Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế hiện nay, bản sắc văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam cần được bảo tồn và phát huy. Một trong những yếu tố cần được bảo tồn là văn hoá làng bản của dân tộc thiểu số vùng niền núi phía Bắc. Tại huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng, yếu tố làng bản của người Tày cũng có những nét truyền thống rất phong phú và đặc sắc. Làng bản dân tộc Tày vừa phải đổi mới, hiện đại nhưng cũng phải giữ được những bản sắc dân tộc và truyền thống tốt đẹp. Lâu nay việc tìm hiểu nghiên cứu văn hoá làng bản của các dân tộc nói chung trên phạm vi cả nước bước đầu đã đạt được những thành tựu. Tuy nhiên việc tìm hiểu làng bản của của người Tày ở Cao Bằng, tỉnh miền núi, biên giới phía Bắc do nhiều nguyên nhân khách quan còn bỏ ngỏ chưa được chú ý quan tâm và việc nghiên cứu cũng chưa có hệ thống. Với những lý do trên, chúng tôi đã chọn vấn đề: “Làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng” làm đề tài nghiên cứu. Qua đề tài, tác giả mong muốn giúp cho thế hệ trẻ ở huyện gắn bó sâu sắc hơn với quê hương, để từ đó có những việc làm thiết thực góp phần xây dựng quê hương Trùng Khánh ngày càng giàu đẹp hơn.
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-o0o -
TRIỆU QUỲNH CHÂU
LÀNG BẢN CỦA NGƯỜI TÀY
Ở HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG
Chuyên ngành : Lịch Sử Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀM THỊ UYÊN
THÁI NGUYÊN, NĂM 2010
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-o0o -
TRIỆU QUỲNH CHÂU
LÀNG BẢN CỦA NGƯỜI TÀY
Ở HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
THÁI NGUYÊN, NĂM 2010
Trang 3Lâu nay việc tìm hiểu nghiên cứu văn hoá làng bản của các dân tộc nói chung trên phạm vi cả nước bước đầu đã đạt được những thành tựu Tuy nhiên việc tìm hiểu làng bản của của người Tày ở Cao Bằng, tỉnh miền núi, biên giới phía Bắc do nhiều nguyên nhân khách quan còn bỏ ngỏ chưa được chú ý quan tâm và việc nghiên cứu cũng chưa có hệ thống
Với những lý do trên, chúng tôi đã chọn vấn đề: “Làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng” làm đề tài nghiên cứu Qua đề
tài, tác giả mong muốn giúp cho thế hệ trẻ ở huyện gắn bó sâu sắc hơn với quê hương, để từ đó có những việc làm thiết thực góp phần xây dựng quê hương Trùng Khánh ngày càng giàu đẹp hơn
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi được thừa hưởng rất ít các kết quả nghiên cứu của những người đi trước bởi vì chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào về làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh Tuy nhiên, ở từng lĩnh vực và khía cạnh khác nhau của các nhà nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề nói trên một cách trực tiếp hay gián tiếp
Trang 4Ở vùng Tày, Nùng ở Việt Bắc cũng có những tác giả là những nho sĩ quan sát ghi chép về đất nước, núi sông và con người ở đây như: Phan Lê
Phiên ( 1973-1809) viết “ Cao Bằng Lục”, Phạm An Phủ viết “Cao Bằng kí
Lược” Và cuốn sách “Cao Bằng thực lục” của tác giả Bế Hữu Cung viết năm
1810, là cuốn sách đầu tiên giới thiệu về vị trí địa lý sông núi, phong tục tập quán và thành trì Cao Bằng Năm 1920, tác giả Bế Huỳnh cho xuất bản cuốn
“Cao Bằng tạp chí nhật tập”, tác phẩm đã đề cập chi tiết đến nguồn gốc, phong tục tập quán của dân tộc Tày, Nùng ở Cao bằng Tác phẩm “Văn hoá
Tày, Nùng” của nhóm tác giả Hà Văn Thư, Lã Văn Lô, tác phẩm đã đề cập
đến một cách khái quát về đặc điểm của hai dân tộc Tày, Nùng trên hai phương diện lớn của nền văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần
Gần đây công trình “Nhà sàn truyền thống của người Tày ở Đông Bắc
Việt Nam” của tác giả Ma Ngọc Dung xuất bản năm 2005, tác phẩm đi sâu
vào tìm hiểu đời sống vật chất của người Tày nói chung, cách chọn chọn thế đất của họ đề xây dựng nhà cửa, làng bản Ngoài ra những báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế –xã hội tỉnh Cao Bằng, báo cáo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện Trùng Khánh đến năm 2020
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào cụ thể tìm hiểu, nghiên cứu về làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng Bởi vậy còn rất nhiều vấn đề quan trọng chưa được làm sáng tỏ như: nguồn gốc dân tộc, sinh hoạt tín ngưỡng, phong tục tập quán đã từng tồn tại hoặc còn duy trì đến ngày nay…Song chúng tôi vẫn xem thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước là ý kiến gợi mở quý báu , là cơ sở để tác giả hoàn thành tốt đề tài của mình
3 Nguồn gốc và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tư liệu
Thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng một số sử sách và địa chỉ cổ
như: “Lịch sử tỉnh Cao Bằng”, tác phẩm giới thiệu về đất và người Cao Bằng,
Trang 5quá trình hình thành phát triển trên mọi lĩnh vực (kinh tế, chính trị, xã hội)
của tỉnh từ thời tiền sử đến nay “Cao Bằng Thực Lục” (Bế Hữu Cung) tác phẩm gồm 4 phần, trong đó có phần ba: “Sơn Thuỷ Lục” chép lịch sử Cao Bằng và phần bốn: “Cương giới phong tục” chép lịch sử Cao Bằng từ đời
Kinh Dương Vương đến đời Chiêu Thống và các sách tên làng bản Việt Nam đầu thế kỷ XIX… còn lưu lại tại Vện Hán Nôm, Viện Sử học Nguồn tư liệu điền dã, để thực hiện đề tài này chúng tôi sẽ tiến hành thực địa tại tất cả các
xã thuộc huyện Trùng Khánh để quan sát địa hình, quang cảnh làng bản, đời sống văn hoá, xã hội của dân tộc Tày ở huyện Trùng Khánh Từ đó giúp chúng tôi có thể tìm hiểu về làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng
Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài, tác giả đứng trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng diễn ra trong các làng bản của người Tày huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng
Phương pháp chủ yếu vận dụng trong đề tài là diễn dã lịch sử kết hợp với quan sát xã hội học nhằm làm nổi bật những đặc trưng làng bản của người Tày ở Trùng Khánh nói riêng và Cao Bằng nói chung Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logíc, phương pháp hệ thống hoá, … để nghiên cứu làng bản của người Tày ở Trùng Khánh
4 Mục đích, đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Về mục đích nghiên cứu, đề tài nghiên cứu tìm hiểu về làng bản của
người Tày ở huyện Trùng Khánh, nhằm khắc phục bức tranh toàn cảnh về làng bản dân tộc Tày ở một huyện miền núi biên giới Cao Bằng Qua kết quả
Trang 6Cao Bằng nói chung và Trùng Khánh nói riêng mà lâu nay ít người quan tâm Mặt khác, trong cuộc sống mới, thời đại mới, chúng ta nhất là giới trẻ ngày nay tuỳ theo hoàn cảnh và khả năng sẽ phải có mặt ở nhiều nơi công tác ở nhiều môi trường, những tình cảm quê hương, tình làng nghĩa xóm vẫn sẽ mãi mãi đậm đà Hiểu biết về làng xã Việt Nam nói chung và làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng nói riêng chính là để giúp chúng ta nâng cao tình cảm ấy
Đối tượng nghiên cứu, đề tài đi sâu nghiên cứu các vấn đề có liên
