1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tri thức bản địa về ứng xử xã hội trong cộng đồng người tày ở huyện nà hang - tỉnh tuyên quang giai đoạn 1986 - 2010

103 414 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

47 Chương 3: QÚA TRÌNH BIẾN ĐỔI CỦA TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ ỨNG XỬ XÃ HỘI TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC TÀY Ở NÀ HANG - TUYÊN QUANG .... Nó không những cho ta hiểu về văn hoá ứng xử của một tộc ng

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÁI NGUYÊN

- -

VŨ THỊ HÀ

TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ ỨNG XỬ XÃ HỘI

TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI TÀY Ở

HUYỆN NÀ HANG - TỈNH TUYÊN QUANG

GIAI ĐOẠN 1986 – 2010

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Mã số: 60.22.54

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Hà Thị Thu Thuỷ

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2011

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của luận văn 5

6 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 7

1.1.Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của huyện Nà Hang tỉnh Tuyên Quang 7

1.2 Khái quát về tộc người Tày ở huyện Nà Hang tỉnh Tuyên Quang 10

Chương 2: TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ ỨNG XỬ XÃ HỘI TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN NÀ HANG - TUYÊN QUANG GIAI ĐOẠN 1986 - 2010 25

2.1 Ứng xử trong cộng đồng làng bản 25

2.2 Ứng xử trong dòng họ 33

2.3 Ứng xử trong gia đình 38

2.4 Ứng xử trong hôn nhân 47

Chương 3: QÚA TRÌNH BIẾN ĐỔI CỦA TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ ỨNG XỬ XÃ HỘI TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC TÀY Ở NÀ HANG - TUYÊN QUANG 60

3.1 Những yếu tố tác động tới quá trình biến đổi tri thức bản địa về ứng xử xã hội 60

3.2 Qúa trình biến đổi của tri thức bản địa trong ứng xử xã hội 66

3.3 Một số nhận xét 76

KẾT LUẬN 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tri thức tộc người là một thành tố không thể thiếu của văn hoá tộc người, không những góp phần khẳng định mà còn là nhân tố quan trọng quyết định việc duy trì, bảo tồn bản sắc văn hoá của một cộng đồng Nghiên cứu văn hoá tộc người không thể không tìm hiểu kho tàng tri thức dân gian Những kết quả nghiên cứu về tri thức tộc người sẽ bổ sung tư liệu góp phần hoàn thiện bức tranh văn hoá tộc người

Trong kho tàng tri thức đồ sộ, đa dạng và phong phú của các tộc người thiểu số, tri thức về văn hoá ứng xử là một trong những bộ phận quan trọng

Nó không những cho ta hiểu về văn hoá ứng xử của một tộc người nào đó

mà còn góp phần tạo nên nền văn hoá bản địa chung của các dân tộc thiểu số

ở Việt Nam

Ngày nay, trong bối cảnh xã hội hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến đang

là động lực quan trọng trong sự nghiệp tăng trưởng kinh tế, đảm bảo trật tự an ninh xã hội, giữ gìn môi truờng và bảo tồn văn hoá Tri thức dân gian của các dân tộc thiểu số đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước Tri thức dân gian của các tộc người ở Việt Nam đã và đang là một trong các nguồn lực quan tâm của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay ở nước ta Chính vì vậy, tìm hiểu nghiên cứu về tri thức các tộc người nói chung và của người Tày nói riêng là nhiệm vụ cần thiết hiện nay Tri thức

về văn hoá ứng xử của họ cũng như vậy

Trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, dân tộc Tày là một cộng đồng người nói ngôn ngữ Tày - Thái, có dân số 1.196.342 người, đông nhất trong các dân tộc thiểu số ở nước ta, sống tập trung ở khu vực Việt Bắc Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía Bắc có số lượng dân tộc Tày chiếm đông đảo, sống tập trung ở các huyện như Sơn Dương, Hàm Yên, Nà Hang, Chiêm Hoá Trong đó, người Tày ở

Trang 5

huyện Nà Hang chiếm 55.2% tổng số dân của huyện và sống tập trung ở các xã

Đà Vị, Yên Hoa, Năng Khả, Lăng Can Trải qua quá trình phát triển đồng bào Tày ở huyện Nà Hang tỉnh Tuyên Quang đã tích lũy và bảo tồn nhiều tri thức truyền thống, tạo nên một nét văn hoá độc đáo, đa dạng Theo Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa VIII (1998) của Đảng đây là “tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để tạo ra những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian) văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” [63, tr 01]

Từ nhận thức trên góp phần vào việc nghiên cứu và bảo tồn văn hoá các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, tôi quyết định chọn “Tri thức bản địa về ứng xử

xã hội trong cộng đồng người Tày ở huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 1986 - 2010” làm luận văn thạc sĩ

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ trước tới nay có khá nhiều công trình nghiên cứu về dân tộc Tày của nhiều tập thể, cá nhân Trong đó phải kể đến một số công trình sau:

Tác phẩm “Văn hoá Tày - Nùng” của Lã Văn Lô, Hà Văn Thư, Nxb Văn

hoá, 1984, là công trình nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về xã hội, con người, văn hoá của hai dân tộc Tày – Nùng nói chung ở Việt Nam

Công trình “Các dân tộc Tày Nùng ở Việt Nam”, NXB Khoa học xã hội,

Hà Nội, 1992, đã cho thấy một cách khái quát về đời sống kinh tế-xã hội, vật chất, tinh thần cổ truyền của các dân tộc Tày Nùng ở Việt Bắc Đây là nguồn tư liệu cần thiết giúp tác giả tiếp cận về đặc điểm văn hóa truyền thống của dân tộc Tày ở Nà Hang- Tuyên Quang

Công trình “Văn hoá truyền thống Tày - Nùng” của các tác giả Hoàng

Quyết, Ma Khánh Bằng, Hoàng Huy Phách, Cung Văn Lược, Vương Toàn, Nxb Văn hoá dân tộc, 1993, đã đề cập đến một cách khái quát về đặc điểm

Trang 6

của hai dân tộc Tày, Nùng ở Việt Bắc trên hai phương diện lớn của nền văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần

Tác phẩm “Văn hoá dân gian Tày” của Hoàng Ngọc La, Hoàng Hoa

Toàn, Vũ Anh Tuấn đã trình bày về nguồn gốc tộc người, văn hoá vật chất truyền thống và văn hoá tinh thần của người Tày ở Việt Bắc

Tác phẩm “Các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang” Hà Văn Viễn và Hà Văn

Phụng - Ban dân tộc tỉnh Tuyên Quang, xuất bản năm 1997, đã đề cập tới các dân tộc tỉnh Tuyên Quang như Tày, Dao, Mông….bằng những tư liệu thực tế, công trình viết với mục đích phục vụ công tác dân tộc của tỉnh Tuyên Quang trong những năm gần đây

Công trình “Văn hoá truyền thống các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu ở Tuyên

Quang”(2003) của Nịnh Văn Độ (chủ biên), Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, là

chuyên khảo về văn hóa dân tộc ở Tuyên Quang Tác phẩm đề cập một cách khái quát về văn hóa dân tộc Tày dưới các góc độ, các loại hình văn hóa, đặc biệt là văn hóa ứng xử của cộng đồng người Tày ở Nà Hang- Tuyên Quang Nhìn chung, đề tài được thừa hưởng một khối lượng lớn các công trình nghiên cứu về người Tày Đây là cơ sở để tác giả tiếp cận, nghiên cứu hoàn thành tốt đề tài

3 Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Tri thức bản địa về ứng xử xã hội của người Tày ở huyện Nà Hang tỉnh Tuyên Quang bao gồm mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với gia đình, dòng họ, cộng đồng làng bản

3.2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu hệ thống những kinh nghiệm của người Tày ở Nà Hang - Tuyên Quang trong ứng xử xã hội Trên cơ sở đó, tiếp cận và làm rõ các hoạt động văn hóa tinh thần có vị trí quan trọng đối với đời sống sinh hoạt cộng

Trang 7

đồng của người Tày, trong quá trình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay

Qua nghiên cứu tác giả mạnh dạn đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy những tri thức bản địa trong văn hóa truyền thống của người Tày ở Nà Hang - Tuyên Quang

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu khái quát vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và nguồn gốc người Tày ở huyện Nà Hang tỉnh Tuyên Quang, đề tài đi sâu nghiên cứu những tri thức bản địa về ứng xử xã hội trong cộng đồng người Tày ở Nà Hang

- Tuyên Quang Bên cạnh đó làm rõ quá trình biến đổi của tri thức bản địa về ứng xử xã hội dưới tác động của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay

3.4 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian, đề tài nghiên cứu chủ yếu tại địa bàn huyện Nà Hang hiện nay, tập trung nghiên cứu điển hình tại các xã có đông người Tày sinh sống

như Đà Vị, Yên Hoa, Năng Khả, Lăng Can

- Về thời gian, đề tài nghiên cứu những tri thức bản địa về ứng xử xã hội của người Tày ở Nà Hang từ 1986 đến 2010 nghĩa là từ thời kỳ đổi mới đất nước tới năm 2010

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu:

4.1 Nguồn tư liệu

- Tài liệu thành văn: Đề tài kế thừa nguồn tư liệu khá phong phú của đã các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bao gồm các công trình nghiên cứu như sách báo, chuyên khảo, tạp chí, báo cáo khoa học, các đề tài nghiên cứu về người Tày đã công bố, xuất bản

- Tư liệu địa phương bao gồm các công trình nghiên cứu về lịch sử, văn hoá tộc người ở tỉnh Tuyên Quang nói chung và huyện Nà Hang nói riêng

- Tư liệu điền dã bao gồm các tài liệu thu thập được qua quan sát trực tiếp, địa bàn nghiên cứu và phỏng vấn các nhân chứng

Trang 8

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

Để nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng 2 phương pháp chủ yếu là: Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic Phương pháp lịch sử nghiên cứu khái quát

về huyện Nà Hang, nguồn gốc tộc người, các tập quán trong giáo dục cộng đồng của người Tày nơi đây và những biến đổi của nó trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Phương pháp lôgíc nhằm rút ra những nhận xét, đánh giá kết quả về vấn đề nghiên cứu, giúp người đọc có cái nhìn hệ thống và kết quả về những tri thức trong giáo dục cộng đồng của người Tày ở huyện Nà Hang - Tuyên Quang

Trên cơ sở đó, đề tài kết hợp sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học nhằm

hệ thống hóa các tư liệu thông qua quan sát trực tiếp, phỏng vấn nhân chứng tại địa phương nghiên cứu Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như phân tích, so sánh, tổng hợp để hoàn thiện đề tài

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn hệ thống được những tri thức bản địa về ứng xử xã hội trong cộng đồng người Tày và làm rõ được quá trình biến đổi của nó trong thời điểm hiện nay Từ đó đánh giá những mặt tích cực để bảo tồn và phát huy; những mặt hạn chế để loại bỏ

Luận văn góp phần vào việc giới thiệu bản sắc văn hóa của dân tộc Tày ở huyện Nà Hang nói riêng và cộng đồng dân tộc tỉnh Tuyên Quang nói chung

Là nguồn tài liệu cho dạy học lịch sử địa phương, giáo dục tư tưởng tình cảm yêu quê hương, đất nước

Luận văn góp phần đưa ra những giải pháp hữu hiệu trong công tác bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của người Tày ở huyện Nà Hang tỉnh Tuyên Quang

