sáng lập ra tập đoàn tư vấn hôn nhân và đời sống gia đình có trụ sở tại Mỹ, cũng đã đưa ra lý thuyết “Năm ngôn ngữ tình yêu” để giúp cho các cặp vợ chồng hiểu về cách trao đi và đón nhận tình yêu thương phù hợp với mong đợi của bạn đời Điều này cũng có nghĩa là giúp cho các cặp đôi hiểu biết về nhau, yêu thương và gắn bó với nhau bền chặt hơn

Một học thuyết có thể gọi là kinh điển khi nhắc đến tình yêu hôn nhân đó chính là học thuyết về “Tam giác tình yêu” của Robert Sternberg Với học thuyết này ông đã chỉ ra ba thành tố chính để cấu thành nên một tình yêu toàn vẹn, đó là: thân mật (hiểu), hấp lực thể xác (sex) và cam kết (trách nhiệm) Và cũng dựa trên ba yếu tố này, ông cũng đã phân định ra những kiểu tình yêu khác nhau mà người ta thường gặp phải trong cuộc sống

Ngoài ra, còn một khối lượng đáng kể những công trình nghiên cứu về hôn nhân cũng như rất nhiều những tác giả, tâm lý gia có những đóng góp nổi bật cho chủ đề muôn thưở này của loài người Nhưng trong khuôn khổ đề tài, người viết chỉ xin ghi nhận vài nghiên cứu và học thuyết điển hình để đóng góp vào phần lịch sử nghiên cứu về hôn nhân trên thế giới

Trang 20

1.1.2 Tại Việt Nam

Những chủ đề liên quan đến giá trị, định hướng giá trị không những là các

đề tài được quan tâm và nghiên cứu rất nhiều trên thế giới vào những năm cuối thế

kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, mà ở Việt Nam cũng không ngoại lệ Riêng ở nước ta, cuộc điều tra giá trị đầu tiên được diễn ra vào đầu những năm 1990 trong chương trình khoa học công nghệ nhà nước KX07, sau đó có thêm cuộc điều tra giá trị xã hội KX.05.07 vào những năm đầu thế kỷ XXI và thêm 11 cuộc điều tra giá trị nhân cách khác, điển hình như sau:

Từ năm 1991 – 1995 tiến hành chương trình KX.07: “Con người – mục tiêu

và động lực phát triển kinh tế - xã hội” do giáo sư Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm

Trong chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX.07 có hai đề tài

nghiên cứu giá trị nhân cách và giá trị xã hội đã được trình bày, đó là: Định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị, KX.07.04 của Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang và Nghiên cứu con người Việt Nam trong kinh tế thị trường: các quan điểm và phương pháp tiếp cận, KX.07 của Thái Duy Tuyên (Phạm Minh

Hạc, Thái Duy Tuyên, 2011, tr.18)

Vào đầu những năm 2000, đại học Glasgow, Scotland hợp tác với Viện nghiên cứu con người thuộc Viện khoa học xã hội Việt Nam đã tiến hành một cuộc điều tra giá trị ở Việt Nam theo yêu cầu của nhà trường Tiếp đó là Cuộc điều tra giá trị ở các nước Đông Nam Á được chuẩn bị vào năm 2004 và tiến hành triển khai từ 2005

- 2006 ở Việt Nam (Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên, 2011, tr.19)

Chương trình khoa học cấp nhà nước KX.05: “Xây dựng văn hóa – phát triển con người phục vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa” có đề tài KX.05-07: “Nghiên cứu con người Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập quốc tế” tiến hành điều tra giá trị xã hội theo thiết kế

của đề tài và điều tra giá trị nhân cách theo mẫu nghiên cứu nhân cách mới gọi là NEO-PIR (Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên, 2011, tr.20)

Bên cạnh đó cũng có những tác phẩm có thể nói là điển hình, đặc trưng khi nói

đến giá trị, định hướng giá trị ở Việt Nam, như: Giá trị tinh thần truyển thống của Dân tộc Việt Nam của Trần Văn Giàu, Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam (với

Trang 21

tâm lý học và giáo dục học) của Phạm Minh Hạc; Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn của Hà Nhật Thăng; Một số vấn đề về lịch sử, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội của Huỳnh Khái Vinh, Định hướng giá trị của sinh viên-con em cán bộ khoa học của Vũ Hào Quang,…

Ngoài ra còn có khá nhiều những công trình nghiên cứu cho luận văn, luận án

được chọn lọc theo đề tài định hướng giá trị, như: luận án tiến sĩ “Định hướng giá trị văn hóa của học viên đào tạo sĩ quan trong các trường quân đội” của tác giả Nguyễn Vương Bình, luận văn thạc sĩ “Định hướng giá trị nghề nghiệp của sinh viên chuyên ngành Tâm lý học ở một số trường đại học tại TP Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Thị Dương Liễu, luận văn thạc sĩ “Thực trạng định hướng giá trị đạo đức của sinh viên Sư Phạm TP Hồ Chí Minh” của tác giả Hoàng Anh, luận văn thạc sĩ “Định hướng nghề của sinh viên ngành Tâm lý học trường ĐH Sư Phạm TP

Hồ Chí Minh” của tác giả Phạm Thị Thúy Hằng,… Và rất nhiều những bài viết, bài

báo cáo về các nghiên cứu định hướng giá trị được đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành

Những điều trên cho thấy, Việt Nam ta đã tiếp thu, kế thừa và phát triển giá trị học hết sức nghiêm túc và mang tính ứng dụng cao nhất là trong lĩnh vực giáo dục,

xã hội, tâm lý,… Từ những cánh chim đầu đàn như: Trần Văn Giàu, Phạm Minh Hạc, Hà Nhật Thăng,… cho đến những nhà nghiên cứu và các tác giả sau này vẫn luôn trân trọng và phát huy việc nghiên cứu về giá trị Điều này đã chứng minh được tầm quan trọng của việc nghiên cứu “giá trị” và “định hướng giá trị” trong thực tiễn cuộc sống

Nói đến Hôn nhân và định hướng giá trị hôn nhân tại Việt Nam thì phải kể

đến những tác giả và công trình nghiên cứu của họ sau đây:

Tác giả Nguyễn Minh Hòa là người đã dành suốt 12 năm liên tục từ 1986 đến

1998 để tập trung nghiên cứu về hôn nhân và gia đình Việt Nam, chủ yếu là ở thành phố Hồ Chí Minh Đặc biệt, công trình nghiên cứu “Nhận diện và dự báo về hôn nhân và gia đình ở thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện từ năm 1995-1998 đã mang lại tiếng vang lớn giúp ông nhận được hai giải thưởng lớn từ Ủy Ban Dân Số

và kế hoạch hóa gia đình Quốc gia và hội nhà báo Việt Nam

Trang 22

Nghiên cứu này không những đã cho thấy được tổng quan hết sức thiết thực về hôn nhân gia đình Việt Nam trong thời kỳ đổi mới của nền kinh tế thị trường nước nhà, mà còn dự báo được rất chuẩn xác những sự thay đổi, những xu hướng trong tương lai của hôn nhân gia đình người Việt ta, cụ thể như: “kiểu gia đình đơn chiếm