quan đến tổ chức xã hội làng bản, đời sống văn hoá - xã hội làng bản của dân tộc Tày ở Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
Phạm vi nghiên cứu: không gian nghiên cứu của đề tài là địa bàn huyện
Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Từ những tài liệu khảo sát, điền dã tại Trùng Khánh hiện tại kết hợp với khai thác các tài liệu khác, chúng tôi tìm lọc những yếu tố cổ truyền về làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng trước cách mạng Tháng Tám và những biến đổi từ sau cách mạng Tháng Tám đến nay Chính vì vậy mà đề tài được bố cục trình bày theo từng vấn đề cụ thể và có sử dụng tất cả các nguồn tài liệu mà chúng tôi đã thu thập được có liên quan đến nội dung đưa ra không giới hạn niên đại của tư liệu
5 Đóng góp của đề tài
Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành sự nghiệp: “Xây dựng nền văn hoá
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” Trong sự nghiệp ấy di sản văn hoá của mỗi
dân tộc được xem là: “Tài sản vô giá gắn kết cộng đồng dân tộc là cốt lõi của
bản sắc dân tộc, là cơ sở để sáng tạo ra những giá trị mới và giao lưu văn hoá” Làng xã, mường bản Việt Nam đã có một lịch sử lâu đời Chính từ
những làng bản đơn vị cơ sở này mà đất nước ta tồn tại và ghi được nhiều thành tựu tạo nên một nền văn hoá làng có nhiều nét riêng Ngày nay muốn
Trang 7xây dựng một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc như Đảng ta luôn nhấn mạnh, thì cần phải tiếp cận với văn hoá làng
Hiện nay, dưới ảnh hưởng của sự giao lưu văn hoá và tác động cư chế thị trường, của công nghiệp hoá và hiện đại hoá, văn hoá làng bản truyền thống của người Tày đang có những biến đổi lớn Bên cạnh những giá trị văn hoá tích cực mà ta cần bảo tồn, kế thừa, phát huy, cũng còn những yếu tố đã
tỏ ra lạc hậu, không còn phù hợp với cuộc sống đương đại và xu thế phát triển chung đòi hỏi chúng ta phải cải biên, nâng cao, thậm chí phải lọc bỏ Mặt khác chúng ta lại đang chứng kiến một thực tế là nhiều giá trị văn hoá truyền thống đích thực đang bị mai một, xuống cấp, bị pha tạp, lai căng một cách phản văn hoá không phù hợp với bản sắc văn hoá dân tộc Trong thời gian qua chúng ta cũng đã đầu tư nhiều công sức, có nhiều chủ trương chính sách
để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở vùng đồng bào các dân tộc như tuyên truyền, vận động đồng bào xoá bỏ những hủ tục lạc hậu, xây dựng nếp sống văn hóa mới, thực hiện định canh định cư…
Tuy nhiên kết quả thu được chưa nhiều Một trong những nguyên nhân của tình hình trên là thiếu hiểu biết về phong tục tập quán, tâm lý, chưa thấy hết được những giá trị văn hoá tinh thần, vật chất cũng như ảnh hưởng của nó trong đời sống của đồng bào các dân tộc Tuy có những hạn chế rõ ràng nhưng cũng phải công nhận là đã có nhiều làng rất xứng đáng với sự tôn vinh Tìm hiểu những nét đẹp truyền thống của các làng xã để rút kinh nghiệm bồi
bổ cho nhiệm vụ xây dựng làng văn hoá mới hiện nay là yêu cầu chính đáng
và chắc chắn có nhiều hứa hẹn Đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống về làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng, đó là sự kế thừa những truyền thống văn hoá, tinh hoa trí tuệ của ông cha để lại để từ đó giáo dục và làm thức tỉnh lòng yêu nước, yêu quê hương làng bản của đồng bào dân tộc Tày nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung
Trang 8Qua nghiên cứu cơ cấu tổ chức làng bản đề tài làm nổi bật được tính cấu kết cộng đồng của cư dân, sự gắn bó tương trợ giúp đỡ lẫn nhau thông qua các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với môi trường tự nhiên Đây là một bài học kinh nghiệm quý báu mà chúng ta được tiếp thu, kế thừa và sẽ phát triển trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Qua kết quả nghiên cứu mà đề tài đạt được sẽ giúp cho bạn đọc thấy được những nét đẹp truyền thống, nét văn hoá đặc trưng trong văn hoá làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh Đề tài:
“Làng bản của người Tày ở huyện Trùng khánh tỉnh Cao Bằng” còn là một
nguồn tài liệu cho sinh viên các bộ môn khoa học như: Lịch sử địa phương, văn hoá học, dân tộc học
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, bản đồ, tranh ảnh, phụ lục, đề tài được chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
Chương 2: Làng bản truyền thống của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng trước cách mạng Tháng Tám (1945)
Chương 3: Những biến đổi dưới xã hội mới của làng bản người Tày ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
Trang 9BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG
Trang 10Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
1.1 Vị trí, điều kiện tự nhiên
Huyện Trùng Khánh nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Cao Bằng cách thị xã 63km, phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Trịnh Tây và huyện Đại Tân (thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) Phía Đông và Đông Nam giáp huyện Hạ Lang Phía Nam giáp huyện Quảng Uyên Phía Tây giáp huyện Trà Lĩnh Theo sách Đại Nam nhất thống chí ghi: “Huyện Thượng Lang cách phủ 81 dặm về phía đông bắc, Đông - Tây cách nhau 109 dặm, Nam - Bắc cách nhau 76 dặm phía Đông đến địa giới huyện Hạ Lang 79 dặm, phía Tây đến địa giới huyện Quảng Uyên 30 dặm, phía Nam đến địa giới huyện Hạ Lang 33 dặm, phía Bắc đến địa giới châu An Bình nước Thanh 43 dăm” [28, tr 404-405 ]
Huyện Trùng Khánh nằm ở độ cao trung bình từ 500- 800m so với mực nước biển, là một huyện miền núi có địa hình tương đối phức tạp bởi nhiều dãy núi cao xen kẽ là những sông suối ngắn, thung lũng hẹp dần từ Tây Bắc xuống đến Đông Nam Huyện có 3 dạng địa hình chính: dạng đồi, dạng núi vôi và địa hình thung lũng Dạng đồi có 6 xã hình thành trên đá phiến thạch sét và sa thạch, phân bố ở các xã Đông Nam với độ cao biến động từ 500 - 800 m Tuy nhiên, vùng này cũng có nơi xen kẽ địa hình Caster Dạng núi đá vôi, có 11 xã chiếm diện tích khá lớn, phân bố ở các xã phía Bắc và phía Tây Nam của huyện với độ cao trung bình khoảng 700 - 800m, có nhiều hang động, nổi bật là động Ngườm Ngao và xen kẽ một số thung lũng nhỏ hẹp
Dạng địa hình thung lũng có 3 xã là những dải đất tương đối bằng phẳng, những cánh đồng nhỏ hẹp kéo dài và cao thấp khác nhau, chạy dọc
Trang 11theo 2 hệ thống sông Quây Sơn và sông Bắc Vọng Xen giữa những dãy núi
đá là những thung lũng bằng phẳng, được kiến tạo bởi thiên nhiên và công sức khai phá của nhân dân các dân tộc từ nhiều đời, đã tạo nên những cánh đồng, bãi rẫy trù phú như các vùng Ngọc Khuê, Đình Phong, Chí Viễn, Đàm Thuỷ, Phong Nặm, Lăng Hiếu, Phong châu, Đức Hồng, Cao Thăng…
Nét đặc trưng của địa hình Trùng Khánh là giữa các thung lũng bằng phẳng có những ngọn núi đá, núi đất sừng sững, nhấp nhô với nhiều hình dạng, tiêu biểu là vùng Ngọc Khuê dọc sông Quây Sơn, được dân gian gian ca
ngợi là vùng “Hà lục sơn thuỷ hữu tình” Huyện Trùng Khánh còn có những
dãy núi đá cao, chạy dọc biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, ở phía Bắc
