Trong quá trình định cư lâu dài, họ đã tạo ra những yếu tố văn hóa làng bản mang bản sắc riêng, tiêu biểu cho loại hình văn hóa của cư dân nhóm Tày – Thái sống ở vùng thung
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đàm Thị Uyên
Thái Nguyên - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứ u của riêng tôi, các số liê ̣u, kết quả nghiên cứu trong luâ ̣n văn là trung thực
Ta ́ c giả luận văn
Đặng Thị Hoài Thu
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tác giả luâ ̣n văn xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo-
PGS.TS Đàm Thị Uyên đã tâ ̣n tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luâ ̣n văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Li ̣ch sử Viê ̣t Nam khoa li ̣ch sử trường ĐHSP Thái Nguyên, đã chỉ bảo tâ ̣n tình, đô ̣ng viên, khích lệ tác giả trong suốt quá trình ho ̣c tâ ̣p và hoàn thành luâ ̣n văn
Trong thờ i gian thư ̣c hiê ̣n luâ ̣n văn, tác giả đã nhâ ̣n đươ ̣c sư ̣ giúp đỡ nhiệt tình của Huyện Uỷ, UBND huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, cùng các ban ngành đoàn thể trong huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn đã cung cấp tư liệu để tác giả hoàn thành luận văn Tác giả xin chân thành cảm ơn những nhận xét, đánh giá của Hội đồ ng khoa ho ̣c bảo vê ̣ luâ ̣n văn
Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, ba ̣n bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình ho ̣c tâ ̣p và hoàn thành luâ ̣n văn
Ta ́ c giả luận văn
Đặng Thị Hoài Thu
Trang 5MU ̣C LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lờ i cam đoan i
Lờ i cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của đề tài 4
6 Cấu trúc của đề tài 5
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN BÌNH GIA – TỈNH LẠNG SƠN 6
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 6
1.1.1 Vị trí địa lý 6
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 6
1.2 Lịch sử hành chính 9
1.3 Các thành phần dân tộc và dân tộc Nùng ở huyện Bình Gia 12
1.3.1 Các thành phần dân tộc 12
1.3.2 Dân tộc Nùng 14
1.4 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội huyện Bình Gia 17
Chương 2 LÀNG BẢN CỦA NGƯỜI NÙNG Ở HUYỆN BÌNH GIA TỈNH LẠNG SƠN (1986 - 1998) 22
2.1 Khái niệm làng bản 22
2.2 Tên gọi và không gian sinh tồn 23
2.2.1 Nguồn gốc tên gọi 23
2.2.2 Không gian sinh tồn 28
Trang 62.3 Cơ cấu tổ chức 32
2.3.1 Tổ chức gia đình và dòng họ 32
2.3.2 Tổ chức làng 42
2.4 Hoạt động kinh tế 48
2.5 Văn hóa vật chất và tinh thần 50
2.5.1 Nhà ở 50
2.5.2 Tín ngưỡng, tôn giáo 53
2.5.3 Kiến trúc công cộng 55
2.5.4 Lễ hội truyền thống 59
Chương 3 NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA LÀNG BẢN NGƯỜI NÙNG Ở HUYỆN BÌNH GIA TỈNH LẠNG SƠN (1999- 2013) 69
3.1 Nguyên nhân biến đổi 69
3.2 Biến đổi về không gian sinh tồn và đời sống của người Nùng 70
3.3 Biến đổi trong tổ chức 77
3.3.1 Gia đình 77
3.3.2 Dòng họ 80
3.3.3 Tổ chức làng 81
3.4 Biến đổi về kinh tế 82
3.5 Biến đổi về văn hóa 86
3.6 Những biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa tích cực của làng bản người Nùng trong việc xây dựng đời sống văn hóa hiện nay 90
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Bảng thống kê dân số theo thành phần dân tộc 13
Bảng 1.2: Bảng thống kê các dân tộc phân bố ở các xã, huyện Bình Gia 16
Bảng 1.3 Tổng diện tích ruộng đất huyện Bình Gia 17
Bảng 2.1 Thống kê tên gọi làng mang tiền tố “Nà” 24
Bảng 2.2 Thống kê tên gọi làng mang tiền tố “Khuổi” 26
Bảng 2.3 Thống kê tên gọi làng mang tiền tố “Bản” 27
Trang 8Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa văn hóa Mỗi một tộc người cư trú ở những vùng miền khác nhau sẽ tạo ra những nền văn hóa đặc trưng riêng của mình Huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn có 5 thành phần dân tộc chính là Tày, Nùng, Kinh, Dao, Hoa, trong đó người Nùng chiếm số dân đông nhất Trong quá trình định cư lâu dài, họ đã tạo ra những yếu tố văn hóa làng bản mang bản sắc riêng, tiêu biểu cho loại hình văn hóa của cư dân nhóm Tày – Thái sống ở vùng thung lũng ven chân núi, chứa đựng nhiều giá trị văn hóa quý báu và có ảnh hưởng lớn đến các dân tộc khác trong huyện
Hiện nay, cùng với quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước, làng bản dân tộc Nùng ở huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn cũng có nhiều biến đổi, bên cạnh những tác động tích cực do những yếu tố mới mang lại, còn có những tác động tiêu cực không nhỏ ảnh hưởng đến văn hóa làng và cấu trúc của làng bản Do đó, làng bản của người Nùng cần nhận được sự quan tâm nhiều hơn nữa của các cơ quan địa phương để có định hướng phát triển phù hợp, để làng bản tuy đổi mới, hiện đại nhưng vẫn giữ gìn được những bản sắc dân tộc tốt đẹp
Từ những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Làng bản của
người Nùng ở huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn (1986 - 2013)” làm đề tài luận
văn thạc sĩ của mình
Trang 92 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về người Nùng ở Việt Nam nói chung và người Nùng Lạng Sơn nói riêng từ trước đến nay đã có nhiều công trình đề cập đến, chủ yếu trên các mặt đời sống vật chất và tinh thần, còn vấn đề làng bản của đồng bào còn ít được quan tâm Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả cũng đã tiếp cận được một số công trình đề cập đến vấn đề trên một cách trực tiếp hay gián tiếp
Cuốn “Dân tộc Nùng ở Việt Nam” của Hoàng Nam xuất bản năm 1992 và cuốn “Văn hóa truyền thống Tày – Nùng” xuất bản năm 1993 của nhóm tác giả Hoàng Quyết, Ma Khánh Hoàn, Hoàng Huy Phách, đã nghiên cứu khá toàn diện về nền văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của hai dân tộc Tày – Nùng trên đất nước Việt Nam
Năm 1992, Viện dân tộc học xuất bản “Các dân tộc Tày Nùng ở Việt Nam” đã giới thiệu chi tiết về hai dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam
Năm 1998, nhóm tác giả Hoàng Hoa Toàn – Đàm Thị Uyên “Nguồn gốc các dân tộc Tày Nùng ở Việt Nam”, tạp chí dân tộc học số 2 đã làm rõ về nguồn gốc của hai dân tộc Tày Nùng
Năm 2003, tác giả Chu Thái Sơn và Hoàng Hoa Toàn cho xuất bản cuốn sách “Người Nùng”, đã giới thiệu những nét cụ thể về người Nùng trên các mặt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của người Nùng
Trong tác phẩm “Văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam” của GS.TS Ngô Đức Thịnh (2006) đã đề cập đến nhiều khía cạnh của tộc người Tày – Nùng như khía cạnh sinh tồn, văn hóa vật chất và tinh thần của người Tày - Nùng, đặc biệt đã đề cập đến những yếu tố làng bản của đồng bào
Năm 2010, tác giả Đàm Thị Uyên xuất bản “Văn hóa dân tộc Nùng ở Cao Bằng” đã làm sáng tỏ điều kiện địa lí tự nhiên, nguồn gốc tộc người, văn hóa ứng xử (cộng đồng làng bản, dòng họ, gia đình, hôn nhân ) và văn hóa vật chất (ăn uống, nhà cửa, trang phục) và văn hóa tinh thần (tín ngưỡng cổ truyền, các lễ hội ) của người Nùng ở Cao Bằng
Trang 10Năm 2012, TS Hoàng Văn Páo xuất bản cuốn “Bình Gia truyền thống và văn hóa” đã giới thiệu nhiều nét chủ yếu về người Nùng Bình Gia và đời sống kinh tế, văn hóa của họ
Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu về làng xã Việt Nam của các học giả như cuốn “Làng xã Việt Nam – mấy vấn đề kinh tế - văn hóa – xã hội” của Phan Đại Doãn xuất bản năm 2001; cuốn “Một số vấn đề làng xã Việt
Nam” (2009) của Nguyễn Quang Ngọc ; tác giả Trần Từ với cuốn “Cơ cấu tổ
chức của làng việt cổ truyền đồng bằng Bắc Bộ” xuất bản năm 1984 Các tác phẩm này đã cung cấp cho tác giả những nhận thức chung nhất về làng và văn hóa làng xã của Việt Nam
Ngoài ra còn có các tạp chí khoa học, các đề tài nghiên cứu của các học viên, nghiên cứu sinh về chủ đề làng bản là tài liệu tham khảo cho tác giả trong quá trình làm luận văn như bài nghiên cứu của tác giả Hoàng Nam “Bước đầu tìm hiểu về mối quan hệ giữa người Tày và người Nùng”, Thông báo dân tộc học tháng 3 (1973), tác giả Nông Trung với bài viết “Mối quan hệ giữa các ngành Nùng ở Việt Nam” – tạp chí nghiên cứu lịch sử số 45 (12/1962), luận văn Thạc sĩ của Trần Văn Quyền “Làng bản cổ truyền của dân tộc Tày ở huyện
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên” hay luận văn Thạc sĩ “Làng bản của người Nùng ở huyện Phục Hòa tỉnh Cao Bằng (1945-2010)” của Lý Thị Mai Những bài viết này đã đi sâu nghiên cứu khá kỹ về người Nùng, và mối quan hệ giữa người Tày và người Nùng, cũng như các yếu tố làng bản của họ, cung cấp cho tác giả nhiều hiểu biết cụ thể về người Nùng
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu tìm hiểu làng bản của người Nùng ở huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1986-2013 Những công trình nghiên cứu của các học giả đi trước sẽ là nguồn tài liệu vô cùng quý giá
để chúng tôi tham khảo, học tập cho việc hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu về làng bản của người Nùng ở huyện Bình Gia, tác giả muốn làm phong phú hơn vốn hiểu biết
Trang 11về những yếu tố văn hóa đặc trưng trong đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc Nùng Tác giả đề tài cũng mong muốn đóng góp vào quá trình xây dựng nông thôn mới và làng bản văn hóa của vùng đồng bào dân tộc thiểu số của huyện Bình Gia trong giai đoạn hiện nay
- Đối tượng nghiên cứu: Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, các thành phần dân tộc, cơ cấu tổ chức làng bản cùng những biến đổi của làng bản của người Nùng ở huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn từ 1986-2013
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu làng bản của dân tộc Nùng ở huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn từ 1986 đến 2013
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
- Nguồn tư liệu: thực hiện đề tài này, tác giả đã tiếp cận được với nhiều
tác phẩm, tài liệu có liên quan đến làng xã cổ truyền và các dân tộc thiểu số Việt Nam, đặc biệt là về dân tộc Nùng Đồng thời dựa vào các thống kê số liệu đã được xuất bản, các báo cáo, tài liệu của các cơ quan chuyên môn ở Ủy ban nhân dân huyện, xã Đặc biệt, quan trọng hơn cả là tư liệu điền dã mà tác giả sưu tầm được qua nghiên cứu thực tế ở địa điểm đã lựa chọn
- Phương pháp nghiên cứu: phương pháp được sử dụng trong đề tài là
phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp điền dã khai thác tài liệu địa phương, phương pháp thống kê, tổng hợp
Đề tài sẽ góp thêm cơ sở khoa học cho việc thực hiện các chính sách của chính quyền địa phương các cấp nhằm nâng cao đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của đồng bào Nùng và sự phát triển chung của địa phương
Trang 12Ngoài ra, đề tài cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu lịch sử địa phương, dân tộc học, văn hóa học…ở trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung của đề tài được chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn
Chương 2: Làng bản của người Nùng ở huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn (1986 - 1998)
Chương 3: Những biến đổi của Làng bản người Nùng ở huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn (1999 - 2013)
Ngoài ra phần Phụ lục của đề tài còn có 02 bản đồ và 41 ảnh minh họa
Trang 13Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN BÌNH GIA – TỈNH LẠNG SƠN
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
về phía Tây Nam Vị trí tiếp giáp của huyện như sau:
Phía Bắc giáp huyện Tràng Định
Phía Đông giáp huyện Văn Quan và huyện Văn Lãng
Phía Nam giáp huyện Bắc Sơn
Phía Tây giáp huyện Na Rì - tỉnh Bắc Kạn
Bình Gia là huyện có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế và an ninh quốc phòng Bình Gia có Quốc lộ 1B đi qua, nối liền Thành phố Lạng Sơn với Thành phố Thái Nguyên, thuận lợi cho việc giao lưu trao đổi hàng hóa Ngoài
ra còn có Quốc lộ 279 nối liền Bình Gia với Na Rì - Bắc Kạn, các mặt hàng nông sản thực phẩm của Bình Gia có thể qua tuyến đường này cung cấp cho thành phố Lạng Sơn, Thái Nguyên, Thủ đô Hà Nội cũng như các khu dân cư tập trung khác Về quốc phòng an ninh, Bình Gia có vị trí đặc biệt quan trọng Trong kháng chiến chống Pháp Bình Gia là căn cứ địa cách mạng, chiến thắng Bình Gia vang dội góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc Trong chiến tranh Biên giới tháng 2/1979, Bình Gia là tuyến phòng thủ thứ 2 đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biên giới phía Bắc Việt Nam
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Bình Gia có tổng diện tích tự nhiên là 109.352,73 ha, trong đó 2/3 diện tích là đồi núi, 1/3 là đất ruộng, vườn nương canh tác Địa hình Bình Gia bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi đất và núi đá các dãy đồi, núi ở Bình Gia đều có
Trang 14độ dốc từ 25- 30 trở lên Xen với những lớp đất trải rộng ra phía Đông và phía Bắc là những cánh đồng và thung lũng khe suối nối tiếp nhau thành các lòng máng ngắn Các dải thung lũng hẹp có diện tích nhỏ, không đáng kể, diện tích cây hàng năm vì thế không có nhiều nên sản lượng lúa và hoa màu không cao
Bình Gia có ngọn núi Phia Ngàm (Yên Lỗ) cao 1.193m và ngọn Slam Táng (Hưng Đạo) cao 1.400m Bình Gia có nhiều đồng cỏ xanh tốt thuận lợi cho việc chăn nuôi các loại gia súc như trâu, bò, ngựa, dê Các loại gia súc này không những đảm bảo cung sức kéo, thực phẩm trong huyện mà còn có thể cung cấp cho các địa phương khác trong và ngoài tỉnh
Bình Gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng mang những nét độc đáo, riêng biệt.,Ở Bình Gia mùa đông thường thịnh hành gió Đông Bắc lạnh và ít mưa, nhiều năm có hiện tượng sương muối Mùa hè thịnh hành gió Đông Nam và Tây Nam Nhiệt độ trung bình năm khoảng 20,8 độ c, độ ẩm không khí trung bình năm là 82,0% thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp như chè, hồi, trẩu, sở, bông và các loại cây ăn quả như lê, mận, đào…và đặc biệt rất phù hợp với điều kiện sinh thái của cây hồi – một loại cây có giá trị kinh tế cao của Lạng Sơn Trong điều kiện có vốn đầu tư có thể mở mang phát triển sản xuất với quy mô lớn, tập trung thành các vùng sản xuất hàng hóa