ưu thế hơn, kết cấu gia đình lỏng lẻo hơn, các vụ ly hôn sẽ tăng nhanh, nam-nữ thanh niên sẽ kết hôn muộn, các yếu tố hòa hợp về tinh thần và học vấn sẽ được đề cao trong hôn nhân, xu hướng quan hệ tình dục trước hôn nhân sẽ gia tăng,…” Phạm Minh Hạc và Thái Duy Tuyên đã thực hiện công trình nghiên cứu về

“Định hướng giá trị con người Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập” Công trình này đã dành hẳn một chương để tìm hiểu về tình yêu, hôn nhân, gia đình Những nhận định về hôn nhân gia đình, những quan niệm về tình yêu, những tiêu chuẩn lựa chọn bạn trai - bạn gái, những hiểu biết để giúp quan hệ vợ chồng được tốt đẹp, những vấn đề liên quan đến con cái, cha mẹ, ông bà,… đều được nêu ra và làm sáng

tỏ qua những cuộc khảo sát

Năm 2009, theo Quyết định số 94/2008/QĐ-TT ban hành ngày 10 tháng 7 năm

2008 của Thủ tướng Chính phủ, nước ta đã làm cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở với quy mô trên toàn quốc, đây cũng là cuộc tổng điều tra lần thứ tư kể từ sau khi đất nước thống nhất vào năm 1975 Ngoài những thông tin đặc thù về dân số, cuộc điều tra này cũng đã cho thấy hiện trạng về hôn nhân ở nước ta hiện nay như: cơ cấu tình trạng hôn nhân, tuổi kết hôn lần đầu trung bình hiện nay, tình trạng kết hôn sớm, kết hôn muộn, tình trạng ly hôn, ly thân,… Cuộc tổng điều tra này đã cho thấy đầy đủ bức tranh toàn cảnh về những đặc thù, cũng như những hiện trạng và dự báo cho hôn nhân ở nước ta trong tương lai

Tác giả Dương Thị Minh tìm hiểu về “Gia đình Việt Nam và vai trò người phụ

nữ trong giai đoạn hiện nay” Trong tài liệu này, tác giả nêu ra cụ thể những đóng góp quý báu của phụ nữ trong việc tạo ra và hoàn thiện các chức năng gia đình, như: thực hiện chức năng tái sản xuất ra con người của gia đình, thực hiện chức năng giáo dục của gia đình, thực hiện chức năng kinh tế, thực hiện chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm lý, tình cảm của gia đình,… và những đặc điểm nổi bật của gia đình Việt Nam nói chung

Trang 23

Bên cạnh đó, còn có rất nhiều những tài liệu mang đầy tính khoa học tâm lý về hôn nhân gia đình đáng kể như: Tâm lý học tình yêu và gia đình của tác giả Nguyễn Đình Xuân, Tâm lý học giới tính và Giáo dục giới tính của tác giả Bùi Ngọc Oánh, Văn hóa tâm lý gia đình của Vũ Hiếu Dân - Ngân Hà,… Có thể nói, những nghiên cứu, tài liệu về hôn nhân gia đình của tất cả tác giả trên là nguồn tài liệu vô cùng quý giá cho những ai đang tìm tòi và nghiên cứu về hôn nhân gia đình ở Việt Nam Riêng về mảng đề tài “định hướng giá trị trong tình yêu, hôn nhân và gia đình”, từ trước đến nay đã có không ít tác giả tiến hành nghiên cứu trên nhiều đối tượng khách thể như: vị thành niên, thanh thiếu niên, sinh viên, các nữ giảng viên đại học,… Có thể kể đến một vài đề tài cụ thể như sau:

Tác giả Hà Thị Minh Khương đã viết bài báo khoa học về “Thanh thiếu niên

và các giá trị về tình yêu, hôn nhân và cách ứng xử trong cuộc sống” được đăng trên tạp chí khoa học Nghiên cứu Gia đình và Giới số 3-2010 Kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng những giá trị truyền thống như: dù chồng thành công hay thất bại phụ

nữ vẫn nên sát cánh bên chồng, phụ nữ không nên tỏ tình trước,… vẫn còn được thanh thiếu niên coi trọng và có những giá trị mới trong tình yêu hôn nhân đang được định hình và phát triển

Gần đây, có nghiên cứu về “Định hướng giá trị trong tình yêu – hôn nhân và gia đình của sinh viên Đại học Cần Thơ” của tác giả Trần Thị Phụng và Nguyễn Ngọc Lẹ Nghiên cứu đã đo được nhiều khía cạnh trong tâm tư tình cảm của sinh viên về tình yêu, hôn nhân, gia đình như: những quan niệm về tình yêu, quan điểm

về việc sống thử, thời điểm dự định kết hôn, các yếu tố đảm bảo hạnh phúc gia đình, những phẩm chất đạo đức và tính cách mà sv mong muốn người bạn đời trong tương lai có được,… và cũng chỉ ra rằng phần lớn sinh viên mong muốn và xem trọng tình yêu chân thật đến từ hai phía, coi đó như nguồn động lực lớn để học tập phát triển bản thân Tuy nhiên, vẫn có một số ít sinh viên quan niệm rằng tình yêu ngày nay cần phải có vật chất, bị chi phối bởi vật chất, sự hào nhoáng bên ngoài Nhìn chung, nghiên cứu này mang tính thực tiễn và giá trị cao, tuy nhiên khách thể nghiên cứu vẫn còn nằm trong phạm vi của một đơn vị riêng lẻ, chưa có tính phổ quát cao

Trang 24

Cũng gần thời điểm trên, tác giả Lê Nguyễn Anh Như chọn “Định hướng giá trị trong tình yêu của sinh viên một số trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình Nghiên cứu đi sâu vào nhận thức, thái độ, hành vi của sinh viên về ba yếu tố chính cấu thành nên tình yêu, dựa trên học thuyết Tam giác tình yêu của Robert Sternberg, từ đó tìm hiểu về định hướng giá trị trong tình yêu của sinh viên tại các trường đại học ở thành phố Hồ Chí Minh

