LỜI MỞ ĐẦU Nhằm mục tiêu đến 2020 nước ta cơ bản trở thành quốc gia công nghiệp theo hướng hiện đại, phát triển công nghệ nông thôn nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp là phương hướng cần đạt tới. Trong những năm gần đây, công nghiệp nông thôn tuy đạt tốc độ tăng trưởng cao nhưng chủ yếu quy mô nhỏ, đầu tư tài sản cố định nghèo nàn, phát triển lệch ngành nghề, thiếu vốn và khả năng tiếp cận vốn hạn chế, công nghệ lạc hậu, năng suất thấp, khả năng cạnh tranh kém. Đặc biệt, do thu nhập nông thôn thấp nên sức mua trì trệ dẫn đến kinh tế khu vực này thiếu thị trường để phát triển. Lao động nông thôn chiếm 75% lao động toàn xã hội nhưng chỉ tạo ra 20,8% giá trị GDP. Thời gian nông nhàn chiếm 21%năm, xấp xỉ 8 triệu lao động thất nghiệp. Khoảng cách giàu nghèo giữa đô thị và nông thôn năm 1996 là 2,71 lần; 2001 là 4,45 lần; 2003 năm 4 lần và 2005 là 5 lần. Hiện tại, giá trị sản xuất công nghiệp nông thôn (công nghiệp nông thôn) chỉ chiếm 22,35% toàn ngành. Hiện nay ở nhiều nước, nhất là nước đang phát triển, phát triển công nghiệp nông thôn được coi là vấn đề tất yếu có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Đối với Việt nam là một quốc gia lạc hậu, hơn 80% dân số sống ở nông thôn với một cơ cấu kinh tế độc canh thuần nông, năng suất lao động thấp, nhu cầu việc làm rất bức bách. Để phát triển nông thôn một cách toàn diện chúng ta không chỉ tập trung vào những hoạt động sản xuất chính (như các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và khai thác mỏ và đá); các hoạt động sản xuất thứ hai như các ngành chế biến chế tạo; mà chúng ta cần phải quan tâm đến những hoạt động thứ ba đó là ngành dịch vụ. Dịch vụ nông thôn mà chúng ta quan tâm ở đây bao gồm các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, các hoạt động cung ứng, phục vụ cho sản xuất; dịch vụ xã hội nông thôn là các điều kiện về nhà ở, giáo dục, y tế, văn hóa, cung cấp nước sạch và vệ sinh. Cùng với việc nâng cao thu nhập, đẩy mạnh dịch vụ sản xuất, việc đẩy mạnh các dịch vụ xã hội nông thôn là điều kiện từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống người dân nông thôn, giảm dần sự cách biệt giữa mức sống nông thôn và thành thị. NỘI DUNG I, Phát triển công nghiệp nông thôn. 1, khái quát về phát triển công nghiệp nông thôn. Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm để thoả mãn các nhu cầu của mình. Còn theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm, ngư nghiệp, ở các nước nước kém phát triển và đang phát triển, nông nghiệp thường chiếm tỷ trọng khá lớn trong GDP và thu hút một bộ phận quan trọng lao động xã hội. Như vậy: Công nghiệp nông thôn là một bộ phận của ngành công nghiệp với các trình độ phát triển, quy mô, phương thức sản xuất và quản lý khác nhau, được phân bố ở nông thôn gắn liền với sự phát triển của kinh tế xã hội ở nông thôn, bao gồm nhiều ngành nghề có quan hệ. Nghị định 1342004NĐ CP về hoạt động khuyến công hay còn gọi là phát triển công nghiệp nông thôn đã được Chính phủ ban hành và triển khai từ 2005. Với nguồn kinh phí quốc gia không nhiều nhưng chúng ta đã triển khai được 7 nội dung phục vụ các chương trình hướng dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp vừa và nhỏ ở vùng nông nghiệp và nông thôn. Nhiều địa phương đã biết gắn chương trình khuyến công với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng hiện đại hóa công nghiệp hóa. Trong đó, đưa chế biến nông, lâm, thuỷ sản vào chương trình phát triển công nghiệp tại địa phương và bước đầu đã gặt hái được những thành công nhất định.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU Nhằm mục tiêu đến 2020 nước ta cơ bản trở thành quốc gia công nghiệp theo
