Tuy nhiên hiện nay khi bước vào nền kinh tế thị trường, máy móc công nghiệp đã dần thay thế sức lao động của con người, hoạt động sản xuất mang tính cộng đồng không được đề cao cùng với
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử văn hóa
Người hướng dẫn khoa học
Th.S NINH THỊ HẠNH
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên với lòng biết ơn chân thành, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc
tới Th.S Ninh Thị Hạnh đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá
trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Để hoàn thành khóa luận của mình, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các Thầy giáo, Cô giáo trong khoa Lịch sử, trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 đã nhiệt tình truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt quá trình học tập và tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Xin chân thành cảm ơn tới các cán bộ phòng Văn hóa & Thông tin huyện Bình Gia, các nghệ nhân cùng đồng bào dân tộc Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn đã cung cấp cho em những tư liệu quý báu trong quá trình đi thực tế tại địa phương để hoàn thành khóa luận
Trong quá trình viết, do còn thiếu điều kiện và kiến thức còn hạn chế, bản khóa luận sẽ không tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết Vì vậy, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn để khóa luận tốt nghiệp được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2014
Tác giả
Mông Thị Mách
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đề tài khóa luận này được hoàn thành do sự cố gắng,
nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu của bản thân, cùng với sự giúp đỡ tận tình của
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của khóa luận 5
6 Bố cục khóa luận 6
NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH DÂN CA SLI TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI NÙNG PHÀN SLÌNH Ở HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN 7
1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÍ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN 7
1.1.1 Vị trí địa lí 7
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 7
1.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN 9
1.2.1 Điều kiện kinh tế 9
1.2.2 Dân cư 12
1.3 ĐIỀU KIỆN VĂN HÓA 14
CHƯƠNG 2: DÂN CA SLI TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI NÙNG PHÀN SLÌNH Ở HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN 24
2.1 NGÔN NGỮ VÀ KHÔNG GIAN DIỄN XƯỚNG 26
2.2 HÌNH THỨC DIỄN XƯỚNG 29
Trang 52.2.1 Hát trong lao động 29
2.2.2 Hát trong nghi lễ và các phiên chợ 30
2.2.2.1 Hát trong đám cưới 30
2.2.2.2 Hát trong lễ mừng thọ 33
2.2.2.3 Hát trong đám tang 33
2.2.2.4 Hát ở trong các phiên chợ 34
2.2.3 Hát trong sinh hoạt gia đình và trong sinh hoạt ăn uống 35
2.2.3.1 Hát trong sinh hoạt gia đình 35
2.2.3.2 Hát trong các cuộc uống rượu 37
2.2.4 Hát giao duyên 38
2.2.4.1 Hát giao duyên đối đáp tự do 39
2.2.4.2 Hát giao lưu đêm dài 44
2.3 KẾT CẤU TRONG DÂN CA SLI 47
2.3.1 Kết cấu đối đáp 48
2.3.2 Kết cấu lặp 50
2.4 GIÁ TRỊ PHẢN ÁNH TRONG DÂN CA SLI CỦA NGƯỜI NÙNG PHÀN SLÌNH Ở HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN 52
2.4.1 Tiếng hát ca ngợi con người 52
2.4.2 Tiếng hát tâm tình của đôi lứa 57
2.4.3 Vẻ đẹp thiên nhiên trong dân ca Sli 59
2.4.3.1 Bức tranh thiên nhiên 59
2.4.3.2 Bức tranh lao động 63
2.5 BẢO TỒN DÂN CA SLI TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI NÙNG PHÀN SLÌNH Ở HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN 66
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII của Đảng đã chỉ rõ: “Văn hoá là
nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Di sản văn hoá là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc văn hoá dân tộc, cơ sở để tạo ra những giá trị văn hoá truyền thống (bác học và dân gian), văn hoá cách mạng, bao gồm cả văn hoá vật thể và phi vật thể” Năm 1991, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, Đảng ta xác định:
“Tôn trọng lợi ích, truyền thống văn hoá, ngôn ngữ, tập quán tín ngưỡng của các dân tộc, đồng thời kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần, đạo đức, thẩm mĩ, các di sản văn hoá, nghệ thuật của dân tộc”
Việt Nam là một quốc gia với 54 dân tộc anh em Mỗi một dân tộc có một bản sắc văn hoá riêng Trải qua quá trình phát triển, 54 bản sắc dân tộc, ngày càng hoà quyện, đan xen vào nhau, quá trình giao thoa đó đã làm cho nền văn hoá của các dân tộc hoà nhập nhưng không hoà tan, góp phần làm cho nền văn hoá vật chất, tinh thần Việt Nam phong phú, đa dạng và độc đáo
Xứ Lạng từ xa xưa vốn được biết đến như một miền hội tụ văn hóa của các dân tộc: Nùng, Tày, Dao, Kinh, Hoa, Mông, Sán Chay Trong tiến trình vận động của lịch sử, giữa các tộc người luôn có sự hòa nhập, đan xen, tiếp thu chọn lọc, bồi đắp tạo nên một nền văn hóa xứ Lạng đa sắc, đa màu
Trong đời sống tinh thần của đồng bào Nùng Phàn Slình ở Bình Gia, bên cạnh hát Then, Cỏ Lẩu thì hát Sli là một thể loại không thể thiếu, nó đã đi vào trong đời sống của đồng bào nơi đây, nó không chỉ là tiếng nói mà còn là tiếng lòng của những chàng trai, cô gái Nùng nơi miền sơn cước Làn điệu Sli
đã đi vào trong tâm thức của người Nùng Phàn Slình từ xa xưa cho đến nay, tiếng Sli theo bước chân đồng bào vượt bao con sông, triền núi để với các
Trang 7phiên chợ, các lễ hội xuân, để lên nương, lên rẫy… hòa vào cuộc sống sinh hoạt lao động Tuy nhiên hiện nay khi bước vào nền kinh tế thị trường, máy móc công nghiệp đã dần thay thế sức lao động của con người, hoạt động sản xuất mang tính cộng đồng không được đề cao cùng với nền văn hóa ngoại lai
đã xâm nhập vào đời sống của người dân nên làn điệu Sli đã và đang ngày càng bị mai một, không còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người Nùng Phàn Slình như trước đây Cùng xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay việc giữ gìn nhưng nét văn hoá dân tộc mang một ý nghĩa quan trọng, bởi không ít những thế lực phản động đang từng ngày từng giờ lợi dụng vấn đề dân tộc để gây xung đột chia rẽ khối đoàn kết dân tộc Chính vì vậy việc bảo
tồn và phát huy nền văn hoá dân tộc là một vấn đề cấp thiết của từng dân tộc
Chính bởi vậy mà việc nghiên cứu hát Sli vừa để góp phần bảo tồn làn điệu dân ca của dân tộc đứng trước nguy cơ bị mai một, vừa có được nhận thức sâu sắc hơn về thế giới tâm hồn của đồng bào dân tộc Nùng Phàn Slình ở
huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
Là một người con người dân tộc Nùng Phàn Slình của huyện Bình Gia, ngay từ khi còn nhỏ em đã được tiếp xúc với những làn điệu Sli mượt mà do
bố mẹ, các cô các bác thể hiện Hơn nữa, là sinh viên đang theo học chuyên ngành Lịch sử văn hóa, bản thân em tự nhận thức được cần phải bảo tồn và phát huy nét văn hoá độc đáo, đặc sắc này
Xuất phát từ những lí do trên nên em chọn đề tài: “Tìm hiểu dân ca Sli
trong đời sống của người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình
Trang 8Tác giả Vi Hồng với cuốn “Sli, Lượn dân ca trữ tình Tày - Nùng” Nội
dung của tác phẩm này đã nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào Tày - Nùng qua các làn điệu Sli, Lượn của họ, những nét đẹp về con người, nét đẹp về văn hóa đã được tác giả phản ánh rất rõ nét trong tác phẩm
Cuốn “Văn hóa văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam” của tác giả
Ngô Đức Thịnh đã nêu một cách cụ thể về đời sống sinh hoạt hàng ngày cũng như đời sống tinh thần, tín ngưỡng của người Nùng Phàn Slình nói chung
dân tộc Tày - Nùng - Thái ở Việt Nam”, đã nghiên cứu một cách cụ thể về đời
sống vật chất và tinh thần của người Nùng
Trong cuốn “Âm nhạc dân gian các dân tộc Tày - Nùng - Dao ở Lạng
Sơn” (2005), tác giả Nông Thị Nhình cũng đã nêu được vai trò của dân ca Sli
trong đời sống lao động cũng như đời sống tinh thần của dân tộc Nùng ở nơi đây
Cuốn “Văn hóa Tày - Nùng” của Lã Văn Lô và Hà Văn Thư cũng đã
giới thiệu một cách khái quát về xã hội, con người và văn hóa của dân tộc Tày
- Nùng
“Công thức truyền thống và đặc trưng cấu trúc của ca dao - dân ca trữ tình”, Bùi Mạnh Nhị , Tạp chí văn học (1997)
người Nùng Phàn Slình nhưng những công trình nghiên cứu trên đã đưa ra những gợi ý rất quý giá để em thực hiện đề tài nghiên cứu này
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích
Đề tài nhằm khẳng định giá trị văn hóa của dân ca Sli trong đời sống của người Nùng nói chung và người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn nói riêng
Trang 9Tìm hiểu giá trị của những tập tục, tín ngưỡng dân gian của một bộ phận đóng vai trò quan trọng trong đời sống tín ngưỡng của dân tộc đó là tầng lớp Sli làm căn cứ để góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của dân ca Sli trong cộng cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.
