Giới thiệu về cấu trúc nhà sàn, nhà đất của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên trước năm 1945.. Chúng tôi mong muốn góp phần tìm hiểu thêm tính đa dạng trong kiến trúc ngôi nh
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÁI NGUYÊN
CHUYÊN NGÀNH : LỊCH SỬ VIỆT NAM
Thái Nguyên, năm 2011
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1.Lý do chọn đề tài: 4
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3.Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp của đề tài: 7
6 Cấu trúc đề tài: 7
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT HUYỆN ĐỒNG HỶ - TỈNH THÁI NGUYÊN 8
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 8
1.2 Lịch sử hành chính của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 13
1.3 Các thành phần dân tộc và người Nùng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 16
1.3.1 Các thành phần dân tộc huyện Đồng Hỷ 16
1.3.2 Người Nùng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 18
Chương 2 : NHÀ CỦA NGƯỜI NÙNG HUYỆN ĐỒNG HỶ-TỈNH THÁI NGUYÊN TRƯỚC NĂM 1945 25
2.1 Các loại hình nhà của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 25 2.2 Giới thiệu về cấu trúc nhà sàn, nhà đất của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên trước năm 1945 26
2.2.1 Cấu trúc nhà sàn của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên trước năm 1945 26
2.3 Quá trình xây dựng nhà của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 32
2.3.1 Chọn đất và hướng nhà: 32
2.3.2 - Chọn vật liệu 33
2.3.3 - Chọn tuổi làm nhà và ngày khởi công 35
Trang 32.3.4 - Lễ phát mộc 36
2.3.5 - Ngày dựng và cách thức dựng 37
2.3.6 Lễ vào nhà mới 38
2.3.7 Những tín ngưỡng khác liên quan đến ngôi nhà 45
CHƯƠNG 3 NHỮNG BIẾN ĐỔI VỀ CẤU TRÚC NHÀ CỦA NGƯỜI NÙNG Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY 48
3.1 Loại hình nhà và cấu trúc nhà của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên từ năm 1945 đến nay 48
3.1.1 Nhà sàn: 48
3.1.2 Nhà đất: 57
3.1.3 Nhà nửa sàn, nửa đất: 62
3.1.4 Kiến trúc công cộng: 63
3.2 Quá trình xây dựng nhà của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 68
2.3.1 Chọn đất và hướng nhà: 68
2.3.2 - Chọn vật liệu 70
2.3.3 - Chọn tuổi làm nhà và ngày khởi công 72
2.3.4- Ngày dựng và cách thức dựng 74
2.3.5- Lễ vào nhà mới 75
3.3 Nguyên nhân của sự thay đổi và một vài nhận xét nhà của người Nùng huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên từ năm 1945 đến nay 76
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Người xưa có câu : "Có an cư mới lạc nghiệp", ngôi nhà có vai trò rất
quan trọng đến đời sống văn hoá của con người Ngôi nhà không chỉ phục vụ nhu cầu mà còn biểu hiện điều kiện sống, trình độ phát triển của một dân tộc
và nó mang ý nghĩa tâm linh trong văn hoá truyền thống tộc người
Dân tộc nào cũng làm nhà để ở nhưng tuỳ thuộc vào nghề nghiệp và điều kiện tự nhiên, nhà của mỗi dân tộc khác nhau có nét khác nhau, mỗi dân tộc
có nét đặc trưng riêng của dân tộc mình Có các loại nhà: Nhà hầm, nửa hầm
ở phía Bắc Trung Quốc; có loại nhà đất, nhà sàn ở nước ta Có nhà hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn, có nhà bốn mái hoặc 2 mái Cách xây dựng
và bố trí trong các ngôi nhà của các dân tộc ở các địa phương có sự khác nhau Sự khác nhau đó chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
Chọn đề tài “Nhà của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ- tỉnh Thái Nguyên
từ năm 1945 đến nay” Chúng tôi mong muốn góp phần tìm hiểu thêm tính đa
dạng trong kiến trúc ngôi nhà của đồng bào Nùng ở huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và sự khác biệt so với đồng bào các dân tộc khác định cư ở những khu vực khác
Đề tài nghiên cứu quá trình biến đổi ngôi nhà của người Nùng, tác giả hy vọng đây sẽ là một trong những tài liệu cần thiết cho quá trình học tập, nghiên cứu các bộ môn: Dân tộc học, Lịch sử địa phương, Cơ sở văn hoá Mặt khác,
đề tài còn là cơ sở để các cấp lãnh đạo, chính quyền và nhân dân địa phương
có một cách nhìn đầy đủ hệ thống về kiến trúc địa phương Từ đó đồng bào Nùng ở Đồng Hỷ biết giữ gìn và kế thừa nét đẹp văn hoá của dân tộc mình
Trang 52 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong quá trình làm đề tài, chúng tôi được thửa hưởng một số kết quả nghiên cứu của những người đi trước Tuy nhiên, những kết quả này chỉ mang những nét chung, đặc điểm khái quát Có thể kể đến các tác giả:
1 “Các dân tộc ít người ở Việt Nam" ( Các tỉnh Phía Bắc) ( 1975) Tác
phẩm nêu khái quát đặc điểm kinh tế – xã hội của các dân tộc ít người ở phía Bắc nước ta
2 Nguyễn Khắc Tụng ( 1978), " Nhà cửa các tộc ở trung du Bắc Bộ Việt
Nam" Tác phẩm nêu lên khái quát đặc điểm ngôi nhà của các dân tộc ít người ở
khu vực trung du Bắc Bộ
3 Các dân tộc ở Việt Nam, Viện Dân tộc học, Hà Nội ( 1992) Tác phẩm
đề cập khái quát nguồn gốc, đời sống vật chất, tinh thần của các dân tộc thiểu
số ở Việt Nam
4 Hoàng Nam ( 1992) " Dân tộc Nùng ở Việt Nam" Tác phẩm đề cập
khái quát nguồn gốc, đời sống vật chất, tinh thần của các dân tộc Nùng ở Việt Nam
Ngoài ra, chúng tôi còn được nghiên cứu các tài liệu, tạp chí Dân tộc học Viết về vấn đề dân tộc Nùng và kiến trúc nhà của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Tất cả những công trình nghiên cứu trên, các tác giả đề cập đến nhà của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam; đời sống vật chất, tinh thần của dân tộc Nùng nhưng ở mức khái quát Cho đến nay, chưa có công trình khoa học
nào đi sâu nghiên cứu "Nhà của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái
Nguyên từ năm 1945 đến nay" Tuy nhiên, để hoàn thành được đề tài nghiên
cứu, những tài liệu trên đã giúp chúng tôi có một góc nhìn sâu sắc, toàn diện
về vấn đề nghiên cứu
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Đề tài : " Nhà của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên từ
năm 1945 đến nay" chúng tôi mong muốn góp phần bảo tồn, phát triển những
nét đẹp văn hoá truyền thống của đồng bào Nùng ở địa phương Góp phần
Trang 6phản ánh một cách khách quan về lịch sử phát triển ngôi nhà cũng như kỹ thuật làm nhà của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ - Tỉnh Thái Nguyên Từ đó cũng thấy được bản sắc văn hoá và trình độ phát triển của người Nùng ở địa phương Qua việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi cũng hy vọng chính quyền và đồng bào dân tộc Nùng ở địa phương có những biện pháp bảo tồn và phát huy những yếu tố văn hoá truyền thống phục vụ cho công cuộc xây dựng đời sống văn hoá mới ở địa phương
- Đối tượng nghiên cứu:
Ngôi nhà của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên (trước
và sau năm 1945)
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu nhà của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ - Tỉnh Thái Nguyên
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
- Nguồn tư liệu:
+ Tư liệu thành văn bao gồm các tác phẩm nghiên cứu kiến trúc nhà ở; đời sống văn hoá vật chất, tinh thần của dân tộc Nùng Một số tạp chí Dân tộc học, Lịch sử địa phương cũng là nguồn tư liệu để chúng tôi kế thừa và sử dụng trong đề tài
+ Tư liệu điền đã:
Qua các đợt điền đã đến huyện đồng Hỷ - chúng tôi được quan sát kiến trúc nhà cửa của người Nùng ở địa phương và được tiếp xúc với các nhân mối lịch sử để khai thác nguồn tư liệu
- Phương pháp nghiên cứu :
Để hoàn thành đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp khai thác tư liệu thành văn với phương pháp điền dã dân tộc học Mặt khác, khi nghiên cứu về nhà cửa của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ, chúng tôi đặt đối tượng nghiên cứu trong quan hệ chung của kiến thức cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam, để tiến hành so sánh đối chiếu, Từ đó thấy được nét tương đồng, giao thoa và các yếu tố văn hoá mang đặc thù của địa phương
Trang 75 Đóng góp của đề tài:
- Dựa trên những nguồn tư liệu đã khai thác, đề tài bước đầu khôi phục hình ảnh ngôi nhà, kỹ thuật làm nhà của người Nùng huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên
- Mặt khác, đề tài góp phần chỉ ra những đặc điểm riêng trong cấu trúc
và kỹ thuật làm nhà của người Nùng ở địa phương so với các địa phương khác
- Đề tài là nguồn tư liệu tham khảo bổ ích cho quá trình học tập các bộ môn Lịch sử địa phương, Dân tộc học, Cơ sở văn hoá…Ngoài ra đề tài còn là
cơ sở để các cấp chính quyền và nhân dân địa phương có những biện pháp giữ gìn phát huy nét đẹp văn hoá dân tộc
6 Cấu trúc đề tài:
Đề tài gồm 3 phần : Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận
Phần mở đầu : Gồm
Phần nội dung : Gồm 3 chương
Chương 1: Khái quát huyện Đồng Hỷ- Tỉnh Thái Nguyên
Chương 2: Nhà của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên trước năm 1945
Chương 3: Những biến đổi cấu trúc nhà của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ- tỉnh Thái Nguyên từ năm 1945 đến nay
Phần kết luận:
Ngoài ra đề tài còn bao gồm phần mục lục, phụ lục và tài liệu tham khảo
Trang 8CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT HUYỆN ĐỒNG HỶ - TỈNH THÁI NGUYÊN 1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Đồng Hỷ là một huyện miền núi cách trung tâm thành phố Thái Nguyên
được đặt tại thị trấn Chùa Hang Phía Bắc giáp với huyện Võ Nhai và tỉnh Bắc Kạn; phía Nam giáp với huyện Phú Bình và thành phố Thái Nguyên; phía Đông giáp với tỉnh Bắc Giang; phía Tây giáp với huyện Phú Lương và thành phố Thái Nguyên
Địa hình Đồng Hỷ chủ yếu là đồi núi thấp chạy theo hướng Bắc – Nam, thấp dần từ Bắc xuống Nam Bao quanh phía Tây Nam và phía Bắc là những dãy núi Tam Đảo, Ngân Sơn
Địa hình đồi núi của địa phương chiếm ưu thế, vì vậy tính phân bậc của địa hình được thể hiện khá rõ nét hơn những vùng khác Địa hình thường đuợc phân theo các bậc địa hình sau:
Bậc 1 (<15m): là bậc địa hình thấp nhất trong huyện, thường kéo dài thành dải hẹp, rộng 1- 2km( Huống Thượng, Đồng Bẩm…)
Bậc 2 ( 15 – 25m): phân bố rộng rãi dọc theo thung lũng sông Cầu
Bậc 3 (25 -75m) chiếm phần lớn diện tích khu vực Đông Bắc tiếp giáp thành phố Thái Nguyên
Bậc 4( 75 – 200m) chiếm phần lớn diện tích ở các xã phía Bắc và Tây Bắc
Bậc 5 (600 – 1.000m) chiếm diện tích nhỏ hơn tập trung ở Đông Bắc và phía Bắc huyện
Bậc 7 (1.000 – 1.500m) phân bố thành các cụm nhỏ thuộc dãy Tam Đảo Dựa trên đặc điểm hình thái, đặc biệt là dựa trên cơ sở phân tích hình thái trắc lượng, mà trước hết là các số liệu chia cắt sâu của địa hình có thể chia ra 03 nhóm hình thái địa hình: đồng bằng, đồi và núi
Trang 9Huyện Đồng Hỷ có địa hình thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam, với
độ cao trung bình 80m so với mặt nước biển Trong đó, cao nhất là Lung Phương (xã Văn Lăng) và Mỏ Ba (xã Tân Long) trên 600m, nơi thấp nhất là Đồng Bẩm, Huống Thượng 20m Ở phía Bắc và Đông Bắc có địa hình núi cao, chia cắt phức tạp có nhiều khe suối với độ cao trung bình là 120m Địa hình chủ yếu là những dãy đá vôi kéo dài và cấu tạo theo kiểu địa hình Casstơ Tuy nhiên, xen kẽ giữa các dãy núi là thung lũng thấp có điều kiện thuận lợi cho canh tác nông nghiệp Đặc điểm địa hình và khí hậu tạo ra cho địa phương có thế mạnh phát triển nông nghiệp và lâm nghiệp
Đồng Hỷ có diện tích đất tự nhiên 52.085 ha với nhiều loại đất khác nhau Trong đó, đất núi chiếm 49% với độ cao trung bình 200m Đất đồi chiếm 36%; đất ruộng bãi chiếm 10% được phân bố dọc theo sông suối, chịu tác động của chế độ thuỷ văn Đồng Hỷ có tổng diện tích tự nhiên 520,59km2 Trong đó đất lâm nghiệp chiếm 50,8%, đất nông nghiệp 16,4%, đất thổ cư 3,96%, đất cho các công trình công cộng 3,2%, và đất chưa sử dụng chiếm 25,7%
Núi Chùa Hang – xưa còn gọi là núi đá Hoá trung, núi Long Tuyền nằm trên đất thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ ngày nay Chùa Hang là một trong những danh thắng nổi tiếng của tỉnh Thái Nguyên
Núi Voi, còn có tên là núi Thạch Tượng, núi Tượng Lĩnh ở xã Hoá Thượng Thế núi hiểm trở, giống hình con voi Cuối thế kỷ XVI, nhà Mạc lấy núi làm căn cứ chống quan quân nhà Lê – Trịnh
Đồng Hỷ nằm ở phía bắc của đồng bằng Bắc Bộ, là huyện thuộc vùng đồi núi có nhiều kiểu địa hình khác nhau
Cũng như các địa phương khác thuộc Thái Nguyên, chế độ nhiệt ở huyện Đồng Hỷ có hai mùa rõ rệt, mùa nóng và mùa lạnh Nhiệt độ trung bình năm
Trang 10bình dưới 180C (ở các vùng đồi núi từ 400m trở lên có thể có tới 5 tháng) Tháng 1 là tháng lạnh nhất, nhiệt độ trung bình khoảng 15 - 160C ở vùng thấp;
Bắc Bộ 10 – 15 ngày, các huyện miền núi dài hơn các huyện miền xuôi 5 – 7 ngày Những đợt không khí lạnh tràn về làm nhiều ngày nhiệt độ trung bình xuống dưới 150C Ba tháng nhiệt độ lạnh nhất trong năm là tháng 12, 1, 2
mạnh mẽ gây nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp.Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng10 Vào mùa nóng, ở vùng thấp có 5 tháng nhiệt độ trung bình vượt
nóng nhất là tháng 7 nhiệt độ trung bình khoảng 28 - 29 0C Mùa nóng ở huyện Đồng Hỷ nói riêng Thái Nguyên nói chung ngắn hơn ở Hà Nội, dài hơn
ở Cao Bằng, vùng thấp mùa nóng kéo dài 5 tháng, lên miền núi chỉ còn 4 – 5 tháng Ở đây vào mùa hè cũng có những ngày nóng gió Tây rất có hại cho con người, vật nuôi và cây trồng
Theo "Đại nam nhất thống chí" có chép: "Có huyện Tư Nông, Đồng Hỷ,
Phú Lương, Bình Xuyên khí hậu lam chướng hơi nhẹ" Như vậy, Đồng Hỷ
chịu ảnh hưởng khá mạnh của gió mùa đông Bắc
Lượng mưa trung bình hằng năm từ 2000 - 2100mm Chế độ mưa có thể phân biệt thành 2 mùa, mùa mưa nhiều và mùa mưa ít Mùa mưa trùng với mùa nóng, thời kỳ có lượng mưa tháng vượt 100mm kéo dài 7 tháng, từ tháng
5 đến tháng 10, chiếm 80% đến 90% lượng mưa cả năm Mùa mưa ít trùng với mùa lanh, từ tháng 11 đến tháng 3 lượng mưa chỉ từ 200 đến 400mm, bằng 10% đến 15% lượng mưa cả năm
Ở Đồng Hỷ thời kỳ khô với lượng mưa tháng nhỏ hơn 50mm, thường bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 4 năm sau
Độ ẩm tương đối trung bình khá cao, trung bình năm đạt khoảng 82% đến 84%
Trang 11Hướng gió thay đổi theo mùa rõ rệt phù hợp với sự thay đổi của hệ thống hoàn lưu Mùa Đông gió thịnh hành có thành phần Bắc chủ yếu, chiếm tới 40% Mùa hè gió mùa Đông Nam chiếm tỷ lệ hơn 50% So với các địa phương khác, tốc độ gió ở Đồng Hỷ nhỏ hơn 0,5 – 1 m/giây Phía Nam của huyện địa hình bằng phẳng, tốc độ gió lớn hơn các huyện miền núi Phía Tây gió thổi mạnh vào tháng 4, tháng 5 Phía Đông gió thổi mạnh vào tháng 1, tháng 2 Những vùng địa hình nhỏ hơn 100m tần suất lặng gió chiếm khoảng 15% – 20%, vùng núi 25% – 30% Tần suất lặng gió mùa Đông và mùa hè xấp xỉ nhau Gió lạnh thường xuất hiện khi có đông lạnh tràn về, có khi gió đạt cấp 8 (17m/giây) Bão vào mùa hè, gió có thể đạt vận tốc từ 20 – 30m/giây
Sự phân hoá theo mùa của khí hậu có ý nghĩa rất quan trọng về mặt thực tiễn Nó quyết định trực tiếp hay gián tiếp đến đời sống kinh tế – xã hội của địa phương
Hoàn lưu gió mùa ảnh hưởng đến tiểu vùng khí hậu này, mỗi năm có 22 đợt gió mùa đông bắc làm xuất hiện không khí lạnh và ít mưa vào mùa Đông Mặt khác, do ảnh hưởng của đặc điểm địa hình núi cao, nên tính chất nóng ẩm của khí hậu tăng, lượng mưa tương đối nhiều, có mùa đông lạnh nhưng không
ổn định Khí hậu ở địa phương được chia làm 02 mùa rõ rệt (mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10; mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 03 năm sau) Tháng 7
là tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm Ngược lại, tháng 1 là tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất
Sông suối ở Đồng Hỷ nhìn chung đều bắt nguồn từ khu vực núi cao phía Bắc và Đông bắc chảy vào Sông Cầu Mật độ sông suối trung bình là