6 Cấu trúc của luận văn

Luận văn bao gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết luận Riêng phần nội dung được chia làm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

Trang 9

Chương 2: Tri thức bản địa về ứng xử xã hội trong cộng đồng người Tày ở

Nà Hang - Tuyên Quang giai đoạn 1986 - 2010

Chương 3: Quá trình biến đổi của tri thức bản địa về ứng xử xã hội của người Tày ở Nà Hang - Tuyên Quang

Trang 10

36’ kinh Đông Phía Bắc huyện Nà Hang giáp với các huyện Bảo Lạc (tỉnh Cao Bằng) huyện Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn), huyện Bắc Mê (tỉnh Hà Giang); Phía Nam giáp với huyện Chiêm Hoá (tỉnh Tuyên Quang); Phía Đông giáp với huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn); Phía Tây giáp với huyên Bắc Quang (tỉnh Hà Giang)

Về địa hình, Nà Hang nằm trong vùng đồi núi cao của tỉnh Tuyên Quang,

độ chia cắt mạnh, nhiều sườn dốc và khe sâu Địa thế Nà Hang có hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam Điểm cao nhất trong huyện là 1.060 m so với mực nước biển, điểm thấp nhất là 50 m 65% đất đai Nà Hang có độ dốc 25-30o

, phía Bắc và phía Nam của huyện có rất nhiều dãy núi đá vôi hiểm trở Huyện được chia làm 3 khu:

Khu A: Ở phía Nam, gồm 5 xã Vĩnh Yên, Sơn Phú, Thanh Tương, Trùng Khánh, Năng Khả và thị trấn Nà Hang, có độ cao từ 50 - dưới 300m Khu vực này có khí hậu ẩm, nhiều mưa và sương mù Đây là vùng thấp nhất trong huyện, có thị trấn huyện lỵ, các trọng điểm về kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội của huyện Dân cư khu vực này khá đông đúc, đường xá đi lại thuận lợi nhiều hơn so với các khu vực khác

Khu B: Ở phía Bắc, gồm các xã Thượng Lâm, Khuôn Hà, Lăng Can, Phúc Yên, Thuý Loa, Xuân Tân, Xuân Tiến và Xuân Lập, có độ cao 300 -

Trang 11

400m trở lên Khu vực này có nhiều núi đá vôi, độ chia cắt lớn, giao thông kém phát triển, đi lại khó khăn

Khu C: Ở phía Đông - Bắc, gồm các xã Thượng Giáp, Thượng Nông, Yên Hoa, Đà Vị, Hồng Thái, Côn Lôn và Sinh Long, có độ cao 300 - dưới 800m Đây là khu vực đồi núi, chia cắt mạnh, giao thông chưa phát triển

Về khí hậu, do ảnh hưởng của địa hình nên khí hậu của huyện Nà Hang không đồng nhất giữa các vùng, nó phụ thuộc vào độ cao và đặc điểm của các dãy núi, khí hậu các mùa trong năm có sự phân hoá rõ rệt Mùa lạnh bắt đầu từ tháng

10, kéo dài đến hết tháng 5 năm sau Nửa đầu mùa lạnh là thời kỳ khô hanh, ban ngày nhiệt độ ấm áp, nhưng ban đêm nhiệt độ thường thấp, với độ chênh lệch giữa ngày và đêm từ 5o

C- 10oC, nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 22o C, tối đa 38o

C (tháng 7) và tối thiểu 0o

C (tháng 12) với nhiệt độ trung bình vào mùa đông là 16o

C Lượng mưa trung bình trong năm khoảng 1800 (mm/năm), cao nhất là vào tháng 5 đến tháng 9 (83%), và thấp nhất vào tháng 1, tháng 2, có mưa đá Gió mùa đông bắc thổi từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Gió mùa đông nam bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 11 Độ ẩm trung bình khoảng 85%, có sương muối xuất hiện bình quân 6 ngày trong năm (tháng 11, 12), ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông lâm nghiệp

Về sông ngòi, Nà Hang có hai con sông là sông Gâm và sông Năng Sông Gâm chảy qua huyện trên độ dài 53 km, qua các xã Thuý Loa, Xuân Tân, Xuân Tiến, Thượng Lâm, Trùng Khánh, Năng Khả, Vĩnh Yên, Thanh Tương và thị trấn

Nà Hang sau đó chảy qua huyện chiêm Hoá rồi hợp lưu với sông Lô Đây là đường thuỷ duy nhất nối huyện Nà Hang với tỉnh lỵ Tuyên Quang Sông Năng bắt nguồn từ cửa hồ Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) chảy vào huyện Nà Hang theo hướng Đông Tây trên độ dài 25 km Sông Năng chảy qua các xã Đà Vị, Khau Tinh, Sơn Phú, Vĩnh Yên và hợp lưu với sông Gâm tại chân núi Pắc Tạ gần huyện lỵ Ngoài sông Gâm và sông Năng, huyện Nà Hang còn có hai con suối lớn là suối Khuổi

Trang 12

Trang và Bắc Vẵng ( Nặm Vang) cùng hàng chục suối nhỏ khác Sông suối của huyện có tốc độ dòng chảy lớn, nhiều thác nghềnh thường lũ vào mùa mưa Ngoài cung cấp nước phục vụ đời sống, sản xuất nông, lâm nghiệp, sông suối Nà Hang còn có nguồn thuỷ sản phong phú và là đường giao thông quan trọng giữa các vùng, đồng thời cho phép phát triển thuỷ điện nhỏ cũng như những công trình thuỷ điện lớn

Về tài nguyên động thực vật, do đặc điểm khí hậu, địa hình chi phối nên quần thể động thực vật ở Nà Hang rất đa dạng và phong phú Thực vật tự nhiên

có nguồn tài nguyên rừng, Nà Hang có 38.125,67 ha rừng sản xuất, 22.399,45

ha rừng đặc dụng và 62.969,12 ha rừng phòng hộ Trong rừng có nhiều loại gỗ quý như: nghiến, lát, mun, đinh, sến, thông…, các lâm thổ sản: nấm hương, mộc nhĩ và các loài động vật quý hiếm: hổ, báo, trăn, gấu, đặc biệt đây là nơi duy nhất có loài Voọc mũi hếch sinh sống với quần thể lớn được ghi tên trong sách đỏ của thế giới [6, tr 44]

Về tài nguyên khoáng sản, Nà Hang có 4 điểm ăngtimoan, với trữ lượng khoảng 1 triệu tấn, có 1 điểm măng gan, trữ lượng khoảng 1,5 triệu tấn, ngoài

ra còn có các loại khoáng sản như: thiếc, vàng sa khoáng…Tuy vậy, trữ lượng khoáng sản không lớn, khó khai thác vì địa hình phức tạp, giao thông vận tải

Về đất đai, thổ nhưỡng, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là: 146.368

ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là: 7.257.42 ha, đất lâm nghiệp là: 85.665.38 ha, còn lại là núi đá, sông suối và đất chuyên dụng khác [14, tr 44]

Do tác động của môi trường địa lý nên đất đai ở huyện Nà Hang phân hoá thành nhiều loại khác nhau: Đất feralit được hình thành từ quá trình feralit hoá, đất phù

sa được hình thành do vận chuyển và lắng đọng của nước chảy, phân bố chủ yếu ở ven các sông suối hoặc vùng trũng úng ngập Đây là khu vực đất đai có tầng dày

và độ phì nhiêu khá cao Diện tích đất nông nghiệp của huyện tuy không lớn

Trang 13

song có độ dày canh tác cao, màu mỡ, thích hợp với việc phát triển cây lương thực, cây công nghiệp Bên cạnh đó, huyện còn có thảm thực vật phong phú

để phát triển chăn nuôi đại gia súc Đất đai và khí hậu một vài nơi cho phép trồng các loại cây ăn quả ôn đới (mận, đào, lê…) Nằm trên vòng cung sông Gâm, Nà Hang có nhiều dãy núi lớn, có nhiều đỉnh núi cao trên 1000m Những dãy núi đất và núi đá xen lẫn nhau tạo thành nhiều thung lũng lớn như: Thượng Lâm, Lăng Can, Vĩnh Yên…rất thích hợp cho việc canh tác các loại cây nông nghiệp

Nhìn chung, tài nguyên thiên nhiên phong phú là tiềm năng để Nà Hang phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp Tuy nhiên sự phức tạp của tự nhiên ở đây cũng gây không ít khó khăn cho việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương Song chính môi trường cảnh quan và lịch sử tộc người đã hình thành nên bản sắc văn hoá của các dân tộc ở nơi đây

1.2 Khái quát về tộc người Tày ở huyện Nà Hang tỉnh Tuyên Quang

1.2.1 Nguồn gốc, địa bàn cư trú

Huyện Nà Hang có 18 dân tộc anh em cùng sinh sống bao gồm người Tày, Nùng, Mông, Dao, Kinh…thuộc các nhóm ngữ hệ khác nhau: Tày- Thái, Mông - Dao, Việt - Mường…Theo số liệu thống kê năm 2009 huyện Nà Hang

có 60.151 nhân khẩu được phân bố theo dân tộc như sau:

Trang 15

Bảng 1: Thành phần các dân tộc ở huyện Nà Hang tỉnh Tuyên Quang

(Nguồn: Phòng thống kê huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang )

Bảng số liệu trên cho thấy, người Tày ở huyện Nà Hang có số dân đông nhất 33.196 người, chiếm 55,2% tổng dân số toàn huyện, cư trú ở hầu khắp các

xã, thị trấn trong huyện Nên các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội đặc biệt là văn hóa ứng xử của người Tày đã có tác động nhất định tới đời sống của các dân tộc trong huyện

Người Tày, Nùng vốn thuộc nhóm Âu - Việt trong khối Bách Việt mà địa bàn cư trú là miền Bắc Việt Nam và miền Hoa Nam Trung Quốc Vào thế kỷ thứ III trước công nguyên liên minh bộ lạc Âu- Việt của nhóm Tày- Nùng (với nền văn minh nương rẫy) đã cùng với liên minh bộ lạc Việt của nhóm Việt- Mường (với nền văn minh lúa nước) nằm trong khối Bách Việt thành lập nên “

Vương quốc” Âu Lạc Người thủ lĩnh đứng đầu là thủ lĩnh An Dương Vương

Thời Lý - Trần, nhất là thời Lê Sơ, nhà nước phong kiến Việt Nam đặt chế

độ “ thế tập phiên thần” tức chế độ thổ ty, phái một số công thần hay con cháu của họ chọn những phần tử trung kiên nhất đem theo gia đình, thân tộc lên chiêu dân lập ấp ở các tỉnh biên giới Sau mỗi trận chiến thắng, quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, các vị lưu quan này đời đời kế tục cai trị địa phương hết lòng trung thành với chính quyền trung ương làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới Một sự hoà hợp dân tộc đáng chú ý xảy ra vào thế kỷ XVI - XVII, triều

Trang 16

đình lưu vong họ Mạc bị quân Lê - Trịnh đáng đuổi chạy lên chấn giữ vùng Cao Bằng trong vòng gần một thế kỷ Sau khi họ Mạc bị diệt vong, con cháu và quan quân dư Đảng họ Mạc có thể hàng vạn người đã thay tên đổi họ để tránh

sự truy lùng, sống hoà vào nhân dân địa phương đồng hoá với người Tày

Cùng nguồn gốc chung, nhưng quá trình tộc người của người Tày ở Nà Hang có những nét riêng Qua các nguồn sử liệu cho thấy đại bộ phận người Tày đã định cư lâu đời ở đây và họ không thể nhớ nổi thời gian mà tổ tiên khai thiên phá thạch, lập bản Tuy nhiên, cũng có một số bộ phận cư dân Tày