Lượng mưa trung bình năm ở Bình Gia là 1540mm Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9 Lượng mưa bình quân năm là 1.540mm Vào mùa mưa, lượng mưa bình quân tháng là 212 mm Lượng nước mưa là nguồn nước tưới thiên nhiên quan trọng cho các loại cây trồng hoa màu lương thực, cây ăn quả và cây hồi Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau ít mưa, lượng mưa tháng chỉ đạt 44,5mm/tháng Thời gian này cây hồi, lê, mận, đào đã cho thu hoạch và chuẩn
bị tích lũy dinh dưỡng cho kì ra hoa năm sau nên không cần thiết nhiều nước tưới Nhưng ngược lại, đối với các cây trồng ngắn vụ xuân lại thiếu nước vì thế, diện tích lúa 2 vụ ở Bình Gia không nhiều chỉ chiếm 31,2% tổng số diện tích đất lúa và 0,97% tổng diện tích tự nhiên
Số giờ nắng trung bình khoảng: 1.466 giờ/ năm Lượng bốc hơi bình quân năm: 811 mm, chiếm 52,7% lượng mưa cả năm Trong các tháng mùa
Trang 15lạnh, lượng bốc hơi cao nhiều hơn so với lượng mưa, gây hạn hán cục bộ ở nhiều khu vực có địa hình cao xa nguồn nước
Nhìn chung, khí hậu của huyện có nhiều thuận lợi cho sự phát triển nông lâm nghiệp Trên địa bàn huyện ít chịu ảnh hưởng của các cơn bão lớn Tuy nhiên do biên độ nhiệt dao động giữa các mùa lớn, mùa khô kéo dài, chế độ mưa tập trung đã gây nên những hiện tượng hạn hán, xói mòn trên đất dốc, mùa đông lạnh có sương muối vào khoảng tháng 11, 12, ảnh hưởng khá lớn đến sản xuất nông nghiệp của người dân
Huyện Bình Gia có sông Bắc Giang (sông Văn Mịch) chảy qua với chiều dài trên 50km là nguồn nước, là tuyến giao thông đường thủy quan trọng, tại đây có thể xây dựng nhà máy thủy điện … Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có sông Pắc Khuông chảy qua và có hàng trăm con suối lớn nhỏ phân bố ở khắp các xã là nguồn cung cấp chủ yếu nước sinh hoạt cho nhân dân và nước tưới cho sản xuất Hệ thống sông suối, hồ đập dải đều khắp trên địa bàn huyện nên thuận lợi cho việc phát triển hệ thống thủy lợi Bình Gia có hồ Phai Danh (Văn Thụ) rộng 13 – 15 ha có sức chứa 3,3 triệu m3 cung cấp nước cho sinh hoạt và
sản xuất cho một số xã xung quanh thị trấn Bình Gia
Bình Gia là một huyện nghèo khoáng sản, chỉ có đá vôi và cát sông, có
khả năng khai thác sử dụng làm đường giao thông và xây dựng của nhân dân
Trên địa bàn huyện Bình Gia có mỏ than bùn ở xã Hoàng Văn Thụ, trữ lượng khoảng vài trăm ngàn tấn có thể khai thác để sản xuất phân vi sinh mang lại nguồn thu đáng kể trong nền kinh tế trên địa bàn huyện Ngoài ra, huyện còn có một số kim loại quý như vàng sa khoáng (ở khu vực xã Tân Văn, Hồng Phong),
quặng sắt, Ăngtymol (ở xã Hoa Thám), tuy nhiên trữ lượng nhỏ không đáng kể
Bình Gia còn có một khối lượng đá vôi lớn tập trung ở các xã Tô Hiệu, Tân Văn Hoàng Văn Thụ, thị trấn Bình Gia… làm nguyên liệu cho công nghiệp khai thác sản xuất vật liệu xây dựng, đá xẻ, đá ốp lát phục vụ cho các công
trình xây dựng trên địa bàn huyện và tỉnh Lạng Sơn
Bình Gia có nhiều hang động, trong đó có hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai là những di chỉ khảo cổ học đã được xếp hạng Ở đó các chuyên gia khảo
Trang 16cổ học đã phát hiện ra hóa thạch xương người Việt cổ cách đây 25 vạn năm Đồng thời Bình Gia còn nằm trên tuyến du lịch Thành phố Lạng Sơn – Đồng Đăng – Bắc Sơn Các dân tộc huyện Bình Gia có truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc như hát Then, hát Sli, hát lượn của các dân tộc Tày, Nùng, các ngày lễ hội ở Pắc Khuông,Văn Mịch… Trong tương lai nơi đây sẽ trở thành điểm du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch hang động có giá trị
Rừng nguyên sinh ở Bình Gia có diện tích khá lớn, với nhiều loại gỗ quý như: lát, lim, vàng tâm, nghiến,… Theo số liệu điều tra năm 2009, huyện Bình Gia có 56.850 ha đất rừng, chiếm 52,1% diện tích tự nhiên Trong đó đất rừng sản xuất là 38.427,43 ha, đất rừng phòng hộ là 18.422,57 ha Diện tích rừng trồng tập trung mới đạt 511,0 ha với các loại cây chủ yếu như hồi, mỡ, thông, keo đặc biệt cây hồi có điều kiện phát triển nhanh Trên địa bàn huyện còn có khu rừng đặc dụng Lân Luông (xã Thiện Hòa) còn bảo tồn được nhiều cây gỗ quý: nghiến, lát hoa, đinh và nhiều loại sản vật có giá trị như sa nhân, nấm hương, mộc nhĩ… Rừng ngoài việc cung cấp gỗ, lâm sản còn góp phần quan trọng vào việc điều tiết cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường
Tài nguyên động vật tương đối phong phú với nhiều loài quý hiếm như gà lôi, hươu nai, lợn rừng, nhím, sóc,… Tuy nhiên do diện tích rừng suy giảm mạnh, đặc biệt là trong mấy năm gần đây, cùng với tập quán săn bắt thú rừng bừa bãi của dân cư miền núi nên hầu hết các loài thú quý hiếm trên đã bị suy giảm về số lượng loài và cá thể, nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng
1.2 Lịch sử hành chính
Bình Gia là huyện có lịch sử lâu đời Qua những cuộc tìm kiếm, khai quật khảo cổ học, các nhà sử học đã phát hiện dấu tích của người vượn cổ và nhiều hóa thạch khác ở hang Thẩm Hai, Thẩm Khuyên thuộc xã Tân Văn Những dấu tích đó là những mảnh tước, rìu, răng … thuộc về văn hóa Bắc Sơn trong thời kì đầu thời đại đồ đá mới mà người vượn dùng để kiếm ăn hàng ngày cách đây hàng vạn năm (ở hang Kéo Lèng xã Tân Văn)
Theo Địa chí Lạng Sơn: “Đầu thế kỷ XIX về trước, vùng đất Bình Gia
hiện nay thuộc về châu Văn Quan (tổng Bằng Gia, tổng Uy Mãnh) và Văn
Trang 17Uyên (tổng Hóa Nhân) thuộc Phủ Tràng Khánh Cho đến thời Tự Đức thì Bình Gia thuộc về châu Văn Uyên, huyện Văn Quan của phủ Tràng Định”[4, tr.786]
Cuối năm 1980, thực dân Pháp đánh chiếm Bình Gia Đến năm 1885, Pháp đã áp đặt xong bộ máy cai trị ở châu Bình Gia Tháng 9-1894 thực dân Pháp tách hai tổng Bằng Gia và Tuyền Cam của châu Văn Quan lập thành một đơn vị hành chính mới là châu Bình Gia Từ năm 1891 đến 1905 châu Bình Gia là một châu thuộc hạt Thất Khê, trên phần lãnh thổ của Quân chính đạo số 1 do thực dân Pháp lập ra Đến năm 1907 châu Bình Gia gồm 5 tổng (Bằng Gia, Cam Thủy, Hóa Nhân, Oai Mãnh, Yên Hùng) và 23 xã: Bằng Gia, Vũ Khê, Tĩnh Sóc (tổng Bằng Gia), Cam Thủy, Thuần Như, Tồng Chu, Đinh Bảo, Phụng Cống (tổng Cam Thủy), Hóa Nhân, Dưỡng Nông, Xuân Dục, Bác Hóa (tổng Hóa Nhân), Oai Mãnh, Vân Mịt, Lãng Dương, Văn Định, Tòng Lệnh, Huãn Phing (tổng Oai Mãnh), Yên Hùng, Yên Lỗ, Bảo Thiệu, Quý Hòa, Yên Tùng (tổng Yên Hùng) Đến năm 1940, châu Bình Gia 6 tổng và 28 xã (Người Pháp đặt thêm 1 tổng mới là tổng Hữu Lương gồm 5 xã: Bình La, Hữu Lương, Mậu Nông, Nà Hoài, Phù Gia)
Từ những năm đầu thế kỷ XX cho đến trước Cách mạng tháng Tám
1945, địa giới châu Bình Gia tương đối ổn định (phía Bắc giáp châu Tràng Định và châu Na Rì (tỉnh Bắc Kạn), phía Nam giáp châu Văn Quan, phía Đông giáp châu Thoát Lãng, phía Tây giáp châu Bắc Sơn)
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, chính phủ cách mạng đã bãi bỏ cấp tổng, cấp phủ, đạo, châu Cấp trên cấp xã và dưới cấp tỉnh nhất loạt gọi là huyện Châu Bình Gia được đổi thành huyện Bình Gia