và Đông Bắc, tựa như một phên dậu, bức tường thành che chắn Trong những dãy núi đó cao nhất là ngọn Giang Mũ, thuộc xã Ngọc Khuê, với độ cao trên 873m Phía Nam và Tây Nam là địa hình chuyển tiếp của cao nguyên miền Đông cao dần từ Nam lên Bắc Trong những đèo dốc ở Trùng Khánh, nổi tiếng nhất là Đèo Liêu, được xác định là mốc giới giữa hai huyện Quảng Hoà
và Trùng Khánh, có độ cao 664m, nằm trên trục đường giao thông liên huyện Quảng Uyên - Trùng Khánh Về khí hậu, huyện nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa Đông, độ ẩm thấp, khô hanh và rét buốt; mùa hè nóng bức, chỉ dịu mát về ban đêm Khí hậu hai mùa nóng, lạnh rõ rệt Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 10, kéo dài đến hết tháng 5 năm sau Nửa đầu mùa lạnh là thời kì khô hanh, ban ngày nhiệt độ ấm áp, nhưng ban đêm nhiệt độ thường thấp, với
độ chênh lệnh giữa ngày và đêm từ 5-100
C, nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 240
C, tối đa đến 400C (tháng 7) và tối thiểu là 00C (tháng 12) với nhiệt độ trung bình vào mùa đông là 170C Theo nhận xét của các triều đại phong kiến ở Trùng Khánh: “Mùa xuân còn rét, mùa hè mưa nhiều, mùa thu rất nóng, mùa đông rất lạnh Ruộng đất khô cằn xấu xa, chỉ cấy được một vụ
Trang 12mùa không có vụ chiêm, nếu cấy muộn sang thu lúa không trổ bông được mạ chết khô” [28, tr 406-407]
Lượng mưa trung bình năm thấp vào khoảng 1.777mm, cao nhất là vào tháng 5 đến tháng 9 (82%), và thấp nhất vào tháng 1, tháng 2, có mưa đá Gió mùa đông bắc thổi từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Gió mùa đông nam bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 11 Độ ẩm trung bình khoảng 81%, có sương muối xuất hiện bình quân 6 ngày trong năm (tháng 11, 12), ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông lâm nghiệp
Cọn nước của người Tày
Trong hệ thống sông suối, có hai con sông chảy qua là sông Quây Sơn và sông Bắc Vọng Sông Quây Sơn có hai nhánh chính đều bắt nguồn từ Trung Quốc, chiều dài khoảng 76km Nhánh lớn nhất chảy qua xã Ngọc Khuê; nhánh thứ hai còn gọi là sông Tà Pè, chảy theo hướng Đông Nam, qua xã Phong Nậm,
Trang 13Ngọc Khê, họp lưu với nhánh chính tại Khả Mong, xã Ngọc Khuê, chảy qua các
xã Đình Phong, Chí Viễn, Đàm Thuỷ qua huyện Hạ Lang rồi chảy sang Trung Quốc Lòng sông tuy không rộng nhưng sâu, nước chảy xiết, độ dốc bình quân là 0.010, có nhiều thác ghềnh như thác Khoang (Thoong Khoang) ở xã Ngọc Khê, cao 10m; thác Gót (Thoong Gót) ở xã Trí Viễn, cao trên 20m
Đặc biệt là thác Bản Giốc, xã Đàm Thuỷ, có độ cao trên 50m; thác có 2 nhánh: nhánh bên phải dòng nước đổ thẳng xuống vực, nhánh bên trái dòng nước hạ dần thành 3 bậc, nối tiếp nhau thành một dòng chảy, do độ dốc lớn dòng chảy đổ xuống vực sâu, tung bọt trắng xoá và bay lưng chừng núi, hơi nước bốc lên tạo thành những màn sương mù huyền ảo, như những dải lụa trắng vắt ngang sườn núi, vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng
Thác Bản Giốc
Trang 14Gần thác Bản Giốc có hang Ngườm Ngao, một hang lớn ngầm sâu trong lòng núi, có dòng nước chảy qua Thác Bản Giốc, hang Ngườm Ngao là những danh thắng nổi tiếng, liền kề nhau tạo thành khu du lịch giàu tiềm năng
Động Ngườm Ngao
Do địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, nên phần lớn các con sông, con suối bắt nguồn từ phía Tây Bắc chảy theo hướng Đông Nam qua các vùng núi đá vôi, dọc các con sông Bắc Vọng, Quây Sơn…có nhiều thác ghềnh, nước chảy xiết Các dòng sông lớn như Quây Sơn, Bắc Vọng và nhiều suối, ao, hồ là nguồn lợi thuỷ sản dồi dào Nơi đây có nhiều loại cá quý,
có giá trị kinh tế cao như cá Chiết (có con nặng tới hàng chục kg), cá chép, cá Dầm Xanh, cá Chuối, ba ba…Đặc biệt là cá trầm hương (ở vực Lũng Đĩnh, nay thuộc xã Đình Phong), thơm ngon nổi tiếng nhất vùng Cá nặng 5-8 kg, vẩy trắng, gần mang có một vòng vẩy điểm màu xanh cửu long Đây là loại cá đặc sản của huyện Trùng Khánh
Trang 15Sông Quây Sơn
Bên cạnh đó còn có các cánh đồng Chí Viễn, Đàm Thuỷ Dọc theo sông Bắc Vọng là những cánh đồng xã Trung Phúc, Thông Huề, Thân Giáp… Ngoài ra còn có các cánh đồng lúa dựa vào nguồn nước tưới chủ yếu là các con suối và nước mưa như: Lăng Hiếu, Lăng Yên, Phong Châu, Bồng Sơn, Cao Thăng, Đức Hồng, Đoài Côn Những cánh đồng lúa trên là nguồn cung cấp lương thực chủ yếu cho nhân dân huyện Trùng Khánh Sông Bắc Vọng có
2 nhánh, nhánh chính bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua Trà Lĩnh rồi đổ vào Trùng Khánh tại xã Trung Phúc, nhánh phụ chảy từ xã Đức Hồng rồi đổi vào
xã Giáp Thân Chiều dài của 2 nhánh này trong huyện dài 27,5 km, lưu lượng nước vào mùa mưa đạt 350m3
/s, và mùa khô còn 0,76m3/s và mùa khô còn 0,76m3/s Ngoài 2 hệ thống sông này trên địa bàn huyện có nhiều hang động
có tích nước và một số hồ, đập…
Trang 16Về tài nguyên động thực vật, do đặc điểm khí hậu, đất đai địa hình chi phối nên quần thể động thực vật ở huyện Trùng Khánh rất đa dạng và phong phú Thực vật tự nhiên có nguồn tài nguyên rừng, tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 29.464 ha (2007) trong đó rừng trồng phòng
hộ là khoảng 30%, rừng đặc dụng là 0,3%, rừng sản xuất là trên 65% và diện tích rừng trồng lên tới gần 1000 ha Trong rừng có nhiều loại gỗ quý như: nghiến, quý lát, thông…các loại động vật như: hổ, báo, gấu, sơn dương, lợn rừng, hươu, nai, cầy vòi… Cá lâm thổ sản: nấm hương, mộc nhỉ, sa nhân… Cây ăn quả gồm các loại như: mận, đào, lê, cam, quýt… Đặc biệt hạt dẻ là một loại đặc sản ở Trùng Khánh, rất thơm ngon, đã trở thành sản phẩm hàng hoá có giá trị trên thị trường trong nước và quốc tế Rừng là nơi cung cấp nguyên liệu (trữ lượng hàng nghìn m3
), và nhiều tre cho sản xuất đồ gỗ và làm nhà
Về tài nguyên khoáng sản: Mangan là loại tài nguyên quan trọng nhất, phân bố hầu hết trong các xã và thịt trấn Hiện nay có 05 mỏ Mangan đang hoạt động khai thác bao gồm các mỏ: Lũng Luông, Kha Moong, Rỏng Thay, Nậm Sum và Bản Khuâng với sản lượng khai thác đạt tới trên 50.000 tấn / năm Thứ nhì là đá vôi có trữ lượng lớn thuận lợi để phát triển sản xuất vật liệu xây dựng như xi măng, đá xây dựng Ngoài ra đất thịt pha sét, là nguyên liệu sản xuất gạch ngói, phân bố ở nhiều xã nhưng tập trung ở vùng đồng bằng nhỏ hẹp
Về đất đai, thổ nhưỡng, tổng diện tích tự nhiên của huyện là 46.872 ha, trong diện tích đất tự nhiên của huyện là 46.872 ha, trong đó đất nông nghiệp
là 38.798 ha chiếm 82%, đất phi nông nghiệp là 3.524 ha chiếm 7,5%, đất chưa sử dụng là 4.550 ha chiếm 9,7% (số liệu năm 2007 nguồn tổng cục thống kê) Theo thông báo của hội khoa học Việt Nam huyện Trùng Khánh có
7 nhóm đất sau:
Trang 171.2 Tộc người Tày ở Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng
Huyện Trùng Khánh có 7 dân tộc anh em cùng chung sống: Tày, Nùng,
Kinh, Hoa, Mông, Dao thuộc các nhóm ngữ hệ khác nhau như: Tày - Thái, Mông - Dao, Việt - Mường, Hán
Trang 18Theo số liệu mới nhất, huyện Trùng Khánh hiện nay có 46.348 nhân khẩu gồm được phân bố theo dân tộc như sau:
Thời Lý - Trần, nhất là thời Lê sơ, nhà nước phong kiến Việt Nam đặt
chế độ “ Thế tập, phiên thần”, tức chế độ thổ ty, phái một số công thần hay
con cháu của họ chọn trong những phần tử trung kiên nhất đem theo gia đình, tộc thuộc lên chiêu dân lập ấp ở các tỉnh biên giới Sau mỗi trận chiến thắng, quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, các vị lưu quan này đời đời kế tục cai trị địa phương rất mực trung thành với chính quyền trung ương làm nhiệm vụ bảo vệ biên thuỳ Một sự hoà hợp dân tộc đáng chú ý xảy ra vào khoảng thế kỉ XVI -XVII, triều đình lưu vọng họ Mạc bị quân Lê, Trịnh đánh đuổi chạy lên chiếm giữ vùng Cao Bằng trong vòng gần một thế kỉ Sau khi họ Mạc bị diệt vong, con, cháu và quân quan dư Đảng họ Mạc có thể hàng vạn người đã thay tên đổi họ để tránh sự khủng bố, sống hoà vào nhân dân địa phương đồng hoá với người Tày Như vậy, đồng bảo Tày ở Trùng Khánh nói riêng và Cao Bằng nói chung phần lớn là cư dân có nguồn gốc bản địa, bộ phận còn lại là người Kinh bị Tày hoá (trong những năm 1964 -1965 Cao Bằng đã tiếp nhận 10.095
Trang 19người từ miền xuôi di cư lên) và quá trình tộc người vẫn tiếp tục cho đến tận những năm đầu của thế kỷ XXI )
Dân tộc Tày ở Trùng Khánh Cao Bằng xét về diễn biến tộc người chủ yếu thuộc các nhóm: Tày Thổ trước, Tày Thổ ty, Tày Phụ đạo, và Người biến Thổ
Tày thổ trước: là người Tày ở địa phương đã sinh sống từ lâu đời
Tày thổ ty và Tày lưu quan (đây là tên gọi theo nhà Nguyễn sau này): là
con cháu các công thần triều Lê, có 11 họ: Bế Nguyễn, Bế Kim, Hoàng ích, Nùng
Công, Nùng ích, Nùng Trí, Nùng Hữu, Nguyễn, Tống Đình, Lương Đình, Đàm
Vũ Đều được nhà Lê sơ phong làm phiên thần và điều lên trấn ải biên cương sau
đó, được phân phong thế tập cai quan địa phương, họ vốn có gốc từ miền xuôi lên về sau đã Tày hoá Nhà Nguyễn đã đổi làm thổ ty, bãi bỏ lệ thế tập, nhưng cho hưởng chế độ miễn trừ lao dịch Con cháu đến tuổi có đơn xin làm việc thì chuẩn cho, cấp học bổng cho họ học tập nghề văn võ rồi tuỳ tài mà bổ dụng Tày Phụ đạo: Đó là những người Tày bản địa theo vua Lê mở nước có công dẫn đường, được phong làm phụ đạo ở bản địa, hưởng chế độ miễn phu lính Có bốn họ: Hoàng, Nguyễn, Nùng, Bế
Người Biến Thổ: là những người có nguồn gốc từ miền xuôi lên vì việc vua hoặc đi dạy học, hoặc tìm đất sinh nhai sau ở lại địa phương làm
ăn với người Tày Đặc biệt là con cháu của bề tôi nhà Mạc và những người phò giúp Tây Sơn hoặc dân tứ xứ đến buôn bán…Cũng có người từ Trung Quốc lưu tán sang, qua nhiều năm sinh sống tại địa phương trải mấy đời đều gọi là Người Biến Thổ
Theo số liệu của cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 01/04/2009, dân số Cao Bằng có 510.884 người, trong đó người Tày có 208.822 người (42%) Huyện Trùng Khánh người Tày chiếm đến 67% dân số của huyện
Họ sống tập trung đông ở thị trấn Trùng Khánh và một số xã như: Cảnh
Trang 20Tiên, Bình Minh, Phong Châu, Đàm Thuỷ, … Cho đến ngày nay, người Tày huyện Trùng Khánh vẫn còn lưu giữ được khá nhiều những câu
chuyện kể về nguồn gốc dân tộc mình như, chuyện cổ tích: “Chín chúa
tranh vua”, sự tích “Báo Lương bao cải”, “Nạn hồng thuỷ”, “ý phịa”,
“chàng mồ côi”…
Qua những đặc điểm khái quát về huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng như đã nêu ở trên, là cơ sở cho việc đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu về môi trường sinh thái tự nhiên, về cơ cấu tổ chức xã hội và văn hoá làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng
1.3 Sự thay đổi địa danh hành chính qua các thời kỳ lịch sử
Cao Bằng là tỉnh miền núi biên giới phía Đông Bắc nước ta, từ lâu đã
có vị trí chiến lược trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc Tỉnh có 2 mặt Bắc và Đông giáp Trung Quốc với đường biên giới dài 332 km Từ xa xưa, Cao Bằng được coi là bức phên giậu quan trọng che chở cho phía Bắc của Tổ quốc Nằm
ở phía Đông Bắc của tỉnh Cao Bằng có đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc trên 62 km, từ cột mốc 63 (xã Đàm Thuỷ) đến cột mốc 86 (xã Lãng Yên) Tuyến đường biên giới huyện Trùng Khánh có 2 cửa khẩu chính, cửa khẩu Pò Peo (xã Ngọc Khuê) và cửa khẩu Đàm Thuỷ Ngoài ra còn có nhiều đường mòn khác để nhân dân 2 nước qua lại trao đổi kinh tế văn hoá
Huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng “đời Hùng Vương xưa là bộ Vũ Định, đời Lý thuộc đất Thái Nguyên, Thời thộc Minh, là đất phủ Lạng Sơn.Đời Lê thuộc Bắc Đạo, năm Quang Thuận thứ 7 đặt Thái Nguyên thừa tuyên gọi là phủ Bắc Bình, năm Quang Thuận thứ 10 đổi làm Ninh Sóc thừa tuyên gọi là phủ Bắc Bình lãnh 4 châu là Thái Nguyên, Lộng Nguyên, Thượng Lang, Hạ Lang, sau đổi châu Thái Nguyên làm châu Thạch Lâm, Lộng Nguyên làm châu Quảng Uyên Đến năm 1676, không lệ thuộc vào Thái Nguyên nữa [28,tr.402]
Trang 21Theo tác giả Đào Duy Anh: “Châu Thượng Lang phía Đông giáp Hạ Lang, phía Tây giáp huyện Quảng Uyên, phía Nam giáp huyện Hạ Lang, phía Bắc giáp châu Yên Bình nước Thanh, như thế là tương đương với các huyện Trùng Khánh và Trấn Biên tỉnh Cao Bằng ngày nay” [2, tr 187 ]
Đến thời Lê (1428-1527), năm Quang Thuận thứ 7 (1466), vua Lê Thánh Tông chia cả nước làm 12 đạo thừa tuyên, trong đó có thừa tuyên Thái Nguyên Miền đất Cao Bằng đương thời được gọi là phủ Bắc Bình trực thuộc thừa tuyên Thái Nguyên [2, tr.239] Phủ Cao Bằng thuộc thừa tuyên Thái Nguyên có 4 châu: Châu Thượng Lang (có 24 xã); châu Hạ Lang (29 xã), châu Thạch lâm (92 xã, 4 thôn, 8 trang), châu Quảng Uyên (22 xã, 4 trang) [241]; Đến năm Cảnh Thống thứ
2 (1499) đời vua Lê Hiến Tông (1498 -1504), nhà Lê đã quyết định tách phủ Cao Bằng ra khỏi thừa tuyên Thái Nguyên đặt thành trấn Cao Bằng [2, tr 242] Từ thời điểm này, Cao Bằng đã trở thành một đơn vị hành chính độc lập, trực thuộc chính quyền trung ương Khi mới thành lập Cao bằng gồm 1 phủ, 4 châu: Phủ Cao Bình, châu Thái Nguyên (Thạch Lâm); châu Lộng Nguyên; châu Thượng Lang; châu
Hạ Lang Thời Nguyễn (1802 - 1884) Cao Bằng là một trong 11 trấn thuộc Bắc Thành và được xếp vào ngoại trấn Trấn Cao Bằng có một phủ là Cao Bằng và 4
châu là Thạch Lâm, Quảng Uyên, Thượng Lang và Hạ Lang Theo sách Đại Nam
Nhất Thống Chí có mô tả diện cách châu Thượng Lang: Châu Thượng Lang năm
Minh Mệnh thứ 15 (1834) đổi làm huyện, tương đương với các huyện Trùng Khánh và Trấn Biên tỉnh Cao Bằng ngày nay [25,Tr 336] Tên huyện Trùng Khánh được sử dụng từ ngày đó cho đến nay Năm 1950, Cao Bằng có 10 huyện: Bảo Lạc, Hạ Lang, Hoà An, Nguyên Bình, Phú Thạnh, Phục Hoà, Quảng Uyên, Thạch An, Trấn Biên, Trùng Khánh Đến năm 1969, giải thể huyện Hạ Lang, nhập vào 2 huyện Quảng Hoà và Trùng Khánh (quyết định số 176 - CP ngày 13/09/1969) Sau đó huyện Hạ Lang lại được tái lập lại năm 1981
Trong quá trình phát triển, các đơn vị hành chính của Trùng Khánh
Trang 22Trưởng Bộ nội vụ, xã Đoài Dương được tách thành 3 xã: Thân Giáp, Đoài Côn, Thông Hoè (trừ xóm Nà Chá được hợp nhất với xã Bình Lăng của huyện Quảng Uyên) Ngày 15-09-1969, Hội đồng chính phủ ra quyết định