- Tìm hiểu các yếu tố văn hóa tín ngưỡng và đánh giá một cách khách quan vị trí của Sli trong đời sống của người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
- Rút ra những giá trị cũng như hạn chế của Sli để từ đó đưa ra những
đề xuất cho việc bảo tồn và phát huy trong đới sống hiện nay
3.3 Phạm vi nghiên cứu
-Về nội dung: Khóa luận đi sâu vào nghiên cứu nội dung của dân ca Sli trong đời sống cuả người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn nhằm góp phần cung cấp tư liệu và làm rõ những đặc điểm của Sli trong đời sống của cộng đồng
- Về không gian: Khóa luận tập trung tìm hiểu dân ca Sli trên địa bàn
cư trú của người Nùng Phàn Slình tại huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện được đề tài này người viết chủ yếu sử dụng những tư liệu sau:
Tư liệu của các nhà nghiên cứu trước như: Sli Lượn dân ca trữ tình Tày
- Nùng, NXB Văn hóa dân tộc xuất bản năm 1979, Thì thầm dân ca nghi lễ,
Trang 10NXB Văn hóa dân tộc (2001) của tác giả Vi Hồng Cuốn Dân tộc Nùng ở Việt
Nam, NXB văn hóa dân tộc (2002) của tác giả Hoàng Nam Mông Ky Slay,
Lê Chí Quế, Hoàng Huy Phách (1992), Dân ca Nùng, NXB Văn hóa dân tộc
Công trình luận văn Thạc sĩ liên quan đến đề tài như: Luận văn Thạc sĩ: Sli, Lượn và lễ hội Oóc Pò ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên của tác giả Hoàng Thúy Nga
Ngoài ra người viết còn sử dụng tài liệu thu thập được từ các nghệ nhân
qua công tác điền dã và tài liệu trên internet
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để làm cho khóa luận trở lên sâu sắc và chặt chẽ hơn thì người viết đã
sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Cụ thể là:
- Nghiên cứu lý thuyết: Đọc, sưu tầm và phân tích những tài liệu từ
sách báo, tạp chí, Internet… để có được cái nhìn đa chiều về dân ca Sli của
người Nùng nói chung và người Nùng Phàn Slình nói riêng
- Nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp quan sát: Thực hiện công tác điền dã, tìm hiểu qua các câu lạc bộ hát Sli để thu thập thông tin lấy tư liệu hoàn thành Khóa luận
+ Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Trực tiếp lấy tư liệu từ hai nghệ nhân là Hoàng Thị Shâu Thôn Khuổi Cưởm, xã Thiện Thuật và Hoàng Văn Nhi thôn Bản Chúc, xã Thiện Thuật
+ Phương pháp thống kê toán học: Xử lý, thống kê, phân tích tư liệu thu được trong quá trình thực hiện công tác điền dã để có thể đối chiếu và so sánh giữa dân ca Sli của người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia với các nhóm Nùng khác
5 Đóng góp của khóa luận
- Khóa luận là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về Sli và Sli trong đời sống của người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
Trang 11- Sưu tầm nghiên cứu lời Sli và những làn điệu Sli trong đời sống của người Nùng Phàn Slình sẽ góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc đang đứng trước nguy cơ bị mai một trước sự phát triển của
xã hội hiện đại, góp phần nâng cao tình yêu quê hương, ý thức giữ gìn vốn văn hóa dân gian của quê hương
- Thông qua đề tài này, em muốn góp một phần công sức nhỏ bé trong công tác tìm hiểu, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
Trang 12tự nhiên 109.066,2 ha, gồm 19 xã (Bình La, Minh Khai, Hoa Thám, Vĩnh Yên, Thiện Hòa, Thiện Thuật, Tân Hòa, Quang Trung, Yên Lỗ, Hòa Bình, Thiện Long, Văn Thụ, Quý Hòa, Hưng Đạo, Hồng Phong, Hồng Thái, Mông
Ân, Tô Hiệu, Tân Văn), 1 thị trấn (Bình Gia), huyện có tuyến Quốc lộ 1B chạy qua, tuyến đường 226, 279 nối liền với các đơn vị huyện bạn, tỉnh bạn (Na Rì - Bắc Cạn), tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế - văn hoá giữa các vùng miền trong huyện gắn liền với các di tích cách mạng Từ những đặc điểm về vị trí địa lý, dân cư ổn định và những chủ trương về phát triển kinh tế, gắn liền với giao lưu văn hoá - du lịch đã tạo tiền đề cho nền văn hoá Bình Gia phát triển mà vẫn giữ được những nét bản sắc dân tộc riêng vốn
có, góp phần xây dựng, củng cố, khai thác, bảo tồn, phát huy tiềm năng văn hoá, các giá trị của các di tích lịch sử cách mạng trên địa bàn huyện
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Đất đai: Địa hình chính của huyện Bình Gia chủ yếu là địa hình đồi
núi, lát cắt bao gồm những dãy núi cao thấp dần về phía Đông Nam Phía
Trang 13Nam và Đông Nam huyện Bình Gia thuộc cánh cung Bắc Sơn hùng vĩ Các xã Tân Văn, Tô Hiệu, Văn Thụ, Thiện Long, Thiện Hòa, Hoà Bình có những khối núi đá vôi đồ sộ, có đỉnh cao tới 600m Tiếp dãy núi đá lớn là vùng đồi núi thấp nhiều đồi hình bát úp, độ cao từ 50m đến 60m, có khả năng phát triển cây công nghiệp như hồi, sở, bông, mía, lạc, chè… Vùng thị trấn và các xã ven vùng thị trấn có địa hình khá bằng phẳng rất thuận lợi cho việc phát triển lúa nước và cây thực phẩm (rau xanh, đậu…)
Bình Gia có hệ thống hang động phong phú: Gồm có các hang lớn là Thẩm Khuyên,Thẩm Hai, Kéo Lèng Tại đây đã phát hiện ra di chỉ của người Việt cổ sinh sống, các nhà khảo cổ đã tiến hành khai quật và khẳng định hang Thẩm Khuyên có niên đại cách đây 250 nghìn năm, có hang bây giờ còn chứa khung giàn tên lửa
Khí hậu: Bình Gia nằm ở vùng Bắc chí tuyến, trong vành đai nhiệt đới
Bắc bán cầu, nên khí hậu ở đây mang tính chất nhiệt đới nóng ẩm, gió mùa Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
Nằm ở vị trí gần địa đầu phía bắc, lại là thung lũng lòng chảo được bao quanh bởi các dãy núi cao tạo thành phễu hút gió mùa đông bắc làm cho Bình Gia trở thành một trong những nơi rét nhất toàn quốc vào mùa đông Gió mùa đông bắc chiếm ưu thế suốt từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, những đợt gió cuối mùa vẫn ảnh hưởng khá lớn với các đợt không khí lạnh tràn về kèm theo giông, gây gió mạnh và mưa rào
Vào mùa nóng ẩm (từ tháng 4 đến tháng 9), nhiệt độ không khí bình
67%
Trang 14Lượng mưa bình quân cả năm là 1439 mm, chia làm 2 mùa: mùa khô, lượng mưa chiếm 75% so với cả năm; mùa khô lượng mưa chiếm 25% so với
cả năm Tháng 1 có lượng mưa thấp nhất trong năm, bình quân khoảng 22
mm, có năm xuống tới 6 mm
Với những đặc điểm như vậy, nhìn chung khí hậu Bình Gia thuận lợi cho phát triển cây nông nghiệp, đặc biệt là các loại cây thực phẩm có nguồn gốc á nhiệt đới, cây dược liệu
Sông ngòi: Do là một huyện thuộc vùng núi nên hệ thống sông ngòi
của Bình Gia chủ yếu là các con suối nhỏ, kênh, rạch, có một sông lớn là sông Bắc Giang (Văn Mịch) và đập Phai Danh (cấp nước tưới tiêu thực hiện thủy lợi của nhân dân khu vực lân cận )
Giao thông: Bình Gia còn là cửa ngõ của các tuyến giao thông quan
trọng nối liền Bắc Cạn với Lạng Sơn qua tuyến đường 279 và tuyến đường 1B nối liền Thái Nguyên với thành phố Lạng Sơn cùng với nhiều tuyến đường tỉnh chạy qua Đây là những thuận lợi giúp Bình Gia trao đổi hàng hóa cũng như nền văn hóa bản địa với các vùng lân cận
1.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
1.2.1 Điều kiện kinh tế
Cũng như các dân tộc khác, người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia
từ lâu đã lấy nền nông nghiệp trồng lúa nước làm nguồn sinh sống chính, bên cạnh đó việc trồng lúa nương và các cây rau màu khác như rau, đậu, đỗ cũng không kém phần quan trọng, ngoài ra người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia còn trồng thêm các nông sản phụ như ngô, khoai, sắn, các loại đậu
và rau quả, chăn nuôi gia súc và đánh bắt cá tôm ven các con sông, con suối