hướng hiện đại, phát triển công nghệ nông thôn nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngthôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm vàlao động các ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng sản phẩm và lao động nông
nghiệp là phương hướng cần đạt tới Trong những năm gần đây, công nghiệp nông thôn
tuy đạt tốc độ tăng trưởng cao nhưng chủ yếu quy mô nhỏ, đầu tư tài sản cố định nghèonàn, phát triển lệch ngành nghề, thiếu vốn và khả năng tiếp cận vốn hạn chế, công nghệlạc hậu, năng suất thấp, khả năng cạnh tranh kém Đặc biệt, do thu nhập nông thôn thấpnên sức mua trì trệ dẫn đến kinh tế khu vực này thiếu thị trường để phát triển Lao độngnông thôn chiếm 75% lao động toàn xã hội nhưng chỉ tạo ra 20,8% giá trị GDP Thờigian nông nhàn chiếm 21%/năm, xấp xỉ 8 triệu lao động thất nghiệp Khoảng cách giàunghèo giữa đô thị và nông thôn năm 1996 là 2,71 lần; 2001 là 4,45 lần; 2003 năm 4 lần
và 2005 là 5 lần Hiện tại, giá trị sản xuất công nghiệp nông thôn (công nghiệp nôngthôn) chỉ chiếm 22,35% toàn ngành Hiện nay ở nhiều nước, nhất là nước đang pháttriển, phát triển công nghiệp nông thôn được coi là vấn đề tất yếu có ý nghĩa chiến lượclâu dài Đối với Việt nam là một quốc gia lạc hậu, hơn 80% dân số sống ở nông thôn vớimột cơ cấu kinh tế độc canh thuần nông, năng suất lao động thấp, nhu cầu việc làm rấtbức bách
Để phát triển nông thôn một cách toàn diện chúng ta không chỉ tập trung vàonhững hoạt động sản xuất chính (như các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản vàkhai thác mỏ và đá); các hoạt động sản xuất thứ hai như các ngành chế biến chế tạo; màchúng ta cần phải quan tâm đến những hoạt động thứ ba đó là ngành dịch vụ Dịch vụnông thôn mà chúng ta quan tâm ở đây bao gồm các ngành sản xuất nông nghiệp, côngnghiệp, các hoạt động cung ứng, phục vụ cho sản xuất; dịch vụ xã hội nông thôn là cácđiều kiện về nhà ở, giáo dục, y tế, văn hóa, cung cấp nước sạch và vệ sinh Cùng với việcnâng cao thu nhập, đẩy mạnh dịch vụ sản xuất, việc đẩy mạnh các dịch vụ xã hội nôngthôn là điều kiện từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống người dân nông thôn, giảmdần sự cách biệt giữa mức sống nông thôn và thành thị
Trang 2NỘI DUNG
I, Phát triển công nghiệp nông thôn.
1, khái quát về phát triển công nghiệp nông thôn.
Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp
chiếm tỷ trọng lớn Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất màcon người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩmnhư lương thực, thực phẩm để thoả mãn các nhu cầu của mình Còn theo nghĩa rộng cònbao gồm cả lâm, ngư nghiệp, ở các nước nước kém phát triển và đang phát triển, nôngnghiệp thường chiếm tỷ trọng khá lớn trong GDP và thu hút một bộ phận quan trọng lao
động xã hội Như vậy: Công nghiệp nông thôn là một bộ phận của ngành công nghiệp với
các trình độ phát triển, quy mô, phương thức sản xuất và quản lý khác nhau, được phân
bố ở nông thôn gắn liền với sự phát triển của kinh tế xã hội ở nông thôn, bao gồm nhiềungành nghề có quan hệ