Từ sau năm 1954, do nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội và củng cố an ninh quốc phòng, Nhà nước đã có một số điều chỉnh chia tách và sáp nhập một số đơn vị hành chính Theo đó, ngày 27/12/1975, tỉnh Lạng Sơn sáp nhập với tỉnh Cao Bằng thành tỉnh Cao Lạng Huyện Bình Gia của Lạng Sơn trở thành huyện của tỉnh Cao Lạng Ngày 29/12/1978, tỉnh Lạng Sơn được tái lập, Bình Gia lại trở thành huyện của Lạng Sơn
Trang 18Theo tài liệu của Phòng thống kê huyện, hiện nay Bình Gia bao gồm 01 thị trấn và 19 xã, với tổng số 186 thôn và 08 khối phố
1 Thị trấn Bình Gia gồm 8 khối phố: Khối 1, Khối 2, Khối 3, Khối 4, Khối 5A, Khối 5B, Khối 6A, Khối 6B
2 Xã Hoàng Văn Thụ gồm 11 thôn: Tòng Chu 1, Tòng Chu 2, Phai Danh, Thuần Như 1, Thuần Như 2, Cai Ất, Cốc Rào, Nà Lùng, Cốc Quẻo, Bản Phân, Nà Vạ
3 Xã Tô Hiệu gồm 15 thôn: Khau Phụ, Yên Bình, Nà Làng, Pác Nàng, Pác Sào, Ngọc Trí, Ngã Tư, Ngọc Quyến, Cốc Rặc, Phai Lay, Pá Nim, Tân Thành, Rừng Thông, Nà Rạ, Tân Yên
4 Xã Tân Văn gồm 16 thôn: Nà Pái, Giao Thủy, Còn Tẩu, Còn Nưa, Trà Lẩu, Pá Péc, Nà Vước, Lân Khinh, Kéo Coong, Bản Đao, Bản Đáp, Suối Cáp, Bản Nâng, Nà Đồng, Nà Dài, Nà Quần
5 Xã Hồng Thái gồm 9 thôn: Bản Hoay, Nam Tiến, Nà Bản, Nà Ngừa, Bản Huấn, Bản Nghiệc, Còn Quan, Nà Khoang, Nà Dẳn
6 Xã Bình La gồm 5 thôn: Bản Pjòa, Bản Khoang, Bản Pát, Khuổi Luông, Cốc Phường
7 Xã Minh Khai gồm 12 thôn: Pàn Pẻn 1, Pàn Pẻn 2, Khuổi Con, Khuổi
Ổ, Bản Hỏi, Nà Mười, Bản Tiến, Nà Nèn, Phiêng Nưa, Nà khuông, Bản Tăn, Nà Mạ
8 Xã Hồng Phong gồm 13 thôn: Nặm Slim, Nà Buổn, Văn Can, Nà Cạp, Nà Ven, Khuổi Khuy, Nà Nát, Kim Đồng, phố Văn Mịch, Nà Háng, Vằng Phja, Nà Sla, Nà Kít
9 Xã Hoa Thám gồm 13 thôn: Nà Pàn, Nà Lò, Bản Cù, Bằng Giang 1, Bằng Giang 2, Bản Thẳm, Tân Lập, Khuổi Pàn, Vĩnh Quang, Bản Pìn, Đội Cấn
1, Đội Cấn 2, Cảo Chòm
10 Xã Quý Hòa gồm 5 thôn: Khuổi Nghành, Khuổi Lũng, Khuổi Cáp, Nà Lùng, Nà Kéo
11 Xã Hưng Đạo gồm 10 thôn: Nà Dạ, Pác Khiếc, Nà Lạn, Nà Bưa, Khuổi Buông, Bản Chu 1, Bản Chu 2, Bản Nghĩu, Pàn Deng, Pàn Slèo
Trang 1912 Xã Vĩnh Yên gồm 5 thôn: Khuổi Luông, Vằng Mần, Vằng Ún, Khuổi Màn, Khuổi Dụi
13 Xã Quang Trung gồm 12 thôn: Bản Quần, Bản Chang, Nà Tèo, Nà Cao, Nà Ngần, Đình Cam, Mò Mè, Tân Lập, Kéo Giểng, Pác Giắm, Nà Tồng, Nà Chang
14 Xã Mông Ân gồm 7 thôn: Nà Cướm, Nà Vò, Bản Muống, Nà Vường, Cốc Mặn, Đồng Hương, Viên Minh
15 Xã Thiện Thuật gồm 14 thôn: Cốc Phường, Bản Chúc, Khuổi Y, Khuổi Lù, Nà Lốc, Pác Khuông, Pò Sè, Khuổi Thoong, Khuổi Cưởm, Khuổi Khuy, Pác Là, Vằng Sâu, Khuổi Hắp, Pác Luống
16 Xã Thiện Hòa gồm 10 thôn: Lân Luông, Thạch Lùng, Nà Tàn, Thâm Khôn, Ba Biển, Yên Hùng, Nà Đảng, Nà Lẹng, Khuổi Nà, Cặm Tắm
17 Xã Yên Lỗ gồm 9 thôn: Khuổi Sắp, Bản Pe, Nà Tồng, Nà Quãng, Pò Mầm, Bản Mè, Khuổi Mè, Khuổi Chặng, Khuổi Cọ
18 Xã Hòa Bình gồm 6 thôn: Bản Duộc, Tà Chu, Nà Mèo, Khuổi Nhuần, Khuổi Khinh, Mạy Đảy
19 Xã Thiện Long gồm 7 thôn: Nà Lù, Tồng Nộc, Ca Siều, Bản Thàng, Bắc Hóa, Khuổi Kiếc, Khuổi Hẩu
20 Xã Tân Hòa gồm 7 thôn: Mạy Khoang, Mạy Đảy, Khuổi Cắt, Khuổi Bổng, Khuổi Nà, Làng Khẻ, Khuổi Phung
1.3 Các thành phần dân tộc và dân tộc Nùng ở huyện Bình Gia
1.3.1 Các thành phần dân tộc
Huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn là nơi sinh tụ của đồng bào các dân tộc như Nùng, Tày, Kinh, Hoa, Dao Theo số liệu thống kê năm 2013, huyện Bình Gia có 12.380 người, trong đó người Nùng có số dân đông nhất (59,61%), tiếp theo là người Tày (30,13%), thứ ba là người Dao (5,76%), thứ tư là người Kinh (3,96%), ngoài ra còn các dân tộc khác
Trang 20Bảng 1.1: Bảng thống kê dân số theo thành phần dân tộc
(Nguồn: Phòng Dân Tộc huyện Bình Gia năm 2013)
Dân tộc Tày sống thành từng làng xen kẽ với người Nùng ở các thung lũng, cánh đồng, triền núi, ở khắp các xã, thị trấn trong huyện Có những làng người Tày đông tới vài ba chục hộ (100-200 người) như ở các làng xung quanh huyện lỵ và ở vùng Văn Mịch, Hoa Thám, Mông Ân Người Tày sống chủ yếu bằng nghề lúa nước, làm nương rẫy và chăn nuôi gia súc
Dân tộc Dao nằm trong nhóm ngôn ngữ Mèo – Dao, là dân tộc thường sống du canh du cư, có mặt ở Việt Nam từ thế kỷ XIII Người Dao cư trú ở Lạng Sơn gồm bốn nhóm ngành chính là Lù Gang (Ô Gang, Lô Giang), Lù Đạng (Dụ Cùn, Coóc Mần), Dao Đỏ (Dụ Lạy, Quế Lâm) và Thanh Y (Pờ Ây) Địa bàn cư trú của dân tộc Dao ở Bình Gia thường nằm ở lưng chừng núi, hoặc những nơi có điều kiện dẫn nước về nhà Người Dao sống chủ yếu ở vùng hẻo lánh vùng cao, vùng sâu, xa của huyện như xã Vĩnh Yên, Tân Hòa Một số ít người Dao sống xen kẽ với đồng bào Tày, Nùng ở vùng thấp như ở các xã Yên
Lỗ, Quý Hòa, Hưng Đạo, Hoa Thám…Dân tộc Dao sinh sống nhờ việc trồng
nương rẫy và khai thác lâm thổ sản ở địa phương
Dân tộc Kinh đến Bình Gia làm ăn sinh sống từ cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX, làm nghề buôn bán nhỏ, thợ thủ công, một số khác đến muộn hơn, vào những năm 60 của thế kỷ XX chủ yếu làm nông nghiệp Đại đa số người Kinh
Trang 21sống ở thị trấn và các xã Tô Hiệu, Hoàng Văn Thụ, Tân Văn, Hồng Phong,…
Họ chủ yếu là công chức nhà nước hoặc dân buôn bán nhỏ, làm nghề thủ công như: mộc, rèn, đan lát…
Dân tộc Hoa là người Trung Quốc, thuộc nhóm ngôn ngữ Hán – Tạng Người Hoa đến cư trú và sinh sống ở Bình Gia vào cuối thế kỷ XIX cùng với
sự hình thành và phát triển của thị trấn Hầu hết người Hoa đều làm nghề kinh doanh buôn bán và dịch vụ Họ có nhiều những cửa hàng lớn và làm nhiều nghề phụ khác nhau Dân tộc Hoa sống rải rác ở các xã Tô Hiệu, Hoàng Văn Thụ, Tân Văn, Hồng Phong, Hoa Thám
Tuy ngôn ngữ và phong tục có những nét khác nhau, nhưng nhân dân các dân tộc Bình Gia luôn luôn có truyền thống đoàn kết gắn bó giúp đỡ lẫn nhau Hằng năm ở các xã, bản đều tổ chức những lễ hội cầu mùa: Hội tháng Giêng, Hội chợ phiên nhóm vùng Những dịp gặp gỡ giao lưu như vậy đã góp phần củng cố tình cảm giữa các dân tộc và giữa các địa phương với nhau Tinh thần đoàn kết cần cù trung thực, cầu tiến bộ vốn là bản chất đời sống của nhân dân các dân tộc huyện Bình Gia
1.3.2 Dân tộc Nùng
Dân tộc Nùng thuộc dân tộc ít người, đứng thứ 7 về số lượng dân cư trong danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam, họ cư trú ở vùng núi phía Bắc Việt Nam Dân tộc Nùng có nhiều nhóm, mỗi nhóm lại có tên gọi riêng: Nùng Xuồng, Nùng Giang, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Phàn Slình, Nùng Cháo… Tiếng nói của dân tộc Nùng thuộc ngữ hệ Tày – Thái Dân tộc Nùng sống chủ yếu ở khu vực Đông Bắc như các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Giang,… Ở Tây Bắc, người Nùng sinh sống làm ăn ở các tỉnh Yên Bái, Lào Cai… Ở các tỉnh trên đồng bào cư trú làm ăn ở các thung lũng lòng chảo, thượng lưu các con sông, con suối, các thị trấn, thị xã và thành phố
Nguồn gốc dân tộc Nùng, theo dã sử và địa chí Lạng Sơn thì người Nùng
từ Vạn Thành, Long Châu và Long An (Quảng Tây, Trung Quốc) đến Tác giả
Lê Quý Đôn trong tác phẩm Kiến Văn Tiểu Lục đã ghi chép về sự có mặt của