giới phía Tây huyện Đồng Hỷ dài 47 km Sông là nguồn cung cấp nước chính của huyện, cho phép khai thác vận tải đường thuỷ với tỉnh Bắc Kạn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương Tuy nhiên, chế độ dòng chảy thất thường, về mùa mưa thường gây úng lụt, mùa khô nước sông xuống thấp gây hạn hán
Trang 12Ngoài ra, huyện còn có nhiều sông suối: Khe Mo, Ngàn Me và nhiều hồ nước nhỏ để phục vụ sản xuất và sinh hoạt
Giao thông đường bộ của huyện Đồng Hỷ tương đối phát triển Tổng chiều dài đường bộ 729,8km, trong đó đường 1B từ Thái Nguyên đi Lạng Sơn qua huyện 15,5km Điều đó tạo thuận lợi cho huyện có thể giao lưu văn hoá, thương mại với các tỉnh lân cận
Đồng Hỷ nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam, tài nguyên
thiên nhiên khoáng sản rất phong phú Sách "Đại nam nhất thống chí" có ghi
"Vàng mỏ vàng Bảo Nang mỗi năm nộp thuế 6 lạng Sắt ở các huyện Phổ
Yên, Đồng Hỷ, Phú Lương Mỏ Bảo Nang mỗi năm nộp thuế 2.500 cân"
Ngoài ra còn có các tài nguyên khác rất phong phú " Cỏ tranh, lá cọ, các loại
mây, hậu phát, sa nhân, tre nứa, tre gai, tre hoa, gỗ lim, gỗ sến, gỗ đinh, gỗ tấu, gỗ xoan các thứ ở trên đều sản ở các Châu: Đồng Hỷ, Phổ Yên, Phú Lương" Do đặc trưng địa hình đồi núi và khí hậu nhiệt đới gió mùa nên địa
phương có điều kiện phát triển nông nghiệp và lâm nghiệp Ngành nông nghiệp của huyện Đồng Hỷ chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi nằm ở vị trí thứ yếu Diện tích lâm nghiệp của địa phương chỉ tập trung các loại rừng tái sinh,
ít gỗ quý hiếm, diện tích rừng chỉ có ý nghĩa trong việc sử dụng làm đồ sinh hoạt gia đình và làm nhà Diện tích rừng đầu nguồn thường xuyên bị xâm phạm do khai thác gỗ, củi bừa bãi và việc đốt nương làm rẫy vẫn chưa được ngăn chặn triệt để làm cho đất trống, đồi trọc vẫn còn một diện tích không nhỏ
Đất rừng, đồi núi của huyện Đồng Hỷ chiếm 85% diện tích tự nhiên Phần lớn rừng bị nghèo kiệt Tốc độ tăng trưởng ngành lâm nghiệp từ năm
1991 đến 1998 giảm bình quân 4,7% do rừng đang ở thời kỳ phục hồi và chủ trương đóng cửa rừng của Nhà nước Trong những năm gần đây, huyện đã có chính sách về rừng nên tốc độ phục hồi khá mạnh Ngoài rừng tái sinh được chăm sóc bảo vệ, mỗi năm bình quân toàn huyện trồng được 150 ha rừng Xét
Trang 13về tiềm năm lâu dài tiềm năng kinh tế lâm nghiệp của huyện Đồng Hỷ là rất lớn
Trước nguy cơ rừng bị tàn phá, các cấp lãnh đạo không ngừng đổi mới công tác quản lý nhằm xã hội hoá công tác bảo vệ tài nguyên rừng, trong đó đáng kể nhất là việc tổ chức giao đất, giao rừng cho dân từ năm 1995 đến 1998; việc phủ xanh đất trống, đồi trọc bằng chương trình PAM, 327, 611 đã trồng mới nhiều diện tích đất rừng Đặc biệt, việc khai thác bừa bãi được lực lượng Kiểm lâm ngăn chặn Hiện tượng cháy rừng giảm hẳn Theo nhận xét của các nhà Sinh vật học, Lâm học cho thấy số họ, loại, giống sinh vật đã có những biến động đáng kể Một số loài thực vật quý hiếm bị giảm và mất nhiều như: đinh, lim, sến, tấu, de, dổi, lát, chò chỉ…gần như không còn Tóm lại, tài nguyên thực vật của địa phương đã bị con người làm cạn kiệt do nạn phá rừng làm nương rẫy
Điều kiện tự nhiên tài nguyên thiên nhiên của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên tương đối phong phú, đa dạng là khu vực thuộc vùng trung du miền núi phía bắc nên điều kiện tự nhiên của địa phương chỉ thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và khai thác khoáng sản Điều kiện tự nhiên trên đây đã ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến đời sống văn hoá của cư dân địa phương, đặc biệt là loại hình nhà cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số
1.2 Lịch sử hành chính của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
Huyện Động Hỷ được đặt từ thời nhà Trần Năm 1469, dưới triều vua Lê Thánh Tông đổi thành Đồng Hỷ; sau đổi thành huyện Đồng Gia, rồi lại đổi
thành Đồng Hỷ Theo sách " Đại Nam nhất thống chí", dưới triều đại Lê thời
vua Hồng Đức(1460 - 1497), huyện Đồng Hỷ nằm trong phủ Phú Bình thuộc
xứ Thái Nguyên, do phiên thần họ Ma nối đời cai trị Đời Nguyễn Gia Long vẫn giữ nguyên như thế Lỵ sở đặt tại xã Nhẫm Quang Đến năm Minh Mệnh
thứ 16(1835), triều Nguyễn định ra chế độ “lưu quan”, lỵ sở chuyển về xã
Huống Thượng Vào thời ấy, huyện Đồng Hỷ gồm 9 tổng 33 xã; từ Đông sang Tây cách nhau 41 dặm Nam - Bắc cách nhau 97 dặm; phía Đông đến tận
Trang 14địa giới huyện Tư Nông ( nay là huyện Phú Bình), phía Tây đến địa giới huyện Phú Lương ( thuộc phủ Tùng Hoá), phía Nam đến địa giới huyện Phổ Yên, phía Bắc đến địa giới huyện Võ Nhai
So với các huyện khác trong tỉnh Thái Nguyên, Đồng Hỷ luôn xáo động
về địa dư hành chính, nhất là thế kỷ XX mà nửa cuối thế kỷ này gần như thập
kỷ nào cũng có biến động
Năm 1901 Chính quyền thực dân Pháp cúng với việc điều chỉnh địa giới cấp tỉnh, bỏ cấp phủ, đặt cấp châu, huyện trực thuộc tỉnh đã cắt đất 3 tổng Vân Lăng, Thượng Nùng, Linh Sơn về châu Võ Nhai Tách xã Thịnh Đán, Sa Kiệt (Sa Kệ – Sa Cả) khỏi tổng Túc Duyên để thành lập tổng Thịnh Đán Đổi tổng Đồng Bang thành tổng Cam Giá, tách xã Lưu xá của tổng Túc Duyên về tổng Cam Giá, tách xã Vân Hán khỏi tổng Cam Giá để thành lập tổng mới Vân Hán Như vậy, ở đầu thế kỷ XX Đồng Hỷ còn 7 tổng là Túc Duyên, Thịnh Đán, Niệm Cuông (Niệm Quang), Hoá Thượng, Cam Giá, Huống Thượng và Vân Hán
Năm Gia Long thứ 12(1813), thành trấn Thái Nguyên (cũng là trấn lỵ, từ năm 1831 là tỉnh lỵ) được đặt ở làng Đồng Mỗ huyện Đồng Hỷ; Dinh tuần phủ Thái Nguyên cũng đặt ở Đồng Mỗ (nay là đất phường Trưng Vương); huyện lỵ Đồng Hỷ ở xã Huống Thượng, đầu thế kỷ XX mới chuyển lên Đồng
Mỗ Cách mạng tháng Tám thành công (1945), thị xã Thái Nguyên chính thức trở thành một đơn vị hành chính, chính quyền cách mạng của thị xa ra đời -
đô thị tỉnh lỵ Thái Nguyên mới trở thành thị xã tỉnh lỵ Thái Nguyên, tách ra khỏi huyện Đồng Hỷ
Năm 1957, theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, xã Mỏ Sắt thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang chuyển giao về huyện Đồng Hỷ (xã Mỏ Sắt sau đổi là xã Hợp Tiến) Huyện Đồng Hỷ lúc này có 29 xã là Hợp Tiến, Cây Thị, Nam Hoà, Tân Lợi, Huống Thượng, Văn Hán, Minh Lập, Khe Mo, Linh Sơn, Cao Ngạn, Hoá Thượng, Hoá Trung, Phúc Hà, Thịnh Đán, Phúc Xuân, Phúc Trìu, Tân Cương, Thịnh Đức, Tích Lương, Tân Quang, Bá Xuyên, Bình
Trang 15Sơn, Phúc Tân, Quang Vinh, Đồng Bẩm, Đồng Quang, Túc Duyên, Gia Sàng, Cam Giá
Năm 1958, Chính phủ quyết định lấy một phần đất của các xã Đồng Bẩm, Cao Ngạn, Hoá Thượng để thành lập thị trấn Núi Voi và tiểu khu Chiến Thắng trực thuộc thị xã Thái Nguyên Cho đến trước năm 1962, Đồng Hỷ bao gồm 29 xã (trong đó có xã Hợp Tiến của huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang) Từ
ngày 19-10-1962, theo quyết định Số 114 của Phủ Thủ tướng, thị xã Thái
Nguyên được nâng cấp trở thành thành phố trực thuộc tỉnh Thái Nguyên Sáu
xã của Đồng Hỷ (Gia Sàng, Cam Giá, Đồng Mỗ, Đồng Quang, Quang Vinh, Đồng Bẩm) được giao về thành phố Thái Nguyên
Tháng 7 - 1985, thực hiện Quyết định Số 102 của Hội đồng Bộ trưởng,
huyện Đồng Hỷ lại cắt 2 xã ( Bá Xuyên và Tân Quang) để thành lập thị xã Sông Công, giao 2 xã ( Bình Sơn và Phúc Tân) cho huyện Phổ Yên và tiếp tục cắt về thành phố Thái Nguyên 7 xã ( Tân Cương, Thịnh Đức, Phúc Trìu, Thịnh Đán, Phúc Xuân, Phúc Hà, Tích Lương); đồng thời nhận lại các xã Đồng Bẩm, Trại Cau, Chiến Thắng và nhận thêm 4 xã của huyện Võ Nhai ( Hoà Bình, Văn Lăng, Tân Long, Quang Sơn)
Từ năm 1985, huyện Đồng Hỷ bao gồm 17 xã, 3 thị trấn ( Chùa Hang, Trại Cau, Sông Cầu); diện tích tự nhiên khoảng 50.000ha, trong đó diện tích canh tác hơn 5000 ha Huyện lỵ đặt tại xã Đồng Bẩm Về phía Đông, huyện Đồng Hỷ giáp tỉnh Bắc Giang; phía Tây giáp huyện Phú Lương; phía Bắc giáp huyện Võ Nhai; phía Nam giáp thành phố Thái Nguyên và huyện Phú Bình
Sau khi tiếp nhận tiểu khu Chiến Thắng và thị trấn Núi Voi huyện đã hợp nhất hai đơn vị này thành thị trấn Chùa Hang – thị trấn huyện lỵ
