1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TỈNH THANH HOÁ

22 454 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 124 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngành nghề thủ công nghiệp nông thôn là những hoạt động kinh tế phi nông nghiệp ở nông thôn, bao gồm sản xuất công nghiệp vừa và nhỏ, sản xuất tiểu thủ công nghiệp nhưsản xuất các sản ph

Trang 1

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP NÔNG

THÔN TỈNH THANH HOÁ

I Những nét cơ bản của phát triển ngành nghề nông tôn.

1 Khái niệm ngành nghề tiểu thủ công nghiêp (TTCN)

1.1 Khái niệm ngành nghề tiểu thủ công nghiệp

Ngành nghề TTCN nông thôn là một bộ phận quan trọng trong quá trình phát triểnkinh tế xã hội , nó tác động đến phân công lao động , chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩyquá trình phát triển khoa học công nghệ Đặc biệt hiện nay đảng và nhà nước ta đang thựchiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới thì phát triển ngành nghềthủ công là một bộ phận ko thể thiếu trong xây dựng nông thôn mới vậy ngành nghề thủcông nghiệp nông thôn là gì?

Ngành nghề thủ công nghiệp nông thôn là những hoạt động kinh tế phi nông nghiệp

ở nông thôn, bao gồm sản xuất công nghiệp vừa và nhỏ, sản xuất tiểu thủ công nghiệp nhưsản xuất các sản phẩm tiêu dùng,sản phẩm mỹ nghệ.cói,

chính vì vậy nên Thanh Hoá đã thực hiện nhiều cơ chế chính sách phát triển ngànhnghề TTCN khu vực nông thôn như: Quy hoạch xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề,

hỗ trợ đào tạo nghề, khôi phục nghề truyền thống, du nhập, nhân cấy nghề mới, quyết địnhthành lập Trung tâm Khuyến công và Tư vấn công nghiệp

Đến thời điểm này, tỉnh Thanh Hoá đã có 60.236 cơ sở sản xuất TTCN, chủ yếu làhợp tác xã (HTX), tổ hợp tác (THT) và hộ cá thể với trên 150.000 lao động chuyên và hàngchục nghìn lao động tham gia sản xuất khi thời vụ nông nhàn Giá trị sản xuất TTCN vàngành nghề khu vực nông thôn đạt trên 4.000 đến 4.500 tỷ đồng/năm, chiếm tỷ trọng trên30% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh

1.2 Khái niệm làng nghề tiểu thủ công nghiệp

Làng nghề là một trong những nét đặc thù của nông thôn Việt Nam Nhiều sản phẩmđược sản xuất trực tiếp tại các làng nghề đã trở thành hàng hóa, góp phần cải thiện đời sốnggia đình và tận dụng những lao động dư thừa lúc nông nhàn Làng nghề được hình thành

Trang 2

cùng với sự phát triển của văn hóa xã hội và sản xuất, một nét đẹp truyền thống của dân tộcViệt Nam

Hoạt động sản xuất của làng nghề không chỉ góp phần phát triển văn hóa, tinh thần

và cải thiện đời sống vật chất của nông thôn mà còn mang nặng dấu ấn về tính sáng tạo, sựkhéo léo và ý chí vươn lên trong cuộc sống của cha ông chúng ta từ nhiều đời nay

Hầu hết các nghệ nhân ở làng nghề đều biết rằng, nước ngoài chuộng hàng thủ côngnước ta, vì những giá trị văn hóa được thể hiện trong mỗi sản phẩm, khác biệt so với cácnước khác Vì vậy nhiều làng nghề cũng là điểm du lịch hấp dẫn khánh nước ngoài, nhiềuđịa phương đã kết hợp du lịch làng nghề với du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, góp phầnxuất khẩu hàng hóa tại chỗ vừa phát triển làng nghề, vừa tăng thêm sản phẩm du lịch vàtăng thêm thu nhập cho nhân dân địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, cơcấu kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới, hàng hóa thủ công mỹ nghệ nước ta đã

có mặt trên 160 quốc gia và vùng lãnh thổ, từ hàng gốm sứ, đồ gỗ, mây tre đan, hàng đanlát…