Nghị định 134/2004/NĐ - CP về hoạt động khuyến công hay còn gọi là phát triểncông nghiệp nông thôn đã được Chính phủ ban hành và triển khai từ 2005 Với nguồnkinh phí quốc gia không nhiều nhưng chúng ta đã triển khai được 7 nội dung phục vụcác chương trình hướng dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp vừa vànhỏ ở vùng nông nghiệp và nông thôn Nhiều địa phương đã biết gắn chương trìnhkhuyến công với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng hiện đại hóa-công nghiệp hóa Trong đó, đưa chế biến nông, lâm, thuỷ sản vào chương trình pháttriển công nghiệp tại địa phương và bước đầu đã gặt hái được những thành công nhấtđịnh
Để chuẩn bị cho giai đoạn II (2006- 2010), Bộ công nghiệp đã xây dựng chương
trình khuyến công quốc gia trình Chính phủ xem xét thông qua với 8 chương trình sau:đào tạo nghề, truyền nghề và phát triển nghề; hỗ trợ phát triển doanh nghiệp mới; nângcao năng lực quản lý cho các cơ sở công nghiệp nông thôn; hỗ trợ xây dựng mô hình
Trang 3trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và tiến bộ khoa học kỹ thuật; chương trìnhmỗi xã một sản phẩm; phát triển hoạt động tư vấn, cung cấp thông tin; hỗ trợ liêndoanh, liên kết, hợp tác kinh tế, hình thành các cụm liên kết doanh nghiệp công nghiệp;nâng cao năng lực quản lý, tổ chức thực hiện các hoạt động khuyến công chương trìnhkhuyến công quốc gia 5 năm tới trong điều kiện nền kinh tế tham gia hội nhập ngàycàng sâu vào kinh tế thế giới và đặc biệt là sự cởi mở của Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ 10: đảng viên được làm kinh tế, đã mở ra một động lực mới, khuyến khích mọingười làm giàu chính đáng Đồng thời, điều này càng có ý nghĩa to lớn trong việc pháttriển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề ở nông thôn Đểtriển khai nhiệm vụ này, vai trò của Bộ công nghiệp mà trực tiếp là cục công nghiệp địaphương đã được Chính phủ giao làm đầu mối để triển khai nhiệm vụ trên Nhưng quantrọng hơn, để thúc đẩy phát triển công nghiệp nông thôn thì vai trò của lãnh đạo 64 tỉnhthành, các sở công nghiệp, hiệp hội, nhất là hiệp hội ngành hàng, làng nghề, hiệp hộidoanh nghiệp vừa và nhỏ cực kỳ quan trọng
2, Tính cấp thiết phải phát triển công nghiệp nông thôn.
Phát triển công nghiệp nông thôn chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong quátrình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước do đó, phải được định hướng một cách
cụ thể:
Thứ nhất, phải hướng vào các ngành nghề chế biến nông – lâm – thuỷ sản, nângcao giá trị sản phẩm nông nghiệp trong xuất khẩu; trước hết là nâng cao giá trị sảnphẩm nông nghiệp dùng làm nguyên liệu cho các ngành nghề chế biến và tiếp theo đó lànâng cao giá trị hàng hóa xuất khẩu, giảm nhanh và hết sức hạn chế việc xuất khẩunông, lâm thủy sản chưa qua chế biến Ngoài ra, cần đặc biệt chú trọng các ngành tiểuthủ công nghiệp (tiểu thủ công nghiệp), mỹ nghệ, dệt, may, da giầy, cơ khí nhỏ, thuỷđiện nhỏ ở vùng sâu, vùng xa Các ngành dịch vụ chủ yếu như tài chính, ngân hàng, xúctiến thương mại, dịch vụ khoa học kỹ thuật, đào tạo thông tin, tư vấn, xây dựng, vậntải…phải được chú trọng phát triển để góp phần thúc đẩy nông nghiệp và công nghiệpnông thôn
Trang 4Thứ hai, công nghiệp nông thôn phải nằm trong chiến lược phát triển côngnghiệp trong phạm vi cả nước, theo định hướng chiến lược phù hợp với đặc điểm tìnhhình nước ta và hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra nhiều vấn đề rất mới Nói cáchkhác, phát triển ngành nghề, quy mô, trình độ công nghệ, phân bố trên địa bàn lãnh thổcũng đều phải được quy hoạch một cách tổng thể với tầm nhìn dài hạn, không thể chủquan duy ý chí, càng không thể manh mún theo lợi ích cục bộ Vì lẽ đó, công tác quyhoạch cơ cấu các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ ở nông thôn rất quan trọng.Những quy hoạch này phải tiến hành đồng bộ, gắn bó chặt chẽ với nhau Theo tôi, đây