Trong đề tài này, tác giả đã nêu ra được những quan điểm rất gần gũi với thực

tế đời sống của sinh viên như: những mong muốn về tình dục, những tâm tư tình cảm, mong muốn về trình độ học vấn, mong muốn về đạo đức của người yêu,… và nghiên cứu cũng chỉ ra được định hướng giá trị tình yêu của sinh viên diễn ra theo hướng tích cực và thống nhất giữa ba yếu tố chính trong tình yêu, tuy nhiên mối tương quan giữa ba mặt nhận thức, thái độ và hành vi của sinh viên lại rất thấp Nhưng do phạm vi giới hạn của của đề tài chỉ nghiên cứu về tình yêu Nên hiện nay, vẫn còn một mảng chủ đề rất lớn, đó là về hôn nhân vẫn chưa được đề cập đến

Kế thừa và mở rộng từ những đề tài nghiên cứu trên, người viết chọn “Định hướng giá trị hôn nhân của sinh viên ở một số trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ của mình Đề tài này vừa mang yếu tố kế thừa, phát huy, vừa xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn về hiện trạng hôn nhân ở nước ta, đặc biệt là đối với các bạn trẻ ngày nay

1.2 Giá trị và định hướng giá trị

1.2.1 Giá trị

a Khái niệm giá trị

Khởi nguồn của từ “giá trị” là AXIA một từ gốc Hy Lạp (Vũ Hào Quang,

2000, tr.17) và bản thân của giá trị là một khái niệm rộng lớn, có rất nhiều quan điểm khác nhau về giá trị Trên những phương diện khác nhau như kinh tế học, xã hội học, đạo đức học, hay trên những giai tầng khác nhau, những nhận thức khác nhau… sẽ cho ra nhiều cách hiểu khác nhau về giá trị Nhưng nhìn chung, giá trị thường được đặt vào mối quan hệ giữa con người và hiện thực khách quan Trong khuôn khổ của nghiên cứu này, người viết lần lượt tìm hiểu khái niệm giá trị thông

Trang 25

qua: nguồn các từ điển; theo cái nhìn của các nhà khoa học trong và ngoài nước; dưới quan điểm của các ngành khoa học

Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên cho rằng “giá trị là cái làm cho một vật có ích lợi, có ý nghĩa, là đáng quý về một mặt nào đó” (Hoàng Phê,

2018, tr 487)

Từ điển Hán Việt (Nxb ĐH Quốc Gia TP.HCM ), giá trị có hai nghĩa “1 Có ích lợi về một mặt nào đó, 2 Tác dụng, hiệu lực trong một khoảng thời gian nhất định” (Lê Hữu Thảo, Trần Văn Nam,2002, tr 172)

Theo Từ điển Tâm Lí Học, GT là những gì có ích, có ý nghĩa của sự vật, hiện tượng tự nhiên hay XH, có khả năng thỏa mãn nhu cầu và phục vụ lợi ích của con người Các sự vật hiện tượng được nhìn nhận dưới góc độ có ý nghĩa hay không có

ý nghĩa, có ý nghĩa tích cực hay không tích cực đối với đời sống XH Người ta phân loại GT theo nhiều cách khác nhau GT thiên nhiên (môi trường sống, tài nguyên…), GT văn hóa lịch sử (thiết chế giáo dục, y tế, công trình kiến trúc, tác phẩm văn học nghệ thuật), GT tinh thần (tư tưởng, lí tưởng, niềm tin, quan niệm…),

GT vật chất, GT XH (dân chủ, công bằng, tự do…), GT nhận thức, GT đạo đức, GT thẩm mỹ… (Vũ Dũng, 2008, tr 209)

Tựu chung lại, mỗi từ điển cho ra một khái niệm giá trị khác nhau nhưng đều

có điểm chung là giá trị mang tính ích lợi, có ý nghĩa

Các tác giả như V.Diltei, O.Spengler, A.Tombi, P.Sookin, M.Veber theo chủ nghĩa tương đối luận về lịch sử - văn hóa cho rằng “giá trị là những chuẩn mực và phương thức tồn tại của sự vật có ý nghĩa đối với chủ thể” (Huỳnh Khái Vinh,

2001, tr.113-114)

Theo Linton thì giá trị “là tất cả những yếu tố tồn tại chung trong một loại tình huống, gợi lên những phản ứng bên trong của cá nhân” (Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên, 2011, tr.38)

Joseph H Fichter, nhà xã hội học người Mĩ cho rằng giá trị là “tất cả cái gì có ích lợi, đáng ham chuộng, đáng kính phục đối với cá nhân hoặc XH đều có một GT” (Vũ Hào Quang, 2000, tr.25)

Trang 26

Tsunesaburo Makiguchi, nhà giáo dục người Nhật, cũng là người đầu tiên mang phương pháp tiếp cận giá trị vào giáo dục, với mong muốn giáo dục những giá trị tốt đẹp cho con người Ông tin rằng “giá trị là sự thể hiện có tính định hướng mối quan hệ giữa chủ thể đánh giá với đối tượng của việc đánh giá” (Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên, 2011, tr.50)

Theo Phạm Minh Hạc “GT là tính có nghĩa tích cực, đáng quý, có ích của các đối tượng với các chủ thể” (Phạm Minh Hạc,1996, tr 301)

Tác giả Huỳnh Khái Vinh cho rằng “giá trị là các tư tưởng bao quát được cùng nhau tin tưởng mạnh mẽ ở một nhóm người, một giai tầng, một dân tộc, hoặc một thời đại về cái gì là đúng, sai, thiện, ác, hợp lý, không hợp lý, xấu, tốt” (Huỳnh Khái Vinh, 2001, tr 52)

Theo Thái Duy Tuyên, có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm GT, thông thường có thể hiểu GT là cái đáng quí, cái cần thiết, có ích lợi, có ý nghĩa, thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, của giai cấp, nhóm, XH nói chung GT là một phạm trù lịch sử, thay đổi theo thời gian; là một phạm trù XH, phụ thuộc vào tính chất của dân tộc, tôn giáo, cộng đồng (Thái Duy Tuyên, 1998,

“giá trị như là sản phẩm của loài người và con người” (Phạm Minh Hạc, 2007, tr.122)

Dưới cái nhìn của Xã hội học, giá trị được quan tâm ở nội dung, nguyên nhân, điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể trong quá trình hình thành hệ thống giá trị nhất định của một xã hội (Trần Ngọc Khuê, 1998, tr 74) Hay, cụ thể hơn như quan điểm về giá trị của các nhà xã hội học cận đại, giá trị là “tất cả những gì mang lại nội dung

Trang 27

và ý nghĩa cho các thành viên của nhóm xã hội đều là giá trị xã hội” (Vũ Hào Quang, 2000, tr.21)

Ở góc độ của Giá trị học thì “giá trị là cái quy định mục đích của hoạt động” Nên giá trị tác động vào nhận thức làm cho chủ thể có những đánh giá, lựa chọn, có ước muốn đạt được một điều gì đấy Từ đó hình thành nên thái độ và hành vi của chủ để để đạt được mục đích của mình (Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên, 2011, tr 23)