Làng nghề truyền thống phân bố và có mật độ không đều giữa các vùng miền trênphạm vi toàn quốc và phản ánh những nét đặc thù của các dân tộc anh em Ví dụ, ở vùngđồng bào dân tộc thiểu số thì nghề dệt thổ cẩm, đan lát, nghề gốm là những thế mạnh, mangnặng tính tự cung tự cấp, ở vùng đồng bằng hoạt động làng nghề rất đa dạng từ những hoạtđộng sản xuất các công cụ sản xuất nông nghiệp đến những hoạt động đòi hỏi kỹ năng taynghề cao như chạm bạc, đúc đồng làm các vật dụng thờ cúng…

Làng nghề tập trung nhiều nhất ở miền Bắc, chiếm từ 60-70% trong đó đồng bằngsông Hồng chiếm khoảng 50%, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Hà Tây cũ, Bắc Ninh; HưngYên, Hà Nội, Thái Bình, Nam Định…Ở miền Trung chiếm khoảng 23,6%, tập trung nhiều

ở các tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên Huế Ở miền Nam chiếm khoảng 16,4% tập trung tạicác tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Cần Thơ Nhìn chung, các làng nghề ở khu vực miềnTrung và miền Nam tương đối đơn điệu, tập trung chủ yếu vào làm thủ công mỹ nghệ, chếbiến thủy hải sản, chế biến lương thực và thực phẩm

ĐẶC ĐIỂN CƠ BẢN CUẢ 1 LÀNG NGHỀ.3

- Là một làng làm một nghề hoăch nhiều nghề

Trang 3

- thời gian làm nghề nhiều hơn hản so với thời gian sx nông nghiệp

- có những sản phảm mang tính đặc thù

* tiêu chí công nhận làng nghề

Theo thông tư 116-TT-BNN ngày 18.12.2006 của Bộ NNvà PTNN về hướng dẫnthực hiện nghị định 66/NĐ-CP thì tiêu chí làng nghề có 3 điểm cơ bản sau:

-Có tối thiẻu 30% số hộ trên địa bàn tham gia hoạt động ngành nghề

-Hoạt động kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm

- Chấp hành tốt chính sách pháp luật

II Sự cần thiếp phải phát triển công nghiệp nông thôn

1 Vai trò của công nghiệp nông thôn

Ngành nghề TTCN trong nông thôn cả nước nói chung và thanh hoá nói riêng đãphát triển từ rất sơn

Đa số các làng nghề đã trải qua phát triển hàng trăm năm Ví dụ làng đúc đồng ĐạiBái (Bắc Ninh) với hơn 900 năm phát triển; làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) có gần 500năm tồn tại; nghề Chạm bạc ở Đồng Xâm (Thái Bình) hay nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Nonnước (Đà Nẵng) cũng đã hình thành cách đây hơn 400 năm.nghề đúc đồng, nghề cói

Tuy nhiên, cũng có thời gian dài ngành nghề thủ công phát triển chậm, thậm chí cólúc còn bị mai một Nguyên nhân là do TTCN nông thôn chỉ được xem như ngành nghềphụ giải quyết bthời gian nông nhàn và lao động dư thừa của nông thôn do có chu trươngchính sách của nhà nước là nhân rộng, khôi phục các ngành nghề nồng thôn,thấy được vaitrò quan trọng của TTCN nông thôn nên những năm gần đây ngành nghề và làng nghề đã

có những chuyển biến,

Sự phát triển sản xuất làng nghề đang đóng góp phần quan trọng trong chuyển dịch

cơ cấu kinh tế ở nông thôn, cải thiện và nâng cao mức sống của người dân làng nghề Mứcthu nhập của người sản xuất nghề cao gấp 3-4 lần so với thu nhập của người sản xuất thuầnnông Do giải quyết việc làm cho nhiều lao động đã làm giảm đáng kể các tệ nạn xã hội,góp phần đảm bảo an sinh xã hội của vùng nông thôn

Trang 4

ở Thanh Hoá có những sản phảm phù hợp với thị trường được mở rộng ra các làngtrong xã ,trong huyện phát triển nhanh thành langd nghề như mây tre đan HoằngThịnh,Huyện nghề như chế biến cói Nga Sơn.