là một công việc to lớn, cần có sự hợp tác của nhiều ngành, nhiều cơ quan và là cơ sởcho việc xác định chương trình khuyến công cả nước cũng như của mỗi vùng
Thứ ba, trong báo cáo chương trình khuyến công quốc gia giai đoạn II (2006 –
2010) có 8 chương trình, đó là những chương trình cần thiết, bảo đảm không nhữngcủng cố và nâng cao khả năng cạnh tranh các sản phẩm, cơ sở công nghiệp, tiểu thủcông nghiệp hiện có mà còn tạo thêm nhiều ngành nghề mới, cơ sở mới, tạo nên bộ mặtmới của nông thôn Tuy nhiên, cần có thứ tự ưu tiên trong các chương trình, những cơ
sở sản xuất kinh doanh mới phải gắn chặt với quy hoạch phát triển đô thị và môitrường, lộ trình thực hiện sao cho mỗi năm làm được một việc thiết thực Để tổ chứcthực hiện hiệu quả, ngoài việc đề ra kiện toàn hệ thống khuyến công từ trung ương đếnđịa phương, tổ chức 4 trung tâm khuyến công vùng nhưng ở một góc độ khác, cần có sựphối hợp đồng bộ giữa các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, dulịch Đồng thời, tập trung huy động mọi nguồn lực của xã hội vào các chương trình
Thứ tư, đường lối phát triển kinh tế của Đảng gần đây đã có nhiều thay đổi căn
bản, đặc biệt là tại Đại hội đảng toàn quốc lần thứ X Theo đó, các thành phần kinh tếhoạt động theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnhtranh lành mạnh Xoá bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu, tạo môi trườngkinh doanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp tư nhân, đầu tư phát triển khônghạn chế quy mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực đầu tư, kể cả các lĩnh vực quan trọng
mà pháp luật không cấm Theo quan điểm này, vào năm 2010, cả nước sẽ có 50 vạndoanh nghiệp làm ăn có hiệu quả
Trang 5Tuy nhiên, đó không phải là hệ thống doanh nghiệp nhiều số lượng mà phải chútrọng về chất, nâng cao tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, có thương hiệu uytín, đủ sức cạnh tranh trong nước và trên thị trường quốc tế Mỗi doanh nghiệp phảiđược tổ chức và hoạt động theo đúng bài bản, của đơn vị kinh tế tự chủ, chủ động trongkinh doanh, bình đẳng trước pháp luật Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tàisản, vốn đầu tư, thu nhập và lợi ích khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp.
ở đây, cần lưu ý là để doanh nghiệp tự chủ, chủ động nhưng phải hướng dẫn họ pháttriển các quan hệ kinh doanh, liên doanh, liên kết
Cùng với đó là những vấn đề nan giải cần khắc phục và phát triển Thứ nhất, cần
có chiến lược, quy hoạch phát triển công nghiệp nông thôn gắn với chiến lược phát triểnngành, vùng và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương Trong đó, cần chú
ý về thị trường ưu tiên ngành nghề, sản phẩm, chất lượng và trình độ kỹ thuật của sảnphẩm Thứ hai, đào tạo lao động quản lý và lao động làm việc Tình hình chung chothấy, so với doanh nghiệp ở thành thị và khối doanh nghiệp Nhà nước thì nhân lực côngnghiệp nông thôn ít được đào tạo và trình độ thấp hơn Trên thực tế, tỷ lệ giám đốccông nghiệp nông thôn có trình độ cao đẳng, đại học chỉ 31% và phần lớn trong số họxuất phát từ lao động thực tiễn, hầu như không có ai được đào tạo làm giám đốc Đốivới lao động trực tiếp, đa số không được đào tạo qua trường lớp mà chủ yếu qua truyềnnghề, tỷ lệ được đào tạo thấp Vì vậy, để cải thiện chất lượng nhân lực cho công nghiệpnông thôn, cần kết hợp với chương trình đào tạo hỗ trợ nhân lực cho các doanh nghiệpvừa và nhỏ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa ban hành, sắp xếp lại hệ thống dạy nghề