Tóm lại, giá trị dù được hiểu theo nhiều phương diện, nhiều quan điểm khác nhau nhưng vẫn mang những điểm chung sau đây:

- Tất cả những gì mang tính ích lợi, có ý nghĩa, cần thiết và thỏa mãn nhu cầu của chủ thể, giúp chủ thể phát triển theo chiều hướng tốt đẹp, đi lên đều có giá trị

- Giá trị tác động vào nhận thức, dẫn dắt thái độ, hành vi của chủ thể

- Giá trị thay đổi theo thời gian và theo kiến trúc thượng tầng của từng hình thái xã hội

Người viết tích hợp khái niệm giá trị từ những quan điểm nêu trên, trong phạm

vi nghiên cứu của đề tài này khái niệm giá trị được hiểu: Giá trị là những gì mang

tính ích lợi, có ý nghĩa tốt đẹp của khách thể đối với chủ thể Nó thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể và giúp chủ thể hướng đến những điều tốt đẹp trong cuộc sống

b Phân loại giá trị

Giá trị được hiểu theo từng quan điểm khác nhau, do đó phân loại giá trị cũng được phân theo sự đặc trưng của từng góc độ nhìn nhận giá trị

- Theo khoa học về giá trị, thường có 13 loại giá trị như sau: “giá trị thẩm mỹ, giá trị môi trường, giá trị cá thể, giá trị sức khỏe, giá trị chính trị, giá trị tôn giáo, giá trị xã hội, giá trị văn hóa, giá trị giáo dục, giá trị đạo đức - luân lý, giá trị luật lệ, giá trị giải trí, giá trị khoa học” (Phạm Minh Hạc, 2015, tr 17)

- Xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, thông thường giá trị được chia ra làm hai

mảng lớn đó là giá trị tinh thần và giá trị vật chất, do thỏa mãn được các nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người Giá trị vật chất được biết đến như giá trị kinh tế

Trang 28

và giá trị sử dụng Giá trị tinh thần thường là giá trị đạo đức, giá trị tôn giáo, giá trị khoa học, giá trị pháp luật, giá trị chính trị

- Theo Phạm Minh Hạc, “ba giá trị quan trọng luôn có mặt trong hệ giá trị cá nhân cũng như quốc gia – dân tộc, là những giá trị phổ quát của toàn nhân loại được khái quát thành ba phẩm hạnh chung của loài người chính là: Chân, Thiện, Mỹ” (Phạm Minh Hạc, 2012, tr.87)

- Dưới quan điểm của Giá trị học, giá trị được chia làm hai nhóm căn bản là giá trị cá thể (còn gọi là giá trị nhân cách) và giá trị của cộng đồng (còn gọi là giá trị

xã hội) (Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên, 2011, tr.24)

- Theo UNESCO có bốn nhóm giá trị:

1 Nhóm giá trị cốt lõi bao gồm: hòa bình, tự do, việc làm, gia đình, sức khỏe,

an ninh, tự trọng, công lý, tình nghĩa, sống có mục đích, niềm tin, tự lập, nghề nghiệp, học vấn

2 Nhóm giá trị cơ bản: sáng tạo, tình yêu, chân lý

3 Nhóm giá trị có ý nghĩa gồm có cuộc sống giàu sang và cái đẹp

4 Nhóm giá trị không đặc trưng tập trung vào địa vị xã hội (Huỳnh Khái Vinh, 2001, tr.60)

- Tác giả Trần Văn Giàu đưa ra một khái niệm rất đáng để xem qua về giá trị

đó là “giá trị tinh thần truyền thống của một dân tộc”, được hiểu là “những nguyên

lý đạo đức lớn mà con người trong nước thuộc các thời đại, các giai đoạn lịch sử đều dựa vào để phân biệt phải trái, để nhận định nên chăng, nhằm xây dựng độc lập,

tự do và tiến bộ của dân tộc đó” (Trần Văn Giàu, 1980, tr 50-51)

- Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng có những giá trị:

Giá trị hiện hữu (còn gọi là giá trị bộc bạch) là các giá trị đang tồn tại trong não được phát biểu ra bằng phán đoán (thái độ) đối với một giá trị nào đấy

Giá trị tiềm tàng (giá trị ẩn dụ) là các giá trị cũng tồn tại trong não người nào

đó, nhưng chưa phát biểu ra thành phán đoán, chưa bộc lộ thái độ đối với một giá trị nào đó

Ngoài ra còn có các giá trị như: giá trị cốt yếu (giá trị khởi thủy), giá trị sống còn, giá trị vĩnh hằng, giá trị nhân loại… (Phạm Minh Hạc, 2007, tr.108-109)

Trang 29

Cũng theo tác giả Phạm Minh Hạc (2013), theo sứ mệnh nghiên cứu con người

và nghiên cứu giá trị, có thể phân loại giá trị như sau:

Giá trị cội nguồn – giá trị loài người: tính người, tình người;

Giá trị phổ quát nhất: chân, thiện, mỹ;

Giá trị cơ bản nhất: giá trị sống còn;

Giá trị gốc: lao động;

Giá trị quan trọng nhất trong nhân cách: quan hệ người – người;

Giá trị cao quý nhất: trách nhiệm xã hội;

Giá trị khởi đầu: gia đình;

Giá trị thời đại cộng hòa: dân chủ và nhân quyền

- Theo quan điểm hệ thống - cấu trúc (căn cứ vào các lĩnh vực hoạt động của con người) giá trị được chia thành các loại:

1 Giá trị nhân văn: biểu thị sự tôn trọng và yêu thương con người, thừa nhận quyền phát triển tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc

2 Giá trị đạo đức: biểu hiện ở những chuẩn mực quy định mối quan hệ người – người, người với giới tự nhiên và xã hội (gia đình, cộng đồng,…) trên tinh thần yêu thương hay hận thù, tôn trọng hay không tôn trọng, sự phát triển hay kìm hãm tài năng, tự do và hạnh phúc

3 Giá trị văn hóa: là các giá trị gắn liền với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ trên cơ sở tiến bộ xã hội và biểu hiện ở đạo đức và lối sống có văn hóa cũng như sự phát triển toàn diện của con người

4 Giá trị chính trị, pháp luật: biểu hiện thái độ với việc giành và giữ chính quyền, thể chế nhà nước, với quyền lợi dân tộc, giai cấp, cộng đồng; và thể hiện ở quyền công dân, mối quan hệ bình đẳng, công bằng, tự do và dân chủ, niềm tin và

lý tưởng,…

5 Giá trị kinh tế: là những giá trị hướng vào sự hoạt động của nghề nghiệp, lao động, sản xuất, kinh doanh, các hình thức sở hữu, thu nhập và đời sống vật chất,

sự giàu nghèo và hưởng thụ,… (Huỳnh Khái Vinh, 2001, tr.60-61)