Vai trò:

- Phát triển Công nghiệp nông thôn đóng vai trò “chìa khoá ” cho công cuộc pháttriển toàn diện nông thôn, nó tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông thôn, làm tăng năng suất lao động.Công nghiệp nông thôn có vai trò ngày càng to lớn,hiện đang thu hút 60% tổng số lao động và tạo ra khoảng 40% giá trị tổng sản lượng củatiểu thủ công nghiệp trong cả nước

-Thúc đẩy phát triển hàng hoá cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu,tăng thu nhậpcho người lao động, giảm bớt chênh lệch về mức sống vốn đang cách biệt giữa nông thôn

và thành thị

Thu nhập bình quân lao động ngành nghề nông thôn năm 2010 vào khoảng1.757.000 đồng/người/tháng (tăng 48 % so với năm 2006 và cao gấp 1,2 – 3 lần so với thunhập của lao động thuần nông), trong đó:

- Hình thành hoàn thiện và mở rộng thị trường, góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật,

mở rộng quy mô của quá trình sản xuất và tái sản xuất kinh tế nông thôn công nghiệp nôngthôn gắn chặt chẽ với sự phát triển kinh tế xã hội nông thôn, nó có tác động đến sản xuấtnông nghiệp ở cả đầu vào lẫn đầu ra trong sản xuất nông nghiệp

-Đảy mạnh phát triên một số ngành như du lịch,thương mại ,bảo tồn và giữ gìn bảnsắc văn hoá dân tộc Bởi vì Trước đây, làng nghề không chỉ là trung tâm sản xuất sản phẩmthủ công mà còn là điểm văn hóa, nơi hội tụ những thợ thủ công có tay nghề cao, nơi tậptrung những tinh hoa trong kỹ thuật sản xuất sản phẩm của làng Ngày nay, làng nghề thay

Trang 5

tiêu dùng trong nước và xuất khẩu được tạo điều kiện phát triển, nhiều công nghệ mới đangngày càng được áp dụng phổ biến, góp phần tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm và thunhập ổn định ở nông thôn.

Góp phần xóa đói giảm nghèo

Ví dụ,làng nghề làng đá Mỹ nghệ Non nước ( Tp.Đà Nẵng ) thu hút hơn 2.000 laođộng,doanh thu năm 2007 ước đạt 60 tỷ đồng;Làng nghề chè Blao( Lâm Đồng) với 22.000

ha chè,chiếm 30% diện tích chè cả nước,thu hút hơn 120.000 lao động.Giá trị sản xuất củacác làng nghề tỉnh Hà Nam năm 2005 đạt 390,9 tỷ đồng,tốc độ đạt tăng trưởng bình quânđạt 12,55%/năm,đóng góp vào ngân sách gần 2,9 tỷ đồng.Những mặt hàng có tốc độ tăngtrưởng nhanh do chủ yếu được xuất khẩu như mây giang đan đạt 4 triệu USD/năm,thêu ren2,5 triệu USD/năm

II Thực trang phát triển công nghiệp nông thôn giai đoạn 2006-2010

NNNT giữ vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển nông thôn Việt Nam,không chỉ góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân mà còn tạo nên những dấu

ấn, bản sắc văn hóa của mỗi vùng, miền thông qua các sản phẩm văn hóa được lưu giữ từđời này qua đời khác

trước khi tìm hiểu thực trạng, chúng ta nên biết điều kiện để phát triển TTCN ở tỉnh ta.