Hoạt động sản xuất cơ bản của nông dân người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia là làm ruộng ở thung lũng trồng lúa nước Do vậy các địa
danh ở vùng cư trú của người Nùng thường có tên là “lũng” và “nà”, có
Trang 15nghĩa là “thung lũng” và “ruộng” Trong các thung lũng như vậy, người ta
những gò đất cao ven chân đồi, núi để làm nhà, lưng tựa vào núi, mặt hướng
ra cánh đồng Ruộng (nà) là những mảnh đất tương đối bằng phẳng, có bờ giữ nước, giữ ẩm, nơi đó có thể trồng lúa hay hoa mầu Trong quan niệm của
người Nùng, ruộng có nhiều loại: Nà nặm (ruộng nước), có thể trồng lúa một hay hai vụ hoặc có thể trồng xen với hoa màu, Nà lẹng (ruộng cạn chờ mưa),
thường là ruộng bậc thang cao, khó lấy nước, chỉ có thể trồng một vụ vào mùa
mưa, Nà lụm (ruộng lầy), thường ở các khe núi, cuối cánh đồng, có thể trồng
một vụ một năm Vào mấy thập kỉ gần đây, do đẩy mạnh làm thủy lợi nên diện tích đất canh tác hai vụ đã tăng lên
Đặc trưng nổi bật nhất của loại hình canh tác ruộng nước ở thung lũng
của cư dân người Nùng là hệ thống thủy lợi theo kiểu mương, phai Đây là hệ
thống thủy lợi cổ truyền, phù hợp với loại hình canh tác ruộng nước ở thung
lũng Lợi dụng dòng nước chảy liên tục, người Nùng đắp phai (đập) để ngăn
dòng nước lại làm cho nước suối dâng lên sau đó chảy vào mương rồi dẫn vào trong những thửa ruộng Phai được xây dựng ở vị trí đầu nguồn nước của cánh đồng Quy mô của phai to hay nhỏ còn tùy thuộc vào diện tích của cánh đồng rộng hay hẹp Phai có cấu trúc khá đơn giản, không tốn kém mà lại có hiệu quả, thường làm bằng tre, gỗ, đất, đá Họ đóng cọc vào các trụ đá rồi bắc các đầm tre, gỗ ngang dòng suối, lót phên tre, đổ đất, đá ngăn một phần dòng nước lại Thực ra đây là hệ thống đập tràn, chỉ giữ lại một lượng nước cần
thiết vừa đủ tưới, còn nước thừa không dùng tới vẫn có thể chảy qua “nuôi
sống” dòng suối để những người dân dưới hạ nguồn vẫn có nước để dùng
Thực chất đây là hình thức “chia” nước giữa những cộng đồng làng bản sinh
sống dọc các sông suối, lại có tác dụng chống bồi lắng, dễ sửa chữa hay xây dựng lại khi bị lũ lụt tàn phá
Trong hệ thống nông cụ của người Nùng thì chiếc cày giữ vai trò chủ đạo, khiến hệ thống nông nghiệp của người Nùng đạt tới trình độ canh tác
Trang 16nông nghiệp dùng cày và thủy lợi, trình độ canh tác nông nghiệp cao của xã hội truyền thống Cày (thay) của người Nùng thuộc loại hình cày thân bắp, không có chân đế, dùng trâu, bò kéo, thích hợp với các thửa ruộng hẹp, địa hình không thật bằng phẳng, cái cày của người Nùng cũng giống với cày của người Thái, Choang và những cư dân láng giềng khác, nhưng lại có sự phân biệt khá lớn với chiếc cày của người H’Mông ở vùng rẻo cao Ngoài chiếc cày, chiếc bừa và cuốc cũng là công cụ sản xuất quan trọng, trong đó cày và bừa thường là công cụ của nam giới, còn cuốc là công cụ của nữ giới Chính với nông nghiệp dùng cày và vai trò quan trọng của nam giới trong hệ thống nông nghiệp là những nhân tố góp phần xác lập xã hội phụ hệ và phụ quyền từ khá sớm của các tộc người này
Với trụ cột là sản xuất nông nghiệp trồng lúa, người Nùng còn phát triển chăn nuôi gia súc trong gia đình, đánh bắt cá trên sông suối, đặc biệt là nuôi thả cá ruộng và cá ao, bởi vì ngoài lúa gạo, thực phẩm chủ yếu của họ là thủy sản, trong đó cá là thực phẩm chính Xưa kia nuôi cá ruộng rất phổ biến, vừa tạo ra nguồn thực phẩm thường xuyên lại vừa là biện pháp kĩ thuật nâng cao năng suất lúa Cá tạo ra nguồn phân bón lúa, kích thích lúa đẻ nhánh nhanh vừa diệt sâu cắn rễ và thân lúa Tuy nhiên trong mấy thập kỉ gần đây việc nuôi cá ruộng bị hạn chế nhiều do việc thay đổi cơ cấu giống lúa, nhất là việc sử dụng quá nhiều phân hóa học, hóa chất, thuốc trừ sâu đã làm phá hoại môi trường sinh trưởng của cá
Nghề thủ công gia đình của người Nùng Phàn Slình của huyện Bình Gia khá phát triển đó là dệt, nhuộm, rèn, đan lát nhằm đáp ứng nhu cầu tự cung tự cấp của người dân và một phần để trao đổi, buôn bán Xưa kia người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia hoàn toàn tự túc đồ may mặc bằng cách phát triển nghề trông bông, dệt vải, nhuộm chàm nay nhu cầu ăn mặc đã được sản phẩm công nghiệp thay thế nên nhiều làng của người Nùng không còn duy trì nghề trồng bông, nhuộm chàm, dệt vải nữa Tuy nhiên vẫn có một
Trang 17số cộng đồng vẫn còn giữ nếp ăn mặc cổ truyền, nên nghề trồng bông, dệt vải
và nhuộm chàm vẫn phát triển Nghề rèn vẫn được duy trì ở một số làng của người Nùng, đặc biệt có nơi như người Nùng An vẫn duy trì nghề rèn vốn nổi tiếng từ xưa, sản phẩm của họ được thị trường ưa chuộng, tạo ra nguồn thu nhập quan trọng của gia đình Nghề làm gốm, ngói lợp nhà, nhất là loại ngói
âm dương vẫn là sản phẩm ưa thích của người Nùng
Do địa hình chủ yếu là đồi núi nên ở Bình Gia người dân còn chú ý phát triển các cây công nghiệp nhưng hồi, sở, bông, cây mác mật, cam Nền kinh tế tự cung tự cấp của người Nùng Phàn Slình giờ đây đã chuyển dần sang nền kinh tế hàng hóa, nhờ nền kinh tế hàng hóa có sự lưu thông thường xuyên nên ở đây đã hình thành các cụm chợ huyện, chợ xã, chợ không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa mà còn là nơi giao lưu văn hóa Người Nùng Phàn Slình
đi chợ để gặp gỡ bạn bè, người thân qua những làn điệu Sli, Lượn, tuy nhiên hiện nay do sự tác động của nền kinh tế thị trường nên hoạt động hát Sli, Lượn trong các phiên chợ không còn nữa, đây là một điều đáng tiếc trong các phiên chợ miền núi nói chung và chợ phiên trong huyện Bình Gia nói riêng Huyện có hệ thống chợ: Chợ thị trấn Bình Gia, chợ Pác Khuông thuộc xã Thiện Thuật, chợ Văn Mịch thuộc xã Hồng Phong Trong đó chợ chính là chợ thị trấn Bình Gia, họp chính 5 ngày một lần vào các ngày mùng 1, 6, 11, 16,
21, 26 hàng tháng theo âm lịch Chợ Bình Gia là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi mua bán chủ yếu của nhân dân trong huyện
Trang 18Tộc danh Nùng có thể có từ tên họ Nùng, một dòng họ có thế lực ở vùng Tả Giang và Hữu Giang tỉnh quảng Tây thời Nhà Đường Nếu như người Tày hầu như không có sự phân biệt rõ rệt giữa các nhóm địa phương, thì ở người Nùng điều này là nét phổ biến Hiện tại căn cứ vào tên gọi của các nhóm người Nùng thì có thể phân chia thành hai loại: Loại tên gọi căn cứ vào
đặc trưng trang phục thường do những người láng giềng của họ gọi, như Nùng
Khen Lài (người Nùng mặc áo có các khoanh vải màu), Nùng Hu Lài (người
Nùng đội khăn chàm có đóm trắng), Nùng Slử Tỉn (người Nùng mặc áo ngắn
chấm mông) Loại tên gọi theo địa danh nơi họ sinh sống trước khi di cư tới
Việt Nam như Nùng An (từ châu An Kết), Nùng Inh (từ châu Long Anh),
Nùng Phàn Slình (từ châu Vạn Thành), Nùng Cháo (từ Long Châu), Nùng Quý Rịn (từ Quy Thuận), Nùng Lòi (từ Châu Hạ Lôi) Ngoài ra còn có các
tên gọi khác mà tới nay giới khoa học chưa xác định được nguồn gốc như
Nùng Dín, Nùng Xuồng, Nùng Tùng Xin, Nùng Viền, Nùng Chủ
Rõ ràng là các tên gọi kể trên hình thành trong quá trình phân hóa cộng đồng người Nùng (nằm trong khối nam Choang) khi họ di cư theo các con đường khác nhau và vào những thời điểm khác nhau tới Việt Nam Khi tới Việt Nam họ lại không sống tách biệt mà thường xen cài với các tộc bản địa, nên được cư dân bản địa gọi với những tên gọi khác nhau