ở Nà Hang hiện nay có cùng nguồn gốc từ dân tộc khác Tại xã Vĩnh Yên trong một khu vực được dân địa phương gọi là Pác Ban (cửa suối ngọt) còn lưu truyền một câu chuyện kể rằng Cách đây khoảng 300 năm có một người Nùng tên là Nông Văn Buồm đã dẫn người đến khai phá vùng đất nay thuộc Bản Chư Một bộ phận người Nùng chỉ cư trú ở đó một thời gian rồi chuyển

đi nơi khác, song một số vẫn ở lại và nhập vào với người Tày Như vậy, ít nhất cũng đã có một bộ phận người Tày ở Vĩnh Yên vốn gốc dân tộc Nùng Một bộ phận dân cư tự nhận là người Tày song không phải dân bản địa mà mới chuyển từ Cao Bằng hoặc Hà Giang đến Nà Hang cách ngày nay vài ba thế kỷ Gia đình ông Tô Minh Tuyên (71 tuổi) ở bản Na Pài là một ví dụ Theo lời kể, dòng họ nhà ông vốn ở Chợ Đồn (Cao Bằng), tổ tiên ông mới chuyển đến Nà Hang tính đến ông được sáu đời tức khoảng 200 năm Thậm chí ông cũng không dám chắc tổ tiên mình vốn là người gốc Tày, Nùng hay Hoa bởi theo ông người Tày rất hiếm họ Tô Tại thôn Khánh Hòa 2, xã Trùng Khánh cũng có một vấn đề tương tự Đa số cư dân thôn này thuộc họ Phúc, một dòng họ không thật phổ biến ở dân tộc Tày Tuy nhiên, để biết về nguồn gốc của họ cần phải có những nghiên cứu của các nhà khoa học

Theo cuốn thư tịch Hán Nôm “Nguyễn Quảng tộc phả” (gia phả dòng họ Nguyễn Quảng) ở xã Côn Lôn, huyện Nà Hang có ghi: …Nguyễn Quang Khải trong cuộc khởi nghĩa của Nùng Văn Vân là người Kinh (người Việt) quê ở

Trang 17

Quảng Nam đã lên đây làm rể đời trong một gia đình người Tày Để tưởng nhớ tới quê hương của mình nên đã dùng chữ Quảng làm tên đệm…” Ngày nay, các con cháu dòng họ Nguyễn Quảng đều tự nhận mình là người Tày, mọi phong tục, tập quán, lối sống sinh hoạt đều giống người Tày Như vậy, đồng bào Tày ở Nà Hang một bộ phận là người Tày cư trú từ lâu đời, bộ phận còn lại

là người Kinh bị “Tày hoá” [18, tr 23]

Người Tày hiện nay sống dải rác khắp nơi trong huyện Nà Hang, tập trung chủ yếu ở các xã Đà Vị, Yên Hoa, Năng Khả, Lăng Can Địa vực cư trú của người Tày thường là vùng thấp, nơi có các thung lũng nhỏ, soi bãi rộng, nơi gần nguồn nước… đặc biệt bản của người Tày thường quần cư ở ven lưu vực của hai con sông lớn đó là sông Gâm và sông Năng, ngoài ra đồng bào còn tập trung cư trú ở một số con suối lớn như suối Nặm Vang, Bắc Vãng

Bảng 2: Thống kê dân số người Tày theo xã ở huyện Nà Hang tỉnh Tuyên Quang

Stt Tên xã, thị trấn Tổng số dân Dân số người Tày Tỉ lệ (%)

Trang 18

14 Thượng Lâm 5.147 4.323 84%

(Nguồn: Phòng thống kê huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang 2009 )

Bảng số liệu trên cho thấy, người Tày ở Nà Hang tập trung đông nhất ở các xã Thượng Lâm (4.323 người, chiếm 84% tổng số dân trong xã), Đà Vị (3.804 người, chiếm 72% tổng số dân trong xã), Lăng Can (3.731 người, chiếm 77,5% tổng số dân trong xã), số ít sinh sống ở các xã Sinh Long, (97 người, chiếm 3,62% tổng dân trong xã), Hồng Thái (32 người, chiếm 2,2% tổng dân trong xã) Việc phân bố không đồng đều giữa các xã, thị trấn không làm ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt của đồng bào Tày nơi đây

Cùng với các dân tộc khác trong huyện mỗi dân tộc đều lựa chọn địa bàn

cư trú phù hợp với phong tục tập quán riêng Sự xen kẽ nhiều dân tộc trên cùng một địa bàn ngày càng trở nên phổ biến, đan xen vào nhau góp phần làm cho văn hóa truyền thống của đồng bào nơi đây phong phú, đa dạng và độc đáo

1.2.2 Bản sắc văn hóa của cộng đồng người Tày ở Nà Hang tỉnh Tuyên Quang

1.2.2.1 Văn hóa vật chất

Người Tày ở Nà Hang làm ruộng nước là chính Ruộng của đồng bào có nhiều loại Ruộng nước (nà nặm) là loại ruộng có nước tưới tiêu quanh năm, có thể cấy được hai vụ, cho năng suất cao Ruộng khô (nà lẹng) là loại ruộng bậc thang trên sườn đồi, bìa rừng Loại ruộng này thường phải phụ thuộc vào nước mưa, vì vậy thường chỉ cấy được một vụ hoặc xen canh một vụ lúa, một vụ ngô, khoai , đỗ, vào mùa khô Do phải phụ thuộc vào thời tiết nên loại ruộng này cho năng xuất bếp bênh, không đảm bảo thời vụ Ruộng bùn (nà pùng) là loại ruộng chằm ngập nước tự nhiên, thường là dưới thung lũng, cạnh sômg

Trang 19

ngòi, mương máng, nước luôn luôn chảy hay thấm vào Loại ruộng này thường hay bị chua cho năng suất thấp

Về kỹ thuật canh tác ruộng nước ở người Tày đạt tới trình độ khá cao, không thua kém nhiều so với các dân tộc ở vùng thấp khác Người Tày thường cấy hai loại lúa nếp và lúa tẻ, với nhiều giống khác nhau, có đặc tính khác nhau Người Tày ở Nà Hang chủ yếu phân loại theo thời gian, loại ngắn ngày

và loại dài ngày Ngày nay, do khoa học kỹ thuật đã bắt đầu phát triển và thâm nhập vào vùng nông thôn Tày, nhiều nơi đã từ bỏ giống cũ, nhập những loại mới có thời gian ngắn hơn, năng suất cao hơn, chống sâu bệnh và chịu úng, chịu hạn tốt hơn Bên cạnh việc canh tác lúa nước, bà con vẫn duy trì những hình thức trồng trọt nương dẫy hoặc làm soi bãi để trồng ngô, khoai, sắn, rau,

đỗ các loại và trồng bông dệt vải; Xung quanh nhà ở trồng cây ăn quả, tre và các cây lấy gỗ khác Ngoài trồng trọt đồng bào còn chú trọng phát triển chăn nuôi gia súc như trâu, bò lấy sức kéo, ngựa để thồ hàng, dê, lợn để lấy thịt, chó để giữ nhà, đi săn Các loại gia cầm hầu hết đều có gà, vịt, ngan, ngỗng… Ngày nay, chăn nuôi đã trở thành hoạt động kinh tế mang lại thu nhập lớn cho các gia đình Không những chỉ để thịt, cung cấp thực phẩm cho các dịp tế lễ, cưới xin họ còn bán ra thị trường Nhiều hộ nông dân đã phát triển chăn nuôi trâu, bò, gà, ngan, vịt, cỏ…theo hướng sản xuất hàng hóa Hầu hết các gia đình người Tày đều chú trọng tới môi trường sinh thái quanh nhà ở có vườn tược và ao cá, do đó ở những nơi thuận tiện nguồn nước đồng bào đều đào ao, thả cá, cải thiện đời sống Hiện nay chăn nuôi chiếm tỷ trọng thu nhập khá lớn trong nhiều gia đình Tày Tuy vậy, so với nghề trồng trọt thì chăn nuôi vẫn chỉ là một hoạt động phụ

Bên cạnh các hoạt động kinh tế sản xuất, chăn nuôi, người Tày còn duy trì phát triển các hình thức kinh tế chiếm đoạt như: săn bắn, đánh cá, hái lượm truyền thống Làm các nghề phụ gia đình: dệt vải, đan lát, nghề rèn đúc, nghề mộc, thêu thùa, khâu vá…

Trang 20

Nghề trồng bông dệt vải của đồng bào Tày ở đây rất phát triển, gia đình nào cũng có từ một đến hai khung dệt, sản phẩm bao gồm các loại vải thô, vải may quần áo, mặt chăn, mặt địu…Để sử dụng và trao đổi với các dân tộc láng giềng Theo các cụ già ở xã Thượng Lâm huyện Nà Hang kể lại: nghề dệt ở đây còn gắn với phong tục nếp nghĩ xưa của đồng bào Tày: “Con gái đi lấy chồng phải có từ 15 đến 20 cái chăn, màn để tặng bố mẹ chồng và làm của hồi môn về sau này cho mình và có đồ để sử dụng, bởi khi có con sẽ ít có thời gian trồng bông dệt vải để làm chăn màn.” Hoa văn trên thổ cẩm của người Tày ở

Nà Hang- Tuyên Quang có nhiều loại với nhiều mô típ hoa văn khác nhau như hoa văn hình quả trám, hoa tám cánh….tạo nên bản sắc riêng của người Tày ở

Nà Hang- Tuyên Quang

Nghề dệt vải tồn tại như một dấu ấn của sự phát triển tộc người Nó là

sự biểu hiện của sức sáng tạo lớn lao trong lịch sử kinh tế, văn hóa của cộng đồng tộc người Trong tác phẩm: “ Nguồn gốc gia đình, của sở hữu tư nhân và

của nhà nước” F.Ănghen đã chỉ ra rằng: “Từ thời đại dã man sang thời đại

văn minh được đánh dấu bởi hai thành tựu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng mang tính cách mạng trong lịch sử phát triển của nhân loại Thành tựu thứ nhất là khung dệt, thành tựu thứ hai là chế tạo đồ kim loại Mà thành tựu thứ nhất là khung dệt của nghề dệt được đánh giá như một phát minh lớn đưa nhân loại tiến những bước quan trọng trong quá trình phát triển của lịch sử”

Nghề đan lát của người Tày ở Nà Hang đã có từ lâu đời, cho tới ngày nay vẫn còn tồn tại, nguyên liệu đan lát là tre, nứa, giang, mây…sẵn có trong thiên nhiên, từ người già, trẻ, trai, gái đều có thể tận dụng thời gian nhàn rỗi để làm Nhất là đối với các thiếu nữ, đan lát còn thể hiện sự khéo léo của mỗi người trên mỗi sản phẩm, dùng các loại nan màu để đan cải hoa văn và cải chữ Sản phẩm chủ yếu dùng cho sinh hoạt hàng ngày như Dậu, rổ, rá, nong, nia, thúng…

Trang 21

Nghề mộc tuy đã có từ lâu đời, cho đến nay vẫn còn tồn tại, song các sản phẩm chưa đạt tới trình độ cao, mang tính chất tự túc, tự cấp, chủ yếu là làm nhà, đóng các loại hòm gỗ, quạt hòm…