số 176-CP sáp nhập các xã Minh Long, Lý Quốc, Đức Quang, Thắng Lợi
và Kim Loan của huyện Hạ Lang vào huyện Trùng Khánh Theo quyết định
số 332-CP của hội đồng chính phủ ngày 08-10-1980, xã Quang Thành của huyện Trùng Khánh và sáp nhập các thôn của xã vào các xã cùng huyện Thôn Lũng Đính sáp nhập vào xã Đình Phong; thôn Hoành Phong sáp nhập vào xã Chí Viễn; Thôn Đông Khê sáp nhập vào xã Phong Châu Ngày 10-06-1981 Hội đồng chính phủ ra quyết định số 245- CP, thành lập xã Đồng Loan trên cơ sở sáp nhập các xóm Lũng Nặm, Lũng Sún, Lũng Phục, Lũng Bụa, Lũng Cúng, Lũng Mán, các xóm Bản Nha, Luộc Phjong (tách từ xã Minh Long, và các xóm Khau Ra, Bản Sáng, Bản Lẹng, Bản Lung, Bản Mìao, Bản Thuộc (tách từ xã Thắng Lợi); Tách các xóm Vạn Lý, Lũng Phấu, Khi Chao, Nậm Tốc, của xã Minh Long để sáp nhập vào xã Lý Quốc; tách các xóm Sộc Mạ, Háng Thoang, Lũng Phjắc của xã Chí Viễn vào xã Đàm Thuỷ Ngày 10-06-1981, Hội đồng chính phủ ra quyết định số 245-
CP, thành lập lại huyện Hạ Lang; 5 xã của huyện Trùng Khánh (trước năm
1969 thuộc huyện Hạ Lang) được tách về huyện Hạ Lang, gồm: Minh Long, Lý Quốc, Thắng Lợi, Kim Loan, Đức Quang, và Đồng Loan Thị trấn Trùng Khánh năm 1976 được mở rộng địa giới đến xóm Thang Lý (xã Đình Minh) và xóm Phia Khoang (xã Lăng Hiếu); năm 1998 mở rộng thêm đến các xóm Nậm Lìn và Kéo Tác (xã Cảnh Tiên) Huyện Trùng Khánh ngày nay nằm ở phía Đông giáp huyện Hạ Lang phía Nam giáp huyện Quảng Uyên và phía Tây giáp huyện Trà Lĩnh
Trang 23Chương 2 LÀNG BẢN TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI TÀY
Ở HUYỆNTRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG TRƯỚC
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
2.1 Khái niệm làng, bản truyền thống
Nước ta là một nước nông nghiệp truyền thống, từ xa xưa làng bản là cái nôi sản sinh, nuôi dưỡng, che trở cho biết bao thế hệ con người trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên và xã hội để tồn tại và phát triển Làng bản nông nghiệp cổ truyền đã chi phối mọi mặt đời sống con người, in dấu ấn sâu đậm trong bản sắc văn hoá truyền thống dân tộc Tuy nhiên, ở mỗi vùng quê, trong mỗi giai đoạn lịch sử, tuỳ theo ngôn ngữ của mỗi dân tộc mà làng bản nước ta
Trang 24Về mặt lãnh thổ: làng bản nào cũng được xác định bởi một không
gian sinh tồn mà ranh giới của nó được nhà nước và các cộng đồng làng bản khác thừa nhận không gian sinh tồn đó, bao gồm: phần đất ở; đất canh tác; khu rừng phòng hộ; rừng cấm; bãi tha ma; khu vui chơi … tất cả đều thuộc quyền sở hữu chung của làng bản Địa hình và cách bố trí làng bản có thể khác nhau, tuỳ theo tập quán canh tác (định canh, định cư hay du canh, du cư), địa hình cư trú (vùng núi cao hay thung lũng, núi thấp, ven chân núi …)
Về mặt dân cư: Dân cư trong làng bản có thể nhiều hay ít, sống tập
trung hay rải rác xong các gia đình đều có mối quan hệ huyết thống hay láng giềng Đó là những gia đình phụ hệ có quy mô lớn nhỏ khác nhau sống chung trong cùng một mái nhà được cất dựng theo những quy cách riêng
Về mặt xã hội: Làng bản truyền thống là một cộng đồng xã hội tự
quản vận hành theo các nguyên tắc của luật tục hay tập quán Đứng đầu mỗi làng bản là một trưởng làng hay trưởng bản Tổ chức tự quản của làng bản có chức năng điều tiết, thực hiện các quan hệ xã hội, duy trì các phong tục, lễ nghi, sinh hoạt trong nội bộ cộng đồng đồng thời đại diện cho cộng đồng khi quan hệ với các bản làng và các đơn vị xã hội khác Làng bản còn là một cộng đồng về văn hoá Tính cộng đồng về văn hoá của làng bản được thể hiện trong
ý thức chung của các thành viên về cội nguồn của mình thông qua các nghi lễ, tín ngưỡng liên quan đến các thành hoàng, thần linh, những người sáng lập làng bản và vận mệnh của cộng đồng dân cư … ở sự đồng cảm về lễ hội, văn hoá dân gian, kiến trúc, cách bố trí nhà cửa, kiểu ăn mặc, ứng xử …
Tuy cùng một loại hình với những đặc trưng chung như trên, xong làng bản ở nước ta lại có những dạng thức với các sắc thái và trình độ phát triển khác nhau, tuỳ thuộc vào môi trường, điều kiện lịch sử, văn hoá, hình thức tổ chức và quan hệ xã hội của mỗi tộc người Căn cứ vào những yếu tố đó, nhiều nhà nghiên cứu đã phân loại làng bản thành các lo¹i nh- sau:
Trang 25Làng bản của cư dân vùng thấp và vùng thung lũng (Tày, Thái, Mường), làng bản của cư dân vùng cao (H’Mông, Dao), làng buôn của các dân tộc vùng Tây Nguyên Như vậy, khi tìm hiểu làng bản truyền thống nói chung, ta thấy đây là một thiết kế xã hội bền vững, là môi trường tồn tại sinh sống, là nơi tổ chức các hoạt động sinh hoạt xã hội, văn hóa của đồng bào dân tộc ít người, phù hợp với đặc điểm của cư dân nông nghiệp truyền thống Trong quá trình tồn tại và thích ứng, làng bản đã tỏ rõ những mặt ưu việt, tích cực, đồng thời cũng còn không ít những mặt tiêu cực, bất cập, lạc hậu Vì vậy, khi xem xét ta phải đặt nó trong những mối quan hệ xã hội, những điều kiện lịch sử cụ thể, có tính đến yếu tố vùng miền và tâm lý dân tộc, tránh siêu hình, máy móc Nắm vững những đặc trưng cơ bản của làng bản làm cơ sở để tìm hiểu văn hóa làng bản
Trong đời sống đồng bào các dân tộc, bản làng truyền thống vừa là đơn
vị xã hội cơ sở, vừa là môi trường sinh tồn, là nơi tổ chức các hoạt động sinh hoạt văn hóa vật chất và tinh thần Cũng từ đây, mà truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc - những đặc trưng của văn hóa cộng đồng được hình thành và lưu giữ tạo lên những giá trị sắc thái phong phú của văn hóa dân tộc Có thể nói, có văn hóa làng bản là vì chúng ta đã có những làng văn hóa truyền thống Văn hóa làng bản đã được hình thành và phát huy tác dụng như một thực thể trong lịch sử văn hóa Việt Nam trong các tập thể cộng đồng và các cá nhân người Việt Tập thể và cá nhân ấy chính là các làng của chúng ta (làng
và bản) Nắm được các làng văn hóa truyền thống tức là chúng ta nắm được biểu hiện của văn hóa làng Vì vậy, bản làng có thể được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau, song chung nhất, sâu sắc nhất, đặc trưng nhất có lẽ là từ góc độ văn hóa bản làng Vậy, văn hóa bản làng là gì? Để làm rõ vấn đề này, chúng ta cần tìm hiểu thêm một số phạm trù có liên quan đến văn hóa, văn hóa tộc người, văn hóa các dân tộc, văn hóa vùng, bản sắc văn hóa dân tộc …
Trang 26Có rất nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về văn hóa, song về cơ bản đều thống nhất ở chỗ coi văn hóa là phạm trù cơ bản gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của loài người, là sản phẩm riêng của con người, gắn với quá trình tác động, cải tạo tự nhiên, xã hội, quá trình sáng tạo và hoàn thiện chính bản thân con người Từ văn hóa và vì văn hóa cũng chính là từ con người và vì con người - mục tiêu và động lực của sự phát triển Như vậy, theo nghĩa rộng
là toàn bộ những cái mà con người sáng tạo ra trong hoạt động, nó tạo nên chính giá trị của loài người, của khối cộng đồng người và đó chính là cái đối lập với tự nhiên, là ranh giới phân biệt con người xã hội với bản năng sinh vật của bầy đàn tự nhiên (khác với thuật ngữ Culture từ tiếng La tinh chỉ văn hóa theo nghĩa hẹp có nghĩa là trồng trọt, canh tác) Hoạt động của con người thật