Đại bộ phận người Nùng hiện nay đều mới di cư từ Trung Quốc sang cách ngày nay khoảng hai trăm năm Ở Trung Quốc tộc danh Nùng không phổ biến, họ là bộ phận của dân tộc Choang (Cháng), còn ở Việt Nam thì từ lâu đã trở thành tộc danh của một tộc người riêng biệt, đó là dân tộc Nùng Điều này có thể giải thích bởi căn nguyên lịch sử Sau khi cuộc khởi nghĩa của Nùng Trí Cao thất bại, nhà Tống đã khủng bố gắt gao, khiến nhiều người theo Nùng Trí Cao đều đổi họ Nùng thành Nông và chạy vào rừng lẩn trốn Như vậy thoạt đầu tộc danh Nùng chỉ là tên gọi của một dòng họ Nùng có thế lực vào khoảng thế kỉ X – XI, sau này đã trở thành tên dân tộc Nùng ở nước ta
Trang 19Theo ước điều tra dân số của huyện tính tới thời điểm 4/2009 tổng số
hộ dân của huyện Bình Gia là 11,803 và số nhân khẩu là 50.134 người Sinh sống trên địa bàn bao gồm các dân tộc: Người Việt (Kinh), người Nùng, người Tày, người Dao, người Hoa trong đó dân tộc Nùng là dân tộc chiếm đông nhất Mỗi dân tộc có những sắc thái văn hóa khác nhau, tuy nhiên do sinh sống lâu đời và đan xen giữa các dân tộc nên dân cư ở Bình Gia đã có sự giao lưu, tiếp xúc và tiếp biến văn hóa với nhau tạo nên một Bình Gia đậm đà bản sắc văn hóa
1.3 ĐIỀU KIỆN VĂN HÓA
Nền văn hoá cơ bản của huyện Bình Gia là nền văn hoá Nùng - Tày, đó
là nền văn hoá bản địa gắn liền với sự phát triển và tồn tại của xã hội, vừa phong phú, đa dạng của văn hoá vật thể và phi vật thể, toàn huyện hiện có 3 di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia đó là hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai và hang Kéo Lèng, các di tích lịch sử cách mạng, di tích danh thắng, di tích khảo
cổ học, di tích kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng
Bản: Là tổ chức xã hội truyền thống ở cơ sở của người Nùng Mỗi bản
đều có tên riêng thường mang tên địa danh nơi bản đó tạo dựng
Trước nhất, bản là một đơn vị quần cư, cùng cư trú (cộng cư), bản thường được lập ở chân núi, thung lũng, dọc các trục đường giao thông, cạnh cánh đồng hay ven các con sông suối lớn, đó là nơi thấp nhất ở vùng núi, khác với người H’Mông, Dao ở trên sườn hay đỉnh núi cao Bởi thế, môi trường tồn tại của các bản làng người Nùng là các thung lũng
Thứ hai, làng bản của người Nùng là một cộng đồng sở hữu Trước
nhất, mỗi làng bản có một phạm vi “lãnh thổ” riêng, được xác định ranh giới bằng các ngọn đồi, khe núi, con suối Phân định với đất đai, “lãnh thổ” của các bản khác Trong “lãnh thổ”, bao gồm rừng núi, sông, suối, đồng ruộng, rừng cấm, nơi chăn thả trâu bò, đất đai thổ cư Về nguyên tắc, toàn bộ “lãnh
Trang 20thổ” đó của bản đều là của chung và mọi người đều phải có nghĩa vụ bảo vệ
và sử dụng
Thứ ba, làng bản của người Nùng là một cộng đồng “cộng mệnh”, tức
là sự gắn bó cộng đồng trên cơ sở cũng tôn thờ những biểu tượng về tâm linh
và sự che chở của thần bản mệnh của chung thôn bản Trước hết, bản của người Nùng bao giờ cũng có miếu thổ thần, tọa lạc ở một nơi ở bên trong bản hay bên trong khóm rừng, cánh rừng cấm, rừng thêng Vị thổ thần đó ở cả
người Tày và người Nùng đều gọi là Thó tỉ ( thổ địa), có nơi như ở Tràng Định gọi là Cốc Bản (già bản, gốc bản) Đó có thể là một người cụ thể, sau
khi chết linh ứng và trở thành Thổ thần Cũng có thể đó là nhân vật huyền thoại
Miếu thổ thần thường do những gia đình ở lâu nhất trong bản chịu trách nhiệm trông nom thờ cúng Hàng năm, vào dịp tất niên (30 tháng chạp) dân bản cúng tạ thổ thần đã phù hộ, che chở cho thôn bản cả năm Cánh rừng có miếu thổ thần thường được coi là rừng thiêng, nơi trú ngụ của nhiều thần linh
ma quỷ không ai dám đến chặt phá cây, săn bắn thú, do vậy thường có những cây to cổ thụ nhất là cây đa
Thứ tư, bản làng của người Nùng có sự cộng cảm văn hóa Trên cơ sở cộng cư, cộng đồng sở hữu, cộng mệnh, đã hình thành niềm cộng cảm trong cộng đồng làng bản của người Nùng Trước nhất đó là sự nương tựa đùm bọc,
giúp đỡ, tương trợ “tối lửa tắt đèn”, vui sướng cùng hưởng, hoạn nạn cùng
chia sẻ giữa những người trong thôn bản Đó là quan hệ vừa thân thuộc, thân thích, vừa láng giềng Bởi thế cũng như ở người Việt bà con người Nùng thường nói:
“Pí nọong dú quây đẳm vơ mẻ Bấu tầng gần bản dẻ chang mương”
Có thể tương đương với câu của người Kinh:
“ Láng giềng gần gũi tối lửa tắt đèn có nhau”
Trang 21Các lễ hội hàng năm, ngoài nghi lễ cúng tế, các sinh hoạt văn hóa mang tính thi ca, vui chơi, giải trí đã thu hút đông đảo người dân trong bản, giữa các bản, có khi cả một vùng rộng lớn Từ sau tết Nguyên đán đến hết tháng giêng, bản nào cũng mở hội Lồng Tồng (lễ hội xuống đồng), sắp xếp giữa các bản sao cho bản này đến góp vui với bản kia thông qua các hình thức: tung còn, kéo co, nhất là hát đối đáp Sli, Lượn, múa Sư tử
Hội lễ với những hình thức vui chơi, giải trí tạo nên không khí hồ hởi, hào hứng trước các sinh hoạt văn hóa cổ truyền dân tộc, là nơi gặp gỡ, giao
lưu tình cảm thông qua các hình thức hát đối đáp, là nơi để thế hệ trẻ “nhập
thân” vào hoạt động văn hóa chung, tiếp nhận các giá trị văn hóa tiêu biểu từ
thế hệ cha anh truyền lại Tất cả những điều đó, trải qua bao đời nay đã tạo nên niềm cộng cảm văn hóa, góp phần tạo nên tính cộng đồng cao của làng bản người Nùng
Tên bản thường được đặt theo tên gọi của đồi núi, khúc sông như Nà Mèo, Nà Ngần, Nà Vẹn Mỗi bản trung bình có 40 - 50 nhà có bản có 60 - 70 nhà, bản lớn có thể lên tới 100 nhà, đứng đầu làng bản là trưởng bản, là người
có trình độ, am hiểu về các lễ nghi phong tục tập quán và được người dân trong làm bản tin tưởng, quý mến
Ngôn ngữ: Người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia cũng như người
Nùng sinh sống trong cả nước từ lâu đời đã có một đời sống văn hóa đa dạng
và phong phú Mặc dù người Nùng giao tiếp chủ yếu bằng hệ ngôn ngữ Tày - Thái, song chỉ những từ ngữ về thiên nhiên, chỉ sự vật hiện tượng trong sinh hoạt giao tiếp hàng ngày mới là của người Nùng, ngoài ra chủ yếu là từ vay mượn tiếng Việt, tiếng Hán hoặc từ Hán Việt Ngôn ngữ của người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn ảnh hưởng rất lớn đến dân ca Sli, vì khi hát Sli người ta chủ yếu hát bằng ngôn ngữ của dân tộc Nùng, nên những lời hát, những câu hát rất mượt mà mà mộc mạc, thể hiện đậm tính cách của chân thật người dân vùng cao huyện Bình Gia
Trang 22Văn hóa vật chất:
Nhà ở: Nhà sàn là loại hình nhà đặc trưng của dân tộc Nùng nói chung
và người Nùng Phàn Slình nói riêng, hiện tại do những chuyển biến kinh tế -
xã hội, sự thay đổi môi trường nhất là giao lưu ảnh hưởng giữa các dân tộc nên có sự biến đổi nhà ở của người Nùng từ nhà sàn xuống nhà đất Tuy nhiên cách bố trí trong nhà như nơi thờ cúng, nơi ăn ngủ của những người trong gia đình vẫn được duy trì như cũ
Nhà sàn của người Nùng được xây dựng theo kết cấu khung cột, phân biệt giữa loại nhà theo kết cấu tường sườn, trong đó loại nhà khung cột thì hệ chịu lực là khung cột, còn loại nhà sườn tường thì hệ chịu lực là tường Đối với loại nhà khung cột như nhà sàn của người Nùng thì tường vách chỉ có ý nghĩa ngăn không gian giữa trong nhà và ngoài nhà, hay giữa các phần trong nhà Tuy nhiên, ở một bộ phận người Nùng sinh sống ở phía Đông bắc khí hậu lạnh về mùa đông, gần biên giới có nhu cầu chống trộm cắp, nên xuất hiện kiểu nhà khung cột kết hợp với tường đất dầy, vừa có tác dụng chịu lực, lại vừa giữ ấm và chống trộm cướp
Ngôi nhà sàn của người Nùng là sự thể hiện một cách điển hình kiểu không gian 3 tầng, đó là tầng đất, tầng sàn và tầng gác Tầng đất thường là nơi
để công cụ lao động và là nơi nuôi nhốt trâu bò, lợn, gà nhất là trong điều kiện mùa đông khí hậu lạnh, súc vật nếu không được sưởi ấm nơi kín gió thì