Tháng 12 năm 2005 huyện Đồng Hỷ có 20 đơn vị hành chính (17 xã, 3 thị trấn) gồm 240 xóm, 58 tổ dân phố Xã Văn Lăng có 16 xóm, xã Hoà Bình
có 7 xóm, Xã Tân Long có 9 xóm, xã Quang Sơn có 15 xóm, xã Hoá Thượng
có 17 xóm, xã Hoá Trung có 13 xóm, xã Minh Lập có 19 xóm, xã Cao Ngạn
Trang 16có 17 xóm, xã Đồng Bẩm có 10 xóm, xã Khe Mo có 15 xóm, xã Văn Hán có
17 xóm, xã Linh Sơn có 14 xóm, xã Nam Hoà có 22 xóm, xã Tân Lợị có 10 xóm, xã Cây Thị có 8 xóm, xã Hợp Tiến có 10 xóm, xã Huống Thượng có 10 xóm, thị trấn chùa Hang có 42 tổ dân phố, thị trấn Sông Cầu có 11 xóm, thị trấn Trại Cau có 16 tổ dân phố
1.3 Các thành phần dân tộc và người Nùng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
1.3.1 Các thành phần dân tộc huyện Đồng Hỷ
Đồng Hỷ tuy là huyện có mật độ dân cư không lớn, nhưng là nơi tụ họp
của nhiều dân tộc cùng sinh sống "Sống xen kẽ là một trong những đặc điểm
quan trọng của các dân tộc ít người trên đất nước ta" [9, tr247] Theo điều tra
dân số năm 1999 Đồng Hỷ có trên 40 dân tộc khác nhau cùng sinh sống, trong
đó dân tộc Nùng giữ vị trí đông đảo trong cộng đồng cư dân địa phương
Bảng thống kê các dân tộc ở Đồng Hỷ năm 1999
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên 1999)
Như vậy, trong tổng số trên 40 dân tộc cư trú ở Đồng Hỷ thì dân tộc Nùng chiếm 13,19% Hiện nay, người Nùng đang sống xen kẽ với các dân tộc khác, tập trung chủ yếu ở xã Văn Lăng, Tân Long, Minh Lập, Quang Sơn, Hoà Bình Đặc biệt, xã Tân Long có 2.315 người chiếm 42,3% trong tổng
Trang 17số 5.343 nhân khẩu Tính đến tháng 12/2006 huyện Đồng Hỷ có số dân 124.722người gồm 29.471 hộ, trong đó dân tộc Kinh chiếm 63,3%, Nùng 13,2%, Dao 4,4%, Tày 2,5%, HMông khoảng 1,6%, còn lại các dân tộc khác 4,74% Dân số nông thôn 59,29%, đô thị 13,71%, số người trong độ tuổi lao động 42%, trong đó lao động nông nghiệp 73,5%
Tốc độ tăng trưởng dân số Đồng Hỷ ở thập kỷ cuối thế kỷ XX có xu thế giảm dần: năm 1991 là 2,09%, năm 1995 là 2%, năm 1998 là 1,86%
Mật độ dân cư của huyện 215 người/km2 (toàn tỉnh 303 người/km2) Phân bố dân cư trên lãnh thổ không đều, có sự chênh lệch tương đối lớn, cao nhất là thị trấn Chùa Hang 2966 người/km2, thấp nhất là xã Hợp Tiến 53 người/km2
Cư dân Đồng Hỷ gồm nhiều bộ phận hợp thành Một bộ phận là dân bản địa, có mặt từ lâu đời Một bộ phận là dân phu được tuyển mộ từ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ đến làm trong các đồn điền, hầm mỏ của các chủ người Pháp, người Việt ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Một bộ phận nhân dân ở các tỉnh Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Thái Bình…ở thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ XX được vận động lên Đồng Hỷ tham gia phát triển kinh tế – văn hoá Cùng thời gian này Nhà nước mở nhiều công trường, nông trường, xí nghiệp trên địa bàn huyện, hàng ngàn người ở khắp các miền đất nước đã về đây lao động sinh sống
Từ cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX, tình hình biên giới phía Bắc có những diễn biến phức tạp, gần 2000 đồng bào H’Mông từ các tỉnh biên giới đã di chuyển về Đồng Hỷ làm ăn, sinh sống Đây là tộc người di cư đến Đồng Hỷ muộn nhất Tuy địa phương có nhiều dân tộc khác nhau cùng sinh sống nhưng
giữa các dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau “Trong sinh hoạt, trong
lao động sản xuất, trong đấu tranh chống thiên nhiên và đấu tranh xã hội mối quan hệ giúp đỡ nhau ngày càng được tăng cường và mối tình đoàn kết gắn
bó giữa các dân tộc ngày càng bền chặt Do vậy ngoài nét đặt thù trong văn
Trang 18hóa của các dân tộc ở mỗi địa phương còn có sự giao thoa văn hoá ảnh hưởng lẫn nhau”[9, tr 247]
1.3.2 Người Nùng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Chiếm tỷ lệ đa số và tập trung ở hầu hết khắp các xã của huyện, dân tộc Nùng giữ vai trò rất quan trọng trong hoạt động chính trị - kinh tế - xã hội của huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên Trong toàn huyện người Nùng có 14.651 nhân khẩu, song gồm 03 nhóm cơ bản: Nùng An, Nùng Phanslinh và Nùng Cháo Trong đó, người Nùng Phanslinh chiếm đa số
Khi nói về người Nùng có thể xác định, tộc danh Nùng bắt nguồn từ tên của dòng họ Nùng - một trong bốn dòng họ có thế lực dưới thời Đường (618
- 905) ở Quảng Tây, Trung Quốc Bao gồm: Hoàng, Nùng, Chu, Vi Tộc Nùng ngày càng mở rộng thế lực, mở rộng địa bàn cư trú về phía Đông, Tây
và Nam
Người Nùng ở Việt Bắc nói chung và ở huyện Đồng Hỷ nói riêng họ di
cư từ Quảng Tây sang cách đây khoảng 9 - 10 đời người (tức khoảng 200 -
300 năm)
Nguyên nhân những cuộc thiên di ồ ạt của người Nùng từ Quảng Tây, Trung Quốc sang Việt Nam là do ách áp bức, bóc lột của các thế lực phong kiến Trung Quốc Mặt khác do loạn lạc cướp bóc cùng nạn thiếu ruộng đất canh tác cũng là điều buộc họ phải đi tìm kế sinh nhai ở vùng đất mới
Người Nùng Phanslinh ở huyện Đồng Hỷ có nguồn gốc từ Châu Vạn Thành- Quảng Tây, Trung Quốc; người Nùng Cháo có nguồn gốc từ Long Châu di cư sang
Do vậy các học giả từ cổ đại đến nay, đều cho rằng người Nùng họ có nguồn gốc từ khối Bách Việt thời cổ đại Đây là nguyên nhân khiến người Nùng ở huyện Đồng Hỷ và người Nùng ở Việt Bắc được người Trung Quốc
gọi là " Xứ Nùng"
Trang 191.3.2.1 Hoạt động kinh tế:
Nông nghiệp:
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất chính của huyện Đồng Hỷ
Do vậy, hoạt động kinh tế của đồng bào Nùng ở địa phương chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Cây lúa nước là nguồn sống chủ yếu của đồng bào Nùng Giống lúa được đồng bào ở địa phương thường trồng là lúa bao thai và tạp giao Hàng năm ở địa phương tiến hành sản xuất được 02 mùa vụ Ngoài lúa nước cư dân địa phương còn trồng trọt một số loại cây công nghiệp như chè, lạc Nhìn chung kết quả sản xuất nông nghiệp còn thấp Nông nghiệp chăn nuôi chưa được chú ý phát triển Mục đích chăn nuôi chủ yếu nhằm cung cấp sức kéo và phân bón Nền sản xuất mang tính tự cung tự cấp Do đặc thù sinh sống ở các triền núi, đồng bào thường vào rừng khai thác một số thực phẩm: Thu hái các loại rau, măng rừng, hoa quả, nấm trên cạn và bắt một số động vật ở dưới nước Điều này làm cho đời sống kinh tế của cư dân địa phương thêm đa dạng Công cụ làm đát của người Nùng ở địa phương gồm có : cày, bừa (răng sắt và răng gỗ), trục lăn đất, cuốc bàn, cuốc bướm, mai, xẻng, cào…Cày làm đất của người Nùng trước đây là kiểu cày chìa vôi Bừa có 2 loại bừa răng sắt mua của người Kinh và bừa răng gỗ tự làm
Ruộng cấy lúa được bón lót bằng phân chuồng, phân xanh…Những năm gần đây việc bón thúc, bón đón đòng bằng phân lân, phân N – P – K đã trở thành phổ biến Ruộng lúa của họ làm cỏ 2, 3 lần bằng tay hoặc cào cỏ cải tiến Theo kinh nghiệm của họ, vào vụ mùa, khi lúa đã chắc hạt thì tháo cạn nước trên ruộng để tiện thu hoạch và cày ải; vụ chiêm xuân ruộng luôn giữ nước để sau khi thu hoạch cày giầm rạ và ngâm đất
Để đảm bảo đủ nước cho việc làm ruộng, người Nùng làm mương, phai, lái, lịn, cọn…những khu ruộng cao gần sông, suối không tạo được hệ thống mương phai, họ dùng hệ thống cọn để đưa nước lên cao, dẫn vào ruộng
Trang 20Người Nùng thu hoạch lúa chiêm vào tháng 4, tháng 5; lúa xuân vào tháng 5, tháng 6 và lúa mùa vào tháng 9, tháng 10 âm lịch Dụng cụ thu hoạch phổ biến là liềm, hái, quang gánh
Người Nùng làm nương dốc trên triền núi và nương bằng trên đồi, dọc bãi sông, suối hay hốc đá Cách thức làm nương của họ cũng giống như người Tày, Sán Dìu, Sán Chay và các dân tộc khác trong tỉnh Với nương rẫy, cái khác của người Nùng so với các dân tộc khác là ở các nghi lễ nông nghiệp liên quan đến hoạt động mưu sinh này Họ thường tìm đất làm nương vào tháng Chạp hoặc tháng Giêng Theo kinh nghiệm họ chọn những đám rừng
ẩm, cây xanh tốt, rừng già để làm nương trồng lúa Họ cho rằng, nếu nơi nào nhiều lá mục thì đất tốt, độ ẩm cao, họ không chọn nơi có nhiều thứ cỏ mọc nhanh Phương thức canh tác trên nương gồm các công đoạn: phát, đốt, dọn, gieo hạt…