Trang 22dân tộc Nùng ở nước ta lúc bấy giờ: “Giống người Nùng đều là người mười hai thổ châu ở Tiểu Trấn Yên Quy Thuận, Long Châu, Điền Châu, Phù Châu, Thái Bình, Lôi Tử Thành,và Hướng Vũ thuộc Trung Quốc làm nghề cày cấy, trồng trọt cũng chịu thuế khóa, lao dịch mặc áo vằn vải xanh, cắt tóc, trắng răng, có người trú ngụ đã đến vài ba đời, đổi theo tập tục người Nam, quan bản thổ thường cấp cho họ một số ruộng làm khẩu phần bắt họ chịu binh xuất Các xứ Lạng Sơn, Cao Bằng và Thái Nguyên đều có giống người này”[13, tr.391]
Như vậy, về căn bản các học giả Việt Nam đều thống nhất cho rằng người Nùng có nguồn gốc từ Trung Quốc di cư sang Việt Nam Người Nùng thường có các tên phụ đi kèm như Nùng Inh, Nùng Phàn Slình, Nùng Cháo, đó chính là quê hương bản quán của họ xưa kia ở Trung Quốc di cư sang:
Nùng Inh ở Long Anh đến
Nùng Cháo ở Long Châu
Nùng An từ An Kết đến
Nùng Quý Rỉn từ Quý Thuận
Nùng Lòi từ Hạ Lôi sang
Nùng Phàn Slình từ Vạn Thành đến [41, tr.237]
Ở tỉnh Lạng Sơn, trong số các dân tộc cư trú ở đây, dân tộc Nùng có số dân đông nhất Dân tộc Nùng ở Lạng Sơn có ba nhóm chính là: Nùng Inh, Nùng Phàn Slình và Nùng Cháo Hầu hết đồng bào sống ở vùng nông thôn của các huyện Bình Gia, Bắc Sơn, Văn Quan, Tràng Định, Văn Lãng, Đình Lập, Lộc Bình, Cao Lộc, Chi Lăng, Hữu Lũng và ven Thành phố Lạng Sơn.Nghề chính của đồng bào là nông nghiệp Một số cư dân sống ở thị trấn, thị tứ… kết hợp làm ruộng với buôn bán nhỏ lẻ, một số cư dân khác lại sống bằng nghề buôn bán như ở thị trấn Lộc Bình, cửa khẩu Tân Thanh…
Ở huyện Bình Gia, theo số liệu thống kê dân số năm 2013, dân tộc Nùng
có 7.380 người chiếm 59,61% dân số của huyện, là dân tộc đông nhất huyện Bình Gia, chiếm vị trí hàng đầu trong thành phần các dân tộc của huyện Người Nùng sống ở Bình Gia đã khá lâu đời và đã trở thành người dân bản địa Ở Bình Gia có hai ngành Nùng chủ yếu là Nùng Cháo và Nùng Phàn Slình Địa
Trang 23bàn cư trú của Nùng Cháo ở xã Hồng Phong, Hoa Thám còn lại Nùng Phàn Slình ở tất cả các xã nhưng đông nhất là Thiện Thuật, Thiện Long, Quang Trung, Yên Lỗ, Quý Hòa …
Người Nùng ở Bình Gia sống định cư thành thôn, bản Bản của người Nùng thường tập trung theo nhóm và ít xen kẽ với các dân tộc khác Tuy nhiên hiện nay đã có sự thay đổi ít nhiều, bản của họ đã xen kẽ với các bản làng, các xã của các dân tộc khác trong huyện
Bảng 1.2: Bảng thống kê các dân tộc phân bố ở các xã của huyện Bình Gia
Trang 24Qua bảng thống kê trên ta có thể thấy, phần lớn dân tộc Nùng sinh sống
ở các xã Thiện Long, Thiện Hòa, Hòa Bình, Yên Lỗ, Thiện Thuật, Bình La, Minh Khai, Hồng Phong, Quý Hòa, Hồng Thái, Quang Trung Văn hóa của người Nùng
có ảnh hưởng đến quá trình phát triển văn hóa của toàn huyện
1.4 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội huyện Bình Gia
Bình Gia là huyện miền núi cao của tỉnh Lạng Sơn, mật độ dân số trung bình là 49 người/km2, dân cư được phân bố tại 19 xã và 01 thị trấn Quỹ đất đai của huyện Bình Gia được sử dụng như sau:
Bảng 1.3 Tổng diện tích ruộng đất huyện Bình Gia
(Nguồn: Phòng Thống Kê huyện Bình Gia năm 2013)
Theo bảng thống kê trên ta thấy diện tích đất nông nghiệp của Bình Gia chỉ chiếm 10,05% tổng diện tích ruộng đất của toàn huyện, trong đó có 3.259.75 ha trồng lúa, đất trồng cây hàng năm khác là 1.768.32 ha Nhìn chung điều kiện tự nhiên của Bình Gia có nhiều thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp như: khí hậu ôn hòa, hệ thống sông suối đủ nước đáp ứng cho việc trồng lúa nước, đất đai thích hợp với việc trồng nhiều loại cây công nghiệp, cây lương thực và thực phẩm như hồi, chè, ngô, khoai, sắn… Nhờ được đầu tư các giống mới kháng bệnh tốt và cho năng suất cao thay thế dần các giống cây cũ, tích cực áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật nên sản lượng lương thực các năm đều tăng Năm 2013, tổng diện tích gieo trồng cả năm là 7.619,8 ha, tổng
Trang 25sản lượng lương thực có hạt là 22.189 tấn Trong đó: diện tích lúa cả năm là 4.085 ha, sản lượng 16.237,6 tấn; ngô cả năm 1.290,5 ha, sản lượng 5.951,4 tấn; cây chất bột có củ 633,3 ha; cây thực phẩm 732,8 ha; cây công nghiệp hàng năm 298 ha; cây hàng năm khác 579,4 ha [50]
Cùng với sự chuyển biến của ngành nông nghiệp thì ngành công nghiệp và dịch vụ cũng có sự chuyển biến mới Tuy nhiên tình hình kinh tế của huyện Bình Gia hiện nay còn gặp rất nhiều khó khăn so với các địa phương khác Do đặc thù về vị trí địa lý và tự nhiên nên nền kinh tế của huyện vẫn chủ yếu là nông - lâm nghiệp, các ngành công nghiệp và xây dựng chưa phát triển, thương mại và dịch vụ còn nhiều hạn chế Tuy nhiên cơ cấu kinh tế của huyện Bình Gia cũng đang có sự chuyển dịch theo hướng hiện đại với sự giảm tỷ trọng các ngành Nông – Lâm nghiệp, tăng dần tỷ trọng của các ngành Công nghiệp – Xây dựng và Dịch vụ Năm 2010, nhóm ngành nông - lâm nghiệp chiếm 51,92%, các ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 13,52%, ngành thương mại và dịch
vụ chiếm 34,56% trong cơ cấu GDP của huyện [49] Nhìn chung sự chuyển dịch này diễn ra còn chậm, tình hình sản xuất còn mang tính nhỏ lẻ, tự cung tự cấp, thu nhập và đời sống nhân dân do đó còn thấp
Công nghiệp trên địa bàn huyện bước đầu đang được phát triển Dự án xây dựng thủy điện Bắc Giang, xã Quý Hòa được khởi công cuối năm 2008 Sản xuất tiểu thủ công nghiệp được mở rộng về quy mô; các sản phẩm chủ yếu là sản xuất vật liệu xây dựng (các loại đá, gạch chỉ, khai thác cát), chế biến nông lâm sản Giá trị ngành sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ngày càng tăng, năm 2010 đạt 31.573 triệu đồng Khuyến khích và tạo điều kiện cho người dân chủ động vay vốn đầu tư, mua sắm công cụ lao động bằng máy để phát triển nghành nghề, từng bước tạo ra hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đáp ứng một phần tiêu dùng và giải quyết việc làm tại chỗ cho người dân
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện Bình Gia tuy có phát triển nhất định nhưng chủ yếu là trong lĩnh vực khai thác, sản xuất vật liệu xây
Trang 26dựng, gia công đồ mộc, chế biến lương thực, thực phẩm… bước đầu đã tạo được thu nhập cho người lao động Máy móc, trang thiết bị đã được đầu tư, đổi mới nhưng chỉ với quy mô nhỏ, hộ gia đình, sản phẩm đơn giản, chưa sản xuất được những sản phẩm có giá trị để mở rộng thị trường Hiện nay, trên địa bàn huyện có 02 đơn vị khai thác khoáng sản làm vật liệu thông thường, 01 đơn vị khai thác than bùn đang hoạt động
Các hoạt động dịch vụ, thương mại đều có bước phát triển Năm 2009, giá trị ngành dịch vụ đạt 198.255 triệu đồng, đóng góp 32,7% vào GDP của huyện [49]; thương nghiệp quốc doanh từng bước được củng cố đáp ứng các mặt hàng thiết yếu như dầu hỏa, muối ăn, thuốc chữa bệnh, vật tư, phân bón, giấy viết, sách vở, cho đồng bào ở vùng cao, vùng sâu vùng xa Thương nghiệp ngoài quốc doanh cũng phát triển nhanh và đa dạng góp phần giải quyết ông ăn việc làm và tạo ra thị trường về hàng hóa, dịch vụ sản xuất và đời sống, góp phần ổn định giá cả