Như vậy, ở mỗi góc độ nhìn nhận về giá trị sẽ có sự phân loại giá trị khác nhau, mang đặc thù riêng của góc nhìn Trong khuôn khổ nghiên cứu này, người

Trang 30

viết phân loại giá trị theo cách tiếp cận hệ thống mà GS TSKH Huỳnh Khái Vinh

đề cập đến, nhưng trên cơ sở chọn lọc ba nhóm giá trị tiêu biểu phù hợp với đặc trưng của đề tài nghiên cứu, cụ thể:

Nhóm giá trị đạo đức: là những giá trị quy định những những khuôn mẫu

ứng xử lý tưởng, những chuẩn mực đạo đức trong cộng đồng, trong xã hội Hướng con người sống thiện lương, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau

Nhóm giá trị kinh tế: là những giá trị thể hiện sự đóng góp, trao đổi công

sức, trí tuệ của con người vào nghề nghiệp, lao động, sản xuất, kinh doanh, các hình thức sở hữu, thu nhập và mọi mặt của đời sống vật chất

Nhóm giá trị chính trị - pháp luật: là những giá trị thể hiện quyền lợi dân

tộc, giai cấp, quyền công dân, mối quan hệ bình đẳng, công bằng, tự do và dân chủ, niềm tin và lý tưởng của công dân trong xã hội đó

Có thể thấy rằng ba nhóm giá trị trên bao hàm cả giá trị vật chất lẫn tinh thần,

và được xem là những nhóm giá trị tiêu biểu, thiết yếu trong đời sống của con người

c Một số khái niệm liên quan đến giá trị

Phần một số khái niệm liên quan đến giá trị này bao gồm bốn khái niệm công

cụ cơ bản luôn gắn liền với giá trị, đó là: hệ giá trị, thang giá trị, chuẩn giá trị, và thước đo giá trị

❖ Hệ giá trị (core values)

Tác giả Huỳnh Khái Vinh cho rằng, bảng (hay hệ thống) giá trị là một tập hợp các phạm trù giá trị khác nhau, được cấu trúc theo những thứ bậc khác nhau và có mối liên hệ có tính lịch sử - cụ thể với nhau, để thực hiện một hay một số chức năng nhất định Nó có tính phát triển nội tại và có khả năng chuyển hóa sang một hệ thống khác, nhằm thích ứng với điều kiện môi trường lịch sử - xã hội (Huỳnh Khái Vinh, 2001, tr.55)

Theo Thái Duy Tuyên, hệ giá trị (hệ thống giá trị) là một tổ hợp giá trị khác

nhau được sắp xếp, hệ thống lại theo những nguyên tắc nhất định để tạo thành một tập hợp mang tính toàn vẹn và hệ thống, thực hiện các chức năng đặc thù trong việc

Trang 31

đánh giá của con người theo những phương thức vận hành nhất định của giá trị (Thái Duy Tuyên, 1998, tr.62)

Phạm Minh Hạc và Thái Duy Tuyên (2011) cho rằng khi nói đến một giá trị làm cốt lõi, khi nói tới các giá trị là các chất lượng cơ bản, hoặc nói đến giá trị bao gồm các giá trị vật chất và các giá trị tinh thần, trong đó có phẩm chất, phẩm giá, các chuẩn tối thượng… là nói tới một tổ hợp các giá trị hay một hệ giá trị Mỗi nhóm người (gia đình, giai cấp, dân tộc,…) có một hệ giá trị của mình với phạm vi rộng hẹp có thể khác nhau, và có thể biến động theo thời gian (Phạm Minh Hạc và Thái Duy Tuyên, 2011, tr.51)

❖ Thang giá trị (values scales)

Huỳnh Khái Vinh cũng cho rằng “việc sắp xếp các giá trị (hay nhóm giá trị) theo một trật tự ưu tiên nhất định được gọi là “thang giá trị” hay “thước đo giá trị”” (Huỳnh Khái Vinh, 2001, tr.55)

Đồng quan điểm trên nhưng chi tiết hơn, Phạm Minh Hạc và Thái Duy Tuyên (2011) nhận định, một tổ hợp giá trị hay một hệ giá trị được sắp xếp theo một thứ tự

ưu tiên nhất định gọi là thang giá trị Thang giá trị được hình thành và thay đổi theo thời gian và không gian bởi xã hội loài người, dân tộc, cộng đồng (địa phương, làng xã), từng nhóm (bạn bè, gia đình…) và từng con người (cá thể) tồn tại và phát triển theo thời gian, không gian (Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên, 2011, tr.52)

Trong từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng cũng đề cập đến hệ giá trị và thang giá trị như sau: hệ thống giá trị và thang bậc giá trị phụ thuộc vào từng hình thái xã hội trong lịch sử, chịu sự chi phối của xã hội đó và được xã hội đó công nhận Ngược lại, khi hệ thống và thang bậc giá trị được hình thành thì chúng lại có tác dụng định hướng hoạt động cho cả xã hội, tập thể và từng cá nhân trong xã hội Việc cá nhân tiếp thu hệ thống giá trị là điều kiện để hình thành nhân cách và duy trì

kỷ cương xã hội (Vũ Dũng, 2008, tr.209)

❖ Chuẩn giá trị

Theo Huỳnh Khái Vinh, các giá trị cốt lõi trong hệ thống thang giá trị được coi

là “chuẩn giá trị” và những giá trị chuẩn này “đóng vai trò then chốt trong nhận

Trang 32

thức, tình cảm và hoạt động của đa số thành viên xã hội” (Huỳnh Khái Vinh, 2001, tr.55)

Đồng quan điểm trên nhưng chi tiết hơn, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang cho rằng, chuẩn giá trị là những giá trị giữ vị trí cốt lõi, chiếm vị trí

ở thứ bậc cao hoặc vị trí then chốt và mang tính chuẩn mực chung cho nhiều người Khi xây dựng các giá trị theo những chuẩn mực nhất định về kinh tế, về chính trị, về đạo đức, về xã hội hay về thẩm mỹ sẽ tạo ra các chuẩn giá trị Mọi hoạt động của xã hội, của nhóm cũng như của từng cá nhân được thực hiện theo những chuẩn giá trị nhất định sẽ bảo đảm định hướng cho các hoạt động đó và hạn chế khả năng lệch chuẩn mực xã hội, đồng thời tạo ra những giá trị tương ứng đảm bảo sự tồn tại của con người (Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, & Mạc Văn Trang, 1995, tr.64)

❖ Thước đo giá trị (values assessment)