Chăn nuôi của người Nùng là hoạt động kinh tế mang tính hỗ trợ trồng trọt Tuy nhiên, đối với mọi gia đình người Nùng, đây là hoạt động kinh tế không thể thiếu Chăn nuôi cung cấp sức kéo, thực phẩm cho các dịp ma chay, cưới hỏi, lễ tết và còn là nguồn thu nhập nhất định góp phần giải quyết nhu cầu trang trải, chi tiêu trong gia đình
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
Đây là ngành kinh tế ra đời từ rất sớm trong hoạt động kinh tế của địa phương, nhưng nhìn chung ngành nghề thủ công vẫn chưa tách khỏi nông nghiệp trồng trọt Về cơ bản các ngành nghề thủ công vẫn được xem là nghề phụ của người nông dân Đồng bào địa phương chủ yếu làm nghề thủ công vào những lúc nhàn rỗi và phục vụ nhu cầu gia đình hơn là nhu cầu xã hội Do vậy, ở địa phương chỉ tồn tại một số nghề thủ công như: Đan lát, dệt, rèn Nghề thủ công gia đình của người Nùng so với một vài chục năm trước
đã có những thay đổi Một số nghề có cơ hội phát triển như nghề mộc, nề, làm ngói, gạch, làm chè…, song cũng có nhiều nghề đã mai một do nhiều nguyên nhân như trồng bông, dệt vải, làm đường phên…Nhìn chung, đến nay thủ
Trang 21công nghiệp gia đình của người Nùng vẫn chỉ mang tính hỗ trợ, tự cung, tự cấp cho sinh hoạt gia đình và hoàn toàn mang tính mùa vụ, tranh thủ những khi nông nhàn Sản phẩm thủ công trở thành hàng hoá không nhiều và phần lớn chỉ bán ở chợ trong các làng bản Việc tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoàn toàn mang tính gia đình Họ tự lo lấy nguyên vật liệu, mẫu mã và bao tiêu sản phẩm Tuy có một số người làm mộc hoặc đan lát giỏi (hơn những người khác trong bản), nhưng kỹ xảo nghề nghiệp của họ vẫn còn ở trình độ thấp
Từ năm 2000, Đồng Hỷ tập trung chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên cơ sở xác định 4 cụm công nghiệp chính phù hợp với tiềm năng thế mạnh của từng vùng, động viên, khuyến khích nhiều thành phần kinh tế đầu tư cho sản xuất Nghề truyền thống được duy trì, phát triển; tạo thêm nghề mới, sản phẩm làm
ra đáp ứng nhu cầu thị trường
Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp tăng từ 25,5%
năm 2000 lên 34,7% năm 2006, đưa cơ cấu kinh tế của huyện từ “nông, lâm
nghiệp – công nghiệp – dịch vụ” (năm 2000) sang cơ cấu “công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – nông lâm nghiệp – dịch vụ” (năm 2006) với tỷ lệ tương
ứng 36,9% - 24,0% và 39,1% Tốc độ tăng trưởng thời kỳ 2002 - 2006 của ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp bình quân đạt 17,4%
Thương nghiệp:
Hệ thống chợ ở các khu vực cư trú của người Nùng khá phát triển Người Nùng tới chợ không chỉ để mua bán, mà họ còn tham gia nhiều sinh hoạt văn hoá, giao tiếp khác Vì thế, khi đi chợ họ hay tập trung thành nhóm gồm nhiều người trong một bản Các loại sản phẩm họ mang bán tại các chợ trong vùng gồm: Sản phẩm mộc, đan: Hòm đựng thóc, tủ, quạt hòm, bàn ghế, cót, mẹt…Sản phẩm chăn nuuôi gia súc, gia cầm; sản phẩm trồng trọt; sản phẩm thu hái tự nhiên; các mặt hàng họ mua tại chợ bao gồm nông cụ, quần
áo, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày và thực phẩm…
Trang 22Việc đi chợ trong các gia đình người Nùng không phân biệt lứa tuổi, giới tính, nghĩa là ai cũng có thể tới chợ nếu cần thiết Tuy nhiên, việc mua bán hàng hoá tại chợ phần lớn thuộc về người đàn ông chủ của gia đình Vợ con
họ có thể đi cùng, nhưng ít khi đảm nhiệm việc mang vác hàng hoá và tham gia các hoạt động khác Người Nùng tới chợ bao giờ cũng mang theo chiếc tay nải bên hông Đi chợ ở miền núi đã thành một hoạt động quan trọng không chỉ trong đời sống kinh tế mà còn cả trong đời sống tinh thần của người Nùng cũng như các cư dân khác trong vùng
Do đặc trưng của nền kinh tế và chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên nên nền kinh tế của địa phương chủ yếu là tự cung tự cấp Việc trao đổi buôn bán ít nhộn nhịp (trừ trung tâm thị trấn Chùa Hang và những vùng phụ cận thành phố Thái Nguyên) Mạng lưới thương mại – dịch vụ được mở rộng xuống đến từng thôn xóm Các cơ sở kinh doanh, bao gồm cả chợ khu vực được nâng cấp, mở rộng, mặt hàng đa dạng, phong phú, đảm bảo chất lượng, nâng cao giá trị phục vụ sản xuất và đời sống cho nhân dân các xã vùng cao
và miền núi Nhìn chung, thị trường Đồng Hỷ những năm gần đây có bước phát triển mạnh và lành mạnh Gía trị mức bán lẻ năm 2006 đạt 198,912 tỷ đồng Toàn huyện có 1527 hộ gia đình kinh doanh dịch vu
Một số chợ chính: Chợ Chùa Hang( thị trấn Chùa Hang), chợ Trại Cau (thị trấn Trại Cau), chợ Trại Cài (xã Minh Lập), chợ Khe Mo (xã Khe Mo), chợ Văn Hán (xã Văn Hán)…
Mức sống dân cư, theo kết quả điều tra của huyện năm 2006: tỷ lệ hộ giầu 20,50%, hộ trung bình 59,55%, hộ nghèo 20%, không còn hộ đói 90%
số hộ vùng thấp có nhà xây, hầu hết các gia đình có phương tiện nghe nhìn, 25% số hộ có xe máy Toàn huyện có 7158 máy điện thoại cố định
1.3.2.2 Đời sống vật chất và tinh thần
Để phù hợp với điều kiện sinh hoạt và sản xuất người Nùng thích quây quần thành từng bản, ít thì dăm ba nhà, nhiều thi vài chục nhà
Trang 23Nhà là công trình văn hoá, đồng thời là nơi tụ họp các sinh hoạt văn hóa của gia đình Mặt khác đây là một hình ảnh thu nhỏ của văn hoá dân tộc Ngôi nhà truyền thống tiêu biểu cho dân tộc là ngôi nhà sàn lợp ngói máng Nguyên liệu để làm là gỗ, tre, ngói là những vật liệu có sẵn tại chỗ, kỹ thuật làm nhà của người Nùng là kỹ thuật thủ công thông qua phương pháp: Cắt , cưa, bào, đục lỗ về thiết kế mặt bằng nhà của người Nùng có chiều sâu lớn hơn chiều rộng (theo công thức 3x4)
Quần áo, khăn mũ, dày dép là khuôn mặt là tâm hồn của dân tộc, đồng bào Nùng tự sản xuất quần áo cho riêng mình Nguyên liệu làm quần áo là sợi thực vật, sợi bông Người Nùng rất thích mặc các loại quần áo màu chàm Cách cắt quần áo là cơ sở đầu tiên để tạo dáng và góp phần phia các loại áo theo chức năng xã hội như : Quần áo thường ngày, quần áo cưới, quần áo nam, nữ, trẻ em Điển hình trong trang phục của phụ nữ Nùng là áo năm thân, trong đó có 4 thân dài và 1 thân hụt nằm ở phía ngực bên phải Đặc biệt,
áo phụ nữ Nùng rất rộng phần thân áo và tay áo, do vậy chiều dài của áo thường để trùm mông
Đồng bào Nùng có rất nhiều đồ trang sức, đặc biệt là phụ nữ Người Nùng rất thích đồ trang sức làm bằng kim loại Kim loại tiêu biểu làm đồ trang sức chủ yếu là bằng bạc Đồ trang sức gồm : Vòng cổ, vòng chân, xà tích, khuyên tai… Đồ trang sức không chỉ có ý nghĩa tôn thêm vẻ đẹp cho người phụ nữ, đây còn là đồ vật đảm bảo sức khoẻ cho họ
Văn học dân gian của dân tộc Nùng rất phong phú về nội dung và đa dạng về hình thức Nội dung cơ bản là phản ánh ước mơ của cộng đồng trong đấu tranh xã hội, đấu tranh tự nhiên Bao gồm nhiều thể loại: Thần thoại, truyện cổ, thơ ca Không chỉ vậy, trong văn học dân gian Nùng có một kho tàng tục ngữ, thành ngữ giữ vai trò rất quan trọng Những thành ngữ như những định lý, định luật của xã hội mà đồng bào đã tổng kết qua thực tiễn
Trang 24Bên cạnh đó người Nùng có hệ thống tri thức dân gian rất phong phú Chẳng hạn trong lĩnh vực dự đoán thời tiết, đặc biệt là những tri thức về chữa bệnh bằng các loại thuốc dân gian
Những ngày lễ tết trong năm của người Nùng: Tết Nguyên Đán, Tết mùng 3/3; Mùng 5/5; mùng 6/6; Rằm tháng 7; Tết ăn cơm mới Có thể nói văn hoá của người Nùng khá phong phú và đặc sắc Những giá trị văn hoá truyền thống đã được đồng bào địa phương kế thừa và phát triển, tạo nên tính
đa dạng trong văn hoá các cộng đồng dân tộc Việt Nam
Trang 25Chương 2 NHÀ CỦA NGƯỜI NÙNG HUYỆN ĐỒNG HỶ-TỈNH THÁI
Theo nghĩa rộng “danh từ nhà có thể bao gồm tất cả mọi kiến trúc chiếm
một không gian nhất định mà loài người dùng để thoả mãn thứ nhu cầu về kinh tế - văn hoá - xã hội và sinh hoạt Nhà cùng với công cụ sản xuất, lương thực, quần áo, nhiên liệu đều là của cải vật chất của con người…” [3,tr.185]