dễ bị chết hoặc ở những nơi vùng biên nếu không nuôi nhốt cẩn thận thì gia súc có thể bị mất trộm
Mặt sàn là nơi ngủ và sinh hoạt chủ yếu của gia đình Không gian này được phân chia thành phía trên và phía dưới, phía trong và phía ngoài, trong
đó phía trên là nơi đặt bàn thờ và tiếp khách, phần ngoài là nơi tiếp khách và sinh hoạt của nam giới trong gia đình, còn phần trong là nơi nấu nướng và sinh hoạt của phụ nữ Tầng sàn ngoài nơi ngủ của chủ nhân và những người trong gia đình, thì nơi đặt bàn thờ và bếp lửa là những nơi linh thiêng
Trang 23Tầng gác là nơi chứa đồ đạc, nhất là những loại nông phẩm, vừa khô ráo vừa tránh được mối mọt, chuột bọ Cũng có nơi trên gác được dùng làm nơi thờ cúng Có thể nói loại hình nhà sàn kết cấu 3 tầng này là sự thích ứng một cách tài tình trước điều kiện môi trường, hoàn cảnh kinh tế - xã hội và truyền thống văn hóa của người Nùng
Trang phục: Nét độc đáo trong trang phục của người Nùng là tính đa
dạng, tạo nên những sắc thái riêng của mỗi nhóm Điều này có thể giải thích bởi các nhóm Nùng ở Việt Nam, như Nùng Phàn Slình, Nùng Cháo, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng An, Nùng Dín tất cả những dân tộc Nùng này đều có gốc gác từ các vùng khác nhau ở Trung Quốc, khi vào Việt Nam thì lại cư trú thành những vùng riêng biệt, ít có liên hệ với nhau nên các nét sinh hoạt văn hóa trong đó có trang phục đều mang những sắc thái riêng Tuy chất liệu đều được dệt từ cây bông, nhuộm chàm nhưng hoa văn trang trí, cách thức cắt may giữa các nhóm Nùng có nét khác biệt Cùng là màu chàm nhưng người Nùng Giang ưa màu xanh nhạt, người Nùng Dín ưa xanh thẫm hay tím than, Nùng Lòi lại là màu xanh đen phớt nâu, còn đối với người Nùng Phàn Slình sau khi nhuộm chàm xong họ còn dùng một loại củ có nhựa màu đỏ trên rừng
về nhuộm tạo cho màu áo có màu tím phớt hồng rất riêng biệt Cũng vẫn chiếc áo, phụ nữ Nùng Giang quen đáp những khoanh vải mầu rộng, còn người Nùng Lòi thì khổ khoanh vải mầu đáp ở tay áo hẹp hơn, tay áo Nùng
An thì lại để trơn, còn đối với trang phục của người Nùng Phàn Slình thì họ thường mặc 1 áo hoa cánh ngắn ở bên trong và áo chàm 5 thân ở bên ngoài, cúc áo của người Phàn Slình thường được gắn những đồng bạc trắng tạo nên
sự quyền quý và thanh thoát cho người mặc Tương tự như vậy ta có thể thấy những nét khác biệt giữa các nhóm Nùng trên phần ngực áo dài của phụ nữ hoặc ở phần thắt lưng
Trang phục của người Nùng Phàn Slình được cắt may từ vải sợi bông nhuộm chàm, đơn giản, không thêu thùa, trang trí Nam giới mặc quần chân
Trang 24què ống rộng, cạp lá toạ, dài tới mắt cá chân, áo nam giới may kiểu cổ đứng
xẻ ngực, cài khuy bằng nút vải, có từ 2 đến 4 túi không nắp Áo của phụ nữ là
áo 5 thân cài cúc bên nách phải, mặc quần chân què, cạp lá toạ, luốn dây để buộc rút ngang hông, có dây thắt lưng cũng bằng vải chàm buông thõng ở phía sau trên cổ áo có ba chiếc cúc bạc Các loại khăn, các kiểu quấn khăn của người phụ nữ Nùng rất phong phú về chủng loại và kiểu cách Riêng với người Nùng Phàn Slình, khăn đội đầu của nữ giới có tới ba kiểu Người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia thường chít khăn màu chàm, xếp lại và quấn một vòng quanh đầu, buộc chéo hai đầu khăn ở phía sau dài 30 cm Khi đi làm, chị em còn đội thêm chiếc nón đan bằng nan tre hay nan giang Khi đi chợ hay đi chơi, người phụ nữ còn xách tay hoặc khoác thêm một chiếc túi nải bằng vải chàm để đựng các tư trang cần thiết Các loại trang sức đi kèm trang phục chủ yếu chế tác bằng bạc, bao gồm: xà tích, khuyên tai, vòng tay…
Ngày nay, hầu hết thanh niên nam nữ dân tộc Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia đều mặc quần âu, áo sơ mi, chỉ có người trung tuổi, người già là vẫn giữ được và sử dụng những bộ y phục cổ truyền của dân tộc mình Đặc biệt trong những ngày lễ tết, những ngày hội của xóm làng họ vẫn mặc những trang phục cổ truyền của dân tộc
Ăn uống: Nguồn lương thực thực phẩm chính của người Nùng đều là
sản phẩm làm ra và thu nhặt được từ môi trường sinh thái thung lũng, nơi có ruộng trồng lúa và hoa màu, có sông suối để đánh bắt tôm cá, nơi có rừng cung cấp măng, nấm, rau quả, Đó là các loại gạo và hoa màu, như ngô khoai sắn, đậu, các loại rau quả trồng được hay thu hái trong rừng, các loại thủy sản như tôm, cua, cá do nuôi hay đánh bắt ở các con sông, suối, các loại thịt trâu,
bò, lơn, gà, vịt chăn nuôi được
Từ các nguồn lương thực thực phẩm trên, cơ cấu dinh dưỡng và bữa ăn
hàng ngày chủ yếu là gạo - cá, tôm - rau,quả - thịt Tuy nhiên, so với các tộc
người bản địa khác, do sống ở vùng tương đối lạnh về mùa đông, lại chịu ảnh
Trang 25hưởng trực tiếp văn hóa ăn uống của người Trung Quốc, nên trong thành phần thức ăn của người Nùng lượng thịt có nhiều hơn, cách chế biến cũng sử dụng nhiều mỡ, dầu để xào, rán
Người Nùng thường ăn những món ăn được chế biến từ gạo, rau thịt là chủ yếu Các món ăn được chế biến từ gạo bao gồm: Cơm tẻ, cháo, xôi Nguồn thực phẩm từ rau xanh cũng rất phong phú và chiếm vị trí quan trọng trong khẩu phần ăn hàng ngày của gia đình đó là các loại rau xanh do người dân trồng cấy, các loại rau củ thu hái trong rừng như nấm, măng Còn đối với riêng người Nùng ở Bình Gia thì ẩm thực mang những nét đặc trưng của
ẩm thực Lạng Sơn với các món như: lợn quay, vịt quay, Khâu nhục, bánh dày, bánh chưng dài Đặc biệt trong các món quay không thể thiếu lá Mác Mật (là
lá một loại cây mọc nhiều ở vùng núi Lạng Sơn, lá có mùi thơm, quả khi chín
có vị ngọt rất ngon)
Văn hóa tinh thần:
Đối với người Nùng nói chung và người Nùng Phàn Slình nói riêng thì tín ngưỡng, phong tục và lễ hội là lĩnh vực rất quan trọng của đời sống văn hóa tâm linh, nó có vai trò chi phối rất lớn đến tâm tư, tình cảm, hành vi của con người trong xã hội Về cơ bản tín ngưỡng tôn giáo của người Nùng là tín ngưỡng dân gian xây dựng trên quan niệm linh hồn và vạn vật hữu linh, người
sống thì có “khoắn” (hồn), chết thì thành “phi” (ma) với nhiều loại phi khác nhau như phi phạ (ma trời), phi bản (thần bản), phi lườn (ma nhà) Từ những
quan niệm đó ở người Nùng hình thành nhiều hình thức tín ngưỡng dân gian khác nhau như trong phạm vi gia đình có thờ tổ tiên, thờ bà Mụ (mẻ bióc),
ngoài làng bản thì thờ thổ thần (thờ ở miếu – thó) Đặc biệt, ở trong bản làng
có các thầy cúng Mo, Then, Tào, Pựt là những người chủ yếu thực hành các nghi lễ tín ngưỡng, có vai trò to lớn trong đời sống tâm linh của người dân Tín ngưỡng Mo, Then, Tào, Pựt vừa có cái riêng, lại vừa có nét chung, khiến người ta rất khó phân biêt giữa chúng Về bản chất, tín ngưỡng Mo, Then,
Trang 26Tào, Pựt là sự pha trộn giữa tín ngưỡng bản địa với những ảnh hưởng của Đạo giáo, trong đó, chất Đạo giáo thường thể hiện đậm hơn ở Tào, còn chất dân gian lại đạm hơn ở Then, Pựt, Mo Trái lại chất Shaman giáo với nghi thức nhập hồn và xuất hồn thì thể hiện rõ hơn trong Then Những người trực tiếp thực hiện các nghi lễ thờ cúng là các thầy Mo, Then, Tào đóng vai trò to lớn trong đời sống tâm linh của nhân dân
Về nghệ thuật: Người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia có một kho tàng truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện thơ rất phong phú Về âm nhạc, làn điệu dân ca quen thuộc và phổ biến của họ là Cỏ Lẩu, Lượn và đặc biệt là Sli thường được hát trong những dịp lễ tết, đám cưới, các phiên chợ Dân vũ của người Nùng gồm các điệu múa, nhảy nhộn nhịp, mạnh mẽ, như múa Xiêng tâng ở các đám tang để dẫn đường đưa người chết đi về thế giới bên kia, đặc biệt là múa Lân vẫn được người Nùng Phàn Slình duy trì và bảo tồn trong các dịp lễ hội