Trước kia, nghề rèn ở Nà Hang cũng khá phát triển trong từng gia đình nhưng chủ yếu là sửa chữa lại một số dụng cụ phục vụ cho nông nghiệp Hiện nay, nghề rèn ở đây hầu như đã bị mai một, các loại dụng cụ đồng bào đều mua của người Việt

Phương tiện vận chuyển chính của người Tày là đôi dậu gánh để chuyển chở sản phẩm nặng đòi hỏi phải mang vác hoặc sử dụng khi đi nương, đi chợ Còn đối những thứ nhẹ và sạch sẽ thì chiếc túi vải lại đóng vai trò khá quan trọng

Việc dùng ngựa thồ cũng thấy ở nhiều nơi, nhưng hiện nay đã không còn phổ biến do có ít đồng cỏ để chăn thả ngựa Trong thời kỳ hợp tác xã nông nghiệp, ở nơi đây cũng xuất hiện một số loại xe thô sơ giống như máng gỗ để chở phân từ nhà ra đến cánh đồng Một loại xe khác như xe quyệt dùng để sức kéo của trâu hoặc bò để chở củi, hoa màu…cũng được đồng bào tận dụng Tại một số đoạn đường khó đi, người ta còn dùng trâu trực tiếp kéo gỗ hoặc tre, nhất là kéo cột nhà Còn những bản ở ven sông ven suối lớn thì từ lâu người ta

đó biết tận dụng sức nước để chở bè gỗ nứa và nhiều thứ lâm thổ sản khác.Và phương tiện đi lại trên sông thường là chiếc thuyền độc mộc Vào mùa nước lũ,

để qua sông thì chiếc mảng lại là phương tiện quý giá

Về trao đổi, buôn bán, hiện nay ở Nà Hang có 7 điểm họp chợ, các chợ trong vùng thường có phiên họp theo một quy ước thống nhất, ít trùng lặp, được cư dân trong vùng chấp nhận, và trở thành hoạt động không thể thiếu trong tiềm thức của họ Ví dụ như chợ phiên ở xã Đà Vị được họp vào các ngày mùng 9, 19, 29 hàng tháng âm lịch Chợ phiên ở Lăng Can họp vào các ngày 5,

15, 25 hàng tháng Các chủ cửa hàng buôn bán tại các chợ thường là người

Trang 22

Kinh, Tày, Hoa…Tại các phiên chợ có bán đầy đủ các sản phẩm như: các loại thực phẩm, gia súc, gia cầm, lâm thổ sản, các loại dược liệu, dầu muối, chỉ thêu, các dụng cụ phục vụ sản xuất như: cày, bừa, dao, cuốc…Chợ không chỉ là nơi trao đổi hàng hoá mà còn là nơi gặp gỡ của những người thân, nơi vui chơi, giải trí, giao tiếp, học hỏi, nơi thanh niên nam nữ gặp gỡ tìm bạn đời trăm năm

Về nhà ở, phần lớn cư dân Tày hiện nay ở nhà sàn Nhà sàn của người Tày

ở Nà Hang có hai loại: Nhà to (Rườm cái), nhà nhỏ (Rườm ý nọi) Nhìn vào ngôi nhà sàn của người Tày ở đây có hai phần chính: phần dưới (gầm sàn) nơi đồng bào thường để công sản xuất, nhốt thả gia súc, gia cầm Phần trên là nơi ở được thông vách có cửa chính, cửa sổ

Nhà sàn của người Tày ở Nà Hang phổ biến là kiểu nhà ba gian hai chái Nhà

to có nhiều gian và vì kèo, có từ năm đến bảy cột to đường kính từ 30-45cm, các

vì ở giữa trốn cột (không có cột cái và vì ở giữa) Nhà nhỏ có ít gian, ít vì kèo, ít cột và cột nhỏ có đường kính từ 25-30 cm không bào gọt cầu kỳ như nhà to Hệ thống cột được liên kết với nhau bằng dầm và các xà xuyên, nhà nhỏ đồng bào thường không đục lỗ mà chỉ buộc dây kết hợp với ngoãm Trước kia nhà sàn của người Tày ở Nà Hang phần lớn là cột chôn, nhưng hiện nay nhiều nhà đã dùng đá

để chôn chân cột Trong nhà được chia thành hai phần rõ rệt: Phần trong và phần ngoài Phần ngoài có bàn thờ tổ tiên, bếp gần như được được đặt ở giữa khu phía sau bàn thờ, xung quanh có chỗ ăn uống và dệt vải Chỗ ngủ của nữ, trẻ em, kho chứa đồ gia dụng và lương thực thực phẩm, nơi tiếp khách nữ được ngăn thành buồng riêng ở bên trong Chỗ ngủ của nam và tiếp khách của nam giới được nằm

ở phần ngoài Nhà có hai cửa chính, cửa trước, cửa sau và có nhiều cửa sổ nên nhà rất thoáng Cửa sau cũng là khu vực làm những công việc trong nhà như sàng xẩy, tỉa ngô, chọn giống, chế biến lương thực thực phẩm, đan lát…Ngoài ra trên mỗi ngôi nhà còn có những phần phụ nhưng hết sức quan trọng, đó là máng đựng

Trang 23

nước rửa chân, cầu thang, khu sàn để nước, nơi để dụng cụ lao động cầm tay và sàn phơi ngoài trời

Nhà sàn của người Tày mang bản sắc văn hóa tộc người đậm nét, là kết quả của quá trình lao động và sáng tạo, là nơi chứa đựng tình cảm, mối quan hệ ứng

xử thường nhật Ngôi nhà mang dáng dấp vững chãi, thoáng đãng và là niềm tự hào của người Tày

Ngôi nhà sàn truyền thống của người Tày qua đó ta thấy khả năng và trí tuệ của những “Kiến trúc sư” người nghệ nhân dân gian Tày đã biết sáng tạo hết sức tài tình ngay trong điều kiện thô sơ của xã hội có nền kinh tế tự cấp, tự túc là chủ

yếu “Mối quan hệ giữa con người, nếp nhà và tự nhiên, quả là mối quan hệ đa

dạng mà nghệ thuật kiến trúc Việt Nam đã phát hiện và giải quyết hài hòa, cân xứng trong những điều kiện cụ thể của khí hậu, thời tiết, địa hình, cảnh vật và tài nguyên…” [38, tr 64]

Về trang phục, trang phục truyền thống của người Tày chủ yếu là dùng vải chàm đen không trang trí hoa văn Trang phục nam giới mặc quần chân què, cạp lá toạ, áo cánh bốn thân, áo dài năm thân, áo may theo kiểu xẻ ngực, cổ tròn không có cầu vai, có bẩy chiếc khuy vải, có hai túi ngực và hai túi ở hai vạt trước Khăn quấn trên đầu may bằng vải chàm đen hoặc tơ tằm, khi quấn người ta xếp chéo hình chữ nhân chéo trên chán Trang phục của nữ giới màu chàm đen không trang trí hoa văn gồm: áo cánh, áo dài năm thân, quần, váy, thắt lưng, khăn vấn tóc và khăn vuông đội trên đầu áo cánh là loại bốn thân xẻ ngực, cổ tròn, có hai túi nhỏ ở hai vạt, ống tay nhỏ.áo cánh thường mặc ở nhà, khi đi làm hoặc mặc lót bên trong áo dài khi dự lễ hội, đám cưới, áo cánh của các thiếu nữ thường may màu trắng, khi mặc bên trong áo dài họ thường để lộ hai mép gấu áo hai bên sườn tạo thêm nét trẻ trung, duyên dáng áo dài nữ là loại áo năm thân, có năm cúc bằng nút vải hoặc bằng đồng cài bên nách phải

Cổ áo tròn, ống tay dài và hẹp Phụ nữ thường mặc quần ống rộng, một số

Trang 24

người già mặc váy xoè rộng dài Đồ trang sức có vòng cổ, vòng tay, nhẫn và dây xà tích bằng bạc

Về ẩm thực, người Tày ở Nà Hang ăn cơm là chính trong các bữa ăn hàng ngày Trong các ngày lễ tế, mừng nhà mới, hoặc trong vụ gieo trồng lúa ngô đồng bào Tày ở đây thường đồ sôi để ăn

Thức ăn của đồng bào gồm có: trứng, đậu, lạc, các loại rau tự trồng, rau thu hái tự nhiên (rau dớn, mộc nhĩ, nấm hương…) các loại thịt gia súc, gia cầm

do chăn nuôi; thịt thú rừng, chim săn bẫy được; các loại cá, tôm bắt được ở sông, suối Các món ăn thường được đồng bào chế biến dưới dạng khác nhau như: sào, nấu, luộc, hầm, rán…

Trong ngày lễ tết nguyên đán người Tày còn chế biến nhiều món ăn khác như một số loại bánh, làm đậu phụ, đánh tiết canh, làm thịt lợn quay…

Trong sinh hoạt hàng ngày đồng bào Tày ở huyện Nà Hang thường uống nước trà, các loại lá vối, chè dây, thân khúc khắc, nước đun sôi để nguội… Người Tày ở Nà Hang thường có tập quán uống trà vào mùa đông, người

ta hay vần ấm trà bên cạnh bếp lửa để uống Trong sinh hoạt thường ngày, ngoài nước uống thông thường, người Tày còn uống rượu (kin lẩu) trong bữa

ăn Và rượu là đồ uống không thể thiếu được trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng người Tày nói chung và người Tày ở huyện Nà Hang nói riêng

Hầu hết nam giới đều biết uống rượu Rượu được nấu từ gạo, ngô, trước kia nấu cả bằng sắn, đồng bào tự làm men bằng lá gọi là men lá, sau này người

ta ít dùng men lá hơn Đồng bào Tày còn có một loại rượu đặc sản đó là rượu ngô, người ta dùng ngô chưa xay trộn với thân cây móc rừng đã đẽo bỏ phần

vỏ, băm nhỏ nấu chín cả ngô và móc, dỡ ra để nguội, tra men vào ủ, khoảng

5-6 ngày đem nấu cất thành rượu, rượu có mùi thơm, hương vị đặc trưng, vùng

Nà Hang có rượu ngô ngon nổi tiếng Nhìn chung, người Tày cũng giống như các dân tộc khác họ biết dùng những sản vật tự nhiên có sẵn để chế ra các loại

đồ uống hợp với mùa, hợp với điều kiện sinh hoạt của gia đình, của cộng đồng

Trang 25

1.2.2.2 Văn hóa tinh thần

Người Tày ở Nà Hang quan niệm vũ trụ là vô cùng, vô tận Trời và đất đều có nguồn gốc sinh thành Trời và đất gồm 3 mường, mường trời là thế giới thần tiên, mường người là thế giới mặt đất; mường âm là thế giới của những người sống trên mặt đất Mặt trời, mặt trăng và các vì sao là tai mắt của trời Riêng ở nơi trần gian còn có muôn vật, muôn loài, do con người làm chúa tể Người Tày thờ thần không thờ phật

Người Tày có tín ngưỡng đa thần giáo, xuất phát từ quan niệm “vạn vật hữu linh”, do Pụt Luông - Ngọc Hoàng sinh ra và đều có linh hồn Tín ngưỡng của người Tày xuất phát từ việc con người nhỏ bé, bất lực trước thiên nhiên không lí giải được sức mạnh cũng như nhiều điều thần bí, do đó đều cho là ma (Pji) Việc tin vạn vật đều có linh hồn, có ma nhưng chưa có hệ thống giáo lý, cho thấy tín ngưỡng của người Tày còn ở dạng thức tín ngưỡng bản địa nguyên thủy, thờ đa thần “vạn vật hữu linh”