vàgắn chương trình giảng dạy với lao động thực tiễn Thứ ba, cần nâng cao năng suất laođộng để đạt được hiệu suất sử dụng lao động cao và tăng khả năng cạnh tranh khi hộinhập Để làm được điều này, phải sử dụng các biện pháp đồng bộ sau: đẩy mạnh ứngdụng tiến bộ công nghệ, nâng cao trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động; phát triển cáckhu công nghiệp vừa và nhỏ, cụm công nghiệp làng nghề để tách khu vực sản xuất rakhỏi khu dân cư Đồng thời, đẩy mạnh chuyển các hộ kinh doanh sang các công tyTNHH, tư nhân, cổ phần để minh bạch hoá quản lý; tạo điều kiện mở rộng quan hệ vớithị trường và quy mô sản xuất kinh doanh.Thứ tư, cần có chính sách giải quyết tốt các
Trang 6vấn đề xã hội tại khu vực nông thôn như việc làm, thu nhập quá chênh lệch giữa 2 khuvực nông thôn và thành thị, bảo hiểm, y tế
Lâu nay, khi nhắc đến công nghiệp nông thôn, vấn đề vốn luôn được đặt lênhàng đầu và không ít kêu ca về việc khó tiếp cận vốn từ ngân hàng: tiềm lực tài chínhcủa các doanh nghiệp vừa và nhỏ không lớn, bình quân số vốn của loại hình doanhnghiệp này chỉ khoảng 1,2 tỷ đồng/doanh nghiệp, trong khi một thống kê cho thấy chỉ
có 32,38% số doanh nghiệp có khả năng tiếp cận nguồn vốn Nhà nước, 35,24% doanhnghiệp rất khó vay và 32,38% doanh nghiệp không thể vay vốn Điều đáng lưu ý là 80%lượng vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ lại từ ngân hàng Mặt khác, thị trường chứngkhoán lại kém phát triển Hiện tại có 30 công ty niêm yết thị trường chứng khoán nhưngtổng số tài khoản đầu tư chứng khoán rất nhỏ nhoi Trong vòng 5 năm tới, để hoànthành mục tiêu tăng trưởng 8%/năm thì nhu cầu vốn lên tới 140 tỷ USD Vì vậy, gánhnặng vốn trong thời gian tới, vẫn chủ yếu dựa vào ngân hàng Nhưng ngân hàng cũng làdoanh nghiệp, họ cũng phải tính toán để thực sự cầm chắc không bị rủi ro mới cho vay.Những doanh nghiệp nào chứng minh được năng lực thực sự, có khả năng hoàn trả nợvay và lãi suất đúng kỳ hạn mới được vay Nếu không thì sẽ rất khó vay ngân hàng Từđây, các doanh nghiệp muốn giải quyết tốt bài toán vốn, cần phải chứng minh năng lựcthật sự cũng như hướng phát triển khả thi: Sản xuất cái gì? Cho ai? Thị trường có cầnkhông? Khẳng định được điều này, doanh nghiệp sẽ xác lập được niềm tin với ngânhàng và các kênh thu hút vốn khác Ngoài ra, để giảm bớt gánh nặng vốn cho ngânhàng, con đường lâu dài đối với doanh nghiệp là phải chứng khoán hoá nguồn vốn củamình, tiếp cận vốn thông qua trái phiếu là chính thay vì chỉ vay ngân hàng Làm thế nào
đó để cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp phải ở mức tự có 1/3; vay ngân hàng và pháthành trái phiếu 1/3; phần còn lại huy động từ thị trường chứng khoán Nên tránh tìnhtrạng, nguồn vốn doanh nghiệp có tới 80- 90% vay ngân hàng Một vấn đề khác đặc biệtquan trọng là doanh nghiệp phải có khả năng liên doanh liên kết thành những doanhnghiệp lớn Trên thế giới, đây là xu hướng phổ biến, nhiều doanh nghiệp khi đứng riêng
lẻ thì đơn độc, yếu ớt nhưng khi liên kết và có sự phân công cao trong sản xuất thì trởthành những tập đoàn mạnh mẽ Sự hạn chế trong cộng đồng doanh nghiệp nông thôn ởnước ta là hoạt động theo dạng nhỏ lẻ Điều này đã không còn phù hợp trong xu thế
Trang 7hiện đại Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nông thôn cũng phải tận dụng những hỗ trợcủa Chính phủ dưới hình thức xúc tiến thương mại để tăng cường khả năng xuất khẩu;tích cực đầu tư đổi mới công nghệ, năng lực quản lý, nâng cao chất lượng và mẫu mãsản phẩm để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