Ngoài chợ Trung tâm ở thị trấn Bình Gia, còn có các chợ cụm khu vực là chợ Pắc Khuông và chợ Văn Mịch các chợ này có vai trò thu gom nông sản hàng hóa của nông dân ở các xã như hoa hồi khô, đậu, lạc, mật ong, mang đi tiêu thụ tại thành phố Lạng Sơn và xuất khẩu sang Trung Quốc
Hệ thống giao thông của huyện những năm gần đây được đầu tư nâng cấp và làm mới bằng nhiều nguồn vốn, trong đó chủ yếu là của Nhà nước (khoảng 3 tỷ đồng/năm trong kế hoạch giai đoạn 1996 – 2000) và huy động sức dân đóng góp, nên cơ sở hạ tầng giao thông đã được cải thiện đáng kể Toàn huyện hiện có 20/20 xã, thị trấn có đường ô tô đi được vào trung tâm xã, hệ thống giao thông liên thôn bản cũng được hình thành Mạng lưới giao thông vận tại trên đã đóng góp tích cực cho nhu cầu đi lại của người dân và sự phát triển kinh tế xã hội
Huyện Bình Gia rất chú trọng đến sự nghiệp giáo dục, coi giáo dục là tiền đề cho sự phát triển bền vững Trong những năm qua được sự quan tâm
Trang 27của Đảng và Nhà nước, tình hình giáo dục của huyện có bước phát triển khá, tỷ
lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường năm sau cao hơn năm trước Chất lượng giáo viên đạt chuẩn khá cao, chất lượng giảng dạy được nâng lên, số học sinh giỏi năm sau tăng hơn các năm trước Theo số liệu của Phòng Giáo dục huyện Bình Gia, năm 2009-2010 tỷ lệ học sinh lên lớp thẳng ở bậc Tiểu học là 95,1%, Trung học cơ sở là 94,7%, tốt nghiệp Trung học cơ sở đạt 99,23% [77]
Quy mô mạng lưới trường học được mở rộng và phát triển ở tất cả các cấp học Cơ sở vật chất tiếp tục được củng cố đầu tư xây dựng và kiện toàn Năm 2010, số trường có đủ các phòng học bộ môn, phòng thư viện, phòng thực hành, phòng chức năng khác có 02 trường; Số trường được kiên cố hóa là 43/58 trường (chiếm 74,14%); Số trường còn phòng học tạm là 40 trường (chiếm 68,96%); Số trường được cấp đủ diện tích theo quy định: 43 trường (chiếm 74,14%); Số trường đã được thành lập nhưng chưa có địa điểm, cơ sở vật chất riêng có 02 trường [77]
Hầu hết con em đồng bào các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa được đi học,
cử tuyển vào các trường Đại học, Cao đẳng trong cả nước Huyện cũng thường xuyên thực hiện các cuộc vận động do Bộ Giáo dục và đào tạo phát động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là giáo dục đạo đức, nhân cách và kỹ năng sống cho học sinh
Bên cạnh đó, công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe cho đồng bào cũng được huyện chú trọng quan tâm Đến nay, toàn huyện 20/20 xã, thị trấn đều có bác sĩ (đạt tỷ lệ 100%) Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã là 95% Tuy nhiên, cơ sở vật chất của các trạm y tế chưa đủ các phòng chức năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn Một số nhà trạm được xây dựng trước năm 1995 đã
bị xuống cấp trầm trọng (như thấm, dột, lún, nứt ) cần được đầu tư xây dựng mới Các công trình phụ trợ như hàng rào, cổng trạm, bể nước, bếp bệnh nhân, nhà vệ sinh… hầu như chưa có, làm ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa
bệnh, thực hiện các chương trình y tế
Trang 28Công tác xóa đói giảm nghèo đã có sự chuyển biến tích cực, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao rõ rệt Số hộ nghèo có chiều hướng giảm dần, các chính sách xã hội khác được quan tâm, các tệ nạn xã hội tiếp tục được đẩy lùi
Tiểu kết: Bình Gia là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc thiểu số, các dân
tộc sống xen kẽ nhau dẫn đến sự giao thoa về văn hóa và giao lưu trong kinh tế, tạo ra những sắc thái văn hóa mới cho mảnh đất Bình Gia giàu truyền thống Trong đó, dân tộc Nùng chiếm số đông trong dân cư chính vì vậy mà nền văn hóa của đồng bào có ảnh hưởng lớn đến các dân tộc khác Trong quá trình phát triển, Bình Gia nhận được nhiều sự quan tâm của Đảng và nhà nước với nhiều chính sách phù hợp cho sự phát triển của huyện, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số Kinh tế nông nghiệp của huyện giữ vai trò chủ đạo nhưng thương mại và dịch vụ đã có những chuyển biến đáng kể Đặc biệt, giáo dục, y tế của huyện Bình Gia phát triển khá tốt
Trang 29Chương 2 LÀNG BẢN CỦA NGƯỜI NÙNG Ở HUYỆN BÌNH GIA TỈNH LẠNG SƠN (1986 - 1998) 2.1 Khái niệm làng bản
Trong xã hội Việt Nam truyền thống thì làng là tế bào, là đơn vị cơ sở cấu thành nên nước Làng nông nghiệp cổ truyền đóng vai trò quan trọng chi phối mọi mặt đời sống con người, đồng thời cũng là nơi kết tinh những giá trị văn hóa, hình thành nên văn hóa làng – một bộ phận hữu cơ của văn hóa dân tộc Tuy nhiên, ở từng địa phương và từng dân tộc mà làng xã nước ta có những tên gọi khác nhau, mang những sắc thái khác nhau Ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, đồng bào thường gọi vùng đất quê hương, nơi sinh tụ của mình
là bản làng Theo Từ điển Tiếng Việt, Bản: “đơn vị dân cư nhỏ nhất ở một số
vùng dân tộc thiểu số miền Bắc Việt Nam, nó tương đương với làng”[57, tr.30]
Theo GS Nguyễn Quang Ngọc “ khái niệm “làng xã” như một đơn vị tụ cư,
đơn vị kinh tế, đơn vị tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đơn vị hành chính cấp cơ sở” [30, tr.48] Như vậy, có thể coi làng bản là một tổ chức xã hội
cơ bản dựa trên sự cộng đồng về lãnh thổ, dân cư, xã hội và văn hóa
Về mặt lãnh thổ, làng bản được xác định bởi một không gian sinh tồn bao gồm phần đất ở, đất canh tác, khu rừng phòng hộ, rừng cấm, bãi tha ma, khu vui chơi, sinh hoạt chung của cộng đồng… thuộc quyền sở hữu chung của bản làng
Về mặt dân cư, trong bản làng các gia đình đều có mối quan hệ huyết thống hay láng giềng cùng chung sống với nhau trong một không gian sinh tồn đã được xác định
Về mặt xã hội, làng bản là một cộng đồng xã hội tự quản vận hành theo các nguyên tắc của luật tục hay tập quán pháp Bộ máy điều hành của bản làng
do dân lựa chọn hay do thế tập của dòng họ quý tộc Đứng đầu mỗi bản là trưởng bản hay trưởng làng
Trang 30Về mặt văn hóa, làng bản là một cộng đồng văn hóa Tính cộng đồng này được thể hiện trong ý thức chung của các thành viên về cội nguồn của mình thông qua những tín ngưỡng và nghi lễ thờ cúng những vị thần bản mệnh chung của thôn bản, bên cạnh đó là sự cộng cảm về các sinh hoạt văn hóa chung như
lễ hội, văn hóa dân gian, kiến trúc, nghệ thuật, cách trang trí nhà cửa…
Nhìn chung, tổ chức xã hội làng bản giống như một hình thức công xã láng giềng nguyên thủy, thích ứng với cư dân nông nghiệp trồng lúa, trong đó tính cộng đồng là cơ sở và nền tảng trong ứng xử và quan hệ xã hội giữa các thành viên Cùng với những đặc trưng chung trên nhưng làng bản ở nước ta lại
có các dạng thức, sắc thái khác nhau tùy thuộc vào môi trường, điều kiện lịch
sử, văn hóa và quan hệ xã hội ở mỗi tộc người Căn cứ vào đó, các nhà nghiên cứu đã phân loại bản làng thành các loại như: làng bản của cư dân vùng thấp (Tày, Nùng,Thái, Mường ) làng bản của cư dân vùng cao (Mông Dao…), làng buôn của các dân tộc vùng Tây Nguyên
Trên đây là khái quát những nội dung cơ bản về bản làng nói chung Trong đề tài này, tập trung nghiên cứu về làng bản của người Nùng huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn, thuộc cư dân sống ở vùng thung lũng, chân núi hay được gọi là “văn hóa thung lũng”