- Thanh Hoá là tỉnh có vị trì địa lý gần với trung tâm thủ đô Hà Nội, Cảng biểnphát triển, nguồn tài nguyên và nhân lực dồi dào Do có chính sách thông thoáng khuyếnkhích kêu gọi đầu tư nên công nghiệp và dịch vụ đã có mức tăng trưởng đáng kể Cơ cấukinh tế dần chuyển dịch từ ngành sản xuất cho hiệu quả thấp như nông nghiệp sang cácngành có giá trị cao như công nghiệp-xây dựng và dịch vụ

- Đối với lâm nghiệp, là tỉnh có nhiều tài nguyên rừng và đa dạng sinh học caođặc biệt là tre nứa, với điều kiện khí hậu và địa chất địa hình, không chỉ là rừng tre nứa tựnhiên mà rừng luồng trồng cũng đã được phát triển Đã từ lâu cây luồng, vầu, nứa đóng mộtvai trò quan trọng đối với đời sống của người dân miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hoá nhưcác huyện Quan Hoá, Quan Sơn, Thường Xuân, Lang Chánh Đây là nguồn nguồn nguyênliệu phục vụ cho sản xuất công nghiệp, bột giấy, đồ dùng gia đình và đặc biệt là cho tiểuthủ công nghiệp và thủ công mỹ nghệ, tạo công ăn việc làm cho hàng vạn người dân

Trang 6

Không những cung cấp đủ nguồn nguyên liệu cho tỉnh mà còn cung cấp cho một số tỉnhkhác nơi ngành nghề tiểu thủ công và thủ công mỹ nghệ phát triển như Hà Tây, Hà Nam,Nam Định và Hải Phòng.

- Đối với ngành nghề sản xuất tiểu thủ công mỹ nghệ đã có từ lâu đời, nguồn lực laođộng dồi dào Các làng nghề truyền thống về tre nứa như làng nghề đan cót và cót ép xãThiệu Dương huyện Thiệu Hoá, Thọ Nguyên huyện Thọ Xuân, Thuý Sơn huyện Ngọc Lặc,

Hà Toại huyện Hà Trung và làng nghề mây tre đan xuất khẩu xã Quảng Phong huyệnQuảng Xương, Hoằng Thịnh huyện Hoằng Hoá, hàng năm sản xuất hàng triệu sản phẩmphục vụ nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu

- Thanh Hoá đã ban hành các chính sách phát triển ngành nghề nông thôn như Quyếtđịnh số 3431/2002/QĐ-UB ngày 21/10/2002 của UBND tỉnh Thanh Hoá về chính sáchkhuyến khích phát triển xuất khẩu Quyết định 2409/2006/QĐ-UBND ngày 05/9/2006 của

Uỷ ban nhân tỉnh Thanh Hoá về cơ chế chính sách khuyến khích phát triển tiểu thủ côngnghiệp và ngành nghề trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá Quyết định số 2541/QĐ- UBND ngày19/8/2086 của Uỷ ban nhân tỉnh Thanh Hoá về sửa đổi Quyết định 2409/2006/QĐ-UBNDngày 05/9/2006 của Uỷ ban nhân tỉnh Thanh Hoá về cơ chế chính sách khuyến khích pháttriển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá

nhờ vậy NNNT ở Thanh Hoá đã từng bước phát triển với nhiều lĩnh vực như:

Chế biến nông lâm thuỷ sản (chế biến thuỷ sản, mía đường, cao su, gỗ, chế biến bún bánh

…), sản xuất vật liệu xây dựng (gạch nung, vôi, đá xây dựng các loại, đá xẻ ), đan lát,hàng thủ công mỹ nghệ (sơn mài), trồng dâu nuôi tằm, dệt thổ cẩm Bên cạnh đó, ThanhHoá cũng có nhiều tiềm năng về nguồn nguyên liệu phục vụ phát triển NNNT như mây, tre,

gỗ, đá vôi, cao lanh tiềm năng du lịch: Biển Sầm Sơn, di tích Lam Kinh, đền Bà triệu NNNT đã trở thành một trong những thành phần kinh tế quan trọng, hàng năm đóng gópkhoảng 20 - 22% trong tổng GDP toàn tỉnh Góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, sửdụng được nguồn nguyên liệu sẵn có, nâng cao thu nhập của người nông dân Đồng thờiđóng góp vào chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệphóa, hiện đại hóa