Con người sinh ra và lớn lên cần phải có một tổ ấm gia đình để chia sẻ niềm vui và nỗi buồn.Thuở thiếu thời con cái được chăm sóc, che chở dưới tình yêu thương của bố mẹ, lúc trưởng thành họ phải có vợ, có chồng để bắt đầu cuộc sống mới Trong chu kỳ đời người, nếu như hôn nhân là việc trăm năm thì làm nhà cũng là việc đặc biệt quan trọng
Trong quan niệm của người Nùng, con trai sau khi cưới vợ vẫn ở chung với bố, mẹ và anh chị em Tuy nhiên, khi mọi chuyện đã ổn định thì việc tách
ra thành một đơn vị sinh hoạt độc lập trở nên cần thiết Đây là nguyên nhân một căn nhà mới được dựng lên
Ngôi nhà được dựng có thể là nhà cũ hay nhà mới làm song đây là mốc đánh dấu sự kiện trọng đại của một đời người Do vậy, việc dựng nhà, làm nhà luôn được đồng bào chuẩn bị kỹ lưỡng và chu đáo
Xây dựng ngôi nhà lớn hay bé, đẹp hay không tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế vật chất của mỗi gia đình Những gia đình có điều kiện thì làm ngôi nhà đẹp và vững chắc, thời gian làm nhà có thể kéo dài Tuy nhiên, những gia
Trang 26đình không có điều làm nhà to thì dựa vào những nguyên vật liệu có sẵn và nhờ anh em, họ hàng giúp đỡ, thời gian tiến hành ngắn hơn
Nhà của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ có hai loại hình cơ bản: Nhà sàn
và nhà đất Ngoài ra còn có loại nửa sàn, nửa đất Tuy nhiên, kiến trúc nhà giữa các địa phương có sự khác biệt
2.2 Giới thiệu về cấu trúc nhà sàn, nhà đất của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên trước năm 1945
2.2.1 Cấu trúc nhà sàn của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên trước năm 1945
Trước năm 1945 người Nùng ở huyện Đông Hỷ chủ yếu ở nhà sàn,
người ở trên, trâu, bò, lợn, gà ở dưới Nhà sàn ở đây là loại nhà cột kê, hai mái chính và hai chái hình thang cân, rất giống nhà của người Tày và cũng khác nhà người Nùng ở Lạng Sơn, Cao Bằng Nhà sàn là dạng nhà truyền thống và phổ biến nhất của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên Nhà của người Nùng ở địa phương có 3 đến 5 gian, vách thưng bằng vầu, tre, nứa hoặc ván xẻ, lợp lá cọ, cỏ gianh hoặc ngói máng và có hai cầu thang lên xuống Sàn nhà phổ biến rát bằng cây vầu, cây mai, song những gia đình khá giả lát bằng ván xẻ Sàn thường làm cách mặt đất khoảng 1,6m Nhìn bề ngoài, điểm dễ nhận thấy nhất là nhà sàn 4 mái Nhà sàn 4 mái, ngoài 2 mái chính còn 2 mái đầu hồi bao giờ cũng thấp hơn mái chính Nhìn chung, kết cấu kỹ thuật ở nhà sàn 4 mái phức tạp hơn so với nhà sàn 2 mái Điều này thể hiện rõ ở kết cấu vì chái, mái đầu hồi, các vì kèo, cột trong bộ sườn của nó
Bộ sườn nhà của người Nùng ở Đồng Hỷ nhiều kiểu kèo khác nhau: kiểu vì 4 hàng cột, 6 hàng cột, 7 hàng cột Kiểu vì 4 hàng cột gồm có 4 cột chính và một trụ ngắn hình " quả bí" gọi là " nghé qua" Kiểu vì 6 hàng cột về cơ bản không khác gì kiểu vì 4 hàng cột, chỉ thêm 2 cột con ( tuỳ theo mỗi địa phương) Kiểu vì 7 hàng cột của người Nùng là kiểu vì hoàn thiện và mẫu mực Kiểu này thường thấy có một hoặc 2 trụ ngắn hình " quả bí" đứng trên
xà ngang, có tác dụng như là chống kèo vậy Nhìn chung, sự khác biệt chi tiết
Trang 27bộ phận các kiểu vì kèo có thể tập quán giữa các vùng hoặc do sự biến đổi chung về mô hình nhà ở qua mỗi thời kỳ Vì thế, nếu ngôi nhà giữ được nhiều đặc điểm cổ truyền hơn thì bao giờ số cột trong các bộ phận vì kèo cũng được
giữ nguyên (Hình1)
Hình 1: Hệ thống vì kèo nhà gia đình ông Hoàng Văn Giỏi xã Tân Long
Nguyên liệu lợp nhà cũng phong phú như : ngói âm dương, tranh,rạ, lá
cọ, một đôi nơi còn dùng mây, tre
Nhà sàn người Nùng có cửa ra vào ở phía trước hoặc hai đầu hồi Cửa chính thường đặt ở cầu thang lên xuống, còn cửa phụ là nơi thông qua ra bếp
hay ra sân (Sơ đồ 1)
Trang 28Chú thích:
1- Bàn thờ 2- Buồng 3- Hiên 4- Phòng ngủ 5- Bàn tiếp khách
6- Hiên 7- Sân 8- Bếp
Sơ đồ 1: Sơ đồ mặt bằng Nhà của gia đình ông Hoàng Văn Giỏi xã Tân Long
Nhà sàn cổ truyền của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ là nhà tổng hợp
Từ sàn gác,mặt sàn cho đến gầm sàn đều được sử dụng hợp lý trong sinh hoạt
và sản xuất Trong ngôi nhà sàn, gác có thể làm ở tất cả các gian (trừ gian bàn thờ), thường dùng để đặt bồ đựng các sản phẩm trồng trọt, dụng cụ dệt vải Gầm sàn có thể nhốt gia súc, hay để nông cụ như : Cày, bừa, cối xay, quạt hòm
Chú thích:
1- Bếp 2- Nơi để bát đũa 3- Phòng ngủ 4- Phòng ngủ 5- Bàn tiếp khách
6- Buồng 7- Bàn thờ 8- Bàn thờ Thái thượng lão quân
Trang 29Sơ đồ 3: Mặt bằng sinh hoạt phía dưới ngôi nhà chính Hoàng Văn Thành
xã Tân Long
Bố cục trong nhà tuỳ theo từng nơi có thể chia làm hai phần theo chiều ngang và chiều dọc nếu tính từ cửa chính Bàn thờ cũng là nơi có thể căn cứ vào đó để thấy rõ hơn bố cục của ngôi nhà có sự khác biệt nào đó giữa các địa phương Nếu bàn thờ đặt ở gian giữa thì ta thấy ngôi nhà được chia làm hai nửa Nửa trên ( phía trước bàn thờ) thường gần cửa chính là nơi diễn ra mọi sinh hoạt, đồng thời là nơi tiếp khách Nửa dưới ( phía sau bàn thờ) giành cho
nữ giới.Có nơi bàn thờ đặt kế gian chính giữa song cách bố trí cho mỗi thành viên trong gia đình cũng tương tự như vậy Nhà bếp có hai bếp: một bếp chính, được nấu nướng hàng ngày, còn một bếp phụ để nấu rượu, cám lợn
Hòm để thóc Nuôi gia
súc
Sân Nơi để
nông cụ
Trang 30Chú thích:
1- Bếp 2- Nơi để bát đũa 3- Phòng ngủ 4- Phòng ngủ 5- Bàn tiếp khách
6- Buồng 7- Bàn thờ 8- Bàn thờ Thái thượng lão quân
Nhà đất có nhiều điểm khác so với ngôi nhà sàn cổ truyền: nhỏ về quy
mô, đơn giản về kết cấu bộ sườn, bố cục trong nhà cũng khác Kỹ thuật làm mái, dựng vì kèo hầu hết là đục lỗ mộng, ngoãm và tạo lỗ khi làm tường
Dù là nhà đất, bộ vì kèo vẫn giữ được nét kết cấu kỹ thuật truyền thống với bộ phận hình chữ sơn ở gần chòm kèo Trụ và nóc chống kèo ở đây vẫn được tạo bởi " nghé qua" (quả bí) hoặc những trụ ngắn đứng trên quá giang như ở nhà sàn Nhà đất có hai mái chính Nhà đất của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ có hai mái hồi, đặc biệt ở kiểu nhà ở nhà trình tường hay xây gạch mộc Trong nhà ngăn thành từng phòng riêng cho nam, nữ sàn gác được thu
Trang 31hẹp lại trở thành gác xép là nơi để thóc lúa, hòm xiểng và những đồ lặt vặt trong gia đình Bếp không còn ở gian chính mà thường đặt ở gian đằng sau hay gian bên cạnh Bàn thờ đặt đối diện với cửa chính nhưng có thể ở gian giữa hoặc gian sát vách Nơi tiếp khách thường ở trước bàn thờ, cửa chính Nhiều nơi, bên cạnh ngôi nhà đất ( nhà chính) đồng bào còn làm thêm một
nhà sàn hoặc ngôi nhà đất nhỏ hơn (Sơ đồ 5 )
Chú thích:
1- Nhà chính 2- Nhà bếp 3- Chuồng gia súc 4- Nhà vệ sinh 5- Giếng
6- Nhà ngang 7- Sân
Sơ đồ 5:Mặt bằng sinh hoạt trong ngôi nhà chính Hoàng Văn Thái xã Quang Sơn
Trong các dạng nhà đất của người Nùng có thể thấy nhà trình tường và nhà xây gạch mộc phổ biến hơn cả, còn nhà nửa sàn nửa đất chỉ có ở một số
xã phía Bắc của huyện (Hoà Bình, Quang Sơn, Tân Long), những nơi này có địa hình núi dốc Đây là một dạng nhà đặc biệt, vừa mang tính chất nhà đất, vừa mang tính chất nhà sàn và bố cục được chia làm hai phần : phần đất và phần sàn Phần đất nằm ở gian cuối dọc ngôi nhà, cửa ra vào được mở ở phần nền đất, còn cửa chính ở trước nhà
Trang 322.3 Quá trình xây dựng nhà của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
2.3.1 Chọn đất và hướng nhà: (Dòm tỳ lơn)
Ngôi nhà được coi là một loại tài sản quý báu của con người mà ở đó họ
đã có biết bao kỷ niệm vui buồn Trong tâm thức của họ, ngôi nhà dường như
đã trở thành điều kiện cho sự thành bại của mỗi đời người Chính vì thế, việc làm nhà mới đối với người Nùng đã trở thành một trong những sự kiện quan trọng của cuộc sống
Khi quyết định làm nhà, người Nùng rất cẩn thận, tỉ mỉ trong việc chọn