2.2 Tên gọi và không gian sinh tồn
2.2.1 Nguồn gốc tên gọi
Tìm hiểu về tên gọi của bản làng, có thể biết được nhiều vấn đề về lịch
sử, quá trình hình thành của bản, điều kiện tự nhiên, nghề nghiệp, phong tục tập
quán, quan niệm… Các tác giả cuốn “Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX
(thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra)” đã định nghĩa tên làng xã của huyện hay
một khu vực địa lý, lịch sử văn hóa như sau: là tổng thể các tên riêng đặt ra để
gọi các đơn vị địa lý tự nhiên hay nhân văn của khu vực ấy Đồng thời đó còn
là những chứng tích về ngôn ngữ và có thể cả về văn tự mà cộng đồng đã đặt,
đã dùng và lưu lại trên địa bàn cư trú và phát triển của mình Thời gian định
Trang 31cư càng lâu dài, trình độ sinh hoạt càng cao, cảnh quan địa lý càng đa dạng, thành phần tộc người càng đông, điều kiện phát triển thuận lợi…thì tên làng xã càng dồi dào và phức tạp về số lượng, càng phong phú, sâu sắc về nội dung [56, tr.11]
Các bản của người Nùng ở Bình Gia cũng giống như các làng xã của người Kinh vùng đồng bằng đều rất phong phú về hệ thống tên gọi Mỗi bản có một tên gọi và nguồn gốc, ý nghĩa khác nhau Ngay từ khi khai phá, các làng bản người Nùng Bình Gia thường quần cư ở những vùng ven sông, ven đường và vùng gò đồi Vì vậy tên làng mà họ đặt ra thường gắn liền với những địa hình mà họ cư trú Tên làng bản thường được cấu tạo bằng các yếu tố ngôn ngữ dân tộc thiểu số, thể hiện các tri giác thân thể, dân dã, chân thực của đồng bào miền núi
Trước tiên, tên làng bản người Nùng thường mang tiền tố “nà” Qua điền dã thực tế, chúng tôi thấy tên gọi mang tiền tố “nà” là phổ biến nhất trong tên gọi làng bản của người Nùng (chiếm 48/186 tên gọi làng bản) Theo tiếng Nùng “nà” có nghĩa là ruộng đồng, qua tên gọi “nà” ta thấy được đặc điểm những cánh đồng của người Nùng Bình Gia
Bảng 2.1 Thống kê tên gọi làng mang tiền tố “Nà”
Nà Vước Nà Dài Nà Đồng Nà Quân
Nà Ngừa Nà Khoang Nà Dẳn
Nà Khuông
Trang 32Nà Mười Nà Nèn
Nà Cạp Nà Ven Nà Nát Nà Háng Nà Sla Nà Kít
Nà Cao Nà Ngần Nà Tồng Nà Chang
Nà Vường Nà Cướm
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Bình Gia)
Mỗi cái tên gọi đều có ý nghĩa của nó Ví dụ Nà Lẹng nghĩa là ruộng cạn chờ mưa, đây thường là những thửa ruộng bậc thang cao, khó lấy nước, chỉ có thể trồng một vụ vào mùa mưa Nà Háng có thể được đọc chệch của từ Nà Hang – ruộng đuôi, Nà Chang là ruộng giữa, hay như Nà Quãng là ruộng rộng mênh mông, Nà Mạ là ruộng ngựa, …[63]
Trang 33Như vậy tên gọi mang tiền tố “nà” gắn liền với cư dân Nùng lấy kinh tế lúa nước là nền kinh tế chủ đạo Những tên gọi này tuy đơn giản, không mang tính khái quát nhưng đầy ý nghĩa và có sức tồn tại cho đến ngày nay
Cùng với các bản mang tiền tố “nà”, ở Bình Gia còn thấy xuất hiện những bản có tên gọi được đặt theo địa lý tự nhiên và phong cảnh sản xuất như
“khuổi” (chiếm 30/186 thôn) Tiền tố “khuổi” trong tiếng Nùng có nghĩa là suối, là nguồn nước Đồng bào Nùng thường chọn những địa điểm cư trú sản xuất gần những nguồn nước, nhất là các khe rãnh, sông, suối vừa thuận lợi cho canh tác, vừa thuận tiện cho sinh hoạt gia đình Từ đó, những tên gọi mang tiền tố “khuổi” ra đời Trải qua thời gian, những tên gọi đó đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân và được lưu truyền qua nhiều thế hệ Tác giả Nguyễn Văn Âu
trong cuốn “Địa danh Việt Nam” đã nêu: “Các địa danh sông ngòi thường rất
cổ và sông ngòi là những đối tượng địa lý gắn liền với cuộc sống hàng ngày của nhân dân trong quá trình sản xuất cũng như sinh hoạt, trong suốt thời gian lịch sử lâu dài của dân tộc, các địa danh này cũng lại được bảo lưu khá bền vững, ít bị thay đổi do các biến động của xã hội.”[3, tr.51]
Bảng 2.2 Thống kê tên gọi làng mang tiền tố “Khuổi”
Khuổi Lùng Khuổi Cáp
Khuổi Luông Khuổi Màn
Khuổi Lù
Trang 34Khuổi Thoong Khuổi Cưởm Khuổi Khuy Khuổi Hắp
Khuổi Mè Khuổi Chặng Khuổi Cọ
Khuổi Bổng Khuổi Nà
Khuổi Phung
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Bình Gia)
Tiếp đến là tên gọi mang tiền tố “bản” Tiền tố “bản” chiếm 27/186 thôn
“Bản” có nghĩa là làng, những tên làng có tiền tố bản đã có từ lâu đời, gắn liền với quá trình định cư phát triển của bản làng như vị trí địa lý, phong tục tập quán…
Bảng 2.3 Thống kê tên gọi làng mang tiền tố “Bản”
Bản Huấn Bản Nghiệc
Bản Khoang Bản Pát
Bản Tăn Bản Tiến
Trang 35Bản Chu 2 Bản Ngĩu
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Bình Gia)
Do địa hình là đồi núi nên đồng bào Nùng thường định cư ở những thung lũng, ven đồi, gò đất khá bằng phẳng, xung quanh những dãy núi Do vậy, tên làng bản thường gắn liền với địa hình cư trú, tiền tố “pò” (núi) như Pò Mầm ,
“tà” (sông) như Tà Chu, “khau” (núi, rừng) như Khau Phụ,…
Như vậy, qua việc tìm hiểu sơ lược tên làng bản của người Nùng ta thấy tên gọi làng bản đều gắn liền với ruộng nương, núi sông và địa bàn tụ cư Đây là một nét đẹp trong truyền thống của đồng bào trong nền văn hóa đa dạng và giàu bản sắc
2.2.2 Không gian sinh tồn
2.2.2.1 Vị trí địa lý và địa vực của làng bản Nùng
Người Nùng ở Bình Gia thường quần tụ ở những vùng giáp ranh giữa rừng và ruộng, gần đó thường có những con sông hoặc suối nhỏ chảy qua Nguồn nước từ sông suối là yếu tố quan trọng trong việc canh tác lúa nước và dùng trong sinh hoạt hàng ngày của đồng bào Đối với họ nguồn nước là sự sống còn và việc lập bản làng gần nguồn nước là tiêu chí đầu tiên của họ Vị trí của thôn Nà Mạ xã Minh Khai được xác định như sau: phía Bắc giáp Nà Mười, phía Nam giáp Bản Tiến, phía Tây giáp Bản Tăn, phía Đông là ngọn núi cao và
có một con suối nhỏ chảy qua Ngoài sông Bắc Giang, Bình Gia còn có rất nhiều khe suối nhỏ như: suối Nhỏi Cảng (xã Tân Hòa), suối Pái Khuổi (xã Hòa Bình), suối Khuổi Là (xã Quý Hòa), suối Khuổi Cải (xã Hoa Thám), suối Kéo Liềng (xã Hưng Đạo), suối Bản Cù (xã Vĩnh Yên), phụ lưu sông Bằng Giang là
Trang 36sông Pắc Khuông (xã Thiện Thuật), suối Thiện Hòa (xã Thiện Hòa) Dọc những con suối này san sát các bản làng người Nùng như các thôn Nà Mạ, Khuổi Con, Pàn Pẻn 1, Pàn Pẻn 2 (thuộc xã Minh Khai), Bằng Giang 1, Bằng Giang 2 (thuộc xã Hồng Phong)…
Làng bản của người Nùng thường tọa lạc trên những khu đất cao, tựa lưng vào núi, hướng xuống thung lũng hoặc nơi thoáng đãng, thấp hơn là những cánh đồng cạnh những con suối nhỏ Khu vực cư trú của đồng bào thường không tách rời khu vực sản xuất Nhà, ruộng, nương thường liền kề nhau Điều này có khác so với các dân tộc có truyền thống đốt nương làm rẫy Khu cư trú của họ thường cách xa nương rẫy nhằm tránh nguy cơ hỏa hoạn khi đốt nương