Người Tày ở huyện Nà Hang thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ trong nhà Thường thắp hương vào ngày mùng 1 và ngày giằm hàng tháng với nghi lễ và

đồ lễ đơn giản Người Tày không có tập tục làm giỗ hàng năm, sau khi làm ma cho người chết xong, bài vị của người chết đươc nhập vào bát hương tổ tiên Văn học nghệ thuật dân gian của người Tày ở Nà Hang rất phong phú và

đa dạng thể hiện qua các điệu dân ca như: hát then, lượn, phong slư, quan làng… các thể loại truyện chữ nôm, truyện viết tay, các thành ngữ, tục ngữ Hát Then là loại hình nghệ thuật vừa mang tính tôn giáo, vừa là yếu tố nghệ thuật truyền thống đặc sắc được đồng bào yêu thích, cả về giai điệu tha thiết của cây đàn tính cả về giọng ca của người ca nó Lượn và Phong slư là thể loại thơ trữ tình của thanh niên nam nữ, bao giờ cũng có hai phía hát đối đáp trao nhau nam- nữ hoặc chủ- khách Hát Quan làng là khúc hát lượn mừng đám cưới của người Tày Nội dung chủ yếu của hát Quan làng là đề cao con người, nhất là người phụ nữ và con dâu, đề cao công dưỡng dục của bố mẹ, ông bà, tôn kính

Trang 26

tổ tiên theo đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, tôn trọng người già cả bô lão; Thắt

chặt thêm tình cảm của hai họ nhà trai và nhà gái; Mở rộng phát triển quan hệ tình cảm giữa hai dòng họ Có thể nói, hát quan làng trong đám cưới của người Tày là một dạng thức văn hoá truyền thồng giàu bản sắc, giàu tính nhân văn Trong suốt tiến trình lễ cưới người ta đối đáp và giao tiếp bằng thơ

Thành ngữ, tục ngữ là thể loại truyền miệng nói về kinh nghiệm lao động sản xuất, dự báo thời tiết, cách ứng xử của con người với con người và con người với tự nhiên, quan niệm về may rủi có dấu ấn trong cuộc sống và có giá trị thực tiễn cao Trong kho tàng văn học truyền miệng chủ yếu đề cập tới mọi mặt của đời sống xã hội từ thế giới quan, nhân sinh quan đến lao động sản xuất, đạo đức xã hội, đấu tranh chống lại tác hại của thiên nhiên, cái thiện và cái ác Đồng bào Tày ở Nà Hang còn lưu rất nhiều truyện kể truyền miệng như: truyện

về truyền thuyết hang Tiên trên dãy núi Thẳm Pẩu xã Lang Can kể về sự tích nghề trồng bông dệt vải; Sự tích Kéo Nàng, con đèo hiểm trở thách thức con người ở giữa xã Khuôn Hà và Lăng Can

Về chữ viết của dân tộc Tày họ xây dựng mẫu tự tượng hình gần giống như chữ Nôm Việt ra đời vào khoảng thế kỷ XV, để ghi chép gia phả, lời cúng,

lá số tử vi đồng bào đều phải dùng chữ Hán Về sau dựa vào Hán tự một số tri thức địa phương đã cải biến chữ Hán thành chữ Nôm để ghi chép văn thư nhưng không được phổ biến

Các lễ hội truyền thống của cư dân Tày là lịch đồ về thời tiết và mùa màng của cư dân sản xuất nông nghiệp Ngoài tết nguyên đán là tết đầu năm âm lịch còn có tết Đắp Nọi 30/1; Tết 3/3 tết thanh minh đồng bào đi tảo mộ; Tết 5/5 tết Đoan Ngọ tết này đánh dấu công việc cày cấy vụ mùa về cơ bản đã hoàn tất; Tết rằm tháng bảy 14/7 âm lịch Trong những ngày đầu năm mới đồng bào Tày còn tổ chức nhiều lễ hội, đặc biệt là lễ hội Lồng Tồng (xuống đồng) mọi người

mở hội tung còn, đánh đu, đánh yếm, hát trao duyên Nhìn chung, những ngày

Trang 27

lễ tết cổ truyền của đồng bào Tày ở Nà Hang- Tuyên Quang về cơ bản là mang

ý nghĩa lành mạnh, nó là “con đẻ” của nền nông nghiệp và của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước

Tiểu kết chương 1

Là một huyện miền núi, thuộc vùng sâu, vùng xa của tỉnh Tuyên Quang,

có đặc điểm tự nhiên nằm trên vòng cung sông Gâm, địa hình bị chia cắt bởi những dãy núi cao và các con sông con suối, nên Nà Hang có ít những cánh đồng rộng, chủ yếu là các thung lũng nhỏ hẹp Tuy nhiên, đất Nà Hang có độ dầy canh tác cao, màu mỡ nên thuận lợi cho phát triển cây lương thực và cây công nghiệp Bên cạnh đó, Nà Hang còn có thảm thực vật phong phú thuận lợi cho phát triển chăn nuôi đại gia súc và các loại cây ăn quả ôn đới

Nà Hang còn là nơi quần tụ cư dân lâu đời của các dân tộc, trong đó người Tày là cư dân bản địa lâu đời và đông đảo nhất, có những bộ phận gắn bó ở đây

từ buổi đầu dựng nước, nhưng cũng có một số bộ phận là cư dân miền xuôi chuyển cư lên theo từng thời điểm lịch sử Cùng với các dân tộc khác sinh sống trên cùng địa bàn, đồng bào Tày đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong lao động cũng như trong cuộc sống Phát huy tinh thần đoàn kết dân tộc, tương thân, tương ái, thực sự trở thành nhân tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế địa phương ngày một vững chắc đi lên

Những đặc điểm về nguồn gốc và quá trình tộc người, bản sắc văn hóa của người Tày ở Nà Hang là các tác nhân, các tiền đề ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống của cộng đồng người Tày như đời sống vật chất, đời sống tinh thần, văn hóa xã hội, ý thức tâm linh Trong đó, đặc biệt là tri thức bản địa

về ứng xử xã hội của cộng đồng người Tày chịu sự tác động cơ bản của những điều kiện tự nhiên và xã hội Ứng xử xã hội là một hoạt động văn hóa thể hiện mối quan hệ gia đình, dòng họ, làng bản và mang tính cộng đồng cao Do đó, tri thức bản địa trong ứng xử xã hội là điều cần được quan tâm ý

thức đầy đủ, đúng đắn

Trang 28

Chương 2 TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ ỨNG XỬ XÃ HỘI TRONG CỘNG ĐỒNG

NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN NÀ HANG - TUYÊN QUANG

2.1 Ứng xử trong cộng đồng làng bản

Người Tày nói chung và người Tày ở Nà Hang - Tuyên Quang nói riêng đều có chung tập quán cư trú thành từng làng bản, mỗi bản có địa vực cư trú riêng biệt, có phạm vi sử dụng đất riêng Bản là đơn vị hành chính nhỏ nhất, đồng bào Tày thường cư trú chủ yếu trong các bản ven đường, cạnh sông suối hay các thung lũng Đó là đơn vị cơ bản của họ Các gia đình trong bản với các thành viên của mình hợp lại thành một cộng đồng dân cư có tổ chức nhất định Cộng đồng bản là một công xã nông thôn độc lập, lấy đơn vị nhà làm nền tảng Các thành viên trong bản có những quyền lợi và nghĩa vụ chung, đoàn kết chống giặc ngoại xâm và xây dựng đời sống văn hoá cộng đồng

Bản của người Tày ở Nà Hang có khoảng 30 đến trên dưới 60 hộ gia đình Cá biệt mới có những bản có quy mô lớn, đến hơn 100 hộ gia đình, như bản Khánh Hòa 2 thuộc xã Trùng Khánh Tuy nhiên đây là trường hợp khá đặc biệt, bởi lẽ bản Khánh Hòa 2 có sự xen cư giữa người Tày và người Kinh Mỗi bản đều có một ông trưởng bản Người Tày đặt tên cho bản mình rất giản dị, họ thường lấy đặc điểm thửa ruộng, gốc cây, khe suối để đặt tên bản Ví dụ: bản

Nà Đứa, xã Đà Vị (Nà Đứa: bản gần ruộng có cây sung), bản Nà Diêm, xã

Trang 29

Thượng Lâm (Nà Diêm: bản gần ruộng có diêm sinh), bản Nà Tông (bản cạnh cánh đồng), bản Chùa (bản gần chùa) thuộc xã Lăng Can,

Trước đây, các bản người Tày ở Nà Hang thường vận hành theo phương thức tự quản, người đứng đầu bản gọi là Khán Ngoài ra còn có kì mục giúp việc cho Khán Nếu trong bản chỉ có một dòng họ thờ người đứng đầu bản do người nam giới uy tín nhất trong họ nắm giữ Nếu trong bản có nhiều họ thì người có tiềm năng kinh tế sẽ phải dùng bạc trắng, rượu, thịt để mua chức - đây

là biểu hiện của một xã hội phát triển Sự phân hoá giai cấp đã bắt đầu hình

thành, nhiều bản gộp lại thành xã, có thổ ty gọi là “Quằng” cai trị Quằng mang

tính chất cha truyền con nối Ví dụ: Thổ ty tại Côn Lôn do dòng họ Nguyễn Quảng nắm giữ - đây chính là hậu duệ của Nguyễn Quang Khải, tri châu châu Chiêm Hoá, một thủ lĩnh trong khởi nghĩa Nông Văn Vân Thổ ty tại Côn Lôn cũng mang đặc điểm chung của phần lớn các thổ ty người Tày ở huyện Nà Hang đều là người Kinh lên làm rể đời người Tày “Quằng” nắm quyền sở hữu đất đai, các sản vật, các tài nguyên trong vùng kiểm soát

Trong quan hệ làng, bản thì quan hệ huyết thống dân tộc là mật thiết nhất Bên cạnh đó còn có quan hệ láng giềng đồng tộc hoặc khác tộc, cũng là yếu tố quan trọng để giúp nhau cả vật chất và tinh thần Bản của người Tày chưa bao giờ làm chức năng như một đơn vị sản xuất Bản là một cộng đồng về mặt xã hội Người dân gắn bó cuộc sống kinh tế, đời sống văn hoá và các quan hệ xã hội chủ yếu trên địa vực bản Họ có những quyền lợi chung về kinh tế, đùm bọc nhau chống giặc giã, trộm cướp, có đời sống xã hội, tinh thần và vật chất chung thông qua các lễ hội, các hoạt động tôn giáo và hành chính

Trong mỗi bản Tày đều có một miếu thờ thổ công được coi là tổ tiên chung của mọi thành viên đã có công khai phá, lập bản Thông qua lao động sản xuất, sinh hoạt văn hoá tinh thần mọi thành viên trong bản đồng tộc hay khác tộc đều đoàn kết với nhau Hàng năm, bản có những ngày hội chung, đó là

Trang 30

ngày thờ cúng thành hoàng làng, ngày tết ngày hội lồng tồng, mặt khác mỗi hoạt động của mỗi gia đình như cưới xin, ma chay cũng là những ngày lễ chung của cả cộng đồng làng bản Trong lao động sản xuất, bản còn là cộng đồng giúp nhau về kinh nghiệm, về vật chất