Trang 27TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Bình Gia là một huyện miền núi của tỉnh Lạng Sơn là địa phương tập trung đông đảo những dân tộc anh em cùng sinh sống: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Hoa… Đời sống kinh tế, văn hoá ngày càng phát triển mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng và giao lưu văn hoá giữa các cộng đồng dân tộc Các phong tục tập quán cũng từ đó giao thoa, tiếp biến, tạo nên nhiều nét đổi thay trong các dân tộc trên địa bàn huyện Bình Gia
Ngày nay, Bình Gia đang trên đà phát triển, mang một diện mạo khởi sắc trong quá trình giao lưu và hội nhập Trong số các cộng đồng dân tộc của huyện, đồng bào người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia là dân tộc tuy định
cư chưa lâu nhưng đời sống kinh tế, văn hoá của họ đã góp phần tạo nên bản sắc văn hoá đặc sắc Đồng bào Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia thuộc nhóm Nùng mới di cư vào Việt Nam cách đây 300 - 400 năm Sau khi định canh, ổn định cuộc sống, người Nùng Phàn Slình nói chung và người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia nói riêng đã tồn tại và phát triển trong mối quan
hệ lưỡng hợp với người Tày và giao lưu văn hoá với các dân tộc khác Họ định cư, sinh sống ở các vùng đất ven sông, suối, nơi có điều kiện tự nhiên, môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống cư dân Tuy nhiên nền kinh tế thuần nông, chủ yếu phát triển về sản xuất nông nghiệp, các nghề thủ công chưa trở thành mũi nhọn, vì vậy thu nhập bình quân đầu người chưa cao, cuộc sống còn khó khăn, mang tính tự túc, tự cấp
Nhà ở của người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia là kiểu nhà sàn, gần với kiểu nhà sàn của người Tày, trang phục truyền thống của người Nùng Phàn Slình được cắt may từ vải sợi bông nhuộm chàm, đơn giản, không thêu thùa, trang trí Bên cạnh trang phục, người Nùng Phàn Slình còn sử dụng một
số đồ trang sức đi kèm, chủ yếu được chế tác bằng bạc: khuyên tai, vòng tay,
xà tích…
Trang 28Thờ cúng là tín ngưỡng cổ truyền, được người Nùng đặc biệt coi trọng Trong nhà bàn thờ bao giờ cũng là chốn linh thiêng nhất Bên cạnh đó, họ còn thờ cúng Thổ địa là vị thần bảo vệ bản làng, đất đai,… với mục đích xin thần bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, mùa màng
Văn hoá nghệ thuật, nguời Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia có một kho tàng văn hoá nghệ thuật hết sức phong phú, thể hiện rõ qua các lĩnh vực như: âm nhạc, văn học, múa… Trong đó Sli, Lượn là hai điệu hát dân ca quen thuộc, truyền thống của cộng đồng Nùng Phàn Slình nơi đây Dân ca Sli không chỉ độc đáo về hình thức mà còn rất đặc sắc về nội dung Lời Sli là tiếng nói trữ tình, tiếng nói khát vọng tình yêu, hạnh phúc trong sáng tự do của nam nữ thanh niên Trai gái Nùng gửi cả vào đây những lời hẹn ước, thề non hẹn biển và cả những nhớ nhung khi xa cách, những đau đớn tủi hờn khi tình yêu tan vỡ, không thành…
Sống trong môi trường tự nhiên hùng vĩ, thiên nhiên luôn là cảm hứng sáng tác của các nghệ sĩ Đối với dân ca Sli cũng vậy, những chàng trai, cô gái mượn hình ảnh cây cối, núi đá để nói ra tiếng lòng của mình Với nền kinh
tế canh tác nương rẫy là chủ yếu, những lúc làm lụng mệt mỏi họ lại cất lên tiếng Sli như để xua tan đi những khó nhọc, những vất vả của công việc
Như vậy, sự kết hợp của các yếu tố: Điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội, đặc điểm dân cư và văn hoá tộc người, cùng sự cộng cư, giao thoa tộc người trên địa bàn huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn chính là những điều kiện
cơ bản cho sự ra đời và phát triển dân ca Sli của người Nùng Phàn Slình
Trang 29Chương 2 DÂN CA SLI CỦA NGƯỜI NÙNG PHÀN SLÌNH
Ở HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
Sli là thể loại trữ tình dân gian của các dân tộc Tày - Nùng Trong đời sống, đặc biệt là trong những dịp lễ hội, chợ phiên, khi có khách vào bản… những câu Sli lại tuôn trào Từ trên nhà sàn đến bước chân xuống cầu thang, trên nương hay trong ngày hội… dù ở đâu, lúc nào lời ca tiếng hát của đồng bào dân tộc Nùng cũng vang lên Các làn điệu dân ca này có mặt trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, đó là những bài ca lao động, sản xuất, hát mừng sinh nhật, hát mừng đám cưới, mừng nhà mới, mừng mùa xuân, hát tiễn đưa linh
hồn người mất và đặc biệt là lời hát về tình yêu lứa đôi “Trai gái dân tộc
Nùng gửi gắm vào đấy tất cả nỗi lòng khao khát yêu đương, nỗi e thẹn thăm
dò lúc buổi dầu trao duyên, những lời hẹn hò thề thốt khi tình yêu đang độ chín, nỗi nhớ tình thương khi xa nhau, những nỗi hờn ghen, giận tủi, những lời oán, lời trách khi tình yêu dang dở, những giọng đằm thắm ân tình khi đạt tình yêu trọn vẹn, thuỷ chung ” [4, 56 - 57]
Đây là loại hình dân ca của dân tộc Nùng, là tiếng hát tâm tình của đôi lứa Vào những những ngày lao động, hội xuân, ngày cưới… từng tốp thanh niên Nùng cất tiếng hát Sli rất tự nhiên, say sưa, hào hứng Hát Sli có thể có thể hát trong nhà hoặc hát ngoài trời, cuộc hát có thể kéo dài suốt đêm, càng
về sáng càng say sưa Đến lúc ra về, những lời hát tiễn biệt cất lên thật lưu luyến và tình tứ Làn điệu Sli là một lối hát ví, hát giao duyên của thanh niên
nam nữ Theo nhà nghiên cứu Vi Hồng: “Sli có nghĩa là thơ Người Nùng
dùng từ Sli để chỉ toàn bộ dân ca mang tính trữ tình của họ cũng như người Tày dùng từ Then để chỉ hầu như toàn bộ dân ca của mình” [2, 25 - 29]
Về hình thức, Sli của người Nùng là những bài văn vần mỗi câu bảy chữ, mỗi bài có từ 4 đến 8 câu hoặc dài đến hàng trăm câu Sli là tiếng hát trữ
Trang 30tình của đồng bào Nùng, người Nùng ai cũng biết Sli bởi đây là tiếng hát giao duyên, tiếng lòng, tiếng gọi tình yêu của họ Khi tiếng Sli (hỏi) vừa dừng thì tiếng Sli (đáp) cất lên, hoà nhập đồng điệu Cứ như vậy lời Sli kéo dài suốt
đêm, suốt buổi Vì thế mà người Nùng có câu: “Đêm ốm dài, đêm Sli ngắn”
Tham gia một buổi hát Sli phải có từ hai người trở lên, thường là một bên nam một bên nữ Sli được ứng đáp ngay tại chỗ nhưng phải đảm bảo ăn khớp, hàm súc Người hát Sli có thể sử dụng vốn hát truyền thống của dân tộc hoặc ứng tác theo cách riêng của mình Vì thế hát Sli đã thể hiện sự ứng tác nhanh nhạy, sự thông minh của người hát trong đối đáp Cũng vì thế sự ứng tác hay
đã góp phần làm phong phú thêm cho kho tàng hát Sli của người Nùng Song dân tộc Nùng có nhiều nhóm với những tên gọi khác nhau và được phân biệt qua những đặc điểm văn hoá cũng như nguồn gốc địa phương chính vì vậy các làn điệu dân ca ở mỗi nhóm Nùng lại có những nét độc đáo riêng Cũng gọi là Sli nhưng Nùng Cháo có Sli Slình Làng, Nùng Phàn Slình có Sli Phàn Slình…
Sli Nùng Cháo: Có nhiều làn điệu tuỳ thuộc vào hình thức sinh hoạt và nội dung cuộc Sli, chẳng hạn:
- Này Sli (xướng Sli): Là làn điệu thay cho lời mời chào, hỏi thăm, chúc tụng khi gặp nhau, cũng có thể thay cho lời tâm sự, lời đối đáp, cảm ơn giữa chủ nhà và khách, giữa họ nội và họ ngoại trong ngày mừng sinh nhật, mừng vào nhà mới…