đất và chọn hướng làm nhà, để tránh tai hoạ xảy ra Người Nùng tin theo thuyết Phong thuỷ nên họ thường mời các thầy về xem cho Trước năm 1945 khi đất đai còn rộng, dân cư thưa thớt, người ta mới chú ý chọn đất Thời kỳ này cư dân địa phương chọn đất xây dựng thường ở những nơi có địa hình cao hoặc xen giữa các thung lũng bằng phẳng Người Nùng quan niệm, nơi làm nhà phải cao, thoáng, vị trí của ngôi nhà và hướng nhà không bị che khuất bởi các ngọn núi Theo điều tra của chúng tôi một số ngôi nhà được xây dựng trước năm 1945 đến nay đều đặt ở những vị trí cao thoáng Hướng nhà được
cư dân địa phương thời kỳ này lựa chọn chủ yếu là hướng Nam Cũng giống như một số quan niệm hiện nay, khi chọn đất và hướng nhà người Nùng có một số kiêng kỵ: Họ kiêng làm nhà trên nền giếng cũ hay ngõ cụt Những mảnh đất ở nơi gần chùa, miếu, nơi thờ cúng thường không được đồng bào chọn để xây dựng nhà ở Nếu có thì phải cách phạm vi chùa một khoảng nhất định bởi họ cho rằng đó là nơi ngự trị của thánh thần, phạm phải đất đó là bị thánh thần quở phạt, trách móc Những nơi có cây cổ thụ hoá mộc tinh, những tảng đá cuội đã hoá thạch tinh đều phải tránh xa vì ở đó có nhiều ma quỷ quấy nhiễu Nếu làm thì phải lập miếu thờ trong vườn, hương khói thường xuyên
Sự khác biệt trong cách lựa chọn đất và hướng nhà trước năm 1945 và giai đoạn hiện nay được thể hiện: Những ngôi nhà được làm lên trước năm
1945 chủ yếu chọn hướng Nam ở các vị trí cao Mặt khác những ngôi nhà xây
Trang 33dựng muộn hơn, hướng thường được chọn theo tuổi đa dạng và tập trung ở các thung lũng, và đường giao thông tiện lợi
Ở hướng nào thì nhà của người Nùng cũng đảm bảo những điều kiện thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt, đáp ứng nhu cầu của cuộc sống Suy cho
trường tự nhiên để đối phó với chính nó
2.3.2 - Chọn vật liệu (Dòm may day)
“Vật liệu xây dựng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong xây dựng Nó không chỉ quyết định tuổi thọ, quy mô, hình dáng, vẻ đẹp, phương pháp và tốc
độ thi công của công trình mà còn biểu hiện cả trình độ phát triển khoa học
kỹ thuật của một dân tộc, một quốc gia” [18, tr.28] Bởi lẽ "đất vàng ở vùng đồi núi không chỉ đảm bảo phát triển những cây công nghiệp mà còn là nguồn vật liệu xây dựng tại chỗ mà nhân dân địa phương đã dùng để làm nhà
ở, chuồng trại và cả những công trình phòng chống ngoại xâm" [10, tr.6] Từ
ta xưa, con người đã biết lợi dụng các nguồn vật liệu có sẵn trong tự nhiên, ở
Gốc Thị ra đến xóm chợ Quang Trung hiện nay), rừng Bà Đanh, San Chuỳ
cung cấp gỗ dùng vào việc xây dựng các công trình sinh hoạt của gia đình, làng bản như: dẻ, thành ngạnh, sồi, tầu tấu v.v Thứ đến là họ hàng nhà tre gồm có tre, nứa, mai, vầu…vừa phong phú về số lượng, vừa đa dạng về
cây gỗ xoan, mít, bạch đàn v.v
Dùng làm lạt buộc ngoài tre, nứa, giang còn phải kể đến cây mây nước
và một số loại dây rừng Những loại vật liệu để lợp nhà chủ yếu là cỏ tranh, lá hèo, rạ Đó là loại vật liệu dễ kiếm, phổ biến và lợp nhà tốt ở vùng trung du
Trang 34Những vật liệu để làm tường vách, ngoài tre, nứa, gỗ, rạ còn có đất đồi Các loại vật liệu trên luôn được dùng kết hợp lẫn nhau, chỉ có sự kết hợp chặt chẽ
giữa các loại vật liệu trên thì sức bền của ngôi nhà mới đảm bảo lâu dài
lấy vật liệu Thường thì gia đình tự chuẩn bị vật liệu, bao giờ đủ thì mới làm
bảo ý nghĩa khoa học, sức bền của vật liệu và mỹ quan Cũng như người Mông, Tày, Sán Dìu, người Nùng kiêng không lấy cây bị sét đánh, chết khô,
thần ma làm hỏng, nếu lấy về dựng nhà thì làm ăn không phát đạt
cao, người ta đã tìm cách ngâm, tẩm trước khi sử dụng Kẻ thù nguy hiểm
dụng Riêng cây xoan, mít là ít phải ngâm, bởi lẽ mít đặc ruột, mối mọt không
rỗng Dây buộc thường làm bằng tre, nứa, mây nước, người ta lột lấy cật rồi
gấp bội Vật liệu làm mái thường được đồng bào chuẩn bị khi sắp sửa làm nhà, vào lúc nông nhàn mùa làm nhà)
Trang 352.3.3 - Chọn tuổi làm nhà và ngày khởi công.(Dòm văn hất lơn))
Khi chuẩn bị xong nguồn nguyên vật liệu, đồng bào mới chọn năm làm
nhờ thầy xem tuổi mình có làm được nhà vào năm nay không, khởi công giờ nào, ngày nào; dựng vào ngày nào và ngày nào vào nhà mới là đẹp nhất Tất
cả những ngày đó đều được ông thầy xem, dựa vào tuổi của chủ nhà và ngày sấm ra đầu tiên của năm đó Theo lời kể của một số cao nhân ở địa phương những ngôi nhà được xây dựng thời kỳ này phải dựa theo tuổi của gia chủ Thông thường những người ngoài 40 tuổi mới được làm nhà Mặt khác họ căn
cứ vào điều kiện kinh tế, sức khoẻ Điều kiện thời tiết cũng là nhân tố làm ảnh hưởng quyết định làm nhà của gia chủ Sự khác biệt lớn về lựa chọn tuổi làm nhà trước năm 1945 và giai đoạn hiện nay là vai trò của thầy cúng và những tri thức khoa học Hiện nay, yếu tố khoa học ảnh hưởng lớn đến quá trình chọn tuổi làm nhà
Khi đã xem được tuổi làm nhà và các ngày quan trọng thì gia chủ ra về
chuẩn bị làm lễ "khởi móng" (người Kinh gọi là động thổ) Có thể nói, đây là một trong những nghi lễ quan trọng để xin phép Thổ thần và Tổ tiên phủ hộ cho việc làm nhà Cũng như người Việt, người Nùng thường làm mâm cỗ mặn, bao giờ cũng có con gà nhưng phải là gà trống thiến Nghi lễ này do chủ nhân tiến hành, cũng có thể được thực hiện bởi thầy địa lý Sau khi khấn xong, người được tuổi làm nhà sẽ cầm cuốc, cuốc bốn góc từ Đông, Nam, Tây, Bắc và ở giữa (trung cung hoàng thổ) Họ tiến hành 45 nhát cuốc khi khởi móng Thường thì ngày khởi công là ngày đặt móng luôn Ông thầy sẽ thắp hương ở cả bốn góc và ở giữa mảnh đất, sau đó vừa khấn, vừa làm phép
đi vòng quanh nhà để xua đuổi tà ma, quỷ quái, cô hồn Nhất là gia đình có phụ nữ mang thai thì công việc này được làm cẩn thận hơn Sau khi hành lễ xong, chủ nhân sẽ đổ đất vào bốn góc tường cũng theo chiều Đông, Bắc, Tây, Nam và ở giữa, sau đó lấy chày giã mạnh Chỉ khi nào chủ nhà làm xong thì
bà con làng xóm mới bắt tay vào giúp
Trang 36Trong lúc trình, hay nói cách khác là trong cả quá trình làm nhà mới, không ai được phép nói bậy sợ động chạm đến thần linh, sau này gia chủ sẽ gặp những điều không tốt
Đối với những gia đình có con cái ra ở riêng mà chưa có điều kiện thì chỉ chọn đất, chọn hướng nhà rồi dựng nhà phụ để ở tạm Ngôi nhà phụ ấy không cần xem tuổi, ngày giờ khởi công, ngày dựng, ngày vào nhà mới bởi đó chỉ là ngôi nhà tạm làm trong 1 - 2 ngày là xong Ngôi nhà này sẽ được giữ đến khi
vợ chồng chủ nhà có đủ diều kiện để cất ngôi nhà mới khang trang hơn Đó cũng là cách để thử đất có lành hay không Nếu sau khi ở một thời gian thấy không tốt, họ sẽ chuyển đi nơi khác, coi đó như một cách thử đất làm nhà Thời gian làm nhà của cư dân địa phương trước năm 1945 thường kéo dài khoảng 3 - 5 năm, thậm chí hàng chục năm Vật liệu xây dựng những ngôi nhà trước năm 1945 thường được làm bằng những thân gỗ lớn quý hiếm Do vậy giá trị của những ngôi nhà còn tồn tại đến ngày nay ngày càng được khẳng định
2.3.4 - Lễ phát mộc.(Dòm văn long lơn)
Đây là nghi lễ cầu xin Thổ thần và Tổ tiên, Tổ sư Lỗ Ban phù hộ cho việc làm mộc được an toàn Do đó, lễ phát mộc được tiến hành không chỉ có chủ nhà mà còn có sự tham gia của phường thợ Đây là một trong những nghi
lễ mà người Nùng tiếp thu của người Kinh qua sự giao lưu văn hoá Xa xưa, ngôi nhà của họ do chính bà con làng xóm, họ hàng dựng lên, đo bằng sải tay, cánh tay, gang tay…chứ không dùng sào (thước mực) như ngày nay Song đo như thế nào, tỷ lệ ra sao thì không ai còn nhớ Sau này, khi sự giao thoa văn hoá giữa các dân tộc diễn ra mạnh mẽ thì người Nùng bắt đầu chuyển sang thuê các tốp thợ người Kinh làm nhà, và các kèo giá chiêng, kèo bảy, chồng rường…xuất hiện từ đó Để tiến hành Lễ phát mộc chủ nhà sắp mâm cỗ mặn đặt lên bàn thờ thắp hương vái lạy tổ tiên, thợ cả thắp nén hương xin phép vị
tổ sư của mình là Lỗ Ban Sau khi hành lễ, người thợ cả dùng dao đẽo mấy nhát vào cây gỗ theo giờ đã chọn phù hợp với tuổi nhà Chỉ sau khi người thợ
Trang 37cả đặt dao xuống thì công việc làm mộc mới được bắt đầu việc quan trọng
nhất của ngày hôm đó là phải cắt được "Cai may to long lơn" (cây sào, thước
mực) Để thống nhất kích thước làm nhà, người phương Tây phải làm bản vẽ