Theo Phạm Minh Hạc và Thái Duy Tuyên (2011) thước đo giá trị được hình thành khi “thang giá trị được một chủ thể (dân tộc, cộng đồng, nhóm cá thể) vận dụng vào để tạo lập hoạt động, hành động, hành vi hay đánh giá và tự đánh giá một hiện tượng xã hội, một cử chỉ hành vi ” (Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên, 2011, tr.52) Hay nói cách khác “hệ giá trị được lựa chọn và sắp xếp thành thang giá trị, sau đó áp dụng vào đánh giá con người cho một công việc nào đấy, ta có một công

cụ gọi là thước đo giá trị” (Phạm Minh Hạc, 2015, tr.66)

1.2.2 Định hướng giá trị

a Khái niệm định hướng giá trị

Khái niệm định hướng giá trị trong đề tài này được tìm hiểu dựa vào nguồn định nghĩa từ các từ điển và trên quan điểm của các nhà khoa học trong và ngoài nước

Theo từ điển tâm lí học của tác giả Vũ Dũng, định hướng giá trị là một khái niệm của tâm lí học xã hội, được sử dụng với hai nghĩa sau:

1 Những cơ sở tư tưởng, chính trị, đạo đức, thẩm mỹ mà chủ thể dựa vào để đánh giá hiện thực và định hướng vào hiện thực đó

2 Cách thức mà cá nhân dùng để phân loại các khách thể theo giá trị của chúng (ý nhân cách)

Trang 33

ĐHGT được hình thành trong quá trình cá nhân lĩnh hội kinh nghiệm xã hội và được bộc lộ rõ trong các mục tiêu, lí tưởng, quan điểm, sự ham thích và những biểu hiện khác của nhân cách Trong cấu trúc hoạt động, chúng liên quan chặt chẽ với các khía cạnh nhận thức và ý chí Hệ thống định hướng giá trị tạo nên mặt nội dung của xu hướng cá nhân và thể hiện cơ sở bên trong của các mối quan hệ của nhân cách đối với hiện thực Trong quá trình hoạt động chung, định hướng giá trị nhóm được hình thành Sự trùng hợp về các định hướng giá trị quan trọng của các thành viên trong nhóm đảm bảo tính cố kết nhóm (sự thống nhất định hướng giá trị) (Vũ Dũng, 2008, tr.161)

Theo từ điển Bách khoa toàn thư Xô Viết, định hướng giá trị là:

1 Cơ sở tư tưởng, chính trị, đạo đức, thẩm mỹ giúp chủ thể đánh giá thực tại xung quanh và định hướng trong thực tại đó

2 Phương pháp phân loại các khách thể của cá nhân theo giá trị của chúng Định hướng giá trị hình thành thông qua sự chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội và thể hiện trong các mục đích, tư tưởng, chính kiến, ham muốn… của nhân cách Trong cấu trúc hoạt động của con người, định hướng giá trị gắn liền với các đặc điểm nhận thức và ý chí của nhân cách Hệ thống định hướng giá trị tạo thành nội dung xu hướng của nhân cách và là cơ sở bên trong của các mối quan hệ giữa cá nhân với thực tại (Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, & Mạc Văn Trang, 1995, tr 66)

Huỳnh Khái Vinh cho rằng “định hướng giá trị là sự lựa chọn các giá trị vật chất và tinh thần trên cơ sở hệ thống thái độ, niềm tin, sở thích và tâm thế, nhằm phân biệt các sự vật theo ý nghĩa của chúng đối với chính mình, từ đó hình thành nội dung cơ bản của động cơ và xu hướng hoạt động và ứng xử” (Huỳnh Khai Vinh,

2001, tr.59)

Tác giả cũng nhận định, nội dung cơ bản của định hướng giá trị là những niềm tin có tính thế giới quan, những khát vọng sâu xa và liên tục cũng như các nguyên tắc chân, thiện, mỹ của hoạt động xã hội và hành vi ứng xử Nghĩa là nó liên hệ mật thiết và là sự phản ánh trình độ và tính chất của nhận thức, đánh giá ý chí và cảm xúc… Định hướng giá trị là cơ sở bên trong của hoạt động và hành vi, do đó nó có

Trang 34

ảnh hưởng quyết định đến đạo đức, lối sống của cá nhân và cộng đồng (Huỳnh Khai Vinh, 2001, tr.58)

Theo tác giả Vũ Hào Quang, “định hướng giá trị là nguồn chính để lĩnh hội giá trị tinh thần và văn hóa xã hội cũng như việc biến nó thành cái kích thích, cái động

cơ hành vi thực tiễn người Việc hình thành các định hướng giá trị chính là việc thúc đẩy sự phát triển của cá nhân nói chung” (Vũ Hào Quang, 2001, tr.29)

Tác giả Phạm Minh Hạc, dựa vào tiếp cận hoạt động, cho rằng “định hướng giá trị là lấy cách hiểu về giá trị, cách đánh giá con người, xã hội và thiên nhiên… làm cơ sở cho những gì liên quan đến cái phải làm: một sự lựa chọn, một cách đánh giá, một cách nhìn, một điểm tựa của niềm tin, một mục đích của sự tiến tới” (Phạm Minh Hạc 2000 tr.137)

I.T.Lêvưkin cho rằng, định hướng giá trị là đánh giá các khả năng và tình hình hiện có để xác định phương tiện và phương pháp nhằm đạt những mục tiêu đã đề ra Trong cuốn “Những cơ sở nghiên cứu xã hội học”, các tác giả quan niệm

“định hướng giá trị là khuynh hướng chung đã được quy định về mặt xã hội được ghi lại trong tâm lý cá nhân, nhằm vào mục đích và phương tiện hoạt động trong lĩnh vực nào đó”

Các nhà khoa học trong đề tài KX-07.10 (1991-1995) định nghĩa: “định hướng giá trị là thái độ, sự chọn các giá trị vật chất và tinh thần, là một hệ thống tâm thế, niềm tin, sở thích của con người đối với một giá trị nào đó” (Huỳnh Khai Vinh,

2001, tr.57)

Thái Duy Tuyên cho rằng định hướng giá trị thường được hiểu hai nghĩa:

1 Mỗi cá nhân hay cộng đồng nào đó định hướng giá trị cho mình có nghĩa là lựa chọn cho mình một giá trị hoặc hệ thống giá trị nào đấy

2 Mỗi cá nhân hay cộng đồng định hướng giá trị cho một người hay một tập thể có nghĩa là giáo dục giá trị (Thái Duy Tuyên, 1998, tr.37)

Theo tác giả V A Ladov, định hướng giá trị là những biểu tượng của con người về những mục đích chủ yếu của cuộc đời và những phương tiện cơ bản đạt những mục đích ấy định hướng giá trị đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng các chương trình hành vi lâu dài Chúng hình thành trên cơ sở những nhu cầu của chủ