- Nhẳm Sli, Sli Slình làng: Được hát trong cuộc Sli có tổ chức, chủ yếu dành cho thanh niên, trai gái Cuộc hát Sli được bắt đầu bằng một bài chào hỏi, thăm mời Giai đoạn hai là những bài tình cảm, ca ngợi quê hương xứ sở, con người Giai đoạn ba là những bài Sli tiễn biệt, dặn dò, hò hẹn
Sli Nùng Inh: Là làn điệu Sli hai giọng, một giọng cao, một giọng thấp, giọng hát mềm mại, nhiều luyến láy Sli Nùng Inh có nhiều bài mang tính tự
sự, than thân, chế giễu người lười…
Trang 31Sli Nùng Phàn Slình: Phổ biến là làn điệu Sli hai bè, một giọng cao một giọng thấp, do vậy số lượng người hát luôn phải từ hai trở lên So với Sli Nùng Cháo Sli Nùng Phàn Slình khoẻ khoắn, mạnh mẽ, sôi nổi hơn Đặc biệt các cuộc Sli trong nhà của người Nùng Phàn Slình đều có hát Lượn vào lúc gần sáng với nội dung ca ngợi, cảm ơn chủ nhà đã tạo điều kiện cho họ có một đêm Sli tuyệt vời Người Nùng Phàn Slình quan niệm nếu trong cuộc Sli
mà không có Lượn sẽ bị coi là tốp Sli không có tài Khác với các nhóm Nùng khác, hình thức hát Sli của người Nùng Phàn Slình là diễn xướng tập thể theo lối hát bè Họ hát heo lối ứng khẩu và theo cảm xúc Đặc điểm của hát Sli trong tất cả các nhóm Nùng là hát không cần nhạc cụ đệm, không có vũ đạo
kèm theo và có thể hát ở bất cứ lúc nào, chỗ nào miễn là nơi đó có “đối tượng
hát”
2.1 NGÔN NGỮ VÀ KHÔNG GIAN DIỄN XƯỚNG
Văn học là nghệ thuật ngôn từ, tức là loại hình sử dụng ngôn từ để sáng tạo ra thế giới nghệ thuật Như vậy ngôn ngữ là một trong yếu tố quan trọng góp phần tạo nên giá trị độc đáo của tác phẩm nghệ thuật Với vai trò ấy ngôn ngữ từ lâu đã trở thành một đối tượng nghiên cứu không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu thi pháp văn học
Ngôn ngữ trong dân ca Sli của người Nùng Phàn Slình mang những đặc điểm chung của nghệ thuật văn học dân gian, là ngôn ngữ nghệ thuật hình tượng nói bằng hình ảnh, đặc biệt là những hình ảnh mang đậm tính chất dân tộc miền núi Những câu Sli rất mộc mạc, gần gũi với cuộc sống hàng ngày của người dân lao động nơi đây
Ví dụ:
Như chim rừng uống nước suối tiên
Như chim rừng uống nước suối ngàn
Trang 32Nam: Trông nàng vừa đẹp lại vừa xinh
Quả ngon lòng ngậm ngùi nhớ mãi
Ruộng tốt xuất hiện bông lúa vàng
Tùy vào từng không gian diễn xướng, mục đích diễn xướng mà những câu Sli, lời Sli thay đổi một cách linh hoạt, lúc trầm, lúc bổng Lời ca trong dân ca Sli là những áng thơ hay mang đậm yếu tố trữ tình, vốn là đặc trưng cơ bản trong văn học nghệ thuật của người Nùng Điều này được thể hiện rõ hơn trong các câu Sli thể hiện tình yêu đôi lứa Những lời Sli hát về tình yêu đôi lứa lúc nào cũng ngọt ngào bay bổng thể hiện sự khao khát yêu thương, nhẹ nhàng kín đáo của những chàng trai cô gái người Nùng Ngược lại những lời Sli trong đám tang thì lại ai oán thể hiện sự trách móc, ăn năn của con cháu đã không chăm lo phụng dưỡng cha mẹ, để cha mẹ phải lìa đời
Ví dụ:
Ngày vui đám cưới rượu hồng đôi ta
Anh báo thực lòng cho nhà em hay
Cùng vui đám cưới đẹp lòng mai sau
Cùng ăn cùng ở vẹn tình thủy chung
Nguyện xây tổ ấm trọn đời bên nhau
(Sli: Giao duyên)
Cha không ăn không ở Cha về với tổ tiên
Về với bác với chú
Trang 33Thầy Mo thầy Tào chia ruộng cho Cha nuôi con cháu lớn khôn Con cháu không nuôi được cha đến già
(Sli: Đám tang) Các bài Sli của người Nùng Phàn Slình ở Bình Gia gắn liền với các hoạt động sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng của cộng đồng Không gian diễn xướng của Sli chính là môi trường sinh hoạt, là nơi tiến hành tổ chức các hoạt động sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng của cộng đồng
Với mỗi hoạt động sinh hoạt văn hoá khác nhau thì lại có một môi trường diễn xướng cụ thể khác nhau Nhưng nhìn chung các bài Sli thường được diễn ra ngay trong nhà Không gian nhà sàn đã trở thành một sân khấu
để tổ chức các cuộc hát Hát mừng nhà mới, hát mừng sinh nhật hay những bài ca chúc mừng năm mới của khách khi đến thăm nhà… Trong đám cưới không gian nhà sàn cũng chính là nơi diễn ra những lời hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái… Những buổi hát tỏ tình trong những đêm mùa xuân bên bếp lửa ấm ấp tạo một không gian thân mật, tình cảm, rút ngắn khoảng cách giữa
“chủ” và “khách” để những người tham gia buổi hát trở nên gần gũi hơn, họ cùng cất lên những lời ca mượt mà tha thiết Có lẽ vì thế mà trong cuốn "Sli,
Lượn dân ca trữ tình Tày Nùng” tác giả Vi Hồng đã nói: “Lượn sân khấu nhà sàn”
Ngoài ra không gian diễn xướng của Sli, Lượn còn diễn ra ở ngoài trời Người Nùng Phàn Slình có thể cất lên tiếng hát ngay khi đang làm việc trên, ngoài bãi Trong những phiên chợ, hay ngày hội làng họ cùng nhau hát lên những bài hát ca ngợi tháng giêng, ca ngợi mùa xuân Trên đường đi nếu gặp nhau, những chàng trai, cô gái lại cất lên tiếng hát, chào hỏi, làm quen
Nhân dịp đôi ta gặp nhau
Ta tâm sự bằng lời ca tiếng hát
(Sli: Đối đáp)
Trang 34Tháng giêng mùa xuân hoa mận hoa đào nở trắng nở hồng Bốn phía thập phương quý khách đến chơi hội
Mọi nhà hương thơm ngào ngạt bàn gia tiên…
Tương ứng với không gian diễn xướng là thời gian diễn xướng Thời gian diễn xướng có thể diễn ra ở bất cứ thời điểm nào trong năm, trong ngày Tuỳ thuộc vào từng buổi hát và các nghi lễ sinh hoạt tương ứng Nhưng khoảng thời gian thích hợp nhất để tổ chức các buổi hát là những ngày mùa xuân, khi công việc đồng áng của một năm đã tạm xong, đây là thời gian của những lễ hội, của những ngày đi chơi hội Ở miền núi, những ngày vui xuân là khoảng thời gian được kéo dài, có khi kéo dài hết tháng ba, đó là thời điểm thích hợp cho việc tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ phục vụ đời sống tinh thần của cộng đồng
Các buổi hát Sli có thể diễn ra trong khoảng thời gian không có tính chất cố định, thời gian ấy có thể một ngày, một đêm cũng có khi kéo dài tới
ba, bốn ngày, ba, bốn đêm Điều này phụ thuộc vào vốn Sli của người hát và tài nghệ ứng tác của những người tham gia
2.2 HÌNH THỨC DIỄN XƯỚNG
2.2.1 Hát trong lao động
Có thể nói rằng trong dân ca Sli của người Nùng Phàn Slình, những bài
ca ca ngợi công việc của người dân chiếm một tỉ lệ không lớn nhưng cũng tạo
ra một hình thức diễn xướng riêng: Hát trong lao động Về phương diện nội dung, những bài ca này thường ca ngợi và nói về những công việc của người trồng lúa, chăn nuôi, hái quả, đốn củi, săn bắn và tìm chỗ làm nhà cửa, chuồng trại chăn nuôi
Hình thức diễn xướng này thuộc làn điệu Sli tự sự có thể hát một mình, hoặc hát đôi, hát nhóm Hát một mình khi người dân đi đốn củi, hay tìm gỗ làm nhà
Ví dụ:
Trang 35Vằn nảy pay đông chiêu mạy lườn Mạy lừơn cháng đông kè bồ sliểu Hét tô đày cố mạy đay
Mạy lòi áu mà hét cọc sliêu Mạy đay áu mà hét tu lay Hét tô đay ắn hơn đáy Hét tô đay ắn hơn măn
Trong quá trình lao động người Nùng ở đây thường ca hát với nhau trong những giờ giải lao, tạo sự hưng phấn quên đi mệt mỏi nhờ đó mà năng suất lao động tăng lên
2.2.2 Hát trong nghi lễ và các phiên chợ
Hát Sli (soong hao) của người Nùng Phàn Slình không chỉ có trong sinh hoạt lao động hay những ngày hội giao duyên nam nữ mà nó còn được người dân hát trong các dịp nghi lễ đám cưới, tang ma, lễ sinh nhật…
2.2.2.1 Hát trong đám cưới
Như người viết đã nói ở trên, dân ca Sli của người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn có mặt ở hầu hết tất cả mọi hoạt động của người dân trong cuộc sống trong đó có cả đám cưới, ngày hạnh phúc của đôi trai gái sau những câu Sli hẹn hò, trao duyên bên những khe suối, triền đồi