Quan hệ giữa dân chúng gắn bó tình cảm và hợp tác mang tính cộng đồng

cư dân miền núi, họ cùng nhau hợp sức làm những công việc (như đắp đập, làm mương phai, làm nương, làm đường xá, săn bẫy thú bảo vệ mùa màng) Khi gia đình nào đó có việc lớn thì được cộng đồng làng xóm giúp đỡ tre, gỗ, nứa để làm nhà Khi dựng nhà thì giúp nhau đục đẽo, lắp dựng cho đến khi hoàn thành Khi có việc tang đến giúp công việc, mang gạo, rượu, gạo, lợn đến giúp cho tang chủ Khi tổ chức lễ hội của bản cùng chung vui, đi săn bẫy được thú chia cho cả bản Những phong tục tập quán đó luôn được đồng bào lưu giữ thể hiện ý thức cộng đồng rất sâu sắc, truyền thống cộng đồng đã tạo nên sức mạnh lớn chống chọi với khắc nghiệt của tự nhiên, chống giặc giã để tồn tại và

phát triển Đồng bào Tày có câu tục ngữ: “Pỉ mọng xỏ cườn tò tộng pỉ mọng

táp bỏ” nghĩa là “Anh em làng xóm, tựa như anh em ruột thịt” Hay câu tục ngữ

“Lây cà tốc tẩu pỉ mộng tỉ” có nghĩa là “Giọt ranh rơi đâu, anh em ở đấy” Đây

là những câu tục ngữ xuất phát từ chính thực tiễn cuộc sống của đồng bào Đồng bào có sự gắn bó rất chặt chẽ, tình thân ái quan tâm giúp đỡ lẫn nhau rất sâu sắc Do yêu cầu phải ở gần đám ruộng nương để tiện bề trông nom cây trồng, những người cùng cảnh tới lập một chòm xóm mới Họ có thể không phải là anh em một nhà, về đây ở gần nhau nên phải dựa vào nhau để sống, cần

có sự chăm sóc đùm bọc lẫn nhau, giúp đỡ nhau khi khó khăn, bảo vệ nhau khi gặp hoạn nạn, tai biến, trộm cắp, ốm đau

Trong những ngày bình thường, chia nhau mẻ trám, bó măng, biếu mớ tôm, mẻ cá cùng nhau lên nương trồng lúa đổi công, cùng nhau đi chợ, san sẻ gánh nặng, giúp nhau khiêng con lợn, chum đường Cả xóm giúp nhau chạy

Trang 31

chữa thuốc men, đón thầy về cúng bái khi một nhà có người ốm Đêm đến khi

có hổ đến rình vồ lợn nhà thì cả xóm thức dậy gõ mõ, vác dao đánh đuổi hổ Nhà nào có tình huống éo le, họ gặp nhau bàn bạc trao đổi Khi nhà nào có việc khó khăn, cả chòm xóm xúm lại, người giúp tiền, người giúp công, đỡ cho xong việc khó khăn Khi hai nhà trong xóm có sự xích mích, dù là nhỏ nhà thứ

ba liền kịp thời dàn xếp ổn thoả Tình cảm xóm bản của đồng bào Tày là nếp đẹp truyền thống Cho tới ngày nay tình cảm đoàn kết, tình yêu của những người trong cùng chòm xóm vẫn còn mãi mãi ghi sâu trong tâm thức của mỗi đồng bào

Qua thực tế và khảo sát một số làng bản của người Tày ở Nà Hang, chúng tôi nhận thấy một vấn đề nổi trội nhất là tình đoàn kết và sự cố kết bền chặt của thôn bản Thực tế, dù quy mô làng bản nhỏ hay lớn thì sự cố kết đó vẫn được đảm bảo Quan hệ cơ bản mang tính chất đặc thù của người nông dân là luôn tương trợ, hợp tác, đoàn kết Sự cố kết đó xuất phát từ nhu cầu của nền kinh

tế nông nghiệp ruộng nước Một đặc điểm của nghề trồng lúa nước là phải luôn tính đến sự khẩn trương của mùa vụ Việc dẫn nước vào thửa ruộng đan xen với chủ sở hữu khác, việc chống úng, chống hạn chỉ riêng một gia đình không thể làm được Việc đưa nước từ nguồn (mương, máng) đến ruộng nhà mình phải dẫn qua đám ruộng của chủ khác thì phải có sự nhường nhịn, cảm thông bằng cách cho các gia đình đó lập các bờ mương trên các thửa ruộng của nhà mình

Như vậy, quan hệ ứng xử trong cộng đồng làng bản với nhau phải cảm thông, đoàn kết Mối quan hệ đó không chỉ có trong tộc người Tày mà nó còn

mở rộng ra các tộc người cùng trên địa bàn Họ coi người Nùng, người Kinh như anh em trong nhà Tuy nhiên mối quan hệ đó đôi khi cũng xuất hiện xích

mích nhỏ Khi giải quyết họ đều phải dựa vào nguyên tắc “láng giềng” và

“trong họ ngoài làng” với nhau Trong các bản Tày, quan hệ thân tộc, thích tộc

Trang 32

là quan trọng, nhưng từ lâu quan hệ láng giếng để giữ vai trò chủ đạo Cộng đồng tinh thần trong đó bao hàm cả cộng đồng văn hoá là đặc tính của bản Tày

Na Hang nói riêng và cộng đồng dân tộc Tày nói chung Thông qua những sinh hoạt tinh thần, văn hoá đa dạng được tổ chức hàng năm mà cư dân không phân biệt dòng họ, người Tày địa phương hay người Tày hoá, mọi người trong bản đều gắn kết với nhau Trong mỗi bản đều có một khu rừng cấm thuộc sự quản

lý chung của làng bản Tại đây người dân lập một miếu thờ thổ địa Miếu thờ được dựng rất thô sơ, là chỗ dựa linh hồn toàn bản, là nơi bất khả xâm phạm, không ai được chặt phá cây cối Nếu ai vi phạm chẳng may dân bản có người ốm đau, gia súc - gia cầm toi dịch, cuộc sống bất an phải mời thầy mo

về cúng giải hạn thì gia đình đó phải chịu toàn bộ phí tổn cho cuộc cúng lễ Những quy ước này không chỉ được nhắc nhở chung trong toàn bản mà còn được nhắc đến trong các lễ cúng thổ thần hàng năm Đây là quan niệm thể hiện sự ứng xử của cả cộng đồng với môi trường tự nhiên Nó vừa là yếu tố tâm linh vừa là yếu tố thực tiễn bảo vệ một khu vực sinh thái trong vùng,

duy trì những khu rừng nhỏ dưới dạng “ốc đảo xanh” nhằm góp phần điều

hoà khí hậu tiểu vùng cư trú và canh tác

Ngoài miếu còn có đình, với đồng bào Tày đình là nơi thờ thành hoàng, các thần sống, thần suối, thần nông hay thờ phật cũng xuất hiện Hội đình cũng là dịp những người đàn ông, chủ của các gia đình trong bản gặp nhau trao đổi, giải quyết các công việc chung trong bản Dân bản trai gái, già trẻ đều tham gia ca hát, chơi các trò chơi dân gian, tham gia nấu nướng, tổ chức lễ hội Tất cả những hoạt động trong lễ hội, dù quan trọng hay không quan trọng đều gắn kết dân bản lại với nhau và hơn nữa cả giữa bản này với bản khác

Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng với quy mô to lớn hơn bất kì hình thức sinh hoạt văn hoá nào Trong đó, các lễ hội có tính chất tín ngưỡng nông nghiệp như hội Lồng Tồng (xuống đồng), hội cầu mưa, hội cầu mùa

Trang 33

khi hạn hán kéo dài, được tổ chức hàng năm ở các bản, đều thể hiện tinh thần cộng đồng với một ý nguyện chung của dân bản mong sự thịnh vượng của bản làng, ý thức tham gia của các thành viên trong bản, các gia đình đóng góp tiền, vật phẩm để tổ chức lễ cúng tế, tôn trọng và tuân thủ các quy định do bản đề ra, tự nguyện tập luyện chuẩn bị và tham gia vui chơi lễ hội lồng tồng Không chỉ thu hút tất cả các thành viên tham gia mà còn thu hút dân làng ở nhiều thôn bản, nhiều

xã lân cận cũng đều tham dự

Vào dịp đầu xuân hầu như tại thôn bản nào của người Tày cũng đều tổ chức hội lồng tồng vào những ngày lệch nhau để mọi người trong vùng đến chia vui như: ở xã Vĩnh Yên tổ chức vào ngày mùng 7 Tết âm lịch, ở Thanh Tương vào ngày 12 tháng 1, ở Thượng Lâm, Năng Khả được tổ chức vào ngày rằm tháng riêng Ngoài phần lễ còn có phần hội náo nhiệt và sôi động Dân bản và khách thập phương thi nhau ném còn qua vòng nguyệt trên cây nêu Hội ném còn chỉ kết thúc khi cả ba quả còn đều chui qua vòng tròn, tượng trưng cho việc dân bản đó xin được hạt giống tốt hứa hẹn một mùa bội thu Những người ném được quả còn chiu qua vòng tròn, ngoài niềm vui lớn với hy vọng một năm đầy may mắn sẽ được lĩnh thưởng bằng tiền của thôn mà các gia đình trong thôn đóng góp Khi hội tung còn kết thúc, dân bản tranh nhau nhặt quả còn mang về treo ở cây to trong vườn với mong muốn cây sai quả hoặc bóc lõi gạo bên trong cho gà, lợn ăn chóng lớn, không bị dịch bệnh Ngoài hội tung còn, còn có hội đánh yến, đánh quay, trò sĩ nông, kéo co (xể thôi) đều thu hút đông đảo dân bản tham gia, đặc biệt là thanh niên Chính qua những ngày hội

mà dân bản có điều kiện giao lưu tiếp xúc, mở rộng hơn các mối quan hệ của mình không chỉ giới hạn trong bộ tộc cộng đồng tộc người Tày mà cả với các cộng đồng dân tộc khác

Trong các bản của người Tày, phường đám ma là một tổ chức xã hội được coi là chặt chẽ nhất để lo toàn bộ việc tang lễ của các gia đình trong hội mình

Trang 34

Phường này trong người Tày được gọi là phe Phường phe có từ lâu không phụ thuộc vào phạm vi và ranh giới bản Tham gia phường phe có thể cả những người thuộc các bản khác miễn là họ tự nguyện tham gia và được phường chấp nhận Phường phe có khoảng 30 - 40 người chuyên giúp đỡ nhau về vật chất và sức người trong đám ma của các thành viên trong phường Phường phe có trùm trưởng, trùm phó, thủ quỹ, thư kí là ban lãnh đạo Phường cử ra các ban chuyên trách như: ban làm áo quan, ban làm nhà táng, ban tế lễ, ban văn tế, ban nhạc hiếu Trùm trưởng sẽ điều khiển chặt chẽ mọi hoạt động của một đám ma mà phe mình phải lo Mọi việc tang lễ từ đào huyệt, phát đường, sửa nhà, củi đóm, cơm nước đều do phe lo hết, gia đình có người quá cố dù có thiếu tiền gạo trong những ngày tang lễ thì cũng có phừơng phe lo hết tất cả, họ chỉ cần trả lại cho phe sau đó Các thành viên trong phe họp với nhau mỗi khi có đám để xem xét những việc đã qua và phân công việc mới Kỉ luật trong phe rất nghiêm ngặt Ai đến muộn hoặc không hoàn thành nhiệm vụ phe đó giao cho: huyệt nông, thiếu đòn, thiếu củi đều bị phạt rất nặng, phường phe có điều ước rất nghiêm Khi có đám của một nhà thành viên, các thành viên khác đều phải có mặt Nếu thành viên nào ốm hoặc đi vắng thì phải mướn người đến thay không

có sẽ bị phạt nặng Người nào cũng tham gia phục dịch việc đám với tinh thần

tự giác và trách nhiệm cao từ khi có người nằm xuống đến khi hoàn tất đám tang Khi có việc xảy đến, nhà chủ rất thương buồn nhưng rất yên tâm trong việc tiến hành tang lễ đã có phường phe giúp đỡ tận tình