3 Vai trò của việc phát triển công nghiệp nông thôn.
Phát triển công nghiệp nông thôn sẽ thu được nhiều cái lợi: Thứ nhất, động viên
và huy động được các nguồn lực trong và ngoài nước tham gia vào chương trình
này Thứ hai, góp phần lớn vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng thu nhập, tạo việc làm và phân công lại lại thị trường lao
động Thứ ba, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân đầu tư vào công nghiệp nông thôn có điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh, chuẩn bị tốt cho hội nhập Thứ tư, nâng tỷ trọng giá
trị sản xuất công nghiệp nông thôn lên 32% toàn ngành và kim ngạch xuất khẩu hàng
tiểu thủ công nghiệp đạt 1 tỷ USD vào 2010 Thứ năm, đóng góp lớn cho tốc độ tăng
trưởng công nghiệp bình quân từ 2006- 2010 là 15 - 15,5%/năm; tỷ trọng công nghiệp
và xây dựng/GDP là 42 - 43% vào 2010; tăng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm côngnghiệp giai đoạn 2006 - 2010 là 14 - 16%/năm; giảm lao động nông nghiệp dưới 50%vào 2010, tạo việc làm cho 8 triệu lao động; giảm chênh lệch thu nhập giữa đô thị vànông thôn xuống 3,5 lần vào 2010
Công nghiệp nông thôn là động lực kinh tế của địa phương: điển hình là trongđường lối phát triển kinh tế, tỉnh Hà Tây xác định: Huy động mọi nguồn lực, tạo bướcđột phá trong phát triển công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp, để trở thành ngành kinh tếchủ lực của tỉnh Để đạt được mục tiêu này, trong 2005, Hà Tây đã thực hiện tốt 7chương trình phát triển công nghiệp: đào tạo nghề và nhân cấy nghề; hỗ trợ khởi sựdoanh nghiệp; tham quan học tập, trao đổi kinh nghiệm về phát triển công nghiệp - tiểuthủ công nghiệp, thành lập Hiệp hội ngành nghề; hỗ trợ lập đề án xin chủ trương đầu tưcụm - điểm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp; xúc tiến đầu tư công nghiệp, hướng dẫn
hỗ trợ các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn, nâng cao năng lực quản lý, hợp táchoá sản xuất, hạ giá thành sản phẩm; hướng dẫn, tư vấn các cơ sở sản xuất công nghiệpnông thôn, đầu tư dây chuyền sản xuất mới, mở rộng sản xuất, đổi mới và ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao năng lực sản xuất, quản lý chất lượng sản phẩm và bảo
Trang 8vệ môi trường; quản lý quỹ khuyến công Chương trình khuyến công tại Hà Tây đã gópphần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong tỉnh, nhất là khu vực nông thôn Theo đó, giá trịsản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp năm 2005 tăng 23,06%, giá trị sản xuất tiểuthủ công nghiệp đạt 8.371,8 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 38,1% GDP của tỉnh Do đó, việcphát triển công nghiệp nông thôn nói chung và phát triển tiểu thủ công nghiệp nói riêngphải gắn với phát triển nông nghiệp, công nghiệp và thị trường tiêu thụ sản phẩm Cầnchú ý lựa chọn phát triển những ngành nghề có tiềm năng và lợi thế so sánh; lựa chọncông nghệ, thiết bị phù hợp, kết hợp giữa truyền thống và tiên tiến; đầu tư nâng cao chấtlượng, phát triển các mặt hàng mới phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của thị trường; mởrộng thị trường xuất khẩu, chú trọng xây dựng thương hiệu sản phẩm, kết hợp hài hoànhiều quy mô, nhiều loại hình tổ chức trong phát triển tiểu thủ công nghiệp Đồng thời,phát triển tiểu thủ công nghiệp phải phù hợp với chiến lược phát triển ngành côngnghiệp, và gắn kết quy hoạch phát triển kinh tế xã hội nói chung với quy hoạch pháttriển công nghiệp địa phương nói riêng.
Hợp tác xã là “hạt nhân” của chương trình công nghiệp nông thôn: Theo nhữngđiều tra gần đây nhất, diện tích đất trồng trọt cho nông nghiệp ngày càng giảm, mỗinăm chuyển khoảng 20 vạn ha đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp Vì thế, thời giannông nhàn ngày càng tăng, tạo ra sức ép gay gắt về việc làm, thu nhập ở khu vực nôngthôn Hợp tác xã là đối tượng của phát triển công nghiệp nông thôn, tham gia xoá đóigiảm nghèo và phát triển bền vững Khi tham gia thị trường, hợp tác xã hoạt động nhưmột loại hình doanh nghiệp, bình đẳng với các doanh nghiệp và được nhìn nhận như làhạt nhân phát triển, gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nghề nông thôn theohướng sản xuất công nghiệp và dịch vụ Qua thống kê, giá trị sản xuất công nghiệp, tiểuthủ công nghiệp của các hợp tác xã tăng bình quân qua các năm là 20%, nhiều hợp tác
xã đạt hiệu quả kinh tế cao, giải quyết việc làm và thu nhập cho hàng ngàn lao động Sốliệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tại 44 tỉnh, thành phố, có 1.024 hợp tác xãtiểu thủ công nghiệp, hoạt động trong các ngành nghề chế biến nông sản, thực phẩm,hoá chất, vật liệu xây dựng, chế biến gỗ, giấy bìa, dệt và cơ khí, da, giầy trong đó cónhiều hợp tác xã hoạt động điển hình: hợp tác xã Song Long (Hà Nội), hợp tác xã chếbiến thức ăn chăn nuôi Bình Minh (Tiền Giang), hợp tác xã khai thác vận chuyển đá
Trang 9Mông Sơn (Yên Bái), hợp tác xã chế biến suất ăn công nghiệp Kim Sơn (Tp.HCM) Đểhợp tác xã thực sự là hạt nhân của chương trình công nghiệp nông thôn, cần làm tốtnhững vấn đề sau.Một là, cần nhân rộng mô hình thành công, liên kết tạo thế mạnh chotừng vùng Chính sách khuyến công phải được thực hiện liên hoàn giữa đào tạo nghề -thành lập mới - củng cố pháp nhân kinh doanh- hỗ trợ đầu tư công nghệ và phát triển thịtrường Hai là, sản phẩm phải có mẫu mã đẹp phù hợp và đáp ứng thị hiếu người tiêudùng Ba là, phát triển vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến: vùng nguyên liệu làmột tài nguyên, khi khai thác phải có sự chấp thuận của cơ quan quản lý, khai thác cóquy hoạch Đồng thời với khai thác, cần có kế hoạch đưa những giống cây mới có năngsuất cao, phù hợp điều kiện thổ nhưỡng để duy trì sự ổn định của vùng nguyên liệu.