Trang 36Tuy nhiên trong đám cưới của người Nùng nơi đây quy định hát trong đám cưới chỉ có phù dâu, phù rể mới được tham gia hát Vì vậy, trong việc lựa chọn phù dâu và phù rể, ngoài việc lựa chọn về ngoại hình, về bản thân, gia đình thì những người này còn phải hát hay và thuộc nhiều bài hát mới cầm chắc phần thắng
Khi đoàn đón dâu nhà trai đến cổng nhà gái, nhà gái đã mang sẵn một chiếc ghế băng dài, một chiếc bàn nhỏ Trên bàn đặt một chai rượu, một ấm trà và bốn cái chén đặt chắn lối đi, cử người đợi sẵn ở đó và cuộc hát bắt đầu
từ đây
Cứ như vậy họ hát đối đáp nhau, nhà trai muốn vào đón dâu thì phải hát thắng nhà gái Nếu cuộc hát diễn ra quá lâu, nhà trai không hát được thì phải xin chịu thua thì nhà gái mới cho vào Vào đến cửa thì phù rể lại phải hát một bài để hỏi thăm mọi người và khi muốn làm bất kì một việc gì đó thì cũng phải hát một bài để xin phép Khi nhà trai đón dâu về trên đường đi họ lại tiếp tục hát, hát cho đến khi về đến nhà trai và hát cho đến khi tàn đám cưới khi tất
cả mọi người, bà con lối xóm đã ra về Lúc này thanh niên, nam nữ lại chuyển sang hát ban đêm, câu chuyện của đôi nam nữ vẫn cứ dài vô tận còn những làn điệu Sli, Lượn của họ thì tập trung vào chủ đề muôn thửa là tình yêu đôi lứa Như vậy, những bài hát trong lễ cưới cổ truyền của người Nùng Phàn Slình là một kho tàng văn học vô cùng phong phú Cái hay, cái đẹp ở chỗ qua
từ ngữ, hình ảnh, giai điệu, chúng đã thể hiện sắc thái rất riêng của dân tộc này Hôn nhân của người Nùng Phàn Slình rất coi trọng lối nói ví von, ẩn dụ
tinh tế khi giao lưu Lời ca của Sli, Lượn, Cỏ lảu là những lời hát đầy tình
cảm, gửi gắm những tâm tư sâu kín của người Nùng Phàn Slình một cách tế nhị và sâu lắng nhất
Theo tác giả Nông Minh Châu và Vi Quốc Bảo trong cuốn “Dân ca
đám cưới Tày - Nùng”; “người con trai nào dù là ông mối hay phù rể nếu phải uống rượu thay hát thì sẽ mang tiếng xấu, tiếng nhục, nhiều khi hàng
Trang 37mấy chục năm sau chưa rửa được” Chính vì vậy trước đây, trai gái người
Nùng Phàn Slình khi đến tuổi làm phù rể, phù dâu đều tìm cách học các
bài Sli, Lượn, Cỏ lảu để làm vốn Nhiều người đã nghe và hát biết bao bài thơ
lảu, có những người đã từng làm ông mối, bá mè đại diện nhà trai, nhà gái
tham dự những cuộc hát đối đáp giữa hai họ thì giờ đây, họ có dịp nhớ lại những làn điệu đã in sâu trong ký ức Đối với những người khác, đặc biệt là lớp người trẻ tuổi thì đây là thời điểm thích hợp để họ học những bài hát này
để có thể sử dụng khi cần thiết Đây chính là môi trường để người Nùng nói chung và người Nùng Phàn Slình nói riêng bảo tồn cả một kho tàng văn học khá phong phú của mình
Các bài hát trong lễ cưới của người Nùng Phàn Slình mang giá trị văn học Trước hết, có thể nhận thấy đó là sự phong phú của các thể thơ được sử
dụng làm ca từ trong hôn lễ Phần nhiều các bài Sli, Lượn, Cỏ lảu đều là thể
thơ bảy chữ, nhưng nhiều khi, các nghệ nhân dân gian chuyển sang dùng cả thể thơ bốn, năm tiếng và thơ tự do để thể hiện những cung bậc tình cảm khác nhau của mình bằng nhiều hình ảnh sinh động
Ví dụ:
Tới mệt thì uống chè Tới mệt thì uống rượu Uống vài chén chè cho đỡ mệt Uống một vài chén rượu rồi ngủ
Lời ca thể hiện lời chào hỏi, mời mọc nhau chứa chan tình cảm tốt đẹp giữa nhà trai và nhà gái, giữa nam và nữ Vì vậy, tuy lời thơ đôi lúc có chút châm biếm, nhưng phần nhiều là tươi vui và luôn cũng lịch thiệp, trang nhã [13]
Bá mè ơi Chén rượu này uống chia đôi Cùng uống để nhớ mãi không quên
Có điều gì sơ suất xin thông cảm
Trang 38Nên nói ra những điều hay điều tốt
Để người khác còn dám đến nơi đây
2.2.2.2 Hát trong lễ mừng thọ
Sli hát mừng sinh nhật có trên 10 bài, theo phong tục của người Nùng Phàn Slình, sau khi chết đồng bào không làm giỗ như các dân tộc khác Do vậy khi cha mẹ còn sống đồng bào tổ chức sinh nhật cho cha mẹ mình.Việc làm sinh nhật to hay bé tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của từng gia đình, nhưng dù thế nào thì họ cũng sẽ mời thầy về làm lễ, trong khi làm lễ các thầy
mo sẽ hát Sli lượn theo lối độc diễn
Nội dung của các bài hát này nhằm bày tỏ tấm lòng của con cái đối với cha mẹ cầu cho cha mẹ sống lâu Lối hát này hiện nay vẫn còn tồn tại trong các nghi lễ mừng sinh nhật của người Nùng Phàn Slình ở Bình Gia
Ví dụ:
“…Vằn đay chảng phốc slẩu khay khoăn
Phúc húc lục mì đo cúng đảy pằng Lục lan lừn cúng mì hảo ý
Tò hạ hất hử cống vằn khoăn ”
Tạm dịch
“…Ngày lành tháng tốt mừng sinh nhật Con cái nhà ông hiếu thảo lành
Tiền của gia đình không mấy tiếc Mong sao trả được công dưỡng nuôi…”
2.2.2.3 Hát trong đám tang
Đây là một loại hình phổ biến cho đến nay và còn tồn tại ở trong đám tang của người Nùng Phàn Slình Nội dung của những bài hát này nói lên lòng biết ơn của con cái đối với cha mẹ đã có công sinh thành và nuôi dưỡng đến khi trưởng thành và cũng có khi là lời trách móc của con cái đã không chăm sóc cha mẹ cẩn thận để cho cha mẹ phải lìa đời Khác với loại hình hát
Trang 39trong đám cưới, hát mùa xuân hay hát ở trong các tháng trong năm, Sli đám tang chủ yếu do người thầy cúng thể hiện Tuy lối hát này các bài hát không nhiều lắm chỉ có khoảng trên chục bài, trong đó phần hát chung cho các con khoảng 3 - 4 bài, nội dung của các bài hát này mang tính than khóc, kể lể khi cha mẹ mất nên người hát phải thể hiện sự thương xót vô hạn của những người con đối với cha mẹ
(Sli: Đám tang)
2.2.2.4 Hát ở trong các phiên chợ
Chợ phiên là nơi trao đổi buôn bán hàng hóa của đồng bào dân tộc Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn và cũng là dịp để các chàng trai cô gái Nùng Phàn Slình đang độ xuân thì gặp gỡ và tìm hiểu lẫn nhau Do ngày xưa phương tiện đi lại còn khó khăn nên mỗi dịp diễn ra chợ phiên thì các chàng trai cô gái phải khăn gói lên đường từ tối hôm trước, tuy nhiên lí do nữa đó là các chàng trai cô gái đã hẹn nhau từ phiên chợ trước đến
Trang 40phiên chợ này để “vả Sli” với nhau Khi màn đêm buông xuống cũng là lúc
các chàng trai cô gái lại hẹn nhau ra các triền đồi, bờ suối để tâm tình đối đáp tìm hiểu lẫn nhau Họ cứ hát với nhau hết bài này đến bài khác, thậm chí cuộc Sli có thể kéo dài đến sáng hôm sau Khi diễn ra phiên chợ bạn bè gặp nhau hay anh em lâu ngày gặp nhau họ đều kéo nhau vào quán ăn uống, tại đây những điệu Sli Lượn lại được cất lên, không chỉ để vui mà quan trọng là họ có dịp để bày tỏ những khó khăn trong cuộc sống và hỏi việc làm ăn ra sao xem
ai cần sự giúp đỡ
Ví dụ:
“Điếp căn bấu ngòi mình cùng thứ Bấu điếp căn dường lừ cũng khắc Ngòi slư Nam - Bắc - Đông - Tây Thiến hạ bấu cần đay pìn noọng”
Dịch:
“Đã yêu nhau không cần xem số cũng hợp Không yêu nhau thì thế nào cũng khắc Xem chữ hết Nam - Bắc - Đông - Tây Khắp thiên hạ không có người nào đẹp như em”
Lúc phiên chợ tàn, trời cũng xế chiều về với hoàng hôn Những tốp Sli bắt đầu tách ra từng đôi nam nữ tìm nơi vắng vẻ như các sườn đồi, các đồi sim hay những rặng cây bên đường để tâm tình với nhau Câu chuyện của từng đôi có chủ đề khác nhau nhưng đều xoay quanh chuyện tình yêu đôi lứa Cuối cùng khi chia tay họ tặng nhau những đồ kỉ niệm và hẹn phiên chợ khác sẽ gặp lại
2.2.3 Hát trong sinh hoạt gia đình và trong các cuộc uống rƣợu
2.2.3.1 Hát trong sinh hoạt gia đình
Sli Lượn soong hao của người Nùng Phàn Slình trước đây có mặt ở hầu khắp các gia đình, sức cuốn hút ở hầu hết các thế hệ trong gia đình tham gia
kể cả nam lẫn nữ Từ già đến trẻ ai ai cũng biết hát, hình thức hát trong gia