kỹ thuật tỉ mỉ nhưng người Việt xưa cũng như người Nùng chỉ bằng chiếc sào
đã làm được ngôi nhà hoàn hảo Cây sào thường được làm bằng nửa cây tre, cây tre này (hoặc cả cây nứa) phải đều gióng, không phải là cây đổ, cong hay chết ngọn, bị dây leo Cấu tạo cây sào là chung cho mọi nhà nhưng kích thước của nó lại được tính theo đơn vị gốc khác nhau nên mỗi nhà có một kích thước riêng Sau khi đã đánh dấu kích thước nhà theo ý muốn của chủ nhà,
người ta đếm mắt cây sào theo "sinh, lão, bệnh, tử" Nếu mắt cuối cùng là mắt
"sinh" thì lấy, nếu không thì bỏ đi và cắt cây sào khác
2.3.5 - Ngày dựng và cách thức dựng
Việc dựng nhà đối với người Nùng không mấy khó khăn vì đồng bào có tập quán giúp đỡ nhau khi làm nhà Khi dựng nhà người Nùng chú ý nhất thời điểm đặt cột chính và đặt nóc Những sự kiện này người Nùng phải dựa theo lời của thầy cúng Dựng nhà là một trong những công việc quan trọng, không thể bỏ qua nên nó cũng được chọn ngày, giờ cẩn thận Nếu được ngày, giờ tốt thì đêm cũng phải dựng Ngoài ra, đồng bào còn kiêng ngày sấm ra đầu tiên, nếu đang dựng nhà hoặc dựng xong rồi mà chưa qua 23 giờ nhưng có sấm sét thì cũng dừng lại và dỡ bỏ hoàn toàn Do vậy thời gian làm nhà của cư dân địa phương từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau
Đến giờ quy định, người ta lắp các vì vào nhau Trước khi dựng nhà họ đào sẵn những chiếc hố để dựng cột Đến giờ đẹp họ mang hòn đá tảng bỏ vào nhưng chiếc hố đó Riêng cột chính chủ nhà phai ôm cột nhà đặt lên tảng đá Đối với nhà đất cột kê, họ làm lễ in tảng trước rồi mới dựng trước khi đặt tảng, người ta thường đặt xuống đó mảnh giấy đỏ, coi như là sự yểm bùa để bảo vệ ngôi nhà khỏi tà ma, quỷ quái Nếu là nhà đất cột ngoãm thì người ta dựng vì chái bên trái trước và cột cái sẽ chôn đầu tiên Cũng như nhiều dân
tộc khác, dân tộc Nùng rất coi trọng bên trái Bởi họ cho rằng: "tả vi đông,
Trang 38đông vi thử", nghĩa là bên trái tức phía Đông mà phía Đông là sự bắt đầu tốt
đẹp Do đó, người ta thường dựng vì bên trái trước, Cây nóc phải thẳng,
không bị mối mọt, sứt sẹo, cụt ngọn, song ngà hay xà leo Nếu là tre thì phải đếm mắt theo "sinh, lão, bệnh, tử" và chữ "sinh" phải rơi vào đốt cuối
cùng
Lễ đặt nóc được coi là một nghi lễ quan trọng, ảnh hưởng đến đời sống tâm lý của cả gia đình Có nhiều nhà cẩn thận còn dán giấy đỏ vào hai đầu nhà để xua tà ma quấy nhiễu gia đình Những cây nóc được làm sau này còn được viết chữ lên, ghi rõ ngày tháng năm đặt nóc, coi đó như sự xác định chủ quyền Nếu ngày tốt không kịp dựng xong thì nhất định phải đặt nóc trước rồi hôm sau dựng tiếp Sau khi dựng xong, người ta bắt đầu lợp nhà, lợp hai mái phụ trước rồi đến hai mái chính
Bên cạnh đó, người Nùng còn nhờ thầy xem nơi đặt công trình phụ Ví
dụ, người ta không bao giờ đào giếng ở những vị trí đối diện cửa chính hoặc cửa sổ Theo quan niệm của họ nếu làm như vậy việc làm ăn sẽ gặp nhiều khó khăn Hướng nhà và các công trình phụ trong nhà thường được đặt ở các cung Sinh khí, Phúc đức, Thiên y, Phục vị và tránh các cung Ngũ quỷ, Lục sát, Hại hoạ, Tuyệt mạng Ngày nay, người ta vẫn xem hướng, ngày, giờ làm nhà nhưng đã giảm bớt
2.3.6 Lễ vào nhà mới (Kin liên hoan khẩu lờn mâu)
Lễ vào nhà mới là một trong những nghi thức không thể thiếu được khi làm xong ngôi nhà Trước hết, người ta cần tiến hành một số công việc tại nhà vừa dựng xong, như là làm ống hương đặt ở các nơi thờ cúng Ngoài ra, còn phải ấn định nơi đặt bếp nấu nướng, kiếm củi sẵn để đó Bàn thờ được đóng mới hoặc nếu dùng bàn thờ cũ phải lau chùi sạch sẽ, kể cả các đồ thờ Thời điểm đặt bàn thờ phải được thầy cúng xem kỹ Thông thường nghi lễ vào nhà mới được tiến hành vào những ngày chẵn đầu tháng, họ quan niệm rằng đó là
sự khởi đầu những niềm vui mới Nhà phải được tẩy rửa sạch vôi vữa, kể cả bếp, xoong nồi, kiềng… đều được rửa sạch sẽ với ý niệm là vứt bỏ những
Trang 39điều xấu xa để đón lấy những điều tốt đẹp khi vào nhà mới Đến ngày giờ đẹp
đã được chọn trước, người ta mới khiêng bàn thờ vào trong nhà, từ đó phải thắp hương liên tục, trong thời gian 03 tháng đầu cứ hết một tuần hương lại rót thêm một tuần trà, rượu Sau khi chuẩn bị xong mâm cơm cúng đặt lên bàn thờ, gia chủ (hay người được tuổi làm nhà) thắp nén hương khấn tạ báo cáo
Tổ tiên, Long thần, Thổ địa, ông Táo đã hoàn tất ngôi nhà, mời các thần, Tổ tiên về an toạ Sau đó người ta mang muối, gạo rồi đến các thứ khác vào nhà Cùng ngày hôm đó, họ làm lễ chuyển lửa vào nhà Bếp được coi là nơi rất linh thiêng nên mọi việc phải được lảm cẩn thận Bà chủ nhà chuẩn bị thau nước sạch bê vào nơi có ý định đun nấu, lau rửa sạch sẽ chỗ đó và đặt chiếc kiềng sạch lên Thông thường người ta lấy củi thông đưa vào nhà và đốt tạo ra ngọn lửa lớn và mùi thơm cho ngôi nhà Mặt khác nghi lễ này mang ý nghĩa tẩy uế cho bếp, làm sạch nơi ở của Ông Táo, đồng thời đuổi mọi tà khí trong ngôi nhà Sau đó, người ta mang lửa hoặc tro bếp từ nhà bố mẹ hoặc từ nhà cũ sang với ý niệm rước ông Táo về để ông không đi lạc hướng Tiếp dó, người phụ nữ đặt siêu nước (nồi nước) đầy lên kiềng sau đó nhóm củi cho bếp cháy đến khi sôi thì thôi Nếu để bếp tắt ngang chừng hoặc lên lửa ít, gia đình sẽ gặp nhiều trắc trở, làm ăn không suôn sẻ
Trong ngày đó, người ta làm lễ "Tức tỳ lơn" Lễ này còn được tiến hành
vào đầu năm mới, cứ hai, ba năm người ta lại làm một lần và coi đó là nghi lễ bắt buộc Bởi lẽ, trong cuộc sống, con người luôn lao động sản xuất để có thành quả, nuôi dưỡng sự sống, cho loài người được hưởng thụ bình an Song, không phải lúc nào con người cũng đạt được những điều mình mong muốn, tai họa luôn rình rập gây ra nỗi khổ đau cho con người như bệnh tật, chết chóc, hoả hoạn… nó đến với con người rất bất ngờ và không hề báo trước Người Nùng cho rằng, những tai họa ấy xảy ra là do mình đã phạm lỗi với người âm, là có ma tà, quỷ quái quấy nhiễu Vì vậy, họ thường thông qua nghi
lễ của người thầy cúng bày tỏ lòng mình, khéo lời xin lỗi với người âm phủ và đuổi ma tà, quỷ quái …để gia đình tai qua nạn khỏi Những nghi lễ này liên
Trang 40quan trực tiếp đến hai ông thần là Long thần (thần đất), Thổ Công (thần cai quản miếng đất mình đang ở) Với ý niệm tạ lỗi với những lực lượng siêu nhiên, người Nùng còn cho rằng trong quá trình làm nhà, bàn thờ được chuyển đi chuyển lại nên ông Táo không được ngồi yên một chỗ, đất đai bị đào xới, tức là đã có lỗi với các vị Thần, Tổ tiên Mặt khác, khi tiến hành khởi móng thì một số long mạch trong lòng đất bị đứt hay gãy phải nối lại Do đó phải làm nghi lễ tức tỳ lơn, để Long thần, Thổ địa phù hộ độ trì, làm ăn may mắn, tai qua nạn khỏi
Tức tỳ lơn thường có ba cấp độ là Đại Tức tỳ lơn , Trung Tức tỳ lơn và Tiểu Tức tỳ lơn , tuỳ mỗi cấp độ làm lễ mà số lượng lễ vật khác nhau Đại Tức tỳ lơn thường được tổ chức cho cả làng, còn ở phạm vi gia đình thì nhà
giàu làm Trung Tức tỳ lơn, nhà nghèo làm Tiểu Tức tỳ lơn Thường thì trung
Tức tỳ lơn có lễ vật Ngũ sinh; Tiểu Tức tỳ lơn có Tam sinh và sớ cũng tuỳ
từng cấp độ mà viết dài hay ngắn Song, cho dù lễ to hay nhỏ bao giờ cũng
phải có gà, cá (hay tôm, vịt…), oản trắng, bánh béng, bánh chấy… Gia chủ
phải mua giấy màu, giấy bản cho thầy viết sớ, bùa Thầy cúng lấy chỉ đỏ chôn vào bốn góc của ngôi nhà nhằm mục đích nối lại Long mạch Sau khi làm lễ xong lễ vật một phần được đưa cho thầy cúng, một phần đưa cho hàng xóm, một phần được phân khắp cho các cô hồn xung quanh vườn Thầy cúng sẽ dùng những tờ giấy có sẵn đưa cho gia chủ dán lên hai đầu nóc của ngôi nhà
và hai bên bàn thờ
Lễ trả cho thầy thường là một con gà chín, một vuông vải trắng trong đó
bọc một bát gạo và số tiền nhất định, tuỳ tâm của gia chủ
Trong lễ Trung Tức tỳ lơn thường có bốn sớ và một tờ trạng:
+ Một sớ tạ Phật : 1115 chữ (ảnh 14, tr.81)
+ Một sớ tạ Long thần, Thổ thần dài 931 chữ
+ Một sớ nối long mạch dài 611 chữ
+ Một sớ tiễn ma quái dài 378 chữ
+ Một tờ trạng dài 88 chữ