đa dạng và những giá trị do con người tạo ra thật phong phú Vì vậy, căn cứ vào chức năng, vai trò và tính chất hoạt động của con người chúng ta có thể chia văn hóa thành 2 loại: Văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần Văn hóa vật chất (hay còn gọi là văn hóa vật thể) được hiểu là toàn bộ những giá trị văn hóa có kết cấu vật chất không gian ba chiều do con người sáng tạo ra trong quá trình lao động gắn với hoạt động sinh hoạt vật chất như: ăn, uống, mặc, ở,
đi lại, hoạt động sản xuất, tự vệ (công cụ sản xuất, vũ khí,…); Văn hóa tinh thần (văn hóa phi vật thể) là toàn bộ những giá trị văn hóa gắn với lao động trí
óc của con người như: khoa học, nghệ thuật, văn hóa, triết học, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, văn hóa, …; Thuật ngữ văn hóa xã hội ít được sử dụng hơn, thường gắn với các hoạt động quản lý xã hội, cộng đồng, gia đình và cá nhân như các thiết chế xã hội, luật tục, tập quán, quan hệ xã hội và gia đình, các sinh hoạt cộng đồng,… Khi đề cập đến văn hóa là đề cập đến con người và gắn với nó là các yếu tố như: tộc người, không gian, cứ trú, Từ đây xuất
hiện khái niệm văn hóa tộc người Nó được hiểu là “toàn bộ những giá trị vật
chất và tinh thần, cũng như quan hệ xã hội của tộc người sáng tạo ra trong hoàn cảnh môi trường sinh tụ chung, phản ánh nhận thức, hoạt động, tình
Trang 27cảm, tâm lý của cộng đồng thông qua nếp sống được hình thành trong lịch sử
và các mối quan hệ với tộc người khác” [29,Tr 128) Đối với một quốc gia đa
dân tộc như nước ta, bản sắc văn hóa dân tộc còn là sự hội tụ kết tinh những sắc thái phong phú của văn hóa tộc người, văn hóa vùng địa phương Như vậy, bản sắc văn hóa dân tộc là bộ phận tinh túy biểu hiện sâu sắc nhất, tập trung nhất của bản sắc dân tộc, tạo nên cốt cách bản lĩnh, sức sống nhân sinh của mỗi dân tộc Từ cơ sở đó, ý thức dân tộc được nảy sinh, hoàn thiện tạo nên lực hút quy tụ, gắn bó các thành viên với cộng đồng, giúp nó tồn tại và phát triển trước mọi phong ba thử thách Vì vậy, đánh mất bản sắc văn hóa
dân tộc cũng có nghĩa là “tự đánh mất mình”, khiến cho sự tồn tại không có ý
nghĩa Nhận thức sâu sắc đực điều này, trong chiến lược xây dựng và phát triển đất nước Đảng và Nhà nước ta luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc
“giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc”, chú trọng “xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”
Trên đây là khái quát những nội dung cơ bản về bản làng truyền thống, về văn hóa, văn hóa tộc người và bản sắc văn hóa dân tộc Đó là cơ
sở để nghiên cứu văn hóa bản làng Như vậy, có thể hiểu “văn hóa làng bản
là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ những giá trị vật chất, tinh thần và những quan hệ xã hội của cộng đồng dân cư làng bản sáng tạo nên trong quá trình cùng chung sống, lao động xây dựng và bảo vệ làng bản” (quyển 1.Tr25)
Tuy nhiên, có nhiều loại hình làng bản khác nhau: có làng bản ở vùng núi cao, như làng bản của người H’Mông, Dao,… có làng bản ở vùng thấp, thung lũng ven núi, như làng bản của người Tày, Thái, Nùng,… Vì vậy, văn hóa làng bản vừa bao gồm những nét văn hóa chung của cư dân nông thôn sống chủ yếu bằng nghề nông, vừa mang những sắc thái riêng cho mỗi loại hình làng bản Văn hóa làng bản chịu ảnh hưởng của yếu tố văn hóa tộc người và văn hóa vùng nhưng không đồng nhất hoàn toàn và không bao hàm
Trang 28tất cả nội hàm của văn hóa tộc người và văn hóa vùng Ở đây, đề tài tập trung nghiên cứu về văn hóa làng bản của người Tày, thuộc văn hóa Việt Bắc
và Đông Bắc, hay văn hóa của cư dân sống ở vùng thung lũng, chân núi –
còn gọi là “văn hóa thung lũng”
2.2 Môi trường sinh thái và nguyên tắc đặt tên của làng bản
2.2.1 Môi trường sinh thái
Bản làng xét dưới góc độ xã hội là một thiết chế mang tính chất hành chính tồn tại trong một thời kỳ lịch sử lâu dài ở người Tày và các dân tộc ít người ở miền Bắc nước ta Trong các thiết chế đó, các giá trị văn hóa bản làng
để được giữ gìn và phát triển
Theo tác giả Trần Tư “thì từ thời viễn cổ đến nay con người chỉ có hai phương thức tập hợp để hình thành cộng đồng cư dân: tập hợp theo quan hệ huyết thống và tập hợp teo quan hệ láng giềng” [31,tr 31-32]
Qua nghiên cứu 223 bản (nà, khau, lũng …) làng bản của người Tày ở Trùng Khánh là một đơn vị tụ cư tập hợp lại chủ yếu theo phương thức thứ hai Và ở làng bản vùng núi sát biên giới Trung Quốc biểu hiện rõ nét nhất
Sự phân bố các bản, nà, lũng theo các hình thức sau:
- Phân bố lẻ tẻ, mỗi bản, nà cách nhau bởi đồng ruộng, bãi nương…
- Phân bố trong các thung lũng, chân đồi và dọc đường quốc lé
Người Tày huyện Trùng Khánh thường sống quần tụ thành từng bản Mỗi bản có từ 20 đến 100 nóc nhà Nhiều bản (bó, nà, khau …) hợp lại thành
1 xã Làng bản của người Tày thường dựa lưng vào sườn núi như: Phja Mạ, Phja Tốm (xã Cao Thăng); Pác Nà, Phja Đeng, Kéo Háng (xã Chí Viễn) hoặc xây dựng trên những đồi thấp cạnh sông suối hay các thung lũng Bó Đa, Thang Nà (Bình Minh), Lũng Răng, Lũng Giả (xã Lăng Yên) có khi bản được dựng ở giữa cánh đồng Nhưng ở những khu đất mà trước kia đã từng là bãi
Trang 29tha ma (nghĩa địa) thì người Tày tuyệt đối không dựng bản ở đó Nhiều làng bản còn có lũy tre xanh bao bọc xung quanh Chỗ tiện lợi nhất được chọn để dựng bản là những nơi gần nguồn nước, gần ruộng, gần các rừng cây cao ráo, khi mưa xuống nước bẩn, rác có thể chảy xuống ruộng làm cho đất thêm màu
mỡ Bản chia thành bản nhỏ có từ 10 – 15 nóc nhà và bản lớn có từ 80 – 100 nóc nhà Gần các bản đó còn có các nà nhỏ, mỗi nà có khoảng 3 nóc nhà chủ yếu từ những gia đình lớn tách ra để sống gần mảnh ruộng, bãi nương của mình hơn Khác với làng bản của người Tày, làng bản của người H’Mông, người Dao thường làm trên các triền núi cao Đồng bào ở lẻ tẻ mỗi nơi có vài
hộ, mấy cha con, hoặc thông gia ở với nhau Quanh bản không rào dậu, không trồng trọt vì trâu bò đều thả rông, làm nương rẫy cũng phải đi xa, có khi tới vài cây số Còn quanh bản của người Tày tuy có rào dậu nhưng rào dậu theo
bà con thì chỉ để “rào người ngay chứ không ngăn được kẻ gian” Và quanh bản xung quanh nhà mỗi hộ gia đình thường trồng rất nhiều cây ăn quả Đồng bào nói trồng cho con cháu ăn để chúng nó không “nhòm ngó” đến hoa quả của nhà hàng xóm Bản có địa vực cư trú riêng, có phạm vi đất đai canh tác, đất rừng, khúc sông, khe suối,… riêng thuộc quyền quản lý và sử dụng của bản Bản của người Tày là một đơn vị quần cư bền vững, có ranh giới đất đai
rõ rệt và vùng đất thuộc bản đó được gọi là đất bản Quy mô của bản tuy lớn nhỏ không đều nhưng dù là bản nhỏ cũng phải có đầy đủ các yếu tố cấu thành, gồm ruộng và nương để con người có thể tiến hành sản xuất đảm bảo cuộc sống của mình Các vùng đất tự nhiên của bản gồm:
Đất thung lũng có đủ điều kiện để khai phá thành đồng ruộng trồng lúa, những lòng chảo lớn thường tập trung nhiều bản Trong trường hợp đó thì đất của các bản được hình thành một cách tự nhiên khá rõ ràng và được củng cố bằng sự thừa nhận của luật tục Đất rừng, đất núi để làm nương, hái lượm, săn bắn và khai thác thổ sản nói chung Rừng là nguồn đất quan trọng để người ta
Trang 30có thể khai phá thành nương rẫy, trồng cây lương thực, cây thực phẩm Rừng còn là cái kho vô tận cung cấp nguồn thức ăn thực vật, động vật, các loại nấm, măng … Trước năm 1954, ngoài các cánh rừng công cộng thì hầu như bản nào cũng có hai khu rừng cấm; rừng tha ma là nghĩa địa của bản; Rừng ma cửa áo là nơi dành cho các loài ma, quỷ của núi rừng, sông suối và linh hồn của đất bản trú ngụ Hai khu rừng này cây cối mọc dày, rậm dây leo chằng chịt, rất huyền bí không ai dám chặt phá Đất tự nhiên của bản còn có các đoạn sông suối các khe, rạch Đây là nguồn cung cấp quan trọng một phần lớn thủy sản cho bữa ăn hàng ngày, gồm các loại tôm, các loài lưỡng thể
Tính cộng đồng ở làng bản xưa kia đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống đã để lại những thuần phong mỹ tục truyền thống của dân tộc Tày Theo truyền thống, ruộng đất trước đây của người Tày đều thuộc về bản mường Các cá nhân không có quyền sở hữu mà chỉ có quyền chiếm hữu Bản chịu trách nhiệm trước mường về phân phối và điều chỉnh ruộng đất cho các gia đình, nghĩa là bản có vai trò quản lý ruộng đất - điều khác với nhiều vùng người dân tộc mà ở đó bản chỉ thuần túy là một đơn vị cư trú Bản không chỉ đơn thuần là nơi tập hợp các gia đình riêng rẽ mà là một cộng đồng làm chỗ dựa về kinh tế xã hội văn hóa thực sự cho mỗi gia đình hạt nhân Mỗi gia đình trong bản khi có việc mừng như: sinh con, cưới xin, làm nhà mới, thờ cúng tổ tiên … đều được sự giúp đỡ về vật chất (gạo, trứng, gà, rượu …) hoặc bằng sức lao động (chặt gỗ, lợp nhà, giúp các công việc vặt trong đám cưới .) Trong bản, gia đình nào có việc buồn, việc tang thì cộng đồng bao giờ cũng là lực lượng chính động viên tinh thần, tham gia vào quá trình tang lễ theo đúng phong tục tập quán của cộng đồng Mỗi thành viên trong bản luôn coi tổ chức bản làng là chỗ dựa tin cậy về mặt vật chất, cả về mặt tinh thần trong suốt cuộc đời họ Đó là yếu tố khiến cho toàn bản trở thành một khối cộng đồng chặt chẽ, cùng chia sẻ những buồn vui giúp đỡ nhau khi hoạn nạn, tạo nên
Trang 31những đặc điểm tâm lý chung của người Tày là chân thành, mến khách, cần
cù, thật thà, sống hòa thuận, khiêm nhường, nhân hậu
2.2.2 Nguyên tắc đặt tên của bản
Tên bản với các quán từ: Bản, lũng, Đông, Pác, Nà, Phia, Bó, ….Bản nghĩa là làng, Lũng là thung lũng, Đông nghĩa là rừng, Pác là miệng, phia nghĩa là núi đá, Bó nghĩa là giếng, Nà hoặc thuổng (tổng) tức là cánh đồng Người Tày thường chọn những nơi bằng phẳng hoặc gò đồi để lập bản và làm nhà, họ đặt tên Bản của mình theo phong cảnh tự nhiên như; làng Pác Bó là nơi nguồn nước, làng Đền là nơi có đền thờ Vua Lê…xong tên được người Tày sử dụng nhiều hơn cả là đặt tên làng, bản gắn liền với tên Nà như: Nà Vát, Nà Cạn, Nà Lương :
Làng bản cổ truyền huyện Trùng Khánh- tỉnh Cao Bằng trước năm
1945 [30 ]
CHÂU THƯỢNG LANG Quán từ Bản
1 Bản Giàn (Lăng Yên) 11 Bản Thùn (Đồn Cà)
2 Bản Liêng (Lăng Yên) 12 Bản Soá (Quả Thoát)
3 Bản Thặc (Ngọc Luật) 13 Bản Cống (Ỷ Cống)
4 Bản Rành (Ngọc Luật) 14 Bản Vang (Ỷ Cống)
5 Bản Mấu (Ngọc Luật) 15 Bản Luống (Ỷ Cống)
6 Bản Mài (Ngọc Côn) 16 Bản Tẩu (Ỷ Cống)
7 Bản Gióm (Ngọc Côn) 17 Bản Mang (Đoài Côn)
8 Bản Khun (Trà Lĩnh) 18 Bản Phò (Tứ Mỹ)
9 Bản Lịp (Trà Lĩnh) 19 Bản Cơ (Tứ Mỹ)
10 Bản Pát (Trà Lĩnh) 20 Bản Hâu (Tứ Mỹ)
Trang 3221 Bản Niêng (Tĩnh Lãng) 48 Bản Chang (Cảnh Sơn)
22 Bản Loa (Tĩnh Lãng) 49 Bản Piêt (Phong Châu)
23 Bản Lang (Tĩnh Lãng) 50 Bản Suộc (Hoành Phong)
24 Bản Hía (Tĩnh Lãng) 51 Bản Quan (Hoành Phong)
25 Bản Mặc (Tráng Biên) 52 Bản Bò (Đống Khê)
26 Bản Tám (Tráng Biên) 53 Bản Piêu (Đống Khê)
27 Bản Ngản (Ngọc Quản) 54 Bản Luông (Quỳnh Lâu)
28 Bản Khủn (Ngọc Quản) 55 Bản Kiang (Lũng Đính)
29 Bản Bó (Ngọc Quản) 56 Bản Đà (Bản Đà)
30 Bản Mãn (Ngọc Quản) 57 Bản Chang (Bản Đà)
31 Bản Sum (Đồng Quản) 58 Bản Bấu (Nga Ổ)
32 Bản Chang (Đồn Cà) 59 Bản Khây (Nga Ổ)
33 Bản Bóng (Bồng Sơn) 60 Bản Phạn (Lạc Oa)
34 Bản Bóng Nưa (Bồng Sơn) 61 Bản Doa (Lạc Oa)
35 Bản Cái (Bồng Sơn) 62 Bản Sặp (Lạc Oa)
36 Bản Nứa (Bồng Sơn) 63 Bản Kít (Lạc Oa)
37 Bản Tháy (Bồng Sơn) 64 Bản Sao (Đồng Loan)
38 Bản Thuân (Bồng Sơn) 65 Bản Thuộc (Đồng Loan)
39 Bản Kiang (Quan Chử) 66 Bản Miao (Đồng Loan)
40 Bản Giộc (Quan Chử) 67 Bản Lũng (Đồng Loan)
41 Bản Khun (Quan Chử) 68 Bản Lẹn (Đồng Loan)
42 Bản Gừ (Quan Chử) 69 Bản Sáng (Đồng Loan)
43 Bản Mom (Quan Chử) 70 Bản Khía (Đồng Loan)
44 Bản Phang (Quan Chử) 71 Bản Con (Đồng Loan)
45 Bản Rạ (Quan Chử) 72 Bản Sang (Đồng Loan)
46 Bản Thừng (Phong Đằng) 73 Bản Rặc (Đồng Loan)
47 Bản Khuy (Phong Đằng) 74 Bản Kha (Đồng Loan)
Trang 3375 Bản Nha (Phong Đằng) 83 Bản Un (Đồng Loan)
76 Bản Bang (Phong Đằng) 84 Bản Sùng (Nga Sơn)
77 Bản Khòng (Trạo Nhi) 85 Bản Phong (Nga Sơn)
78 Bản Khà (Trạo Nhi) 86 Bản Tao (Nga Sơn)
79 Bản Thảng (Trạo Nhi) 87 Bản Nhặng (Trùng Nhai)
80 Bản Suối (Trạo Nhi) 88 Bản Cống (Trùng Nhai)
81 Bản Băng (Lạc Oa) 89 Bản Mẫn (Trùng Nhai)
82 Bản Suông (Lạc Oa) 90 Bản Sâu (Lạc Oa)
Quán từ Lũng
1 Lũng Chiên (Lăng Yên) 18 Lũng Ổ (Lũng Rỳ)
2 Lũng Choạn (Lăng Yên) 19 Lũng Lầu (Mai Lĩnh)
3 Lũng Gia (Lăng Yên) 20 Lũng Tung (Trà Lĩnh)
4 Lũng Muôn (Lăng Yên) 21 Lũng Ong (Trà Lĩnh)
10 Lũng Riễn (Ngọc Luật) 27 Lũng Kinh (Tĩnh Lãng)
11 Lũng Qua (Bào Khê) 28 Lũng Giác (Tĩnh Lãng)
12 Lũng Hoài (Bào Khê) 29 Lũng Vùa (Tĩnh Lãng)
13 Lũng Đẩy (Bào Khê) 30 Lũng Vang (Tĩnh Lãng)
14 Lũng Thoang (Ngọc Côn) 31 Lũng Mười (Tĩnh Lãng)
15 Lũng Diêng (Phong Nẫm) 32 Lung Cuôi (Tĩnh Lãng)
16 Lũng Giùng (Phong Nẫm) 33 Lũng Piứơc (Tĩnh Lãng)
17 Lũng Chuông (Lũng Chung) 34 Lũng Kim (Tráng Biên)
Trang 3435 Lũng Bắng (Lũng Chung) 62 Lũng Quân (Tráng Biên)
43 Lũng Dậu (Ngọc Quản) 70 Lũng Nội (Quan Chử)
44 Lũng Riềm (Ngọc Quản) 71 Lũng Phiac (Quan Chử)
45 Lũng Cống (Đồng Quản) 72 Lũng Phục (Phong Đằng)
46 Lũng Rả (Đồng Quản) 73 Lũng Nậm (Phong Đằng)
47 Lũng Láo (Quả Thoát) 74 Lũng Cung (Phong Đằng)
48 Lũng Khùng (Ỷ Cống) 75 Lũng Phiõ (Trạo Nhi)
49 Lũng Lìu (Ỷ Cống) 76 Lũng Búa (Trạo Nhi)
50 Lũng Lộ (Đoài Côn) 77 Lũng Rặc (Trạo Nhi)
51 Lũng Rỳ (Đoài Côn) 78 Lũng Đa Nưa (Lũng Đa)
52 Lũng Luống (Đoài Côn) 79 Lũng Đa Tẩu (Lũng Đa)
53 Lũng Lạc (Đoài Côn) 80 Lũng Pậu (Lũng Đa)
54 Lũng Rìa (Thân Dương) 81 Lũng Khí Chạo (Lũng Đa)
55 Lũng Tủng (Tứ Mỹ) 82 Lũng Chi (Nga Sơn)
56 Lũng Diên (Tứ Mỹ) 83 Lũng Phục (Lạc Oa)
57 Lũng Cương (Tứ Mỹ) 84 Lũng Sam (Lạc Oa)
58 Lũng Nội (Tứ Mỹ) 85 Lũng Hoạt (Thượng Cống)
59 Lũng Muôn (Cổ Phương) 86 Lũng Nội (Thượng Cống)
60 Lũng Na (Cổ Phương) 87 Lũng Đêng (Quan Chử)
61 Lũng Nội (Phong Châu) 88 Lũng Niệc (Quan Chử)
Trang 3589 Lũng Luống (Đống Khê) 93 Lũng Ry (Quan Chử)
90 Lũng Năm (Quỳnh Lâu) 94 Lũng Man (Phong Đằng)