II, Phát triển dịch vụ nông thôn.
1, khái quát về phát triển dịch vụ nông thôn.
Theo Philip Kotler dịch vụ được định nghĩa như sau:
Dịch vụ là bất kì hoạt động, hoặc lợi ích gì mà một bên có thể công hiến cho bênkia, thực chất là có tính chất vô hình và không dẫn đến việc sở hữu bất kì món gì Việcsản xuất ra nó có thể không bị ràng buộc với một sản phẩm vật chất
Dịch vụ được coi là ngành kinh tế thứ ba trong nền kinh tế quốc dân, vì rằng trongphát triển sản xuất và đời sống của nhân loại thì nông nghiệp là ngành kinh tế đầu tiêntạo ra lương thực, thực phẩm nuôi sống con người nó được coi là ngành kinh tế thứnhất Kể đến là ngành công nghiệp ( bao gồm cả tiểu thủ công nghiệp ) là ngành đã tạo
ra công cụ sản xuất và vật phẩm tiêu dung được coi là ngành kinh tế thứ hai Cuối cùng
là ngành kinh tế ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu của hai ngành kinh tế trên về những điềukiện sản xuất và cung cấp cho con người những yêu cầu dịch vụ cho cuộc sống đượcgọi là ngành kinh tế thứ ba Tuy ra đời sau nhưng ngành dịch vụ đã có những xu hướngphát triển mạnh và chiếm dần tỉ trong cao trong nề kinh tế
Sản phẩm của ngành dịch vụ cung cấp hầu hết là sản phẩm phi vật chất, sản xuất
và đời sống ngày càng cao thì yêu cầu cung cấp dịch vụ ngày càng tăng và đa dạng hơn.Hiên nay ở nhiều nước phát triển, ngành dịch vụ chiếm tỉ trọng tới 70% trong cơ cấuGDP của đất nước Những năm gần đây ở Việt Nam ngánh dịch vụ chiếm 38-39%
Trang 10trong cơ cấu GDP của cả nước Ngành dịch vụ còn tạo ra cơ cấu kinh tế ngày càng tiến
bộ Vì một khi dịch vụ phát triển, nhu cầu con người được đáp ứng, sản xuất côngnghiệp, nông lâm, ngư nghiệp…có cơ sở để tiêu thụ, nhiều khi phế liệu của các mặthàng sản xuất chính sẽ được ứng dụng làm các sản phẩm mỹ nghệ, các mặt hàng đồchơi, đồ trang trí …lúc đó nhờ dịch vụ mà các hoạt động sản xuất chính cũng như cáchoạt động sản xuất thứ được thúc đẩy, mở rộng sản xuất hơn nữa, áp dụng nhiều tiến bộ
để đáp ứng được đúng và đủ nhu cầu của xã hội chính vì vậy mà cơ câu kinh tế ngàycàng tiến bộ Cũng có thể xem nó như những hoạt động trợ giúp nhằm hoàn thiện vàkhuếch trương hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
2, Tính tất yếu phải phát triển dịch vụ nông thôn.