Trang 7

1 ngành sản xuất VLXD và khai khoáng

Ngoài thế mạnh về tài nguyên khoáng sản làm vật liệu xây dựng (VLXD) như đávôi, xi-măng, đá ốp lát, đá xây dựng, cao lanh thì vị trí địa lý, giao thông - vận tải ở tỉnhThanh Hóa khá thuận lợi cho việc phát triển ngành nghề sản xuất vật liệu xây dựng(VLXD)

Cùng với tiến bộ công nghệ, nghề sản xuất gạch, ngói, đá truyền thống đã thay đổicăn bản, không còn "đất" cho sản xuất kiểu thủ công truyền thống, quy mô cơ sở sản xuấttăng lên, nhưng số lượng giảm đi nhiều, nghề gốm, sứ không còn thích hợp để phát triển donhu cầu sử dụng gốm sứ chất lượng cao hơn ngày càng phổ biến Cụ thể

a.Ngành nghề sảnVLXD

- sản xuất gạch tuy-nen, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 22 đơn vị sản xuất với 25

lò nung công suất thiết kế 450 triệu viên/năm, được phân bố tập trung theo 4 tuyến quốc lộ:1A, 45, 47, 217

Trong chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng(CNVLXD) của tỉnh là một mắt xích quan trọng đã được xác định Tuy nhiên sản xuất vậtliệu thủ công chủ yếu là công nghệ cũ, lạc hậu nên gây ô nhiễm môi trường Do vậy hướng

đi mới cần đầu tư chiều sâu, nâng cao năng lực sản xuất của các lò Tuy nen đã có, thay thếcác cơ sở sản xuất gạch bằng phương pháp thủ công bằng các lò gạch Tuy nel để đáp ứngnhu cầu xây dựng của nhân dân cũng như vật liệu xây dựng các công trình hạ tầng trên địabàn tỉnh

- Thị trường tiêu thụ sản phẩm gạch của Thanh Hoá trước hết là dân cư trongtỉnh Trong mấy năm gần đây, thu nhập của người dân tăng nhanh nên nhu cầu gạch và vậtliệu xây dựng cũng tăng khá

- Một tồn tại lớn đối với các cơ sở sản xuất gạch thủ công ở Thanh Hoá nóiriêng và cả nước nói chung là tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng; các hộđốt lò bằng than, củi, trấu … thi nhau thả khói đen kịt cả một vùng trời; khói bụi từ các lònung gạch thải ra làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến trồng trọt, chăn nuôi và sức khỏecủa các hộ dân sống ở liền kề

Trang 8

- Trong những năm gần đây, Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hoá

đã tiến hành kiểm tra, khảo sát tình trạng ô nhiễm tại các lò gạch thủ công và đã tham mưucho UBND tỉnh buộc di dời các cụm lò gạch vào khu công nghiệp hoặc chuyển đổi côngnghệ đốt lò (công nghệ đốt lò gạch không khói hoặc xây dựng lò Tuynel, lò hoffman…)

- Nghề sản xuất đá xây dựng

Trữ lượng đá vôi trên địa bàn tỉnh rất lớn, hàng chục tỷ tấn, chất lượng đá tốt, hầu hết

có thể dùng cho các ngành xây dựng, giao thông, do vậy nghề này mấy năm gần đây pháttriển nhanh đáp ứng nhu cầu của các ngành và người dân trên địa bàn

- Toàn tỉnh có 884 cơ sở với 2.864 lao động Phân bố ở cả 3 vùng: miền núi(192 cơ sở); đồng bằng (602 cơ sở); ven biển (90 cơ sở) Các huyện trọng điểm tập trung làĐông Sơn (259 cơ sở), Nông Cống (181 cơ sở), Hà Trung (110 cơ sở),

Nghề này sản xuất cũng gây ô nhiễm tới môi trường xung quanh và quá trình khaithác tương đối nguy hiểm nếu các biện pháp an toàn không được chú ý tới

Khaii thác cát

Toàn tỉnh có 211 cơ sở khai thác cát, chủ yếu phân bố dọc theo các sông lớn: sông