91 Lũng Hoài (Nga Ổ) 95 Lũng Súm (Phong Đằng)
92 Lũng Hoài (Thượng Cống) 96
Quán từ Đông
1 Đông Đô (Lăng Yên) 9 Đông Quan (Hoành Phong)
2 Đông Niếng (Lăng Yên) 10 Đông Môn (Nga Ổ)
3 Đông Sí (Bào Khê) 11 Đông Môn Chang (Nga Ổ)
4 Đông Oi (Ngọc Côn) 12 Đông Môn Nưa (Nga Ổ)
5 Đông Ry (Tĩnh Lãng) 13 Đông Kẻ Nưa (Trạo Nhi)
6 Đông Cố (Đồng Quản) 14 Đông Kẻ Tẩu (Trạo Nhi)
7 Đông Ven (Thân Dương) 15 Đông Phén (Nga Sơn)
8 Đông Chu (Thân Dương)
Quán từ Pác
1 Pác Cuổi (Lăng Yên) 10 Pác Phiao (An Hy)
2 Pác Nà (Lăng Yên) 11 Pác Thay (An Hy)
3 Pác Rạ (Lăng Yên) 12 Pác Nâm (Bình Xa)
4 Pác Chang (Ngọc Luật) 13 Pác Bó (Tứ Mỹ)
5 Pác Thay (Ngọc Luật) 14 Pác Sa (Tứ Mỹ)
6 Pác Bó (Ngọc Luật) 15 Pác Cọn (Hoành Phong)
7 Pác Muồng (Bào Khê) 16 Pác Nà (Nga Ổ)
8 Pác Ngà (Bào Khê) 17 Pác Pâu (Bồng Sơn)
Pác Giủa (Phong Nẫm) 18 Pác Nẫm (Nga Sơn)
Trang 36Quán từ Nà
1 Nà Num (Ngọc Luật) 29 Nà Sầy (Tứ Mỹ)
4 Nà Lũng (Bào Khê) 32 Nà Ray (Tứ Mỹ)
5 Nà Khia (Bào Khê) 33 Nà Pá (Thượng Cống)
6 Nà Giao (Bào Khê) 34 Nà Pài (Thượng Cống)
7 Nà Pò (Ngọc Côn) 35 Nà Phàng (Thượng Cống)
8 Nà Đán (Phong Nẫm) 36 Nà San (Thượng Cống)
9 Nà Đoan (Phong Nẫm) 37 Nà Suầy (Thượng Cống)
10 Nà Giào (Phong Nẫm) 38 Nà Thuộng (Thượng Cống)
11 Nà Chong (Phong Nẫm) 39 Nà Vửa (Thượng Cống)
12 Nà Thổng (Phong Nẫm) 40 Nà Đeng (Quan Chử)
13 Nà Kẻ (Trà Lĩnh) 41 Nà Héo (Nga Sơn)
14 Nà Phò (Tĩnh Lãng) 42 Nà Khèn (Nga Sơn)
15 Nà Giộc (Tĩnh Lãng) 43 Nà Hát (Trùng Nhai)
16 Nà Giang (Đồng Quản) 44 Nà Ngần (Lạc Oa)
17 Nà Kéo (Đoài Côn) 45 Nà Chi (Ỷ Cống)
18 Nà Lộng (An Hy) 56 Nà Quang (Đoài Côn)
19 Nà Gách (An Hy) 47 Nà Choát (Đoài Côn)
20 Nà Khoang (Trà Lĩnh) 48 Nà Giộc (Hoành Phong)
21 Nà Rạo (Trà Lĩnh) 49 Nà Mó (Đống Khê)
22 Nà Thấu (Tĩnh Lãng) 50 Nà Ay (Nga Ổ)
23 Nà Quan (Tĩnh Lãng) 51 Nà Lạn (Bồng Sơn)
24 Nà Đống (Tĩnh Lãng) 52 Nà Ay (Quan Chử)
25 Nà Thăng (Tráng Biên) 53 Nà Mười (Quan Chử)
26 Nà Lệch (Ngọc Quản) 54 Nà Nheng (Nga Sơn)
28 Nà Sộc (Quả Thoát)
Trang 37Quán từ Phia
1 Phia Ngược (Lăng Yên) 11 Phia Đeng (Tĩnh Lãng)
2 Phia Gà (Ngọc Luật) 12 Phia Tung (Ỷ Cống)
3 Phia Hong (Ngọc Luật) 13 Đống Sáu (Ỷ Cống)
4 Phia Khoang (Hiếu Lễ) 14 Phia Mã (Ỷ Cống)
5 Phia Léc (Hiếu Lễ) 15 Phia Ná (Ỷ Cống)
6 Phia Siểm (Bào Khê) 16 Phia Dan (Cảnh Sơn)
7 Phia Mã (Ngọc Côn) 17 Phia Bo (Đống Khê)
8 Phia Ca (Mai Lĩnh) 18 Phia Rài (Bản Đà)
9 Phia Deng (Trà Lĩnh) 19 Phia Đêng (Nga Ổ)
10 Phia Nin (Trà Lĩnh) 20 Phia Móc (Thượng Cống)
Các quán từ khác
1 Áng Nẫm (Trà Lĩnh) 13 Co Rược (Ỷ Cống)
2 An Tắc (Nga Sơn) 14 Cò Ma (Thượng Cống)
3 Bán Con (Đồng Loan) 15 Cóc Lùng (Ngọc Quản)
4 Bó Hay (Bào Khê) 16 Cóc Phia (Ngọc Luật)
5 Bó Hoa (Mai Lĩnh) 17 Cổ Giâu Phố (Hiếu Lễ)
6 Bó Hoạt (Tráng Biên) 18 Cốc Chia (Nga Sơn)
7 Bó Giường (Ngọc Quản) 19 Cổ Phương (Cổ Phương)
8 Bó Lênh (Ỷ Cống) 20 Cốc Cáng (Trà Lĩnh)
9 Bó Mạ (Ỷ Cống) 21 Cốc Mỹ (Mai Lĩnh)
10 Bó Đà (Phong Châu) 22 Cốc Khoắc (Trà Lĩnh)
11 Bó Thốc (Quỳnh Lâu) 23 Cống Kéo (Quả Thoát)
12 Bủng Ỏ (Quả Thoát) 24 Cốc Phát (Tứ Mỹ)
Trang 3825 Ca Rạc (Trà Lĩnh) 52 Cốc Nghịu (Cổ Phương)
26 Cao Đôn (Tĩnh Lãng) 53 Cốc Lại (Cảnh Sơn)
27 Cần Thả (Quan Chử) 54 Cốc Chia (Cảnh Sơn)
28 Chắm Ché (Ngọc Luật) 55 Chát Lình (Hoành Phong)
29 Co Muồng (Quan Chử) 56 Chi Choi (Lũng Đính)
30 Co Nghịu (Lạc Oa) 57 Chợ Chi Choi (Lũng Đính)
31 Co Lỳ (Đồng Loan) 58 Chợ Pò Tấu (Thượng Cống)
32 Co Riệc (Đồng Loan) 59 Đà Hoắc (Ngọc Luật)
33 Co Cài (Cảnh Sơn) 60 Đóng Khắm (Trà Lĩnh)
34 Co Hấu (Phong Nẫm) 61 Đén Deng (Lạc Oa)
35 Co Mười (Tráng Biên) 62 Giộc Nạn (Ngọc Luật)
36 Co Tô (Tráng Biên) 63 Giộc Mùng (Phong Nẫm)
37 Co Vương (Phong Châu) 64 Giộc Mán (Phong Nẫm)
38 Co Bầy (Hoành Phong) 65 Giốc Súng (An Hy)
39 Co Vầy (Nga Ổ) 66 Giộc Chiếm (Bình Xa)
40 Giộc Dâu (Tĩnh Lãng) 67 Khuôi Rỳ (Trà Lĩnh)
41 Giộc Vân (Quan Chử) 68 Khuối Luông (Tĩnh Lãng)
42 Giả Lường (Nga Sơn) 69 Khuổi Siểm (Ngọc Quản)
43 Hiếu Lễ Nưa (Hiếu Lễ) 70 Khuối Lình (Đoài Côn)
44 Hiếu Lễ Tẩy (Hiếu Lễ) 71 Khuổi Kỳ (Quan Chử)
45 Hnàg Hoài (Hiếu Lễ) 72 Khuổi Sại (Thượng Cống)
46 Háng Gả (Đồn Cà) 73 Khuổi Ải (Nga Sơn)
47 Hạt Pan (Lũng Đính) 74 Khuối Âu (Nga Sơn)
48 Kha Rề (Ngọc Luật) 75 Khum Sỏm (Ngọc Quản)
49 Kha Mong (Mai Lĩnh) 76 Lạn Hoài (Ngọc Quản)
50 Khang Lục (Mai Lĩnh) 77 Lý Phạn (Lũng Đa)
51 Khau Khót (Phong Châu) 78 Lùng Pầu (Đồn Cà)
Trang 3979 Khau Ra (Đồng Loan) 106 Lùng Nẫm Nưa (Đồn Cà)
80 Khâu Nưa (Ngọc Luật) 107 Lùng Nẫm Tẩu (Đồn Cà)
81 Khâu Hổ (Ngọc Quản) 108 Luộc Tấu (Ỷ Cống)
82 Khâu Lũng (Cổ Phương) 109 Luộc Sóm (Hoành Phong)
83 Khâu Pá (Nga Sơn) 110 Luộc Khính (Trạo Nhi)
84 Khâu Cuội (Nga Sơn) 111 Luộc Bó (Nga Sơn)
85 Khưa Hôi (Ngọc Côn) 112 Luộc Sáo (Lạc Oa)
86 Khưa Ỏ (Đoài Côn) 113 Luộc Thôm (Đồng Loan)
87 Khúa Khảo (Phong Châu) 114 Lung Thoang (Trạo Nhi)
88 Khưa Khoang (Trạo Nhi) 115 Lung Hoang (Trạo Nhi)
89 Keng Khiắp (Phong Nẫm) 116 Lúng Lệch (Đoài Côn)
90 Keng Hoàng (Cổ Phương) 117 Lục Khiếu (Phong Đằng)
91 Khiêm Khát (Thân Dương) 118 Mán Dâu (Đồng Quản)
92 Khiong Hu (Nga Ổ) 119 Mù Hà (Thượng Cống)
93 Khuổi Linh (Ngọc Luật) 120 Nặm Sum (Ngọc Luật)
94 Khuổi Luông (Trà Lĩnh) 121 Nặm Lìn (Hiếu Lễ)
95 Nâm Kít (Trạo Nhi) 122 Pò Rẩy (Tĩnh Lãng)
96 Nẫm Tốc (Lũng Đa) 123 Pò Hoài (Tứ Mỹ)
97 Nẫm Thấu (Nga Sơn) 124 Pò Quang (Tứ Mỹ)
98 Nâm Thủm (Lũng Chung) 125 Pò Tào (Phong Châu)
99 Nẩm Thụm (Tứ Mỹ) 126 Pò Mười (Hoành Phong)
100 Nậm Thụm (Tráng Biên) 127 Po Chang (Ỷ Cống)
101 Nục Cu (Lũng Đính) 128 Po Có (Cảnh Sơn)
102 Nguồm Nuốc (Tĩnh Lãng) 129 Po Rẩy (Thân Dương)
103 Ngườm Sang (Thân Dương) 130 Po Đồn (Tứ Mỹ)
104 Phò Mác (Ngọc Luật) 131 Phủng Phèn (Tĩnh Lãng)
105 Phò Khọt (Trà Lĩnh) 132 Pạc Lũng (Ỷ Cống)
Trang 40133 Phò Kháp (Ỷ Cống) 160 Pạc Thần (Đoài Côn)
134 Phài Pán (Phong Nẫm) 161 Pạc Sao (Cảnh Sơn)
135 Phiêng Xa Nưa (Bình Xa) 162 Pạc Mạc (Hoành Phong)
136 Phiêng Xa Tẩu (Bình Xa) 163 Pạc Pẩu (Lũng Đính)
137 Pò Cai (Hoành Phong) 164 Pạc Cổng (Thượng Cống)
138 Pò Tấu (Thượng Cống) 165 Pac Sa (Đoài Côn)
139 Pò Chang (Bồng Sơn) 166 Pac Siếc (Tráng Biên)
140 Pò Don (Quan Chử) 167 Pac Thoàng (Ỷ Cống)
141 Pò Mười (Phong Đằng) 168 Phài Na (Đoài Côn)
142 Pò Mu (Nga Sơn) 169 Phố Thông Huê (Đoài Côn)
143 Pò Sẩy (Quan Chử) 170 Pú Làng (Hoành Phong)
144 Pò Sao (Nga Sơn) 171 Pài Siểng (Thượng Cống)
145 Pò Giẫu (Bào Khê) 172 Phai Thoang (Quan Chử)
146 Pò Luông (Trà Lĩnh) 173 Phía Nà (Nga Sơn)
147 Pò Man (Tĩnh Lãng) 174 Phiêng Phié (Trùng Nhai)
148 Pò Khoang (Tĩnh Lãng) 175 Rằng Hống (Tráng Biên)
149 Pò Khâu Khao (Tĩnh Lãng) 176 Rằng Rang (Lăng Yên)
150 Rỏng Mần (Tráng Biên) 177 Thổng Mông (Tĩnh Lãng)
151 Rỏng Sắc (Tráng Biên) 178 Tống Nga (Tĩnh Lãng)
152 Săng Đìn (Lăng Yên) 179 Thiu Phong (Tráng Biên)
153 Siộc Khâu 3(Bào Khê) 180 Tăng Sường (Ngọc Quản)
154 Sóc Hoài (Mai Lĩnh) 181 Tốc Tát (Ngọc Quản)
155 Sộc Đam (Tráng Biên) 182 Tẩu Kéo (Ngọc Quản)
156 Súm Khuổi (Đồng Quản) 183 Thua Phia (Đoài Côn)
157 Sộc Chăng (Ỷ Cống) 184 Tàm Na (Đoài Côn)
158 Sộc Vắc (Đoài Côn) 185 Thông Khuông (Đoài Côn)
159 Sộc Nạn (Tứ Mỹ) 186 Thổng Lộc (Thân Dương)