Người Nùng là dân tộc sống định cư lâu đời cho nên làng bản của họ thường cố định, và chỉ chọn một lần Ngoài yếu tố gần nguồn nước là tiêu chí đầu tiên để chọn đất dựng bản, đồng bào còn quan tâm đến nhiều yếu tố khác khi chọn nơi định cư Địa hình dựng bản, dựng nhà cửa của họ thường là những thung lũng tương đối bằng phẳng nhưng vẫn đảm bảo sự cao ráo, thoáng mát Xung quanh hoặc không xa nơi cư trú phải có đất canh tác để làm ruộng nương Người Nùng là những cư dân vùng thấp Vì vậy bản làng của họ thường không đặt trên những vùng rẻo cao như người H’Mông, người Dao và một số dân tộc ít người khác Cây lúa nước đã gắn liền với quá trình phát triển, sinh sống của đồng bào Ngoài ra, yếu tố phong thủy và tôn giáo cũng được đồng bào để ý trong quá trình chọn đất lập bản
Mỗi bản làng người Nùng thường có địa vực cư trú riêng bao gồm đất ở, đất canh tác, rừng núi, sông suối, bãi chăn thả gia súc… Ranh giới giữa các bản thường được xác định tương đối theo đường sông suối, eo núi hoặc đường xá Cương vực của làng bản được cư dân trong bản truyền từ đời này sang đời khác, vì vậy mà mọi người luôn nhận rõ ranh giới phân định của bản mình Người Nùng thường ít khi sống xen cư với các dân tộc khác, các bản thường ở những nơi biệt lập cách xa nhau Vì vậy ý thức về ranh giới của người
Trang 37dân trong bản được thể hiện rõ ràng Đối với họ, địa vực cư trú là của chung, cùng có quyền lợi được ở, được canh tác, săn bắn và cùng có nghĩa vụ bảo vệ
Ý thức về một địa vực cư trú góp phần hình thành nên ý thức về dân tộc, về cộng đồng chung, một cộng đồng dân cư có tổ chức ổn định
2.2.2.2 Quy mô các làng bản Nùng ở Bình Gia
Ở huyện Bình Gia, người Nùng là một trong những nhóm cư dân đầu tiên đến khai phá và định cư ở vùng đất này từ rất sớm, trở thành cư dân bản địa Làng bản của đồng bào cũng ra đời từ rất sớm, cùng với quá trình định canh, định cư của đồng bào Trước đây, quy mô của mỗi bản thường rất nhỏ, thường dưới 10 nóc nhà, những bản có 30 nóc nhà được coi là bản lớn Trong giai đoạn 1986 – 1998, quy mô các bản vẫn chưa được cải thiện nhiều, trung bình các bản có từ 25-30 nóc nhà Ngày nay quy mô xóm bản của người Nùng đã lớn hơn rất nhiều, đa số có từ 30 nóc nhà trở lên, có bản trên 100 nóc nhà như: Bản Huấn (xã Hồng Thái) 101 nóc nhà; Tồng Nộc (xã Thiện Long) 103 nóc nhà; Khuổi Ngành, Nà Kéo (xã Quý Hòa) 100 nóc nhà [59]
Quy mô các làng bản của người Nùng thường do mức độ ruộng đất canh tác quyết định Tại những thung lũng lớn và tương đối bằng phẳng cạnh các con sông suối dân cư thường sống tập trung đông đúc hơn Những nơi có điều kiện khó khăn về địa hình, diện tích đất canh tác ít, đất đai kém mầu mỡ thì quy
mô mỗi bản rất nhỏ, chỉ có vài gia đình Đồng bào thường cư trú lẻ tẻ, mỗi nơi vài hộ sống rải rác thành vài xóm Những người trong cùng dòng họ thường sống quây quần cạnh nhau như dòng họ Hứa, dòng họ Lâm ở thôn Nà Mạ xã Minh Khai, mỗi dòng họ định cư tại một quả đồi Trong quá trình định cư và khai phá đất đai của đồng bào, trước những tác động của điều kiện lịch sử, xã hội mới thì quy mô mỗi bản ngày càng lớn
Người Nùng ở Bình Gia thường sống xen kẽ với các dân tộc khác như Kinh, Tày, Dao hoặc sống tập trung thành thôn bản riêng như thôn Nà Mạ xã Minh Khai tập trung toàn người Nùng sinh sống Thôn Khuổi Ngành (xã Hoa
Trang 38Thám) người Nùng lại cư trú xen kẽ với dân tộc Tày nên trong văn hóa của người Nùng và Tày đã diễn ra quá trình tiếp xúc, giao lưu ảnh hưởng qua lại Trong quá trình giao lưu này, có một số bộ phận người Nùng hóa Tày hay ngược lại Giữa hai dân tộc này cũng đang hình thành những yếu tố văn hóa chung Tày - Nùng thể hiện trong ngôn ngữ, phong tục tín ngưỡng và văn học nghệ thuật Ví dụ như trong phong tục tín ngưỡng, cả hai dân tộc đều coi trọng thờ cúng tổ tiên, họ cúng giỗ giống nhau vào những ngày như Tết Thanh minh, Rằm tháng giêng, Rằm tháng bảy Tuy nhiên, người Tày thường cúng tổ tiên vào ngày mùngMột và ngày Rằm, trong khi đó, người Nùng chỉ cúng tổ tiên vào dịp Tết Do điều kiện địa hình, các nhóm Nùng sống khá cách biệt nhau nên ảnh hưởng đến tính cố kết giữa các nhóm Nhưng cũng có nhóm Nùng lại
có điều kiện kề cận với người Tày như Nùng Cháo, Nùng Phàn Sình … Hiện tượng hôn nhân giữa người Nùng và người Tày ngày càng trở nên phổ biến, là một nhân tố thúc đẩy quá trình giao lưu giữa hai cộng đồng Tày - Nùng
Trong quá trình định cư và khai phá đất đai, xu hướng tách lập bản mới liên tục được diễn ra Ở bản người Nùng không có hiện tượng cả bản chuyển đi định cư ở một nơi khác, vì người Nùng vốn có truyền thống định canh, định cư
từ lâu, cuộc sống của họ gắn liền với cây lúa nước Thông thường chỉ có vài gia đình, hoặc dòng họ tìm đến định cư ở những nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn cho sinh sống, làm ăn, và lâu dần những nơi đó trở thành bản mới, có tên gọi riêng Quá trình định cư, khai phá khiến cho dân số tăng lên, thêm vào đó những thành phần dân tộc khác di cư đến đã làm cho những bản nhỏ của người Nùng ngày càng có quy mô lớn dần Đó chính là những nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến việc hình thành những bản mới của đồng bào Nùng
Người Nùng Bình Gia thường sống xen cư với người Tày do cùng nguồn gốc và có nhiều nét tương đồng về văn hóa Tuy nhiên, khi có những dân tộc khác di cư đến (như người Dao, người Kinh) thì đồng bào cũng sống rất hòa thuận với họ Văn hóa giữa các dân tộc có sự giao lưu, bổ trợ lẫn nhau nhưng
Trang 39văn hóa truyền thống của người Nùng vẫn được bảo lưu trong các dòng họ và những bản làng mà người Nùng định cư từ trước
Gia đình của người Nùng ở huyện Bình Gia thường bao gồm gia đình nhỏ, một hoặc hai thế hệ, hay gia đình lớn vài ba thế hệ cùng chung sống Gia đình nhỏ bao gồm một cặp vợ chồng cùng con cái chưa xây dựng gia đình hoặc một cặp vợ chồng cùng con cái và bố mẹ chồng Hiện nay, khi điều kiện kinh tế đã khá hơn, gia đình lớn 3 đến 4 thế hệ đã giảm dần Cùng với các dân tộc khác trong huyện, khi điều kiện sống, đặc biệt là nền kinh tế, văn hóa đã thay đổi thì các gia đình người Nùng có xu hướng tách nhỏ ra Số lượng gia đình 2 thế hệ ngày càng tăng, các gia đình 3 thế hệ vẫn tồn tại nhưng không nhiều, gia đình 4 thế hệ ngày càng ít
Theo tài liệu điền dã của tác giả, ở Bình Gia hiếm thấy loại gia đình lớn mà phổ biến ở đây là loại gia đình nhỏ phụ hệ Các loại gia đình ở Bình Gia thuộc nhiều cấu trúc khác nhau gồm gia đình bốn thế hệ, gia đình ba thế hệ, gia đình hai thế hệ, trong đó phổ biến hơn cả là gia đình ba thế hệ và gia đình hai thế hệ Loại gia đình bốn thế hệ gồm có: ông bà, vợ chồng chủ nhà và con của họ đã lập gia đình và sinh con cùng sinh sống trong một nhà, cùng làm ăn chung và chi tiêu chung, đó là trường hợp gia đình ông Hứa Văn Kiểu, thôn Pàn Pẻn
II, xã Minh Khai Loại gia đình bốn thế hệ cùng cư trú dưới một mái nhà đến nay chiếm một tỷ lệ nhỏ
Trang 40Mô hình nhà ông Hứa Văn Kiểu, thôn Pàn Pẻn II, xã Minh Khai
Gia đình ba thế hệ gồm có bố mẹ của chủ nhà (hay bố hoặc mẹ của chủ nhà), vợ chồng chủ nhà cùng con cái chưa dựng vợ gả chồng Loại hình gia đình này khá phổ biến Ví dụ gia đình ông Hoàng Văn Hưng, thôn Khuổi Pàn, xã Hoa Thám
Hứa Văn Cu (con)
Hoàng Văn Hưng Hoàng Thị Slin (Bố, mẹ)
(Bà)