Mã, sông Chu, sông Tào Xuyên, sông Lèn Các cơ sở khai thác cát tập trung ở cáchuyện : Yên Định (59 cơ sở), Thọ Xuân (36 cơ sở), TP Thanh Hóa (30 cơ sở),

- Tuy nhiên, việc quản lý khai thác còn nhiều vấn đề cần phải khắc phục, một

số doanh nghiệp, tư nhân đã đưa các phương tiện khai thác cát sỏi vào khu vực kè để khaithác, không đúng vùng cấp mỏ gây cản trở giao thông vận tải, gây nguy hại cho hệ thống đêkhi mùa mưa lũ đến

Trang 9

ra tình trạng mất an toàn lao động Do công nghệ khai thác lạc hậu nên việc tỷ lệ thu hồi

thành phẩm thấp, thường đạt 10-13%

.2.Nghề Thủ công,mỷ nghệ

mây tre đan Đây là một ngành nghề tương đối phổ biến ở nhiều địa phương trên địa

bàn tỉnh và có nhiều làng nghề sản xuất với số lượng lớn đem lại thu nhập ổn định chongười sản xuất Hiện tại trên địa bàn có 6.090 cơ sở, hộ, thu hút 11.861 lao động Các cơ sởmây tre đan phân bố chủ yếu ở các huyện vùng Ven biển (Hoằng Hóa, Tĩnh Gia), vùngđồng bằng (Triệu Sơn, Thọ Xuân, Nông Cống, Yên Định)

- Các sản phẩm đan lát chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh và cáctỉnh lân cận Một số sản phẩm đan lát có chất lượng cao bắt đầu được đào tạo để phục vụthị trường xuất khẩu Những năm trước đây, thị trường tiêu thụ các loại sản sản xuất từ mâytre chủ yếu là các nước châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản Hiện nay, thị trườngtiêu thụ hiện nay chủ yếu là các nước Mỹ, Châu Âu và các nước Trung Đông; đây là nhữngthị trường có nhiều tiềm năng và sức tiêu thụ khá lớn

Tuy nhiên do chưa có định hướng lâu dài nên việc đào tạo ngành nghề còn nhiều hạnchế, nhất là khả năng duy trì và mở rộng các nhóm đã được đào tạo và đưa họ vào sản xuất

ổn định, nhiều nhóm sau khi đào tạo xong thì cũng tan rã luôn

Trang 10

ngành này luôn chịu sự cạnh tranh quyết liệt của các "ông lớn” tại các làng nghề như Vân

Hà (Hà Nội), Vạn Điểm (Hà Tây (cũ)), Đồng Kỵ (Bắc Ninh)…

Nghề sản xuất hàng sơn mài, sơn dầu

Trước đây các mặt hàng sơn mài của Thanh Hoá đã từng phát triển tốt ở Hoằng Hóa,Hậu Lộc, Quảng Xương, Lâm Thao và thị xã Thanh Hoá, tuy nhiên sau khi thị trườngĐông Âu sụp đổ, mặt hàng này mất dần chỗ đứng của mình và hiện tại chỉ còn phát triểnnhỏ lẻ ở các huyện trên Do giá thành sơn truyền thống cao, đồng thời với sự phát triển trànngập của các loại sơn hóa học, sơn điều , ngay cả tranh sơn mài của Thanh Hoá cũng đãkhông duy trì được chất liệu sơn truyền thống mà chuyển rất nhiều sang sử dụng sơn hóahọc với giá trị thấp Các sản phẩm tranh sơn mài của Thanh Hoá hiện đang được cung cấpchủ yếu cho thị trường nội tỉnh và các tỉnh lân cận, không có các mặt hàng này phục vụxuất khẩu

3 Chế biến nông lâm,thuỷ, hải ,sản

Thanh Hoá là một tỉnh có tiềm năng nuôi trồng và đánh bắt thủy sản lớn ở miền BắcViệt Nam do có tiềm năng là tỉnh ven biển, có diện tích mặt nước lớn, có sông hồ tự nhiên,

và ruộng trũng một vụ lúa một vụ cá cho phép đa dạng hóa các sản phẩm thủy sản nướcngọt