Việc tiếp cận các dịch vụ công của người dân nông thôn vẫn còn nhiều hạn chế,đặc biệt là các dịch vụ y tế và nước sạch.Các cơ sở dịch vụ Nhà nước ở khu vực nôngthôn làm ăn kém hiệu quả, sức cạnh tranh yếu do cơ chế quản lí yếu kém, giá thành cao,hoạt động cứng nhắc Nhiều hợp tác xã mang tính hình thức, yếu kém, biểu hiện sự thiếuhấp dẫn với người dân, giá dịch vụ cao Không ít cơ sở dịch vụ tư nhân ở nông thôn đượckhuyến khích hình thành nhưng lại yếu về năng lực tài chính, không có chuyên môn,cung ứng dịch vụ tương đối thấp… Sự tăng trưởng và hiệu quả hoạt động dịch vụ ở nôngthôn bị hạn chế do khó khăn về kinh tế và cơ sở hạ tầng yếu như giao thông, điện viễnthông đặc biệt là dịch vụ còn nghèo nàn ở vùng sâu vùng xa Chưa có điều tra, đánh giátoàn diện đội ngũ lao động chuyên môn trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Chưa quantâm đúng mức những vấn đề trao đổi kinh nghiên cứu lí luận, định hướng các vấn đềnghiên cứu cơ bản và triển khai trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Quản lí của Nhànước còn nhiều bất cập, nhiều vấn đề có chính sách nhưng thiếu sự chỉ đạo cụ thể chotừng lĩnh vực, từng địa bàn làm hạn chế tính tiêu cực của chính sách Chưa có sự kết hợpchặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước về hoạt động dịch vụ sản xuất nông nghiệp Ngoài racòn nhiều vấn đề bất cập khác trong từng vùng từng địa phương cũng như trong từng lĩnhvực hoạt động dịch vụ sản xuất nông nghiệp
Do đó, phát triển dịch vụ nông thôn trở thành một yêu cầu bức thiết góp phần pháttriển nông thôn toàn diện và tạo ra cơ cấu kinh tế ngày càng tiến bộ Những năm gần đâycùng với quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, nhiều loại hình dịch vụ mới mang
Trang 11đậm nét của nền kinh tế thị trường đã hình thành, phát triển trong sản xuất và đời sốngnông thôn như các hoạt động dịch vụ tài chính, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, du lịch,kinh doanh bất động sản, tư vấn tin học, pháp lý…
3 Đặc trưng cơ bản của việc phát triển dịch vụ nông thôn.
a Các ngành dịch vụ nông nghiệp ở nước ta:
Để phát triển dịch vụ ở nông thôn, trước hết chúng ta cần biết được có những ngành dịch vụ về nông nghiệp như thế nào? Dịch vụ trong nông nghiệp gồm: Dịch vụ thủy lợi, Dịch vụ điện, Dịch vụ giống cây trồng và vật nuôi, Dịch vụ làm đất, Dịch vụ vật tư nông nghiệp, Dịch vụ bảo vệ thực vật, Dịch vụ bảo vệ ruộng đồng, Dịch vụ thú y, Dịch vụ chế biến nông sản, Dịch vụ tiêu thụ nông sản, Dich vụ khuyến nông.
Hợp tác xã nông nghiệp đơn vị kinh tế tập thể cơ sở có chức năng hoạt động dịch vụ hỗ trợ cho kinh tế hộ gia đình xã viên và kinh doanh trong mọi lĩnh vực sản xuất chế biến, tiêu thụ nông sản… sau những năm chuyển đổi với các mức
độ khác nhau đã tổ chức một số hoạt động dịch vụ chủ yếu Tuy nhiên các loại hoạt động dịch vụ trong hợp tác xã trong cả nước rất khác nhau Số lớn các hợp tác xã chỉ hoạt động trong lĩnh vực đầu tư và gần như bắt buộc vỡi những công trình có giá trị lớn như thủy lợi, điên Những dịch vụ mà thị trường cạnh tranh như vật tư nông nghiệp, thương mại tiêu thụ nông sản thì thấp hơn rất nhiều, thậm chí nhiều địa phương các hợp tác xã không đủ điều kiên để tổ chức hoạt động dịch vụ này Phần lớn các hoạt động dịch vụ trong hợp tác xã nông nghiệp mang tính phục vụ hạch toán kinh doanh còn ít.
Kết quả điều tra của bộ Nông nghiệp và PTNT năm 2003 cho ở bảng sau: Tổng kết mức độ tham gia hoạt động dịch vụ nông nghiệp trong hợp tác xã nông nghiệp.
Trang 1292.70 47.52 45.18 39.22 25.47 66.40 21.67 10.26 2.02 12.60 93.60 100.00
100.00 66.70 46.60 40.00 16.70 56.60 20.00 20.00 6.60 13.20 100.00 100.00
100.00 25.00 50.00 25.00 - 50.00 - 25.00 - - 100.00 100.00
Cơ sở vật chất kỹ thuật là điều kiện quan trọng cho mức độ và chất lượng trongsản xuất nông nghiệp còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của hoạt động dịch vụ sản