Trang 35

thể về việc nắm vững những hình thức cơ bản của hoạt động sống trong những điều kiện lịch sử cụ thể, xác định và do tính chất các quan hệ xã hội quy định Các quan

hệ xã hội là nguồn gốc khách quan hình thành những nhu cầu ấy (Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, & Mạc Văn Trang, 1995, tr.68)

A.V Petrovski, M.G Jarosevski quan niệm định hướng giá trị là cơ sở của các đánh giá của chủ thể và cho rằng đó là phương thức chủ thể sử dụng để phân biệt các sự vật theo ý nghĩa của chúng đối với mình, từ đó hình thành nội dung cơ bản của xu hướng, động cơ hoạt động (Nguyễn Thạc, Phạm Thành Nghị, 2017, tr.61)

Cả Phạm Minh Hạc và Thái Duy Tuyên đều cho rằng “khi biết được định hướng giá trị của một người thì có thể dự đoán được thái độ, hành vi của họ, do đó

sẽ có cách đối nhân xử thế thích hợp với họ” (Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên,

2011, tr.53)

Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về định hướng giá trị, nhưng tựu chung lại

có những điểm tương đồng như sau và đó cũng là những điểm chính yếu của định hướng giá trị:

Định hướng giá trị được hình thành qua quá trình chủ thể tham gia vào các mối quan hệ xã hội (gia đình, bạn bè, nhà trường, cộng đồng,…)

Định hướng giá trị là cơ sở bên trong của hành vi, nó quyết định hướng tư duy, thái độ và hành vi của chủ thể khi hướng đến một điều gì đó

Định hướng giá trị quyết định lối sống của chủ thể

Quá trình định hướng luôn có các yếu tố: nhận thức, thái độ, hành vi

Từ những nhận định trên và trân trọng kế thừa quan điểm của các tác giả, đặc biệt là với hướng tiếp cận của tác giả Huỳnh Khái Vinh, khái niệm định hướng giá

trị trong đề tài này được hiểu như sau: Định hướng giá trị là sự nhận thức, lựa

chọn các giá trị vật chất và tinh thần theo nhu cầu, mong muốn của chủ thể Nó

có khuynh hướng cuốn hút, chi phối thái độ, hành vi của chủ thể nhằm đạt được các giá trị đó Nó được biểu hiện qua nhận thức, thái độ, hành vi của chủ thể trong cuộc sống

b Quá trình định hướng giá trị

Tác giả Huỳnh Khái Vinh cho rằng, sự hình thành định hướng giá trị có con

Trang 36

đường riêng của nó và thường trải qua ba giai đoạn:

Cụ thể hơn, ba tác giả Louis E Raths, Merrill Harmin, Sidney B Simon (1973) cho rằng quá trình hình thành định hướng giá trị gồm bảy giai đoạn, dựa trên

ba quá trình cơ bản là: lựa chọn, cân nhắc và hành động (Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang, 1995, tr.73)

Quá trình lựa chọn gồm:

Lựa chọn tự do

Từ các khả năng lựa chọn khác nhau

Lựa chọn trên cơ sở đã dự đoán kết quả có thể có của từng khả năng lựa chọn Quá trình cân nhắc gồm:

Tâm niệm cảm thấy vui mừng với những lựa chọn đã tiến hành

Sẵn sàng khẳng định sự lựa chọn đó một cách công khai

Quá trình hành động gồm:

Làm một cái gì đó theo sự lựa chọn

Lặp lại hành động, một vài dịp theo mẫu đó trong đời

Tập hợp những quá trình trên xác định sự đánh giá giá trị Kết quả của quá trình định hướng giá trị là khẳng định được giá trị, cũng có nghĩa là giá trị được hình thành ở cá nhân (Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang, 1995, tr.75)

c Vai trò của định hướng giá trị

Định hướng giá trị tạo nên xu hướng nhân cách, là cơ sở chính yếu chi phối những suy nghĩ, thái độ, hành vi, hoạt động của con người để đạt được mục đích mong muốn trong cuộc sống Cho nên định hướng giá trị đúng đắn giúp con người

Trang 37

có xu hướng hoàn thiện bản thân, hướng đến thực hiện những hành vi cao đẹp, tạo nên đời sống hữu ích và giá trị

Theo Phạm Minh Hạc “Định hướng giá trị dùng để thăm dò cá nhân hay tập thể hướng vào các giá trị nào, định hướng giá trị còn một mục đích khác nữa đó là giúp cá nhân hay tập thể hướng tới một mục tiêu nào đó trong thời gian tới” (Phạm Minh Hạc, 2005, tr72) Do đó, nhờ vào định hướng giá trị mà có thể đoán biết trước hành vi, thái độ của một cá nhân khi đứng trước một sự vật hiện tượng cụ thể Điều này có ý nghĩa to lớn cho các ngành khoa học, giáo dục, quản lí… Tác động đúng đắn, phù hợp để mang lại định hướng giá trị tốt đẹp cho con người, cho cộng đồng,

xã hội và cả dân tộc

1.3 Hôn nhân

1.3.1 Khái niệm hôn nhân

Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, hôn nhân được hiểu là “việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng” (Hoàng Phê, 2018, tr.582)

Từ điển Tiếng Việt thông dụng định nghĩa hôn nhân là “việc cưới hỏi” (Nguyễn Văn Xô, 2004, tr.201)

Theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, hôn nhân là sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng và tự nguyện theo quy định của pháp luật nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận và bền vững (Điều 2,4,8,10,17,19 Luật hôn nhân gia đình) (Công báo/số 681+682/ ngày 16-7-2014, Luật hôn nhân gia đình)

Tại khoản 1 điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 ghi rõ “hôn nhân là quan

hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” (Công báo/số 681+682/ ngày 16-7-2014, Luật hôn nhân gia đình)

John M Gottman, người sáng lập ra Viện nghiên cứu hôn nhân hàng đầu tại

Mỹ, nhận định: “Hôn nhân là sự kết hợp của hai cá thể độc lập với những chính kiến, tính khí và giá trị sống riêng Vì thế chẳng có gì ngạc nhiên ngay cả khi trong những cuộc hôn nhân hạnh phúc, người chồng lẫn người vợ vẫn phải đương đầu với

vô vàn thử thách về hôn nhân gia đình” (John M Gottman, 2016, tr.176)

Trang 38

Tác giả Bùi Ngọc Oánh cho rằng “Hôn nhân là một hiện tượng xã hội, trong

đó, hai người khác giới được xã hội thừa nhận sống chung với nhau, gắn bó với nhau, có trách nhiệm với nhau và cùng có trách nhiệm trước xã hội”