Ngày nay, đám tang tuy đó có cải tiến và tinh giảm về nghi lễ, nhưng vẫn cần có phường phe với tính chất tương trợ nốt của nó, với giá trị đảm bảo tình làng nghĩa xóm rất cao Phường phe ít khi giải tán (nếu không muốn nói rằng không bao giờ giải tán) và cũng rất ít người xin ra khỏi phường phe

Không chỉ có quan hệ thân ái đối với những người cùng thôn bản Đối với những người khách lạ, người Tày sống cũng rất tình cảm chân thành và trong

Trang 35

nghĩa của thành ngữ của người Tày có câu: “Lạc mày tẩn, lạc cần rì” nghĩa là

“rễ cây ngắn, rễ người dài” Có khách đến nhà là người đồng bào Tày ở Na

Hang đều nói với nhau như vậy Họ coi những người khách đến nhà là những

vị khách quý đáng trân trọng Lòng mến khách của đồng bào rất cao Thái độ với khách thật chân tình, tế nhị Họ niềm nở đón tiếp và tiếp đón khách chu đáo Nếu khách là đàn ông thì chủ nhà mời khách lên ghế trên Nếu khách ngủ lại qua đêm thì chủ nhà thu xếp cho khách ở giường gian giữa (thường là giường kê trước bàn thờ tổ tiên) Khách quý đến nhà được mời uống rượu, mời

ăn cơm, cơm khách thường được lo rất chu đáo, chủ nhà và khách luôn ăn ở mâm trên; bao giờ cũng để bát thức ăn cho khách, đồng bào gọi là bát để rau (thịt, cá cũng gọi là rau) Trước khi ăn và sau khi ăn có chậu nước ấm để khách rửa tay, có khăn lau Trong bữa ăn bà chủ và cô con gái, con dâu luôn đảm quan tâm tiếp thêm thức ăn cho mâm khách Một điều người Tày ở Na Hang cho là tối kỵ đó là sắp đến bữa ăn cơm mà chủ nhà còn để khách ra đi Họ cố hết lời và thật lòng với khách ở lại ăn bữa cơm dù người khách rất vội cần phải

đi gấp Ở những trường hợp ấy, người khách không dám từ chối

Người Tày có quan hệ quảng giao Họ có tục kết bạn “kết tồng”, hai

người không phải là anh em họ hàng, mến nhau kết làm bạn tồng Bạn tồng có thể là cùng tuổi, hợp nhau về cảnh ngộ, chí hướng tài năng đức độ Để kết tồng phải có một bữa tiệc đính ước và công bố với người thân của nhau.Thường thì người ta hay dùng tiết gà pha rượu rồi cùng uống thề Kể từ lúc nhận nhau làm bạn tồng, các bạn tồng coi bố mẹ bạn như bố mẹ mình, khi chết phải để tang, bạn tồng giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, chung vui những điều mừng, san sẻ với nhau tiền của và vật chất như anh em Con cái của đôi bạn tồng tuỳ theo tuổi của từng người mà định ra hàng anh, hàng em và coi nhau thân thiết như anh chị em trong một nhà Sau này, đến đời cháu đời chắt nối tiếp, mối quan hệ bạn tồng thân thiết giữa hai nhà vẫn giữ mãi tình đồng

Trang 36

niên gắn bó mật thiết lâu dài Như anh Lương Xuân Thành dân tộc Tày (sinh năm 1954) ở xã Đà Vị đã kết tồng với anh Nông Văn Dũng dân tộc Tày (sinh năm 1956) ở thị trấn Nà Hang từ năm 1976 Từ đó đến nay hai gia đình coi nhau như anh em cùng mẹ đẻ ra, giúp đỡ nhau trong việc tang ma, cưới xin ,dựng nhà…Khi gia đình anh Nông Văn Dũng cưới con gái, theo tục lệ của người Tày ở Nà Hang anh Lương Xuân Thành đã mang một lễ gồm 3 con gà trống thiến, 3 lít rượu ngô, 10 kg gạo (3kg gạo nếp, 7kg gạo tẻ) 3 cơi trầu, bánh kẹo, thuốc lá, chè đến nhà anh Dũng chung vui tổ chức đám cưới Cũng là người Tày ở Tuyên Quang, người Tày ở huyện Chiêm Hóa cũng có tục kết tồng nhưng không có tục lệ giúp lễ trong cưới xin, tang ma

Như vậy, cộng đồng cư dân trong làng bản luôn có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, ứng xử với nhau trên tinh thần thân ái, tương trợ, giúp đỡ nhau mọi việc từ công việc nhỏ đến công việc lớn Từ chia sẻ với nhau mớ rau, mớ

cá đến những công việc lớn của gia đình như những ngày có đám, dựng nhà Quan hệ của các thành viên trong cộng đồng làng bản là tương thân, tương ái Trong bản rất ít khi có sự cãi cọ, xô xát lẫn nhau Mọi người đều có thái độ tôn trọng nhau Người già cả thế hệ trên nhường nhịn người ít tuổi, thế hệ dưới, ngược lại người ít tuổi, thế hệ dưới, luôn tôn kính người già thế hệ trên Mọi người giúp đỡ nhau từ trong cuộc sống sinh hoạt đến sản xuất, mọi sự giúp đỡ đều tự giác vô tư, tận tình

2.2 Ứng xử trong dòng họ

Trong tổ chức xã hội của bản (nay gọi là thôn), người Tày trước kia và hiện nay sự liên kết địa vực cư trú là nổi bật hơn cả Tuy vậy, các mối quan hệ huyết thống với sự hiện diện của các dòng họ trong bản vẫn còn tồn tại đậm nét Các dòng họ là sợi dây liên hệ vượt qua khỏi phạm vi của bản để liên kết, thắt chặt quan hệ dòng tộc, tạo nên sự cố kết chặt chẽ để bảo tồn dân tộc

Trang 37

Dòng họ là tập thể của những người đang sống (cả những người đã chết) liên kết với nhau bằng quan hệ dòng máu và có chung một thuỷ tổ Đây cũng coi như một dạng của gia đình mở rộng nhằm tạo cho các thành viên mối cộng cảm về huyết thống Nói như vậy thực tế trên đất nước ta, không phải tất cả mọi tộc người Việt Nam đều tổ chức dòng họ giống nhau Ví dụ như: Người Mường ở tỉnh Hòa Bình chỉ có một họ Bùi trừ các họ nhà Lang( Đinh, Quách, Bạch, Hà) những dòng họ này không những chỉ mang tính huyết thống mà còn mang tính giai cấp; người Vân Kiều mãi sau cách mạng tháng Tám 1945 mới

có họ cụ thể là họ Hồ; người Khơ Me được mang 5 họ: Thạch, Lâm, Sơn, Huỳnh…[19, tr 365]

Tại huyện Nà Hang tỉnh Tuyên Quang qua khảo sát chúng tôi thấy có các họ: Ma, Nông, Quan, Chẩu, Hỏa , đặc biệt họ Ma Doãn là họ thổ ty nổi tiếng

ở vùng này, có nhiều người làm quan dưới chế độ phong kiến Trưởng tộc trong dòng họ Ma Doãn ngoài vai trò là chủ trì các nghi lễ như ma chay, cưới xin, chứng kiến việc chia gia tài…còn được hưởng một số ruộng hương hỏa và chịu trách nhiệm cúng giỗ tổ tiên chung cho cả dòng họ Tại xã Thượng Lâm huyện Nà Hang 70% họ Chẩu sống tập trung ở thôn Nà Lung; 78% họ Hỏa sống ở thôn Nà Tông: 80% họ Quan sống ở bản Bô Mỗi dòng họ đều có thể chế của nó Đó là những quy định về cách ứng xử giữa con người với con người, trước hết là ở những công việc chung, ứng xử trong hôn lễ, trong tang

ma, các nghi thức thờ cúng tổ tiên Thông thường mỗi bản có 1, 2 họ trở lên, đồng bào rất yêu quý những người cùng họ Ngạn ngữ Tày có câu: “tồng slình slam phăn săm” (đã cùng họ, thân thuộc đến ba phần mười)

Mỗi dòng họ bao gồm nhiều tông tộc Mỗi tông tộc thường cùng cư trú trong một thôn, bản và cũng như khi ở nhiều nơi của một xã hay khác cả huyện nữa Mỗi tông tộc thường có truyền thuyết về nguồn gốc, về lịch sử hay tộc phả chung hoặc một mộ tổ chung Quan hệ giữa các thành viên trong tông tộc khá

Trang 38

chặt chẽ Hầu hết các thành viên mỗi khi gặp chuyện tang ma, cưới hỏi thờ cúng tổ tiên và mở rộng ra là cuộc sống hàng ngày như việc làm, học hành, thi

cử, bệnh tật của từng gia đình, đều được họ hàng quan tâm giúp đỡ

Như vậy, quan hệ dòng họ là điểm tựa thường xuyên của cuộc sống con người Mối cộng cảm đó được duy trì, củng cố và tăng cường bởi các yếu tố: truyền thống tổ chức gồm trưởng họ (tộc trưởng, chi trưởng); một hình thái thờ cúng tổ họ gồm nhà thờ họ hay từ đường và ngày giỗ chạp một họ, cùng cơ sở kinh tế để nuôi dưỡng việc thờ phụng đó là ruộng hay quỹ họ Đứng đầu tông tộc là một tộc trưởng vốn là người già nhất trong ngành trưởng, ông được các thành viên trong tông tộc coi trọng Vai trò của tộc trưởng vô cùng quan trọng: dàn xếp xích mích trong nội bộ, tổ chức giúp đỡ các gia đình khi gặp khó khăn, nhiều khi còn được mời đến chủ trì các nghi lễ, ma chay cưới xin, chứng kiến việc chia tài sản trong các gia đình thành viên

Trong xã hội người Tày ở Nà Hang cũng có họ nội, họ ngoại và họ bên

vợ, trong đó họ nội là quan trọng nhất, vai trò của họ ngoại thể hiện ở vai trò của ông cậu nhưng không đậm nét lắm Tổ chức dòng họ của người Tày về hình thức không quy củ và có phần mờ nhạt so với dòng họ của người Việt, nhưng mối liên hệ bền chặt giữa những người cùng dòng máu vẫn được duy trì Vai trò của họ ngoại chỉ tồn tại trong một số nghi lễ cổ truyền Trong lễ mừng nhà mới, cúng mụ Theo luân thường thì người trong họ nội không được lấy nhau Nếu có tình vi phạm thì sẽ bị coi như là loạn luân và bị phạt rất nặng: phải mổ lợn làm lễ tạ tội trước bàn thờ thần linh, buộc phải hủy bỏ việc kết hôn, còn về họ ngoại thì con cô, con cậu không được kết hôn với nhau nhưng đến đời cháu (đến đời thứ 3) trở đi thì có thể kết hôn được