Toàn tỉnh có 623 cơ sở chế biến nước mắm và mắm các loại, với trên 1650 lao động,phân bố chủ yếu ở các huyện ven biển: Sầm Sơn (87 cơ sở); Hoằng Hóa (110 cơ sở); HậuLộc (41 cơ sở); Quảng Xương (209 cơ sở); Tĩnh Gia (1

Sản lượng thuỷ, hải sản của tỉnh tăng nhanh, nếu năm 2000 sản lượng là 48.968 tấnthì năm 2007 tăng lên đạt 83.909 tấn (sản lượng khai thác 60.779 tấn, sản lượng nuôi trồng23.130 tấn); Năm 2009 là 98.075 tấn (khai thác 70.213 tấn, nuôi trồng 27.862 tấn) Đây lànguồn nguyên liệu dồi dào cho công nghiệp chế biến thuỷ, hải sản của tỉnh

Chế biến gỗ

- Chế biến gỗ rừng trồng: Toàn tỉnh có 341 cơ sở với 1.147 lao động tham giavào nghề chế biến gỗ rừng trồng Phân bố ở các huyện vùng đồng bằng có 135 cơ sở, vùngmiền núi có 77 cơ sở và vùng ven biển có 129 cơ sở

Trang 11

Chế biến lâm sản ngoài gỗ

Toàn tỉnh có 310 cơ sở với 712 lao động, phân bố tập trung ở các huyện vùng miềnnúi: Quan Hóa (110 cơ sở), Như Xuân (198 cơ sở), Sản phẩm các loại được chế biến từluồng, tre, nứa, Ngoài ra còn có Măng tre nứa, vầu, măng luồng là nguồn thu đáng kể,hàng năm thu được hàng trăm nghìn tấn măng thương phẩm tiêu thụ quanh năm trên thịtrường nội địa

- Trước đây Thanh Hóa có xí nghiệp măng xuất khẩu công xuất 200 tấn/năm tạiLang Chánh sản xuất được hai năm phải đóng cửa vì chưa được chuẩn bị tốt cho vùngnguyên liệu Hiện nay Thanh hóa đã trồng thêm tre lục trúc, bát độ của Trung quốc đểchuyên lấy măng đã có kết quả

Đây là nhóm ngành nghề có truyền thống và có thị trường, nhưng do thích nghi vớichuyển đổi chậm nên đánh giá chung là ngành nghề này đang được khôi phục để phát triểntheo hướng đa dạng về chủng loại, sản phẩm và công nghệ

tồn tại

- Thiết bị và công nghệ chủ yếu sử dụng thiết bị thanh lý của doanh nghiệp nhànước có công nghệ lạc hậu, bán cơ khí và cơ khí là chính Một số doanh nghiệp, công ty cổphần, công ty TNHH, như Công ty cổ phần mía đường Lam Sơn, Việt Đài, Công tyTNHH Hoa Mai, Đại Thắng chế biến đường, thịt, tinh bột sắn, gỗ, lâm sản có công nghệthiết bị tiên tiến, hiện đại ngang với trình độ khu vực và thế giới

- Về tỷ trọng bảo quản, chế biến công nghiệp một số nông sản chủ yếu còn thấp

so với nguyên liệu hiện có của tỉnh như lương thực, rau, củ, quả, thịt

- Về chất lượng sản phẩm chưa cao, mặt hàng còn đơn điệu, tính cạnh tranhkém, giá trị thấp, giá trị xuất khẩu cũng thấp do nguyên liệu và sản phẩm chỉ qua sơ chếnhư lạc, thịt lợn cấp đông, thịt lợn sữa, gỗ, lâm sản, cói

- Về đa dạng hoá sản phẩm và lợi dụng tổng hợp nguyên liệu trong chế biến cònthấp, thất thoát trong, sau thu hoạch và chế biến còn lớn như lương thực còn thất thoát từ 8

- 10%

Ngày đăng: 06/12/2015, 00:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w