Cũng theo tác giả Bùi Ngọc Oánh “Hôn nhân tạo nên một gia đình mới trong

xã hội, tạo nên cuộc sống vợ chồng Cuộc sống gia đình và hạnh phúc vợ chồng phụ thuộc nhiều vào động cơ hôn nhân”

Hôn nhân cũng chính là kết quả của tình yêu, khi tình yêu chín muồi nó sẽ là động lực mạnh mẽ thúc đẩy cặp đôi đi đến việc kết hôn Tuy nhiên, vẫn có những cuộc hôn nhân xuất phát từ những động cơ khác như là các động cơ tâm lí hay động

cơ xã hội Có hai hình thức biểu hiện của hôn nhân là:

Hình thức về mặt pháp lí: Đăng ký kết hôn

Hình thức về mặt phong tục tập quán: Lễ cưới (Bùi Ngọc Oánh, 2006, tr.106) Harville Hendrix, tâm lý gia người Mỹ, đứng từ góc độ của phân tâm học nhận định về hôn nhân như sau: hôn nhân không phải là một trạng thái bất di bất dịch giữa hai người không hề thay đổi Hôn nhân là một cuộc hành trình về mặt tâm lý

và tinh thần, được bắt đầu từ trạng thái ngây ngất của sự quyến rũ, vòng vèo qua những giai đoạn tìm hiểu lẫn nhau đầy cam go, và kết thúc với việc sáng tạo nên một sự hợp nhất suốt đời, hân hoan và sâu sắc (Harville Hendrix, 2005, tr.6)

Như vậy, từ những khái niệm trên và trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu,

người viết cho rằng: Hôn nhân là sự kết hợp, chung sống giữa hai cá thể độc lập,

phù hợp với những chuẩn mực đạo đức, xã hội Hai cá thể đó cùng gắn bó, cùng

có trách nhiệm với nhau trước gia đình và xã hội

1.3.2 Động cơ của hôn nhân

Tác giả Bùi Ngọc Oánh cho rằng “động cơ của hôn nhân là tổng hợp những yếu tố thúc đẩy hai người đi tới hôn nhân” và “động cơ hôn nhân có vai trò quan trọng đến hạnh phúc gia đình Chỉ những người có động cơ đúng đắn, lành mạnh mới có thể có gia đình hạnh phúc, cuộc sống vợ chồng êm ấm, thuận hòa, bền

vững”

Những yếu tố của động cơ hôn nhân thường rất phức tạp, đa dạng có thể bao

gồm như sau:

Trang 39

Yếu tố thuộc về tâm lí xã hội: sự thành đạt, ổn định về danh phận, sự nghiệp, nhu cầu về cuộc sống gia đình, sự thúc đẩy của họ hàng, bạn bè , sự hòa hợp cá

tính…

Yếu tố lứa tuổi: Đến một độ tuổi nào đó, đến độ trưởng thành về mặt cơ thể,

người ta có nhu cầu kết hôn

Yếu tố vật chất: Khi điều kiện sống phát triển đến một mức nhất định, hoặc khi nhu cầu cơ thể phát triển đếtn một mức nhất định, nó trở thành yếu tố thúc đẩy

con người đi tới hôn nhân

Yếu tố tình yêu: Tình yêu phát triển đến một mức nào đó, hai người có nhu

cầu kết hôn

Yếu tố tâm lý cá nhân: Đặc điểm tâm lý cá tính mỗi người

Động cơ hôn nhân không nhất thiết phải gồm toàn bộ các yếu tố đã kể trên, mà

có thể chỉ bao gồm một số yếu tố nào đó, tùy từng trường hợp cụ thể, từng người cụ

thể (do đặc điểm đạo đức, quan điểm sống, cá tính…)

Động cơ hôn nhân đúng đắn, lành mạnh bao gồm những yếu tố sau:

Tình yêu chân thực, chân chính phát triển ở mức độ cao

Hai người tự nguyện và cùng mong được chung sống

Có sự suy nghĩ, cân nhắc thận trọng về nhiều mặt ở cả hai người (sự trưởng thành về mặt tâm lí, xã hội, về điều kiện hoàn cảnh, cơ sở vật chất, tuổi tác, hòa hợp

trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau)

Sự kết hợp của nhiều yếu tố trên

Nếu động cơ hôn nhân càng bao gồm nhiều yếu tố như trên, cuộc sống gia đình càng có nhiều điều kiện để hạnh phúc và phát triển hơn (Bùi Ngọc Oánh, 2006,

tr.106-107)

Gary Chapman dựa vào hơn bốn mươi lăm năm kinh nghiệm làm việc và phỏng vấn các cặp đôi về hôn nhân, ông cho rằng có những mục đích sâu xa thúc đẩy người ta kết hôn, tuy nhiên có bảy mục đích thường và dễ thấy nhất ở hầu hết

mọi người, ở mọi nơi, đó là:

1 Tình bạn

2 Tình dục

Trang 40

3 Tình yêu

4 Sự ổn định cho con cái

5 Được xã hội thừa nhận

6 Lợi ích về kinh tế

7 An toàn (Gary Chapman, 2010)

Tác giả Ngô Công Hoàn dựa vào phân tích xã hội học về gia đình cho rằng có

bảy nguyên nhân dẫn đến hôn nhân, như sau:

1 Tình yêu chín muồi

2 Mong muốn có một cuộc sống ổn định cho mình

3 Mong muốn có một ngôi nhà riêng

4 Khát vọng có con

5 Sự chạy trốn khỏi cuộc sống độc thân, cô đơn

6 Muốn được đáp ứng nhu cầu sinh lý

7 Mong muốn tạo ra được sự chung sống về kinh tế (Ngô Công Hoàn, 1993,

có cả những yếu tố bị tác động bởi cả nội tại và xã hội của một cá nhân

1.3.3 Vai trò của hôn nhân

Hôn nhân giúp thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu nhất của con người, từ nhu cầu căn bản nhất về tính dục, duy trì nòi giống, đến những nhu cầu nâng cao hơn về tình yêu thương, sự an toàn, sự kết nối, cảm giác “được thuộc về” trong mối quan

hệ, được tôn trọng,… Có thể nói hôn nhân càng lành mạnh thì càng giúp người ta thỏa mãn được các tầng bậc nhu cầu, từ thấp đến cao theo thứ tự tháp nhu cầu nổi

tiếng của Maslow

Điều này cho thấy rằng hôn nhân giúp con người ta thỏa mãn, sống có ý nghĩa, phát triển hơn, Thông qua hôn nhân mỗi một cá nhân sẽ tự khẳng định sự trưởng

thành của bản thân mình hầu như về mọi mặt của đời sống

Ngày đăng: 01/12/2020, 21:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w