Trong ứng xử giữa những người trong họ thì quan hệ tôn ti trật tự rất được coi trọng Sự tôn ti ấy thể hiện rõ ràng từ việc xưng hô đến thái độ giao tiếp, bụng

dạ đối xử Những người thuộc hàng em phải tự xưng em và gọi những người ở

Trang 39

hàng anh là anh mãi mãi, từ trẻ đến già dù cả hai bên đều đó trở thành ông bà nội, ông bà ngoại, dù ở trong gia đình hay ở ngoài xã hội trước đám đông Những người cháu họ dù có hơn tuổi chú họ, bác họ đến chục tuổi cũng tự xưng là cháu, đối với ông chú ông bác rất lễ độ nghiêm chỉnh Người bố người mẹ tự xưng bố

mẹ đối với các con, và ngược lại con cái cũng tự xưng là con đối với bố mẹ Trong quan hệ bình thường, không bao giờ bố mẹ xưng tao với con cái (kể cả với các cháu đích tôn nội, ngoại và đối với những cháu trẻ nhỏ hàng xóm trong làng) Tất nhiên, con cái kể cả con cháu không bao giờ được phép xưng tao với bố mẹ, ông

bà Đây là đặc điểm khác biệt của người Tày đối với các dân tộc anh em khác cùng sống xen kẽ Chẳng hạn như: Ở tộc người H’Mông họ không phân biệt, tuổi tác, địa vị, thứ bậc đều xưng hô bằng “mày”, “tao’’

Trong việc cư xử của người Tày gần như đã có quy định hẳn hoi, anh ra anh, em ra em, chị ra chị, cháu chú ra cháu chú Người hàng dưới và người hàng trên tôn trọng nhau như khách Dù trong cuộc trò chuyện vui cười, sự quan hệ tôn ti trật tự này luôn luôn được coi trọng trong khuôn khổ, phép tắc Quan hệ họ hàng được đồng bào Tày rất coi trọng, người Tày có câu tục

ngữ: “ Lạc mạy tẩn, lạc gần rì” tiếng Tày có nghĩa là: “Rễ cây ngắn, rễ người

dài” Câu tục ngữ có ý nói rằng: “mối tình của con người thì rất rộng rãi và sâu xa” Do đó đồng bào có tục lệ nhận họ, nghĩa là nhận những người ở xa

cùng họ với mình kết làm anh em trong nhà Người ta lí giải rằng những người cùng họ ngày nay có thể là những người trước đây từ xa xưa cùng một ông tổ Nhưng vì hoàn cảnh sinh hoạt, vì sinh kế, vì lấy vợ gả chồng, rồi đi làm ăn ở nơi khác xa nhau lâu ngày, không gặp nhau, không tìm thấy nhau mà trở nên quên người gốc họ, quên ông tổ Nay khi gặp người cùng họ với mình dù ở một địa phương xa, đồng bào mừng vui có ý muốn làm anh em thân thiết với mình

để có thêm người thân Tuy vậy, người ta tiến hành việc nhận họ rất thận trọng, không vội vàng, hấp tấp

Trang 40

Trước hết người ta tìm hiểu nguồn gốc xem rằng người bạn thuộc họ Tày nào: dòng họ Tày địa phương hay Tày lưu quan Khi đó tìm ra được nguồn gốc dòng họ, người ta rất vui mừng kết nhận họ với nhau Việc nhận họ được tiến hành từng bước thận trọng Định nhận họ với người nào, người ta phải nói rõ tên, tuổi, quê quán, nghề nghiệp, cảnh ngộ, chức tước, địa vị xã hội (nếu có), lai lịch gia đình, dòng họ của người muốn nhận họ với cha mẹ, ông bà, anh chị em ruột, chú bác và tộc trưởng của mình Nếu những vị này (nhất là cha mẹ) đồng ý chấp nhận thì người ta mới làm lễ nhận họ

Lễ nhận họ của người Tày ở Nà Hang rất thiêng liêng, được tổ chức trang trọng ở hai bên nhà vào hai ngày khác nhau để đôi bạn nhận họ đều có mặt ở cả hai bên nhà Trong buổi lễ nhận họ phải có kính báo tổ tiên, có những người thân của từng nhà nhận lễ công nhận và nhiều người lân cận bạn bè dự lễ chứng kiến Trong buổi lễ người ta cùng nhau ôn lại lai lịch gia phả tổ tiên để càng tăng thêm tình thân gắn bó họ hàng Đôi bạn nhận họ giới thiệu tuổi hơn kém (ngày tháng năm sinh rõ ràng) mà định ra hàng anh và hàng em Những người cùng họ khi đó nhận nhau thì rất quý trọng nhau Hai bên đều sẵn sàng cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, thăm hỏi lúc hoạn nạn, có mặt trong đám cưới, đám tang, dự những ngày giỗ chạp Trong những ngày vui, buồn người ta giúp nhau không tiếc tiền, đỡ nhau những việc của hai nhà không tiếc công, tiếc sức, người ta đối xử với nhau rất thân thiết, thương yêu nhau như anh em ruột thịt Con cái, cháu chắt của những người nhận họ nhiều đời về sau đều được coi là con cái, cháu chắt của hai gia đình nhận

họ Đây là tập quán truyền thống, đoàn kết dân tộc có ý nghĩa sâu sắc và tốt đẹp trong nếp thuần phong mỹ tục của người Tày Nà Hang và được lưu truyền mãi từ ngàn xưa đến nay

Như vậy, chúng ta thấy rằng tuy sự liên kết trong hoạt động kinh tế không đậm nét nhưng đó là sợi dây giàng buộc dai dẳng và có hiệu quả các thành viên trong dòng họ Mối quan hệ này được thể hiện trong việc đổi công, giúp đỡ

Ngày đăng: 06/10/2014, 06:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2000), Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội
Năm: 2000
2. Triều Ân (1996), Ca dao Tày - Nùng, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Tày - Nùng
Tác giả: Triều Ân
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 1996
3. Đỗ Thúy Bình (1995), Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1995
4. Phạm Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phạm Kế Bính
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Tháp
Năm: 1990
5. Ban dân tộc tỉnh Tuyên Quang (1972), Các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang . 6. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Nà Hang (1998), Lịch sử Đảng bộ huyện Nà Hang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang" . 6. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Nà Hang (1998)
Tác giả: Ban dân tộc tỉnh Tuyên Quang (1972), Các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang . 6. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Nà Hang
Năm: 1998
7. Bộ văn hoá và Bảo tàng Việt Bắc (1991), Một số vấn đề lịch sử- văn hoá các dân tộc ở Việt Bắc, Bảo tàng Việt Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lịch sử- văn hoá các dân tộc ở Việt Bắc
Tác giả: Bộ văn hoá và Bảo tàng Việt Bắc
Năm: 1991
8. Bàn về nếp sống văn hoá ở miền núi (1974), Nxb Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về nếp sống văn hoá ở miền núi
Tác giả: Bàn về nếp sống văn hoá ở miền núi
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1974
9.Ba mươi năm gìn giữ và phát huy vốn di sản văn hoá các dân tộc Việt Nam (1995), Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba mươi năm gìn giữ và phát huy vốn di sản văn hoá các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Ba mươi năm gìn giữ và phát huy vốn di sản văn hoá các dân tộc Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 1995
10. Hoàng Quyết- Ma Khánh Bằng (1993), Văn hoá truyền thống Tày- Nùng, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá truyền thống Tày- Nùng
Tác giả: Hoàng Quyết- Ma Khánh Bằng
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 1993
11. Nguyễn Mạnh Cường (2008), Văn hóa tín ngưỡng của một số dân tộc trên đất nước Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Viện Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tín ngưỡng của một số dân tộc trên đất nước Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2008
12. Triệu Quỳnh Châu (2010), Làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng, Luận văn thạc sỹ lịch sử Việt Nam- Đại học Sư phạm Thái nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng
Tác giả: Triệu Quỳnh Châu
Năm: 2010
13. Nông Minh Châu (1973), Dân ca đám cưới Tày- Nùng, Nxb Việt Bắc,Việt Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca đám cưới Tày- Nùng
Tác giả: Nông Minh Châu
Nhà XB: Nxb Việt Bắc
Năm: 1973
14. Cục thống kê Tuyên Quang (2010), Niên giám thống kê tỉnh Tuyên Quang 2009, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Tuyên Quang 2009
Tác giả: Cục thống kê Tuyên Quang
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2010
15. Phan Hữu Dật (1999), Phong tục tập quán các dân tộc Vịêt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục tập quán các dân tộc Vịêt Nam
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
16. Phan Đại Doãn (2001), Làng bản Việt Nam một số vấn đề kinh tế - văn hóa – xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng bản Việt Nam một số vấn đề kinh tế - văn hóa – xã hội
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
17. Hoàng Quyết- Tuấn Dũng (1994), “Phong tục tập quán của dân tộc Tày ở Việt Bắc” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục tập quán của dân tộc Tày ở Việt Bắc
Tác giả: Hoàng Quyết- Tuấn Dũng
Năm: 1994
18. Di sản văn hoá con người và môi trường sinh thái nhân văn vùng lòng hồ thuỷ điện Tuyên Quang, Bộ Văn hoá thông tin bảo tàng văn hoá các dân tộc Việt Nam, Nxb VHDT 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản văn hoá con người và môi trường sinh thái nhân văn vùng lòng hồ thuỷ điện Tuyên Quang
Nhà XB: Nxb VHDT 2006
19. Ma Ngọc Dung (2007), Văn hoá ẩm thực của người Tày ở Việt Nam, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá ẩm thực của người Tày ở Việt Nam
Tác giả: Ma Ngọc Dung
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2007
21. Nịnh Văn Độ (chủ biên)(2003), Văn hoá truyền thống các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu ở Tuyên Quang, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá truyền thống các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu ở Tuyên Quang
Tác giả: Nịnh Văn Độ (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2003
23. Giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam (1996), Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu trên cho thấy, người Tày ở huyện Nà Hang có số dân đông  nhất 33.196 người, chiếm 55,2% tổng dân số toàn huyện, cư trú ở hầu khắp các  xã, thị trấn trong huyện - tri thức bản địa về ứng xử xã hội trong cộng đồng người tày ở huyện nà hang - tỉnh tuyên quang giai đoạn 1986 - 2010
Bảng s ố liệu trên cho thấy, người Tày ở huyện Nà Hang có số dân đông nhất 33.196 người, chiếm 55,2% tổng dân số toàn huyện, cư trú ở hầu khắp các xã, thị trấn trong huyện (Trang 15)
Bảng 2: Thống kê dân số người Tày theo xã ở huyện Nà Hang tỉnh Tuyên Quang - tri thức bản địa về ứng xử xã hội trong cộng đồng người tày ở huyện nà hang - tỉnh tuyên quang giai đoạn 1986 - 2010
Bảng 2 Thống kê dân số người Tày theo xã ở huyện Nà Hang tỉnh Tuyên Quang (Trang 17)
Bảng số liệu trên cho thấy, người Tày ở Nà Hang tập trung đông nhất ở - tri thức bản địa về ứng xử xã hội trong cộng đồng người tày ở huyện nà hang - tỉnh tuyên quang giai đoạn 1986 - 2010
Bảng s ố liệu trên cho thấy, người Tày ở Nà Hang tập trung đông nhất ở (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w